Top 17 # Phương Pháp Dạy Học Địa Lí 6 / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Phương Pháp Dạy Học Địa Lí Thcs / 2023

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ ĐỔI MỚI ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

MÔN: ĐỊA LÍ

Nam §Þnh 8 – 2009

I. MỤC TIÊU TẬP HUẤNI. Kiến thứcPhân tích thực trạng ĐM PPDH, KTĐG Nhận thức được sự cần thiết ĐM PPDH, KTĐG Trình bày được định hướng, biện pháp ĐM PPDH, KTĐG môn Địa lí ở THCS Nhận biết sự khác biệt của một số PPDH thường dùng trong DH Địa lí ở THCS.Phân tích được ý nghĩa của ma trận trong việc ra đề kiểm tra trong môn Địa lí

I. MỤC TIÊU TẬP HUẤN2. Kĩ năng Tiến hành ĐM PPDH theo định hướng chung và theo đặc trưng bộ mônSoạn được đề kiểm tra đúng yêu cầu, đúng quy trình3. Thái độTích cực áp dụng ĐM PPDH và ĐM ĐG kết quả học tập môn Địa lí của HS.

1. Vì sao phải đổi mới PPDH?2. Hiểu đổi mới PPDH là thế nào? 3. Thực trạng về đổi mới PPDH ở địa phương.Hướng dẫn kĩ thuật dạy học “các mảnh ghép”

Vòng 1: – Nhóm màu đỏ: Quan điểm đổi mới PPDH môn Địa Lí THCS? Anh/ chị có thống nhất với quan điểm đổi mới PPDH môn Địa Lí THCS? Vì sao? – Nhóm màu xanh: Định hướng đổi mới PPDH môn Địa Lí THCS? Anh/ chị có thống nhất với định hướng đổi mới PPDH môn Địa Lí THCS? Cần thêm/ bớt gì?– Nhóm màu vàng: Một số giải pháp đổi mới PPDH môn Địa Lí THCS? Anh/ chị có thống nhất với một số giải pháp đổi mới PPDH môn Địa Lí THCS? Cần thêm/ bớt gì?

Vòng 2: – Trình bày khái quát về quan điểm, định hướng và một số giải pháp đổi mới PPDH môn Địa lí THCS. – Những điểm cần bổ sung hoặc lược bớt?Quan điểm đổi mới PPDHĐịa lí 3. Đa dạng hoá cáchình thức dạy – học

4. Chú ý tới đặc trưng về nội dung và phương pháp của môn học

2. Dạy cách tự học cho HS.

5. Đổi mới PPDH cần đi đôi với đổi mới đánh giá KQHT và sử dụng TBDH

1. Phối hợp linh hoạt giữa các PPDH truyền thống với PPDH mới

Định hướng đổi mới PPDHCốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học là giúp HS hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.

Định hướng đổi mới PPDH Địa lí “Tích cực hoá hoạt động học tập của HS nhằm phát huy tính tích cực chủ động của HS trong học tập”

Luật Giáo dục, điều 28.2: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học,….”Một số giải pháp đổi mới PPDH Địa lí ở THCS1. Thiết kế kế hoạch bài học

2. Tổ chức dạy học trên lớp

3. Vận dụng các phương pháp dạy học

1. Tổ chức và hướng dẫn HS hoạt động với các phương tiện dạy học địa lí (PTDHĐL) 2. Tổ chức, hướng dẫn HS thu thập, xử lí thông tin trong SGK và trình bày lại 3. Tổ chức hoạt động của HS theo những hình thức học tập khác nhauXác định mục tiêu ( động từ/ động từ hoá mục tiêu)2. Xác định kiến thức trọng tâm/ nội dung chính3. C¸c ph­¬ng tiÖn d¹y häc4. Thiết kế các hoạt động của GV và HS (Căn cứ vào mục tiêu, nội dung và PTDH).1. Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống theo định hướng đổi mới.2.Tăng cường áp dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mới

Thiết bị dạy học và việc sử dụng TBDH Địa lí Các phương tiện, thiết bị dạy học địa lí có chức năng kép: vừa là nguồn tri thức địa lí, vừa là phương tiện minh hoạ nội dung dạy học. GV cần coi trọng chức năng là nguồn tri thức của các TBDH và tổ chức, hướng dẫn để HS biết khai thác, chiếm lĩnh kiến thức từ các phương tiện dạy học này.

Để nâng cao hiệu quả sử dụng, cần có phương pháp và quy trình khai thác kiến thức hợp lí từ các TBDH.

