Phương Pháp Kế Toán Quản Trị

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Kế Toán Quản Trị
  • Cách Viết Báo Cáo Thực Tập Kế Toán Tiền Lương Điểm Cao
  • Nghiên Cứu Kế Toán Tiền Mặt Và Kế Toán Dồn Tích Trong Doanh Nghiệp
  • Hướng Dẫn Cách Phân Biệt Kế Toán Dồn Tích Và Kế Toán Dòng Tiền
  • Phương Pháp Kế Toán Chi Tiết Nguyên Vật Liệu
  • Phương pháp chứng từ kế toán

    – Dựa vào hệ thống chứng từ bắt buộc và chứng từ hướng dẫn sử dụng trong kế toán tài chính để thu thập các thông tin thực hiện ( quá khứ ) chi tiết theo yêu cầu của kế toán quản trị ( sử dụng chung nguồn thông tin đầu vào cùng với kế toán tài chính ).

    Phương pháp chứng từ kế toán

    – Dựa vào hệ thống tài khoản của kế toán tài chính (tài khoản tổng hợp, tài khoản chi tiết) để tập hợp số liệu thông tin thực hiện ( quá khứ ) chi tiết theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Trên cơ sở yêu cầu quản trị cụ thể đối với từng đối tượng mà kế toán quản trị quan tâm, cần tổ chức chi tiết hơn nữa các tài khoản đến các cấp 3, 4, 5, 6…

    – Đối với kế toán quản trị, việc tính giá các loại tài sản mang tính linh hoạt cao hơn kế toán tài chính ( không đòi hỏi tuân theo nguyên tắc chung về tính giá ) và gắn với mục đích sử dụng các thông tin về giá theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp.

    – Việc phân loại chi phí trong kế toán quản trị có những cách phân loại và nhận diện chi phí riêng mà kế kế toán tài chính không sử dụng đến như: chi phí cơ hội, chi phí chìm, biến phí, định phí..

    Phương pháp tổng hợp cân đối

    – Phương pháp tổng hợp cân đối kế toán thường được kế toán quản trị sử dụng trong việc lập các báo cáo tổng hợp cân đối bộ phận – báo cáo nội bộ ( cho từng bộ phận, trung tâm chi phí, loại tài sản…), đó là báo cáo thực hiện ( số liệu quá khứ ).

    Đồng thời nó còn được sử dụng để lập các báo cáo, các bảng phân tích số liệu chi phí, doanh thu, kết quả để so sánh các phương án đang xem xét và quyết định trong tương lai ( số liệu tương lai )

    Với mục tiêu “Sự thành công của học viên là niềm tự hào của Đức Minh”, Công ty đào tạo kế toán và tin học Đức Minh là nơi đào tạo kế toán thực tế và tin học văn phòng uy tín và chuyên nghiệp nhất Hà Nội hiện nay. Đức Minh luôn sẵn sàng hỗ trợ hết mình vì học viên, luôn đồng hành cùng học viên trên bước đường đi tới thành công.

    Lịch học dạy kèm linh động từ thứ 2 đến thứ 7 hàng tuần cho tất cả các học viên:

    Bảng giá khóa học

    TỔ CHỨC THI VÀ CẤP CHỨNG CHỈ CỦA VIỆN KẾ TOÁN ĐỨC MINH

    Mọi chi tiết vui lòng liên hệ:

    HỌC VIỆN ĐÀO TẠO KẾ TOÁN – TIN HỌC ĐỨC MINH

    CN Đống Đa: Phòng 815, tòa 15 tầng – B14 đường Phạm Ngọc Thạch, Đống Đa, Hn. (tầng 1 là Techcombank và KFC- gửi xe đi vào ngõ 65 Phạm Ngọc Thạch)

    CN Cầu Giấy: Phòng B2T10 (Phòng B2 Tầng 10) – Tòa nhà 335 Cầu Giấy – HN (Tầng 1 là Siêu thị thời trang Fashion Mall)

    CN Linh Đàm: Phòng 404 – Chung cư CT4A1 – Đường nguyễn Hữu Thọ – Linh Đàm – Hoàng Mai Hà Nội. (Ngay đèn xanh đỏ cổng chào Linh Đàm, Tầng 1 siêu thị Bài Thơ, Highlands Cofee)

    CN Hà Đông: Phòng 1001 tầng 10, CT2 tòa nhà Fodacon (tầng 1 là siêu thị Coopmart, đối diện Học Viện An Ninh) – Trần Phú – Hà Đông

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Của Kế Toán Quản Trị
  • Cách Hạch Toán Tài Sản Cố Định
  • Kế Toán Tài Sản Cố Định
  • Phương Pháp Hạch Toán Kế Toán Tài Sản Cố Định Thuê Hoạt Động
  • Bài Giảng “kế Toán Hàng Tồn Kho”
  • Phương Pháp Của Kế Toán Quản Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Kế Toán Quản Trị
  • Bài Tập Kế Toán Quản Trị
  • Cách Viết Báo Cáo Thực Tập Kế Toán Tiền Lương Điểm Cao
  • Nghiên Cứu Kế Toán Tiền Mặt Và Kế Toán Dồn Tích Trong Doanh Nghiệp
  • Hướng Dẫn Cách Phân Biệt Kế Toán Dồn Tích Và Kế Toán Dòng Tiền
  • Là một bộ phận của kế toán doanh nghiệp, kế toán quản trị tất nhiên cũng áp dụng các phương pháp của kế toán nói chung là phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tính giá và phương pháp tổng hợp cân đối. Tuy nhiên, việc vận dụng các phương pháp này có đặc điểm khác so với kế toán tài chính.

    1.5.1.1- Phương pháp chứng từ kế toán.

    Ngoài việc sử dụng những thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh và thực sự đã hoàn thành trên các chứng từ bắt buộc, mang tính pháp lý cao, kế toán còn sử dụng rộng rãi hệ thống chứng từ hướng dẫn phản ánh các nghiệp vụ kinh tế “nội sinh” trong nội bộ doanh nghiệp. Các chứng từ này do doanh nghiệp quy định trên cơ sở hướng dẫn của Nhà nước hoặc doanh nghiệp tự lập ra theo các yêu cầu quản lý cụ thể ở doanh nghiệp. Việc thu thập, kiểm tra, xử lý và luân chuyển chứng từ cũng được xác lập theo cách riêng, nhằm đảm bảo cung cấp các thông tin cụ thể, nhanh chóng và thích hợp cho việc ra các quyết định quản lý.

    Ngoài ra, các thông tin kế toán quản trị còn dựa vào các thông tin khác, không được thể hiện trong các chứng từ bắt buộc cũng như chứng từ hướng dẫn. Điều này đã tạo nên sự khác biệt giữa thông tin của kế toán quản trị với thông tin của kế toán tài chính như đã đề cập ở phần trên.

    1.5.1.2- Phương pháp tài khoản kế toán.

    Để có số liệu một cách chi tiết, tỷ mỉ phục vụ quản trị doanh nghiệp, kế toán quản trị phải sử dụng những tài khoản chi tiết đáp ứng yêu cầu quản lý từng chỉ tiêu cụ thể. Trong thực tế kế toán quản trị mở thêm các khoản cấp 2 mà Nhà nước không quy định, các tài khoản cấp 3, cấp 4… và chi tiết các tài khoản theo từng địa điểm phát sinh chi phí, từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ… các doanh nghiệp căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán Nhà nước ban hành cho kế toán tài chính để mở các tài khoản chi tiết và tổ chức mã hoá hệ thống tài khoản phục vụ cho kế toán quản trị.

    Ngoài ra, ở một số nước trên thế giới, mô hình kế toán quản trị được thiết lập có tính độc lập tương đối với kế toán tài chính. Trong những trường hợp này, kế toán quản trị còn sử dụng cả các tài khoản tổng hợp (cấp 1) để cung cấp thông tin cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp. Chẳng hạn các tài khoản loại 9 – Tài khoản phản chiếu trong hệ thống tài khoản kế toán của Cộng hoà Pháp (1982) được dành riêng cho kế toán quản trị. Ở Tiệp Khắc (cũ), hệ thống tài khoản 1989 cũng dành riêng 1 số loại tài khoản cho kế toán quản trị (gọi là kế toán nội bộ doanh nghiệp).

    1.5.1.3- Phương pháp tính giá.

    Trong kế toán tài chính, phương pháp tính giá được vận dụng theo các nguyên tắc, chuẩn mực quy định thống nhất của mỗi quốc gia để trình bày các thông tin trên báo cáo tài chính một cách thống nhất.

