Top #10 Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Cần Đáp Ứng Yêu Cầu Cơ Bản Nào Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Một Số Yêu Cầu Cơ Bản Về Phương Pháp Học Tập, Nghiên Cứu

--- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Học Tập Và Nghiên Cứu Khoa Học Cho Sinh Viên Vấn Đề Nghiên Cứu Khoa Học
  • Cách Học Giỏi Văn Lớp 8
  • Phương Pháp Học Tốt Môn Văn Lớp 8
  • Chuyên Đề Phương Pháp Dạy Học Môn Chính Trị Trong Trường Tccn Thaoluanppctri Doc
  • Bí Kíp Tự Học Ở Nhà
  • Quá trình học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin cần thực hiện được một số yêu cầu cơ bản sau đây:

    Thứ nhất, những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin được thể hiện trong những bối cảnh cụ thể khác nhau, nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể khác nhau nên hình thức thể hiện tư tưởng cũng khác nhau. Vì vậy, học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chú nghĩa Mác – Lênin cần phải hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; chống xu hướng kinh viện, giáo điều.

    Thứ hai, sự hình thành, phát triển những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin là một quá trình. Trong quá trình ấy, những luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung, hỗ trợ nhau. Vì vậy, học tập, nghiên cứu mỗi luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin phải đặt chúng trong mối liên hệ với các luận điểm khác, ở các bộ phận cấu thành khác để thấy được sự thống nhất trong tính da dạng và nhất quán của mỗi tư tưởng nói riêng, của toàn bộ chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung.

    Thứ ba, học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin để hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, phải gắn những luận điểm của chũ nghĩa Mác – Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn thời đại để thấy sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện trong từng giai đoạn lịch sử.

    Thứ tư, học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin để đáp ứng những yêu cầu của con người Việt Nam trong giai đoạn mới. Vì vậy, quá trình học tập, nghiên cứu đồng thời cũng phải là quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu dưỡng và rèn luyện để từng bước hoàn thiện mình trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống cộng đồng xã hội.

    Thứ năm, chủ nghĩa Mác – Lênin không phải là hệ thống lý luận khép kín nhất thành bất biến, mà trái lại đó là hệ thống lý luận không ngừng phát triển trên cơ sở phát triển của thực tiễn thời đại. Vì vậy, quá trình học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin đồng thời cùng phải là quá trình tổng kết, đúc kết kinh nghiệm để góp phần phát triển tính khoa học và tính nhân văn vốn có của nó; mặt khác, việc học tập, nghiên cứu các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng cần phải đặt nó trong lịch sử phát triển tư tưởng nhân loại bởi nó là sự kế thừa và phát triển tinh hoa của lịch sử đó.

    Một số yêu cầu trên thống nhất hữu cơ với nhau, giúp cho quá trình học tậ, nghiên cứu không chỉ kế thừa được tinh hoa của chủ nghĩa Mác – Lênin mà quan trọng hơn, nó giúp người học tập, nghiên cứu vận dụng được tinh hoa ấy trong các hoạt động nhận thức và thực tiễn.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Kích Thích Hứng Thú Học Tập Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Trung Học Cơ Sở
  • Phương Pháp Học Tốt Môn Địa Lí Bạn Nên Biết
  • Học Tập Lý Luận Chính Trị Không Chỉ Là Nhiệm Vụ, Mà Còn Là Nghĩa Vụ Của Cán Bộ Trẻ
  • Làm Thế Nào Để Học Tập Lí Luận Chính Trị
  • Làm Thế Nào Để Đạt Kết Quả Cao Nhất Trong Học Tập?
  • Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Các Dạng Hình Tứ Giác
  • Tập Huấn Văn:phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Chuyen De Ve Lai Mach Dien Và Tính Giá Trị Điện Trở
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Phù Hợp, Hiệu Quả Trong Nhà Trường Thcs (Tài Liệu Tham Khảo)
  • Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    A. Đặt vấn đê

    I. Lí do chọn đê tài

    Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã đặt ra từ rất lâu và được

    sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà giáo dục, nhất là của các thầy giáo, cô giáo.

    Nhưng việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học trong dạy học không phải là

    việc dễ dàng thực hiện và đạt được hiệu quả ngay từ đầu. Trước đây, chúng ta

    dạy học vẫn theo phương pháp truyền thống với quan niệm : học là quá trình

    tiếp thụ và lĩnh hội qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng, tư tưởng tình cảm.

    Giáo viên(GV) luôn là người truyền thụ toàn bộ những kiến thức, những hiểu

    biết của mình về một vấn đề nào đó; còn học sinh(HS) là người ghi nhớ, tiếp thu

    mọi lời giảng của GV. Chính vì vậy mà phương pháp đó dẫn đến chỗ HS là

    người thụ động và qúa trình nhận thức mang tính chất áp đặt, một chiều. HS học

    để đối phó với thi cử và sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên

    hoặc ít dùng đến. Hiện nay, phương pháp dạy học truyền thống không còn thích

    hợp với mục tiêu giáo dục – đào tạo, hơn thế việc đổi mới chương trình sách

    giáo khoa càng cần phải đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học.

    Bởi chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy học chúng ta mới có thể tạo được

    sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng

    động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên

    thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.

    Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong

    Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII(1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa

    VIII(1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005). Điều 28.2 trong Luật

    giáo dục đã ghi : ” Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,

    tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp

    học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến

    thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập

    cho học sinh ” . Có thể nói cốt lõi của việc đổi mới dạy học là hướng tới hoạt

    động học tập chủ động; chống lại thói quen học tập thụ động.

    Tuy nhiên, đối với mỗi môn học trong nhà trường tùy theo đặc trưng bộ

    môn mà vận dụng việc đổi mới phương pháp sao cho thích hợp, linh hoạt để đạt

    mục tiêu cần đạt . Đối với môn Ngữ văn, việc vận dụng phương pháp dạy học

    mới vẫn còn hạn chế . GV chỉ say mê khám phá văn bản và khổ công tìm tòi

    cách thức lên lớp sao cho hấp dẫn mà không chú ý HS bài đó như thế nào ? Mục

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    1

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    đích của giờ dạy học văn theo quan điểm, phương pháp mới không phải người

    GV là người truyền thụ lời giảng của mình một cách chủ quan mà mục đích cao

    nhất là làm sao để chủ thể HS dưới sự hướng dẫn của GV chủ động khám phá,

    tiếp nhận tác phẩm và đồng thời bộc lộ được tình cảm bản thân.

    Trong quá trình giảng dạy văn học, có nhiều phương pháp dạy học tích

    cực được áp dụng và mỗi phương pháp đều được thử thách qua thời gian. Chẳng

    hạn phương pháp thuyết trình; phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết

    vấn đề ; phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ; dạy học theo dự án …

    Kết quả của mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng. Một

    trong những phương pháp dạy học tích cực đưa lại kết quả cao trong học tập,

    phát huy được tính chủ thể của HS là phương pháp vấn đáp.

    Trong phạm vi bài tập nghiên cứu khoa học này, tôi đi sâu tìm hiểu phương

    pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn ở khối trung học phổ thông. Tôi đã

    quyết định chọn đề tài này để trước hết là bản thân có điều kiện khái quát nâng

    cao chuyên môn sau thời gian nghiên cứu áp dụng và qua đây mong được chia

    sẻ với đồng nghiệp cùng quan tâm để góp phần nâng cao chất lượng chuyên

    môn và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong phạm vi nhà trường

    THPT.

    II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

    – Dựa trên một số lí luận cơ bản về triết học, về tâm lí học, về việc đổi

    mới phương pháp dạy học văn … để đề ra một số biện pháp trong phương pháp

    dạy học vấn đáp .

    – Nhằm mục đích nâng cao chất lượng của giờ học, phát huy tính tích cực,

    tự giác chủ động, sáng tạo của HS; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ

    năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng

    diễn đạt một vấn đề, gây hứng thú học tập cho HS.

    IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

    Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi đề xuất một số nhiệm vụ của đề

    tài:

    + Xác định cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của dạy học vấn đáp (đàm

    thoại) .

    + Đề xuất một số biện pháp dạy học vấn đáp trong môn Ngữ Văn.

    + Thực hiện một số công việc trong phương pháp vấn đáp.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    2

    B. Nội dung

    CHƯƠNG I : NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP

    VẤN ĐÁP TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN.

    1. Cơ sở tâm lí học.

    Nhận thức thế giới xung quanh, tìm hiểu những sự vật, hiện tượng xảy ra

    xung quanh mình là một nhu cầu không thể thiếu của con người. Đây là một

    trong ba mặt cơ bản của đời sống, của tâm lí con người (Nhận thức – Tình cảm

    – Hành động). Nhờ có nhận thức mà chúng ta không chỉ phản ánh hiện thực

    xung quanh mình mà cả hiện thực của bản thân nữa, không chỉ phản ánh cái bên

    ngoài, cái hiện tại mà cả cái bên trong, cái sẽ tới và các quy luật phát triển của

    hiện thực.

    Mục tiêu của nhà trường phổ thông nói chung và mục tiêu của trường

    THPT nói riêng là hình thành nhân cách của HS, phát triển toàn diện và trưởng

    thành về mặt xã hội của HS. Trong nhà trường phổ thông, HS được giáo dục

    bằng nhiều phương pháp, nhiều ngành học… trong đó bộ môn Ngữ văn được coi

    là một môn học chủ công trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách.

    Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lí cá nhân quy định

    giá trị xã hội và hành vi của họ. HS là một nhân cách trong chừng mực nào đó

    mà các phẩm chất xã hội ở đó được phát triển để nó trở thành chủ thể có ý thức

    đối với mọi hoạt động công ích của mình. Như vậy có nghĩa là một trong những

    con đường để hình thành và phát triển nhân cách là con đường hoạt động của

    chính HS. Con đường tác động có mục đích tự giác của xã hội bằng giáo dục

    đến HS sẽ trở nên vô hiệu hoá nếu như HS không tiếp nhận, không hưởng ứng

    những tác động đó, không trực tiếp tham gia vào các hoạt động nhằm phát triển

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    3

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    tâm lí, hình thành nhân cách. Chính vì vậy qua giờ học vấn vận dụng phương

    pháp vấn đáp, HS có dịp bù đắp những tri thức mà mình chưa được biết, chưa

    hiểu hoặc hiểu chưa rõ, để tự mình tiếp nhận và hoàn thiện mình về tư tưởng,

    đạo đức và hành vi trong học tập và trong cuộc sống.

    2. Cơ sở nhận thức.

    Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người nhưng sự

    phản ánh này không phải giản đơn, thụ động mà là quá trình biện chứng dựa trên

    hoạt động tích cực của chủ thể trong quan hệ đối với khách thể. Nhưng không

    phải con người nào cũng đều là chủ thể của nhận thức. Con người trở thành chủ

    thể khi nó tham gia vào hoạt động xã hội nhằm biến đổi và nhận thức khách thể.

    Trong nhà trường HS chính là chủ thể của hoạt động nhận thức; còn khách thể

    chính là những tri thức kinh nghiệm của nền văn minh nhân loại. Theo cơ sở

    triết học: con người tự làm ra mình bằng chính hoạt động của mình nhưng cái

    quan trọng là làm ra cái đó như thế nào và bằng cách nào?

    Đối với môn Ngữ văn HS đến trường để học tập thực chất là để tiếp nhận,

    chiếm lĩnh những giá trị của tác phẩm văn chương. Vì mục đích ấy, HS tự đọc

    lấy tác phẩm, tự chiếm lĩnh lấy tác phẩm, nắm bắt được cái hồn của tác phẩm.

    GV chỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo cho HS những hướng tiếp cận tác phẩm sao

    cho có hiệu quả nhất, HS từ đó mà tự chiếm lĩnh tác phẩm. Đồng thời cùng với

    sự chiếm lĩnh tác phẩm ấy, HS dưới những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt của GV mà

    trình bày những suy nghĩ, cách hiểu của mình về vấn đề đặt ra trong tác phẩm.

    Chính vì những vấn đề đó mà rất cần có một giờ học vấn đáp để qua giờ

    học ấy HS có thể khẳng định họ thật sự là những chủ thể sáng tạo trong quá

    trình nhận thức bằng chính hoạt động của mình.

