Top 12 # Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt 1 / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Ở Tiểu Học Học Phần 1 / 2023

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

BÀI GIẢNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC (Học phần 1) DÙNG CHO HỆ CĐ NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC



HỌ TÊN GV: Th.sĩ NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN BỘ MÔN: GIÁO DỤC TIỂU HỌC KHOA : SƯ PHẠM TỰ NHIÊN

Quảng Ngãi tháng 10 năm 2014 Tài liệu lưu hành nội bộ 1

LỜI GIỚI THIỆU Để góp phần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng GV tiểu học và phục vụ tốt cho việc học tập, thi kết thúc học phần Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, học phần 1 (gọi tắt: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 1) của các sinh viên ngành Giáo dục tiểu học, hệ CĐ và TCCN, hệ chính quy, chúng tôi tổ chức biên soạn học phần Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 1 đào tạo theo chương trình Cao đẳng Sư phạm và chương trình liên thông từ Trung học Sư phạm lên Cao đẳng Sư phạm, nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung, Phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục tiểu học theo yêu cầu mới. Để biên sọan tài liệu này, nhóm biên soạn đã dựa vào nội dung chương trình của Bộ và các giáo trình “PPDH Tiếng Việt” ở tiểu học dành cho sinh viên hệ CĐ, THSP của Bộ GD&ĐT cùng các giáo trình khác được lưu hành trong cả nước. Đặc biệt, trong lần biên soạn này, nhóm biên soạn có bổ sung, chỉnh sửa một số nội dung trong tài liệu cho phù hợp với chương trình đào tạo tín chỉ mới và nội dung các giáo trình mới biên soạn. Điểm mới của tài liệu là viết theo thiết kế hướng dẫn các hoạt động học tập nhằm tích cực hoá hoạt động của người học, kích thích óc sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề, tự giám sát và đánh giá kết quả học tập của người học, chú trọng sử dụng tích hợp nhiều phương tiện truyền đạt khác nhau giúp người học dễ học, dễ hiểu, tạo hứng thú học tập. Lần đầu tiên tài liệu được biên soạn theo phương pháp mới, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc, đặc biệt là đội ngũ giảng viên, sinh viên Sư phạm và giáo viên tiểu học trong và ngoài tỉnh. Xin trân trọng cám ơn. Tác giả Th.sĩ Nguyễn Thị Hồng Liên

2

MỤC LỤC

Trang

LỜI GIỚI THIỆU

2

Học phần: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC 1

3

PHẦN I: GIỚI THIỆU HỌC PHẦN

3

PHẦN II: MỤC TIÊU HỌC PHẦN

3

PHẦN III: KẾ HOẠCH DẠY HỌC

4

PHẦN IV: NỘI DUNG HỌC PHẦN

8

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PPDH TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC Bài 1: Đối tượng nhiệm vụ của môn phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Bài 2: Các nguyên tắc dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Bài 3: Các phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Bài 4: Môn Tiếng Việt ở tiểu học

Chương II: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC PHÂN MÔN Bài 1: Phương pháp dạy Học vần.

Bài 2: Phương pháp dạy Tập viết.

66

Bài 3: Phương pháp dạy Chính tả

79

Bài 4: Phương pháp dạy Tập đọc

89

Bài 5: Phương pháp dạy kể chuyện

115

Bài 6: Phương pháp dạy học Luyện từ và câu. Bài 7: Phương pháp dạy Tập làm văn

TÀI LIỆU VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC Các từ viết tắt –

Nhà xuất bản Đại học Quốc gia: NXB ĐHQG

Nhà xuất bản Giáo dục:

Tài liệu tham khảo, sách giáo khoa: TLTK, SGK

Sách giáo viên

Phương pháp dạy học:

PP, PPDH

Giáo viên:

GV

Học sinh:

HS

Tập làm văn:

TLV

Luyện từ và câu:

LT & C

NXB GD

: SGV

3

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC (Học phần 1) PHẦN I: GIỚI THIỆU HỌC PHẦN Học phần “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 1” được biên soạn theo “Chương trình khung giáo dục đại học ngành Giáo dục tiểu trình độ cao đẳng” ban hành theo Quyết định số 39/2006/QĐ-BGDĐT ngày 2/10/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Quyết định số 627/QĐ-ĐHPVĐ ngày 10/9/2012 của Hiệu trưởng Trường ĐH PHẠM VĂN ĐỒNG. Chương trình học phần gồm hai chương: Chương 1 “Những vấn đề chung về PP dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” gồm: Bài 1: Đối tượng nhiệm vụ của môn phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Bài 2: Các nguyên tắc dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Bài 3: Các phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Bài 4: Môn Tiếng Việt ở tiểu học Chương 2 “Phương pháp dạy học các phân môn” gồm các bài: Bài 1: Phương pháp dạy Học vần. Bài 2: Phương pháp dạy Tập viết. Bài 3: Phương pháp dạy Chính tả Bài 4: Phương pháp dạy Tập đọc Bài 5: Phương pháp dạy kể chuyện Bài 6: Phương pháp dạy học Luyện từ và câu. Bài 7: Phương pháp dạy Tập làm văn PHẦN II: MỤC TIÊU HỌC PHẦN 1. Kiến thức: Sinh viên phải nắm được các hiểu biết về – Đối tượng, nhiệm vụ của phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học – Cơ sở khoa học của phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học. – Đặc điểm HS tiểu học trong quá trình chiếm lĩnh Tiếng Việt ở trường tiểu học. – Mục tiêu, nội dung chương trình, nguyên tắc, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở trường tiểu học. 2. Kĩ năng: Sinh viên có các kĩ năng – Kĩ năng tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học. 4

– Kĩ năng phân tích mục tiêu, tìm hiểu nội dung, chương trình, sách giáo khoa (SGK) dạy Tiếng Việt ở tiểu học. – Kĩ năng thiết kế bài Tiếng Việt, tổ chức các hoạt động dạy học Tiếng Việt – Kĩ năng phân tích đánh giá thực tế dạy học Tiếng Việt ở tiểu học. 3. Thái độ – Bồi dưỡng cho sinh viên tình cảm yêu quý tiếng mẹ đẻ. – Có ý thức rèn luyện năng lực tiếng mẹ đẻ cho học sinh. – Yêu mến đồng cảm với học sinh tiểu học. PHẦN III: KẾ HOẠCH DẠY HỌC Học phần Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 1. 1. Số đơn vị học trình: 04 2. Trình độ sinh viên: Năm thứ II hệ CĐGD Tiểu học 3. Phân bố thời gian: – Số tiết lí thuyết:

45 (giảng dạy: 30; SV tự nghiên cứu: 15)

Bài 4: Môn Tiếng Việt ở tiểu học (1LT + 2XMN) 1. Mục tiêu và yêu cầu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học 2. Cấu tạo nội dung chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học 3. Sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học 4. Xêmina: ” Đặc điểm chương trình và SGK Tiếng Việt Tiểu học”. Chương II: Phương pháp dạy học các phân môn Tiếng Việt (35 tiết – 13) Bài 1: Phương pháp dạy học vần (6LT + 3TH) 1. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ của dạy học vần 2. Cơ sở khoa học của dạy học vần 3. Chương trình và SGK dạy học vần 4. Phương pháp dạy Học vần và cách tổ chức dạy các kiểu bài học vần. 5. Thực hành: a) Soạn giáo án các kiểu bài dạy học vần (bài tự chọn) b) Soạn 02 trò chơi áp dụng trong dạy học vần (thực hiện ngoài giờ lên lớp). c) Thực hành dạy học các bài dạy đã soạn. Bài 2: Phương pháp dạy tập viết (3LT + 1TH) 1. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ dạy tập viết. 2. Cơ sở khoa học của dạy tập viết. 3. Chương trình, vở tập viết. 4. Tổ chức dạy giờ tập viết 5. Nội dung thực hành: a) Soạn các giáo án dạy tập viết lớp 1, 2, 3 (tự chọn bài) b) Thực hành dạy học tập viết các giáo án đã soạn. Bài 3: Phương pháp dạy chính tả (3LT + 1TH) 1. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ dạy chính tả. 2. Cơ sở khoa học của dạy chính tả. 3. Chương trình, SGK chính tả. 4. Phương pháp dạy chính tả và cách tổ chức dạy giờ chính tả 5. Nội dung thực hành: a) Soạn các giáo án dạy chính tả lớp 1 dến lớp 5 (tự chọn bài) b) Thực hành dạy học tập viết các giáo án đã soạn. 7

