Phương Pháp Dưỡng Sinh Bs Nguyễn Văn Hưởng

--- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Đẻ Không Đau Gây Tê Ngoài Màng Cứng & Có Nên Chọn Phương Pháp Này Không?
  • Đẻ Không Đau Và Những Điều Hầu Hết Các Mẹ Bầu Chưa Biết
  • 6 Phương Pháp ‘trường Sinh Bất Tử’ Ghê Rợn
  • Kinh Hoàng 6 Phương Pháp Giúp Trường Sinh Bất Tử
  • Giấc Mơ Trường Sinh Bất Lão Và Liều Thuốc Bất Tử
  • 1.ĐẠI CƯƠNG: Từ ngàn xưa, sách Nội kinh Trung quốc đã nêu ra những nguyên lý dưỡng sinh để giữ gìn sức khỏe sống lâu; ở Ấn độ có phương pháp tập luyện Yoga nổi tiếng thế giới để tăng cường sức khỏe và tuổi thọ; Tuệ Tĩnh, Lãn Ông – các danh y cổ truyền Việt nam – cũng đã viết sách hướng dẫn dưỡng sinh để bảo vệ sức khỏe, phòng bệnh.

    BS Nguyễn Văn Hưởng – nguyên bộ trưởng y tế vào những năm 1970 – bị tai biến mạch máu não trong lúc đang công tác; nhờ kết hợp các phương pháp tập luyện cổ truyền và hiện đại với dùng thuốc, bác sĩ đã phục hồi coi như hoàn toàn; sau đó, ông tiếp tục nghiên cứu ứng dụng trên hàng chục ngàn người cao tuổi, người bệnh mạn tính liên tục suốt hơn 20 năm; bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng đã xây dựng khởi đầu phương pháp dưỡng sinh, Phương pháp dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng được Bộ y tế cho phép giảng ở các trường đại học, trung học y tế, và đang được nhiều giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, nhân dân tiếp tục nghiên cứu phát triển.

    2. VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH BỆNH TẬT VÀ CHỐNG BỆNH TẬT CỦA TÁC GIẢ – BS NGUYỄN-VĂN-HƯỞNG.

    BS Nguyễn-Văn Hưởng sanh năm 1906, bị tai biến mạch máu não vào năm 64 tuổi, đang lúc là bộ trưởng bộ y tế; ông đã bị á khẩu, liệt nửa người. Phối hợp với thuốc, bác sĩ đã tự luyện tập để phục hồi, và xây dựng phương pháp dưỡng sinh; năm 1986 ông được phong Anh hùng lao động. Năm 1995 đã tái bản sách phương pháp dưỡng sinh lần thứ 8. Tháng 9 năm 1996 được trao giải thưởng Hồ chí Minh cao quí. Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng mất ngày 06 tháng 8 năm 1998.

    Bác sĩ đã để lại cho hậu thế một phương pháp dưỡng sinh được nhiều nhà nghiên cứu coi là hoàn chỉnh; Phương pháp đã đề cập từ vấn đề tập luyện để khí huyết lưu thông, đến cách ăn uống cho hợp lý, đến thái độ tâm thần trong cuộc sống, đến vệ sinh, nghỉ ngơi … thể hiện được sự kết hợp khéo léo, nhuần nhuyễn y học cổ truyền và y học hiện đại; đã kế thừa những tinh hoa phương pháp tập luyện của nước bạn, của người xưa, đồng thời kết hợp với những kiến thức y học hiện đại; xây dựng thành công một PPDS mang tính khoa học, dân tộc và đại chúng.

    3. VÀI PHƯƠNG PHÁP TẬP LUYỆN ĐỂ BẢO VỆ SỨC KHỎE VÀ CHỐNG BỆNH TẬT TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC.

    Vài phương pháp tập luyện để bảo vệ sức khỏe và chống bệnh tật nổi tiếng trên thế giới như Yoga ở Ấn độ; Khí công, Thái cực quyền ở Trung quốc; Thể dục thể thao, điền kinh, aerobic của Châu âu, Châu Mỹ; các môn võ thuật Judo, Aikido,… Trong nước cũng có các môn trên du nhập từ lâu; ở nước ta, cách đây hàng trăm năm đã có những nhà dưỡng sinh tiền phong như Tuệ Tĩnh, Hải thượng Lãn Ong; và hiện nay đã xuất hiện nhiều nhà dưỡng sinh cả nước biết đến như BS Nguyễn Khắc Viện, GS Tô Như Khuê, GS Ngô Gia Hy, GS Đỗ Đình Hồ.

    4. ĐỊNH NGHĨA SỨC KHỎE.

    Tháng 9 năm 1978, tại Alma Ata, thủ đô của nước Cadắcstan, Tổ chức y tế thế giới (OMS) với sự tham gia của 134 nước, 67 tổ chức quốc tế, đã thông qua định nghĩa: Sức khỏe là tình trạng sảng khoái toàn diện, về thể xác, tinh thần và xã hội; không chỉ là không có bệnh và tật.

    5. ĐỊNH NGHĨA VÀ MỤC ĐÍCH CỦA PPDS.

    Phương pháp dưỡng sinh là một phương pháp tự luyện tập gồm có 4 mục đích:

    -Bồi dưỡng sức khỏe.

    -Từng bước chữa bệnh mạn tính.

    -Tiến tới sống lâu và sống có ích.

    Bốn mục đích này quan hệ hữu cơ với nhau.

    Sức khỏe được tăng lên thì phòng bệnh tốt hơn.

    Ít bị thêm bệnh nữa, mà sức lại tăng lên, đồng thời có phối hợp với thuốc khi cần thiết thì bệnh mạn tính từng bước sẽ được đẩy lùi;

    Từ đó có nhiều khả năng sống lâu, sống có ích hơn.