Nhóm 7và 8:Soạn trích đoạn Địa lí lớp 9. Bµi 3. Ph©n bè d©n c­ vµ c¸c lo¹i h×nh quÇn c­. So¹n môc 1Nhóm 5và 6:Soạn trích đoạn Địa lí lớp 8. Bµi 24. §Æc ®iÓm s”ng ngßi ViÖt Nam. So¹n môc 1

Yêu cầu soạn trích đoạnXác định mục tiêu trích đoạnDự kiến phương tiện dạy họcLựa chọn PPDH để dạy trích đoạn và giải thích sự lựa chọn đó.Thiết kế các hoạt động của GV và HSSự vận động tự quay quanh trục của Trái ĐấtĐôngTâyCực BắcCực NamSự vận động tự quay quanh trục của Trái Đất CHÀO MỪNG QUÍ THẦY,CÔ GIÁO VỀ DỰ GIỜ!CHÚC CÁC EM HỌC SINH CÓ MỘT GIỜ HỌC TỐT !

Phương Pháp Học Tốt Môn Địa Lí Bạn Nên Biết / 2023

1. Phương pháp học tốt môn địa lí

Đầu tiên, để có thể nắm được hết những kiến thức cơ bản của môn địa lí thì bạn cần rất nhiều thời gian. Tuy nhiên khi có phương pháp học tập thì điều đó sẽ nhanh hơn rất nhiều.

Cách học tốt môn địa lí đó là vẽ sơ đồ cấu trúc dạng xương cá. Có nhiều kiến thức nhưng chúng được chia ra 3 phần chính đó là: Địa lý tự nhiên và dân cư; Địa lý các ngành kinh tế và Địa lý vùng kinh tế. Trong mỗi phần này lại chia ra từng bài có từng ý lớn,sau khi vẽ khung của toàn chương trình thì bạn có thể hình dung được những gì mình cần học và tiến hành ôn bài thôi.

Để có thể khai thác tốt bản đồ atlat, đầu tiên bạn cần nắm dược nội dung của bản đồ, xem xét cẩn thận trang này có những đối tượng địa lí gì, ngoài bản đồ chính nó còn có biểu đồ, sơ đồ gì không, nắm vững được các ký hiệu nằm ở trang bìa. Xem bảng chú thích: các nội dung mình cần tìm được kí hiệu như thế nào? Các màu sắc, các biểu đồ trên bản đồ, các kí hiệu… nó có ý nghĩa gì trên bản đồ đó?

Bạn nên dùng bản đồ atlat như là một phương tiện làm dẫn chứng, điều quan trọng là các bạn phải nắm được kiến thức cơ bản và từ đó lấy dẫn chứng của atlat đem vào bài viết. Phương pháp này rất hữu ích giúp bạn có thể học nhanh thuộc bài môn địa lí.

Ví dụ khi học về vị trí địa lý các bạn có thể mở trang vị trí địa lý, kết hợp những kiến thức trong sách giáo khoa với hình ảnh trên bản đồ atlat sẽ giúp các bạn nhớ bài tốt hơn và nắm được cốt lõi của vấn đề. Các bạn nhìn thấy ngay trên bản đồ là nước ta tiếp giáp với những nước nào? Ở phía nào? Có những quần đảo nào,…

Bên cạnh đó, các bạn cũng có thể sử dụng Atlat như một nguồn số liệu (thay vì phải nhớ rất nhiều số liệu từ sách giáo khao). Ví dụ, số liệu về dân số Việt Nam qua các năm hay tên của các đô thị, các trung tâm công nghiệp, các bãi biển du lịch…

Ngoài ra các bài thực hành vẽ biểu đồ cột, biểu đồ tròn, biểu đồ đường, biểu đồ miền là dạng bài thực hành mà chúng ta rất dễ lấy điểm, nhưng điều quan trọng là bạn làm sao để có thể nhận dạnh đúng loại bản đồ cần vẽ.

Một mẹo nhỏ cho bạn đó là trong yêu cầu vẽ biểu đồ thì thường thường đã có gợi ý về dạng biểu đồ. Nếu đề bài có từ “thể hiện cơ cấu” thì các bạn nên nghĩ tới biểu đồ tròn và biểu đồ miền (dưới ba năm là biểu đồ tròn, trên ba năm là biểu đồ miền). Nếu có từ “diễn biến” hay “tốc độ tăng trưởng” thì các bạn nên nghĩ đến biểu đồ đường.

