Top 16 # Phương Pháp Chiết Fipronil / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Phương Pháp Chiết Xuất Saponin / 2023

Song hành cùng sự phát triển không ngừng của nền công nghiệp sắc đẹp thì cũng có rất nhiều phương pháp ra đời để làm đẹp. Vậy nên cũng ta cũng cần nhắc đến một trong những phương pháp hữu hiệu bậc nhất mang tên saponin. Saponin được ứng dụng rộng rãi như là một phương pháp chiết xuất hữu hiệu nhất.

Các phương pháp chiết xuất saponin

Chiết xuất saponin bằng dung môi

– Đối với nhóm saponin kiềm thuộc nhóm spirosolan và solanidan:

Nồi cách thủy đun nóng kèm với đó là bột dược liệu thêm methanol. Dịch lọc đem bốc hơi đến khô trên nồi cách thủy. Hòa tan cặn trong nồi đun nóng 80 độ cùng với acid acetic 5%, sau đó kiềm hóa bằng amoniac.

Tủy của nó được ly tâm sau đó hòa tan vào ethanol 96% để chấm sắc ký.

– Đối với saponin trung tính và acid:

Loại chất béo trong bột dược liệu bằng cách chiết với ether dầu hỏa. Sau đó chiết saponin bằng dung môi methanol – nước tỉ lệ 4:1. Dưới áp suất giảm ta có thể loại methanol. Sau đó hòa cặn trong nước để có dung dịch 10% rồi lắc với n – butanol.

Sau đó bốc hơi butanol dưới áp suất giảm rồi tiếp tục hòa cặn với methanol để có dung dịch chấm sắc ký.

Phương pháp chiết xuất Saponin bằng sắc ký cột Diaion HP-20

Bằng cách dung dịch mẫu trong nước được nạp lên cột có chứa Diaion HP – 20. Tiếp tục quá trình bằng (H 2­­­ O – MeOH) với nồng độ MeOH tăng dần lên.

Phương pháp chiết xuất Saponin bằng sóng siêu âm

Phương pháp này là tác động của sóng siêu âm tần số mạnh giúp tăng sự thẩm thấu trong dung môi và đồng thời tăng sự hòa tan dược chất.

Chúng ta thường sử dụng sâm Ngọc Linh để bồi bổ sức khỏe, và cũng chính nhờ phương pháp chiết xuất saponin bằng sóng siêu âm tạo ra, đóng vai trò quan trọng trong quy trình chiết xuất.

Những nguyên liệu được chiết xuất từ phương pháp saponin

Chiết xuất saponin từ cây đinh lăng

Cùng tìm hiểu quá trìnhchiết xuất cây đinh lăngđược thực hiện theo phương pháp saponin qua quá trình sau đây:

– Chuẩn bị: Chuẩn bị nguyên liệu là lá cây đinh lăng được thu hái, phơi khô, xay hoặc nghiền. Nguyên liệu được chuẩn bị cho quá trình trích ly phải được bảo quản cẩn thận.

– Tiến hành trích ly saponin triterpenoid tổng với sự hỗ trợ của sóng siêu âm: Với sóng siêu âm cố định là 225 W/g trong thời gian 15 phút, nguyên liệu được pha trộn với nước với tỉ lệ chuẩn và được xử lý.

Kết thúc quá trình trích ly, thu được hỗn hợp được ly tâm ở nhiệt độ phòng và tốc độ là 5800 vòng/phút trong vòng 15 phút. Sau đó thu lấy phần dịch trong để chuẩn bị cho quá trình phân tích quang phổ.

Quy trình chiết xuất saponin đinh lăng trên phụ thuộc chủ yếu vào 3 yếu tố là: tỉ lệ nguyên liệu/nước, công suất siêu âm và thời gian siêu âm.

Phương pháp chiết xuất saponin từ sâm ngọc linh

Quy trìnhchiết xuất sâm Ngọc Linhtrong chiết xuất Saponin như sau :

– Chuẩn bị: Thu hái dược liệu sâm Ngọc Linh trên núi Ngọc Linh sau đó thái nhỏ và đưa đi phơi khô. Dung môi được sử dụng trong quá trình này là ethanol 85%.

– Lựa chọn phương pháp chiết xuất: Đó là sóng siêu âm với tần số 20Hz.

– Các bước tiến hành chiết xuất: Dược liệu sau khi được thái nhỏ, phơi khô, được ngâm chiết với dung môi được chuẩn bị trong vòng 5 lần, mỗi lần 400ml. Và tiến hành chiết xuất với sóng siêu âm là 40­ độ C trong vòng 5 giờ.

Dịch chiết được khai thác hết bằng cách tiếp tục thêm tiếp dung môi vào ngập dược liệu trong 5 lần tiếp theo. Tiếp tục chiết xuất bằng dịch nước sau quá trình sử dụng dịch cồn.

Gộp các dịch chiết ethanol và dịch chiết nước thu được lọc qua giấy lọc, gom lại và cất từng loại dung môi dưới áp suất giảm.