    Đối với kế toán quản trị, việc tính giá các loại tài sản mang tính linh hoạt cao hơn và gắn với mục đích sử dụng các thông tin về giá theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Các dữ liệu để tính giá không chỉ căn cứ vào các chi phí thực tế đã phát sinh mà còn dựa vào sự phân loại các chi phí thích hợp cho từng quyết định cá biệt, đặc biệt là các quyết định mang tính ngắn hạn. Như vậy, phạm vi, nội dung của chi phí trong giá phí của kế toán quản trị không giống, thậm chí có nhiều khác biệt so với kế toán tài chính.

    1.5.1.4- Phương pháp tổng hợp cân đối.

    Các báo cáo kế toán – hình thức biểu hiện của phương pháp tổng hợp cân đối trong kế toán quản trị là các bảng cân đối bộ phận (cho từng bộ phận, trung tâm chi phí, loại tài sản…). Các báo cáo này còn được gọi là Báo cáo kế toán nội bộ, được lập theo kỳ hạn ngắn hơn các báo cáo tài chính. Ngoài các chỉ tiêu về tiền tệ, các bảng cân đối bộ phận còn sử dụng rộng rãi các thước đo về hiện vật và thời gian lao động. Đồng thời, ngoài các tổng hợp cân đối về các chỉ tiêu quá khứ, chỉ tiêu đã thực hiện, kế toán còn thiết lập các cân đối trong dự toán, trong kế hoạch giữa nhu cầu tài chính và nguồn tại trợ, giữa yêu cầu sản xuất – kinh doanh và các nguồn lực được huy động…

    1.5.2- Các phương pháp kỹ thuật nghiệp vụ sử dụng trong kế toán quản trị.

    Như phần trên đã nói, thông tin kế toán quản trị chủ yếu nhằm phục vụ quá trình ra quyết định của các nhà quản trị. Thông tin này thường không có sẵn, do đó kế toán quản trị phải vận dụng một số phương pháp nghiệp vụ để xử lý chúng thành dạng phù hợp với nhu cầu của các nhà quản trị. Các phương pháp thường được vận dụng là:

    1.5.2.1- Thiết kế thông tin thành dạng so sánh được.

    Thông tin sẽ vô dụng nếu thiếu các tiêu chuẩn để so sánh với nó. Từ các số liệu thu thập được, kế toán quản trị sẽ phân tích và thiết kế chúng thành dạng có thể so sánh được. Chẳng hạn, kế toán quản trị phải chung cấp các thông tin thực hiện để có thể so sánh với kế hoạch, định mức hoặc dự toán chi phí, các giá phí, giá thành, mức lợi nhuận của các phương án đang lựa chọn… Quá trình quyết định của nhà quản trị phải dựa trên sự phân tích, so sánh này để đánh giá và ra các quyết định.

    Nghiên cứu, phân loại chi phí theo nhiều tiêu thức khác nhau nhằm tạo lập các thông tin thích hợp cho việc ra các quyết định là một đặc thù của kế toán quản trị. Ngoài cách phân loại chi phí theo tính chất, nội dung kinh tế của chi phí và phân loại chi phí theo công dụng của chi phí của kế toán tài chính, kế toán còn sử dụng nhiều cách phân loại chi phí khác như:

    – Phân loại chi phí theo mối quan hệ của chi phí với khối lượng hoạt động: phân biệt chi phí bất biến, chi phí khả biến, chi phí hỗn hợp.

    – Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định: phân biệt chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được.

    – Phân loại chi phí khác cho việc ra quyết định: chi phí cơ hội, chi phí chìm, chi phí chênh lệch…

    Các cách phân loại chi phí này sẽ được đề cập cụ thể ở chương 3. Các cách phân loại chi phí nói trên giúp kế toán quản trị thu thập được các thông tin chi phí thích hợp cho từng loại quyết định; là căn cứ để phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận – một trong những nội dung quan trọng khi xem xét các quyết định kinh doanh.

    1.5.2.3- Trình bày mối quan hệ giữa các thông tin kế toán theo dạng phương trình.

    Dạng phương trình rất tiện dụng cho việc tính và dự đoán một số quá trình chưa xảy ra căn cứ vào các dữ kiện đã có và mối quan hệ ràng buộc giữa các biến số trong phương trình. Phương pháp trình bày thông tin theo dạng phương trình là căn cứ để tính toán lập kế hoạch và phân tích dự báo trong kế toán quản trị.

    Phương pháp này cũng được kế toán quản trị sử dụng khá thông dụng. Đồ thị là cách thể hiện dễ thấy và rõ ràng nhất mối quan hệ và xu hướng biến thiên mang tính quy luật của các thông tin do kế toán quản trị cung cấp và xử lý.

  • nghiên cứu kế toán quản trị
  • phương pháp nghiên cứu của kế toanquản trị là j
  • ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Hạch Toán Tài Sản Cố Định
  • Kế Toán Tài Sản Cố Định
  • Phương Pháp Hạch Toán Kế Toán Tài Sản Cố Định Thuê Hoạt Động
  • Bài Giảng “kế Toán Hàng Tồn Kho”
  • Về Sổ Kế Toán Chi Tiết Hàng Tồn Kho
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Cấp Tiểu Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • 20+ Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Hiệu Quả Nhất
  • Phương Pháp Kỉ Luật Tích Cực Trong Dạy Học Và Giáo Dục Học Sinh Tiểu Học
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Giáo Dục Mầm Non “trẻ Chơi Mà Học, Học Mà Chơi”
  • Đề Tài Giới Thiệu Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Sinh Học Trong Trường Thpt
  • Thiết Kế Bài Dạy Học Vật Lí Theo Hướng Tích Cực Hóa Hoạt Động Nhận Thức Của Học Sinh (Phần 4).
  • Ngày nay tiểu học được dạy theo phương pháp dạy học tích cực

    Phương pháp đào tạo truyền thống giảng, đọc, chép hiện nay không còn phù hợp nữa. Hình thức giảng dạy đó không những không giúp học sinh mau bắt kịp nội dung và phát triển mà có thể còn cản trở sự sáng tạo trong giảng dạy của giáo viên.

    Chính vì thế mà ngày nay, bộ giáo dục có nhiều bước tiến cải cách về nội dung lẫn hình thức sách vở. Song song đó các giáo viên tiểu học được khuyến khích sáng tạo và áp dụng những phương pháp giảng dạy khác nhau để cho bài giảng của mình tăng tính hấp dẫn và tạo sự tương tác giữa giáo viên và học sinh.

    I. Phương pháp dạy học tích cực là gì?

    Đây là phương pháp dạy học tích cực là phương pháp dạy học mới, nó giúp các em phát huy được khả năng và thúc đẩy tính chủ động, sáng tạo trong học tập. Phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học sẽ giúp giáo viên và học sinh tăng sự tương tác, đạo điều kiện giúp giáo viên sáng tạo trong giảng dạy về phần học sinh thì tập được tính tự giác và chủ động hơn trong việc học.

    II. 4 đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

    Phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học giúp người học chủ động trong việc tiếp thu tri thức từ người dạy, tích cực tìm tòi, khám phá những kiến thức mới bổ trợ cho quá trình học. Ngoài ra, người học còn được khuyến khích tham gia các hoạt động trải nghiệm và thí nghiệm thực tế để nâng cao kiến thức và kỹ năng.

    2. Chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học

    Nhiệm vụ của các giáo viên là hỗ trợ các em học và hiểu nội dung bài học. Việc học có thành công và đạt kết quả tốt là dựa vào bản thân mỗi một em. Để có kết quả vượt trội thì dựa vào 90% sự nổ lực của các bé, tính tự giác và siêng năng sẽ giúp các em thành công.

    Với phương pháp giảng dạy truyền thống thì người học hoàn toàn phụ thuộc vào người dạy, thụ động trong việc tìm kiếm thông tin và phương pháp. Phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học giúp các em rèn luyện được cho mình tinh thần tự học và có thêm những phương pháp tự học hiệu quả. Khi nắm bắt được phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học, các em sẽ khơi dậy được tinh thần ham học hỏi, niềm đam mê tìm tòi, khám phá tri thức và sáng tạo trong chính bản thân mình. Từ đó các em sẽ nhìn thấy được khả năng, điểm nổi bậc của chính mình.

    3. Đẩy mạnh việc học tập riêng và học tập nhóm

    Quá trình học là một quá trình đan xen giữa cá nhân trong tập thể, chính vì vậy mà phương pháp học phải giúp cho người học có thể tự thúc đẩy bản thân học tập và hòa đồng tích cực vào hoạt động học tập nhóm của lớp.

    Phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học sẽ giúp các em rèn luyện được việc tự học của cá nhân và của tập thể lớp. Việc này sẽ khuyến khích các em nâng cao ý thức tự học sau này và tinh thần vì tương trợ, giúp đỡ các thành viên trong tập thể.