Bài 4: Phương pháp dạy tập đọc (7LT + 2TH) 1. Vị trí, tính chất nhiệm vụ dạy tập đọc. 2. Cơ sở khoa học của dạy tập đọc. 3. Chương trình, SGK tập đọc ở tiểu học. 4. Phương pháp dạy tập đọc và cách tổ chức dạy giờ tập đọc 5. Nội dung thực hành: a) Soạn các giáo án dạy tập đọc lớp 1,2,3, 4,5 (tự chọn) b) Thực hành dạy học tập viết các giáo án đã soạn. Bài 5: Phương pháp dạy kể chuyện (3LT + 2TH) 1. Vị trí, tính chất nhiệm vụ dạy kể chuyện. 2. Cơ sở khoa học của dạy kể chuyện. 3. Chương trình, SGK kể chuện. 4. Phương pháp dạy kể chuyện, cách thức tổ chức dạy kể chuyện 5. Nội dung thực hành: a) Soạn giáo án dạy kể chuyện lớp 1, 2, 3, 4, 5 (tự chọn) b) Thực hành dạy học tập viết các giáo án đã soạn. Bài 6 : Phương pháp dạy học Luyện từ và Câu (6 LT + 2TH) 1. Vị trí, nhiệm vụ của dạy học Luyện từ và Câu 2. Chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và Câu 3. Các nguyên tắc dạy học Luyện từ và Câu 4. Phương pháp dạy học Luyện từ và Câu và cách tổ chức dạy học LT và Câu 5. Thực hành: a) Xem băng ghi hình dạy học Luyện từ và câu lớp 2, 3, 4, 5. b) Thực hành soạn giáo án các bài dạy luyện từ và câu (tự chọn). c) Thực hành tập dạy các bài đã soạn. Bài 7: Phương pháp dạy tập làm văn (7 LT + 2TH) 1. Vị trí, tính chất, nhiệm vụ dạy tập làm văn. 2. Cơ sở khoa học của dạy tập làm văn. 3. Chương trình, SGK. 4. Phương pháp dạy tập làm văn và cách tổ chức dạy giờ tập làm văn 5. Nội dung thực hành: a) Soạn các giáo án dạy tập viết lớp 2, 3, 4, 5 (tự chọn) b) Thực hành dạy học tập viết các giáo án đã soạn. PHẦN IV: NỘI DUNG HỌC PHẦN 8

9

Thứ hai, “phương pháp” được dùng với nghĩa là khoa học về phương pháp giảng dạy mà nhiều tài liệu gọi là “lí luận dạy học bộ môn; giáo học pháp bộ môn hoặc “phương pháp luận dạy học bộ môn”. Thứ ba, “phương pháp” được dùng với nghĩa hẹp hơn, chỉ cách thức tác động lẫn nhau giữa thầy và trò, dưới sự chỉ đạo của thầy hướng đến đạt mục đích học tập. Ở đây chúng ta đang dùng thuật ngữ “phương pháp”với nghĩa thứ hai. Từ đó có thể hiểu phương pháp dạy học tiếng Việt như sau: Với tư cách là một khoa học, phương pháp dạy học Tiếng Việt được xem là một bộ phận của khoa học giáo dục (“khoa học sư phạm” hay “sư phạm học”) là một hệ thống lí thuyết dạy học Tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ và với tư cách là ngôn ngữ thứ hai để đảm bảo cho việc dạy học Tiếng Việt đạt kết quả tốt. Khi nói PPDH Tiếng Việt là một khoa học vì: – Có đối tượng riêng, nhiệm vụ nghiên cứu riêng – Có tiền đề lí thuyết và thực tiễn – Có các phương pháp nghiên cứu đặc thù Khi nói PPDH Tiếng Việt là một hệ thống cần chú ý: – PPDH Tiệt Việt là một thể thống nhất: hệ thống này có thể chứa nhiều bộ phận; Mỗi bộ phận lại có đặc trưng riêng nhưng chúng đều thống nhất ở những quy luật chung nhất. 2. Đối tượng của phương pháp dạy học Tiếng Việt Là hoạt động dạy và học Tiếng Việt trong nhà trường. Hoạt động này được cấu thành từ ba bình diện: 2.1. Nội dung dạy học Tiếng Việt: Nội dung dạy học Tiếng Việt là những tri thức về hệ thống Tiếng Việt mà GV truyền tải đến học sinh. Thông qua đó mà hình thành ở học sinh những kĩ năng về sử dụng Tiếng Việt. Theo Chương trình Tiểu học 2006 (CTTH – 2006), nội dung dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học coi trọng việc dạy tri thức Tiếng Việt gắn với việc rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt. Các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt giúp HS nhận diện, phát hiện, hoàn thiện các tri thức Tiếng Việt; tri thức Tiếng Việt góp phần ý thức hóa kĩ năng sử dụng Tiếng Việt. 10

Để thực hiện yêu cầu này, chương trình quy định hai mức độ học tri thức Tiếng Việt. Ở lớp 1,2,3, tri thức Tiếng Việt không có tiết học riêng. Các đơn vị tri thức quy định cho 3 lớp học này giúp giáo viên có cơ sở lí luận để dạy các kĩ năng cho học sinh, chưa yêu cầu học sinh phải học thành bài các khái niệm, quy tắc. Ngược lại, ở các lớp 4, 5 tri thức Tiếng Việt được dạy thành tiết học riêng sắp xếp thành hệ thống (mặc dù chỉ là tri thức sơ giản) và vẫn gắn với việc luyện tập các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt. Nội dung dạy học còn chi phối cách tổ chức, PP và thủ pháp dạy học. 2.2. Hoạt động dạy của thầy giáo Theo quan điểm dạy học hiện đại, thầy giáo là người điều khiển hoạt động học, hoạt động nhận thức của HS, sử dụng các phương tiện dạy học để tổ chức cho HS tiếp cận với các nội dung dạy học, bằng cách đó mà HS được phát triển và hình thành nhân cách. Nói cách khác, GV là chủ thể của quá trình giảng dạy. Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, các điều kiện thiết bị dạy học hiện đại hơn, thầy giáo càng có điều kiện tổ chức cho HS tiếp cận nội dung dạy học một cách hứng thú, có hiệu quả cao. Nghiên cứu hoạt động dạy của giáo viên phương pháp dạy học tiếng Việt phải trả lời được các câu hỏi : – Giáo viên lựa chọn những phương pháp nào ? Tại sao ? – Giáo viên tổ chức công việc của học sinh ra sao ? Giúp học sinh nắm tri thức như thế nào ? – Giáo viên kiểm tra việc nắm tri thức, kĩ năng của học sinh như thế nào ? 2.3. Hoạt động học tập của học sinh Theo quan điểm dạy học hiện đại, HS là chủ thể nhận thức, chủ động tiếp thu tri thức bằng việc phát huy vai trò tích cực của mình tự giác chiếm lĩnh nội dung dạy học để hình thành và phát triển nhân cách dưới sự điều khiển sư phạm của GV. Vì vậy, trong dạy học, thầy giáo phải sử dụng các biện pháp và hình thức linh hoạt để có thể phát huy được hết tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập. Hoạt động học của HS bao gồm những hoạt động cụ thể: Hoạt động chuẩn bị cho giờ học, hoạt động trong giờ học, tự học ở nhà, hoạt động ngoại khoá,…. Hoạt động của HS được tiến hành dưới sự điều khiển của thầy. Hiệu quả hoạt động của trò 11