Như vậy là quá trình chiết xuất bằng sóng siêu âm là phương pháp khá hiện đại hiện nay với quy trình khá đơn giản.

Chiết xuất saponin từ nhân sâm

Quy trình chiết xuất saponin từ nhân sâm tương tự như cách thức chiết xuất ra sâm Ngọc Linh. Trong nhân sâm chứa các thành phần hóa học quan trọng như: Saponin, polyacetylene, tinh dầu…Có công dụng bổ sung, tăng cường sức khỏe tốt nên được sử dụng nhiều vào quá trình chiết xuất, gia công tạo sản phẩm được sử dụng thông dụng hàng ngày.

Một số chiết xuất được tạo nên như: Chiết xuất sâm Ngọc Linh, sâm K5, sâm Cao Ly…

Chiết xuất saponin từ đậu nành

Có thể nói, chiết xuất saponin từ đậu nành đóng vai trò quan trọng hiện nay.

Bởi những chiết xuất từ nó giúp ức chế sự phát triển của những tế bào ung thư biểu mô đại tràng. Đồng thời có tác dụng giảm cholesterol, giảm lipid máu.

DANH SÁCH MẠNG XÃ HỘI

https://www.tumblr.com/chietxuat3c/621856252067282944/c%C3%A1c-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-chi%E1%BA%BFt-xu%E1%BA%A5t-saponin-b%E1%BA%A1n-c%E1%BA%A7n-bi%E1%BA%BFt

https://www.linkedin.com/posts/chietxuat-3c-386ab119b_c%C3%A1c-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-chi%E1%BA%BFt-xu%E1%BA%A5t-saponin-b%E1%BA%A1n-c%E1%BA%A7n-activity-6681731387516628993-V3IF

https://www.plurk.com/p/nvyx7i

https://www.pinterest.com/pin/608478599646357881

Các phương pháp chiết xuất saponin#phuongphapchietxuat#chietxuatsaponin#chietxuatmypham#Chietxuatduocpham https://t.co/YP34VYErQh

— chietxuat3c (@chietxuat1) June 25, 2020

https://mix.com/chietxuat3c/ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-chi%E1%BA%BFt-xu%E1%BA%A5t-saponin

https://adfty.biz/news/cac-phuong-phap-chiEt-xu%E1%BA%A4t-saponin-b%E1%BA%A0n-c%E1%BA%A6n-biEt/

https://oneway.com/chietxuat/2wegsf_br60h07c6

https://www.stage32.com/post/2509760314212361222″

Phương Pháp Chiết Pha Rắn / 2023

Phương pháp chiết pha rắn

Chiết pha rắn là một dạng sắc ký lỏng được cải tiến thành hấp thụ pha rắn với các cơ chế khác nhau. Kỹ thuật này dựa trên nguyên tắc sự phân bố của chất tan giữa hai pha không tan vào nhau [8].

Cơ chế của sự chiết pha rắn có thể có các bản chất theo các kiểu như sau:

Theo cơ chế tương tác hấp phụ của chất rắn (chất chiết pha thường, hệ NP, pha ngược, hệ RP)

Với các chất tan X i ở dạng phân tử trung hòa điện tích, không phân cực và ít phân cực. Cơ chế chiết này xảy ra chủ yếu với các chất hữu cơ và các hợp chất phức theo cân bằng

X i + SPE x ↔ X i.SPE x

Theo cơ chế trao đổi ion (cation và anion)

Với các chất tan ở dạng ion (cation và anion) hay các chất tan (chất phân tích), khi trong dung dịch nước môi trường axit hay bazơ loãng, chúng phân ly được thành các ion. Ví dụ chiết các cation kim loại và các anion

Me n+ + SPE x-H ↔ SPE x-Me + H+

Theo kiểu trao đổi tạo cặp ion

Theo kiểu này phải có chất tạo cặp với chất chiết, để hình thành ion cửa (ion đối) của sự trao đổi ion

Theo kiểu hợp chất liên hợp phân tử, dạng RNH2.HX

Trong cách chiết này, trước tiên người ta phải thêm một thuốc thử tạo phức liên hợp với chất phân tích có trong mẫu phân tích để có được phức liên hợp phân tử. Ví dụ thuốc thử HCl để chiết các amin loại R-NH 2

R-NH 2 + HCl = R-NH 2.HCl (phức liên hợp)

Sau đó nạp mẫu phức liên hợp này lên cột SPE, để chất chiết hấp thu phức liên hợp này và giữ lại trong cột chiết. Làm sạch cột chiết sau đó giải hấp chất R-NH 2.HCl bằng một dung môi thích hợp, ta sẽ thu được dung dịch của chất R-NH 2

Kiểu chiết rây hay sàng lọc phân tử theo độ lớn

Loại chứa các chất như silica, florisil, amino alumina,… có gắn các nhóm như -OH, -NH2, -CN chủ yếu dùng để tách các chất tương đối phân cực. Phần lớn được sử dụng để tách chiết trong điều kiện pha thường (cột gắn -CN có thể sử dụng trong pha đảo).