    3. Cơ sở văn học.

    Nếu hình tượng hội hoạ được xây dựng bằng đường nét, màu sắc; âm

    nhạc được xây dựng bằng nhịp điệu, giai điệu, âm thanh…thì hình tượng văn học

    được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ. Do lấy ngôn từ làm chất liệu cho nên

    hình tượng văn học chỉ tác động vào trí tuệ, tâm hồn, tình cảm gợi nên sự liên

    tưởng và tưởng tượng trong tâm trí người đọc. Nhờ liên tưởng và tưởng tượng

    trên những nét tương đồng giữa thế giới âm thanh và hình ảnh, giữa thế giới hữu

    hình và thế giới vô hình trở thành hiện hình qua phương tiện ngôn ngữ.

    Thực chất của vấn đề phát huy chủ thể HS trong giờ Ngữ văn là khêu gợi,

    kích thích và nuôi dưỡng, phát triển ở HS nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    4

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    thức cái mới qua hình tượng, tính cách nhân vật. Và cũng qua đó việc học tác

    phẩm văn học thực sự trở thành một hoạt động cá thể hoá sâu sắc đi từ nhận

    thức khách quan hình tượng đến chỗ tự nhận thức; do đó có khát vọng sống và

    hành động theo nhân vật lí tưởng. Chính vì vậy trong giờ học văn rất cần có sự

    trao đổi giữa GV và HS, giữa HS và GV để qua giờ học ấy thu được kết quả cao

    hơn và cũng qua giờ học ấy HS có dịp bộc lộ mình, tự khẳng định mình, đồng

    thời GV cũng có cơ hội để nắm được trình độ tiếp nhận của HS.

    CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI

    Qua quá trình dạy học, kinh nghiệm của bản thân, quá trình dự giờ của đồng

    nghiệp , tôi nhân thấy :

    – Một số GV chủ yếu vẫn dạy theo phương pháp dạy học truyền thống:

    GV sử dụng các phương pháp diễn giảng truyền thụ toàn bộ những kiến thức

    một chiều ; còn HS là người ghi nhớ, tiếp thu mọi lời giảng của GV. Giờ học trở

    nên khô khan, trầm, thậm chí căng thẳng, HS tham gia học bài một cách chiếu

    lệ. Rõ ràng điều đó dẫn đến chất lượng, hiệu quả giờ học không cao.

    – Còn một số GV có vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong

    giờ học song chưa hiệu quả, còn hình thức. Chẳng hạn vận dụng phương pháp

    vấn đáp : GV đặt ra những câu hỏi yêu cầu HS trả lời song chưa tạo ra được

    không khí tranh luận sôi nổi giữa HS với nhau hay giữa HS với GV.

    – Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là một số GV nhận

    thức chưa rõ bản chất của việc dạy học văn. Dạy học văn trong nhà trường

    không đơn thuần là giảng văn, phân tích văn học mà là dạy đọc văn bản, đó là

    quá trình đối thoại giữa HS, GV và tác giả đằng sau văn bản . Đó là hình thức

    giao tiếp, đối thoại vượt thời gian, không gian, không phải là truyền thụ một

    chiều. Bên cạnh đó một số GV vẫn còn nhiều ngộ nhận về lí thuyết và lúng túng

    trong biện pháp thực thi việc cải cách, đổi mới phương pháp dạy học vấn đáp .

    Chẳng hạn các phương pháp đổi mới là gì ? Khi đổi mới phương pháp dạy học

    thì vai trò của người thầy có bị hạ thấp không ? Câu hỏi như thế nào là đổi mới?

    Bao nhiêu câu hỏi là vừa ?…..

    – Ngoài ra, GV chuẩn bị bài dạy chưa thật kĩ, đặc biệt là chưa xây dựng

    được hế thống câu hỏi phù hợp với bài dạy, chưa chú ý tới việc chuẩn bị bài học

    của HS, chưa phân loại đối tượng HS trong từng lớp … GV chưa ý thức rõ về

    dạng câu hỏi, mức độ yêu cầu của câu hỏi dẫn đến khâu tổ chức dạy học tìm

    hiểu bài học thiếu tính khoa học, tình trạng GV hỏi một đằng HS trả lời một nẻo

    hoặc trả lời không đúng trọng tâm yêu cầu.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    5

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    Chính vì vậy, vần đề vận dụng đổi mới phương pháp dạy và học văn càng

    được quan tâm hơn bao giờ hết đặc biệt là phương pháp vấn đáp. Tuy nhiên,

    việc đổi mới phương pháp dạy học văn không có nghĩa là gạt bỏ các phương

    pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy

    học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp các phương pháp hiện đại.

    CHƯƠNG III: NỘI DUNG DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).

    I. QUAN NIỆM VỀ DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).

    1. Thế nào là phương pháp vấn đáp?

    Phương pháp vấn đáp là phương pháp trong đó GV đặt ra các câu hỏi để

    HS trả lời , hoặc tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội

    dung bài học. Phương pháp vấn đáp, đàm thoại khác với thuyết trình ở chỗ nội

    dung cần truyền thụ không được thể hiện qua lời giảng của người dạy mà được

    thực hiện bởi hệ thống câu trả lời của người học, dưới sự gợi mở bởi các câu hỏi

    của người dạy đề xuất. Các câu hỏi này được tổ chức thành một hệ thống phù

    hợp với nội dung bài học, đối tượng HS.

    2. Mục đích và yêu cầu của phương pháp vấn đáp

    Mục đích của phương pháp vấn đáp là nâng cao chất lượng giờ học bằng

    cách tăng cường hình thức hỏi đáp, đàm thoại giữa GV và HS, rèn cho HS lĩnh

    tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể. Muốn thực hiện điều đó, đòi

    hỏi GV phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp

    dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò chức năng của từng câu hỏi, mục đích

    hỏi , các yếu tố kết nối hệ thống câu hỏi. Câu hỏi phải khơi gợi được hứng thú

    tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách chu đáo và thực sự

    khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc biệt là không có tác

    dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi không cần nhiều

    nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống

    buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình. Ngoài ra

    người GV cần dự án các phương án trả lời của HS để có thể thay đổi hình thức,

    cách thức mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ tránh đơn điệu nhàm

    chán, nặng nề bế tắc; tạo hứng thú học tập cho HS và tăng hấp dẫn của giờ học .

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    6

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    3. Các nhân vật tham gia trong giờ học vấn đáp.

    a. Giáo viên trong giờ học vấn đáp.

    Thực tế cho thấy, trong một thời gian dài trước khi cải cách giáo dục người

    ta đã từng quan niệm học văn là một quá trình thầy đọc, giảng, cảm thụ còn trò

    chỉ là những cỗ máy ghi chép. Theo cách dạy học truyền thống, người giáo viên

    trong giờ học là người quyết định một cách toàn diện chất lượng dạy học và

    được coi là chủ thể của hoạt động dạy. Thế nhưng, trước yêu cầu ngày càng cao

    của xã hội và sự bùng nổ về tri thức, thông tin đã đặt người học trước một nhiệm

    vụ mới khó khăn hơn. Bản chất của sự học ngày nay đã thay đổi. Học bao giờ

    cũng phải đi đôi với hành “học và hành phải kết hợp chặt chẽ…phải gắn liền

    với thực tế những đòi hỏi của dân tộc, xã hội” giáo viên không còn đóng vai trò

    đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức,

    hướng dẫn các hoạt động độc lập, hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm

    lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo

    yêu cầu của chương trình. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư công

    sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mời có thể thực hiện bài

    lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong

    các hoạt động tìm tòi tranh luận của HS. GV phải có trình độ chuyên môn sâu,

    rộng, có trình độ sư phạm mới có thể tổ chức hướng dẫn các hoạt động của HS.

    Với giờ đọc – hiểu văn bản Ngữ văn, GV là người điều khiển, hướng dẫn để

    HS tự khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. Người GV phải chuẩn bị kĩ nội

    dung bài học như xác định rõ mục tiêu bài học, tiến trình tổ chức dạy học . Đặc

    biệt là quá trình tổ chức hướng dẫn dạy – học bài mới. GV phải xây đựng được

    một hệ thống câu hỏi vấn đáp phù hợp với nội dung bài học. Câu hỏi phải khơi

    gợi được hứng thú tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách

    chu đáo và thực sự khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc

    biệt là không có tác dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi

    không cần nhiều nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt,

    có tình huống buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình.

    Có thể nói xây dựng được hệ thống câu hỏi vấn đáp có chất lượng có tác dụng

    gợi dẫn HS thâm nhập khám phá tác phẩm là một nghệ thuật đòi hỏi sự công

    phu và tài năng thực sự của GV.

    Theo kinh nghiệm của tôi, đối với mỗi câu hỏi, người GV phải xác định được

    mức độ, mục đích, nội dung và hình thức câu hỏi, cũng như tính hệ thống, dẫn

    dắt của môĩ câu hỏi. Cũng phải lưu ý một điều là tùy vào tình huống thực tế, vào

    đối tượng HS mà người GV có thể thay câu hỏi hoặc bổ sung các câu hỏi cho

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    7

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    8

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VẤN ĐÁP

    – Trong giờ học văn, GV phải là người điều khiển, hướng dẫn để HS tự

    khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. HS là một chủ thể trực tiếp tiếp nhận,

    chiếm lĩnh tác phẩm. HS có điều kiện phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn

    mà lâu nay bản thân các em chưa khám phá, bộc lộ hoặc còn rụt rè, lúng túng…

    Từ đó, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi diễn đạt một vấn đề trước tập thể.

    – GV cần phải nắm vững bản chất của phương pháp vấn đáp, đặc biệt là

    phải phân biệt được các loại, mức độ vấn đáp để từ đó xây dựng hệ thống câu

    hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, khơi gợi được hứng thú

    tham gia hoạt động của HS, phù hợp với nội dung bài học .

    Qua tài liệu tham khảo và kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy có ba

    phương pháp (mức độ) vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích chứng

    minh và vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo

    II.1. Vấn đáp tái hiện : Đây là phương pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu

    HS chỉ cần nhớ lại và tái hiện nội dung bài học. Đây là dạng vấn đáp ở mức độ

    bình thường, không đòi hỏi HS phải tư duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc

    dựa vào văn bản văn học.

    Ví dụ 1: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của đoạn trích Việt Bắc, có

    thể đặt câu hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của bài ? HS dựa vào tiểu dẫn trả lời:

    Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7- 1954, Hiệp định Giơ-nevơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải

    phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới . Tháng 10- 1954, những người

    kháng chiến từ căn cứ miền núi về miền xuôi, nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố

    Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    Ví dụ 2: Khi hướng dẫn HS tìm hiểu những phát hiện của người nghệ sĩ

    nhiếp ảnh trongvăn bản Chiếc thuyền ngoài xa(Nguyễn Minh Châu) , GV đặt

    câu hỏi vấn đáp tái hiện : Tuy nhiên, ngay khi tâm hồn bay bổng trong những

    cảm xúc thẫm mỹ, đang tận hưởng cái khoảng khắc trong ngần của tâm hồn thì

    người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã kinh ngạc phát hiện ra điều gì tiếp theo ngay sau

    bức tranh ? Tâm trạng người nghệ sĩ khi đó như thế nào? .

    HS tái hiện : Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ là một người

    đàn bà xấu xí, mệt mỏi ; một gã đàn ông to lớn, dữ dằn ; một cảnh tượng tàn

    nhẫn: gã chồng đánh đập vợ một cách thô bạo … đứa con thương mẹ đã đánh lại

    cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai của bố ngã dúi xuống cát…Chứng kiến cảnh

    tượng đó người nghệ sĩ Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ. Người nghệ sĩ như chết

    lặng, không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    9

    N ăm học: 2012- 2013

    10

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    11

    N ăm học: 2012- 2013

    12

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    13

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    C. KẾT LUẬN

    Áp dụng phương pháp vấn đáp (đàm thoại) trong dạy học môn Văn ở

    trường phổ thông là một việc làm cần thiết để nhằm nâng cao chất lượng HS.

    Phương pháp dạy học nào thì cũng có mặt tích cực và hạn chế của nó. Nhưng

    nói chung theo phương pháp dạy học mới hiện nay lấy HS làm trung tâm thì

    việc dạy học theo phương pháp vấn đáp mang lại thành công nhiều hơn.