    6. BỐ TRÍ LỰC LƯỢNG TRONG VIỆC CHỐNG BỆNH MẠN TÍNH.

    Bệnh mạn tính là những bệnh khó chữa khỏi; Ngưng thuốc thì bệnh sẽ tái phát và ngày càng nặng hơn; thí dụ như cao huyết áp, viêm đa khớp, hội chứng dạ dày tá tràng, suyễn, tiểu đường, …

    7. GIẢI THÍCH CÂU THƠ CỦA TUỆ-TĨNH, NỘI DUNG CỦA PPDS:

    Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần

    Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình.

    Tinh có hai nghĩa; nghĩa thứ nhất là tinh hoa của thức ăn; y học cổ truyền gọi là tinh hậu thiên do thức ăn cung cấp qua tỳ vị.

    Nghĩa thứ hai là tinh sinh dục, tinh tiên thiên do cha mẹ truyền cho, tàng trữ ở thận, và không ngừng được bổ sung bởi tinh hậu thiên.

    Bế tinh theo nghĩa đen có nghĩa là đóng lại, không cho xuất tinh. Điều này chỉ áp dụng cho một số nhà tu hành thoát tục.

    Ta nên hiểu là giữ gìn tinh sinh dục; tránh phóng túng, lạm dụng.

    Khí là nguồn gốc, là động lực của mọi hoạt động của cơ thể.

    Khí có hai nguồn gốc: Khí trời (trong đó có dưỡng khí) qua tạng Phế vào cơ thể kết hợp với tinh hoa của thức ăn ở Tỳ Vị để thành Khí hậu thiên, từ đó lưu thông đến các tạng phủ khác và là động lực để các tạng phủ hoạt động; Khí tiên thiên do cha mẹ truyền cho, tàng tại Thận, và không ngừng được bổ sung bởi khí hậu thiên.

    Dưỡng khí là luyện thở, và hít thở khí trong sạch; cũng còn có nghĩa là khéo léo gìn giữ và bồi dưỡng khí lực của mình.

    Thần do Tinh của cha và mẹ phối hợp, tác động qua lại với nhau mà thành.

    Thần là hình thức năng lượng cao cấp mà các động vật cũng có, nhưng mức cao nhất chỉ có ở con người, do bộ thần kinh tạo ra. Nhờ nó mà con người biết tư duy, có ý chí, có tình cảm, có khoa học và nghệ thuật..

    Theo y học cổ truyền Tâm là cơ quan quân chủ, thần minh từ đó mà sinh ra. Tâm tàng thần.

    Năm tạng sáu phủ, tâm đứng làm chủ, quân chủ có minh (huyết mạch chạy đều) thời mười hai cơ quan đều điều hòa không rối loạn…, theo lẽ đó dưỡng sinh thời lo gì không sống lâu.

    Tinh-Khí-Thần là biểu hiện quá trình chuyển hóa vật chất (tinh thức ăn, huyết, tinh sinh dục) thành năng lượng (khí) mà hình thức cao nhất là thần, thần trở lại điều khiển khí và tinh, toàn bộ cơ thể.

    Khí lực cũng giúp thức ăn được tiêu hóa biến thành tinh hoa dinh dưỡng, huyết và tinh sinh dục. Sự chuyển hóa này xảy ra trong cơ thể một cách liên tục, nếu có rối loạn thì sẽ sinh bệnh, nếu ngưng lại thì chết. Luyện khí sẽ giúp cho quá trình chuyển hóa tinh biến thành khí, khí biến thành thần được tốt đẹp thêm. Tinh đầy đủ, khí dồi dào, thần mới có cơ sở để vững mạnh.

    Tồn thần là giữ gìn tinh thần, tránh hao tổn. Muốn thế phải thanh tâm, qủa dục, thủ chân.

    Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình.

    8. ĐIỀU KIỆN ĐỂ TIẾP THU VÀ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHO CÓ KẾT QỦA.

    Điều kiện để tiếp thu và áp dụng phương pháp cho có kết qủa là: Quyết tâm, kiên trì, và liên tục áp dụng phương pháp một cách chính xác, biện chứng, và sáng tạo. Phương pháp dưỡng sinh khi tập đúng rất mau có hiệu quả. Thí dụ bài tập thư giãn có tác dụng nhanh chóng chống căng thẳng, bảo vệ hoạt động của hệ thần kinh trung ương; Bài tập khí công làm khí huyết lưu thông gây ấm áp cơ thể, xoa bóp nội tạng, chống ứ trệ, táo bón do giảm trương lực cơ …

    9.ĐỘNG TÁC DƯỠNG SINH CƠ BẢN:

    H1: THƯ GIÃN

    TƯ THẾ : Nằm che mắt, nơi yên tĩnh

    : Tự nhủ cho cơ mềm ra, giãn ra; từng nhóm cơ, từ trên mặt xuống dần đến ngón chân, một cách từ từ chắc chắn. Toàn thân nặng xuống ấm lên.

    Bước 3: Theo dõi hơi thở 10 lần, thở thật êm, nhẹ, đều, nông.

    : – Luyện qúa trình ức chế của hệ thần kinh, luyện nghỉ ngơi chủ động.

    CHỈ ĐỊNH : Trạng thái căng thẳng thần kinh, cơ bắp; Các hội chứng tâm thể; Mất ngủ; Các bệnh ngoại cảm, nội thương cần nghỉ ngơi.

    CHỐNG CHỈ ĐỊNH: – Hôn mê, rối loạn ý thức.

    9.2. Động tác THỞ 4 THỜI CÓ KÊ MÔNG VÀ GIƠ CHÂN

    H2: THỞ 4 THỜI CÓ KÊ MÔNG VÀ GIƠ CHÂN

    TƯ THẾ: Nằm ngửa thẳng, kê một gối ở mông, cao khoảng 5-8 cm vừa sức, tay trái để trên bụng, tay phải để trên ngực; nhắm mắt, chú ý vào việc tập thở.