Loại chứa nhựa trao đổi ion để tách các hợp chất ion (cột SAX tách anion, cột SCX tách cation) .

Loại chứa các pha tĩnh như C18, C8, C2, cyclophenyl… là silic ghép các nhánh không phân cực dùng để tách các chất không phân cực hay ít phân cực.

Hiện nay chiết pha rắn đang được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực phân tích cho mục đích xác định cả các chất vô cơ và hữu cơ, các kim loại và phi kim do những ưu điểm sau:

+ Hiệu suất thu hồi cao

+ Cân bằng chiết đạt nhanh và có tính thuận nghịch

+ Thích hợp cho mẫu lượng nhỏ và phân tích lượng vết các chất

+ Thao tác đơn giản, dễ sử dụng, có thể tiến hành hàng loạt

+ Khả năng làm giàu và làm sạch chất phân tích lớn

Eunyoung Hanvà các cộng sự [16] đã sử dụng phương pháp chiết pha rắn để xử lý mẫu nhằm xác định đồng thời các chất amphetamin, methamphetamin, 3,4-methylenedioxyamphetamin, 3,4-m ethylene-dioxymethamphetamin, N-methyl-1-(3,4-methyl-enedioxyphenyl)-2-butanamin, 3,4-methylenedioxyethylamphetamin, p-methoxymethamphetamin, ephedrin, N-methylephedrin, cathinon, methcathinon và ketamintrong nước tiểu. Cột Oasis MCX (1 mL, 30 mg; Waters, USA) được hoạt hóa bằng 1 mL MeOH, 1ml nước đề-ion. 4 mL mẫu nước tiểu (được axit hóa bằng 200 µL HCl 5 M, thêm 0,25 ng/mL dung dịch chất nội chuẩn MA-d 5) được rung siêu âm 5 phút ở tốc độ 8000 rpm sau đó được cho chảy qua cột MCX. Cột chiết được rửa với 1ml HCl 0,1M; 1 mL MeOH; 1 mL dung dịch amoniac 5%.Chất phân tích được rửa giải bằng 1 mL 5% amoniac trong MeOH. Hiệu suất thu hồi của các chất đều nằm trong khoảng 70,3 ÷ 107,9 %.

Các tác giả Đặng Đức Khanh, Trần Việt Hùng, Trần Thị Thúy [4] đã ứng dụng kỹ thuật chiết pha rắn với chất hấp phụ C8 để chiết và làm sạch ma túy trong mẫu nước tiểu. 5 ml nước tiểu đã ly tâm, loại cặn; thêm 2,5 ml đệm 0,1M phosphat pH = 6,0 được nạp vào cột SPE C8 (đã hoạt hóa bằng 3 ml methanol, 3 ml H 2O và 1 ml dung dịch đệm phosphat pH = 6,0) với tốc độ 1-3 ml/phút. Sau đó, cột SPE được rửa bằng 3 ml H 2O, 1 ml dung dịch axit acetic 0,1M, 3 ml hexan và 1 ml methanol.Chất phân tích được rửa giải bằng 3 ml hỗn hợp CH 2Cl 2/isopropanol/amoniac (tỉ lệ 78/20/2). Quy trình này cho độ thu hồi của chất phân tích trong khoảng từ 89,0-97,2%.

B.K. Gan cùng cộng sự [13] đã sử dụng cột chiết trao đổi ion (benzensulphonyl silica, 1mL) để xử lí mẫu nước tiểu. Quy trình như sau: Cột chiết được hoạt hóa bằng metanol (2 mL), nước cất (1 mL) và axit photphoric 10 mM (0,5 mL) dưới áp suất giảm. Lắc 1 mL nước tiểu với 0,5 mL axit photphoric 10 mM trong 1 ống nghiệm sau đó đưa vào cột chiết đã hoạt hóa. Sau khi đuổi hết không khí (khoảng 30 giây), rửa lần lượt bằng 1 mL axit photphoric 10 mM, 0,5 mL axit axetic 0,1 M và 1 mL metanol. Loại bỏ không khí trong cột, sau đó tiến hành rửa giải bằng 2 mL dung dịch amoniac 3%/metanol (v/v), làm khô dưới áp suất giảm dòng nitơ, thu cặn chiết và tiến hành phân tích.

Như vậy, có thể nhận thấy có nhiều phương pháp xác định các chất ma túy nhưng các phương pháp này đều đòi hỏi trang thiết bị hiện đại, yêu cầu kỹ thuật cao. Tuy nhiên, phương pháp điện di mao quản cho thấy rất có tiềm năng bởi vì phương pháp điện di mao quản sử dụng detector đo độ dẫn không tiếp xúc (CE-C 4 D) là phương pháp phân tích mới với những ưu điểm như: thiết bị tương đối đơn giản, chi phí thấp, hoạt động đơn giản, có thể tự động hóa và triển khai phân tích ngay tại hiện trường với một lượng nhỏ mẫu và hóa chất phục vụ kịp thời quá trình điều tra. Do đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu quy trình phân tích một số chất ma túy tổng hợp ATS trên thiết bị điện di mao quản sử dụng detector độ dẫn không tiếp xúc, kết nối kiểu tụ điện.

CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM 2.1. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận văn là: Nghiên cứu quy trình xử lý mẫu nước tiểu để phân tích một số chất ma túy tổng hợp nhóm ATS (gồm: MA, MDA, MDMA, MDEA) bằng phương pháp điện di mao quản, sử dụng detector đo độ dẫn không tiếp xúc theo kiểu kết nối tụ điện (CE-C 4 D).

2.1.2. Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, các nội dung nghiên cứu cần thực hiện bao gồm:

– Tổng quan tài liệu về các phương pháp khác nhau để xác định đồng một số hợp chất ma túy tổng hợp nhóm ATS và các phương pháp xử lý mẫu nước tiểu.

– Xây dựng đường chuẩn của các chất phân tích.

Đánh giá phương pháp phân tích (xác định LOD, LOQ, độ đúng, độ chụm).

Nghiên cứu, tối ưu quy trình chiết lỏng và chiết pha rắn để xử lý làm sạch, làm giàu mẫu nước tiểu.

Áp dụng phân tích một số mẫu nước tiểu do Viện Khoa học hình sự và Đội giám định hóa học – Phòng kỹ thuật hình sự – CATP Hà Nội cung cấp.

Thực hiện phân tích đối chứng một số mẫu bằng phương pháp GC/MS do Viện Khoa học hình sự thực hiện.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp phân tích

Phương pháp phân tích là phương pháp điện di mao quản sử dụng detector độ dẫn không tiếp xúc kết nối kiểu tụ điện (CE – C 4D). Thiết bị này được thiết kế và chế tạo bởi Công ty 3Sanalysis ( http://www.3sanalysis.vn/) trên cơ sở hợp tác với nhóm nghiên cứu của GS. Peter Hauser (Thụy Sỹ), là thiết bị có nguồn thế cao lên đến 20kv, có thể thực hiện bán tự động (hình 2.1). Hệ thiết bị này hiện đang được triển khai nghiên cứu hoàn thiện và phát triển ứng dụng tại Bộ môn Hóa Phân tích, Khoa Hóa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội [1].

Hình 2.1. Hệ thiết bị CE-C4D

(1: Hộp thế an toàn, 2: Bộ điều khiển cao thế, 3: Cảm biến đo độ dẫn không tiếp xúc, 4: Ống dẫn dung dịch đệm, 5: Núm điều chỉnh , 6: Bộ phận điều khiển, 7: Bình khí nén)

2.2.2. Phương pháp xử lý mẫu

*Các mẫu được sử dụng trong nghiên cứu này gồm mẫu trắng là mẫu nước tiểu được lấy từ những người khỏe mạnh, không sử dụng bất cứ loại ma túy nào và mẫu nước tiểu thu của các đối tượng bị tình nghi đã sử dụng ma túy nhóm ATS.

*Xử lý mẫu nước tiểu: do hàm lượng chất phân tích có trong nước tiểu thường rất thấp nên cần được chiết tách để làm giàu mẫu và loại bỏ tạp chất trước khi bơm mẫu vào thiết bị CE. Sau khi tham khảo tài liệu [2] và khảo sát các điều kiện thiết bị, hóa chất, chúng tôi thực hiện quy trình chiết xuất như sau:

– Xử lý mẫu nước tiểu bằng phương pháp chiết pha rắn: sử dụng cột C18 dung tích 3ml.

1. Hoạt hóa cột ( 3ml MeOH, 3ml H 2 O, 3ml đệm phốt phát pH 6)

2. Nạp mẫu ( 5 ml nước tiểu, 0,5ml đệm phốt phát pH 6)

3. Rửa tạp chất ( 1ml H 2O, 2ml H 3PO 4 10mM, 2ml MeOH/H 2 O 1/9 v/v)

4. Rửa giải ( 2ml MeOH ngâm 5 phút), thu dịch chiết

5. Cô cạn dịch chiết bằng dòng khí nito, sau đó hòa tan vào MeOH và pha loãng với tỉ lệ thích hợp rồi tiến hành phân tích trên thiết bị CE.

– Xử lý mẫu nước tiểu bằng phương pháp chiết lỏng:(chiết lặp 2 lần)

1. Lấy mỗi mẫu 5 ml nước tiểu vào ống nghiệm có nắp xoáy

2. Kiềm hóa mẫu về pH 9 bằng dung dịch NH3 (kiểm tra bằng giấy quỳ) 3. Chiết mẫu bằng 3 ml etyl axetat, lắc trong vòng 10 phút.

4. Ly tâm cho tách lớp (tốc độ 8000 vòng/phút trong 20 phút)

5. Hút lớp etyl axetat (lớp trên) đến khi hết dịch trong thì cho 200µl MeOH vào lắc nhẹ giúp làm giảm huyền phù trong mẫu rồi tiếp tục hút thu tiếp dịch chiết.