    Việc áp dụng phương pháp vấn đáp vào trong dạy học bộ môn Ngữ Văn

    có tác dụng rất lớn trong việc phát triển trí tuệ, tâm hồn của HS, rèn luyện kỹ

    năng, phát huy sáng tạo của HS, phát huy hướng tìm tòi, phát hiện trong quá

    trình học của HS. Nhưng với phương pháp này đôi khi cũng có hạn chế đối với

    các lớp HS yếu, dễ gây mất thời gian.

    Mỗi phương pháp đều có thế mạnh riêng. Người GV là người tổ chức

    hoạt động dạy và học, vì vậy phải biết tận dụng sức mạnh của mỗi phương pháp

    để từ đó đạt hiệu quả cao trong học tập và giảng dạy. Có người đã từng nói: Từ

    trong nước chảy ra sẽ là nước, từ trong máu chảy ra sẽ là máu. Người GV phải

    biết xuất phát từ cái tâm, sự nhiệt huyết của mình để làm tròn sứ mệnh thiêng

    liêng kết nối trái tim với trái tim. Trái tim sẽ mách bảo cách dạy sao cho mỗi

    ngày, mỗi tiết thật sự bổ ích và hấp dẫn.

    D. Ý KIẾN ĐỀ NGHỊ VẬN DỤNG KINH NGHIỆM.

    Thực hiện quá trình đổi mới phương pháp dạy học là công việc phức

    tạp, đòi hỏi nhiều công sức tâm huyết của mỗi GV chúng ta. Trong quá trình

    thực hiện, đổi mới đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ giữa nhiều cấp độ. Chính

    vì vậy, tôi xin nêu một vài kiến nghị đề nghị tới các cấp như sau:

    – Sở giáo dục nên tiếp tục tổ chức các đợt học tập chuyên đề và tập trung

    nhiều hơn đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và tạo điều kiện để các cụm

    tổ chức trao đổi kinh nghiệm về phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng

    và các bộ môn khác trong nhà trường nói chung.

    – Ban chuyên môn nhà trường tiếp tục tăng cường kiểm tra dự giờ thường

    xuyên để động viên, thúc đẩy GV đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất

    lượng giáo dục.

    – Tổ nhóm chuyên môn và mỗi người thầy chúng ta cần quan tâm đúng

    mức tới công việc vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy học, không chủ quan

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    14

    Lê Thị Hoa

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    15

    --- Bài cũ hơn ---

  • Uu Diem Va Nhuoc Diem 5 Pp
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn
  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Phương Pháp Tự Học Kế Toán Cơ Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • 12 Nguyên Tắc Kế Toán Cơ Bản Quan Trọng Trong Hạch Toán Kế Toán
  • Nợ Có Trong Kế Toán Là Gì? Phương Pháp Ghi Sổ Kép Trong Kế Toán
  • Phương Pháp Ghi Sổ Cái ” Kế Toán Lê Ánh
  • Cách Ghi Sổ Kế Toán Theo Phương Pháp Chứng Từ Ghi Sổ
  • Kế Toán Bán Hàng (Tiêu Thụ Thành Phẩm) Theo Phương Thức Tiêu Thụ Trực Tiếp
  • Có rất nhiều bạn mong muốn tìm hiểu về nghiệp vụ kế toán, muốn củng cố kiến thức, kỹ năng về kế toán để phục vụ công việc nhưng lại không có nhiều thời gian để đến trung tâm học trực tiếp., thường chọn phương pháp tự học kế toán tại nhà .

    Tuy nhiên việc tự học kế toán không dễ dàng, bạn cần phải có lộ trình rõ ràng, và cần phải có sự kiên nhẫn, và thời gian. Từ kinh nghiệm đào tạo kế toán trong nhiều năm, trung tâm kế toán Lê Ánh sẽ hướng dẫn bạn những cách tự học kế toán cơ bản hiệu quả nhất .

    Nhiều bạn khi bắt đầu học kế toán rất hay đốt cháy giai đoạn muốn học luôn nghiệp vụ thực hành, tìm hiểu chứng từ kế toán học theo hình thức học tắt mà chưa tìm hiểu kỹ về kiến thức nguyên lý kế toán nên thường hay bị vấp, không hiểu chỉ học và làm kế toán theo kiểu quen tay mà chưa hiểu rõ bản chất. Đây cũng là lý do vì sao những người có 2 năm kinh nghiệm làm kế toán kho, thủ quỹ nhưng không biết cách định khoản nghiệp vụ, làm báo cáo cáo tài chính hay quyết toán thuế….

    Vậy nếu bạn mới bắt đầu học kế toán nên học những gì, kế toán có thật sự khó như bạn nghĩ hay chỉ đơn giản là biết cách định khoản viết hóa đơn chứng từ là có thể làm được việc.

    Tiếp theo, bạn sẽ tự học học kế tóan trên sách vở, qua những khóa học online hay nhờ người hướng dẫn. Phần lớn những ai từng học kế toán đều bỏ cuộc do không thể tự học được một mình vì thiếu người hướng dẫn và giáo trình, phương pháp học hiêu quả.

    Bạn Phương Anh chia sẻ trên diễn đàn chúng tôi

    ” Em thấy tự học kế toán khó quá anh/ chị ạ, ngồi học thuộc cách định khoản sổ sách kế toán, hệ thông tài khoản theo TT200 em đã mệt rồi lại còn chia ra từng mảng số sách, kế toán theo quý theo tháng.Nhập liệu chứng từ… em thật sự nản, không biết mình có làm được nghề này chưa nữa, có ai muốn bỏ giữa chừng như em không?” Khóa học kế toán cho người mới bắt đầu

    Đây là thực tế chung mà của rất nhiều người học kế toán đang gặp phải nếu bạn không có phương pháp học hiệu quả thì quá trình học rất khó đạt được hiệu quả.

    Tuy nhiên, để học kế toán hiệu quả bạn cần xác định được nhu cầu học kế toán thực tế của mình như thế nào, trước khi quyết định học kế toán như thế nào hiệu quả nhất.

    Kế toán là một nghành có nhiều lĩnh vực và đặc thù khác nhau vì vậy bạn nên xác định rõ mục tiêu cần học gì: kế toán tổng hợp, kế toán bán hàng, xây dựng hay kế toán thuế…vì khi đi làm bạn không thể kiểm soát hết được toàn bộ nghiệp vụ và quy trình làm kế toán. Nếu mới băt đầu tìm hiểu nghiệp vụ kế toán thì tốt nhất nên tìm hiểu tổng quan trước khi quyết định học theo mục tiêu định hướng công việc của mình là học kế toán của bạn để quản lý công việc hay mong muốn đổi nghề làm kế toán thực hành.

    Lớp học kế toán thực hành tại trung tâm Lê Ánh

    Khi xác đinh được nhu cầu học tập của mình rồi bạn sẽ xác định được phương pháp tự học hiệu quả, những phần kiến thức nào có thể tự học, những phần nào cần được hướng dẫn từ chuyên gia lâu năm, như vậy bạn sẽ tiết kiệm được thời gian và sức lực của mình.Nhiều người học kế toán để xin việc vì không thích công việc ổn định hoặc học kế toán để quản lý công việc kinh doanh của minh, để đạt đươc hiểu quả tốt nhất bạn nên tìm phương pháp tự học kế toán hiệu quả nhất.

    Điều quan trọng khi học kế toán là bạn có thể xác định được cho mình phương pháp học phù hơp nhất nhưng không phải cách học nào cũng hợp lý và ai cũng đủ kiên trì để theo đuổi tới cùng nếu thiếu người hướng dẫn.

    Để việc học tập hiệu quả hãy xác định rõ phương pháp học tkế toán cụ thể:

    Nếu bạn không thể tập trung hay thiếu tính kiễn nhẫn…thì rất khó để tự học kế toán hiệu quả. Thay vì tự học kế toán bạn có thể nhờ những người có kinh nghiệm làm kế toán hướng dẫn. Đây cũng là lý do trung tâm kế toán Lê Ánh mở các lớp học kế toán tổng hợp thực hành, học việc với kế toán trưởng trên 10 năm kinh nghiệm.

    Hình ảnh khóa học kế toán tổng hợp thực hành tại Nguyễn Trãi, Q Thanh xuân, TP Hà Nội

    Hình ảnh phản hồi học viên khóa học kế toán tổng hợp thực hành dành cho người mới bắt đầu

    Tham gia học tập tại trung tâm bạn sẽ được giảng viên là kế toán trưởng trực tiếp hướng dẫn, cầm tay chỉ việc các nghiệp vụ đến khi thành thạo.

    Các khóa học kế toán thực hành tai trung tâm Lê Ánh luôn nhận được phả hồi tích cực từ học viên về nguồn giảng viên chất lượng ( 100% đều là kế toán trưởng trên 10 năm kinh nghiệm làm việc thực tế). Nếu bạn mới bắt đầu tìm hiểu về kế toán có thể đăng ký khóa học kế toán tổng hợp cho người mới bắt đầu. Khi đăng ký khóa học kế toán thực hành bạn sẽ được tặng thêm khóa học nguyên lý kế toán cơ bản, nhằm tạo nền và củng cố lại kiến thức nghiệp vụ cho bạn trước khi học nghiệp vụ kế toán thực hành với kế toán trưởng.

    ​Bạn Trần Minh Tâm, học viên lớp K57 kế toán tổng hợp tại trung tâm Lê Ánh chi nhánh Hà Nội sau khi học xong bạn Tâm cho biết:

    “Trước khi học ở trung tâm mình đã tự học kế toán ở nhà nhưng không hiệu quả vì không có ai hướng dẫn, mà cũng không biết nên bắt đầu học từ đâu vì càng học càng thấy kiến thực rất rộng. Khi học kế toán ở trung tâm mình được học với giảng viên mình biết rõ hơn về kế toán rất nhiều. Bây giờ nhìn sổ sách mình đã biết cách phân loại, định khoản nghiệp vụ, làm được báo cáo tài chính, quyết toán thuế…mình thấy chương trình học hiệu quả”

    Ngoài ra, lớp học có chính sách hỗ trợ học viên:

    Phản hồi học viên tại lớp học kế toán tổng hợp thực hành

    Bạn ở Hà Nội và tp Hồ Chí Minh có thể đăng ký học thử những khóa kế toán cở bản cho người mới bắt đầu theo địa chỉ:

    Bên cạnh các khóa học kế toán, Lê Ánh còn khai giảng các khóa học xuất nhập khẩu thực tế ở tất cả cơ sở của trung tâm tại Hà Nội và TPHCM, nếu bạn muốn biết thêm thông tin chi tiết về các khóa học này, vui lòng truy cập trang web: chúng tôi

    Chuyên cung cấp các Khóa học kế toán tổng hợp thực hành và làm dịch vụ kế toán thuế trọn gói tốt nhất thị trường

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Định Khoản Kế Toán Vận Tải
  • Hạch Toán Kế Toán Là Gì? Các Kiến Thức Căn Bản Nhất Về Hạch Toán
  • Phương Pháp Phản Ánh Vào Tài Khoản Kế Toán
  • Chứng Từ Kế Toán Là Gì Và Phương Pháp Chứng Từ Kế Toán
  • Cách Hạch Toán Thuế Xuất, Nhập Khẩu
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Kể Chuyện Học Sinh Tiểu Học
  • Quy Trình Dạy Phân Môn Kể Chuyện Lớp 5 Theo Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Kể Chuyện
  • Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Khám Phá Trong Dạy Học Phép Biến Hình Lớp 11 Trung Học Phổ Thông ( Ban Nâng Cao)
  • Sự Kết Hợp Đa Dạng Các Phương Pháp Trong Giảng Dạy
  • Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực: Kĩ Thuật Kwl
  • vc

    CHÀO MỪNG QUÝ THẦY, CÔ ĐẾN THĂM LỚP

    CHUYÊN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC

    BÁO CÁO VIÊN

    HÀ VĂN GIAO

    vc

    I. MỤC TIÊU MÔN TOÁN TIỂU HỌC:

    1.Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản.

    2. Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống.

    3. Góp phần bước đầu phát triển tư duy, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và các giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập Toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.

    vc

    II. Kiến thức kỹ năng môn Toán tiểu học.

    Lớp 1:

    + Các số đến 100 (đọc, viết, so sánh các số trong phạm vi 100). Cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100.