là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, những phẩm chất đạo đức mà các em đạt được. Do đó, phương pháp dạy học Tiếng Việt không chỉ quan tâm đến hoạt động trực tiếp của HS mà còn lưu tâm đến kết quả của hoạt động đó. Nói cách khác là, Phương pháp dạy học Tiếng Việt cần phải nghiên cứu quá trình hoạt động học tập Tiếng Việt của học sinh và những kết quả thu được của quá trình này cũng như quy luật chi phối quá trình đó. Trên cơ sở đó, phương pháp dạy học Tiếng Việt mới có thể đúc kết thành lý thuyết và những chỉ dẫn đáng tin cậy. 3. Nhiệm vụ của phương pháp dạy học Tiếng Việt 3.1. Nhiệm vụ của PPDH Tiếng Việt với tư cách là một ngành khoa học 3.1.1. Xây dựng cơ sở phương pháp luận cho phương pháp dạy học Tiếng Việt. Xét trên bình diện lí luận dạy học, phương pháp dạy học Tiếng Việt là hệ thống những kiến thức về bản chất, cấu trúc, chức năng và quy luật cơ bản của sự chi phối sự vận hành của quá trình dạy học Tiếng Việt, nói cách khác, đó là học thuyết lí giải bản chất của quá trình dạy học Tiếng Việt. Ngoài ra , nó còn hệ thống những phương pháp nghiên cứu khoa học được vận dụng để chiếm lĩnh hệ thống kiến thức mới. Nhiệm vụ cụ thể của việc xây dựng cơ sở phương pháp luận của phương pháp dạy học Tiếng Việt bao gồm: a. Xác định đối tượng, vị trí của phương pháp dạy học Tiếng Việt trong hệ thống các khoa học, đặc biệt là khoa học giáo dục. b. Phát hiện ra bản chất của quá trình dạy học Tiếng Việt, cấu trúc chức năng, những quy luật chi phối sự vận hành của nó, từ đó đề ra những nguyên tắc cơ bản điều khiển tối ưu quá trình dạy học. Phương pháp dạy học Tiếng Việt không chỉ là cụ thể hoá những quan điểm giáo dục vào bộ môn cụ thể mà các tài liệu dạy học Tiếng Việt không thể tách rời lí luận dạy học, tâm lí học, ngôn ngữ học,… Các ngành này không thể thay thế cho phần cơ sở riêng của phương pháp. c. Xây dựng, hoàn thiện và phát triển hệ thống khái niệm chuyên biệt của phương pháp dạy học Tiếng Việt, góp phần làm giàu khái niệm lí luận dạy học. d. Xây dựng hệ thống PPNC khoa học riêng cho PPDH Tiếng Việt. Vận dụng những phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học khác vào lĩnh vực chuyên biệt của mình như thực nghiệm, thống kê, mô hình hoá,… 12

e. Xác lập các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc các vấn đề cơ bản của phương pháp dạy học Tiếng Việt sao cho việc giải quyết chúng sẽ thúc đẩy sự phát triển của bản thân khoa học này. 3.1.2. Xây dựng lí thuyết về môn học Tiếng Việt trong nhà trường Phương pháp dạy học có nhiệm vụ trả các câu hỏi : a. Dạy học để làm gì? Trả lời câu hỏi này tức là đi nghiên cứu xác định hệ thống mục tiêu của môn Tiếng Việt trong trường học. PPDH Tiếng Việt phải xây dựng hệ thống tiêu chí nội dung và cách thức đánh giá kết quả dạy môn học mà sản phẩm của nó là “chuẩn trình độ tối thiểu môn Tiếng Việt”. b. Dạy học cái gì? Trả lời câu hỏi này tức là nghiên cứu việc xây dựng nội dung môn học Tiếng Việt trong nhà trường. Nội dung đó bao gồm : – Những tri thức về hệ thống và chuẩn Tiếng Việt văn hóa, về quá trình hoạt động giao tiếp. – Các kĩ năng hoạt động ngôn ngữ (kĩ năng tiếp nhận và sản sinh lời nói). Nội dung môn học Tiếng Việt phải thoả mãn ba yêu cầu sau: – Đáp ứng được yêu cầu của xã hội. – Phản ánh trung thành Việt ngữ hiện đại. – Phù hợp với đặc điểm tâm lí lĩnh hội của HS. c. Nghiên cứu những quy luật mối quan hệ giữa các kiến thức trong nội bộ môn Tiếng Việt. Ví dụ mối quan hệ giữa đọc, viết trong dạy học vần với tập đọc, chính tả… d. Nghiên cứu quy luật mối quan hệ liên môn. Ví dụ mối quan hệ giữa dạy văn với dạy tiếng với dạy tự nhiên, xã hội,… e. Nghiên cứu những lĩnh vực cụ thể khác của nội dung dạy học Tiếng Việt như: thực hành nghe, đọc, nói, viết; bài tập Tiếng Việt; giáo dục tư tưởng tình cảm trong giờ học Tiếng Việt. 3.1.3. Xây dựng lí thuyết về phương pháp dạy học môn học Tiếng Việt Phương pháp dạy học có nhiệm vụ trả các câu hỏi: a. Dạy học như thế nào ? Trả lời câu hỏi này tức là: – Xác định cách thức hoạt động cụ thể trong quá trình dạy học của thầy và trò. 13

của việc dạy học tiếng trong nhà trường. Tất cả các giờ dạy Tiếng Việt, cả dạy đọc, viết, cả nghiên cứu ngữ pháp, từ ngữ… phải đi theo khuynh hướng này. – HS phải ý thức được chức năng của ngôn ngữ, nắm vững các phương tiện, kết cấu và quy luật cũng như hoạt động hành chức của nó. HS cần hiểu rõ người ta nói và viết không phải chỉ để cho mình mà còn cho người khác, do đó ngôn ngữ cần chính xác, rõ ràng, dễ hiểu. – Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp nên phải lấy hoạt động giao tiếp làm phương tiện để dạy và học Tiếng Việt. + Ngôn ngữ luôn luôn gắn bó chặt chẽ với tư duy, “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” (C.Mác). Từ đây ta rút ra những kết luận có tính chất PP: – Kiến thức, kĩ xảo ngôn ngữ phải được xem xét như là những yếu tố của phát triển tư duy, các hệ thống dạy học Tiếng Việt cần bảo đảm mối liên hệ giữa lời nói và tư duy. – Phải thường xuyên luyện tập cho HS khả năng diễn đạt tư tưởng của mình bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau. Lời nói cần có nội dung, đó chính là tư duy. Trong dạy tiếng có thể đi từ tư duy đến ngôn ngữ, ví dụ từ một ý viết thành những câu khác nhau. + Nhận thức luận của chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng: Con đường biện chứng của nhận thức chân lí đi qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính, đồng thời cũng chỉ ra thực tiễn là cội nguồn, động lực của nhận thức, cũng là tiêu chuẩn của chân lí, là đỉnh cao và mục đích cuối cùng của nhận thức. Đây là cơ sở của nguyên tắc trực quan trong dạy tiếng và cũng là cơ sở để đề cao nguyên tắc phải tính đến đặc điểm tiếng mẹ đẻ của HS trong quá trình dạy học Tiếng Việt. Do đó, nhiệm vụ đầu tiên của nhà trường trong dạy tiếng là phát triển những khả năng nhận thức cảm tính của trẻ em. Dạy tiếng phải dựa trên kinh nghiệm sống và kinh nghiệm lời nói của HS. Những quan sát và ấn tượng sống của trẻ em phải là cơ sở cho bài học Tiếng Việt. b.1.2. Cơ sở ngôn ngữ học và văn học Những hiểu biết về bản chất của ngôn ngữ, của Tiếng Việt có vai trò quan trọng trong việc định ra các nguyên tắc, nội dung và PP dạy học Tiếng Việt. Ví dụ, từ bản chất tín hiệu của ngôn ngữ, dạy tiếng phải làm cho HS nắm được giá trị của từng 15

Quan hệ của Phương pháp dạy học Tiếng Việt với khoa học giáo dục thể hiện ở chỗ phương pháp dạy học tiếng được một hệ thống lí luận giáo dục tạo ra và làm cơ sở. Phương pháp dạy học Tiếng Việt hoàn toàn sử dụng các khái niệm, thuật ngữ của giáo dục học. Nó hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục do giáo dục học đề ra – phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tư duy sáng tạo cho HS, giáo dục tư tưởng đạo đức, phát triển óc thẩm mĩ giáo dục tổng hợp và giáo dục lao động. Trong Phương pháp dạy học Tiếng Việt có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của Lí luận dạy học: nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn liền lí thuyết với thực hành, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tiếp cận cá thể và phân hóa trong dạy học… Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng những nguyên tắc này tuỳ theo những đặc trưng riêng của mình. Ví dụ nguyên tắc gắn liền lí thuyết với thực hành trong PPDH Tiếng Việt đòi hỏi một hoạt động lời nói thường xuyên, biểu hiện ý nghĩa bằng lời nói, viết, cùng với việc thường xuyên vận dụng những hiểu biết lí thuyết vào giải bài tập. Nhiệm vụ phát triển lời nói đã quy định việc xây dựng chương trình Tiếng Việt mà tất cả các phân môn đều có mục đích phát triển bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Thực hiện nguyên tắc trực quan trong giờ tiếng Việt không chỉ là việc chỉ sử dụng sơ đồ, bảng biểu, dùng chữ viết sẵn, phim ảnh mà còn là “trực quan lời nói”, bao gồm từ việc quan sát ngôn ngữ sống động đến việc dựa vào bài khóa trong khi nghiên cứu về ngữ âm, từ vựng, chính tả, ngữ pháp. Tài liệu trực quan cơ bản trong giờ học Tiếng Việt là Tiếng Việt văn hóa, Tiếng Việt trong những mẫu tốt nhất của nó: văn học dân gian, tác phẩm văn học Việt Nam và thế giới. Phương pháp dạy học Tiếng Việt chọn ở giáo dục học các hình thức tổ chức dạy học như bài học và các hình thức khác. Các phương pháp dạy học cơ bản – phương pháp bằng lời, phương pháp bài tập, phương pháp dạy học nêu vấn đề… đều có mặt trong giờ Tiếng Việt. b.1.4. Cơ sở Tâm lí học và Tâm lí ngôn ngữ học Quan hệ của phương pháp dạy học Tiếng Việt và Tâm lí học, đặc biệt là tâm lí học lứa tuổi rất chặt chẽ. Không có kiến thức về quá trình tâm lí người nói chung và 17

