【#1】Phương Pháp Chọn Mẫu Ngẫu Nhiên Trong Đối Tượng Kiểm Toán Cụ Thể

Kết quả

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trong đối tượng kiểm toán cụ thể:

Chọn mẫu ngẫu nhiên

Là một phương pháp lựa chọn các phần tử vào mẫu mà nguyên tắc của chọn mẫu ngẫu nhiên là mỗi phần tử trong tổng thể đều có cơ hội như nhau để được chọn vào mẫu.

Các kỹ thuật thường dùng để sử dụng chọn mẫu bao gồm: Bảng số ngẫu nhiên, chọn

mẫu theo chương trình máy tính, và chọn mẫu hệ thống.

Chọn mẫu dựa trên Bảng số ngẫu nhiên

– Bước 1: Định lượng đối tượng kiểm toán bằng hệthống con số duy nhất. Thông thường đối tượng kiểm toán (các chứng từ, tài sản..) đã được mã hoá (đánh số) trước bằng con số duy nhất. Chẳng hạn, có 5.000 các khoản phải thu từkhách hàng và được đánh số từ 0001 đến 5.000. Khi đó bản thân các con số thứ tự trên là các đối tượng chọn mẫu. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, KTV có thểcần thiết phải đánh số lại cho tổng thể để có được hệ thống các con sốduy nhất tương thích với Bảng số ngẫu nhiên.

Chẳng hạn, nếu các nghiệp vụ đã được đánh sốtừA-001, B-001.. thì KTV có thểdùng các con số đểthay thế các ký tự chữ cái và khi đó có thể dãy số mới là 1-001, 2-001,…Nói chung, trong trường hợp đánh số lại cho đối tượng kiểm toán thì nên tận dụng các con số đã có một cách tối đa để đơn giản hoá việc đánh số. Ví dụ trong một quyển sổchứa các khoản mục tài sản kiểm toán gồm 90 trang, mỗi trang 30 dòng. Để có số duy nhất có thể kết hợp sốthứtựcủa trang với số thứ tự của dòng trên mỗi trang để có số thứ tự từ 0101 đến 9030.

– Bước 2: Thiết lập mối quan hệgiữa Bảng sốngẫu nhiên với đối tượng kiểm toán đã định lượng.

Do đối tượng kiểm toán đã được định lượng bằng con số cụ thểnên vấn đề đặt ra là cần

phải xây dựng được mối quan hệ giữa các số cụ thể đã xác định với các số ngẫu nhiên

trong Bảng sốngẫu nhiên. Có thểcó ba trường hợp xảy ra:

+ Các con số định lượng của đối tượng kiểm toán cũng gồm 5 chữ số như các con sốngẫu nhiên trong Bảng. Khi đó tương quan là 1-1 giữa định lượng đối tượng kiểm toán với các sốngẫu nhiên trong Bảng tựnó đã được xác lập.

+ Các con số định lượng của đối tượng kiểm toán gồm sốlượng chữ số ít hơn 5 chữ số. Chẳng hạn, trong ví dụ nêu bước 1, kiểm toán viên cần chọn ra 110 khoản phải thu trong số 5.000 khoản phải thu từ các khách hàng có đánh số từ 0001 đến 5.000. Các số này là số gồm 4 chữ số. Do vậy, KTV có thểxây dựng mối quan hệvới Bảng số ngẫu nhiên trong Bảng. Nếu trường hợp số định lượng còn có ít chữsốhơn nữa thì có thể lấy chữ số giữa trong số ngẫu nhiên.

+ Các số định lượng của đối tượng kiểm toán có sốcác chữsốlớn hơn 5. Khi đó đòi hỏi KTV phải xác định lấy cột nào trong Bảng làm cột chủvà chọn thêm những hàng số ở cột phụ của Bảng. Chẳng hạn, với số có 7 chữ số ta có thểghép một cột chính với 2 chữ số của một cột phụ nào đó để được số có 7 chữ số.

– Bước 3: Lập hành trình sửdụng Bảng. Đây là việc xác định hướng đi của việc chọn các

sốngẫu nhiên. Hướng đó có thểdọc (theo cột) hoặc ngang (theo hàng), có thểxuôi (từ trên xuống) hoặc ngược (từ dưới lên). Việc xác định này thuộc quyền phán quyết của KTV xong cần được đặt ra từtrước và thống nhất trong toàn bộquá trình chọn mẫu. Một vấn đềcần đặc biệt quan tâm là lộtrình chọn mẫu phải được ghi chép lại trong hồ sơ kiểm toán để khi một KTV khác có kiểm tra lại việc chọn mẫu thì họcũng chọn được mẫu tương tự.

– Bước 4: Chọn điểm xuất phát: Bảng sốngẫu nhiên gồm rất nhiều trang. Đểchọn điểm xuất phát, Bảng sốngẫu nhiên nên được mởra một cách ngẫu nhiên và ngẫu nhiên chọn ra một sốtrong Bảng đểlàm điểm xuất phát.

Ví dụ: Với 5.000 khoản phải thu khách hàng đánh số thứ tự từ 0001 đến 5.000 chọn ra 110 khoản để kiểm toán. ở đây, bước 1 có thể bỏ qua vì đối tượng kiểm toán đã được mã hoá trước.

Chú ý rằng, đối tượng kiểm toán bao gồm các sốcó 4 chữ số do vậy bước thứ hai ta phải xác định lấy bốn chữ số nào trong 5 chữ số của các số ngẫu nhiên. Giả sử lấy 4 chữ sốđầu của các sốngẫu nhiên đểcó được mối quan hệgiữa đối tượng kiểm toán với các số ngẫu nhiên trong Bảng.

Bước tiếp theo là xác lộ trình chọn mẫu.

Ví dụ này giả định lộ trình chọn là xuôi theo cột. Điểm xuất phát trong bước 4 được chọn ngẫu nhiên là dòng 3 cột 1. Theo cách đó KTV sẽchọn được khoản mục đầu tiên là 2413 (Xem bảng bốn số đầu của số ngẫu nhiên dòng 3- cột 1), sau đó các khoản mục tiếp tục được lựa chọn bao gồm 4216, 3757. Đến sốngẫu nhiên thứ4, 5,…) cho đến số ngẫu nhiên thứ8, các sốnày đều lớn hơn 5.000 (vượt quá phạm vi của đối tượng kiểm toán – các số chọn được phải nằm trong khoảng từ 0001 đến 5.000) do đó bị loại bỏ và tiếp tục chọn ta được các sốtiếp theo 2891, 0942,…

Khi sử dụng Bảng số ngẫu nhiên để chọn mẫu, có thể có những phần tử xuất hiện nhiều hơn một lần. Nếu KTV không chấp nhận lần xuất hiện thứhai trở đi thì cách chọn đó được gọi là chọn mẫu không lặp lại (chọn mẫu không thay thế). Ngược lại, chọn mẫu lặp lại (chọn mẫu thay thế) là cách chọn mà một phần tửtrong tổng thểcó thể được chọn vào mẫu nhiều hơn một lần.

Chọn mẫu ngẫu nhiên theo chương trình máy tính

Hiện nay phần lớn các hãng kiểm toán đã thuê hoặc tựxây dựng các chương trình chọn mẫu ngẫu nhiên qua máy tính nhằm tiết kiệm thời gian và giảm sai sót trong mẫu.

Các chương trình chuyên dụng này rất đa dạng, tuy nhiên nói chung vẫn tôn trọng hai bước đầu tiên của chọn mẫu ngẫu nhiên theo Bảng sốngẫu nhiên là lượng hoá đối tượng kiểm toán bằng hệthống con sốduy nhất và xác lập mối quan hệgiữa đối tượng

kiểm toán đã định lượng với các sốngẫu nhiên.

Tuy nhiên, số ngẫu nhiên lại do máy tính tạo ra.