    + Đọc, viết cộng trừ các số theo đơn vị đo xăngtimet, đọc giờ đúng, có hiểu biết về tuần lễ, ngày trong tuần.

    + Biết giải bài toán có 1 phép tính cộng hoặc trừ.

    + Nhận dạng hình vuông, hình tròn, hình tam giác.

    vc

    2. Lớp 2:

    + Đọc, viết, so sánh các số trong phạm vi 1000. Cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100. khái niệm ban đầu về nhân chia, bảng nhân chia 2, 3,3,4, 5. Tìm giá trị biểu thức có đến phép tính (cộng, trừ, nhân, chia).

    + Giới thiệu về lít, kg, tiền. Mở rộng đơn vị đo độ dài đến mm, dm, km.

    + Đường gấp khúc, tứ giác, hình chữ nhật.

    + Giải bài toán có 1 phép tính.

    vc

    3. Một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Toán ở tiểu học.

    Dạy học theo nhóm trong môn toán:

    a.1 Những đặc điểm của dạy học theo nhóm.

    + Thế nào là dạy học theo nhóm.

    + Việc tổ chức học tập theo nhóm góp phần hình thành và phát triển năng lực theo nhóm gồm.

    Kỹ năng

    Thái độ.

    + Ích lợi của việc tổ chức dạy học theo nhóm.

    vc

    a.2 Kỹ năng Qui trình và cách thức dạy học theo nhóm.

    + Qui trình dạy học theo nhóm:

    Tổ chức thành lập các nhóm.

    Đề ra nhiệm vụ.

    Các nhóm thực hiện nhiệm vụ.

    Các đại diện nhóm trình bày kết quả.

    Hoạt động chung cả lớp (nếu cần thiết). Giáo viên chốt các kiến thức mới xuất hiện, đánh giá hoạt động học tập của các nhóm.

    + Kỹ thuật chia nhóm: có nhiều kỹ thuật:

    -ngẫu nhiên

    -cùng sở thích… Bốc thăm..cùng trình độ..

    vc

    d. Hình thức tổ chức trò chơi trong học tập môn Toán.

    d.1 Thế nào là trò chơi học tập?

    d.2 Tác dụng của trò chơi học tập.

    d.3 Những phản ứng tâm lý của Hs khi tham gia trò chơi học tập.

    d.4 Cách tổ chức trò chơi học tập môn Toán.

    4.5 Những yêu cầu để trò chơi học tập đạt hiệu quả cao.

    -Trò chơi phải có mục đích học tập: Trò chơi học tập phải nhằm mục đích học tập gì? củng cố, bổ sung kiến thức gì? (về số, tính toán, giải toán, vẽ, đọc, ứng dụng.) rèn luyện những tố chất nào?

    vc

    -Trò chơi phải được chuẩn bị tốt: Chuẩn bị tốt có nghĩa là phải nắm vững yêu cầu, mục đích giáo dục của trò chơi để hướng mọi hoạt động phục vụ cho mục đích yêu cầu ấy. Phải chuẩn bị tốt các phương tiên (sân bãi, dụng cụ, vật liệu, mẫu vật, đồ chơi.) phục vụ cho trò chơi, phải có kế hoạch được thể hiện ở bài soạn.

    – Trò chơi phải thu hút được nhiều Hs tham gia: Mọi Hs tham gia trò chơi học tập cần:

    . Nhiệt tình, tích cực, hào hứng..

    . Nghiêm chỉnh chấp hành luật chơi.

    . Cố gắng vươn lên để “thắng”

    . Luôn giữ vững tinh thần đoàn kết,thân ái dù “thắng” hay “thua”

    * Nếu thấy Hs thờ ơ không tham gia chơi cần xem lại cách tổ chức hoặc trò chơi không hấp dẫn.

    vc

    d.6 Những lưu ý khi tổ chức trò chơi học tập môn Toán.

    -Mỗi trò chơi phải gắn với một bài, chương cụ thể hoặc có những tri thức tổng hợp như giải toán, phối hợp nhiều nội dung tri thức hình học, số, phép toán.

    Dựa vào hình thức, cách chơi và luật chơi của trò chơi có thể thay thế các trò chơi một cách linh hoạt (thay số, thay hình, thay sự tương ứng..), từ sự thay thế linh hoạt tạo cho Gv nhiều cơ hội tổ chức phù hợp với đối tựng Hs của mình.

    Các trò chơi thường tổ chức theo nhóm ở ngay trong lớp học với thời gian từ 5 đến 10 phút. Việc chuẩn bị các trò chơi đơn giản, dễ làm dễ kiếm (que tính, bìa giấy cũ được dán bồi, mẫu dây thép, sợi dây, bông hoa giấy..)

    vc

    BÀI HỌC KẾT THÚC.

    CHÚC CÁC THẦY CÔ VUI KHỎE

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gợi Ý Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Phổ Biến
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Nhóm
  • Một Số Phương Pháp Dạy Học Nhằm Phát Huy Tính Tích Cực, Chủ Động, Sáng Tạo Của Học Sinh Thcs Trong Việc Học Phân Môn Vẽ Tranh
  • Một Số Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Luận Văn: Phương Pháp Dạy Học Trong Dạy Học Hóa Học Lớp 10
  • Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Ở Trường Phổ Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Huy Tính Tích Cực Học Tập Của Người Học Thông Qua Kĩ Thuật “dạy Học Mảnh Ghép”
  • Đổi Mới Nhận Thức Về Người Học Và Phương Pháp Học Ngoại Ngữ (P2)
  • “nghiên Cứu Bài Học “
  • “nghiên Cứu Bài Học” Mô Hình Dạy Và Học Tích Cực
  • Học Tập Ngoài Trời: Chìa Khóa Cho Những Đứa Trẻ Hạnh Phúc, Khỏe Mạnh Và Sáng Tạo
  • Những vấn đề cơ bản trong lí luận dạy học tổng quát1 đã được đề cập trong học phần

    Giáo dục học đại cương dành cho sinh viên năm thứ hai Đại học Sư phạm. Vấn đề là vận

    dụng chúng vào dạy học môn toán như thế nào. Để trả lời câu hỏi này, trước hết phải làm rõ

    đặc thù của dạy học môn toán và sự tương thích với lí luận dạy học nói chung. Điều này sẽ

    được đề cập trong một giáo trình đầy đủ về phương pháp dạy học môn toán mà tác giả đang

    cố gắng hoàn thiện trong vài năm tới. Trong phạm vi tài liệu này, sau khi sơ lược vài khái

    niệm cơ bản, ta sẽ tập trung vào một số vấn đề về phương pháp dạy học toán theo định

    hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh. Sau đó, ta sẽ quan tâm đặc biệt hơn về dạy học

    đặt và giải quyết vấn đề.