6. Cô cạn dịch chiết bằng dòng khí nito, sau đó hòa tan vào MeOH và pha loãng với tỉ lệ thích hợp rồi tiến hành phân tích trên thiết bị CE.

2.3. Hóa chất và thiết bị

2.3.1. Hóa chất

Tất cả các hóa chất sử dụng đều thuộc loại tinh khiết phân tích và được pha chế bằng nước deion.

2.3.1.1. Chất chuẩn

MA (Lipomed, hàm lượng dạng bazơ =80,2%)

MDA (Lipomed, hàm lượng dạng bazơ = 82,8%)

MDMA (Lipomed, hàm lượng dạng bazơ = 83,71%)

MDEA (Lipomed, hàm lượng dạng bazơ = 84,66%)

2.3.1.2. Hóa chất, dung môi

Axit acetic (CH3COOH), (PA, Merck, Đức)

Axit clohydric (HCl), (PA, Merck, Đức)

Axit photphoric (H3PO4) (PA, Deajung, Hàn Quốc, 85%)

Natri hydroxyd (NaOH), (PA, Merck, Đức)

Methanol (CH3OH), (PA, Merck, Đức)

Diclometan (CH2Cl2), (PA, Deajung, Hàn Quốc, 99%)

2.3.1.3. Chuẩn bị các dung dịch hóa chất

* Pha các dung dịch chuẩn gốc

Cân chính xác từng chất phân tích trên cân phân tích (độ chính xác 0,1mg): 0,0125 g MA, 0,0121 g MDA, 0,0119 g MDMA, 0,0118 g MDEA chuyển vào bình định mức 10,0 mL, thêm 4 mL Methanol và đem rung siêu âm 30 phút sau đó định mức đến vạch bằng nước deion ta được các dung dịch chuẩn gốc 1000ppm.

Các dung dịch chuẩn nồng độ nhỏ hơn được pha loãng bằng nước deion theo tỉ lệ thích hợp từ dung dịch chuẩn gốc 1000 ppm trước khi phân tích.

* Pha dung dịch đệm điện di

Dung dịch pha động điện di kết hợp giữa Arginine và axit acetic được pha như sau: Cân chính xác 0,0435g Arginine chuyển vào cốc có mỏ 50,0 mL rung siêu âm trong 5 phút cho tan hết sau đó thêm từ từ axit axetic vào đến khi pH của dung dịch là 4.5 (sử dụng máy đo pH). Dung dịch đệm được pha mới hàng ngày.

2.3.2. Thiết bị, dụng cụ

*Thiết bị

– Thiết bị điện di mao quản CE-C 4 D như đã trình bày ở mục 2.2.1.

– Thiết bị lọc nước deion (Mỹ).

– Máy rung siêu âm, có gia nhiệt của hãng BRANSONIC 521.

– Máy đo pH của hãng HANNA với điện cực thủy tinh và các dung dịch pH chuẩn để hiệu chỉnh điểm chuẩn của máy đo pH.

– Cân phân tích của hãng S¢ientech (Mỹ), độ chính xác 0,1mg.

– Tủ lạnh Sanaky VH-2899W dùng bảo quản mẫu

 Dụng cụ:

– Dụng cụ thủy tinh: bình định mức, pipet, cốc, ống nghiệm.

– Pipet paster các loại: 10; 20; 100; 200; 5000 µL.

– Các lọ Falcon 15ml để đựng dung dịch chuẩn.

– Một số dụng cụ thông thường khác trong phòng thí nghiệm. 2.4. Các phương pháp đánh giá độ tin cậy của phương pháp phân tích

2.4.1. Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) của thiết bị

Giới hạn phát hiện (LOD) là nồng độ thấp nhất của chất phân tích mà hệ thống phân tích còn cho tín hiệu phân tích khác có nghĩa so với tín hiệu mẫu trắng hay tín hiệu nền [9].

Thông thường, đối với các quá trình sắc kí, LOD là nồng độ nhỏ nhất mà cho tín hiệu/nhiễu (S/N) bằng 3.

Giới hạn định lượng (LOQ): Là nồng độ thấp nhất của chất phân tích mà hệ thống phân tích định lượng được tín hiệu phân tích khác có ý nghĩa định lượng với tín hiệu mẫu trắng hay tín hiệu của nền. Với các quá trình sắc ký, giá trị LOD được xác định theo tỉ số tín hiệu/nhiễu (S/N) bằng 10.

2.4.2. Độ chụm (độ lặp lại) của phương pháp

– Độ lặp lại đặc trưng cho mức độ gần nhau giữa các giá trị riêng lẻ x i khi tiến hành trên các mẫu thử giống hệt nhau, bằng cùng một phương pháp phân tích, trong cùng điều kiện thí nghiệm (cùng người phân tích, trang thiết bị, phòng thí nghiệm) trong các khoảng thời gian ngắn. Do vậy còn gọi là độ chính xác trong phòng thí nghiệm [9].