Chọn mẫu hệ thống:

Là cách chọn đểsao cho chọn được các phần tửtrong tổng thểcó khoảng cách đều nhau (khoảng cách mẫu). Khoảng cách mẫu này được tính bằng cách lấy tổng số đơn vị tổng thểchia cho kích cỡ mẫu.

Ví dụ: Nếu tổng thểcó kích thước N là 1052 đơn vịvà cỡmẫu cần chọn n là 100 thì khoảng cách mẫu k sẽ được tính như sau:

k = N/n = 1052/100 = 10.52 làm tròn thành 10 – thông thường phải làm tròn xuống

đểcó thểchọn đủmẫu theo yêu cầu.

Từ đó, chọn một đơn vịmẫu đầu tiên m1 trong khoảng từphần tửnhỏnhất x1 đến phần tử đó cộng với khoảng cách mẫu k (x1 + k)

X1 < m1 < x1 + k (1 < m1 < 1+10)

Sau đó xác định các đơn vịmẫu kế tiếp theo công thức:

M(i) = M(i-1) + k

Giả sử trong ví dụ trên chúng ta chọn ngẫu nhiên được điểm xuất phát m1=5 thì các đơn vịmẫu tiếp theo sẽlà m2=15, m3=25, m4=35… cho đến khi chọn đủ100 đơn vịmẫu và m100= 995.

Đơn vị mẫu đầu tiên được chọn ngẫu nhiên nên mỗi đơn vịtổng thể ban đầu có cơhội được chọn ngang nhau. Tuy nhiên, sau khi đơn vị mẫu đầu tiên được chọn, mỗi đơn vị

về sau lại không có cơhội như nhau để được chọn vào mẫu.

Ưu điểm chủ yếu của chọn mẫu hệ thống là đơn giản, dễlàm và dễ sử dụng. Tuy nhiên, KTV cần tránh thiên vịtrong lựa chọn. Đểtăng tính đại diện của mẫu, KTV sắp xếp tổng thể theo một thứ tự ngẫu nhiên. Dùng nhiều điểm xuất phát cũng là một cách tốt để hạn chế nhược điểm của cách chọn này.

Kinh nghiệm chỉra rằng khi ứng dụng phương pháp chọn mẫu hệ thống thì cần phải sử dụng ít nhất 5 điểm xuất phát. Khi sửdụng nhiều điểm xuất phát thì khoảng cách mẫu phải được điều chỉnh bằng cách lấy khoảng cách mẫu hiện tại nhân với số điểm xuất phát ngẫu nhiên cần thiết.

Quantri.vn – Biên tập và hệ thống hóa

Ví dụ nếu ở ví dụ trên khoảng cách mẫu hiện tại là 10 và với điểm xuất phát ngẫu nhiên cần thiết là 5 thì ta có khoảng cách mẫu điều chỉnh là 50 (5 x 10). Năm điểm xuất phát được lựa chọn ngẫu nhiên trong khoảng từ1 đến 51. Sau đó tất cả các khoảng mục cách nhau một khoảng cách k = 50 sẽ được chọn ra kể từ các điểm xuất phát ban đầu

【#2】Các Phương Pháp Chọn Mẫu Trong Nghiên Cứu Thị Trường Mà Bạn Cần Phải Biết

Việc chọn mẫu và xác định cỡ mẫu là một công việc quan trọng và cần thiết trong nghiên cứu marketing đối với cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.

Nhưng làm thế nào để chọn mẫu và xác định cỡ mẫu ra sao cho hợp lý là câu hỏi mà không phải ai cũng trả lời được.

Các phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu marketing bao gồm chọn mẫu xác suất và phi xác suất, cụ thể:

  • Chọn mẫu thuận tiện
  • Chọn mẫu phán đoán
  • Chọn mẫu tỷ lệ
  • Chọn mẫu tích lũy nhanh
  • Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản
  • Chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống
  • Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng
  • Chọn mẫu theo cụm

Mẫu là trong một dự án nghiên cứu thị trường gồm tập hợp các phần tử. Trong đó, mỗi phần tử được thu thập thông tin để làm cơ sở cho việc nghiên cứu. Thông thường thì trong nghiên cứu marketing, phần tử là con người hoặc có thể là cửa hàng, doanh nghiệp.

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định cỡ mẫu nghiên cứu như mục tiêu, nội dung, phạm vi nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu,… Tuy nhiên, những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến việc xác định cỡ mẫu là:

  • Sự phong phú của tổng thể nghiên cứu: tổng thể nghiên cứu càng lớn, thường cần chọn mẫu càng lớn.
  • Độ tin cậy muốn đạt được. Mẫu càng lớn thì độ tin cậy càng cao.
  • Sai số cho phép

Việc lấy mẫu trong nghiên cứu trong marketing được thực hiện bởi những lý do sau:

  • Người thu thập thông tin bị giới hạn về mặt thời gian. Do đó, không thể thực hiện được số lượng người quá lớn trong thời gian bị hạn chế.
  • Vấn đề chi phí là một quan trọng khi mà một nghiên cứu thị trường thường cần một chi phí khá lớn. Việc điều tra trên một mẫu hợp lý sẽ giúp cho nghiên cứu tối ưu được về mặt chi phí, đồng thời vẫn đảm bảo thu thập đầy đủ thông tin thích hợp.
  • Trong một số trường hợp, việc điều tra tổng thể không thể tăng thêm độ chính xác cho nghiên cứu mà lại khiến tốn kém chi phí và mất thời gian.

Chọn mẫu thuận tiện

Trong phương pháp này, người nghiên cứu chọn ra các đon vị lấy mẫu dựa vào “sụ thuận tiện” hay “tính dễ tiếp cận”. Với phương pháp chọn mẫu thuận tiện, nhà nghiên cứu rất khó xác định tính đại diện của mẫu.

Sự lựa chọn các đơn vị mẫu mang tính chủ quan của người nghiên cứu, do đó, phương pháp này ít được sử dụng rộng rãi.

Chọn mẫu phán đoán

Những đơn vị của mẫu được lựa chọn bởi nhà nghiên cứu nghĩ có thể thỏa mãn một tiêu chuẩn nào đó.

Sự lựa chọn mẫu mang tính chủ quan, nên cũng ít được sử dụng.

Chọn mẫu tỷ lệ

Đây là phương pháp chọn mẫu mà trong đó nhà nghiên cứu đảm bảo mẫu được lựa chọn có tỷ lệ tương ứng theo các tham số quan trọng như tuổi, nghề nghiệp, giới tính.

Các phần tử cũng được lựa chọn theo chủ ý của nhà nghiên cứu, mang tính chủ quan.

Chọn mẫu tích lũy nhanh

Những phần tử ban đầu được lựa chọn bằng phương pháp xác suất, nhưng những phần tử bổ sung tiếp đó được cung cấp bởi các đơn vị lấy mẫu ban đầu (nhờ giới thiệu).

3.2-Chọn mẫu xác suất

Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản

Chọn mẫu ngẫu nhiên là phương pháp chọn mẫu với đúng như tên gọi của nó, hoàn toàn ngẫu nhiên. Do đó, mỗi đơn vị lấy mẫu đều có cơ hội hiện diện trong mẫu bằng nhau.

Chọn mẫu ngẫu nhiên có hai loại: chọn mẫu ngẫu nhiên có sự thay thế hoặc không có sự thay thế. Trong lấy mẫu ngẫu nhiên có sự thay thế, các phần tử được chọn mẫu luôn được thay thế trước khi thực hiện sự lựa chọn kế tiếp.

Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là sự đơn giản và dễ thực hiện.

Tuy nhiên, nhược điểm chết người của phương pháp này mẫu có thể sai lệch, không mang tính đại diện, do đó kém chính xác.

Chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống

Chọn mẫu có hệ thống với sự bắt đầu ngẫu nhiên là một phương pháp chọn mẫu được tiến hành bằng cách lấy từng đơn vị thứ k từ một tổng thể nghiên cứu có thứ tự.

Đơn vị đầu tiên được chọn một cách ngẫu nhiên, k là khoảng cách lấy mẫu.

Ví dụ: chọn k là 3. Đơn vị đầu tiên có số thứ tự là 2, tương tự, các đơn vị được chọn tiếp theo có số thứ tự là 5, 8, 11,…

Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng

Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng là chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản từ từng nhóm tương đồng.

Ưu điểm của phương pháp này là tăng mức độ chính xác của việc đánh giá các đặc điểm của tổng thể nghiên cứu, thực hiện thuận tiện và mẫu khá toàn diện.

Chọn mẫu theo cụm

Chọn mẫu theo cụm là phương pháp chọn mẫu được tiến hành bằng cách lấy những nhóm riêng biệt hoặc những cụm của đơn vị nhỏ hơn.

Các cụm được chọn ngẫu nhiên với sự khởi đầu ngẫu nhiên.

【#3】Phương Pháp Chọn Mẫu Phi Ngẫu Nhiên

Khái niệm

Chọn mẫu phi xác suất là cách chọn mẫu theo phán đoán chủ quan và không dựa theo phương pháp máy móc, khách quan.

Trong phương pháp chọn mẫu phi xác suất các phần tử cử tổng thể không có cơ hội như nhau để được lựa chọn vầo mẫu.

Các phương pháp chọn mẫu phi xác suất

Chọn mẫu theo khối (lô)

Chọn mẫu theo khối là việc chọn một tập hợp các phần tử liên tục trong một dãy nhất định, nếu phần tử đầu tiên trong khối được chọn thì phần tử còn lại cũng được chọn tất yếu. Mẫu chọn có thể là một khối hoặc nhiều khối.

Ví dụ:

Lựa chọn 30 phiếu chi của tháng 1, 2, 3.

Lựa chọn 1 khối: 30 hoá đơn đầu tháng 1 hoặc tháng 2, 3

Lựa chọn theo 3 khối: Đầu tháng 1, 2, 3 đều lựa chọn 10 hoá đơn

Lựa chọn theo 6 khối: 5 hoá đơn đầu tháng, 5 hoá đơn cuối tháng của

từng tháng 1, 2, 3.

Ưu điểm: Càng nhiều khối được lựa chọn thì tính đại diện của mẫu càng cao, rủi ro càng thấp và ngược lại. Phương pháp chọn mẫu theo khối đòi hỏi KTV phải ấn định chủ quan về khả năng sai sót hoặc phải biết phân vùng sai sót.

Nhược điểm: Việc chọn mẫu theo khối để kiểm toán các nghiệp vụ, tài sản, hoặc khoản mục chỉ được áp dụng khi đã nắm chắc tình hình của đơn vị được kiểm toán và khi có số lượng các khối vừa đủ. Do đó trong việc xác định các mẫu cụ thể cần đặc b iệt chú ý đến các tình huống đặc biệt như: T hay đổi nhân sự, thay đổi hệ thống kế toán và chính sách kinh tế, tính thời vụ của ngành kinh doanh…

Chọn mẫu theo xét đoán

Trong nhiều trường hợp, kiểm toán viên sẽ sử dụng sự phán đoán nghề nghiệp của mình khi lựa chọn các phần tử của mẫu. Điểm cần chú ý khi lựa chọn mẫu theo phương pháp này iểm toán viên muốn thu được một mẫu có tính đại diện phải lưu ý các vẫn đề sau:

Theo loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu: Nếu có nhiều loại nghiệp vụ cần được kiểm tra, thì cần thiết mỗi loại nghiệp vụ quan trọng trong kỳ phải được lựa chọn.

Theo phần việc do các nhân viên khác nhau phụ trách: Theo đó, số lượng nghiệp vụ do mỗi người thực hiện phải được kiểm toán, nếu có thay đổi nhân viên hoặc nếu các nghiệp vụ ở các địa điểm khác nhau sẽ dễ có mẫu chọn không đại diện khi giới hạn phạm vi chọn mẫu.

Theo quy mô: Khi chọn các mẫu có quy mô tiền tệ khác nhau (số tiền lớn, nhỏ khác nhau) thì các khoản mục nghiệp vụ, tài khoản… có số dư lớn cần được lựa chọn để kiểm toán.

Điều kiện áp dụng: Phương pháp này áp dụng tại các đơn vị mà kiểm toán viên đã tiến hành kiểm toán các niên độ trước và phải do các kiểm toán viên lâu năm có kinh nghiệm thực hiện.

Chọn mẫu bất kỳ (tình cờ)

Đây là phương pháp rất ít được sử dụng, phương pháp này được thực hiện bằng cách kiểm toán viên nghiên cứu qua tổng thể và lựa chọn ra các phần tử mẫu mà không chú ý đến quy mô, nguồn gốc hoặc các đặc điểm phân biệt khác của chúng để cố gắng có được một mẫu kiểm toán khách quan.

Nhược điểm: Theo cách chọn mẫu này kiểm toán viên rất khó có thể hoàn toàn khách quan khi lựa chọn các phần tử mẫu, điều này tuỳ thuộc vào thói quen của kiểm toán viên rất nhiều.

Ví dụ: Khi tiến hành chọn mẫu, có kiểm toán viên thích lựa chọn các khoản mục ở đầu trang, có kiểm toán viên thích khoản mục ở cuối trang, có kiểm toán viên thích chọn những khoản mục có số tiền lớn …

【#4】Các Phương Pháp Chọn Mẫu Trong Quá Trình Làm Luận Văn

Phương pháp chọn mẫu có nghĩa là không tiến hành điều tra hết toàn bộ các đơn vị của tổng thể, mà chỉ điều tra trên 1 số đơn vị nhằm để tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí. Vấn đề quan trọng nhất là đảm bảo cho tổng thể mẫu phải có khả năng đại diện được cho tổng thể chung.

1. Phương pháp chọn mẫu không ngẫu nhiên (non-probability sampling methods):

Xác suất được lựa chọn của mỗi đơn vị mẫu là không biết. Phương pháp này rẻ hơn tuy nhiên không có khả năng khái quát, và dễ bị thiên lệch.

a. Chọn mẫu thuận tiện: Một mẫu thuận tiện được sử dụng là khi bạn dừng bất kỳ một ai đó ở góc phố, hay khi bạn đi quanh những trung tâm thương mại, những cửa hiệu, nhà hàng và hỏi bất kỳ ai mà bạn gặp và họ sẽ trả lời những câu hỏi của bạn. Nói theo một cách khác, mẫu này là những người mang lại sự thuận tiện cho nhà nghiên cứu. Nhưng nó không có tính ngẫu nhiên và có sự sai lệch có nhiều khả năng xảy ra.

b. Chọn mẫu có chủ định: Chọn mẫu có chủ định là cách lựa chọn dựa trên cảm cảm quan của nhà nghiên cứu. Nhà nghiên cứu cố gắng có được mẫu mà nó đại diện cho tổng thể và cố gắng đảm bảo rằng nó bao trùm được tất cả các trường hợp.

c. Chọn mẫu tự nguyện: Người trả lời quyết định rằng họ muốn và đăng ký tham gia vào nghiên cứu của bạn.

d. Chọn mẫu chuyên gia: Mẫu được lựa chọn là những người có kinh nghiệm hay là chuyên gia trong một số lĩnh vực. Thông thường, chúng ta mời tham dự dựa trên sự bảo trợ của nhóm chuyên gia.

2. Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản

a. Nguyên tắc:

Cơ hội lựa chọn/xác suất được lựa chọn của các đơn vị là ngang nhau.

b. Quy trình:

Xác định tổng thể mẫu.