    ht tp :// w w w .v nm at h. co m 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM KHOA TỐN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MƠN TỐN Ở TRƯỜNG PHỔ THƠNG (Các tình huống dạy học điển hình) TP.HCM - 2005 ht tp :// w w w .v nm at h. co m 2 LỜI NÓI ĐẦU Cuốn sách này không phải là một tài liệu đầy đủ về lí luận dạy học môn toán (hay Phương pháp dạy học môn toán, như ta vẫn thường gọi). Nó không đề cập hết các nội dung về Phương pháp dạy học môn toán với tư cách là một ngành khoa học hay với tư cách là một bộ môn trong các trường sư phạm. Một giáo trình đầy đủ như vậy đang được tác giả cố gắng hoàn thiện trong một vài năm tới. Tài liệu này chỉ trình bày hai nội dung chủ yếu nhất của chương trình phương pháp dạy học môn toán - phần đại cương, mà tác giả đã giảng dạy cho sinh viên năm thứ ba Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh từ nhiều năm nay. Đó là một số vấn đề học sinh, và đặc biệt là các tình huống điển hình mà ta thường gặp trong thực tế dạy học toán ở trường phổ thông. Việc xuất bản tài liệu này nhắm tới các mục đích chủ yếu sau đây: − Cập nhật một số nội dung kiến thức mới, phù hợp với xu thế phát triển của khoa học giáo dục nói chung và định hướng đổi mới phương pháp ở trường phổ thông nói riêng; hình trong dạy học môn toán ở trường THPT với nhiều ví dụ minh hoạ rút ra từ thực tế dạy học; − Tạo thuận lợi cho việc đổi mới cách dạy và cách học ở trường Đại học Sư phạm, hạn chế tối đa việc ghi chép của sinh viên. Từ đó nó cho phép dành nhiều thời gian hơn cho hoạt động thực hành như soạn bài và tập giảng, xem và trao đổi về giờ giảng của giáo viên phổ thông qua băng đĩa, dự giờ của giáo viên ở trường Trung học phổ thông ngay từ đầu năm thứ ba và chính trong quá trình học tập bộ môn Phương pháp dạy học. Nó cũng tạo nhóm, Tác giả hy vọng việc đào tạo đan xen giữa lí thuyết và thực hành như vậy sẽ cho phép sinh viên nắm vững hơn kiến thức và rèn luyện tốt hơn kĩ năng sư phạm. Hy vọng rằng đây cũng là một tài liệu tham khảo có ích cho giáo viên phổ thông trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Tác giả rất biết ơn và mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc để hoàn thiện dần các nội dung được đề cập trong tài liệu. Tác giả Lê Văn Tiến ht tp :// w w w .v nm at h. co m 3 Phần 1 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN Những vấn đề cơ bản trong lí luận dạy học tổng quát1 đã được đề cập trong học phần Giáo dục học đại cương dành cho sinh viên năm thứ hai Đại học Sư phạm. Vấn đề là vận dụng chúng vào dạy học môn toán như thế nào. Để trả lời câu hỏi này, trước hết phải làm rõ đặc thù của dạy học môn toán và sự tương thích với lí luận dạy học nói chung. Điều này sẽ được đề cập trong một giáo trình đầy đủ về phương pháp dạy học môn toán mà tác giả đang cố gắng hoàn thiện trong vài năm tới. Trong phạm vi tài liệu này, sau khi sơ lược vài khái niệm cơ bản, ta sẽ tập trung vào một số vấn đề về phương pháp dạy học toán theo định hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh. Sau đó, ta sẽ quan tâm đặc biệt hơn về dạy học đặt và giải quyết vấn đề. 1. Khái niệm phương pháp dạy học Thuật ngữ phương pháp, theo tiếng Hy Lạp "Méthodos", có nghĩa là con đường, cách thức thực hiện một kiểu nhiệm vụ nào đó, nhằm đạt tới kết quả ứng với mục đích đã vạch ra. Dạy học là khái niệm chỉ hoạt động chung của người dạy và người học nhằm mục đích làm cho người học lĩnh hội được các kiến thức và kĩ năng, phát triển năng lực trí tuệ và phẩm chất đạo đức, thẩm mĩ, Hoạt động dạy học bao hàm trong nó hoạt động dạy và hoạt động học. Tuy nhiên, hai hoạt động này không diễn ra một cách song song tách rời mà xen lẫn vào nhau, tương tác lẫn nhau. Như vậy, có thể xem dạy học như là một kiểu nhiệm vụ mà giáo viên và học sinh cùng có trách nhiệm hợp tác thực hiện. Phương pháp dạy học là cách thức thực hiện kiểu nhiệm vụ "Dạy học" của cặp người dạy - người học nhằm đạt được các mục đích dạy học xác định. 2. Phân loại tổng thể các phương pháp dạy học Hiện nay có nhiều hệ thống phân loại khác nhau về các phương pháp dạy học, nhưng chưa có một hệ thống phân loại nào thực sự hoàn chỉnh và tối ưu (vả lại xây dựng một hệ thống phân loại như vậy dường như là không thể và không có nhiều ý nghĩa về mặt thực tiễn). Tuy nhiên, dù có những khiếm khuyết của nó, nhưng mỗi hệ thống phân loại lại cho ta thấy rõ hơn một khía cạnh nào đó về các phương pháp dạy học. Nếu dựa vào tiêu chí phân loại là vai trò của giáo viên, vai trò của học sinh và đặc trưng của tri thức cần truyền thụ, ta có một cách phân chia tổng thể các phương pháp dạy học theo ba nhóm: Phương pháp giáo điều, phương pháp truyền thống và phương pháp tích cực. 2.1. Phương pháp giáo điều - Giáo viên: là người có quyền lực tuyệt đối, thông báo, áp đặt kiến thức2 một cách trực 1 Quy trình dạy học, phương pháp dạy học, nguyên tắc dạy học, hình thức tổ chức dạy học, 2 Thực ra, có một sự khác biệt cơ bản giữa Tri thức và Kiến thức (tham khảo lí thuyết chuyển hóa sư phạm (transposition didactique) của Y. Chevallard, 1991). Tuy nhiên, giáo trình này không có sự phân biệt rạch ròi hai khái niệm. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 4 tiếp cho học sinh (theo kiểu giảng đạo). Giáo viên chi phối toàn bộ các mối quan hệ giáo dục. - Học sinh: có vai trò lu mờ, thụ động nghe, học thuộc và ghi nhớ những điều mà giáo viên thông báo mà không cần hiểu "nghĩa" của kiến thức tiếp thu được. - Kiến thức : được cho trực tiếp bởi giáo viên dưới dạng có sẵn đã "phi hoàn cảnh hoá", "phi thời gian hoá" và "phi cá nhân hoá". Nó chỉ mang "nghĩa hình thức". - Giáo viên có quyền lực tuyệt đối trong việc đánh giá học sinh. 2.2. Phương pháp truyền thống a) Đặc trưng tổng quát * Giáo viên : vẫn giữ vị trí trung tâm của hệ thống dạy học, có trách nhiệm truyền đạt kiến thức cho học sinh, cho một vài ví dụ minh họa hay một vài bài toán mẫu, sau đó yêu cầu học sinh áp dụng kiến thức vào việc giải quyết các tình huống tương tự với tình huống mà giáo viên đã trình bày và giải quyết. chính xác, sáng sủa, rõ ràng, logic và dễ hiểu, mà ít quan tâm đến cái mà học sinh cần, cái mà học sinh nghĩ và hoạt động của chính người học. Để cho học sinh có thể hiểu, ghi nhớ và áp dụng tốt kiến thức đã trình bày, giáo viên thường chú ý đảm bảo một số nguyên tắc và phương pháp sư phạm tổng quát, chẳng hạn : đảm bảo tính hệ thống, tính trực quan, tính vừa sức, Từ đó, tăng cường sử dụng các thiết bị dạy học3; coi trọng việc luyện tập và ôn tập ; chú ý đặc biệt đến kĩ thuật đặt câu hỏi, * Học sinh: học theo kiểu bắt chước và thường thụ động tiếp thu. Họ cố gắng ghi nhớ và áp dụng đúng "mẫu" mà giáo viên đã trình bày. Hoạt động đích thực của học sinh (nếu có) chỉ diễn ra khi trả lời một số câu hỏi, làm bài tập áp dụng hay thực hiện một chứng minh định lí, theo yêu cầu của giáo viên. * Kiến thức: vẫn được cho trực tiếp bởi giáo viên và thường là dưới dạng có sẵn đã "phi hoàn cảnh hoá", "phi thời gian hoá", "phi cá nhân hoá" và mang "nghĩa hình thức". * Giáo viên có vai trò gần như tuyệt đối trong việc đánh giá học sinh. b) Các phương pháp dạy học truyền thống Hiện nay, ngay trong bản thân các phương pháp dạy học truyền thống, cũng có nhiều hệ thống phân loại khác nhau, nhưng chúng vẫn chưa hoàn chỉnh và chưa có được sự thống thống phân loại đó. - Nhóm các phương pháp dùng lời : Thuyết trình; Đàm thoại; Làm việc với sách ; - Nhóm các phương pháp trực quan: Biểu diễn vật thật, vật tượng hình hay tượng trưng; Xem băng ghi hình, phim đèn chiếu, - Nhóm các phương pháp thực hành: Luyện tập ; Thực nghiệm, quan sát và dự đoán. Trong thực tế dạy học, các phương pháp thuộc ba nhóm trên thường được sử dụng xen kẽ nhau, lồng vào nhau. 3 Sơ đồ, biểu đồ, vật thật, phim ảnh, phần mềm MS Powerpoint, ht tp :// w w w .v nm at h. co m 5 Ở đây, ta không đi sâu nghiên cứu các phương pháp dạy học truyền thống, vì chúng đã được đề cập khá chi tiết trong bộ môn Giáo dục học. 2.3. Sư phạm tích cực và phương pháp dạy học tích cực Ngay từ đầu thế kỉ 20 các nhà tâm lí hay sư phạm như Dewey, Parkhust, Dalton ở Mỹ, Freinner ở Pháp, Claparède ở Thuyï Sĩ, Montessori ở Ý, Decroly ở Bỉ đã quan niệm rằng : Cần phải đặt học sinh vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy học, phải xuất phát từ lợi ích của học sinh và những điều mà họ quan tâm. Đó chính là thời điểm mà người ta bắt đầu nói về "sư phạm tích cực". Tuy nhiên, gần như suốt thế kỉ 20, sư phạm này chỉ sống một cách lay lắt bên cạnh sư phạm truyền thống. Có nhiều xu hướng sư phạm tích cực khác nhau như : Sư phạm tương tác, Sư phạm khám phá, Sư phạm dự án, Những xu hướng này có những nét tương đồng nhưng cũng có nhiều khác biệt cơ bản. Trong phạm vi tài liệu này, ta không đi sâu nghiên cứu chúng. Ở đây, thuật ngữ "Phương pháp dạy học tích cực" (hay gọi tắt là Phương pháp tích cực) được hiểu là các phương pháp dạy học thể hiện tư tưởng của các xu hướng sư phạm tích cực4, mà sau đây ta sẽ nêu lên một số đặc trưng cơ bản của nó. Đặc trưng của phương pháp tích cực : - Giáo viên tự nguyện rời bỏ vị trí trung tâm. Họ chỉ còn là người đạo ... p dạy học một định lí theo đó, * tiến trình dạy học được lựa chọn là: Bài toán→ Định lí, * cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh được mô tả như sau : - Trong bước 1 của tiến trình, học sinh độc lập tìm lời giải bài toán. - Ở bước 2 của tiến trình : Giáo viên đưa ra một hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp học sinh rút ra những kết quả quan trọng từ lời giải các bài toán đã cho (kiến thức cần giảng dạy), từ đó, giáo viên thể chế hoá kiến thức này thông qua việc trình bày định lí. - Bước 3 : Học sinh độc lập giải các bài toán vận dụng và củng cố định lí. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 122 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. A. RIEUNIER (2001), Préparer un cours, Edition ESF, Paris. 2. C. ROGERS (2001), Phương pháp dạy và học hiệu quả, Bản dịch tiếng Việt của Cao Đình Quát, NXB Trẻ. 3. I. Ia. LECNE (1981). Cơ sở lí luận của các phương pháp dạy học, Bản dịch tiếng Việt, NXB Sư Phạm. 4. I. Ia. LECNE (1997), Dạy học nêu vấn đề, Phạm Tất Đắc dịch, NXB Giáo dục. 5. D.GRENIER (1985), Quelques aspects de la symétrie orthogonale pour des élèves de classes de 4ème et 3ème, Petit X n0 7, IREM de Grenoble. học trong Đại số 10 vào việc giải các bài toán mang nội dung thực tiễn, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục số 95. 7. G. POLYA (1965), Comment poser et résoudre un problème, Paris, Dunod. 8. G. POLYA (1975), Sáng tạo toán học, tập 1, 2, 3, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên, Bản dịch tiếng Việt của Phan Tất Đắc, Nguyễn Giản, Hồ Thuần, NXB Giáo dục. 9. G. POLYA (1975), Giải một bài toán như thế nào?, Bản dịch tiếng Việt của Hồ Thuần, Bùi Tường, NXB Giáo dục. 10. G. ARSAC, M. MANTE (1995), Nhập môn về lập luận diễn dịch ở trường trung học cơ sở, Bản dịch tiếng Việt của Đoàn Hữu Hải, Lê Đình Phi và Nguyễn Thành Tâm, NXB Giáo dục. 11. J. BAIR, G.HAESBROECK, (2000), Formation mathématique par la résolution de problèmes, Edition de Boeck Université, Bruxelles. 12. HOÀNG CHÚNG (1995), Phương pháp dạy học toán học ở trường phổ thông trung học cơ sở, NXB Giáo dục. 13. HOÀNG XUÂN SÍNH, NGUYỄN MẠNH TRINH (1998), Tập hợp và logic, NXB Giáo dục. 14. LÊ NGUYÊN LONG (1998), Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu quả, NXB Giáo dục. 15. LÊ TỬ THÀNH (1995), Tìm hiểu lôgic học, NXB Trẻ. 16. LÊ VĂN TIẾN, LÊ THỊ HOÀI CHÂU, NGUYỄN VĂN VĨNH (1999), Học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên phổ thông trung học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 17. LÊ VĂN TIẾN (2000), Các quan điểm khác nhau về giảng dạy Giải tích ở trường phổ thông, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số chuyên đề quý 1/2000 và số 3/2000. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 123 18. LÊ VĂN TIẾN (2001), Etude didactique de liens entre fonctions et équations dans l'enseignement des mathématiques au lycée en France et au Viet-Nam, Thèse de Doctorat, Université Joseph Fourier Grenoble, France. 19. LÊ VĂN TIẾN (2002), Quan điểm thực nghiệm trong dạy học toán ở trường phổ thông. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tập 30 số 2. 20. LÊ VĂN TIẾN (2002), Chương trình và sách giáo khoa Toán đang thí điểm hiện nay ở trường THCS, nhìn từ quan điểm thực nghiệm trong Toán học, Kỉ yếu hội nghị Toán học toàn quốc lần thứ 6, tổ chức tại Huế. 21. LÊ VĂN TIẾN (2003), Cách nhìn mới về tiến trình dạy học khái niệm toán học, Tạp chí Giáo dục, số 64. 22. LÊ VĂN TIẾN, TRẦN THỊ TUYẾT DUNG (2004), Một phần thực trạng về học tập suy luận, chứng minh của học sinh THCS, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 23. LÊ VĂN TIẾN (2004), Có nên vận dụng " Quan điểm thực nghiệm " vào dạy học Toán ?, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 107. 24. LÊ VĂN TIẾN, ĐOÀN HỮU HẢI (2004), Chứng minh ở trường phổ thông : Nghiên cứu lịch sử, khoa học luận, didactic và điều tra thực trạng dạy học về chứng minh ở trường phổ thông Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 25. LÊ VĂN TIẾN (đồng tác giả, 2004), Đại số và Giải tích 11, Sách giáo khoa thí điểm, Ban khoa học tự nhiên, Ban khoa học xã hội, NXB Giáo dục. 26. LÊ VĂN TIẾN (đồng tác giả, 2004), Bài tập Đại số và Giải tích 11, Sách giáo khoa thí điểm, Ban khoa học tự nhiên, NXB Giáo dục. 27. LÊ VĂN TIẾN (đồng tác giả, 2004), Đại số và Giải tích 11, Sách giáo viên, Ban khoa học tự nhiên, Ban khoa học xã hội, NXB Giáo dục. 28. L. F. KHARLAMÔP (1976), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào, Bản dịch tiếng Việt của Đỗ Thị Trang và Nguyễn Ngọc Quang, NXB Giáo dục. 29. N. BALACHEFF (1982), Preuve et démonstration en mathématiques au collège, RDM. Vol 3, n03. 30. N. BALACHEFF (1988), Une étude des processus de puve en mathématiques chez des élèves de collège, Thèse d'Etat. Université Joseph Fourier, Grenoble, France. 31. NGUYỄN BÁ KIM, VƯƠNG DƯƠNG MINH, NGUYỄN SĨ ĐỨC (1998), Tính giải quyết vấn đề trong toàn bộ quá trình dạy học, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 66. 32. NGUYỄN BÁ KIM (1991), Chính xác hoá một số khái niệm về dạy học giải quyết vấn đề, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 10. 33. NGUYỄN BÁ KIM (2004), Phương pháp dạy học môn toán, NXB ĐHSP. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 124 34. NGUYỄN CẢNH TOÀN (1997), Phương pháp luận duy vật biện chứng với việc học, dạy, nghiên cứu toán học, tập 1, 2, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 35. NGUYỄN HẢI THẬP (2000), Phương pháp dạy học nêu vấn đề ở bậc đại học, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, số 3. 36. NGUYỄN KÌ (1995), Phương pháp Giáo dục tích cực, lấy người học làm trung tâm, NXB Giáo dục. 37. NGUYỄN KÌ (1996), Mô hình dạy học lấy người học làm trung tâm, Trường Cán bộ Quản lí Giáo dục và Đào tạo Hà Nội. 38. NGUYỄN KẾ HÀO (1994), Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 6. 39. NGUYỄN KHẮC VIỆN (2001), Từ điển tâm lí, NXB Văn hóa Thông tin. 40. NGUYỄN HỮU CHÂU (1995), Dạy giải quyết vấn đề trong môn toán, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 9. 41. NGUYỄN LAN PHƯƠNG (2000), Cải tiến phương pháp dạy học toán với yêu cầu tích cực hoá hoạt động học tập theo hướng giúp học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề. Luận án Tiến sĩ Giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục. 42. NGUYỄN VĂN BÀNG (1997), Lại bàn về bài toán mở, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 1. 43. NGUYỄN VĂN LỘC (1996), Rèn luyện kỉ năng lập luận có căn cứ cho học sinh tring học cơ sở thông qua dạy hình học, NXB Giáo dục. 44. PHẠM GIA ĐỨC (1995), Đổi mới phương pháp dạy học toán ở trường THCS, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 7. 45. PHẠM GIA ĐỨC, NGUYỄN MẠNH CẢNG, BÙI HUY NGỌC, VŨ DƯƠNG THUYÏ (1998), Phương pháp dạy học môn toán, tập I, NXB Giáo dục. 46. PHẠM VĂN ĐỒNG (1995), Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực - Một phương pháp vô cùng quý báu, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 12. 47. PHẠM VĂN HOÀN, NGUYỄN GIA CỐC, TRẦN THÚC TRÌNH (1981), Giáo dục học môn toán, NXB Giáo dục. 48. PHẠM MINH HẠC (chủ biên, 1996), Tuyển tập tâm lý học J.Piaget, NXB Giáo dục. 49. PHẠM VIẾT VƯỢNG (1995), Bàn về "phương pháp Giáo dục tích cực", Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 10. 50. TÔN THÂN (1995), Bài tập ''mở'', một dạng bài tập góp phần bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 4. 51. TRẦN BÁ HOÀNH (2004), Dạy và học bằng các hoạt động khám phá có hướng dẫn, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 102. 52. TRẦN BÁ HOÀNH, NHUYỄN ĐÌNH KHUÊ, ĐÀO NHƯ TRANG (2004), Áp dụng dạy và học tích cực trong môn toán, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 125 53. TRẦN LUẬN (1999), Một hướng nghiên cứu triển khai dạy học nêu vấn đề vào thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 4. 54. TRẦN NAM LƯƠNG, LÊ ĐÌNH PHI (1997), Tâm lí học và Giáo dục học - J.Piaget, NXB Giáo dục. 55. TRẦN THỊ NGỌC DIỆP (2005), Dạy học định lí theo định hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, Khoá văn tốt nghiệp, Khoa Toán - Tin học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 56. TRẦN THÚC TRÌNH (1992), Nhìn lại lịch sử cải cách nội dung và phương pháp dạy học toán ở trường phổ thông trên thế giới trong thế kỉ XX, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 34. 57. TRẦN THÚC TRÌNH (2003), Rèn luyện tư duy trong dạy học toán, Đề cương môn học dành cho học viên Cao học, Viện Khoa học Giáo dục. 58. TRẦN THÚC TRÌNH (2004), Phương pháp khám phá trong nghiên cứu khoa học và trong dạy học, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục, số 111. 59. Y. CHEVALLARD (1985), La transposition didactique - du savoir savant au savoir enseigné, Edition La Pensée Sauvage, Grenoble, France. 60. Y. CHEVALLARD (1991 - 1992), Le caractère expérimental de l'activité mathématique, Petit X n030. 61. V. OKON (1976), Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề, Bản dịch tiếng Việt của Phạm Hoàng Gia, NXB Giáo dục. 62. Histoire d'algorithmes, Edition Belin, 1994. 63. Từ điển : Petit Robert. Edition DicoRobert, Canada, 1993. 64. Từ điển : Le Petit Larousse, Edition Larousse - Bordas, 1999. 65. Từ điển toán học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 1993, Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Như và Lê Đình Thịnh. Sách giáo khoa : 66. Đại số 10, NXB Giáo dục 1990, Trần Văn Hạo chủ biên. 67. Hình học 11, NXB Giáo dục 1991, Trần Văn Hạo chủ biên. 68. Đại số và Giải tích 11, NXB Giáo dục 1996, Trần Văn Hạo chủ biên. 69. Đại số 10, Hình học 10, Hình học 11, Hình học 12, NXB Giáo dục 2001. 70. Hình học 8, NXB Giáo dục 1999. 71. Hình học 7, NXB Giáo dục 1987. 72. Hình học 7, NXB Giáo dục 1995. 73. Toán 7, NXB Giáo dục 2002. 74. Chương trình THCS môn toán, NXB Giáo dục 2002. 75. Sách giáo viên Toán 7, NXB Giáo dục 2003. ht tp :// w w w .v nm at h. co m 126