    4. Sự phối hợp giữa thầy và trò

    Việc học có thành công và đạt kết quả như mong đợi hay không cũng tuỳ thuộc sự phối hợp nhịp nhàng giữa thầy và trò. Thầy giảng hay, trò ham học hỏi sẽ mang lại kết quả học tốt nhất. Và khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học thì việc đánh giá kết quả của môn học không chỉ là nhiệm vụ của giáo viên mà còn là trách nhiệm của học sinh.

    Các bé phải tập đánh giá được khả năng và điều chỉnh lại bản thân của mình cho tốt hơn. Từ đó việc học trở nên thú vị hơn, thầy cô và trò hiểu nhau hơn, cùng tìm ra được khuyết điểm trong giảng dạy cũng như lỗi sai trong cách học của học sinh. Phương pháp giảng dạy này sẽ giúp giáo viên có thể dễ dàng theo dõi và điều chỉnh phương pháp giảng dạy hiện tại của mình một cách tốt nhất, nhằm mang đến những bài học hiệu quả nhất.

    Qua đây ta thấy được bước tiến từng ngày của nền giáo dục Việt Nam, tìm ra nhiều phương pháp học khiến các bạn học sinh không cảm thấy nhàm chán mà ngược lại còn tạo nên sự hứng thú trong vệc học. Hy vọng rằng phương pháp này sẽ ngày càng phát triể và tiếp cận được với nhiều học sinh hơn nhằm mang lại những hiệu quả thiết thực cho người học và người dạy, giúp cho quá trình học trở nên chủ động và hấp dẫn hơn nữa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Hoá Thcs
  • Mách Bạn 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Phổ Biến Nhất
  • Giáo Án Bài Tấm Cám Soạn Theo Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Những Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Ngữ Văn
  • Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Phổ Biến Hiện Nay
  • Phân Tích Chi Phí Hỗn Hợp (Phương Pháp Cực Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Bình Phương Bé Nhất
  • Tổn Thất Tài Sản Phương Pháp Kế Toán Dự Phòng
  • Các Phương Pháp Ghi Sổ Kế Toán
  • Các Phương Pháp Chữa Sổ Kế Toán
  • Các Cách Sửa Chữa Sổ Kế Toán
  • Phương pháp cực đại – cực tiểu hay còn gọi là phương pháp chênh lệch. Phương pháp này phân tích chi phí hỗn hợp dựa trên cớ sở khảo sát chi phí hỗn hợp ở điểm có mức độ hoạt động thấp nhất trong phạm vi phù hợp. Chênh lệch chi phí giữa hai mức độ hoạt động được chia cho mức gia tăng mức độ hoạt động sẽ xác định được mức biến phí đơn vị và tổng biến phí. Sau đó, loại trừ tổng biến phí trong chi phí hỗn hợp, phần còn lại là tổng định phí trong chi phí hỗn hợp.

    Nội dung này được tiến hành qua các bước sau:

      Khảo sát chi phí hỗn hợp ở nhiều mức độ hoạt động khác nhau trong thực tế với các chi phí hỗn hợp có dạng tổng quát: Y = a + b.X

    Trong đó: Y: Chi phí hốn hợp

    X: Mức độ hoạt động

    a: tổng định phí

    b: Hệ số biến phí trên một đơn vị mức độ hoạt động.

    • Chọn hai điểm có mức độ hoạt động nhỏ nhất và lớn nhất trong các điểm đã khảo sát.
    • Xác định Hệ số biến phí trên một đơn vị mức độ hoạt động (b)

      Xác định tổng định phí trong chi phí hốn hợp:

    Thay giá trị của b vừa tìm được vào phương trình Y = a + b.X để tìm trị số của a.

    a = Y – b.X Tổng định phí = Chi phí hỗn hợp – (Hệ số biến phí x Mức độ hoạt động)

    Thông thường doanh nghiệp có thể chọn mức độ hoạt động thấp nhất để các định tổng định phí trong chi phí hỗn hợp.

      Xây dựng phương trình dự toán chi phí hỗn hợp sau khi biết trọ số cụ thể của a và b dưới dạng Y = a + b.X

    Ví dụ: Chi phí bảo dướng máy móc thiệt bị của công ty AFC trong tám tháng đầu năm N qua số liệu thống kê thực tế như sau: (Đơn vị tính: đồng )

    Bảng kê chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị theo giờ máy hoạt động

    ThángSố giờ máy hoạt động (giờ)Tổng chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị (đ)

    Tổng cộng5.800252.500.000

    Trước tiên ta chọn ra hai mức hoạt động cực đại và cực tiểu từ bảng trên.

    Mức cực đại tại tháng 5: Số giờ máy 900, chi phí bảo dưỡng là 40.000.000đ

    Mức cực tiểu tại tháng 2: Số giờ máy là 500, chi phí bảo dưỡng là 23.000.000đ

    Xác định hệ số biến phí trên một đơn vị mức độ hoạt động trong chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị (b)

    Xác định tổng định phí trong chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị (B)

    Tổng định phí = Chi phí hỗn hợp – Hệ số biến phí x Mức độ hoạt động

    a = 23.000.000đ – 42.500đ/giờ máy x 500 giờ = 1.750.000đ

    Xây dựng phương trình dự toán chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị (Y):

    Y = 1.750.000đ + 42.500đ/giờ máy. X

    Trong đó: X là số giờ máy hoạt động.

    Giả sử sáng tháng 10 năm N, số giờ máy hoạt động dự kiến là 720 giờ. Chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị dự tính sẽ là bao nhiêu?

    Để dự toán chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị của công ty vào tháng 10, ta chỉ cần thay số giờ máy hoạt động vào phương trình dự toán trên và có kết quả sau:

    Y Tháng 10 = 1.750.000đ + 42.500đ/giờ máy x 720 giờ máy = 32.350.000đ

    Cần chú ý rằng phạm vi phù hợp của biến phí và định phí trong chi phí hỗn hợp chi phù hợp trong mức độ hoạt động từ 500 giờ đến 900 giờ hoạt động. Ngoài phạm vi này, đôi khi biến phí, định phí tìm được sẽ không phù hợp, độ tin cậy thấp.

    Phương pháp cực đại – cực tiểu (phương pháp chênh lệch) tính toán đơn giản, dễ áp dụng. Tuy nhiên, chính sự đơn giản lại là khuyết điểm của phương pháp này. Nếu quan sát và chịn lựa hai mức độ hoạt động cực đại và cực tiểu không phù hợp, không thể hiện được tính chất đặc trưng của từng thành phần chi phí hỗn hợp thì thông tin về biến phí, định phí trong chi phí hỗn hợp tìm được sẽ có độ chính xác thấp.

    Bài tiếp theo: Phân tích chi phí hỗn hợp (Phương pháp đồ thị phân tán)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tính Giá Thành Theo Phương Pháp Phân Bước
  • Các Phương Pháp Tính Giá Thành Và Cách Đánh Giá Sản Phẩm Dở Dang
  • Quản Trị Chi Phí, Giá Thành
  • Mách Nhẹ Phương Pháp Học Kế Toán Hiệu Quả Và An Toàn
  • 6+ Cách Học Giỏi Toán Hiệu Quả Tại Nhà (Bí Quyết Học Giỏi Toán)
  • Phân Biệt Kế Toán Quản Trị Và Kế Toán Tài Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Định Khoản Kế Toán Các Khoản Phải Trích Theo Lương
  • Cách Tính Toán Dòng Tiền Cho Doanh Nghiệp: Công Thức Tất Cả Các Doanh Nghiệp Nhỏ Nên Sử Dụng
  • Lớp Học Kế Toán Thuế Trong Doanh Nghiệp Xây Lắp,xây Dựng
  • Thực Hành Kế Toán Thuế Trong Doanh Nghiệp Xây Lắp
  • Chuẩn Mực Kế Toán Số 17
  • Trong khối ngành Kế toán, thuật ngữ “Kế toán quản trị – Kế toán tài chính” thường được sử dụng nhiều . Tuy nhiên, nếu bạn không phải là nhân sự trong ngành Kế toán, để hiểu rõ và phân biệt hai thuật ngữ trên là cực kỳ khó. Bài viết sau đây giúp bạn có được khái niệm tổng quát và so sánh giữa hai thuật ngữ ” Kế toán quản trị – Kế toán tài chính”.