Cần danh sách của tất cả các đơn vị mẫu(khung lấy mẫu)

Số lượng các đơn vị (cỡ mẫu).

Chọn ngẫu nhiên các đơn vị trong khung lấy mẫu.

c. Ưu điểm và nhược điểm

Ưu điểm: Đơn giản. Sai số chọn mẫu dễ dàng đo được.

Hạn chế: Cần danh sách đầy đủ tất cả các đơn vị. Không phải luôn luôn có được tính đại diện tốt nhất. Các đơn vị có thể bị phân tán và khó tiếp cận.

d. Ví dụ:

Khảo sát thực trạng hiểu biết về luật giao thông đường bộ trong 1000 học sinh phổng thông trung học .

Dánh sách 1000 học sinh tại trường phổ thông trung học.

Học sinh được sắp xếp từ 1 đến 1000.

Cỡ mẫu là 100 học sinh.

Chọn ngẫu nhiên ra 100 học sinh từ học sinh thứ 1 đến thứ 1000.

3. Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống

a. Nguyên tắc:

Mẫu được lựa chọn theo bước nhảy dựa trên tỷ lệ mẫu.

b.Ưu điểm và hạn chế:

Ưu điểm: Đơn giản; Dễ dàng đo được sai số.

Hạn chế: Cần danh sách đầy đủ tất cả các đơn vị của tổng thể. Theo chu trình.

c. Ví dụ:

N= 1200 n= 60

Tỷ lệ lấy mẫu: N/n = 1200/60 = 20

Lấy danh sách của 1200 đơn vị.

Lựa chọn ngẫu nhiên bất kỳ một số trong 20 số đầu (ví dụ là số 5).

Cách 20 người nữa lại chọn người tiếp theo.

Người thứ 1: đứng thứ 5.

Người thứ 2: đứng thứ 25.

Người thứ 3: đứng thứ 45.

….

4. Chọn mẫu tầng

a. Nguyên tắc:

Chia các đơn vị trong tổng thể mẫu thành các nhóm nhỏ đống nhất(các tầng).

Chọn mẫu ngẫu nhiên từ mỗi tầng.

b. Ví dụ về các tầng:

Theo địa lý: các vùng của đất nước (Bắc, Trung, Nam, 7 vùng kinh tế)

Vùng nông thôn/thành thị hay nội thành và ngoại thành.

Tôn giáo/sắc tộc.

Tuổi.

Địa vị xã hội (cao/thấp).

Tổ chức lợi nhuận và phi lợi nhuận.

c. Ưu điểm và hạn chế:

Ưu điểm:

– Có thể có được thông tin về toàn bộ tổng thể và thông tin về mỗi tầng.

– Độ chính xác được tăng lên nếu như sự biến đổi trong mỗi tầng là ít (hay là nó đồng nhất) hơn so với giữa các tầng với nhau.

Hạn chế:

– Có thể sẽ khó xác định các tầng

– Sẽ giảm độ chính xác nếu các đơn vị trong mỗi tầng nhỏ.

c. Tại sao chọn mẫu tầng?.

Tăng hiệu quả của chọn mẫu: tăng tính chính xác của việc ước tính, làm giảm sai số…

Tránh được những khó khăn của chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản hay hệ thống đó là vấn đề về danh sách khung lấy mẫu…

Bằng việc tạo ra những phần tầng rõ ràng, cụ thể chính xác chúng ta có thể chắc chắn những nhóm nhỏ hơn có cỡ mẫu đủ để phân tích. Chúng ta còn có thể so sánh giữa các tầng, kiểm soát được độ chính xác ở mỗi tầng.

Nó có thể sẽ thuận tiện hơn cho người quản lý (ngoài ra còn rẻ hơn).

– Ví dụ: thực hiện khảo sát qua thư đối với cha mẹ học sinh và phỏng vấn đối với học sinh.

Chọn mẫu phân tầng cho phép sử dụng các thiết kế mẫu khác nhau cho sự phân chia khác nhau của tổng thể.

d. Phân loại chọn mẫu tầng

Chọn mẫu tầng tương xứng:

– Nếu tỷ lệ chọn mẫu chung được sử dụng cho mỗi phân tầng.

– Gần như luôn luôn đứng đầu trong việc làm tăng độ chính xác của điều tra.

Chọn mẫu tầng không tương xứng:

– Nếu tỷ lệ chọn mẫu không giống nhau ở mỗi phân tầng.

– Thỉnh thoảng làm tăng lên độ chính xác những thình thoảng lại giảm độ chính xác.

– Cần sử dụng trọng số để đạt được sự ước lượng không bị thiên lệch.

Chú ý sự khác biệt giữa phân tầng các biến và các tầng:

– Phân tầng các biến: giới tính, địa vị kinh tế- xã hội, tỉnh, vùng…

– Các tầng: Sự kết hợp giữa nhiều biến.

e. Ví dụ:

– Nam + địa vị kinh tế cao + ở miền Bắc là một tầng.

– Nam + địa vị kinh tế cao + ở miền Nam là một tầng.

Ví dụ về chọn mẫu các tỉnh để điều tra trong nghiên cứu kỳ gốc của dự án TAMP- GDT với 2 biến:

1. Vùng: Bắc/trung/nam

Các phương pháp chọn mẫu trong quá trình làm luận văn

Admin Mr.Luân

Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

【#5】Phương Pháp Chọn Mẫu Phi Xác Suất Trong Đối Tượng Kiểm Toán Cụ Thể

Kết quả

Phương pháp Chọn mẫu phi xác suất trong đối tượng kiểm toán cụ thể:

Trong chọn mẫu phi xác suất, các phần tửkhông có cơhội như nhau để được lựa chọnvào mẫu mà kiểm toán viên dựa vào nhận định nhà nghề đểphán xét và quyết định chọn phần tửnào vào mẫu.

Chọn mẫu theo khối là việc chọn một tập hợp các đơn vị kế tiếp nhau trong một tổng

thể. Trong trường hợp này, phần tử đầu tiên trong khối được chọn thì các phần tử còn lại cũng được chọn tất yếu. Mẫu chọn có thể là một khối liền hoặc nhiều khối rời gộp lại.

Chẳng hạn, chọn ra mẫu bao gồm tất cả các phiếu chi trong tháng 3 và tháng 8 để kiểm tra nghiệp vụ chi trong năm. Hoặc KTV cũng có thể lấy tất cả các NV trong quý 4 để kiểm tra sau đó suy rộng kết quả cho cả năm. Việc chọn mẫu theo khối để kiểm toán các nghiệp vụ, tài sản, hoặc khoản mục chỉ được áp dụng khi đã nắm chắc tình hình của đơn vị được kiểm toán và khi có số lượng các khối vừa đủ. Do đó trong việc xác định các mẫu cụ thể cần đặc biệt chú ý đến các tình huống đặc biệt như: thay đổi nhân sự, thay đổi hệthống kế toán và chính sách kinh tế, tính thời vụ của ngành kinh doanh…

Chọn mẫu theo nhận định nhà nghề

Trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi có kích cỡmẫu nhỏhoặc có các tình huống không bình thường thì chọn mẫu theo nhận định sẽ tạo cơ hội tốt cho sự xuất hiện của mẫu

đại diện. Khi chọn mẫu theo nhận định, để tăng tính đại diện của mẫu, KTV cần chú ý:

– Nếu có nhiều loại NV trong phạm vi kiểm tra thì mỗi loại NV đều nên có mặt trong

mẫu được chọn.

– Nếu có nhiều người phụ trách vềNV trong kỳ thì mẫu được chọn nên bao gồm NV

của mỗi người.

Quantri.vn – Biên tập và hệ thống hóa

– Các NV, khoản mục có số tiền lớn cần được chọn nhiều hơn để kiểm tra.