tâm lí trẻ em lứa tuổi tiểu học nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho HS. PPDH Tiếng Việt vận dụng rất nhiều kết quả của Tâm lí học. Đó là các quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo. Thầy giáo cần biết, sản phẩm lời nói được sản sinh ra như thế nào, quá trình học được thiết lập từ những yếu tố nào, khái niệm ngữ pháp được hình thành ở trẻ em ra sao, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển tư duy ra sao, kĩ năng nói, viết được hình thành như thế nào…? Tâm lí học đưa ra cho phương pháp những số liệu cụ thể về quá trình nắm lời nói, về việc nắm ngữ pháp. Những nghiên cứu tâm lí học cho phép xác định mức độ vừa sức của tài liệu học tập. Mặt khác, Tâm lí ngôn ngữ học đem lại cho phương pháp những số liệu về lời nói như một hoạt động, ví dụ như việc xác định tình huống nói năng, các giai đoạn sản sinh lời nói, tính hiệu quả sự tác động của lời nói trong giao tiếp giữa cá thể với nhiều người. b.2. Cơ sở thực tiễn chính là tình hình dạy học Tiếng Việt ở trường tiểu học. 3.2. Nhiệm vụ của bộ môn PPDH Tiếng Việt trong trường sư phạm 3.2.1. Cung cấp những kiến thức cơ bản về dạy học môn Tiếng Việt cho SV như: a. Kiến thức đại cương về phương pháp dạy học Tiếng Việt: Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu của phương pháp dạy học Tiếng Việt và quan hệ của nó với các ngành khoa học khác. b. Những kiến thức cụ thể về lập kế hoạch dạy học, chuẩn bị và tiến hành dạy từng bài học trên lớp. 3.2.2. Rèn luyện kĩ năng kĩ xảo về dạy học môn Tiếng Việt cho sinh viên: a. Kĩ năng phân tích mục tiêu, tìm hiểu chương trình, SGK và các tài liệu dạy Tiếng Việt ở tiểu học. b. Kĩ năng tìm hiểu trình độ và đặc điểm ngôn ngữ của HS tiểu học. c. Kĩ năng lập kế hoạch dạy học, thiết kế bài dạy. d. Kĩ năng tổ chức các hoạt động dạy học Tiếng Việt. e. Kĩ năng kiểm tra, đánh giá HS. g. Kĩ năng tổ chức các hoạt động ngoại khoá, bồi dưỡng HS giỏi, giúp đỡ HS kém; công tác chủ nhiệm, công tác Đội,… 18

1.3. Các nguyên tắc dạy Tiếng Việt ở tiểu học 1.3.1. Nguyên tắc phát triển tư duy (Rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư duy) Ngôn ngữ và tư duy của con người là hai phạm trù có mối liên hệ mật thiết, có sự tác động và hỗ trợ lẫn nhau. Ngôn ngữ là công cụ để tư duy và tư duy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ. Ngôn ngữ là tiền đề và là điều kiện để tư duy phát triển và ngược lại. Mối quan hệ này có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình dạy Tiếng Việt cho HS Tiểu học. Mục tiêu đầu tiên của việc dạy Tiếng Việt ở tiểu học là góp phần hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, phát triển tư duy cho HS. Điều này được thực hiện thông qua quá trình dạy học Tiếng Việt, quá trình HS từng bước chiếm lĩnh Tiếng Việt văn hoá. Nói cách khác, cùng với quá trình dạy học Tiếng Việt, đồng thời ở HS cũng hình thành và phát triển các thao tác tư duy, các phẩm chất tư duy. Để phát triển tư duy gắn liền với phát triển ngôn ngữ cho học sinh, trong dạy học Tiếng Việt, người giáo viên cần chú ý các yêu cầu cụ thể: – Trong mọi giờ học đều phải chú ý rèn các thao tác tư duy. Đó là các thao tác phân tích, so sánh, khái quát, tổng hợp… Đồng thời phải chú ý rèn luyện cho các em phẩm chất tư duy nhanh, chính xác và tích cực… – Phải làm cho HS thông hiểu được ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ. – Phải tạo điều kiện cho học sinh nắm được nội dung các vấn đề cần nói và viết trong môi trường giao tiếp cụ thể và biết thể hiện nội dung này bằng các phương tiện ngôn ngữ. 1.3.2. Nguyên tắc giao tiếp ( nguyên tắc phát triển lời nói) Hướng vào hoạt động giao tiếp là nguyên tắc đặc trưng của việc dạy học Tiếng Việt. Để hình thành các kĩ năng và kĩ xảo ngôn ngữ, học sinh phải được hoạt động trong các môi trường giao tiếp cụ thể, đặc biệt là môi trường văn hoá ứng xử. Chỉ có trong các môi trường giao tiếp, môi trường văn hoá ứng xử, học sinh mới hiểu lời nói của người khác, đồng thời vận dụng ngôn ngữ sáng tạo để người khác hiểu được tư tưởng và tình cảm của các em. Bởi lẽ, ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ với văn hóa của một dân tộc, nhất là văn hóa ứng xử. Thông qua các bài tập thực hành đơn 20

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Tiếng Việt Lớp 1 / 2023

Năm học mới 2014-2015, hơn 19.800 học sinh lớp 1 sẽ học theo chương trình tiếng Việt 1-CGD. Phương pháp này bao gồm 4 nội dung: Học vần, viết, đọc và viết chính tả. Điểm nổi bật của phương pháp này là tính vững chắc, học sinh học đâu biết đấy, học đâu chắc đấy. Sự vững chắc đạt được nhờ hai yếu tố giải quyết dứt điểm (từng đơn vị học) và nhắc lại thường xuyên, nhắc lại khi có cơ hội.

Ngay sau khi có công văn của Bộ GD&ĐT về việc đăng ký phương án dạy học theo tài liệu Tiếng Việt 1 – CGD, năm học 2013-2014, Sở GD&ĐT đã có kế hoạch chỉ đạo thực hiện dạy học thí điểm tài liệu Tiếng Việt 1 – CGD tại 3 đơn vị: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và huyện Yên Lạc. Tổng số 201 lớp 1 với 7.189 học sinh tham gia học theo chương trình mới.

Sau một năm thử nghiệm, kiến thức và năng lực của giáo viên tham gia dạy Tiếng Việt 1 – CGD được nâng lên rõ rệt. Giáo viên không phải soạn bài nên có thời gian nghiên cứu thiết kế bài dạy và quy trình dạy các mẫu, nắm chắc quy trình của từng mẫu nên việc giảng dạy thuận lợi hơn. Giáo viên đã hiểu bản chất của chương trình và kĩ thuật dạy học, phấn khởi khi thấy chất lượng môn Tiếng Việt lớp 1 của mình cao hơn những năm học trước. Càng về cuối năm, giáo viên dạy học và vận dụng sách thiết kế vào dạy học càng linh hoạt, sáng tạo hơn.