    Thời 1 : Hít vào tối đa, ngực nở bụng phình và căng (3″- 6″); (Hít ngực bụng nở).

    Thời 2 : Giữ hơi, mở thanh quản bằng cách cố gắng hít thêm, lồng ngực vẫn giữ nguyên ở tình trạng nở tối đa, bụng vẫn phình căng cứng, đồng thời giơ một chân giao động qua lại 4 cái, rồi hạ chân. (3″-6″); (Giữ hơi hít thêm).

    TÁC DỤNG: Luyện tổng hợp hô hấp, tuần hoàn và thần kinh; chủ yếu là luyện sự cân bằng hai qúa trình hưng phấn và ức chế.

    CHỈ ĐỊNH: Căng thẳng TK, Hội chứng tâm thể; Các chứng ứ trệ ở tạng phủ.

    CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Bệnh bệnh tâm thần nặng, bệnh cấp cứu.

    9.3. Động tác XEM XA, XEM GẦN

    H3: XEM XA- XEM GẦN

    TƯ THẾ: Ngồi hoa sen, hai bàn tay đan vào nhau và để trước bụng dưới, mắt nhìn vào ngón tay.

    – Đưa hai tay lên trời mắt vẫn nhìn vào một điểm cố định của bàn tay, đồng thời hít vào tối đa; giữ hơi mở thanh quản (bằng cách hít thêm), đồng thời giao động thân qua lại từ 2-6 cái, thở ra triệt để, hạ tay xuống trước bụng, mắt vẫn nhìn theo tay; nghỉ. Làm như vậy 1-3 lần.

    TÁC DỤNG: Luyện mắt và các khớp chi trên, tập vùng lưng trên.

    CHỈ ĐỊNH: Yếu liệt chi trên, hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn.

    CHỐNG CHỈ ĐỊNH : Bong gân, sai khớp, viêm khớp giai đoạn cấp./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Phương Pháp Chữa Vô Sinh Hiếm Muộn Hiệu Quả
  • Những Phương Pháp Tổ Chức Sinh Nhật Bé Trai Tại Nhà
  • Phương Pháp Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Trong Sản Xuất, Chế Biến
  • Tải Về Phương Pháp Trường Sinh Và Đạo Thiền (Tái Bản) Sách Miễn Phí Pdf * Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Phương Pháp Trường Sinh Và Đạo Thiền
  • Thở 4 Thì Trong Phương Pháp Dưỡng Sinh Của Bs Nguyễn Văn Hưởng

    --- Bài mới hơn ---

  • Dưỡng Sinh, Tập Thở, Thở Bống Thì, Nâng Cao Sức Khỏe, Rèn Luyện
  • Gây Tê Ngoài Màng Cứng Trong Quá Trình Chuyển Dạ
  • Vì Sao Con Người Không Trường Sinh Bất Tử?
  • Bể Aerotank Trong Xử Lý Nước Thải Bằng Phương Pháp Sinh Học • Tin Cậy 2022
  • Tìm Hiểu Về Bùn Vi Sinh Và Bùn Hoạt Tính Trong Xlnt
  • Thở 4 thì trong phương pháp dưỡng sinh của BS Nguyễn Văn Hưởng

    “Hằng ngày luyện khí chớ quên,

    Hít vào thanh khí, độc liền thải ra.

    Làm cho khí huyết điều hòa,

    Tinh thần giữ vững bệnh tà khó xâm”.

    Đến thế kỷ 20, trong việc thừa kế phương pháp dưỡng sinh, BS Hưởng cũng đưa ra kỹ thuật luyện thở, trọng tâm là luyện thần kinh, để chủ động hai quá trình ức chế và hưng phấn, nhằm mục đích ngủ ngon giấc, đồng thời hơi thở càng ngày càng mạnh lên, mà hơi thở mạnh thì khí huyết lưu thông tốt, không bị ứ trệ.

    Công thức 4 thì đơn giản, dễ nhớ, ai cũng có thể thực hiện:

    * Thì 1: hít vào đều, sâu, tối đa, ngực nở, bụng phình và cứng. Thời gian 1 / 4 hơi thở.

    “Hít vào bụng nở ngực căng” để chủ động về lưu lượng và đảm bảo hơi vào sâu tối đa đến tận cùng các phế nang ở các vùng chóp phổi, thân phổi và đáy phổi, ngực nở tối đa, bụng phình song phải bảo đảm cứng, nghĩa là các cơ bụng, cơ hông, cơ đáy chậu phản ứng trở lại cơ hoành để kìm phủ tạng không bung ra.

    Lúc này ở bụng có áp suất dương và ở ngực có áp suất âm, giúp máu về tim phổi dễ dàng.

    * Thì 2: Giữ hơi, cơ hoành và các cơ lồng ngực đều co thắt tối đa, thanh quản mở, giơ chân dao động rồi để chân xuống. Thời gian 1 / 4 hơi thở.

    “Giữ hơi cố gắng hít thêm”, là thì khó nhất và phức tạp nhất vì nó tăng hiệu suất của hơi thở, hoàn chỉnh việc trao đổi khí oxygen và carbonic, tăng cường sức chủ động của cơ thể, luyện ý chí của con người.

    Sau thì 1, muốn giữ cho thanh quản mở, ta cố hít thêm tối đa, các cơ thở đã co thắt thì tiếp tục co thắt thêm nữa. Thanh quản đã sẵn mở ta cũng tiếp tục giữ cho nó mở, các lõm ở cổ cũng vẫn lõm như trước, không phình ra. Mặt không đổi sắc, không đỏ gay, áp suất không tăng trong phổi, không chóng mặt, không nhức đầu, không tức ngực.