【#6】Phương Pháp Chọn Mẫu Phi Xác Suất (Phi Ngẫu Nhiên)

Chọn mẫu phi ngẫu nhiên (hay chọn mẫu phi xác suất) là phương pháp chọn mẫu mà các đơn vị trong tổng thể chung không có khả năng ngang nhau để được chọn vào mẫu nghiên cứu. Chẳng hạn : Ta tiến hành phỏng vấn các bà nội trợ tới mua hàng tại siêu thị tại một thời điểm nào đó ; như vậy sẽ có rất nhiều bà nội trợ do không tới mua hàng tại thời điểm đó nên sẽ không có khả năng được chọn

Việc chọn mẫu phi ngẫu nhiên hoàn toàn phụ thuộc vào kinh nghiệm và sự hiểu biết về tổng thể của người nghiên cứu nên kết quả điều tra thường mang tính chủ quan của người nghiên cứu. Mặt khác, ta không thể tính được sai số do chọn mẫu, do đó không thể áp dụng phương pháp ước lượng thống kê để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung

Các phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên:

Chọn mẫu thuận tiện:

Có nghĩa là lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính dễ tiếp cận của đối tượng, ở những nơi mà nhân viên điều tra có nhiều khả năng gặp được đối tượng. Chẳng hạn nhân viên điều tra có thể chặn bất cứ người nào mà họ gặp ở trung tâm thương mại, đường phố, cửa hàng,.. để xin thực hiện cuộc phỏng vấn. Nếu người được phỏng vấn không đồng ý thì họ chuyển sang đối tượng khác. Lấy mẫu thuận tiện thường được dùng trong nghiên cứu khám phá, để xác định ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu; hoặc để kiểm tra trước bảng câu hỏi nhằm hoàn chỉnh bảng; hoặc khi muốn ước lượng sơ bộ về vấn đề đang quan tâm mà không muốn mất nhiều thời gian và chi phí.

Chọn mẫu phán đoán:

Là phương pháp mà phỏng vấn viên là người tự đưa ra phán đoán về đối tượng cần chọn vào mẫu. Như vậy tính đại diện của mẫu phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và sự hiểu biết của người tổ chức việc điều tra và cả người đi thu thập dữ liệu. Chẳng hạn, nhân viên phỏng vấn được yêu cầu đến các trung tâm thương mại chọn các phụ nữ ăn mặc sang trọng để phỏng vấn. Như vậy không có tiêu chuẩn cụ thể “thế nào là sang trọng” mà hoàn toàn dựa vào phán đoán để chọn ra người cần phỏng vấn.

Chọn mẫu định ngạch :

Đối với phương pháp chọn mẫu này, trước tiên ta tiến hành phân tổ tổng thể theo một tiêu thức nào đó mà ta đang quan tâm, cũng giống như chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, tuy nhiên sau đó ta lại dùng phương pháp chọn mẫu thuận tiện hay chọn mẫu phán đoán để chọn các đơn vị trong từng tổ để tiến hành điều tra. Sự phân bổ số đơn vị cần điều tra cho từng tổ được chia hoàn toàn theo kinh nghiệm chủ quan của người nghiên cứu. Chẳng hạn nhà nghiên cứu yêu cầu các vấn viên đi phỏng vấn 800 người có tuổi trên 18 tại 1 thành phố. Nếu áp dụng phương pháp chọn mẫu định ngạch, ta có thể phân tổ theo giới tính và tuổi như sau:chọn 400 người (200 nam và 200 nữ) có tuổi từ 18 đến 40, chọn 400 người (200 nam và 200 nữ) có tuổi từ 40 trở lên. Sau đó nhân viên điều tra có thể chọn những người gần nhà hay thuận lợi cho việc điều tra của họ để dễ nhanh chóng hoàn thành công việc.

Chọn mẫu quả cầu tuyết/ phát triển mầm:

Trong xã hội học và thống kê nghiên cứu, lấy mẫu quả cầu tuyết (hoặc chọn mẫu dây chuyền , chọn mẫu dây chuyền giới thiệu , lấy mẫu giới thiệu) là một mẫu phi xác suất mà đối tượng nghiên cứu hiện tượng tuyển dụng trong tương lai từ những người quen của họ. Do đó, nhóm mẫu được cho là phát triển như một quả cầu tuyết lăn. Khi mẫu được xây dựng, đủ dữ liệu được thu thập sẽ hữu ích cho nghiên cứu. Kỹ thuật lấy mẫu này thường được sử dụng trong các quần thể ẩn hoặc khó tiếp cận, chẳng hạn như người sử dụng ma túy hoặc người bán dâm, hoặc những người có thu nhập rất cao, hoặc địa vị trong xã hội. Vì các thành viên mẫu không được chọn từ khung lấy mẫu, các mẫu bóng tuyết có thể có nhiều thành kiến . Ví dụ, những người có nhiều bạn bè có nhiều khả năng được tuyển dụng vào mẫu. Khi các mạng xã hội ảo được sử dụng, thì kỹ thuật này được gọi là lấy mẫu quả cầu tuyết ảo.

Nếu có bất cứ thắc mắc gì, các bạn hãy liên hệ với chúng tôi qua:

【#7】Mẫu Ngẫu Nhiên Là Gì? Phương Pháp Chọn Mẫu Ngẫu Nhiên

Mẫu ngẫu nhiên là gì?

Mẫu ngẫu nhiên (random sample) Mẫu được chọn một các ngẫu nhiên trong đó các đơn vị điều tra trong tổng thể có cơ hội được lựa chọn ngang nhau.

Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản:

Đối với phương pháp này trước tiên người nghiên cứu cần lập danh sách các đơn vị của tổng thể chung theo một trật tự nào đó ví dụ như lập theo tên, c theo quy mô hoặc địa chỉ…, sau đó đánh STT vào trong danh sách; rồi dùng các phương pháp ngẫu nhiên như rút thăm, dùng bảng số ngẫu nhiên, dùng hàm random của máy tính để chọn ra từng đơn vị trong tổng thể chung vào mẫu.

Phương pháp này thường vận dụng khi các đơn vị của tổng thể chung nằm ở vị trí địa lý gần nhau, các đơn vị đồng đều nhau về đặc điểm. Phương pháp này thông thường được áp dụng trong quá trình kiểm tra chất lượng sản phẩm trong dây chuyền sản xuất hàng loạt.

Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống:

Trước tiên lập danh sách các đơn vị của tổng thể chung theo một trật tự quy ước nào đó, sau đó đánh số thứ tự các đơn vị trong danh sách. Đầu tiên chọn ngẫu nhiên 1 đơn vị trong danh sách ; sau đó cứ cách đều k đơn vị lại chọn ra 1 đơn vị vào mẫu,…cứ như thế cho đến khi chọn đủ số đơn vị của mẫu.

Chọn mẫu cả khối:

Trước tiên lập danh sách tổng thể chung theo từng khối (như làng, xã, phường, lượng sản phẩm sản xuất trong 1 khoảng thời gian…). Sau đó, ta chọn ngẫu nhiên một số khối và điều tra tất cả các đơn vị trong khối đã chọn. Thường dùng phương pháp này khi không có sẵn danh sách đầy đủ của các đơn vị trong tổng thể cần nghiên cứu.

Chọn mẫu nhiều giai đoạn:

Phương pháp này thường áp dụng đối với tổng thể chung có quy mô quá lớn và địa bàn nghiên cứu quá rộng. Việc chọn mẫu phải trải qua nhiều giai đoạn (nhiều cấp). Trước tiên phân chia tổng thể chung thành các đơn vị cấp I, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp I. Tiếp đến phân chia mỗi đơn vị mẫu cấp I thành các đơn vị cấp II, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp II…Trong mỗi cấp có thể áp dụng các cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, chọn mẫu hệ thống, chọn mẫu phân tầng, chọn mẫu cả khối để chọn ra các đơn vị mẫu.