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Mới: Mô Hình “lớp Học Đảo Ngược”
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Cho Trẻ Mẫu Giáo 5
  • Sự Khác Biệt Giữa Dạy Học Truyền Thống Và Dạy Học Phát Triển Năng Lực
  • Báo Cáo Dạy Học Mỹ Thuật Theo Phương Pháp Đan Mạch
  • Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Chương “liên Kết Hóa Học” Hóa Học Lớp 10 Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Phương Pháp Dạy Học Sinh Yếu Môn Toán Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Sinh Yếu Kém Môn Vật Lí Thpt
  • Sơ Lược Về Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Cách Tiếp Cận
  • . Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Pgs. Ts. Nguyễn Bảo Vệ Và Ths. Nguyễn Huy Tài, Trường Đại Học Cần Thơ (Đhct
  • Chương 2 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
    • Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải luôn tìm được phương pháp giảng dạy mới phù hợp, trực quan, trọng tâm, phương pháp trực quan sinh động, giảng dạy vấn đáp, chơi các trò chơi toán học…Phối hợp cùng nhau tạo hứng thú cho các em tiếp thu bài tốt hơn.
    • Giáo viên nên chú ý vào các học viên yếu kém, khuyến khích các em tích cực phát biểu ý kiến. Giáo viên có thể đặt những câu hỏi dễ, cho những bài tập vừa sức các em. Mục tiêu quan trọng cơ bản nhất trong các tiết học đó là giáo viên hay thường xuyên gọi các em có học lực yếu lên làm bài tập, thực hành nhiều hơn. Có thể chia nhỏ các bài tập hoặc ra những bài thi trắc nghiệm vừa với sức học của các em giúp các em quen dần với kiến thức.
    • Các giáo viên nên động viên đúng lúc khi các em có tiến bộ hay đã đạt được một số kết quả như mong muốn. Phân tích, chỉ cho các em lỗi sai nếu có, nghiêm khác phê bình nếu các em có thái độ lơ là, bỏ bê việc học, không làm các bài tập được giao. Nhưng hãy để ý đến tâm lý của các em.
    • Điều quan trọng nhất ở đây đó chính là giáo viên cần tạo không khí thoải mái, thân thiện, tránh gây sự áp lực đẻ giúp các em có tinh thần, hứng thú để thay đổi kết quả học tập.
    • Thường xuyên theo dõi kiểm tra sau mỗi tiết học để nắm được sự tiến bộ cũng như kịp thời phát hiện ra các lỗ hổng kiến thức của các em và điều chỉnh cho phù hợp.
    • Kết hợp nhiều phương pháp dạy khác nhau để dẫn dắt các em đến được lượng kiến thức các em cần phải có.
    • Nên tạo điều kiện để các em trao đổi kiến thức và hỗ trợ nhau trong việc học bằng cách kiểm tra bài lẫn nhau.
    • Các giáo viên ở trường khi nhận thấy có những học sinh yếu kém thì hãy dạy kèm cho các em để giúp các em nắm được lượng kiến thức đã mất cũng như nắm vững kiến thức hơn.
    • Sau các buổi học giáo viên nên cho các em các bài kiểm tra trên giấy để nắm được sự tiến bộ cũng như kết quả của việc dạy học.
    • Giáo viên nên thường xuyên liên hệ với phụ huynh của các em có học lực yếu để thông báo tình hình học tập của các em kết hợp cùng với phụ huynh động viên và nhắc nhở các em học chăm chỉ hơn để có kết quả tốt.

    Giải Pháp Cho Các Giáo Viên Dạy Môn Toán Cho Các Học Sinh Yếu.

    • Để có kết quả giảng dạy tốt trong quá trình dạy học thì người giáo viên cần phải nhiệt tình và có phương pháp giảng dạy tốt.
    • Các giáo viên cần phải tìm tòi, chắt lọc ra những kiến thức để hình thành nên những phương pháp dạy mới.
    • Phải nghiên cứu toàn bộ chương trình toán, để thấy rõ được các kiến thức logic và ý nghĩa của nó trong chương trình.
    • Xác định rõ các lỗi sai của học sinh trong quá trình học, tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục. Nhất là đối với các học sinh yếu.
    • Luôn tôn trọng tính độc lập tư duy sáng tạo của học sinh.

    Lý do các em học yếu môn Toán.

    • Một số các em học sinh không chú ý nghe giảng trên lớp, không làm bài tập về nhà, không chuẩn bị bài, không học cách ghi nhớ bài, công thức
    • Do sự chú ý, quan sát, trí tưởng tượng đều phát triển chậm khi phần tích nội dung bài giảng, kiến thức. Khó phần biết được các dấu hiệu, bản chất của các bài tập.
    • Tư duy kém linh hoạt, khó khăn khi chuyển giao lượng công thức áp dụng vào bài tập. Chuyển giao lý thuyết sang thực hành
    • Không hệ thống được số lượng kiến thức, công thức đã học.
    • Không vận dụng được kiến thức bài trước cho bài sau.
    • Các em học yếu môn Toán tính chậm, kém linh hoạt trong các bài tập được giao. Chủ yếu dựa vào các lời gợi ý, góp ý của giáo viên mới tính được, hoặc học thuộc một cách máy móc.

    Từ những việc trên, các em học sinh lĩnh hội kiến thức không đồng đều và vững chắc nên các em có thái độ thờ ơ với việc học, không chịu cố gắng, tạo nên thói quen thiếu tự tin, thụ động gây nên chán nản trong học tập.

    Để giải quyết những vấn đề mà các em học yếu môn toán, Trung tâm gia sư Trí Việt tại tphcm có những giáo viên dạy kèm môn toán có nhiều năm kinh nghiệm, có những phương pháp dạy hiệu quả giúp các em cải thiện kết quả học tập, cũng như giúp các em tự tin hợn trong vấn đề thể hiện quan điểm bản thân trong quá trình học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Góc Nhìn Giáo Dục: Cách Dạy Học Ngày Xưa
  • Phương Pháp Dạy Học Mới Webquest
  • Chuyên Đề Ứng Dụng Phương Pháp Dạy Học Vnen Vao Phân Môn Tập Đọc
  • Qui Trình Và Phương Pháp Dạy Học Vần
  • Chuyên Đề Dạy Học Theo Hướng Tiếp Cận Giáo Dục Stem
  • Những Phương Pháp Cơ Bản Giúp Học Tốt Môn Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngoại Khóa Kĩ Năng Sống Khối 11 Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Môn Ngữ Văn
  • Tìm Hiểu Tầm Quan Trọng Và Phương Pháp Tự Học Đem Lại Hiệu Quả
  • Bật Mí Phương Pháp Học Tập Tiếng Anh Hiệu Quả Nhất
  • Bật Mí Phương Pháp Học Tập Tiếng Anh Hiệu Quả
  • Một Số Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả
  • Ngữ Văn là môn học chính trong trường phổ thông và có mặt hầu hết trong các kỳ thi quan trọng như Tốt Nghiệp, Đại học, thi học sinh giỏi,… Không ít học sinh ngày nay phàn nàn về môn học này và cho rằng để học giỏi ngữ văn cần phải có năng khiếu. Điều đó không sai nhưng cũng không hoàn toàn đúng. Nếu bạn nắm được những kỹ năng và phương pháp học văn đúng đắn thì sẽ nhận ra rằng năng khiếu không hề quyết định tất cả.