Để có thể đạt điểm tốt trong bài thực hành vẽ biểu đồ, các bạn cần bảo đảm đầy đủ các yếu tố như: tên đơn vị trên trục tung (nghìn người, nghìn ha…); bảng chú thích; tên biểu đồ (biểu đồ thể hiện,…).

Khi nhận xét về biểu đồ đã vẽ thì bạn nên căn cứ vào biểu đồ đã vẽ, các só liệu cần tính toán. Nên nhận xét chung trước khi nhận xét từng đối tượng cụ thể. Đối với một giai đoạn nhiều năm có thể chia thành từng giai đoạn để nhận xét. Chú ý các thời điểm có sự diễn biến đột ngột của đối tượng. Giải thích cần vận dụng tổng hợp các nhân tố (tự nhiên, xã hội) để giải thích cho vấn đề.

1.1 Phương pháp học tập môn địa lí

Phương pháp học tập môn địa lí đó là gì? Mông địa lí người ta nói là môn học thuộc lòng, nhưng sự thật là không phải như thế. Bạn có thể hệ thống các bài học bằng các sơ đồ tư duy, bằng sơ đồ hình cây, bằng bảng hệ thống,… Làm bằng cách nào thì bạn cũng phải hệ thống hóa lại các bài học, như vậy sẽ rõ ràng và giúp các em học tốt hơn.

Với môn địa lí, nhiều bạn sợ nhất đó là số liệu. Tuy nhiên bạn không nhất thiết phải nhớ hết số liệu, mỗi ý chúng ta chỉ cần một dẫn chứng. Nếu không thể nhớ chính xác các số liệu thì có thể nhớ gần đúng theo kiểu khoảng, gần bằng, lớn hơn,… Ví dụ như nước ta có 2.360 con sông dài trên 10km thì các em có thể nhớ là hơn 2.000 con sông…

1.2 Phương pháp ôn thi môn địa lí

Phương pháp ôn thi môn địa lí chuẩn nhất đó chính là bán chuẩn kiến thức và sách giáo khoa.

Môn Địa lí hơi khác với những môn khác bởi nó đan xen giữa kiến thức tự nhiên và cả kinh tế xã hội. Vì thế mà có những mảng kiến thức tương đối ổn định nhưng những vấn đề kinh tế – xã hội lại thay đổi hàng ngày, hàng giờ, nó bị tác động và chi phối của nhiều yếu tố.

Tiếp theo, để học tốt bạn nên chú ý nghe giảng của thầy cô giáo ở trên lớp, nên nắm được các quy luật, hệ thống, các mối liên hệ nguyên nhân kết quả, và sử dụng nhịp nhàng giữa atlat với SGK.

Trong học địa lý thì thực hành là mảng rất quan trọng, nó giúp cho bạn khắc sâu lại kiến thức lí thuyết hơn.

2. Để học tốt môn địa lý Việt Nam các em cần làm gì?

Học địa lý các bạn không nên học theo kiểu học tủ, học vẹt vì rất dễ bị “tủ đè”, tâm lý luôn lo lắng, hoang mang, không biết có ra đề trúng tủ hay không? Từ đó các bạn không đủ tự tin và bình tĩnh để hoàn thành tốt bài thi.

Nên rèn luyện kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ. Khi vẽ biểu đồ thì cần đọc kỹ để xác định phải vẽ biểu đồ nào đúng với yêu cầu đề bài. Cần cẩn thận khi ghi kí hiệu trên biểu đò, tránh làm xấu làm rối biểu đồ. Nên nhận xét chung, xuống dòng cho mỗi ý.

Học địa lí Việt Nam như thế nào? Học địa lí Việt Nam không khó nếu bạn biết cách học.

Về lí thuyết: Để có thể nắm chắc kiến thức, bạn nên phân loại nội dung cần học từ tồng quát đến chi tiết và ngược lại. Trước khi học bạn cần xác định được nội dung chính và phụ của từng bài, từng chương.

Để không bị quên kiến thức bạn hãy tập cho mình lối tư duy đồng tâm khái quát. Về phần địa lí Việt Nam thường có các yếu tố tự nhiên – xã lội và đặc biệt là các ngành ngành kinh tế trọng điểm của nông nghiệp, công nghiệp và ngư nghiệp. Sau đó các thành phần tự nhiên, xã hội, mạnh yếu của 7 vùng lãnh thổ khác nhau. Bạn không nên tách rời hai phần này mà nên nắm chắc cả hai phần vì chúng có thể bổ sung cho nhau. Phần 1 bổ sung cho phần 2 và ngược lại phần 2 chính là những minh chứng cụ thể cho phần 1.