【#8】Phương Pháp Chọn Mẫu Xác Suất (Ngẫu Nhiên)

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên

Chọn mẫu ngẫu nhiên (hay còn gọi là chọn mẫu xác suất) là phương pháp chọn mẫu khi khả năng được chọn của tất cả các đơn vị vào tổng thể là như nhau. Phương pháp này là phương pháp khá tốt để người nghiên cứu có thể lựa chọn ra một mẫu có khả năng đại diện cho tổng thể nghiên cứu. Bên cạnh đó vì có khả năng tính được sai số do chọn mẫu do vậy ta có thể áp dụng được các phương pháp ước lượng thống kê, kiểm định giả thuyết thống kê trong xử lý dữ liệu để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung.

Tuy nhiên phương pháp này khó áp dụng được khi không xác định được danh sách của tổng thể chung; bên cạnh đó tốn kém nhiều thời gian, kinh phí điều tra và nguồn nhân lực

Các phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên:

Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản:

Đối với phương pháp này trước tiên người nghiên cứu cần lập danh sách các đơn vị của tổng thể chung theo một trật tự nào đó ví dụ như lập theo tên, c theo quy mô hoặc địa chỉ…, sau đó đánh STT vào trong danh sách; rồi dùng các phương pháp ngẫu nhiên như rút thăm, dùng bảng số ngẫu nhiên, dùng hàm random của máy tính để chọn ra từng đơn vị trong tổng thể chung vào mẫu.

Phương pháp này thường vận dụng khi các đơn vị của tổng thể chung nằm ở vị trí địa lý gần nhau, các đơn vị đồng đều nhau về đặc điểm. Phương pháp này thông thường được áp dụng trong quá trình kiểm tra chất lượng sản phẩm trong dây chuyền sản xuất hàng loạt.

Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống:

Trước tiên lập danh sách các đơn vị của tổng thể chung theo một trật tự quy ước nào đó, sau đó đánh số thứ tự các đơn vị trong danh sách. Đầu tiên chọn ngẫu nhiên 1 đơn vị trong danh sách ; sau đó cứ cách đều k đơn vị lại chọn ra 1 đơn vị vào mẫu,…cứ như thế cho đến khi chọn đủ số đơn vị của mẫu. Ví dụ : Dựa vào danh sách bầu cử tại 1 thành phố, ta có danh sách theo thứ tự vần của tên chủ hộ, bao gồm 240.000 hộ. Ta muốn chọn ra một mẫu có 2000 hộ. Vậy khoảng cách chọn là : k= 240000/2000 = 120, có nghĩa là cứ cách 120 hộ thì ta chọn một hộ vào mẫu.

Chọn mẫu cả khối:

Trước tiên lập danh sách tổng thể chung theo từng khối (như làng, xã, phường, lượng sản phẩm sản xuất trong 1 khoảng thời gian…). Sau đó, ta chọn ngẫu nhiên một số khối và điều tra tất cả các đơn vị trong khối đã chọn. Thường dùng phương pháp này khi không có sẵn danh sách đầy đủ của các đơn vị trong tổng thể cần nghiên cứu. Ví dụ : Tổng thể chung là sinh viên của một trường đại học. Khi đó ta sẽ lập danh sách các lớp chứ không lập danh sách sinh viên, sau đó chọn ra các lớp để điều tra.

Chọn mẫu phân tầng:

Chọn mẫu nhiều giai đoạn:

Phương pháp này thường áp dụng đối với tổng thể chung có quy mô quá lớn và địa bàn nghiên cứu quá rộng. Việc chọn mẫu phải trải qua nhiều giai đoạn (nhiều cấp). Trước tiên phân chia tổng thể chung thành các đơn vị cấp I, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp I. Tiếp đến phân chia mỗi đơn vị mẫu cấp I thành các đơn vị cấp II, rồi chọn các đơn vị mẫu cấp II…Trong mỗi cấp có thể áp dụng các cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, chọn mẫu hệ thống, chọn mẫu phân tầng, chọn mẫu cả khối để chọn ra các đơn vị mẫu. Ví dụ :Muốn chọn ngẫu nhiên 50 hộ từ một thành phố có 10 khu phố, mỗi khu phố có 50 hộ. Cách tiến hành như sau : Trước tiên đánh số thứ tự các khu phố từ 1 đến 10, chọn ngẫu nhiên trong đó 5 khu phố. Đánh số thứ tự các hộ trong từng khu phố được chọn. Chọn ngẫu nhiên ra 10 hộ trong mỗi khu phố ta sẽ có đủ mẫu cần thiết.

Nếu có bất cứ thắc mắc gì, các bạn hãy liên hệ với chúng tôi qua:

【#9】Phương Pháp Chọn Mẫu (Sampling Method) Trong Kiểm Toán Là Gì?

Định nghĩa

Phương pháp chọn mẫu trong kiểm toán tiếng Anh là Sampling Method.

Phương pháp chọn mẫu là các thủ tục, qui trình được tiến hành để chọn ra các phần tử từ tổng thể để áp dụng các phép thử cơ bản và tuân thủ để đánh giá.

Có hai phương pháp chọn mẫu chính là phương pháp chọn mẫu xác suất và phương pháp chọn mẫu phi xác suất.

Phương pháp chọn mẫu xác suất

Là phương pháp có hai đặc điểm sau:

– Các phần từ được lựa chọn ngẫu nhiên vào mẫu.

– Sử dụng lí thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu, bao gồm việc định lượng rủi ro lấy mẫu.

Phương pháp này giúp cho mỗi phần tử của tổng thể có cơ hội ngang nhau để được lựa chọn vào mẫu, do đó có ưu điểm là đả, bảo tính khách quan. Tuy cách chọn này vẫn tồn tại rủi ro là mẫu được chọn không chứa đựng các đặc trưng chủ yếu của tổng thể nhưng mức rủi ro này được đo bằng các công thức thống kê.

Phương pháp chọn mẫu xác suất có thể sử dụng cho cả mẫu thống kê và mẫu phi thống kê. Tuy nhiên các kiểm toán viên ít khi sử dụng phương pháp này khi lấy mẫu phi thống kê. Còn khi lấy mẫu thống kê thì các kiểm toán viên bắt buộc phải dùng phương pháp này.

Trong chọn mẫu ngẫu nhiên, các kĩ thuật thường được sử dụng là bảng số ngẫu nhiên, chọn mẫu hệ thống và chọn mẫu theo chương trình máy tính.

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất là phương pháp chọn mẫu không có một hoặc cả hai đặc điểm sau:

– Các phần tử được lựa chọn ngẫu nhiên vào mẫu.

– Sử dụng lí thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu, bao gồm việc định lượng rủi ro lấy mẫu.

Trong phương pháp này, các kiểm toán viên sẽ đưa ra quyết định và lựa chọn việc phần tử nào được đưa vào mẫu, dẫn đến các phần tử không có cơ hội ngang nhau về việc được lựa chọn vào mẫu.

Khác với phương pháp chọn mẫu xác suất, phương pháp này không được chấp nhận trong lấy mẫu thống kê mà chỉ có thể áp dụng trong lấy mẫu phi thống kê.

Lý do để kiểm toán viên lựa chọn phương pháp này là do dù việc chọn mẫu ngẫu nhiên sẽ không phát huy được ưu điểm nếu sai sót trọng yếu tập trung phân bổ theo những khối quần thể xác định hoặc nếu tổng thể có qui mô nhỏ. Nếu kiểm toán viên có phán đoán tốt và có nhiều kinh nghiệm làm quen với đối tượng kiểm toán thì phương pháp này sẽ mang lại kết quả tốt hơn so với phương pháp chọn mẫu xác suất.

Ba cách thông thường để chọn mẫu phi xác suất: chọn mẫu theo lô (khối), chọn bất kì (tình cờ), chọn mẫu xét đoán.