    Mục tiêu là điểm khác nhau căn bản của kế toán tài chính và kế toán quản trị. Nếu như mục tiêu của kế toán tài chính là cung cấp thông tin cho đối tượng bên ngoài tổ chức bao gồm cổ đông, nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, chủ nợ, các cơ quan nhà nước, các nhà phân tích đầu tư chứng khoán, khách hàng thì kế toán quản trị cung cấp thông tin phục vụ cho nhà quản lý của chính tổ chức đó. Họ có thể là các giám đốc điều hành, giám đốc marketing, giám đốc tài chính, …

    Kế toán quản trị tạo ra các sản phẩm là báo cáo quản trị, các kế hoạch, chiến lược tài chính quản trị giúp nhà quản lý doanh nghiệp đưa ra các quyết định cho doanh nghiệp. Còn kế toán tài chính là kế toán phản ánh hiện trạng và sự biến động về vốn, tài sản của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát hay nói cách khác là phản ánh các dòng vật chất và dòng tiền tệ trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh tế bên ngoài. Sản phẩm của kế toán tài chính là các báo cáo tài chính. Thông tin của kế toán tài chính ngoài việc được sử dụng cho ban lãnh đạo doanh nghiệp còn được sử dụng để cung cấp cho các đối tượng bên ngoài như: Các nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê.

    SỰ KHÁC NHAU

    1) Mục đích:

    – Kế toán quản trị có mục đích: Cung cấp thông tin phục vụ điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

    – Kế toán tài chính: Cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập các báo cáo tài chính.

    2) Đối tượng phục vụ:

    – Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán quản trị là: Các nhà quản lý doanh nghiệp (Hội đồng quản trị, ban giám đốc)

    – Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán tài chính là: Các nhà quản lý doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (Nhà -đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê)

    3) Đặc điểm thông tin:

    – Kế toán quản trị nhấn mạnh đến sự thích hợp và tính linh hoạt của số liệu, thông tin được tổng hợp phân tích theo nhiều góc độ khác nhau. Thông tin ít chú trọng đến sự chính xác mà mang tính chất phản ánh xu hướng biến động, có tính dự báo vì vậy thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc đánh giá và xây dựng các kế hoạch kinh doanh, thông tin được theo dõi dưới hình thái giá trị và hình thái hiện vật. Ví dụ: Kế toán vật tư ngoài việc theo dõi giá trị của vật tư còn phải theo dõi số lượng vật tư.

    – Kế toán tài chính phản ánh thông tin xảy ra trong quá khứ đòi hỏi có tính khách quan và có thể kiểm tra được. Thông tin chỉ được theo dõi dưới hình thái giá trị.

    4) Nguyên tắc cung cấp thông tin:

    – Kế toán quản trị không có tính bắt buộc, các nhà quản lý được toàn quyền quyết định và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và khả năng quản lý của doanh nghiệp.

    – Kế toán tài chính phải tôn trọng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận và được sử dụng phổ biến, nói cách khác kế toán tài chính phải đảm bảo tính thống nhất theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán nhất định để mọi người có cách hiểu giống nhau về thông tin kế toán đặc biệt là báo cáo tài chính và kế toán tài chính phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là những yêu cầu quản lý tài chính và các yêu cầu của xã hội thông qua việc công bố những số liệu mang tính bắt buộc.

    6) Kỳ báo cáo:

    – Kế toán quản trị có kỳ lập báo cáo nhiều hơn: Quý, năm, tháng, tuần, ngày.

    – Kế toán tài chính có kỳ lập báo cáo là: Quý, năm

    7) Quan hệ với các môn khoa học khác:

    – Do thông tin kế toán quản trị được cung cấp để phục vụ cho chức năng quản lý, nên ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán tài chính thì kế toán quản trị còn phải kết hợp và sử dụng nội dung của nhiều môn khoa học khác như: Kinh tế học, thống kê kinh tế, tổ chức quản lý doanh nghiệp, quản trị đầu tư để tổng hợp phân tích và xử lý thông tin.

    – Kế toán tài chính ít có mối quan hệ với các môn khoa học khác.

    8) Tính bắt buộc theo luật định:

    – Kế toán quản trị không có tính bắt buộc.

    ĐIỂM GIỐNG NHAU

    Tuy vậy, hệ thống kế toán quản trị và kế toán tài chính cũng có nhiều điểm giống nhau bởi vì cả hai hệ thống này đều dựa vào dữ liệu thu thập được từ hệ thống kế toán cơ bản của tổ chức. Hệ thống này bao gồm thủ tục, nhân sự, và hệ thông máy tính để thu thập và lưu trữ các dự liệu tài chính của tổ chức. Một phần của hệ thống kế toán chung này là hệ thống kế toán chi phí (cost accounting), có nhiệm vụ thu thập thông tin chi phí được sử dụng trong cả hệ thống kế toán quản trị và kế toán tài chính. Ví dụ, số liệu về giá thành sản phẩm được nhà quản lý sử dụng để định giá bán sản phẩm, đó là một mục đích sử dụng thông tin của kế toán quản trị. Tuy vậy, số liệu giá thành cũng được sử dụng để xác định giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán, đó lại là một mục đích sử dụng thông tin của kế toán tài chính.

    Cũng như theo xu thế tiến hoá chung, kế toán quản trị vào Việt Nam ban đầu với hình thái hệ thống lập kế hoạch (dự toán ngân sách) và quản trị chi phí. Phương pháp lập kế hoạch đã bắt đầu sơ khai từ sau những năm 1985, tuy nhiên bước đầu còn đơn giản và thiếu chính xác. Sau khi kinh tế tư nhân phát triển thì việc lập kế hoạch phục vụ cho nhu cầu hoạch định của doanh nghiệp mới được phát triển rầm rộ.

    Phương pháp lập kế hoạch ở nhiều doanh nghiệp cũng khác nhau. Về cơ bản, phương pháp lập kế hoạch được phân làm 2 cách:

    Thứ nhất: lập kế hoạch dự trên sự tăng trưởng. Các doanh nghiệp thường dựa trên sự phát triển của công ty và các số liệu quá khứ (tốc độ tăng trưởng của doanh thu, mức độ gia tăng chi phí) và ước lượng kế hoạch thực hiện cho tương lai. Phương pháp này thường được vận dụng khá phổ biến hiện nay do dể thực hiện và ước lượng tương đối chính xác. Các doanh nghiệp hoạt động trong khối sản xuất thường vận dụng theo phương pháp này

    Thứ hai: dựa vào mục tiêu của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thường dựa vào mục tiêu tăng trưởng của mình trong thời gian tới và đề ra kế hoạch hành động sao cho thực hiện được mục tiêu đó. Phương pháp lập kế hoạch này thường được vận dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ.

    Ngoài ra, rất ít doanh nghiệp chú trong đến việc lập kế hoạch kết hợp giữa hai phương pháp trên do sự phức tạp trong khâu lượng hoá số liệu kế hoạch và hạ tầng thông tin chưa đáp ứng được.

    Hệ thống quản trị và kiểm soát chi phí cũng được hình thành theo nhu cầu quản trị của doanh nghiệp, theo cùng với hệ thống lập kế hoạch (dự toán). Tuy nhiên, việc kiểm soát chi phí chỉ dừng lại ở một vài khoản mục chi phí phát sinh tương đối lớn và chiếm tỉ trọng cao như: chi phí quảng cáo tiếp thị, chi phí vận chuyển, lương… (trong chi phí bán hàng) ; chi phí tiếp khách, đào tạo,…(trong chi phí quản lý doanh nghiệp). Bên cạnh đó, việc quản lý chi phí ở khâu sản xuất (đối với doanh nghiệp có hoạt động sản xuất) cũng được tổ chức chặt chẽ nhằm giảm giá thành sản phẩm.

    – Tìm hiểu nghề Kế toán quản trị

    Khóa học Kế toán quản trị ACCA F2

    Khóa học Ứng dụng Dashboard reporting trong Excel

    --- Bài cũ hơn ---

  • 12 Nguyên Tắc Kế Toán Cơ Bản Quan Trọng Trong Hạch Toán Kế Toán Có Ví Dụ
  • Các Khoản Giảm Trừ Doanh Thu Và Cách Hạch Toán Trong Doanh Nghiệp
  • Niceaccounting: Hệ Thống Tài Khoản
  • Kế Toán Chi Tiết Nvl, Ccdc, Sp, Hh Theo Phương Pháp Mở Thẻ Song Song
  • Phương Pháp Kế Toán Doanh Thu Bán Hàng Và Cung Cấp Dịch Vụ
  • Phương Pháp Quản Lý Văn Phòng Phẩm Cực Hiệu Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Quản Lý Hiệu Quả Quán Cafe
  • Cách Quản Lý Quán Cafe Từ Xa Hiệu Quả
  • Cách Quản Lý Quán Cafe Hiệu Quả Cho Những Người Bắt Đầu Kinh Doanh
  • Kinh Nghiệm Quản Lý Nguyên Liệu Quán Cafe Tránh Thất Thoát
  • Quy Trình Quản Lý Công Việc Hiệu Quả Trong Doanh Nghiệp
  • Với sự cẩn thận và thực hiện mọi thức có kế hoạch thì văn phòng phẩm HCM của doanh nghiệp của bạn sẽ trở nên gọn gàng và được sắp xếp ngăn nắp.