    * Thì 3: Thở ra thoải mái, tự nhiên, không kìm, không thúc. Thời gian 1 / 4 hơi thở.

    “Thở ra không kìm không thúc”. Tất cả các cơ hoàn toàn buông xuôi. Thở ra tự nhiên, thoải mái, nhờ sức nặng và tính đàn hồi của ngực bụng làm cho nó xẹp xuống, nên chỉ thở ra ở mức gần triệt để (không ép bụng, ép ngực để thở ra triệt để). Người cảm thấy dễ chịu khỏe khoắn.

    * Thì 4: thư giãn hoàn toàn, có cảm giác nặng và ấm. Tự kỷ ám thị: tay chân tôi nặng và ấm, toàn thân tôi nặng và ấm. Thời gian 1 / 4 hơi thở.

    “Nghỉ thời nặng ấm tay chân” là thời kỳ nghỉ hoàn toàn.

    Trong kỹ thuật thở này, thời gian của 4 thì phải bằng nhau để lập lại quân bình giữa hưng phấn và ức chế, thì 2 rất quan trọng vì nó luyện thần kinh, ý chí làm chủ hơi thở. Thời gian của mỗi hơi thở không thể định trước một cách chủ quan mà phải dựa trên cảm giác của cơ thể thấy khỏe (vì đủ oxygen) thì tự nhiên nhịp thở chậm lại. Thông thường, ban đầu thở khoảng 15 lần một phút, về sau giảm xuống còn 12 lần, 10 lần, 8 lần… Khi thở đúng kỹ thuật, đủ oxygen thì không có hiện tượng ngộp hơi, ngáp, buồn ngủ, nhức đầu. Cảm giác tốt nhất là sảng khoái và nóng bừng toàn thân.

    Cơ sở khoa học của 4 thì thở ngày càng được chứng minh:

    – Một nghiên cứu năm 1997, đo thể tích thông khí khi thở 4 thì, đã cho thấy: Lưu lượng khí mỗi phút khi thở 4 thì lớn hơn khi thở thường.

    – Năm 2004, một nghiên cứu “Thăm dò sự thay đổi lưu lượng máu tại động mạch cảnh chung ở người luyện thở theo phương pháp Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng”, được thực hiện tại Quân y viện 175, trên các học viên ở câu lạc bộ dưỡng sinh, tuổi từ 20 đến 72, đã cho kết quả: Lưu lượng máu tại động mạch cảnh chung khi thở sâu và thở tối đa đều tăng so với khi thở thường và độ tăng lưu lượng máu khi thở tối đa lại lớn hơn khi thở sâu.

    Thật vậy, khi hít không khí vào nhiều nhất, áp suất ở phổi sẽ âm nhất, máu đổ về phổi tim nhiều nhất; như vậy sự trao đổi khí sẽ tốt hơn nhờ sự xứng hợp giữa sự thông khí và việc tưới máu phổi, đồng thời sẽ làm cho việc lưu thông máu từ tim phổi đến các cơ quan khác nhiều hơn, điều này giải thích việc lưu lượng máu qua động mạch cảnh (là động mạch mang nhiều máu lên nuôi não) khi thở tối đa nhiều hơn khi thở thường.

    “Hằng ngày luyện khí chớ quên,

    Hít vào thanh khí, độc liền thải ra.

    Làm cho khí huyết điều hòa,

    Tinh thần giữ vững bệnh tà khó xâm”.

    Đến thế kỷ 20, trong việc thừa kế phương pháp dưỡng sinh, BS Hưởng cũng đưa ra kỹ thuật luyện thở, trọng tâm là luyện thần kinh, để chủ động hai quá trình ức chế và hưng phấn, nhằm mục đích ngủ ngon giấc, đồng thời hơi thở càng ngày càng mạnh lên, mà hơi thở mạnh thì khí huyết lưu thông tốt, không bị ứ trệ.

    Công thức 4 thì đơn giản, dễ nhớ, ai cũng có thể thực hiện:

    * Thì 1: hít vào đều, sâu, tối đa, ngực nở, bụng phình và cứng. Thời gian 1 / 4 hơi thở.

    “Hít vào bụng nở ngực căng” để chủ động về lưu lượng và đảm bảo hơi vào sâu tối đa đến tận cùng các phế nang ở các vùng chóp phổi, thân phổi và đáy phổi, ngực nở tối đa, bụng phình song phải bảo đảm cứng, nghĩa là các cơ bụng, cơ hông, cơ đáy chậu phản ứng trở lại cơ hoành để kìm phủ tạng không bung ra.

    Lúc này ở bụng có áp suất dương và ở ngực có áp suất âm, giúp máu về tim phổi dễ dàng.

    * Thì 2: Giữ hơi, cơ hoành và các cơ lồng ngực đều co thắt tối đa, thanh quản mở, giơ chân dao động rồi để chân xuống. Thời gian 1 / 4 hơi thở.

    “Giữ hơi cố gắng hít thêm”, là thì khó nhất và phức tạp nhất vì nó tăng hiệu suất của hơi thở, hoàn chỉnh việc trao đổi khí oxi và cacbonic, tăng cường sức chủ động của cơ thể, luyện ý chí của con người.

    Sau thì 1, muốn giữ cho thanh quản mở, ta cố hít thêm tối đa, các cơ thở đã co thắt thì tiếp tục co thắt thêm nữa. Thanh quản đã sẵn mở ta cũng tiếp tục giữ cho nó mở, các lõm ở cổ cũng vẫn lõm như trước, không phình ra. Mặt không đổi sắc, không đỏ gay, áp suất không tăng trong phổi, không chóng mặt, không nhức đầu, không tức ngực.

    * Thì 3: Thở ra thoải mái, tự nhiên, không kìm, không thúc. Thời gian 1 / 4 hơi thở.