Trong nhiều trường hợp, khi làm bài thi không nhất thiết phải viết nguyên văn diễn đạt trong sách giáo khoa mà chúng ta nên dựa trên cách hiểu của mình, mình nên làm chủ ngòi bút, vận dụng uyển chuyển cũng cùng một nội dung kiến thức cho nhiều dạng đề khác nhau để có thể ghi điểm trong mắt các giáo viên.

Địa lí lớp 8 còn khá dễ dàng, tuy nhiên chúng cùng phân thành nhiều mục. Cách học tốt địa lí lớp 8 là các em cố gắng lên lớp nghe giảng bài từ các thầy cô, nếu còn thắc mắc điều gì thì nên học hỏi ngay.

Ghi các ý chính ra giấy để học sẽ giúp các em học tốt hơn. Về phần biểu đồ thì trong đề bài thường có gợi ý giúp các em phân biệt được các loại bản đồ cần vẽ.

2.3 Sơ đồ tư duy môn địa lí 12

Sách Địa Lý 12 có 3 phần chính là Địa lý tự nhiện, Địa lý dân cư và Địa lý kinh tế thì ba phần này sẽ là ba nhánh lớn. Nội dung trung tâm phải đặt ở giữa các bạn có thể chú thích thêm hình ảnh để tăng phần sinh động cho sơ đồ tư duy. Sau khi viết các phần lớn thì các bạn viết các bài thuộc các phần đó vào giấy. Cách vẽ sơ đồ tư duy môn Địa lý sẽ giúp bạn tránh được cách học vẹt truyền thống.

Công Ty TNHH Thiết Kế Thiên Ân

Trụ Sở Chính : 166 Võ Văn Tần , Phường 8, Quận 3, TPHCM.

Email: bandovietnamtreotuong@gmail.com

HotLine: 0932.232.292

Nguồn: https://bandovietnamtreotuong.com/phuong-phap-hoc-tot-mon-dia-li-ban-nen-biet/#muc-luc-bai-viet

Phương Pháp Dạy Học « Địa Lý Và Cuộc Sống / 2023

Mở đầu

Trong những năm gần đây, để thực hiện nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học trong môn Địa lý, các giáo viên đã sử dụng rất nhiều phương pháp theo hướng dạy học tích cực, trong đó có thể kể đến các phương pháp như: phương pháp đàm thoại gợi mở, phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm, phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ, phương pháp đóng vai,…

Hãy tưởng tượng có hai lớp học môn Địa lý lớp 12. Tại lớp học đầu tiên, học sinh ngồi trật tự theo hàng lối, ghi chép trong khi giáo viên đứng trước lớp giảng về vùng cây ăn quả lớn của nước ta. Các em hạn chế phát biểu trình bày ý kiến mà chỉ được phép nói khi trả lời các câu hỏi của giáo viên. Ngay những câu hỏi này cũng yêu cầu học sinh phải trả lời đúng đáp án. Những học sinh thụ động này chỉ ngồi nghe giảng và tiếp nhận thông tin.

Sự khác biệt giữa hai lớp học này rất rõ nét. Lớp học đầu tiên dựa trên mô hình truyền thống, học tập dựa trên nội dung bài giảng. Lớp học thứ hai sử dụng cách học dựa trên dự án có ứng dụng công nghệ thông tin.

Cách học dựa trên dự án là gì?

Cách học dựa trên dự án (PBL) không chỉ tập trung vào các chương trình giảng dạy mà còn khám phá các chương trình này, yêu cầu học sinh phải đặt câu hỏi, tìm kiếm những mối liên hệ và tìm ra giải pháp. PBL là một cấu trúc học tập có thể thay đổi môi trường học từ “giáo viên nói” thành “học sinh thực hiện”.

Tóm tắt những yếu tố mạnh mẽ của PBL như sau:

• Tính thách thức: PBL khuyến khích học sinh giải quyết những vấn đề phức tạp mang tính hiện thực. Các em khám phá, đánh giá, giải thích, và tổng hợp thông tin một cách có ý nghĩa. Ví dụ, xây dựng kế hoạch cho một “ngôi trường lý tưởng”, hoàn thiện một chương trình giảng dạy, miêu tả công việc, thiết kế sơ đồ nhà, xây dựng tiêu chí tuyển chọn và đưa ra lý do cho từng kế hoạch. Tất cả những hoạt động này yêu cầu học sinh phải có tư duy sâu sắc về công việc của mình.