    Có khá nhiều việc phải chú trọng trong việc quản lý văn phòng phẩm nhưng chi phí có lẽ làng việc quan trọng nhất, nó ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách của công ty bạn.Với nhiệm vụ giải quyết các khó khăn trong công việc quản lý văn phòng của các doanh nghiệp, bài viết này được ra đời.

    Bước 1: Lập danh sách văn phòng phẩm hiện tại trong công ty

    Nắm được số lượng văn phòng phẩm còn có trong công ty ở thời điểm hiện tại rất quan trọng và cũng bước đầu tiên bạn nên thực hiện.

    Sau đó hãy lên một danh sách chi tiết về các dụng cụ đó như một bản kiểm kê để quyết định sẽ mua đồ dùng gì sắp tới.

    Bước 2:Ước lượng số lượng dụng cụ văn phòng phẩm

    Chi phí công ty được tiết kiệm hơn khi được chi tiêu vào các dụng cụ cần thiết nhất, với các dụng cụ văn phòng phẩm có nhu cầu cao trong các văn phòng bạn nên tăng số lượng mua đồng thời giảm bớt và loại trừ một số loại sẽ không cần thiết sử dụng.

    Bước 3: Đề ra phương châm tái sử dụng văn phòng phẩm

    Nên đưa ra danh sách các dụng cụ có thể sử dụng lại và khuyến khích mọi người trong công ty làm điều này.

    Các vật dụng như bìa cứng, cặp đựng tài liệu hay giấy A4 đều có thể được sử đụng lại, không những giảm thiểu lượng rác thải ra môi trường mà còn tiết kiệm một khoản chi phí lớn cho công ty.

    Bước 4: Chọn nhà phân phối

    Chi tiền thông minh giúp bạn tiết kiệm tiền tốt nhất, thay vì lựa chọn sử dụng các văn phòng phẩm giá rẻ với chất lượng chưa được kiểm duyệt hãy chọn các sản phẩm đến từ các nhà phân phối uy tín như thiên long,Double A,…

    Bạn có thể quản lý số lượng văn phòng phẩm đồng nghiệp mình đã mang đi nhưng còn thừa lại sau khi sử dụng, bằng cách yêu cầu họ mang nó bỏ lại kho lưu giữ, nên ghi lại số lượng mỗi loại để có thể dễ dàng tổng kết và tính toán đồ cần mua cho những lần tiếp theo.

    Nên có một nhân viên trông chừng, bảo vệ kho riêng, người này sẽ có trách nhiệm giữ chìa khóa cũng như kiểm soát những người ra vào kho, không những đảm bảo an toàn cho văn phòng phẩm mà còn trách tình trạng mất mát do bị trộm.

    Bước 6: Cập nhập số lượng văn phòng phẩm thường xuyên

    Kiểm soát số lượng văn phòng phẩm thường xuyên luôn đưa ra phương án mua mới có lợi cho doanh nghiệp, bạn sẽ biết mua cái gì và đặt với số lượng ra sao, ngoài việc sử dụng các bản thống kê bằng tay bạn có thể sử dụng các công cụ phần mềm nhâp dữ liệu để các tính toán và thông số chính xác hơn.

    Bật mí những văn phòng phẩm cần giờ cách lựa vật phẩm văn phòng cho bàn làm việc tiện ích nhất

    Với các môi trường làm việc nơi công sở thì những loại văn phòng phẩm là vật dụng rất thiết yếu phục vụ cho các hoạt động làm việc được thuận lợi nhất.Chính vì điều này mà các vật phẩm văn phòng là sự lựa chọn không thể thiếu trong các văn phòng nên lựa chọn các văn phòng phẩm giá cả phải chăng và chất lượng cao lại càng quan trọng hơn.

    Lý do nên lựa chọn nhà cung cấp đồng bộ văn phòng phẩm. Hiện nay, nhiều công ty hay doanh văn phòng phẩm chính hãng nghiệp thường không có sản phẩm văn phòng dự trữ trước bởi thường mua trực tiếp sản phẩm nhỏ lẻ.Ngoài ra các doanh nghiệp thường không có kho hoặc diện tích kho nhỏ không đủ chứa thì mua trực tiếp sẽ hợp lý, nhưng khi có vấn đề công việc cần giải quyết đồ dùng văn phòng phẩm gấp thì khá bất tiện khi phải trì hoãn, chờ đợi.

    Khi sử dụng các thiết bị văn phòng, theo thời gian và công năng sử dụng mà dần dần các thiết bị gặp vấn đề hao mòn hay trục trặc hỏng hóc. Những lúc như vậy, bạn và các đồng nghiệp sẽ phải mất thời gian, trì hoãn các công việc để đợi các nhà cung cấp tới kiểm tra sửa chữa các loại máy móc thiết bị.

    Sự lựa chọn đồng bộ thiết bị và sản phẩm văn phòng từ nhà cung cấp uy tín sẽ đảm bảo được chất lượng, tiện lợi nhanh chóng trong xử lý vấn đề và phong cách phục vụ chuyên nghiệp sẽ đem lại sự hài lòng, tin tưởng cho doanh nghiệp, công ty. Và nên dự trữ trong văn phòng một số đồ dùng thiết yếu đề phòng có vấn đề cần xử lý.

    Những loại sản phẩm văn phòng nên tránh

    Sản phẩm văn phòng phẩm có giá quá thấp so với thị trường chung: với những loại sản phẩm này sẽ thường là hàng trôi nổi, nhập lậu hay không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng nên sẽ không đảm bảo chất lượng khi đưa vào sử dụng. Các công việc tại doanh nghiệp, công ty phải trì hoãn, gián đoạn khi gặp sự cố không đáng có.

    Những vật phẩm văn phòng mang mẫu khác: xuất hiện trôi nổi trên thị trường với mẫu mã khác và lạ nên bắt mắt nhưng những sản phẩm này chỉ được mua bán lưu thông trong thời gian ngắn mang tính thời vụ để câu khách hàng, về sau khi không đảm bảo được giá trị và chất lượng sẽ tự biến mất khỏi thị trường.Sản phẩm văn phòng phẩm hàng giả, hàng nhái: những sản phẩm này chắc chắn kém chất lượng nhưng có mẫu mã giả tinh vi như hàng thật, để nhận biết và phân biệt không hề dễ dàng với cả những người có kinh nghiệm mua bán.

    Bởi chất lượng kém nên thời gian sử dụng sẽ hạn chế và thường xuyên xảy ra sự cố, hỏng hóc không đáng dẫn đến ảnh hưởng đến công việc và tổn thất cho công ty, doanh nghiệp. Tóm lại, tránh “tiền mất tật mang” hãy lựa chọn sáng suốt một nhà cung cấp sản phẩm uy tín và đảm bảo chất lượng để không phải bỏ ra một số tiền lớp mà lại không có chất lượng mong muốn.

    Những kinh nghiệm bỏ túi khi chọn các văn phòng phẩm

    Lựa chọn các sản phẩm được người tiêu dùng tin tưởng.

    Giá cả ổn định, phù hợp và ít biến động.

    Cách sử dụng cực đơn giản, dễ dàng sửa chữa, thay thế khi gặp trục trặc, sự cố.

    Tránh lựa chọn một loại sản phẩm.

    Sản phẩm văn phòng phẩm có thương hiệu uy tín.

    Những nhà sản xuất thiết bị, sản phẩm văn phòng phẩm có thương hiệu và tiếng tăm sẽ mang đến những sản phẩm đảm bảo chất lượng, đem để sự yên tâm khi sử dụng với nhiều mẫu mã, kiểu dáng đa dạng phong phú cho sự lựa chọn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Áp Dụng Phương Pháp 5S Trong Văn Phòng Một Cách Hiệu Quả
  • Các Cách Phân Loại Chi Phí Sản Xuất Và Giá Thành Sản Phẩm
  • Giảm Chi Phí, Tăng Năng Suất Bằng Phương Pháp Quản Lý Sản Xuất Hiện Đại Của Nhật Bản
  • Kế Toán Chi Phí Sản Xuất Và Tính Giá Thành Sản Phẩm
  • Cách Hoạch Toán Chi Phí Quản Lý Doanh Nghiệp Theo Thông Tư 200
  • Phân Biệt Kế Toán Quản Trị Với Kế Toán Tài Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Kế Toán Quản Trị Và Kế Toán Tài Chính
  • Khác Biệt Giữa Lãnh Đạo Và Quản Lý
  • Sự Khác Biệt Giữa Lãnh Đạo Và Quản Lý
  • 3 Điểm Khác Biệt Lớn Nhất Giữa Lãnh Đạo Và Quản Lý
  • Phân Tích Thăm Dò Và Khẳng Định: Sự Khác Biệt Là Gì?
  • Chúng ta đã biết, hệ thống kế toán là một phần không thể thiếu của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Nó cung cấp thông tin về hoat động tài chính cho cả người quản lý ở bên trong doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp. Chính vì phạm vi cung cấp và phục vụ các thông tin khác nhau, nên kế toán của doanh nghiệp được chia thành kế toán quản trị và kế toán tài chính.