Hằng Hà

【#10】8.phuong Phap Chon Mau, Co Mau

, caothuthao1993 chez caothuthao1993

Published on

8.phuong phap chon mau, co mau

  1. 1. MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
  2. 2. 2 Mục tiêu học tập 1. Xác định được quần thể đích, quần thể nghiên cứu, đơn vị mẫu 2. Lựa chọn được phương pháp chọn mẫu thích hợp 3. Dự kiến được các loại sai số trong quá trình chọn mẫu và các biện pháp khắc phục. 4. Tính được cỡ mẫu cho một nghiên cứu
  3. 3. 3 Khái niệm Quần thể NC Mẫu Chọn ? ? Quần thể đích
  4. 4. 4 Đơn vị lấy mẫu, khung mẫu Đơn vị lấy mẫu: là đơn vị của quần thể được chọn vào mẫu Khung mẫu: Danh sách các đơn vị mẫu hoặc bản đồ phân bố mẫu. Đơn vị nghiên cứu: là một chủ thể mà sự quan sát hoặc đo lường sẽ được thực hiện trên chủ thể (người hoặc vật thí nghiệm)
  5. 5. 5 Nghiên cứu về sử dụng hố xí tại xã X 200 hộ Chủ hộ Đại diện hgđ PVDanh sách Các hộ gia đình trong xã Chọn Đơn vị lấy mẫu Khung mẫu Đơn vị NC
  6. 6. 6 Không đủ kinh phí Sai số trong điều tra toàn thể Mẫu đủ lớn sẽ ngoại suy ra toàn quần thể Lý do chọn mẫu
  7. 7. 7 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
  8. 8. 8 Các phương pháp chọn mẫu  Chọn mẫu có xác suất Ngẫu nhiên đơn Ngẫu nhiên hệ thống Phân tầng Mẫu cụm Nhiều giai đoạn  Chọn mẫu không xác suất Thuận tiện Chỉ tiêu Mục đích
  9. 9. 9 Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
  10. 10. 10 Là mẫu mà tất cả các thể trong quần thể có cùng cơ hội để chọn vào mẫu. Cách chọn: Lập danh sách toàn bộ những đơn vị mẫu trong quần thể Sử dụng phương pháp “bốc thăm” hoặc sử dụng bảng số ngẫu nhiên để chọn đơn vị mẫu Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
  11. 11. 11 Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn Ưu điểm: Cách làm đơn giản, tính đại diện cao Có thể lòng vào các kỷ thuật chọn mẫu khác Hạn chế: Cần phải có khung mẫu Các cá thể được chọn vào mẫu có thể phân bố tản mạn.
  12. 12. 12 Chọn mẫu ngẫu nghiên hệ thống Sampling interval’s width is determined and inpiduals selected.
  13. 13. 13 Chọn mẫu ngẫu nghiên hệ thống Những cá thể được chọn theo một khoảng cách đều đặn Cách chọn Ghi một danh sách đơn vị mẫu Xác định khoảng cách mẫu k=N/n Chọn một số ngẫu nhiên (i) giữa 1 và k. Các cá thể có số thứ tự i + 1k, i + 2k, i + 3k… sẽ được chọn vào mẫu
  14. 14. 14 Chọn mẫu phân tầng
  15. 15. 15 Chọn mẫu phân tầng Là việc phân chia các cá thể của quần thể nghiên cứu thành các nhóm riêng lẽ Lý do phân tầng: Có sự khác biệt về đặc tính nghiên cứu của các cá thể ở các tầng Tầng có thể phân chia theo: Khu vực địa lý, giới, tuổi, nghề nghiệp… Ví dụ: Để khảo sát các yếu tố nguy cơ gây bệnh Đái tháo đường tại thành phố CT, nhà nghiên cứu có thể phân chia tầng theo thành thị và nông thôn
  16. 16. 16 Cách chọn mẫu tầng Thành phố CT Nông thôn Thành thị PhườngXã
  17. 17. 17 Cluster sample Chọn mẫu chùm (cụm)
  18. 18. 18 Chọn mẫu chùm (cụm) Do không có khung mẫu hoặc nghiên cứu trên địa bàn rộng Có được các nhóm của các đơn vị nghiên cứu có sẵn (các làng, các trường học) Việc chọn những nhóm các đơn vị nghiên cứu (các cụm) thay cho việc chọn cá nhân những đơn vị nghiên cứu.
  19. 19. 19 Chọn mẫu chùm (cụm) Các cụm thường là những đơn vị địa lý (xã, ấp/khu vực) hoặc những đơn vị tổ chức (các phòng khám, trường học…). Số lượng cụm, tuỳ vào số cụm. Nên chọn 30 Ví dụ: Chọn mẫu cụm trong xác định tỷ lệ bao phủ tiêm chủng trẻ dưới 5 tuổi của tỉnh X
  20. 20. 20 Dân số chọn mẫu Mẫu cụm bậc 1 Mẫu cụm bậc 2 Chọn mẫu chùm (cụm)
  21. 21. 21 Chọn mẫu PPS – Xác suất tỷ lệ với kích cỡ của quần thể  Sử dụng khi nghiên cứu trên cộng đồng lớn, kích thước các cộng đồng không đều nhau  Các bước thực hiện 1. Liệt kê các cụm và dân số 2. Xếp các cụm theo một trình tự và cộng dồn 3. Chọn khoảng cách mẫu k = Dscd/số cụm 4. Chọn ngẫu nhiên con số i nào đó, chọn cụm đầu tiên có dân số cộng dồn lớn hơn hoặc bằng i 5. Các cụm kế tiếp tính bằng cách lấy i + k
  22. 22. 22 Ví dụ Một nghiên cứu về tình trạng sâu răng của học sinh tiểu học tại quận Ninh kiều TPCT. Cỡ mẫu: 300 học sinh Số lượng trường tiểu học là 10 Số lượng trường tiểu học cần chọn là 4 Các bước chọn theo PPS?
  23. 23. 23 Tên trường và số lượng học sinh Tên Trường Số lượng 1 400 2 700 3 800 4 1200 5 1800 6 300 7 800 8 900 9 1100 10 1000 Tổng 9000
  24. 24. 24 Cộng dồn Tên Trường Số lượng Cộng dồn 1 400 400 2 700 1100 3 800 1900 4 1200 3100 5 1800 4900 6 300 5200 7 800 6000 8 900 6900 9 1100 8000 10 1000 9000 Tổng 9000
  25. 25. 25 Tính khoảng cách k Tên Trường Số lượng Cộng dồn Khoảng cách k 1 400 400 2250 2 700 1100 3 800 1900 4 1200 3100 5 1800 4900 6 300 5200 7 800 6000 8 900 6900 9 1100 8000 10 1000 9000 Tổng 9000
  26. 26. 26 Chọn số ngẫu nhiên i <= k Tên Trường Số lượng Cộng dồn Khoảng cách Chọn cụm 1 400 400 2250 2 700 1100 679 3 800 1900 4 1200 3100 5 1800 4900 6 300 5200 7 800 6000 8 900 6900 9 1100 8000 10 1000 9000 Tổng 9000
  27. 27. 27 Chọn các cụm còn lại Tên Trường Số lượng Cộng dồn Khoảng cách Chọn cụm 1 400 400 2250 2 700 1100 679 3 800 1900 4 1200 3100 2929 5 1800 4900 6 300 5200 5179 7 800 6000 8 900 6900 9 1100 8000 7429 10 1000 9000 Tổng 9000
  28. 28. 28 Tính tổng học sinh của các trường được chọn Tên Trường Số lượng Cộng dồn Khoảng cách Chọn cụm Mẫu 1 400 400 2250 2 700 1100 679 3 800 1900 4 1200 3100 2929 5 1800 4900 6 300 5200 5179 7 800 6000 8 900 6900 9 1100 8000 7429 10 1000 9000 Tổng 9000 3300 0