• Gây hứng thú: PBL được cộng đồng giáo dục thừa nhận là phương pháp học có ý nghĩa, thúc đẩy ham muốn học tập của học sinh, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng và niềm khát khao được đánh giá các kết quả đã hoàn thành. Khi học sinh có cơ hội kiểm soát được việc học của chính mình thì giá trị của việc học đối với các em cũng tăng lên. Cơ hội lựa chọn và kiểm soát, cũng như cơ hội cộng tác với các bạn cùng lớp sẽ làm tăng hứng thú học tập của các em. Ví dụ khi học sinh tham gia một cách nghiêm túc vào một dự án, như thiết kế và xây dựng một cây cầu bằng những chiếc tăm để nghiên cứu những khái niệm kỹ thuật, các em sẽ tham gia nhiệt tình hơn trong giờ học để hoàn thiện công việc. Kết quả là các khái niệm về kỹ thuật và toán học được tiếp thu một cách chủ động trong một môi trường gắn kết hơn.

• Tính xác thực: PBL yêu cầu học sinh tiếp thu kiến thức theo cách học của người lớn là học và trình diễn kiến thức. Ví dụ, khi học sinh phải làm dự án viết tài liệu quảng bá về trường mình bằng tiếng Anh, các em sẽ tiếp thu được những kiến thức và kỹ năng thực tế.

• Khả năng cộng tác: PBL thúc đẩy sự cộng tác giữa các em học sinh và giáo viên và giữa các em học sinh với nhau; trong nhiều trường hợp, sự cộng tác được mở rộng đến cộng đồng. Tất cả các bộ môn đều thừa nhận tầm quan trọng của phương pháp làm việc mang tính cộng tác của học sinh như một phương tiện làm phong phú hơn và mở rộng sự hiểu biết của học sinh về những điều các em đang học.

• Sự vui nhộn: Học sinh rất thích phương pháp học dựa trên dự án. Nhiều giáo viên sử dụng PBL cho biết các em rất mong được đến trường học tập.

PBL trong lớp học

Ví dụ, một nhóm học sinh có thể phải đóng vai ủy viên của Uỷ ban Tư vấn Môi trường Quốc tế với nhiệm vụ phải đưa ra những giải pháp cho những vấn đề môi trường. Tất nhiên, giáo viên sẽ cung cấp những thông tin nền và những chỉ dẫn, nhưng học sinh phải có trách nhiệm tìm ra phương hướng và cách thức giải quyết vấn đề trong phạm vi những tiêu chí do giáo viên đặt ra.

Quá trình PBL được mô tả như sau (Savoie và Hughes):

1. Xác định một vấn đề phù hợp với học sinh.

2. Liên kết vấn đề với thế giới của các em.

4. Tạo cho học sinh cơ hội để xác định phương pháp và kế hoạch thú nhận kiến thức để giải quyết vấn đề.

5. Khuyến khích sự cộng tác bằng cách tạo ra các nhóm học tập.

6. Yêu cầu tất cả học sinh trình bày kết quả học tập dưới hình thức một dự án hoặc chương trình.

Lợi ích và thách thức của PBL

Có rất nhiều lợi ích khi sử dụng PBL trong lớp học. Như đã đề cập ở phần trước, PBL gây hứng thú cho học sinh học tập. Khi học sinh có cơ hội để định hướng việc học của mình, các em sẽ coi trọng việc học hơn. Do các em phải đề xuất và tham gia những nghiên cứu có chiều sâu, việc học tập của học sinh được mở rộng ra ngoài những vấn đề trước mắt. Học sinh cũng học được kỹ năng nghiên cứu có giá trị và kỹ năng quan sát mà họ không thể có được từ các bài giảng truyền thống.

Các nghiên cứu đã cho thấy rằng, học sinh tham gia cách học dựa trên dự án có khả năng lĩnh hội kiến thức và phát triển kỹ năng cao hơn. Thông tin các em thu nhập được cũng được truyền tải thông qua những ngữ cảnh khác nhau bởi các em được dạy cách tìm và tư duy về thông tin hơn là ghi nhớ các dữ kiện.

PBL cũng khuyến khích những học sinh tự giải quyết vấn đề một cách đầy đủ. Điều đó dạy cho học sinh cách cộng tác với nhau cũng như tìm cách để lắng nghe và giao tiếp. PBL hỗ trợ kỹ năng giao tiếp của học sinh. Học sinh không học cách nghĩ gì mà thay vào đó là nghĩ như thế nào.