    Trong bài viết này, tôi muốn nhấn mạnh đến kế toán quản trị và so sánh những điểm giống và khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính.

    Bản chất của kế toán quản trị

    Trước khi so sánh với kế toán tài chính, chúng ta cần biết bản chất của kế toán quản trị là gì?

    • Kế toán quản trị không chi thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin về nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra mà còn xử lý và cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định quản trị. Các thông tin này phải phù hợp với yêu cầu của nhà quản trị, dễ hiểu và cụ thể phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp.
    • Kế toán quản trị chỉ cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp, không có ý nghĩa đối với các đối tượng bên ngoài.
    • Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là công cụ quan trọng không thể thiếu đối với công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp.

    Phân biệt kế toán quản trị với kế toán tài chính

    Kế toán quản trị và kế toán tài chính là hai bộ phận của kế toán doanh nghiệp. Chúng có mối quan hệ chặt chẽ đồng thời cũng có những điểm khác biệt nhau

    Sự khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính

    Như đã nói ở trên, do đối tượng sử dụng thông tin khác nhau, mục đích sử dụng thông tin khác nhau, nên giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính có nhiều điểm khác biệt:

    • Về đối tượng sử dụng thông tin: Đối tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị là các thành viên bên trong doanh nghiệp: Ban giám đốc, Chủ sở hữu, Trưởng bộ phận,… Trong khi đó, đối tượng của kế toán tài chính chủ yếu là ở bên ngoài doanh nghiệp: Các cổ đông, Cơ quan thuế, Cơ quan quản lý tài chính,…
    • Về nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin : Thông tin kế toán tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ hiện hành về kế toán của từng quốc gia. Trái lại, trong nền kinh tế thị trường, do yêu cầu phải nắm bắt nhanh các cơ cội kinh doanh đa dạng nên thông tin kế toán quản trị cần phải linh hoạt, nhanh chóng và phù hợp với từng quyết định của người quản trị, không buộc phải tuân thủ các nguyên tắc hay chuẩn mực kế toán chung.
    • Về tính pháp lý của kế toán : Kế toán tài chính có tính pháp lệnh, nghĩa là hệ thống sổ sách, ghi chép, trình bày và cung cấp thông tin của kế toán tài chính đều phải tuân theo các quy định thống nhất nếu muốn được thừa nhận. Ngược lại, tổ chức công tác quản trị lại mang tính nội bộ, thuộc thẩm quyền của từng doanh nghiệp phù hợp với đặc thù quản lý, yêu cầu quản lý, điều kiện và khả năng quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp.
    • Về đặc điểm của thông tin: Thông tin của kế toán tài chính là thông tin thực hiện về những nghiệp vụ đã phát sinh, đã xảy ra, được thu thập từ các chứng từ ban đầu về kế toán. Trong khi đó, thông tin của kế toán quản trị chủ yếu đặt trọng tâm cho tương lai vì phần lớn nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chọn phương án, đề án cho một sự kiện hoặc một quá trình chưa xảy ra.
    • Về hình thức báo cáo sử dụng : Báo cáo được sử dụng trong kế toán tài chính là các báo cáo kế toán tổng hợp (gọi là các Báo cáo tài chính) phản ánh tổng quát về sản nghiệp, kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ (gồm Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính). Trong khi đó báo cáo của kế toán quản trị đi sâu vào từng bộ phận, từng khâu công việc của doanh nghiệp (như báo cáo chi phí sản xuất và giá thành, báo cáo nợ phải trả, báo cáo nhập xuất và tồn kho của hàng tồn kho…).

    Điềm giống nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính

    Kế toán quản trị và kế toán tài chính là hai bộ phận không thể tách rời của một doanh nghiệp. Chúng có những điểm giống nhau cơ bản sau:

    • Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều đề cấp đến các sự kiện kinh tế trong doanh nghiệp và đều quan tâm đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động, quá trình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. Một bên phản ảnh tổng quát, một bên phản ảnh cụ thể, chi tiết của sự tổng quát đó.
    • Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều dựa trên những ghi chép ban đầu của kế toán.
    • Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều biểu hiện trách nhiệm của người quản lý và đều là công cụ quản lý doanh nghiệp.

    Tóm lại, kế toán quản trị hay kế toán tài chính đều là kế toán nên chúng mang trong mình những chức năng của kế toán nói chung. Do đối tượng sử dụng và mục đích cung cấp thông tin khác nhau nên chúng có những điểm khác nhau đáng kể.

    Tuy nhiên, đối với một nhà quản trị, họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến hệ thống kế toán quản trị. Lý do vì sao, tôi sẽ có những bài viết sâu hơn, chi tiết hơn về các nội dung của kế toán quản trị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Kế Toán Quản Trị Và Kế Toán Tài Chính
  • So Sánh Sự Khác Biệt Giữa Kế Toán Quản Trị Và Kế Toán Tài Chính
  • Phân Biệt Kế Toán: Tài Chính, Quản Trị, Tổng Hợp, Chi Tiết
  • Những Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Kế Toán Quản Trị Và Kế Toán Tài Chính
  • Kem Chống Nắng Vật Lý Và Hóa Học Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Phân Biệt Kế Toán Tài Chính Và Kế Toán Quản Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Giữa Lãnh Đạo Và Quản Lý
  • Phân Biệt Lãnh Đạo, Quản Lý Và Thủ Lĩnh.
  • Phân Biệt Cách Dùng Like Và As Trong Tiếng Anh Đầy Đủ Nhất
  • Cách Phân Biệt Lựu Trung Quốc Và Lựu Việt Nam Đơn Giản
  • Mẹo Hay Phân Biệt Lựu Trung Quốc Và Lựu Việt Nam
  • ĐỊNH NGHĨA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ KẾ TOÁN TÀI CHÍNH

    Kế toán được định nghĩa là một hệ thống thông tin đo lường, xử lý và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Trong đó kế toán quản trị đưa ra tất cả các thông tin kinh tế đã được đo lường xử lý và cung cấp cho ban lãnh đạo doanh nghiệp để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, hay nói cách khác kế toán quản trị giúp ban lãnh đạo doanh nghiệp cân nhắc và quyết định lựa chọn một trong những phương án có hiệu quả kinh tế cao nhất: phải sản xuất những sản phẩm nào, sản xuất bằng cách nào, bán các sản phẩm đó bằng cách nào, theo giá nào, làm thế nào để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và phát triển khả năng sản xuất. Các quyết định này gồm hai loại:

    Quyết định mang tính chất ngắn hạn: Các quyết định này giúp doanh nghiệp giải quyết các bài toán kinh tế trong thời kỳ ngắn hạn.

    – Trong trường hợp nào doanh nghiệp có thể bán sản phẩm với giá thấp hơn giá ở điểm hoà vốn?

    – Trong trường hợp nào doanh nghiệp nên tự chế hay đi mua một vài bộ phận của sản phẩm?

    – Trong trường hợp nào doanh nghiệp nên bán ra bán thành phẩm thay vì tiếp tục hoàn thiện thành sản phẩm cuối cùng?

    Quyết định mang tính dài hạn: Các quyết định này giúp doanh nghiệp giải quyết các bài toán kinh tế hoạch định chiến lược đầu tư dài hạn như: Trong trường hợp nào doanh nghiệp quyết định thay thế mua sắm thêm các máy móc thiết bị hay thực hiện phát triển thêm lĩnh vực kinh doanh.

    Còn kế toán tài chính là kế toán phản ánh hiện trạng và sự biến động về vốn, tài sản của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát hay nói cách khác là phản ánh các dòng vật chất và dòng tiền tệ trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh tế bên ngoài. Sản phẩm của kế toán tài chính là các báo cáo tài chính. Thông tin của kế toán tài chính ngoài việc được sử dụng cho ban lãnh đạo doanh nghiệp còn được sử dụng để cung cấp cho các đối tượng bên ngoài như: Các nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê.

    Để hiểu rõ mối quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính ta cần phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

    “Tóm lấy” những thông tin cập nhật ưu đãi mới nhất về: Khóa học kế toán thuế Dịch vụ kế toán thuế

    SỰ GIỐNG NHAU

    Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ chặt chẽ với thông tin kế toán, đều nhằm vào việc phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đều quan tâm đến doanh thu, chi phí và sự vận động của tài sản, tiền vốn.

    Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ chặt chẽ về số liệu thông tin. Các số liệu của kế toán tài chính và kế toán quản trị đều được xuất phát từ chứng từ gốc. Một bên phản ánh thông tin tổng quát, một bên phản ánh thông tin chi tiết.

    Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ trách nhiệm của Nhà quản lý.

    SỰ KHÁC NHAU

    Kế toán quản trị có mục đích: Cung cấp thông tin phục vụ điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Kế toán tài chính: Cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập các báo cáo tài chính.

    Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán quản trị là: Các nhà quản lý doanh nghiệp (Hội đồng quản trị, ban giám đốc)

    Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán tài chính là: Các nhà quản lý doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (Nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê)

    Kế toán quản trị nhấn mạnh đến sự thích hợp và tính linh hoạt của số liệu, thông tin được tổng hợp phân tích theo nhiều góc độ khác nhau. Thông tin ít chú trọng đến sự chính xác mà mang tính chất phản ánh xu hướng biến động, có tính dự báo vì vậy thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc đánh giá và xây dựng các kế hoạch kinh doanh, thông tin được theo dõi dưới hình thái giá trị và hình thái hiện vật.

    Ví dụ: Kế toán vật tư ngoài việc theo dõi giá trị của vật tư còn phải theo dõi số lượng vật tư.

    Kế toán tài chính phản ánh thông tin xảy ra trong quá khứ đòi hỏi có tính khách quan và có thể kiểm tra được. Thông tin chỉ được theo dõi dưới hình thái giá trị.

    Kế toán quản trị không có tính bắt buộc, các nhà quản lý được toàn quyền quyết định và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và khả năng quản lý của doanh nghiệp.

    Kế toán tài chính phải tôn trọng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận và được sử dụng phổ biến, nói cách khác kế toán tài chính phải đảm bảo tính thống nhất theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán nhất định để mọi người có cách hiểu giống nhau về thông tin kế toán đặc biệt là báo cáo tài chính và kế toán tài chính phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là những yêu cầu quản lý tài chính và các yêu cầu của xã hội thông qua việc công bố những số liệu mang tính bắt buộc.

    Kế toán quản trị có kỳ lập báo cáo nhiều hơn: Quý, năm, tháng, tuần, ngày.

    Kế toán tài chính có kỳ lập báo cáo là: Quý, năm

    Do thông tin kế toán quản trị được cung cấp để phục vụ cho chức năng quản lý, nên ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán tài chính thì kế toán quản trị còn phải kết hợp và sử dụng nội dung của nhiều môn khoa học khác như: Kinh tế học, thống kê kinh tế, tổ chức quản lý doanh nghiệp, quản trị đầu tư để tổng hợp phân tích và xử lý thông tin.

    Kế toán tài chính ít có mối quan hệ với các môn khoa học khác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Giữa Kế Toán Quản Trị & Kế Toán Tài Chính
  • Phân Biệt Kim Loại, Phi Kim?
  • Phân Biệt 2 Loại Kem Chống Nắng Vật Lý Và Hóa Học
  • Cách Phân Biệt Kem Chống Nắng Vật Lý Và Hóa Học
  • Phân Biệt Giữa Khiếu Nại Và Tố Cáo
  • Bài Tập Kế Toán Quản Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Viết Báo Cáo Thực Tập Kế Toán Tiền Lương Điểm Cao
  • Nghiên Cứu Kế Toán Tiền Mặt Và Kế Toán Dồn Tích Trong Doanh Nghiệp
  • Hướng Dẫn Cách Phân Biệt Kế Toán Dồn Tích Và Kế Toán Dòng Tiền
  • Phương Pháp Kế Toán Chi Tiết Nguyên Vật Liệu
  • Hạch Toán Chi Tiết Nguyên Vật Liệu Trong Doanh Nghiệp
  • Bài tập kế toán quản trị – Lập dự toán cùng Kế toán Việt Hưng. Kế toán quản trị là một nhánh mới của ngành kế toán được ra đời trong thời gian hơn 15 năm trở lại đây và đang trở thành xu thế mới của kế toán hiện đại.

    Đề bài bài tập kế toán quản trị

    Tham khảo: Bài tập kế toán tài chính 1 – tính giá thành sản phẩm theo phương pháp tỷ lệ Phương pháp làm kế toán quản trị doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Các khóa học thực hành kế toán tại Kế toán Việt Hưng

    Công ty TNHH Thanh Bình, kế toán thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, xuất kho theo phương pháp nhập trước, xuất trước, tiến hành lập kế hoạch sản xuất cho năm 20xx. Cơ sở để lập kế hoạch căn cứ vào số liệu sau:

    2. Giá bán một sản phẩm dự tính : 100.000 đồng/ sản phẩm.

    3. Bảng tổng hợp định mức chuẩn được cho như sau:

    1. Lập dự toán về doanh thu tiêu thụ sản phẩm và dự kiến số tiền thu được.

    Biết rằng 60% doanh thu bán hàng được thu ngay trong quý, còn 40% sẽ được thu ở quý

    2. Lập dự toán sản xuất.

    Biết rằng số thành phẩm cần dự trữ cuối kỳ bằng 20% số thành phẩm cần bán trong kỳ kế tiếp. Số thành phẩm tồn kho cuối kỳ bằng 20% số thành phẩm cần bán trong kỳ kế tiếp. Số thành phẩm tồn kho cuối quý 4 hằng năm dự tính là 5.000 sản phẩm.

    3. Lập dự toán thời hạn thanh toán chi phí mua nguyên vật liệu trực tiếp.

    Biết rằng số nhu cầu nguyên vật liệu cần dự trữ cuối kỳ bằng 5% số nhu cầu dùng để sản xuất cho quý sau, số nguyên vật liệu tồn kho cuối quý 4 dự tính là 000 kg. Lập dự toán thời hạn thanh toán chi phí mua nguyên vật liệu. Biết rằng 60% trị giá nguyên vật liệu mua vào sẽ được thanh toán ngay trong quý, còn 40% sẽ trả ở quý sau.

    4. Lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp,

    Biết rằng tiền lương thanh toán ngay trong quý cho người lao động.

    5. Lập dự toán chi phí sản xuất chung

    Biết rằng định phí sản xuất chung được phân bổ đều cho các quý. Chi phí khấu hao tài sản cố định dùng cho sản xuất cả năm là 400.000.000 đồng.

    Biết rằng chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp theo từng quý lần lượt là 300.000.000 đồng, 400.000.000 đồng. Tiền mặt tồn quỹ là 100.000.000 đồng, công ty chi trả nợ vay ngân hàng quý 2 là 1.500.000, quý 3 và quý 4, mỗi quý là 3.600.000 đồng.

    Giải bài tập kế toán quản trị

    BẢNG DỰ TOÁN DOANH THU TIÊU THỤ NĂM 20xx

    (ĐVT: 1.000đ)

    Doanh thu = Mức tiêu thụ KH * Đơn giá bán

    – Quý I: 30.000 * 100 = 3.000.000

    – Quý II: 50.000 * 100 = 5.000.000

    – Quý III: 80.000 * 100 = 8.000.000

    – Quý IV: 40.000 * 100 = 4.000.000

    – Cả năm: 200.000 * 100 = 20.000.000

    Lịch thu tiền dự kiến:

    – Quý I: 3.000.000 * 60% = 1.800.000

    – Quý II: 3.000.000 * 40% + 5.000.000 * 60% = 4.200.000

    – Quý III: 5.000.000 * 40% + 8.000.000 * 60% = 6.800.000

    – Quý IV: 8.000.000 * 40% + 4.000.000 * 60% = 5.600.000

    – Cả năm: 1.800.000 + 4.200.000 + 6.800.000 + 5.600.000 = 18.400.000

    BẢNG DỰ TOÁN SẢN XUẤT NĂM 20xx

    (ĐVT: SP)

    Số lượng sản phẩm Tồn kho CK= 20% * Số lượng tiêu thụ KH của quý sau

    – Quý I: 50.000 * 20% = 10.000

    – Quý II: 80.000 *20% = 16.000

    – Quý III: 40.000 *20% = 8.000

    – Quý IV: 5.000 (giả thuyết)

    – Cả năm: 5.000 (số tồn kho quý IV)

    Số lượng sản phẩm Tồn ĐK = Tồn CK quý trước

    – Quý I = Cuối kỳ quý IV/2009 = 000

    – Quý II = Cuối kỳ quý I = 000

    – Quý III = Cuối kỳ quý II = 000

    – Quý IV = Cuối kỳ quý III = 000

    Sản phẩm cần sản xuất trong kỳ = SP tiêu thụ + TK cuối kỳ -TK đầu kỳ

    – Quý I: 30.000 + 10.000 – 5.000 = 35.000

    – Quý II: 50.000 + 16.000 – 10.000 = 56.000

    – Quý III: 80.000 + 8.000 – 16.000 = 72.000

    – Quý IV: 40. 000 + 5.000 – 8.000 = 37.000

    – Cả năm : 35.000 + 56.000 + 72.000 + 37.000 = 200.000

    BẢNG DỰ TOÁN CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP NĂM 20xx

    (ĐVT: 1.000đ)

    Số lượng NVL cần cho SX = SL SP cần Sản xuất * Định mức lượng NVL.