    “Thở ra không kìm không thúc”. Tất cả các cơ hoàn toàn buông xuôi. Thở ra tự nhiên, thoải mái, nhờ sức nặng và tính đàn hồi của ngực bụng làm cho nó xẹp xuống, nên chỉ thở ra ở mức gần triệt để (không ép bụng, ép ngực để thở ra triệt để). Người cảm thấy dễ chịu khỏe khoắn.

    * Thì 4: thư giãn hoàn toàn, có cảm giác nặng và ấm. Tự kỷ ám thị: tay chân tôi nặng và ấm, toàn thân tôi nặng và ấm. Thời gian 1 / 4 hơi thở.

    “Nghỉ thời nặng ấm tay chân” là thời kỳ nghỉ hoàn toàn.

    Trong kỹ thuật thở này, thời gian của 4 thì phải bằng nhau để lập lại quân bình giữa hưng phấn và ức chế, thì 2 rất quan trọng vì nó luyện thần kinh, ý chí làm chủ hơi thở. Thời gian của mỗi hơi thở không thể định trước một cách chủ quan mà phải dựa trên cảm giác của cơ thể thấy khỏe (vì đủ oxi) thì tự nhiên nhịp thở chậm lại. Thông thường, ban đầu thở khoảng 15 lần một phút, về sau giảm xuống còn 12 lần, 10 lần, 8 lần… Khi thở đúng kỹ thuật, đủ oxi thì không có hiện tượng ngộp hơi, ngáp, buồn ngủ, nhức đầu. Cảm giác tốt nhất là sảng khoái và nóng bừng toàn thân.

    Cơ sở khoa học của 4 thì thở ngày càng được chứng minh:

    – Một nghiên cứu năm 1997, đo thể tích thông khí khi thở 4 thì, đã cho thấy: Lưu lượng khí mỗi phút khi thở 4 thì lớn hơn khi thở thường.

    – Năm 2004, một nghiên cứu “Thăm dò sự thay đổi lưu lượng máu tại động mạch cảnh chung ở người luyện thở theo phương pháp Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng”, được thực hiện tại Quân y viện 175, trên các học viên ở câu lạc bộ dưỡng sinh, tuổi từ 20 đến 72, đã cho kết quả: Lưu lượng máu tại động mạch cảnh chung khi thở sâu và thở tối đa đều tăng so với khi thở thường và độ tăng lưu lượng máu khi thở tối đa lại lớn hơn khi thở sâu.

    Thật vậy, khi hít không khí vào nhiều nhất, áp suất ở phổi sẽ âm nhất, máu đổ về phổi tim nhiều nhất; như vậy sự trao đổi khí sẽ tốt hơn nhờ sự xứng hợp giữa sự thông khí và việc tưới máu phổi, đồng thời sẽ làm cho việc lưu thông máu từ tim phổi đến các cơ quan khác nhiều hơn, điều này giải thích việc lưu lượng máu qua động mạch cảnh (là động mạch mang nhiều máu lên nuôi não) khi thở tối đa nhiều hơn khi thở thường.

    Nguồn: Thuốc & sức khỏe, số 295 (1.11.2005), tr 14

    Nguồn: Thuốc & sức khỏe, số 295 (1.11.2005), tr 14

    Ảnh hướng dẫn thở 4 thì

    tại Khoa Dưỡng sinh Viện Y Dược học dân tộc

    Thì 1 và thì 2: Hít vào tối đa, ngực nở bụng phình, giữ hơi

    Thì 3 và thì 4: Thở ra và thư giãn hoàn toàn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Toán 8
  • Petrifilm, Kiểm Vi Sinh, Kiểm Kháng Sinh, Độc Tố, Kit Elisa, Test Nhanh Bệnh
  • Giải Pháp Khắc Phục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Hiệu Quả Nhất
  • Một Số Biện Pháp Đảm Bảo Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Ai Cũng Phải Biết
  • Các Biện Pháp Bảo Đảm An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm
  • Phương Pháp Dưỡng Sinh Kỳ Diệu “thổi Bát Cháo Nóng” Của Bác Sĩ Nguyễn Khắc Viện

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Sinh Nở Ảnh Hưởng Tới Vi Khuẩn Đường Ruột Trẻ Sơ Sinh
  • An Toàn Và Hiệu Quả Với Phương Pháp Giảm Cân Sau Sinh Mổ Tại Earthmama
  • Những Phương Pháp Giảm Đau Sau Sinh Mổ Hiệu Quả Nhất
  • Đạo Diễn Lê Hoàng: “nhiều Sao Nữ Cố Tình Chọn Sinh Mổ, Không Cho Con Bú Để Giữ Dáng”
  • Mẹ Bầu Có Nên Sinh Mổ Hay Không? Sinh Mổ Có An Toàn Cho Mẹ Và Con.
  • Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện – nhà hoạt động chính trị xã hội, nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử, tâm lý, giáo dục, y học – người đã từng được giải thưởng lớn của Viện hàn lâm khoa học Pháp, giải thưởng Nhà nước Việt Nam, sinh ngày 5/2/1913 tại xã Sơn Hòa huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh.

    Năm 1953, ông thi đậu thủ khoa vào trường Đại học y khoa Hà Nội. Với thành tích học tập xuất sắc, ông nhận được học bổng của chính quyền Pháp sang Pari học tiếp Đại học y khoa Pari. Năm 1941, ông tốt nghiệp bác sĩ y khoa và bệnh nhiệt đới cũng là lúc ông bị bệnh lao phổi phải vào nằm viện dài ngày. Thời kỳ ấy, bệnh lao chưa có kháng sinh đặc trị nên còn bị xếp vào loại nan y. Ông phải nằm viện liên tục 10 năm, lên bàn mổ 7 lần, cắt mất 1 lá phổi và 8 xương sườn. Giấy ra viện cuối cùng của ông ghi: “… thiếu thở trầm trọng (còn 1/3 dung tích thở), không được làm việc”. Một bác sĩ thân quen nói nhỏ với ông: Giáo sư Li-van-te rất buồn khi phải nói với mọi người Nguyễn Khắc Viện chỉ sống được khoảng 2 hoặc 3 năm nữa là cùng!