Mặc dù phương pháp học dựa trên dự án đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng có những thách thức. Để xây dựng và thực hiện PBL phải mất rất nhiều thời gian. Với nhiều bài kiểm tra gắt gao, nhiều giáo viên sẽ cảm thấy phải chịu áp lực trong việc thực hiện chương trình giảng dạy PBL so với phong cách truyền thống. Tuy nhiên, kết quả cho thấy rằng các sinh viên y khoa tham gia vào PBL có điểm học tập trong các kỳ thi cao hơn so với các sinh viên được dạy theo phong cách truyền thống.

Một thách thức nữa là rất nhiều học sinh đã theo học phương pháp dạy truyền thống nhiều năm trước khi các em tham gia PBL. Các em không quen với việc chủ động định hướng quá trình học tập và do đó sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải làm như vậy. Tương tự, rất nhiều giáo viên cảm thấy thoải mái với vai trò giảng dạy theo phương pháp truyền thống. Khi họ bắt đầu áp dụng PBL thì đó là thời kỳ chuyển tiếp khó khăn. Vì vậy cần phải làm tốt công tác phát triển cán bộ trước khi thực hiện PBL.

Chắc bạn còn nhớ trường hợp hai lớp học môn Địa lý của học sinh lớp 12 mà chúng ta đã đến thăm. Hãy hình dung tương lai của các học sinh trong mỗi lớp. Lớp học nào sẽ tạo ra được sự hứng thú học môn Địa lý cho các em? Học sinh lớp nào giải thích được sự phong phú và đa dạng của trái cây vùng Nam Bộ ngay cả khi đã thi hết môn? Học sinh lớp nào sẽ học được nhiều hơn? Giáo viên thường băn khoăn “Làm sao để học sinh tư duy mang tính phê phán?”. Học sinh thắc mắc “Tại sao em phải làm bài tập này?”. PBL sẽ là lời giải đáp cho cả hai câu hỏi này.

Công nghệ và cách học dựa trên dự án

Công nghệ thông tin đóng một vai trò rất quan trọng trong bất kỳ lớp học nào, nhưng nó chỉ đặc biệt có tác động mạnh mẽ khi kết hợp với cách học dựa trên dự án. Nâng cao chất lượng dạy và học trên cơ sở sử dụng công nghệ thông tin.

• Công nghệ thông tin có thể hỗ trợ công tác giảng dạy và nâng cao chất lượng của các hoạt động học tập, tạo ra nhiều phương pháp tiếp cận học tập, bảo đảm sự tiếp cận với chương trình giảng dạy mà các công nghệ khác không thể làm được. Những ứng dụng công nghệ thông tin đã đem lại những kết quả tích cực cho học sinh bao gồm khả năng cộng tác với sự hỗ trợ của máy tính, các dự án của học sinh, nghiên cứu Internet, tiếp xúc với các chương trình giảng dạy đa phương tiện, xử lý văn bản. Công nghệ thông tin cũng đưa ra những ưu điểm độc đáo không đâu có được, như trong việc đưa ra những hỗ trợ công nghệ thông tin cho các cá nhân khuyết tật hoặc hướng dẫn từ xa thông qua các công cụ Internet hoặc hội thảo video (Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng trong công nghệ thông tin giáo dục).

• Công nghệ thông tin có thể cải thiện việc đánh giá quá trình dạy và học bằng cách đưa ra những phân tích và phản hồi nhanh chóng và bằng cách hỗ trợ các trường và giáo viên sử dụng những đánh giá của học sinh để cải tiến chương trình giảng dạy.

Các bước tiến hành dạy học theo dự án có tích hợp CNTT ở môn Địa lý

Dự án học tập trong tài liệu hướng dẫn này được thiết kế cho học sinh ở cấp trung học cơ sở nhưng được cấu trúc rất linh hoạt, giúp giáo viên dễ dàng sửa đổi cho phù hợp với đối tượng học sinh khác (tức là trên hoặc dưới cấp trung học cơ sở).

Bước 1: Tìm hiểu các vấn đề đang diễn ra xung quanh cuộc sống của học sinh. Các vấn đề này phải có tác động rất rõ nét đối với cuộc sống thường nhật của các em. Những vấn đề này có thể không giống nhau đối với mọi đối tượng học sinh, ví dụ: khi giáo viên dạy bài Di dân và sự bùng nổ đô thị ở đới nóng (Địa lý 7) thì giáo viên có thể chọn bài học này để dạy theo cách dạy học theo dự án nếu như giáo viên đang dạy ở các thành phố lớn như chúng tôi chúng ta, bởi vì nội dung của bài này gắn liền với thực tế cuộc sống đang diễn ra xung quanh các em, ngược lại đối với giáo viên đang dạy ở những vùng miền núi hoặc nông thôn thì chọn bài này để dạy theo cách học theo dự án không phải là lựa chọn tốt.