    Số lượng NVL tồn đầu kỳ = Số lượng NVL tồn kho cuối kỳ trước

    – Quý I: 87.500 * 5% = 4.375

    – Quý II: 7.000

    – Quý III: 9000

    – Quý IV: 4.625

    Số lượng NVL mua trong kỳ = SL VL cần cho sx + SL VL tồn CK – SL VL tồn ĐK

    Chi phí mua NVL = SL NVL mua trong kỳ * Giá định mức NVL

    Số tiền dự kiến chi qua các quý

    Bài tập kế toán quản trị: Dự toán chi phí nhân công

    DỰ TOÁN CHI PHÍ NHÂN CÔNG TRỰC TIẾP NĂM 20xx

    (ĐVT: 1.000đ)

    Tổng nhu cầu về TGLĐ = SL SP cần sản xuất * Lượng định mức

    Tổng chi phí NCTT = Tổng nhu cầu về TGLĐ * Giá định mức.

    Bài tập kế toán quản trị: Dự toán chi phí sản xuất chung

    DỰ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG NĂM 20xx

    (ĐVT: 1.000đ)

    Tổng TGLĐ trực tiếp = Số lượng sản phẩm cần sx * Lượng định mức

    – Quý I = 35.000 * 3 = 105.000

    – Quý II = 56.000 * 3 = 168.000

    – Quý III = 72.000 * 3 = 216.000

    – Quý IV = 37.000 * 3 = 111.000

    Biến phí sản xuất chung = Tổng thời gian lao động trực tiếp * Giá định mức

    Định phí sản xuất chung = (Chi phí sản xuất * SL SP tiêu thụ cho cả năm)/4

    – Cả năm : 9 * 200.000 = 1.800.000

    – Quý I = Quý II = Quý III = Quý IV =( 9 * 200.000 ) /4= 450.000

    Tổng chi phí SXC dự toán = Biến phí SXC + Định phí SXC

    XEM THÊM: Các Khóa học Kế toán Online tại Việt Hưng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Kế Toán Quản Trị
  • Phương Pháp Của Kế Toán Quản Trị
  • Cách Hạch Toán Tài Sản Cố Định
  • Kế Toán Tài Sản Cố Định
  • Phương Pháp Hạch Toán Kế Toán Tài Sản Cố Định Thuê Hoạt Động
  • Phân Biệt Giữa Kế Toán Quản Trị & Kế Toán Tài Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Kế Toán Tài Chính Và Kế Toán Quản Trị
  • Phân Biệt Giữa Lãnh Đạo Và Quản Lý
  • Phân Biệt Lãnh Đạo, Quản Lý Và Thủ Lĩnh.
  • Phân Biệt Cách Dùng Like Và As Trong Tiếng Anh Đầy Đủ Nhất
  • Cách Phân Biệt Lựu Trung Quốc Và Lựu Việt Nam Đơn Giản
  • 1. Kế toán quản trị là gì?

    Kế toán quản trị có vai trò đo lường, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế cho ban lãnh đạo, người điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, kế toán quản trị giúp cho ban lãnh đạo công ty cân nhắcđưa ra quyết định có hiệu quả cao nhất, ví dụ như: sản xuất những sản phẩm nào? sản xuất như thế nào? bán với giá như thế nào?… Nhìn chung, các quyết định này lại được phân chia làm 2 loại:

    • Quyết định ngắn hạn: giúp doanh nghiệp giải quyết các bài toán kinh tế trong thời kỳ ngắn hạn. Một số ví dụ về quyết định ngắn hạn bao gồm:
    • Định giá sản phẩm: khi nào doanh nghiệp bán sản phẩm với giá thấp hơn giá hòa vốn?
    • Thời điểm bán hàng: tiến hành bán sản phẩm khi còn trong quá trình sản xuất hay hoàn thành đến sản phẩm cuối cùng?
    • Quyết định dài hạn: giúp doanh nghiệp giải các bài toán mang tính chiến lược đầu tư dài hạn. 1 số ví dụ về quyết định dài hạn bao gồm:
    • Mở rộng thị trường mới: khi nào doanh nghiệp nên mở rộng các sản phẩm của mình ra thị trường?
    • Nâng cấp quá trình sản xuất: khi nào doanh nghiệp cần thay đổi dây chuyền sản xuất?

    2. Kế toán tài chính là gì?

    Kế toán tài chính phản ánh hiện trạngsự biến động không ngừng về tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, nó phản ánh dòng vật chấtdòng tiền tệ trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các yếu tố bên ngoài. Sản phẩm của kế toán tài chính sau cùng đó chính là báo cáo tài chính. Thông tin của kế toán tài chính ngoài được cung cấp cho ban lãnh đạo công ty còn được sử dụng bởi các cá nhân, tổ chức bên ngoài công ty: ngân hàng, nhà đầu tư, nhà cung ứng, người cho vay, cơ quan nhà nước… (Stakeholders)

    3. Điểm tương đồng giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính

    • Có mỗi liên hệ chặt chẽ với thông tin kế toán, phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: doanh thu, chi phí, tài sải, nguồn vốn;
    • Đều dựa trên những ghi chép ban đầu của kế toán;
    • Đều biểu hiện trách nhiệm của nhà quản lý và là công cụ quản lý doanh nghiệp.

    4. Phân biệt giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính

    Mục đích

    Cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính.

    Cung cấp thông tin cho việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Đối tượng phục vụ

    Các nhà quản lý doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp: ngân hàng, nhà đầu tư, nhà cung ứng, cơ quan nhà nước, tổ chức tín dụng…

    Các nhà quản lý doanh nghiệp.

    Đặc điểm thông tin

    Phản ánh thông tin xảy ra trong quá khứ, đòi hỏi có tính khách quan và có thể kiểm tra được. Thông tin chỉ được theo dõi dưới hình thái giá trị.

    Thông tin được tổng hợp và phân tích theo nhiều góc độ khác nhau. Thông tin ít chú trọng đến sự chính xác mà mang tính chất phản ánh xu hướng biến động, có tính dự báo vì vậy thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc đánh giá và xây dựng các kế hoạch kinh doanh, thông tin được theo dõi dưới hình thái giá trị và hình thái hiện vật.

    Nguyên tắc cung cấp thông tin

    Phải tôn trọng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận và được sử dụng phổ biến. Nói cách khác kế toán tài chính phải đảm bảo tính thống nhất theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán nhất định để mọi người có cách hiểu giống nhau về thông tin kế toán đặc biệt là báo cáo tài chính. Kế toán tài chính phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là những yêu cầu quản lý tài chính và các yêu cầu của xã hội thông qua việc công bố những số liệu mang tính bắt buộc.

    Không có tính bắt buộc, các nhà quản lý được toàn quyền quyết định và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và khả năng quản lý của doanh nghiệp.

    Phạm vi thông tin

    Kỳ báo cáo

    Năm, quý

    Năm, quý, tháng, tuần, ngày

    Tính bắt buộc

    Bắt buộc theo luật định

    Không bắt buộc theo luật định

    Hình 1: Tóm tắt điểm khác biệt giữa Kế toán tài chính & Kế toán quản trị

    Kế toán tài chính và Kế toán quản trị có ý nghĩa rất lớn trong việc điều hành doanh nghiệp. Thực tế, chúng giúp tổ chức và sử dụng theo nhiều cách khác nhau. Kế toán tài chính mang lại giá trị trong việc lưu trữ hồ sơ hợp pháp các giao dịch vô số và so sánh hiệu suất của hai giai đoạn của một thực thể hoặc giữa hai thực thể. Trong khi đó, kế toán quản lý hữu ích trong việc phân tích hiệu suất, lập chiến lược, đánh giá hiệu quả và chuẩn bị các chính sách cho tương lai cho công ty.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Kim Loại, Phi Kim?
  • Phân Biệt 2 Loại Kem Chống Nắng Vật Lý Và Hóa Học
  • Cách Phân Biệt Kem Chống Nắng Vật Lý Và Hóa Học
  • Phân Biệt Giữa Khiếu Nại Và Tố Cáo
  • Cách Phân Biệt Thật Giả Khi Chọn Mua Nike Jordan 4 “royalty”
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×