    Rất nhiều bạn cho rằng, môn văn có khả năng “gây mê” đồng thời rất khó khăn để có thể nhớ và vận dụng vào bài thi. Nếu quả thực bạn đang suy nghĩ như vậy, vô hình chung bạn đã tự làm khó mình. Hãy đơn giản hóa cách suy nghĩ của bạn và áp dụng những phương pháp, kỹ năng học tập hiệu quả, chắc chắn bạn sẽ đạt được thành quả như mong đợi. Để cho việc học môn Ngữ Văn đối với tất cả mọi học sinh không còn là “ác mộng”, trong bài viết này, chúng tôi sẽ chia sẻ kinh nghiệm học môn văn với các phương pháp cơ bản nhất để biến môn văn trở thành một tiết học thú vị.

    Tập trung nghe giảng để nắm vững kiến thức

    Để cho một bài thi văn đạt được kết quả cao không nhất thiết phải viết được những câu văn bay bổng, trau chút mà việc nắm rõ kiến thức để viết đúng, viết đủ mới thật sự cần thiết. Thầy cô không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người mang đến cho bạn nguồn cảm hứng. Chăm chú nghe những lời giảng của thầy cô không chỉ giúp bạn nắm được những điểm trọng tâm của bài học mà còn học hỏi được nhiều điều từ thực tiễn cuộc sống.

    Rèn luyện tinh thần tự giác học tập

    Nếu học theo sự bắt buộc của giáo viên hoặc phụ huynh thì quả thật không biết đến khi nào bạn mới có thể tiến bộ. Vì vậy, ngay từ bây giờ bạn phải tập luyện tính tự giác, cho dù môn văn hay bất kỳ môn học nào, bạn cũng cần đặt tinh thần tự nguyện lên trên hết. Bạn cũng có thể tham khảo bí quyết học giỏi văn từ những người đi trước, có thể là thầy cô, anh chị, bạn bè,… để cho những định hướng của bạn trở nên dễ dàng hơn.

    Hãy biến môn văn trở thành một tiết học thú vị

    Có nhiều cách để làm cho môn văn trở thành một tiết học vui nhộn và thú vị như: lập nhóm thuyết trình và phản biện, phân vai đóng hoạt cảnh, làm thơ, vè đối đáp,… Với những cách đó, môn văn sẽ không đơn thuần là một tiết học văn hóa mà còn là một buổi sinh hoạt vui tươi giúp xóa tan sự căng thẳng mang đến cho bạn tinh thần thoải mái hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Bộ Môn Hóa Học.
  • Phương Pháp Và Kỹ Năng Học Tốt Môn Hóa Học
  • Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Đối Với Môn Toán
  • Những Nguyên Tắc Học Tập Hiệu Quả Cho Học Sinh Thcs
  • Bí Quyết Tập Trung Tổng Ôn Trong Giai Đoạn Nước Rút.
  • Phương Pháp Học Tốt Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Xử Lý Nền, Chống Thấm Công Trình
  • Trường Mầm Non Jello Academy
  • Thí Nghiệm Jartest Trong Xử Lý Nước Thải
  • Tìm Hiểu Về Jartest Trong Xử Lý Nước Thải * Vật Tư Tiêu Hao, Nông Nghiệp, Thủy Sản, Môi Trường,…
  • Thí Nghiệm Jartest Trong Xử Lý Nước
  • Trung tâm gia sư Tâm Đức nhận giảng dạy tại nhà môn toán trong khu vực trong toàn TPHCM sẽ bật mí cho các bạn một số phương pháp học tốt môn toán rất hữu hiệu

    Toán là môn học cơ bản, thú vị nhưng cũng không kém phần phức tạp. muốn học tốt môn toán không hề khó, tuy nhiên không phải ai cũng làm được, nếu không được hướng dẫn ngay từ đầu thì rất dễ bị mất kiến thức ảnh hưởng đến quá trình học tập sau này bởi toán là một môn học có hệ thống kiến thức là một chuỗi logic, được nối liền mạch từ lớp này sang lớp khác, năm này sang năm khác và nó còn theo chúng ta trong cuộc sống thường nhật. Bạn đã học tốt toán và đã có phương pháp học cho riêng mình chưa? Nếu chưa gia sư Tâm Đức xin gợi ý cho bạn một phương pháp học vừa đơn giản mà lại hiệu quả.

    Để học tốt bạn có thể làm theo các bước sau:

    Nhớ định nghĩa, lý thuyết: Hãy bắt đầu bằng việc học lại các công thức đơn giản nhất, làm lại các bài tập với các phép tính đơn giản nhất, hãy bắt đầu lại với: cộng, trừ, nhân, chia…Có thể bạn sẽ không tin, nhưng nếu bạn làm đi làm lại những công thức này nhiều lần chúng sẽ tự động được cài vào bộ nhớ của não bạn, đều này có lợi rất lớn cho bạn trong những bài tập sau này. Tiếp đến, hãy tập làm quen với những công thức khó, không gì tốt hơn cho sự ghi nhớ là học đi học lại nhiều lần .

    Làm nhiều bài tập: Làm nhiều lần, làm nhiều dạng hay cùng một bài nhưng áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để tìm ra phương pháp tối ưu nhất. Không chỉ biết được nhiều cách dạy mà đó còn là cách khắc sâu các công thức và dễ nhận dạng được các bài tập mỗi khi gặp lại.

    Tự học : Làm gì cũng vậy, nếu có đam mê sẽ có quyết tâm và cố gắng hơn. Trong tính toán, đôi khi gặp khó khăn có thể nản lòng, nhưng nếu yêu thích nó, bạn sẽ vượt qua được. Không giải được 1 bài toán thì không yên tâm, thậm chí đến lúc ăn, lúc ngủ vẫn nghĩ cách giải. Nếu như vậy, chẳng mấy chốc bạn sẽ tìm ra được lời đáp.

    Phương pháp học tốt môn toán

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy
  • Femto Lasik Phương Pháp Điều Trị Tật Khúc Xạ An Toàn, Chính Xác
  • Hướng Dẫn Kĩ Thuật Chiết Cành Cơ Bản
  • Cách Chiết Cành Tất Cả Các Loại Cây
  • Hướng Dẫn Lọc Cổ Phiếu Theo Phương Pháp Canslim Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
  • Các Phương Pháp Kế Toán Cơ Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Nghiên Cứu Phương Pháp Luận
  • Miễn Phí Sách Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống
  • Các Phương Pháp Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm 2022
  • Phương Pháp Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm Hiện Nay
  • Phương pháp kế toán là phương thức, các biện pháp kế toán sử dụng để thu nhập, xử lý và cung cấp thông tin về tài sản, sự biến động của tài sản và các quá trình hoạt động kinh tế tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý

    2. Hệ thống phương pháp kế toán cơ bản

    Phương pháp kế toán bao gồm: phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tính giá và phương pháp tổng hợp cân đối kế toán

    Là phương pháp kế toán phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh và thực sự hoàn thành theo thời gian và địa điểm pháp sinh của nghiệp vụ đó vào các bản chứng từ để phục vụ công tác kế toán, công tác quản lý

    Trong quá trình hoạt động của đơn vị thường xuyên phát sinh các nghiệp vụ kinh tế gây ra sự biến động của tài sản, nguồn vốn. Các nghiệp vụ kinh tế gồm nhiều loại phát sinh ở thời gian và địa điểm khác nhau. Để phục vụ cho công tác kế toán quản lý kiểm tra việc bảo vệ sử dụng tài sản, kiểm tra các hoạt động kinh tế tài chính, hạch toán kế toán đã xây dựng phương pháp khoa học để thu nhận đầy đủ thông tin về mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh. Đó là phương pháp chứng từ kế toán với 2 nội dung là: lập các bản chứng từ chứng minh cho các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và tổ chức thông tin về các nghiệp vụ kinh tế theo yêu cầu quản lý và hạch toán

    Là phương pháp kế toán phân loại, phản ánh và giám đốc một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình và sự biến động của từng tài sản, từng nguồn vốn và từng quá trình sản xuất kinh doanh

    Phương pháp chứng từ cung cấp thông tin về từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh gây ra sự biến động về tài sản và nguồn vốn, các thông tin mang tính phân tán không có hệ thống. Để thu nhập thông tin tổng hợp về tình hình và sự biến động của từng đối tượng kế toán, kế toán sử dụng phương pháp tài khoản kế toán

    Là phương pháp kế toán sử dụng thước đo tiền tệ tổng hợp và phân bổ chi phí để xác định giá trị thực tế của tài sản trong đơn vị theo nguyên tắc nhất định

    Tài sản trong đơn vị là đối tượng hạch toán kế toán bao gồm nhiều loại tồn tại dưới hình thái hiện vật khác nhau. Mỗi loại tài sản do các yếu tố chi phí cấu thành bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Vì vậy để xác định giá trị của tài sản nhằm cung cấp thông tin tài sản tổng hợp về tài sản của doanh nghiệp. Kế toán sử dụng phương pháp tính giá với nội dung tổng hợp chi phí trực tiếp và phân bổ chi phí gián tiếp cho từng tài sản theo các nguyên tắc nhất định nhằm xác định giá trị thực tế của tổng tài sản, từng quá trình.

    d. Phương pháp tổng hợp cân đối kế toán

    Là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các mối quan hệ cân đối vốn có của kế toán nhằm cung cấp các thông tin theo chỉ tiêu kinh tế tài chính về tài sản và kết quả kinh doanh của đơn vị nhằm phục vụ công tác quản lý

    Trong công tác quản lý ngoài thông tin về từng nghiệp vụ kinh tế, thông tin về tình hình và sự biến động về từng tài sản, nguồn vốn và quá trình kinh doanh cần thiết có các thông tin tổng hợp về toàn bộ tình hình tài sản, tình hình kết quả hoạt động, để đáp ứng yêu cầu quản lý kế toán sử dụng phương pháp tổng hợp cân đối kế toán

    3. Mối quan hệ giữa các phương pháp kế toán

    Các phương pháp kế toán sử dụng đều nhằm thu thập, cung cấp thông tin theo yêu cầu quan lý nhưng ở mức độ, phạm vi khác nhau.

    Giữa các phương pháp kế toán có mối quan hệ biện chứng bổ xung cho nhau nhằm cung cấp thông tin chính xác đầy đủ kịp thời, phục vụ cho công tác quản lý.

    Phương pháp chứng từ kế toán thu thập cung cấp thông tin về từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh gây ra sự biến động của tài sản, nguồn vốn của đơn vị, phương pháp tài khoản kế toán phân loại tập hợp, hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế phát sinh gây ra sự biến động của tài sản và nguồn vốn đã được phản ánh trên các chứng từ theo từng đối tượng cung cấp thông tin tập hợp về từng loại kế toán tổng hợp về từng đối tượng kế toán tổng hợp.

    Căn cứ thông tin số liệu phương pháp tài khoản phương pháp cung cấp tính giá được sử dụng xác định giá trị của từng đối tượng theo nguyên tắc nhất định.

    Trên cơ sở thông tin phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá cung cấp, phương pháp tổng hợp cân đối kế toán được sử dụng cung cấp thông tin tổng hợp về toàn bộ tài sản, nguồn vốn hình thành tài sản và quá trình hoạt động kinh tế tài chính đơn vị theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính đáp ứng yêu cầu công tác quản lý.

    Do đó trong công tác kế toán ở từng đơn vị kế toán phải sử dụng đồng thời cả bốn phương pháp

    Với mục tiêu “Sự thành công của học viên là niềm tự hào của Đức Minh”, Công ty đào tạo kế toán và tin học Đức Minh là nơi đào tạo kế toán thực tế và tin học văn phòng uy tín và chuyên nghiệp nhất Hà Nội hiện nay. Đức Minh luôn sẵn sàng hỗ trợ hết mình vì học viên, luôn đồng hành cùng học viên trên bước đường đi tới thành công.