Trong khi đó, học sinh được hướng dẫn kỹ các quy định nên các em có nề nếp học tập tốt ngay từ đầu năm và được duy trì trong suốt năm học. Với phương pháp dạy học theo hướng tích cực nên tiến trình giờ dạy diễn ra nhẹ nhàng, giúp học sinh tham gia hoạt động học tập một cách tự giác, chủ động, sáng tạo. Từ đó, bước đầu hình thành cho học sinh kĩ năng tự học. Học sinh tự làm ra sản phẩm giáo dục nên rất hứng thú, khả năng tư duy của học sinh được phát huy, học sinh nắm chắc cấu tạo ngữ âm của tiếng nên đều đọc được và đọc tốt, nắm chắc các quy tắc chính tả, học đến đâu chắc đến đó; không bị nhầm lẫn viết sai chính tả, học sinh có kĩ năng nghe để viết chính tả tốt. Đa số các em nghe và hiểu được hiệu lệnh, hiểu được lời nói của giáo viên. Nhiều em trả lời rành mạch, nói đủ câu rõ ràng. Học sinh đọc nhanh, đọc đều, đảm bảo tốc độ đọc theo yêu cầu. Qua đó, các bài tập đọc hiểu cũng được học sinh thực hiện tốt, chữ viết đúng và đẹp hơn. Kết quả học tập của học sinh ổn định, vững chắc, học sinh học đâu biết đấy, học đâu chắc đấy. Cô Nguyễn Thị Thu Hương là một trong những giáo viên trực tiếp dạy môn Tiếng Việt 1- CGD của trường Tiểu học Minh Tân (Yên Lạc) cho biết: Với phương pháp dạy mới này, học sinh hứng thú hơn trong giờ học. Nhiều em thể hiện được khả năng đọc và viết khá tốt. So với phương pháp dạy truyền thống, chương trình Tiếng Việt 1- CGD có nhiều tính ưu việt. Với phương pháp này, đòi hỏi giáo viên liên tục phải tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, thường xuyên tìm tòi, tham khảo các mẫu giảng. Từ đó, tự thiết kế bài giảng của mình sao cho linh hoạt, phù hợp với trình độ tiếp nhận của học sinh.

Tuy nhiên, sau một năm thử nghiệm dạy học theo chương trình Tiếng Việt 1-CGD, còn một số cán bộ giáo viên chưa thật yên tâm khi thực hiện dạy học theo chương trình mới. Nhiều giáo viên chưa có thói quen làm việc theo thiết kế, còn “tham lam, ôm đồm” kiến thức. Việc học sinh chuyển từ trường dạy theo chương trình Tiếng Việt cũ đến trường tham gia dạy Tiếng Việt 1 – CGD đã tạo ra nhiều khó khăn cho việc tiếp cận kiến thức của học sinh, khiến giáo viên phải dạy lại từ đầu. Phụ huynh rất quan tâm đến việc học Tiếng Việt của con em mình nhưng lại không thể dạy con theo tài liệu Tiếng Việt 1 – CGD nên cũng đưa ra những băn khoăn, thắc mắc khiến giáo viên phải giải thích nhiều cho phụ huynh hiểu.

Khắc phục những khó khăn trên, Sở GD&ĐT đã yêu cầu các địa phương họp, tổng kết công tác triển khai dạy học Tiếng Việt 1- CGD, rút kinh nghiệm, đưa ra nguyên nhân và hướng giải quyết của những hạn chế tồn tại. Từ đó, lên kế hoạch triển khai chỉ đạo tổ chức dạy học Tiếng Việt 1 cho 100% học sinh lớp 1 trên địa bàn tỉnh bắt đầu từ năm học 2014-2015.

Thúy Nga

Phương Pháp Dạy Con Học Tiếng Việt Lớp 2 / 2023

Tiếng Việt là một trong những môn học rất quan trọng ở bậc tiểu học, đặc biệt là tiếng Việt lớp 2. Việc giúp trẻ nắm vững kiến thức tiếng Việt lớp 2 có ý nghĩa rất quan trọng, là nền tảng vững chắc đầu đời, tiếp bước cho hành trình ở những bậc học sau này. Do có nhiều thay đổi và khó hơn với tiếng Việt lớp 1, phụ huynh cần chuẩn bị nhiều hơn để trẻ học tốt môn tiếng Việt lớp 2 ngay từ bây giờ. Bài viết sau đây sẽ chia sẻ đến phụ huynh một số phương pháp dạy con học tiếng Việt lớp 2 hiệu quả.

Để giúp con học tốt tiếng Việt lớp 2, trước tiên phụ huynh phải nắm rõ chương trình học. Tiếng Việt lớp 2 gồm 2 quyển (tập 1, tập 2) tương ứng với 02 học kỳ trong năm học. Chương trình tiếng Việt lớp 2 gồm các nội dung chính là tập đọc; luyện từ và câu; chính tả; kể chuyện… với mỗi nội dung đòi hỏi phụ huynh có phương pháp dạy học riêng.

Phương pháp dạy tiếng Việt lớp 2 hiệu quả

Khi dạy trẻ học, phụ huynh nên chia thành nhiều khoảng thời gian, thường dao động từ 40 đến 45 phút, cho nghỉ giải lao 10 – 15 phút. Việc này giúp trẻ không chịu áp lực, thoải mái, có động lực học tốt hơn. Ở độ tuổi học lớp 2, các em có khả năng tiếp thu cái mới rất tốt, việc uốn nắn, rèn luyện đúng cách ngay từ đầu sẽ giúp ích rất lớn cho việc học tập sau này. Phụ huynh có một lợi thế khi dạy kèm con học tiếng Việt lớp 2, do phụ huynh là người gần gũi, hiểu được tâm lý của trẻ thích cái gì, không thích cái gì,… Phụ huynh vừa dạy học, vừa có thể giám sát được việc học của con em.

Động viên tinh thần

Khi dạy, phụ huynh cũng cần động viên tinh thần của con em, thông qua một số lời khen, động viên như: Con hãy cố gắng hơn; Con đã làm rất tốt; Hãy cố gắng, con có thể làm tốt hơn thế này,… Việc khen các cháu trong quá trình dạy học sẽ giúp trẻ bớt căng thẳng, đồng thời có thêm động lực để học thật tốt. Ngoài ra, phụ huynh cũng cần trao đổi với giáo viên về tình hình học tập môn tiếng Việt của con để có phương pháp dạy con phù hợp.

Tóm lại, việc dạy cho trẻ học tiếng Việt lớp 2 cần sử dụng kết hợp nhiều phương pháp với nhau, vì không có phương pháp giảng dạy nào là tối ưu nhất.

Các Nguyên Tắc Và Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt / 2023

I. CÁC NGUYÊN TẮC.

I.1. Khái niệm về nguyên tắc dạy học tiếng mẹ đẻ.

“nguyên tắc giảng dạy tiếng mẹ đẻ là những tiền đề cơ bản xác định nội dung, phương pháp và cách tổ chức hoạt động dạy học tiếng mẹ đẻ của thầy giáo và học sinh”

– Dựa vào qui luật của quá trình thủ đắc ngôn ngữ ( acquisition ), Fêđôrenkô đề xuất 5 nguyên tắc: (xem Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Lê A chủ biên, trang 47)

– Các nguyên tắc chiến lược và nguyên tắc chiến thuật, theo Duđnhicôp: (xem Giáo trình như trên trang 49)

I.2. Sự chi phối của các nguyên tắc dạy học đối với quá trình tổ chức dạy học tiếng Việt trong nhà trường.

a. Dựa vào các nguyên tắc dạy học tiếng cho học sinh bản ngữ, SGK xác định và sắp xếp nội dung dạy học cho phù hợp với đối tượng học tiếng mẹ đẻ ở từng cấp học, từng lớp học.

b. Việc lựa chọn phương pháp dạy học để thực hiện tiến trình lên lớp phải sao cho bảo đảm tốt nhất các nguyên tắc dạy học. Hơn nữa, việc sử dụng và thể hiện phương pháp dạy học bao giờ cũng phải được thực hiện trong khuôn khổ những nguyên tắc thì mới bảo đảm được hiệu quả dạy học.

c. Các nguyên tắc dạy học không chỉ được biểu hiện qua nội dung dạy học, phương pháp dạy học mà còn biểu hiện qua việc lựa chọn hình thức dạy học. Diễn giảng hoặc đàm thoại, đọc sách giáo khoa hay làm bài tập tiếng Việt.đều phải lưu ý đúng mức đến vai trò của giao tiếp, của mục đích phát triển kĩ năng ngôn ngữ và rèn luyện tư duy.