Bước 4: Lựa chọn một bài, nhiều bài, hoặc một phần mà giáo viên thấy có khả năng dạy bằng cách dạy học theo dự án có tích hợp CNTT.

Bước 5: Xác định mức độ tư duy của học sinh, nhận thức của học sinh để từ đó xác định được dự án phù hợp với trình độ của học sinh.

Bước 6: Xác định mục tiêu của dự án.

Bước 7: Xây dựng dự án. Giaó viên cần lưu ý khi thực hiện bước này bởi vì dự án sẽ chi phối sản phẩm dự án, từ đó chi phối các hoạt động các hoạt động của học sinh nhằm thực hiện dự án đó. Chính vì vậy, dự án phải có nội dung bao trùm lên toàn bộ bài hoặc phần mà giáo viên lựa chọn, đồng thời cũng phải phù hợp với trình độ nhận thức và tư duy học sinh, tránh để diễn ra tình trạng dự án quá khó hoặc quá dễ đối với học sinh.

Bước 10: Giaó viên lập các phiếu đánh giá bài tập của học sinh, giáo viên phát các phiếu đánh giá này trước khi học sinh thực hiện dự án. Những phiếu đánh giá này có hai tác dụng:

Thứ nhất, nó mang tính định hướng cho học sinh, học sinh sẽ biết giáo viên sẽ đánh giá sản phẩm của học sinh theo những tiêu chí nào. Vì thế học sinh sẽ tập trung vào nội dung sản phẩm chứ không phải hình thức sản phẩm.

Thứ hai, Việc giáo viên đánh giá bằng phiếu đánh giá sẽ là hình thức đánh giá tích cực chuyển từ đánh giá một chiều sang đánh giá nhiều chiều (đánh giá từ bản thân học sinh, các học sinh khác, từ nhóm học sinh khác và từ giáo viên).

Bước 11: Giáo viên hướng dẫn học sinh phân nhóm, thường mỗi nhóm từ 4 đến 6 học sinh ở các trình độ khác nhau.

Bước 12: Giáo viên lập kế hoạch sử dụng máy tính, truy cập Internet v.v…tùy thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.

Bước 13: Giaó viên tổ chức một tiết để nêu ý tưởng dự án, giao nhiệm vụ cho các nhóm học sinh, cung cấp nguồn tham khảo, thời gian tiến độ hoàn thành dự án v.v…

Bước 14: Tổ chức một hoặc vài tiết học để học sinh báo cáo sản phẩm, giáo viên cùng học sinh nhóm khác phản biện và cho điểm. Rút kinh nghiệm dự án.

(Trích từ “Hội thảo chuyên đề cụm V, bộ môn Địa lý tại trường THCS&THPT Thái Bình, tháng 12/2012. Thực hiện: Thầy Trần Đức Thịnh).

Nội dung trong tài liệu này được tham khảo từ:

Đặng Văn Đức, Nguyễn Thị Thu Hằng, “Phương pháp dạy học Địa lý theo hướng tích cực”, Nxb Đại học Sư phạm, 2004.

Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc, “Lí luận dạy học Địa lý”, Nxb Đại học Sư phạm, 2004.

Nguyễn Hải Châu, Phạm Thị Sen, Nguyễn Đức Vũ (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS, Nxb Giáo dục.

Nguyễn Thị Kim Liên (2009), “Cơ sở khoa học của việc vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lí 12, THPT”, Tạp chí khoa học ĐHSP TP. HCM (số 29)

“Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học”, tài liệu bồi dưỡng giáo viên giai đoạn 2, thuộc chương trình Partner In Learning của Microsoft Việt Nam.

Trần Thị Thanh Thủy, khoa Địa lý, ĐHSP Hà Nội “Sử dụng phương pháp dạy học dự án có ứng dụng CNTT trong dạy học Địa lý ở trường phổ thông” Tạp chí khoa học ĐHSP Hà Nội, 2006.

Phương PháP Dạy Học Sinh Yếu KéM MôN Vật Lí Thpt / 2023

Thứ sáu, 16/11/2012 03:23

I. Thực trạng:

Qúa trình giảng dạy tại trường THPT, tổ Vật lí chúng tôi nhận thấy: Tình hình học tập môn Vật lí của học sinh cấp THPT của trường còn tồn tại một số hạn chế chưa giải quyết được. Điều đó dẫn đến kết quả học môn Vật lí của học sinh chưa cao, điểm thi tốt nghiệp THPT, Đại học- Cao đẳng có năm thấp hơn mặt bằng chung của tỉnh.