  29. 29. 29 Tính cỡ mẫu cho các trường ni= (n x Ni)/N Tên Trường Số lượng Cộng dồn Khoảng cách Chọn cụm Mẫu 1 400 400 2250 2 700 1100 679 64 3 800 1900 4 1200 3100 2929 109 5 1800 4900 6 300 5200 5179 27 7 800 6000 8 900 6900 9 1100 8000 7429 100 10 1000 9000 Tổng 9000 3300 300
  30. 30. 30 Chọn mẫu nhiều giai đoạn Trong những quần thể rất lớn và rải khắp mẫu có thể được tiến hành theo hai hoặc nhiều giai đoạn Thường là những nghiên cứu dựa trên cộng đồng, trong đó người được phỏng vấn thuộc những làng khác nhau, và những làng này đã được chọn từ những khu vực khác nhau
  31. 31. 31 Ví dụ Ví dụ: ĐBSCL có 13 tỉnh, mỗi tỉnh có nhiều huyện, mỗi huyện có nhiều xã… Giai đọan 1: Chọn ngẫu nhiên 3 tỉnh; Giai đọan 2: Chọn ngẫu nhiên 2 huyện từ các tỉnh đã được chọn ở giai đoạn 1 Giai đọan 3: Chọn ngẫu nhiên 2 xã từ các huyện đã được chọn ở giai đoạn 2,… Giai đoạn 4: Chọn ngẫu nhiên 2 ấp từ xã Giai đoạn 5: Chọn ngẫu nhiên 30 cá thể từ mỗi ấp
  32. 32. 32 Chọn mẫu không xác xuất Chọn mẫu thuận tiện Đạt được trên cơ sở các cá thể có sẵn khi thu thập số liệu. Ví dụ: Tất cả các bệnh nhân đến khám tại phòng khám hằng ngày. Đây là cách chọn mẫu hay gặp trong nghiên cứu lâm sàng.
  33. 33. 33 Chọn mẫu không xác xuất Chọn mẫu chỉ tiêu Là phương pháp đảm bảo rằng một số nhất định các đơn vị mẫu từ các loại khác nhau của quần thể nghiên cứu với các tính đặc trưng sẽ có mặt trong mẫu.
  34. 34. 34 Chọn mẫu không xác xuất Chọn mẫu mục đích Nhà nghiên cứu đã xác định trước các nhóm quan trọng để tiến hành thu thập số liệu. Các nhóm khác nhau sẽ có tỷ lệ mẫu khác nhau. Đây là cách hay dùng trong các điều tra thăm dò, phỏng vấn sâu.
  35. 35. 35 Các sai số thường gặp trong chọn mẫu  Sự không đáp ứng  Nghiên cứu với người tình nguyện  Sai số do mùa  Sai số do đường xá
  36. 36. 36 Sự không đáp ứng  Là hiện tượng các cá thể từ chối tham gia nghiên cứu.  Thường hay gặp trong thử nghiệm lâm sàng  Cách khắc phục: Chuẩn hoá phương pháp thu thập số liệu Giải thích các đối tượng trước khi thu thập số liệu Nếu vằng mặt thì người điều tra phải quay lại gặp cho bằng được. Nếu đối tượng không muốn hợp tác thì phải xem xét lại đối tượng này để tìm ra các đặc điểm khác với những đối tượng tham gia. Có thể chọn thêm đối tượng vào mẫu để thay thế những người không tham gia.
  37. 38. 38 Các yếu tố ảnh hưởng đến cỡ mẫu Loại thiết kế nghiên cứu Phương pháp chọn mẫu Độ lớn của tham số được nghiên cứu Mức độ sai lệch tham số mẫu và tham số quần thể Khả năng thực thi
  38. 39. 39 Cỡ mẫu cho việc ước tính tỷ lệ trong quần thể 2 2 2/1 )1( d pp Zn −× = −α Cỡ mẫu Tỷ lệ ước đoán Khoảng sai lệch Mức ý nghĩa thống kê Hệ số tin cậy 0,1 0,05 0,05 0,01
  39. 40. 40 Giá trị Z Giá trị Z thu được từ bằng cách tra bảng Z Với α = 0,1 ; Z = 1,645 Với α = 0,05; Z = 1,96 Với α = 0,01; Z= 2,58
  40. 41. 41 Ví dụ Trưởng phòng y tế huyện muốn xác định tỷ lệ SDD của trẻ dưới 5 tuổi trong huyện hiện tại là bao nhiêu. Giả sử rằng bạn sử dụng kỷ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên, hãy tính cỡ mẫu cần thiết cho cuộc điều tra này. Biết rằng tỷ lệ SDD chung của quốc gia là 30%, độ tin cậy là 95%, khoảng sai lệch 5%.
  41. 42. 42 Cách tính cỡ mẫu nghiên cứu đối với ước tính một tỷ lệ trong QT 2 2 2/1 )1( d pp Zn −× = −α Cỡ mẫu Tỷ lệ ước đoán Khoảng sai lệch Mức ý nghĩa thống kê Hệ số tin cậy 0,050,05 1,96 0,3 323
  42. 43. VD: Muốn ước lượng tỷ lệ hộ gia đình có người mắc bệnh A, dựa vào tài liệu của một số nghiên cứu trước chúng ta biết tỷ lệ này là 35%. Nếu chúng ta sử dụng độ chính xác là 99% , sai số tuyệt đối là 5% thì cỡ mẫu cần thiết là bao nhiêu?
  43. 44. 44 Quần thể hữu hạn P là kích thước của dân số đích và Nhc là cỡ mẫu sau khi đã hiệu chỉnh Với ví dụ trên, dân số trẻ dưới 5 tuổi trong huyện là 1000 thì số trẻ cần cho nghiên cứu? PN PN Nhc + × =
  44. 45. 45 Cỡ mẫu trong nghiên cứu đối với giá trị trung bình 2 2 2 2/1 d Zn σ α−= n: là cỡ mẫu nghiên cứu cần có σ: Độ lệch chuẩn quần thể
  45. 46. VD: Nhà nghiên cứu muốn ước lượng cân nặng trung bình của trẻ em mới sinh ra trong cộng đồng. Có một báo cáo từ một nghiên cứu khác ở địa bàn tương tự cộng đồng này đã cho biết độ lệch chuẩn là 600gr. Người nghiên cứu cần có một mẫu trong đó độ rộng khoảng tin cậy dao động không quá 60gr với độ tin cậy là 99%. Vậy cỡ mẫu nghiên cứu là bao nhiêu?
  46. 47. 47 Hiệu lực thiết kế (Design Effect): D  Sử dụng trong nhiều trường hợp chọn mẫu: mẫu cụm, chọn mẫu nhiều giai đoạn.  Đễ đảm bảo tính chính xác của mẫu, nhà nghiên cứu thường nhân cỡ mẫu với một hệ số gọi là hiệu lực thiết kế (ký hiệu D).  Giá trị của D: 1,5 – 2…Thông thường chọn D = 2.
  47. 48. Một nghiên cứu nhằm khảo sát tỷ lệ hút thuốc lá của sinh viên nam tại trường Đại học Tây Đô. Theo một số nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ Hút thuốc lá trong Nam sinh viên của các trường Đại học là 30%. a) Tính cỡ mẫu cho nghiên cứu b) Giả sử số liệu các lớp sinh viên trong trường theo bảng, hãy sử dụng phương pháp chọn mẫu thích hợp chọn ra học sinh (Phương pháp chọn, cách chọn, lớp được chọn, học sinh trong lớp được chọn….)
  48. 49. Lớ p D1 D2 D3 D4 D5 D6 D7 Số sv 270 232 278 300 250 130 120 Lớ p D8 ĐD 1 ĐD 2 ĐD 3 ĐD 4 CT D 2 CT D 3 Số sv 67 150 105 76 54 86 67