– Độ lặp lại của phương pháp được xác định qua độ lệch chuẩn (SD) và độ lệch chuẩn tương đối (RSD%) theo các công thức sau:

RSD (%) còn được gọi là hệ số biến thiên (CV%). Người ta thường sử dụng độ lệch chuẩn tương đối (RSD) hơn là độ lệch chuẩn (SD) do có thể đánh giá được độ lệch chuẩn chiếm bao nhiêu phần trăm giá trị trung bình và có cái nhìn rõ hơn về độ chụm của các số liệu trong tập số liệu lặp lại.

Trong đó:

– S i là diện tích của pic điện di thứ i

– S tb là diện tích trung bình của n lần phân tích

– n là số lần phân tích lặp lại

2.4.3. Độ đúng (độ thu hồi) của thiết bị, của phương pháp

Độ đúng chỉ mức độ gần nhau giữa giá trị trung bình của dãy lớn các kết quả thí nghiệm và các giá trị quy chiếu được chấp nhận. Do đó, thước đo độ đúng thường đánh giá qua sai số tương đối hay bằng phương pháp xác định độ thu hồi [9].

Độ thu hồi (H):

Trong đó:

H: hiệu suất thu hồi (%)

C tt: Nồng độ thực tế của mỗi chất phân tích thu được (tính theo đường chuẩn)

C lt: Nồng độ lý thuyết của mỗi chất phân tích tính toán từ lượng chuẩn thêm vào.

Nếu chất chuẩn thêm vào mẫu từ trước khi xử lý mẫu thì sẽ cho độ đúng của phương pháp, còn nếu chất chuẩn được thêm vào trước khi bơm vào thiết bị CE thì sẽ cho độ đúng của thiết bị.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Phương pháp (CE-C 4D) đã được sử dụng để nghiên cứu tách và xác định đồng thời một số chất ma túy tổng hợp nhóm ATS [29] và bước đầu đã đạt được một số kết quả về điều kiện tối ưu phân tích 4 chất ma túy MA, MDA, MDMA và MDEA. Tuy nhiên, do nền mẫu nước tiểu phức tạp và hàm lượng các chất phân tích trong nước tiểu thường rất nhỏ nên việc xử lý mẫu là rất cần thiết. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào quy trình xử lý mẫu nước tiểu trên cơ sở kỹ thuật chiết lỏng – lỏng và chiết pha rắn nhằm nâng cao hiệu quả phân tích bốn chất ma túy nhóm ATS nêu trên bằng phương pháp CE-C 4D. Các nội dung nghiên cứu cụ thể bao gồm: xây dựng và đánh giá lại đường chuẩn, giá trị LOD, LOQ tại thời điểm nghiên cứu; khảo sát điều kiện tối ưu xử lý mẫu nước tiểu trên cơ sở kỹ thuật lỏng -lỏng và chiết pha rắn (SPE) nhằm nâng cao hiệu quả phân tích; áp dụng phân tích một số mẫu thực tế và tiến hành đối chứng với phương pháp truyền thống (GC-MS) do Viện Khoa học Hình sự thực hiện.

3.1. Xây dựng đường chuẩn của các chất phân tích

3.1.1. Xây dựng đường chuẩn

Các dung dịch sử dụng để lập đường chuẩn có nồng độ trong khoảng 5÷120 với MA và 10÷140ppm với MDA, MDAM, MDEA và được pha loãng từ các dung dịch chuẩn gốc ban đầu. Mỗi dung dịch được bơm 3 lần và thực hiện quá trình điện di trên thiết bị điện di mao quản sử dụng detector độ dẫn không tiếp xúc với các điều kiện tối ưu như sau:

Mao quản silica đường kính trong ID = 50 µm, tổng chiều dài: 60cm (chiều dài hiệu dụng 53cm).

Phương pháp bơm mẫu: Thủy động lực học kiểu xiphông ở độ cao 10 cm.

Thời gian bơm mẫu: 45 s

Dung dịch đệm điện di: Arg/Ace (10 mM) pH = 4,5.

Thế tách: 10 kV

Giá trị diện tích pic trung bình là kết quả được sử dụng để lập đường chuẩn.

Các kết quả đo được trình bày trong bảng 3.1.

Bảng 3.1. Sự phụ thuộc của diện tích pic vào nồng độ

MA, MDA, MDMA, MDEA

Hình 3.1. Đường chuẩn của MA Hình 3.2. Đường chuẩn của MDA

Hình 3.3. Đường chuẩn của MDMA Hình 3.4. Đường chuẩn của MDEA

Tra bảng chuẩn t với bậc tự do f = 5, độ tin cậy 95% có t = 2,57, kết hợp với các giá trị a, b, S a, S b, S y của các chất từ phần mềm origin 6.1 ta có phương trình hồi quy của các chất phân tích:

Bảng 3.2. Phương trình hồi quy của các chất phân tích

Chất phân tích

Phương trình hồi quy

Hệ số tương quan R 2

Từ các kết quả trên cho thấy hệ số tương quan R 2 của các chất phân tích đều lớn hơn 0,99 đồng thời giá trị P value<0,05 chứng tỏ x và y có quan hệ tuyến tính.