II. Nguyên nhân:

Kết quả học tập của học sinh chưa cao xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan.

Một số học sinh chưa có ý thức trong học tập, không có định hướng trong việc học.

Ngoài ra, học sinh nghĩ rằng: môn Vật lí thi dưới hình thức trắc nghiệm khách quan nên không học bài vẫn có thể làm bài được. Vì lẽ đó, một số học sinh ít chịu học bài, làm bài tập và đọc bài trước ở nhà, ít chịu đọc sách tham khảo. Vào lớp thì còn thụ động khi tiếp thu kiến thức mới, chưa biết cách học bài, chủ yếu là học thuộc lòng. Mặt khác, khả năng tính toán của các em rất yếu, phụ thuộc vào máy tính một cách máy móc.

III. Giải pháp:

Xuất phát từ thực trạng và những vấn đề nêu trên, tổ vật lí xin đưa ra một số giải pháp nhằm giúp học sinh tích cực, chủ động hơn trong việc học môn vật lí, từng bước nâng cao kết quả học tập bộ môn này ở trường.

1/ Đối với giáo viên trong tiết dạy cần phải:

– Dạy chậm, nói ngắn gọn, cụ thể, chi tiết và dễ hiểu.

– Giảng kỹ những chỗ quan trọng, nhắc lại nhiều lần để cho học sinh khắc sâu. Chú ý phân tích các sai lầm mà học sinh thường gặp khi làm bài.

– Cần tiến hành thí nghiệm ngay trong giờ học, giới thiệu các dụng cụ Vật lí để học sinh dễ hình dung, cần phải có hình vẽ minh họa để các em nhớ lâu.

– Không nhất thiết bắt học sinh học thuộc lòng từng câu, từng chữ trong bài, phải hướng dẫn cho học sinh cách học bài.

– Đối với học sinh yếu Toán, chúng ta không nên nóng vội cung cấp lượng kiến thức toán quá nhiều cùng một lúc sẽ gây rối cho các em, chắc chắn các em sẽ không nắm hết được, kinh nghiệm cho thấy, giáo viên chỉ cung cấp kiến thức Toán cho bài học đó hoặc bài tập đó mà thôi, giảm bớt áp lực cho các em và cho nhiều dạng bài tập tương tự để các em dần dần thích nghi. Khi đó, tình hình học tập của các em khá hơn, hứng thú hơn, giáo viên sẽ đỡ mệt hơn khi dạy.

– Giáo viên nên cho các em bài tập về nhà theo chuẩn kiến thức sẽ giúp các em biết được nhiều dạng bài tập hơn.

2/ Đối với học sinh:

+ Tự bản thân các em cần phải trả lời các câu trả lời sau: Học để làm gì ? Tại sau phải học? Học có giúp ích được gì cho cuộc sống của các em sao này không?…Khi trả lời được các câu hỏi đó, thì các em xác định được tầm quan trọng của việc học và từ đó sẽ có thái độ đúng đắn hơn trong học tập.

+ Trong giờ học: Trong lúc thầy cô giảng bài, các em phải tập trung lắng nghe và ghi chép lại đầy đủ các ý chính. Tập trung trả lời các câu hỏi mà thầy cô đặt ra. Phải tuân thủ theo sự hướng dẫn của thầy cô khi thí nghiệm . Tuyệt đối không được làm việc riêng. Nếu có vấn đề gì chưa hiểu thì phải mạnh dạn hỏi ngay để thầy cô giải đáp. Ghi nhận lại những điều thầy cô căn dặn về nhà.

+ Phải học nhóm học từ bạn. Nếu có bài tập nào các em không tự giải được, các em nên trao đổi với bạn bè. Học sinh phải giải các bài tập ở nhà trước khi lên lớp có thắc mắc phải tham khảo với giáo viên để được giải đáp.

IV. Kết luận:

Như vậy, với cách dạy và cách học như trên, tuy chưa thoát ly cách dạy truyền thống, nhưng đã phần nào tỏ ra có hiệu quả thiết thực đối với sách giáo khoa đã được biên soạn lâu nay và phù hợp với trình độ nhận thức của nhận thức của học sinh, nhất là học yếu môn Vật lí ở trường THPT.

Hy vọng giải pháp nêu ra ở trên sẽ được các đồng nghiệp trao đổi để chúng ta có được cách thức uốn nắn học sinh yếu kém được ngày càng tốt hơn.

Nguồn Trường THPT Tân Phú – tỉnh Hậu Giang