Bài 3. CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT I. CÁC NGUYÊN TẮC. I.1. Khái niệm về nguyên tắc dạy học tiếng mẹ đẻ. "nguyên tắc giảng dạy tiếng mẹ đẻ là những tiền đề cơ bản xác định nội dung, phương pháp và cách tổ chức hoạt động dạy học tiếng mẹ đẻ của thầy giáo và học sinh" - Dựa vào qui luật của quá trình thủ đắc ngôn ngữ ( acquisition ), Fêđôrenkô đề xuất 5 nguyên tắc: (xem Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Lê A chủ biên, trang 47) - Các nguyên tắc chiến lược và nguyên tắc chiến thuật, theo Duđnhicôp: (xem Giáo trình như trên trang 49) I.2. Sự chi phối của các nguyên tắc dạy học đối với quá trình tổ chức dạy học tiếng Việt trong nhà trường. a. Dựa vào các nguyên tắc dạy học tiếng cho học sinh bản ngữ, SGK xác định và sắp xếp nội dung dạy học cho phù hợp với đối tượng học tiếng mẹ đẻ ở từng cấp học, từng lớp học. b. Việc lựa chọn phương pháp dạy học để thực hiện tiến trình lên lớp phải sao cho bảo đảm tốt nhất các nguyên tắc dạy học. Hơn nữa, việc sử dụng và thể hiện phương pháp dạy học bao giờ cũng phải được thực hiện trong khuôn khổ những nguyên tắc thì mới bảo đảm được hiệu quả dạy học. c. Các nguyên tắc dạy học không chỉ được biểu hiện qua nội dung dạy học, phương pháp dạy học mà còn biểu hiện qua việc lựa chọn hình thức dạy học. Diễn giảng hoặc đàm thoại, đọc sách giáo khoa hay làm bài tập tiếng Việt...đều phải lưu ý đúng mức đến vai trò của giao tiếp, của mục đích phát triển kĩ năng ngôn ngữ và rèn luyện tư duy... I.3. Các nguyên tắc đặc thù của Phương pháp dạy tiếng. I.3.1. Nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với phát triển năng lực tư duy. - Mệnh đề " ngôn ngữ là hiện thực của tư tưởng" thể hiện quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ và tư duy. Ngôn ngữ là công cụ để tư duy và biểu hiện tư duy. - Tính khái quát và hệ thống của tri thức ngôn ngữ đòi hỏi các thao tác tư duy tương ứng. - Thực hành ngôn ngữ không chỉ gắn liền với tầng bậc của hình thức ngữ pháp mà còn thường xuyên rèn luyện tư duy về nội dung ngữ nghĩa lôgic, tư duy biện chứng, kể cả tư duy hình ảnh. - Suy cho cùng, biểu hiện rõ rệt nhất của năng lực ngôn ngữ ở một cá nhân là sự biểu hiện của trình độ tư duy thông qua sản phẩm giao tiếp mà cá nhân đó tổ chức nên. Hệ quả của năng lực tạo sinh văn bản tất yếu đồng thời với năng lực tiếp nhận văn bản. I.3.2. Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp. - Giao tiếp là nhu cầu tồn tại của xã hội. Lịch sử nhân loại đã trải qua giao tiếp với nhiều phương tiện khác nhau, trong đó, quan trọng nhất là ngôn ngữ. - Như vậy, ngôn ngữ luôn luôn tồn tai và phát triển trong giao tiếp và qua giao tiếp. Điều này dẫn đến cách hiểu tự nhiên là dạy học ngôn ngữ phải dạy học trong giao tiếp. - Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là trực quan sinh động của hoạt động dạy và học ngôn ngữ. Việc rèn luyện năng lực ngôn ngữ cá nhân lấy đó làm phương tiện, làm môi trường rèn luyện của mình. - Sản phẩm của hoạt động giao tiếp, tức các ngôn bản là công cụ trực quan của tiến trình dạy học tiếng. Đồng thời, vì người học phải phấn đấu để có khả năng tạo ra hoặc khả năng tiếp nhận các ngôn bản đó khi giao tiếp nên chúng cũng có tính mục đích đối với người học. Do vậy, có thể nói rằng hoạt động giao tiếp là môi trường học tập vừa mang tính phương tiện vừa mang tính mục đích. - Hướng về hoạt động giao tiếp, dạy học tiếng gặp những thuận lợi sau: + Là một ngôn ngữ không biến hình, tiếng Việt chỉ có thể bộc lộ đặc điểm ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp trong các phát ngôn cụ thể. Nhờ đó, người học xác lập một cách rõ ràng mối liên hệ giữa lí thuyết với thực tế sử dụng ngôn ngữ. + Là sản phẩm của hoạt động giao tiếp, ngôn bản ( nói, viết ) là chỉnh thể thống nhất của yếu tố ngôn ngữ và yếu tố phi ngôn ngữ. Nói cách khác, nếu tách yếu tố ngôn ngữ khỏi ngữ cảnh, tách tác phẩm khỏi hoàn cảnh sáng tác, người tiếp nhận sẽ không thể hiểu đúng được nội dung. Dạy học gắn với giao tiếp chính là gắn với đời sống tâm lí cộng đồng dân tộc, với đặc điểm xã hội - lịch sử...; ở đó, lời nói cá nhân vừa phù hợp với tâm lí chung vừa có cá tính của chủ thể nói năng. - Nhằm tạo thuận lợi cho việc bảo đảm nguyên tắc này, ngoài việc ứng dụng các phương pháp dạy học thích hợp, vai trò của cấu trúc nội dung bài dạy của sách giáo khoa có ý nghĩa rất quan trọng. I.3.3. Nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng Việt đã có của học sinh. - Mỗi người bình thường có một bộ thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ. Bộ thói quen này bao gồm những thói quen đúng và thói quen sai, bao gồm vốn từ tích cực và vốn từ tiêu cực, bao gồm kinh nghiệm và khả năng phân tích lẫn tính nhạy cảm bản ngữ. Quá trình học tập tiếng mẹ đẻ ở nhà trường và ngoài đời là quá trình ý thức hoá bộ thói quen đó về các mặt cấu trúc ngôn ngữ, tổ chức lời nói, ý nghĩa xã hội...kể cả kinh nghiệm dùng lời trong các bối cảch giao tiếp khác nhau. - Mỗi học sinh ở cấp học, lớp học cụ thể hiện có một trình độ tiếng Việt cụ thể cùng với một bộ thói quen tương ứng như vừa nói ở trên. Đây là đặc điểm đáng lưu ý của học sinh bản ngữ mà người thầy dạy học tiếng mẹ đẻ có thể tận dụng như là một thuận lợi lớn trong dạy học. Đặc điểm này loại biệt khá rõ nội dung, phương pháp và hình thức dạy học tiếng mẹ đẻ cho học sinh bản ngữ với dạy học ngoại ngữ. + Nội dung dạy học tiếng mẹ đẻ là nội dung tích hợp nhằm rèn luyện năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ. Đó là nội dung tri thức về hệ thống ngôn ngữ, về cách sử dụng ngôn ngữ trong bối cảnh xã hội - lịch sử cụ thể, trong đời sống tâm lí và tinh thần dân tộc, trong truyền thống đạo đức và vẻ đẹp nhân văn...Dạy học ngoại ngữ phải vượt qua chặng đường dài mới có thể vươn tới sự tương thích trên. + Nếu như học ngôn ngữ thứ hai, người học cảm thấy xa lạ với mọi yếu tố trong ngôn bản, từ hình thức diễn đạt đến nội dung ngữ nghĩa thì học tiếng mẹ đẻ, nội dung và hình thức của ngôn bản đều quen thuộc. Mục đích dạy học tiếng mẹ đẻ là làm sao giúp học sinh ý thức được qui tắc của cách nói cho phù hợp với nội dung quen thuộc trên. Theo tinh thần dạy học như vậy, trình độ tiếng mẹ đẻ sẵn có ở học sinh, đặc biệt là năng lực tiếp nhận nội dung ngữ nghĩa chính là phương tiện giúp học sinh học cách tổ chức hình thức diễn đạt cho nội dung đó. Nói gọn lại, về phương pháp dạy học, thầy giáo dạy tiếng mẹ đẻ có thể dựa vào trình độ tiếng Việt sẵn có của học sinh để giúp học sinh ý thức hoá và hoàn thiện bộ thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình. - Một khía cạnh cần quan tâm khi chú ý đến trình độ tiếng Việt đã có ở học sinh bản ngữ là tính nhạy cảm bản ngữ. Đây là khả năng tiếp nhận ngữ nghĩa tiếng mẹ đẻ cùng với mọi sắc thái của nó