3.1.2. Đánh giá phương trình hồi quy của đường chuẩn

Trong phương trình hồi quy y = a + bx, trường hợp lý tưởng xảy ra khi không có chất phân tích thì không có tín hiệu. Tuy nhiên, trong thực tế các số liệu phân tích thường mắc sai số ngẫu nhiên luôn làm cho a ≠ 0.Nếu giá trị a khác 0 có ý nghĩa thống kê thì phương pháp phân tích mắc sai số hệ thống.Vì vậy, trước khi sử dụng đường chuẩn cho chất phân tích công cụ thì cần kiểm tra sự khác nhau giữa giá trị a và 0 có ý nghĩa thống kê không.

* Kiểm tra a với giá trị 0:

Nếu xem a ≈ 0 thì phương trình y = a + bx được viết thành y = b’x. Thay các giá trị x i, y i vào phương trình y = b’x ta sẽ được các giá trị b ‘i và tính

;

Phương sai của hai phương trình được tính như sau:

Các Phương Pháp Chiết Cây Cảnh / 2023

1. Chuẩn bị dụng cụ

Nhân giống bằng chiết cành là phương pháp lấy cành cây uốn cong xuống đất hoặc dùng đất bùn bao lại lấy cành. Chỗ đắp đất hoặc bao bùn đều phải cạo vỏ gây ra vết thương để tạo mô sẹo và kích thích cây ra rễ. Sau khi ra rễ mới tiến hành cắt thành một cây độc lập. Phương pháp này thường dùng cho cây hoa giâm cành khó ra rễ. Do trong quá trình ra rễ, cành chiết nhận được dinh dưỡng từ cây mẹ nên tỷ lệ sống cao.

Chiết cây cảnh thường có mấy phương pháp sau:

(1) Chiết nén một cành: Chọn một cành sát đất uốn cong vùi vào đất, để ngọn cành lộ ra ngoài đất, chỗ vùi cắt một vết thương, không lâu chỗ vết thương sẽ mọc rễ cây mới.

(2) Chiết nén nhiều cành: Những cây hoa mọc thành cụm có thể dùng phương pháp chiết nén mô đất. Đầu mùa xuân, cắt thành vết thương các cành định chiết rồi lấp đất cao lên, phủ kín các vết thương, sau 20-30 ngày các cành sẽ mọc rễ và thành cây.

(3) Chiết nén cành liên tục: Những cây hoa có cành dài như hoa kim ngân, có thể dùng cách này. Làm thế này ta sẽ có nhiều cây mới cùng một lúc.

(4) Chiết cành cao: Phương pháp này ta thường gọi là chiết cành. Những cây có cành cứng thô khó nén xuống đất thì ta dùng phương pháp chiết cành. Trước hết chọn vị trí dễ ra rễ, cắt thành vòng vỏ, bọc bùn và rêu bằng túi polyethylene, buộc kín 2 đầu, thường xuyên tưới nước, để giữ ẩm, sau khi ra rễ cắt tách cây ra trồng. Cây ngọc lan, cây trà, đỗ quyên ta thường dùng cách này. Thời gian chiết cành thường vào mùa xuân, khi trời ấm áp, hoa rụng, nhựa cây bắt đầu chảy, những cây hoa thường xanh thì chiết vào các tháng có mưa phùn.

(5) Chiết rễLấy rễ của một cây cảnh còn nhỏ gốc ghép rồi nối một cành nào vào nó là phương pháp chiết rễ thông thường hoặc có cách chiết rễ khác đó là nếu một cây thiếu một rễ lớn và rễ chính tỏa ra rất nhiều rễ nhỏ ở mọi hướng, ta có thể áp dụng cách chiết nhiều rễ ở gốc nhờ vậy ta có thể tự tạo rễ để kết cấu một cây trở nên hoàn mỹ.

(6) Chiết cành nonNếu ta tìm được một thân cây cụt cổ dáng đẹp nhưng chưa hoàn chỉnh, ta có thể ghép những cành non đó tuyển chọn vào những cành có chồi non của thân cây cụt để có những cành đẹp vừa ý cho các cây cảnh bonsai. Để ghép như vậy, ta cắt bỏ phần dưới của cành non gốc ghép, gọt sạch, chẻ nó một đường thẳng chính giữa khoảng 1cm. Kế đến gọt hai nhát hai bên cành để ghép, tạo thành hình mũi lao ở phía dưới, cắm nó vào khe ta đã chẻ của cành non gốc ghép. Nếu gốc ghép to lớn, có nhiều cành tỏa rộng, ta có thể ghép nhiều cành non một lúc. Sau cùng ta cột chúng lại bằng nilon và dùng bao nilon che trên ngọn của những chồi non để giữ không cho lá bị khô.