    Lịch học dạy kèm linh động từ thứ 2 đến thứ 7 hàng tuần cho tất cả các học viên:

    Bảng giá khóa học

    TỔ CHỨC THI VÀ CẤP CHỨNG CHỈ CỦA VIỆN KẾ TOÁN ĐỨC MINH

    Mọi chi tiết vui lòng liên hệ:

    HỌC VIỆN ĐÀO TẠO KẾ TOÁN – TIN HỌC ĐỨC MINH

    CN Đống Đa: Phòng 815, tòa 15 tầng – B14 đường Phạm Ngọc Thạch, Đống Đa, Hn. (tầng 1 là Techcombank và KFC- gửi xe đi vào ngõ 65 Phạm Ngọc Thạch)

    CN Cầu Giấy: Phòng B2T10 (Phòng B2 Tầng 10) – Tòa nhà 335 Cầu Giấy – HN (Tầng 1 là Siêu thị thời trang Fashion Mall)

    CN Linh Đàm: Phòng 404 – Chung cư CT4A1 – Đường nguyễn Hữu Thọ – Linh Đàm – Hoàng Mai Hà Nội. (Ngay đèn xanh đỏ cổng chào Linh Đàm, Tầng 1 siêu thị Bài Thơ, Highlands Cofee)

    CN Hà Đông: Phòng 1001 tầng 10, CT2 tòa nhà Fodacon (tầng 1 là siêu thị Coopmart, đối diện Học Viện An Ninh) – Trần Phú – Hà Đông

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Phương Pháp Kế Toán Cơ Bản Hiện Nay
  • Các Phương Pháp Của Kế Toán
  • Hai Kĩ Thuật Dạy Học: Khăn Trải Bàn Và Các Mảnh Ghép
  • Hướng Dẫn Tính Thuế Giá Trị Gia Tăng Theo Phương Pháp Khấu Trừ
  • Cách Tính Thuế Gtgt Phải Nộp Theo Pp Khấu Trừ Và Trực Tiếp
  • Đề Tài Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Ở Thpt

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Học Môn Toán Theo Phương Pháp Tích Cực
  • Phát Huy Năng Lực Tự Học Và Tính Tích Cực Hoá Cho Học Sinh Qua Dạy Học Môn Thể Dục
  • Một Số Giải Pháp Giúp Giáo Viên Giảng Dạy Môn Thể Dục Đạt Kết Quả Tốt Theo Chương Trình Đổi Mới Chỉ Tiêu Và Phương Pháp Dạy Học Của Học Sinh Khối 10 Trường Trung Học Phổ Thông Quan Sơn
  • Chuyên Đề: Dạy Học Tích Cực Môn Toán Lớp 3
  • Đề Tài Vận Dụng Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Nhằm Nâng Cao Hiệu Qủa Dạy Học Môn Giáo Dục Công Dân Bậc Trung Học Phổ Thông
  • – Khái niệm chung về phương pháp: Phương pháp là con đường, là cách thức để đạt những mục đích nhất định.

    Trong đời sống, người ta thường nói: Phương pháp làm cái này, cái kia hoặc cách làm cái này, cái kia; phương pháp sản xuất cái này, cái kia hoặc cách sản xuất cái này, cái kia; Trong dạy học, người ta thường nói: Phương pháp đặt vấn đề hoặc cách đặt vấn đề; phương pháp giải quyết vấn đề hoặc cách giải quyết vấn đề; phương pháp giải bài toán hoặc cách giải bài toán;

    Đặc điểm chung của phương pháp:

    + Phương pháp có tính khái quát: Con đường, cách thức để đạt những mục đích ở đây được hiểu chính là một tập hợp các hoạt động, các thao tác cần thiết có tính chất chung nhất, khái quát nhất mà mọi người khác nhau cần phải hiểu và hoạt động như thế để đạt mục đích đề ra.

    + Phương pháp có chức năng phương tiện tư tưởng: Phương pháp là con đường, là cách thức để đạt những mục đích nhất định – Đó chính là phương tiện tư tưởng để đạt tới mục đích đã định.

    – Phương pháp dạy học (PPDH): Người ta dễ thống nhất với nhau về định nghĩa phương pháp nêu ở trên, từ đó đã đưa ra nhiều nhiều định nghĩa khác nhau về PPDH theo các quan điểm khác nhau, chẳng hạn như:

    PPDH là một hệ thống tác động liên tục của GV nhằm tổ chức các hoạt động nhận thức và thực hành của HS để HS lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã định.

    PPDH là những cách thức hoạt động và ứng xử của GV gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của HS trong quá trình dạy học nhằm đạt được các mục đích dạy học.

    Theo quan điểm hoạt động thì PPDH bao gồm hai mặt hoạt động: Hoạt động dạy học của GV- hoạt động này giữ vai trò chỉ đạo, tổ chức điều khiển quá trình dạy học. Hoạt động học tập của HS- hoạt động này giữ vai trò chủ động và tích cực.

    trình nhận thức trong nghiên cứ khoa học, quá trình nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện ra các tri thức mà loài người chưa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức mà loài người đã tích lũy được từ trước. Tuy nhiên trong học tập HS cũng cần phải "khám phá'' những tri thức mới với bản thân mình. HS sẽ thông hiểu, ghi nhớ một các chắc chắn những tri thức đã lĩnh hội được hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình. Tính tích cực trong học tập thường được biểu hiện ở HS chủ thể của quá trình nhận thức như: HS hăng hái trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thường nêu thắc mắc hay đề nghị GV giải thích những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức các vấn đề mới; tập trung chú ý vào các vấn đề đang học, kiên trì thực hiện các bài tập, không nản trước những khó khăn. Tính tích cực học tập của HS thể hiện ở ba mức độ tư duy sau: + Tái tạo: Tập trung chú ý gắng sức để nắm được vấn đề GV đang hướng dẫn. + Độc lập: Tự lực tìm tòi cách giải quyết các vấn đề đã đặt ra không có sự hướng dẫn của GV. + Sáng tạo: Tự mình tìm ra cách giải quyết vấn đề mới, độc đáo, hữu hiệu - Đặc trưng của PPDH tích cực: + Dạy học phải kích thích nhu cầu và hứng thú học tập của HS Khi đứng trước một nhiệm vụ học tập cần giải quyết, mức độ tích cực các hoạt động của HS được nhà tâm lý học Xô Viết V.P Simonov mô tả dưới dạng công thức sau: Như vậy, trong dạy học điều quan trọng là đảm bảo điều kiện tương quan giữa KCT và KĐC sao cho tối ưu- nhu cầu N đạt giá trị lớn nhất, tức là KCT nằm trong vùng phát triển gần nhất. Khi đó nhu cầu nhận thức của HS càng cao thì tính tích cực hoạt động nhận thức càng tăng. Điều đó khẳng định rằng tính tích cực hoạt động học tập của HS phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn và lôi cuốn của nhiệm vụ học tập. + Dạy học thông qua các hoạt động học tập của HS Phương pháp tích cưc dựa trên cơ sở tâm lý học cho rằng nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động chủ động, thông qua các hành động có ý thức. Trí tuệ của trẻ phát triển nhờ sự "đối thoại'' giưa chủ thể với đối tượng và môi trường. Mối quan hệ giữa học và làm được nhiều tác giả đề cập: Suy nghĩ tức là hành động'' (J. Piaget). " Cách tốt nhất để hiểu là làm''(Kant). " Học để hành; học và hành phải đi đôi. Học mà không hành thì vô ích; hành mà không học thì hành không trôi chảy'' ( Hồ Chí Minh). + Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập của HS không chỉ là biện pháp nâng cao hiệu quả việc dạy học mà còn là mục tiêu việc dạy hoc. Như Desterwerg viết: " người thầy giáo tồi truyền đạt chân lí, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lí''. Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học. Một yếu tố quan trọng đảm bảo thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học là khả năng phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham hiểu biết, ham học. Vì vậy, người ta nhấn mạnh dạy cho người học phương pháp học trong quá trình dạy học, cố gắng tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động. + Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác Trong một lớp học trình độ, kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều một cách tuyệt đối thì khí áp dụng phương pháp dạy học tích cực buộc phải chấp nhận về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập. Áp dụng phương pháp dạy học tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa càng lớn. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi HS. Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường. Sử dụng một cách phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung.Trong hoạt động nhóm nhỏ sẽ không có hiện tượng ỷ lại, tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn ắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội. Trong nền kinh tế thị trường xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, năng lực hợp tác phải trở thành mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho HS. + Kết hợp sự đánh giá của thầy với sự đánh giá của trò: Trong dạy học, việc đánh giá HS là nhằm mục đích đánh giá thực trạng và điều chỉnh hoạt động của đồng thời của cả trò và cả thầy Trong phương pháp dạy học tích cực, GV phải hướng dẫn HS tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học và GV cũng phải tạo điều kiện để các HS tham gia vào việc đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần thiết cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường cần trang bị cho HS. Theo hướng của các phương pháp dạy học tích cực thì việc kiểm tra, đánh giá không chỉ dừng lại ở việc tái hiện các kiến thức, kĩ năng đã học mà phải khuyến khích được trí thông minh, sáng tạo, phát hiện được sự chuyển biến thái độ, xu hướng của hành vi của HS trước các vấn đề của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong các tình huống thực tế. - Các phương pháp dạy học tích cực môn toán ở THPT + Phương pháp gợi mở, vấn đáp: GV đưa ra một hệ thống câu hỏi mang tính chất gợi mở và yêu cầu HS trả lời lần lượt từng câu hỏi một, dần dần từng bước dẫn tới toán học cần thiết - Hệ thống câu hỏi trong gợi mở cần đảm bảo yêu cầu: . Các câu hỏi phải phù hợp với các loại đối tượng HS. . Mỗi câu hỏi phải có nội dung chính xác, phải gọn gàng, rõ ràng và không gây ra sự nhập nhằng khó hiểu cho HS . GV có thể đặt nhiều câu hỏi khác nhau cho cùng 1 nội dung. . Các câu hỏi phải gợi ra vấn đề để HS phải suy nghĩ, hạn chế sử dụng các câu hỏi mà câu trả lời chỉ là có hoặc không . Đối với một số các câu hỏi khó GV nên dự kiến câu trả lời và chuẩn bị câu hỏi phụ để có thể nhanh chóng trợ giúp HS khi cần thiết - Sử dụng các câu hỏi gợi mở trong dạy học toán: GV nêu câu hỏi cho cả lớp suy nghĩ, sau đó gọi HS trả lời, rồi gọi HS khác nhận xét đánh giá, cuối cùng GV kết luận - Có thể khuyến khích HS tự đăt câu hỏi để các HS khác trả lời. + Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề: GV tạo ra các tình huống gợi vấn đề, và đặt HS vào trong các tình huống gợi vấn đề đó, để cho họ trực tiếp tham gia vào việc phát hiện vấn đề và tìm cách giải quyết vấn đề đó một cách tự giác tích cực Tình huống gợi vấn đề mà GV tạo ra phải đảm bảo ba yêu cầu sau đây: . Tồn tại một vấn đề: Tình huống phải bộc lộ mâu thuẫn giữ thực tiễn với trình độ nhận thức của HS. HS phải ý thức được một số khó khăn nhất định trong tư duy hoặc trong hành động mà vốn hiểu biết của mình chưa đủ để vượt qua. Nói cách khác, HS chưa giải đáp được và cũng chưa có quy tắc nào có tính chất thuật toán để giải đáp câu hỏi nảy sinh trong tình huống. . Gợi nhu cầu nhận thức: HS phải tự cảm thấy cần thiết và thấy có nhu cầu giải quyết vấn đề đó + Phương pháp dạy học theo nhóm: GV tổ chức lớp học thành một số nhóm và giao việc cho các nhóm thông qua phiếu giao việc Dạy học theo nhóm trong tiết học khi có những vấn đề từng cá nhân HS có thể giải quyết được, thường có thể được tiến hành trong trong quá trình hoạt động củng cố tri thức

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Toán Tiểu Học Phát Triển Năng Lực Học Sinh Theo Chương Trình Gdpt Mới
  • Hiểu Đầy Đủ Bản Chất Của Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Tập Huấn Về Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Những Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Bậc Đh
  • Bài Thu Hoạch Bồi Dưỡng Thường Xuyên Giáo Viên
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100