    Là một bác sĩ ông quyết không khoanh tay đón chờ thần chết. Tham khảo các tài liệu về Yoga, thiền, các phương pháp dưỡng sinh của Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã tìm cho mình một phương pháp dưỡng sinh riêng đó là “thở bụng”. Kiên trì luyện tập, ông không chỉ sống được 3 năm mà đã sống được 58 năm tiếp theo đạt tuổi thọ 86 (ông mất năm 1997). Điều kỳ diệu là từ một phế nhân do bệnh tật với phương pháp dưỡng sinh kỳ diệu này ông đã sống như / hơn một người rất khỏe để làm việc cần mẫn mỗi ngày từ 10 – 14 giờ để lại cho đời nhiều công trình khoa học lớn làm cho tên tuổi của ông mãi trường tồn với sự nghiệp văn hóa của đất nước. Đó là “tuyển tập văn học Việt Nam” 300 trang viết bằng tiếng Pháp, “Việt Nam Tổ quốc tìm lại”(tiếng Pháp), “Lịch sử Việt Nam” (tiếng Pháp), “Từ điển tâm lý học”, “Từ điển xã hội học tâm lý trẻ em”, “Từ sinh lý đến dưỡng sinh” (bằng hai tiếng Pháp – Việt), “Truyện Kiều” (dịch ra tiếng Pháp), “Đạo nho” …

    Luyện tập cho sức khỏe ổn định, năm 1963 ông trở về nước giữ chức Ủy viên Ủy ban liên lạc văn hóa với nước ngoài. Tổng biên tập tờ báo “Tờ tin Việt Nam, Tổng biên tập tạp chí “Nghiên cứu Việt Nam” (xuất bản bằng hai thứ tiếng Pháp và Anh), Giám đốc trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em cho đến ngày qua đời.

    Vốn hài hước, trào lộng, ông gọi phương pháp dưỡng sinh của mình là “thổi bát cháo nóng” nghĩa là hãy tưởng tượng trước miệng mình là một bát cháo bổ dưỡng, thơm nức, mình thóp bụng lại thở ra thật nhiều thổi vào bát cháo đó rồi nghỉ một lúc lấy hơi tiếp tục thở vào cho bụng phình ra, nghỉ một lúc lấy hơi lại thổi ra tiếp. Ông gói gọn phương pháp dưỡng sinh kỳ diệu của mình vào 12 câu thơ theo thể đồng giao dễ học, dễ thuộc: “Thót bụng thở ra / Phình bụng thở vào / Hai vai bất động / Chân tay thả lỏng / Êm, chậm, sâu, đều / Tập trung theo dõi / Luồng ra luồng vào / Bình thường qua mũi / Lúc gấp qua mồm / Đứng, ngồi hay nằm / Ở đâu cũng được / Lúc nào cũng được”

    Nhiều lần ông tâm sự với mọi người: nếu hỏi sự nghiệp của Nguyễn Khắc Viện là gì? xin hãy trả lời: là 12 câu thơ này!

    Nhiều câu lạc bộ dưỡng sinh trong nước và nước ngoài đã lấy bài thơ của ông làm “giáo trình” để luyện tập. Động tác đầu tiên, quan trọng nhất là thở ra thật lâu để xả hết khí “bã”, khí “độc”, sau đó chủ động hít khí “sạch”, khí “mới” vào bù đắp. Quá trình luyện tập tư thế ngồi, nằm đều được nhưng phải giữ cho thân hình ngay ngắn, chế ngự được các suy nghĩ viển vông, tĩnh tâm để hưởng năng lượng khôn cùng của trời đất qua “khí”. Êm, chậm, sâu, đều là bốn điều bắt buộc khi luyện.

    Bà Nguyễn Thị Nhất, Giám đốc trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em “T và T” (vợ ông) cho biết: khoảng sau 10 năm ông không những ” chưa chết” (1961) như dự đoán mà còn khỏe và làm việc khỏe. Nhiều trung tâm nghiên cứu dưỡng sinh ở Pháp, Ấn Độ, Trung Quốc đã có chương trình nghiên cứu, thử nghiệm phương pháp dưỡng sinh “thổi bát cháo nóng” của ông. Các nghiên cưu của các trung tâm này đều có chung một nhận xét: Đây là một sự kết hợp hài hòa giữa Thiền của Phật giáo, các phương pháp dưỡng sinh của phương Đông với sinh lý giải phẫu hiện tại. Là sự hài hòa, tinh tế giữa “điền tức” (điều phối hơi thở) với “điều thân” (điều phối sự nhịp nhàng, tái tạo của cơ thể, nội tạng qua cơ hoành, qua masage ruột và lồng ngực) và “điều tâm” giữ cho tâm hồn trong sáng, loại trừ mọi ý nghĩ trong đầu để thần kinh được nghỉ ngơi hoàn toàn. Đó chính là nguyên lý cơ bản nhất trong luyện công Yoga hay Thiền là “tu tâm, tỉnh chí, tồn thần, thanh tâm, quả Dục”.