(7) Chiết gân ( ghép áp )Kết hợp cành non với một gốc ghép trong khi cả hai đang phát triển bình thường bằng rễ của riêng chúng. Nhờ vậy cành chiết sẽ dễ sống hơn trong quá trình chiết vì cả cành và gốc ghép đều được sự hỗ trợ của rễ riêng. Phương pháp này thường được áp dụng cho những loại cây ít khả năng sống còn. Đôi khi ta để ý thấy mẫy cây cảnh của ta thiếu một cành ở một vị trí nào đó mà đấy lại là nhược điểm trong một tác phẩm được coi là hoàn hảo.

Chiều dài của vùng ngang nhau tùy theo chiều ngang của chồi, thường thì chính xác gấp 4 lần đường kính của chồi. Sau đó, áp chính xác hai phần gọt vào nhau, rồi cột chặt chằng lại bằng nilon. Thường thường viết thương của chúng sẽ lành khoảng một tháng sau. Khi thấy chồi sống được, ta cắt chồi ở chỗ giao nhau, cũng gốc ghép thì cắt ở phía trên. Phương pháp ghép gần này có thể áp dụng chúng trong thời gian tăng trưởng các loại cây.

(8) Chiết giâmPhương pháp chiết giâm được áp dụng khi nhựa bắt đầu chảy nhưng cây cảnh lại không ra chồi non. Để chiết cành gốc ghép cần được cắt bỏ khoảng 3cm trên mặt đất phần thân trơn láng hơn thường được chọn ta rạch một đường khoảng 3cm giữa phần gỗ và vỏ. Hai hoặc ba chồi cần được bảo dưỡng ở phía trên của mầm, đầu thấp ta gọt nhọn như mũi lao, cũng giống như cách ghép cạnh.Sau đó, ta áp mặt cắt dài vào phần cứng của gốc ghép nhưng nếu ta đặt chính xác phần của cành mầm và gốc ghép, việc chiết coi như thành công. Vỏ của gốc ghép cần được giữ liền lạc ở bên ngoài và cột chặt bằng một lớp nylon rồi ta nén đất cho chặt.

Phương Pháp Quechers Chiết Mẫu Thực Phẩm / 2023

Quechers phân tích các dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, để chiết và làm sạch mẫu thực phẩm

Nhu cầu phân tích xác định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm như rau củ, trái cây, thịt cá ngày càng trở nên bức thiết do việc lạm dụng các chất này trong sản xuất để tăng năng suất. Lượng mẫu cũng như số chỉ tiêu phân tích ngày càng nhiều, do đó cần phải có quy trình phân tích nhanh chóng mà vẫn đảm bảo độ chính xác dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Phương pháp truyền thống xử lý mẫu thực phẩm là chiết lỏng – lỏng sử dụng nhiều dung môi hữu cơ gây nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường. Do đó một phương pháp mới được phát triển gọi tắt là QuEChERS (Quick – Nhanh chóng, Easy – Đơn giản, Cheap – Rẻ, Effective – Hiệu quả, Ruged – Ổn định, Safe – An toàn) để chiết và làm sạch mẫu thực phẩm.

Xác định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm như rau củ, trái cây, thịt cá.

Phân tích sàng lọc gần 150 thuốc BVTV với ngưỡng phát hiện đáp ứng được mức dư lượng tối đa cho phép theo quy định của các nước EU, Nhật,…

Với quy trình xử lý mẫu rất nhanh, đơn giản và kết hợp với các thiết bị phân tích như GC-MS hay LC-MS người ta có thể nhanh chóng định lượng hàng trăm chất trong 1 lần phân tích.

Trong phương pháp mới này, vật liệu hấp phụ anion yếu có nhóm amine bậc một và hai (Primary Secondary Amine – PSA) được sử dụng để loại bỏ đường, acid béo, acid hữu cơ, và các lipid, là một trong các chất hấp phụ chính có mặt trong hầu hết các ứng dụng của QuEChERS.

Tuy nhiên giá thành của vật liệu PSA rất cao (PSA của hãng Supelco – 788 SGD/100 g tương đương 13.000.000 VNĐ chưa tính thuế) và do thường được tổng hợp trên vật liệu nền silica nên không thể sử dụng ở các môi trường pH quá cao hoặc quá thấp.

Nhằm mục đích từng bước nội địa hóa các sản phẩm có giá trị kinh tế cao chúng tôi quyết định nghiên cứu tổng hợp vật liêu polystyrene có diện tích bề mặt lớn, chịu được các môi trường acid, baz và chứa nhóm methylene chloride dễ dàng chuyển hóa thành các nhóm chức khác, phục vụ các mục tiêu khác nhau. Một trong hai ứng dụng của vật liệu này là tổng hợp vật liệu PSA bằng quy trình mới để sử dụng cho phương pháp QuEChERS.

Phương pháp Quechers là phương pháp phân tích các dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhanh có trong rau củ quả, thịt cá,…Qui trình chuẩn bị mẫu gồm 4 bước:

Đồng nhất mẫu

Thêm dung môi và hóa chất Quechers

Lắc và ly tâm

Thu mẫu cho vào vial

Thời gian: khoảng 45 phút/mẫu