một cách gần như trực cảm không qua phân tích. Dựa vào năng lực tiếp nhận nội dung của học sinh bản ngữ để dạy học cách tổ chức hình thức lời nói, giáo viên không thể không coi trọng tính nhạy cảm bản ngữ ở họ. - Ngoài các đặc điểm chung về trình độ tiếng Việt đã có ở học sinh như đã nói ở trên, giáo viên còn phải khảo sát và phân lập được trình độ cụ thể của từng lớp, từng học sinh mình phụ trách để có kế hoạch dạy học thích hợp. I.3.4. Nguyên tắc so sánh và phát triển hài hoà ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. - Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là hai dạng tồn tại của ngôn bản. Chúng có những đặc điểm khác nhau và cần thiết phải phân biệt trên cơ sở đối chiếu, so sánh để diễn đạt cho phù hợp. - Tuy có đặc điểm khác nhau nhưng một vài sắc thái riêng của ngôn ngữ nói có thể bổ sung cho hiệu quả diễn đạt của ngôn ngữ viết và ngược lại. Do đó, phát triển hài hoà cả hai loại ngôn bản này vừa phù hợp với yêu cầu giao tiếp xã hội vừa phù hợp với việc tăng cường hiệu quả diễn đạt của chúng. Để có thể bảo đảm được nguyên tắc này, giáo viên nên thường xuyên giúp học sinh ý thức rõ đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, cũng như sự ảnh hưởng tích cực và tiêu cực lẫn nhau giữa chúng trong diễn đạt. - Về vai trò của thầy giáo, nguyên tắc này được tuân thủ bằng việc điều khiển tốt bài tập thực hành miệng, các tiến trình giao tiếp xây dựng bài học, trả và hướng dẫn sửa chữa bài tập viết, v.v... II. CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH BẢN NGỮ. II.1. Về khái niệm phương pháp dạy học. - Nhiệm vụ chủ yếu của môn Phương pháp dạy học là trả lời câu hỏi: dạy như thế nào để đạt hiệu quả dạy học tốt nhất? Nội dung trả lời chính là sự cụ thể hoá lí thuyết cũng như sự ứng dụng các phương pháp dạy học. II.2. Một số cách tiếp cận khác nhau đối với việc xây dựng hệ thống phương pháp dạy học tiếng. II.2.1. Các bình diện khác nhau của phương pháp dạy học: a- điều hành quá trình giảng dạy b- theo các con đường nhận thức và đặc trưng hoạt động tư duy c- theo các hình thức tổ chức dạy học d- theo phương thức đặc thù tiếp nhận các nội dung tri thức II.2.2. Một số tổ hợp phương pháp dạy tiếng thường được nói tới. II.3. Các phương pháp dạy học tiếng Việt thường dùng. II.3.1. Phương pháp thông báo - giải thích. - Đây là một phương pháp dạy học truyền thống, còn có tên gọi là phương pháp truyền thụ (transmission). Phương pháp này từng đóng vai trò và có đóng góp đáng kể cho giáo dục trong nhiều thế kỉ. - Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, phương pháp này trở nên bất lực trước một khối lượng tri thức khổng lồ cần chuyển tải đến người học. Tuy vậy, trong vài điều kiện cụ thể của môi trường giáo dục, của đối tượng giáo dục...như học sinh cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở chẳng hạn, phương pháp thông báo giải thích vẫn mang lại hiệu quả tốt. Hiện nay, không phải bất cứ đâu và bất cứ ai cũng có thể tiếp cận được nguồn thông tin khổng lồ của nhân loại. Hơn nữa, có người thầy có kinh nghiệm tham khảo tài liệu, lựa chọn, tổng kết một nội dung thuộc một phạm vi tri thức nào đó cũng là điều tốt, vừa tiết kiệm thời gian, vừa khắc phục được tình trạng thiếu điều kiện tiếp cận thông tin của người học. - Để hỗ trợ cho phương pháp này, giáo viên thường dùng các công cụ trực quan như bảng biểu, sơ đồ...nhằm giúp người học tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống. - Như đã nói ở trên, phương pháp này đã không còn phổ biến như trước nữa do môi trường xã hội học tập đã đổi khác. Giáo viên không nên l ... ngữ. - Dù sử dụng biện pháp nào, quan sát - phân tích ngôn ngữ cũng phải thực hiện các thao tác sau: + Phân tích - phát hiện + Phân tích - chứng minh + Phân tích - phán đoán + Phân tích - tổng hợp - Để có thể ứng dụng được phương pháp này, giáo viên cần phải có kĩ năng phân tích ngữ pháp và ngữ nghĩa logic, phải chuẩn bị kĩ càng, tỉ mỉ hệ thống câu hỏi gợi tìm theo định hướng bài học. + Về kĩ năng phân tích ngữ pháp và ngữ nghĩa logic + Về yêu cầu của hệ thống câu hỏi gợi tìm II.3.3. Phương pháp rèn luyện theo mẫu. - Mô phỏng, bắt chước theo kinh nghiệm giao tiếp gắn liền với quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ của con người. Phương pháp rèn luyện theo mẫu là cách dạy học một cách có ý thức về thói quen và kinh nghiệm ấy. - Đối với học sinh trung học phổ thông, phương pháp này nên ứng dụng cho dạy học tạo sinh lời nói. Thầy giáo chọn và giới thiệu các mẫu hoạt động ngôn ngữ rồi hướng dẫn học sinh phân tích để hiểu và nắm vững cơ chế của chúng; sau đó, bắt chước mẫu đó một cách sáng tạo vào lời nói của mình. - Phương pháp rèn luyện theo mẫu có thể được áp dụng theo các bước sau đây: + Cung cấp mẫu lời nói hoặc hành động lời nói. + Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích mẫu theo một số yêu cầu. + Học sinh mô phỏng mẫu để tạo ra lời nói của mình. + Kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm. II.3.4. Phương pháp giao tiếp. - Giao tiếp là chức năng trọng yếu của hoạt động ngôn ngữ. Dạy học tiếng cho học sinh cũng là nhằm giúp các em có năng lực tham gia vào hoạt động giao tiếp. Do đó, phương pháp giao tiếp lấy giao tiếp làm phương thức dạy học vùa phù hợp với mục đích dạy học, lại vừa phù hợp với nguyên tắc trực quan trong dạy học. Chỉ có dạy học trong môi trường giao tiếp, học sinh mới dễ dàng tiếp cận mối quan hệ giữa lí thuyết và thực hành, giữa cụ thể và khái quát, giữa kiến thức cục bộ và tổng quan về hệ thống ngôn ngữ, giữa hệ thống ngôn ngữ và hoạt động lời nói. - Lấy giao tiếp làm phương thức dạy học, phương pháp giao tiếp mặc nhiên thừa nhận vai trò trung tâm của người học (centered - learner ) theo quan điểm truyền động ( transaction ) của giáo dục học hiện đại. Theo đó, người học là chủ thể nhận thức của quá trình học tập; thầy giáo có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, giúp đỡ người học theo phương hướng và mục đích đã định. Vậy dạy học theo phương pháp giao tiếp, ta phải làm thế nào? + Tạo các tình huống dùng hoạt động ngôn ngữ có bối cảnh giao tiếp thực nhằm kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng giao tiếp cho học sinh. * bao gồm các yếu tố ngôn ngữ trong ngữ cảnh (context): từ, cấu trúc ngữ, cấu trúc câu, các yếu tố ngôn điệu, yếu tố tu từ, phong cách... * bao gồm các yếu tố phi ngôn ngữ trong bối cảnh ( situation ): người nói, người nghe, không gian, thời gian, mục đích giao tiếp, ảnh hưởng của lịch sử - xã hội đối với các thành viên giao tiếp và quan hệ giữa họ với nhau... * bao gồm đặc điểm tâm lí , đặc điểm văn hoá dân tộc qua ngôn ngữ dân tộc. + Hướng dẫn quan sát - phân tích tình huống dùng hoạt động ngôn ngữ có bối cảnh giao tiếp thực: * Dưới sự dẫn dắt theo định hướng bài học