    Cũng theo bà Nguyễn Thị Nhất nhiều năm qua, Viện dưỡng lão ở Pari đã đưa bài tập thở “thổi bát cháo nóng” của ông vào chương trình hoạt động hằng ngày. Trước khi ngủ, các cụ tự luyện tập thở theo tư thế nằm từ 15 – 20 phút, sau khi ngủ dậy các cụ cũng luyện tập từ 10 – 15 phút. Buổi trưa ngủ dậy, các cụ luyện tiếp tại giường 10 – 15 phút. Mỗi ngày khuyến khích các cụ thở ngồi hay thở đứng, thở nằm 10 – 15 phút. Sau nhiều năm kiên trì phương pháp này đã mang lại hiệu quả cao. 100% các cụ không phải dùng thuốc ngủ trước khi ngủ, các bệnh mãn tính như tim mạch, tiểu đường, hen suyễn, dạ dày, tiêu hóa, tai biến … đều thuyên giảm nhiều. 48 % các cụ luyện tập đều đặn đã thoát khỏi các bệnh của người già khỏe mạnh hơn, minh mẫn hơn.

    Ở Ấn Độ, bài tập thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện được gọi là “phương pháp dưỡng sinh trường thọ Nguyễn Khắc Viện”. Các nghiên cứu của Trung tâm khoa học y tế cộng đồng Niu-đê-li đã viết hẳn một bộ sách để giới thiệu về phương pháo luyện tập này. Trong ấn phẩm này các tác giả đã chỉ rõ: Trẻ sơ sinh mới chào đời đều thở bằng bụng, bởi thở bằng ngực không đưa đủ không khí vào phần dưới của phổi. Trong khi đó thở bằng bụng cơ hoành (Diaphragen) màng ngăn cách phần trên gồm tim, phổi, phần dưới là ngũ tạng sẽ nâng lên, nâng xuống. Cơ hoành thành chiếc máy bơm, chiếc máy bơm masage luyện tập cho toàn bộ tim, phổi, dạ dày, gan, lách, ruột không ngừng làm cho bộ phận này khỏe mạnh về tố chất. Thở bằng bụng là tự nhiên của cơ thể ngay khi sinh, vì vậy khi lớn đã thở bằng ngực và luyện tập lại thì sẽ thành phản xạ có điều kiện kể cả khi “nhập định” (thiền). Nếu mỗi lần thở cơ hoành chỉ hạ xuống 2cm mỗi ngày ta đã có thêm 100 lít không khí vào phổi đồng thời cũng thải được 100 lít không khí “đã sử dụng” ra khỏi cơ thể.

    Tại Học viện âm nhạc O-pê-ra (Ý), phương pháp dưỡng sinh của Nguyễn Khắc Viện được đưa vào chương trình luyện tập hàng ngày. kết quả sau 6 tháng luyện tập, cao độ, trường độ của ca sĩ, của nhạc công bộ hơi đều được nâng lên rõ rệt.

    Nguyễn Khắc Viện – một tấm gương chiến thắng bệnh tật để làm việc có ích cho đời. Ông đã để lại cho khoa học dưỡng sinh một phương pháp nhiệm màu rất dân gian mà cũng rất hiện đại.

    Nguyễn Thị Hương Quế

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Hít Thở Của Bs Nguyễn Khắc Viện
  • Liệu Pháp Can Thiệp Giục Sinh
  • Cách Nhân Sinh Khối Nấm Tricoderma
  • Nghiên Cứu Nhân Nhanh Sinh Khối Rễ Tóc Sâm Ngọc Linh Và Kích Thích Hình Thành Các Hoạt Chất Thứ Cấp Hướng Tới Sản Xuất Quy Mô Pilot
  • Cách Nhân Sinh Khối Nâm Trichoderma
  • Phương Pháp “dưỡng Sinh Nguyễn Khắc Viện”

    --- Bài mới hơn ---

  • Cân Các Phương Pháp Sinh Nở ‘hot’ Nhất
  • Mọi Điều Mẹ Cần Biết Về Các Phương Pháp Sinh Nở Hiện Nay
  • An Toàn Và Hiệu Quả Với Phương Pháp Giảm Cân Sau Sinh Mổ Tại Earthmama
  • Kiến Thức Và Kinh Nghiệm Sinh Mổ Cho Phụ Nữ Mang Thai
  • 7 Cách Giảm Mỡ Bụng Sau Sinh Mổ Nhanh Nhất Tại Nhà “hiệu Quả Ngay”
  • Xin cho biết phương pháp dưỡng sinh của cố BS. Nguyễn Khắc Viện (1913-1997)?

    * Xin cho biết phương pháp dưỡng sinh của cố BS. Nguyễn Khắc Viện (1913-1997)?

    Bài tập thở đã được bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đúc kết thành một bài vè cho dễ nhớ: “Thót bụng thở ra/ Phình bụng thở vào/ Hai vai bất động/ Chân tay thả lỏng/ Êm, chậm, sâu, đều/ Tập trung theo dõi/ Luồng ra luồng vào/ Bình thường qua mũi/ Khi gấp qua mồm/ Đứng, ngồi hay nằm/ Ở đâu cũng được/ Lúc nào cũng được”.

    Với phần tập vận động, thư giãn (luyện ý), từ lý thuyết đến các động tác cụ thể, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã giới thiệu trong cuốn Từ sinh lý đến dưỡng sinh (NXB Y Học – 1979; NXB Đồng Nai – 1988) và cuốn Dưỡng sinh dành cho mọi lứa tuổi (NXB Trẻ – 1993) với hình thức hỏi – đáp đơn giản, dễ hiểu. Nếu thiếu thời gian để tập đủ các động tác, bạn có thể tự chọn cách tập thích hợp, trên cơ sở nắm vững những nguyên lý, quan niệm của phương pháp dưỡng sinh. Thời đại ngày nay việc khiêng vác nặng đã có máy móc làm thay, con người cần thực hiện được những động tác nhanh, chính xác và luôn giữ được bình tĩnh. Cách tập vận động phải theo nguyên lý cứng tối thiểu, mềm tối đa. Tay có mềm dẻo mới nhanh được.