bằng hệ thống câu hỏi của thầy giáo và qua hội thoại giữa thầy - trò, giữa trò - trò, học sinh cùng nhau nhận thức qui tắc, qui luật hoạt động của các hiện tượng ngôn ngữ trong mối tương quan với các yếu tố phi ngôn ngữ như đã nêu trên: ai nói, ( viết )? ai nghe ( đọc )? về cái gì? trong hoàn cảnh nào?... * Theo đó, học sinh rèn luyện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết bằng cách xác định hướng và nhiệm vụ giao tiếp cho từng tình huống cụ thể. * Có thể có nhiều hình thức tổ chức dạy học theo phương pháp giao tiếp như dạy học chính khoá, câu lạc bộ ứng xử theo tình huống giao tiếp, giải bài tập trắc nghiệm tình huống... III. Các thủ pháp thường dùng trong dạy học tiếng Việt. III.1. Phân tích và tổng hợp. - Phân tích là tách một hiện tượng nào đó thành các bộ phận cấu thành để có thể xem xét tất cả các mặt của nó, lí giải đặc trưng của chúng và trên cơ sở đó mà đánh giá hiện tượng đó một cách trọn vẹn. Tổng hợp là thao tác tư duy nhằm phát hiện ra các mối liên hệ giữa các mặt, các bộ phận của hiện tượng; trên cơ sở đó mà hình dung ra cả chỉnh thể sự vật, hiện tượng. - Như vậy, phân tích và tổng hợp luôn luôn đi kèm với nhau, giúp con người nhận thức toàn diện hiện thực khách quan. Bản chất của quá trình dạy học tri thức mới là quá trình tư duy nhằm nắm được tri thức đó toàn diện và chi tiết. Bởi vậy, phân tích và tổng hợp trở thành thủ pháp dạy học... III.2. So sánh đối chiếu. So sánh đối chiếu là thao tác tư duy để phân biệt hiện tượng, khái niệm với các hiện tượng, khái niệm khác. Một khái niệm ngôn ngữ, một qui tắc ngôn ngữ chỉ trở thành yếu tố tâm lí của học sinh khi các em biết đặt nó vào hệ thống các yếu tố tâm lí của mình. Nói một cách khác, các em cần phải so sánh đối chiếu chúng với các khái niệm và qui tắc đã có của mình. Mặt khác, tiếng Việt là một hệ thống giá trị và bản chất của các yếu tố cấu thành nó chỉ được xác định trong mối quan hệ với các yếu tố khác trong hệ thống. III.3. Khái quát hoá. Khi tiến hành phân tích ngôn ngữ để rút ra các khái niệm và qui tắc, ta cần khái quát hoá vì khái quát hoá là thao tác tư duy nhằm rút ra các đặc điểm bản chất nhất của nhiều hiện tượng được phân tích. III.4. Qui loại và phân loại. Gắn bó mật thiết với thủ pháp khái quát hoá là thủ pháp phân loại và qui loại. Khi rút ra cái chung của các sự kiện ngôn ngữ, học sinh đã phát hiện khả năng phân chia chúng ra từng nhóm và qui loại chúng vào các nhóm riêng biệt. Việc chia các hiện tượng ngôn ngữ thành các nhóm dựa vào sự giống nhau và khác nhau của chúng được gọi là sự phân loại. Tiếp đó, việc đưa các hiện tượng ngôn ngữ vào các nhóm thích hợp gọi là sự qui loại. Thủ pháp phân loại và qui loại thường được ứng dụng đối với phương pháp thông báo - giải thích, phương pháp quan sát - phân tích ngôn ngữ trong giờ lí thuyết. III.5. Tạo tình huống có vấn đề. Để tăng cường tính chủ động, tích cực tư duy, cần phải tạo nhu cầu nhận thức cho học sinh. Nhu cầu này xuất hiện trong những trường hợp mà trong quá trình hoạt động học tập học sinh gặp phải khó khăn và trở ngại về nhận thức. Qua quá trình đó, các em sẽ tìm tòi, phát hiện ra các tri thức mới. Việc tạo các tình huống như vậy gọi là tình huống có vấn đề. Trong dạy học, các thủ pháp này thường được áp dụng khi nghiên cứu tài liệu mới. Giáo viên tạo ra và đặt học sinh vào tình huống có vấn đề, cung cấp những tài liệu ngôn ngữ để các em quan sát. Học sinh tự quan sát, phân tích, so sánh và rút ra những kết luận cần thiết, từ đó, phát biểu định nghĩa về các khái niệm và qui tắc. IV. Các hình thức thể hiện của phương pháp. IV.1. Hình thúc diễn giảng cần được bảo đảm các yêu cầu sau: - Nội dung trình bày cần khoa học, chính xác. Lí lẽ nêu ra có tính thuyết phục và được trình bày một cách hợp lí. - Ngôn ngữ diễn giảng phải mẫu mực: đúng chuẩn, trong sáng, bảo đảm tính giáo dục. Âm thanh nhịp điệu phải vừa phải. - Thái độ cử chỉ của giáo viên phải mẫu mực. Tuyệt đối tránh lối phô trương, sáo rỗng hoặc gắt gỏng đối với học sinh. IV.2. Hình thức đàm thoại. Khi tiến hành đàm thoại, cần lưu ý một số yêu cầu sau: - Học sinh phải có ý thức về toàn bộ hay một phần lớn cuộc đàm thoại. - Chủ đề đàm thoại phải là hệ thống những vấn đề được lựa chọn và sắp xếp hợp lí nhằm hướng tới mục đích của bài học. - Số lượng, nội dung và tính chất phức tạp của câu hỏi chủ yếu phụ thuộc vào kiến thức cần thiết, trình độ học sinh. Khi học sinh không trả lời được, giáo viên cần thêm các câu hỏi phụ để gợi mở. - Bảo đảm lôi cuốn mọi học sinh tham gia vào đàm thoại. IV.3. Hình thức đọc sách giáo khoa. Sách giáo khoa là tài liệu học tập chủ yếu của học sinh. Thầy giáo và học sinh cần biết sử dụng có hiệu quả phương tiện học tập này. IV.4. Hình thức làm bài tập tiếng Việt. Bài tập tiếng Việt là một đơn vị nội dung định hướng cho việc dạy học tiếng Việt. Thông qua việc hướng dẫn học sinh làm bài tập và quá trình làm bài tập của các em, giáo viên kiểm tra kết quả hoạt động dạy của mình. V. Về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học tiếng Việt hiện nay. - Tại sao phải đổi mới? + Thích nghi với điều kiện xã hội - lịch sử thay đổi. + Nội dung chương trình và sách giáo khoa thay đổi. + Trên hết là cần phải cải thiện tình hình dạy và học tiếng Việt chưa tốt hiện nay. - Đổi mới theo phương hướng nào? + Quan điểm tích hợp. + Sách giáo khoa Ngữ văn. - Nội dung đổi mới cụ thể như thế nào? + Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học đã có trên ngữ liệu mới. + Giảm lí thuyết, tăng cường thời gian thực hành cho học sinh. - Quan hệ giữa đổi mới và các phương pháp đã nêu như thế nào? + Xử lí ngữ liệu theo quan điểm tích hợp khi vận dụng các phương pháp, biện pháp, thủ pháp dạy học là vấn đề mấu chốt hiện nay. Tích hợp nhưng không làm lu mờ mục đích yêu cầu riêng của từng bài dạy thuộc từng phân môn Tiếng Việt, Đọc văn, Làm văn. (tham khảo phần giới thiệu chương trình Ngữ văn THPT, phần phụ lục) 1. Việc nêu các nguyên tắc dạy học có ý nghĩa như thế nào đối với các phương pháp và thủ pháp dạy học? 2. Có ý kiến cho rằng chỉ có nguyên tắc giao tiếp chứ không có "cái gọi là phương pháp giao tiếp", anh, chị nghĩ thế nào? 3. Quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng là gì? Phải chăng ý nghĩa trực quan của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ đóng vai trò cốt lỏi trong quan điểm này? (hay đây chính là chức năng chính của ngôn ngữ?) 4. Thử bàn về quan hệ giữa dạy học tiếng và rèn luyện, phát triển tư duy cho học sinh. 5. Phương pháp quan sát-phân tích ngôn ngữ và việc ứng dụng ngữ pháp tạo sinh của N. Chomsky vào mô hình hoá cấu trúc câu tiếng Việt; ưu, nhược điểm của nó là gì? 6. Lí thuyết hoạt động ngôn ngữ chi phối nội dung chương trình và phương pháp dạy học tiếng Việt ở THPT như thế nào?