    Người thợ rèn quai búa, chị chèo đò cũng nhờ hoạt động theo nguyên lý này nên vừa có hiệu quả cao, vừa đỡ mệt mỏi. Giữ cho cơ thể mềm mại, thả lỏng những cơ bắp lúc không sử dụng cũng là cách thư giãn dễ thực hiện, có hiệu quả và tiết kiệm được sức lực. Ví như ngồi nghe giảng, chân và tay chẳng việc gì phải căng cứng; hãy thả lỏng và kết hợp thở bụng, bạn sẽ thấy đỡ mỏi mệt. Bản thân bác sĩ Nguyễn Khắc Viện trong những năm cuối đời, khi tuổi đã cao, chủ yếu cũng chỉ thực hiện thở bụng, buông chùng da mặt, thả lỏng tay chân để thư giãn, giữ cho cơ thể luôn được mềm dẻo. Cái khó nhất của phương pháp “dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện” là sự kiên trì, ngày nào cũng phải tập, riêng thở bụng thì giờ nào cũng tập để trở thành thói quen.

    Điều quan trọng là đừng đợi đến lúc già yếu, hãy tập từ lúc còn trẻ trung, khỏe mạnh. Đừng để tình trạng nhiều nơi chỉ thấy các ông bà già tập luyện từ lúc còn mờ đất, còn tuổi trẻ thì dậy trưa. Sẽ có bạn bảo rằng tuổi trẻ quá nhiều mục tiêu phấn đấu, không còn thời gian để tập luyện. Nếu quả vậy, chỉ cần tập thở đúng cách – thở ngay trong lúc học, làm việc, không mất chút thời gian nào mà có thể đã đạt được quá 50% hiệu quả của phương pháp “dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện”.

    Gs.TS Nguyễn Lân Dũng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dưỡng Sinh Nguyễn Khắc Viện
  • Kỹ Thuật Nhân Sinh Khối Trichoderma Tại Nhà
  • Phá Thai Bằng Phương Pháp Sinh Non Là Như Thế Nào? Chi Phí Bao Nhiêu
  • Các Phương Pháp Điều Trị Sinh Non
  • Hướng Dẫn Cách Vệ Sinh Máy Lạnh Âm Trần Chi Tiết
  • Phương Pháp Dưỡng Sinh Nguyễn Khắc Viện

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp “dưỡng Sinh Nguyễn Khắc Viện”
  • Cân Các Phương Pháp Sinh Nở ‘hot’ Nhất
  • Mọi Điều Mẹ Cần Biết Về Các Phương Pháp Sinh Nở Hiện Nay
  • An Toàn Và Hiệu Quả Với Phương Pháp Giảm Cân Sau Sinh Mổ Tại Earthmama
  • Kiến Thức Và Kinh Nghiệm Sinh Mổ Cho Phụ Nữ Mang Thai
  • BS Nguyễn Khắc Viện nỗi tiếng là một kỳ nhân

    Tức không cáu,

    Nóng không quạt,

    Ngứa không gãi,

    Tốt nghiệp ĐH Y Paris đi làm chưa bao lâu đã bị bệnh nan y, phải lên bàn mỗ 7 lần, cắt bỏ một lá rưỡi phổi với dăm chiếc xương sườn, bác sĩ phán sống thêm không quá 2 năm, thế nhưng đã sống thêm gấp hơn 20 lần lời tiên đoán ấy. và nhất là, trong hơn 50 năm sống thêm ấy, ông đã hoạt động tích cực trong nhiều lĩnh vực, từ chính trị xã hội đến văn hóa giáo dục, viết hàng chục cuốn sách, hàng trăm bài báo có giá trị ..

    Thế nhưng khi được hỏi bài nào là có giá trị lâu dài nhất, ông không chọn trong số hàng ngàn trang viết được mọi người đánh giá cao kia, mà là một bài vè luyện thở mười ba câu từ ngữ thô sơ

    Thót bụng thở ra

    Phình bụng thở vào

    Hai vai bất động

    Chân tay thả lỏng

    Mặt Phật ung dung

    Tập trung theo dõi

    Luồng ra luồng vào

    Bình thường qua mũi

    Khi gấp qua mồm

    Êm, chậm, sâu, đều

    Ðứng ngồi hay nằm

    Ở đâu cũng được

    Lúc nào cũng được.

    Đấy chính là khẩu quyết của phép luyện thở đã giúp ông không những chữa được bệnh mà còn sống khỏe trong hơn 50 năm tiếp theo của cuộc đời (Ông mất năm 1997, thọ 85 tuổi). Lời lẽ mộc mạc rõ ràng, ai cũng có thể hiểu và làm theo dễ dàng.

    Cách thở ông hướng dẫn được gọi là thở bụng vì khi thở chỉ dùng bụng, đúng ra chỉ dùng cơ hoành: thót bụng để thở ra, phình bụng để thở vào.

    Cách thở như này có thể tập bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất kì ở tư thế nào – nằm, ngồi, đứng, đi .. Tuy nhiên lúc mới tập nếu được thì nên ngồi thẳng người trên ghế dựa, lưng ép sát ghế, hoặc nằm ngữa trên giường cứng (để giữ lưng được thẳng). Nếu đang bệnh thì ở tư thế khiến người thoải mái nhất.

    Mới tập thở, bạn hãy tưởng tượng đang bưng tô cháo nóng thổi cho nguội. Thổi nhẹ và đều. Thót bụng lại để thổi. Khi đã thót bụng, thở hết hơi thì phình bụng lên để thở vào. Cũng nhẹ và đều. Bụng phình lên hết, ngưng một tí rồi lại thót bụng thở ra, lập lại chu kì. Tập bao lâu cũng được, vài phút cũng tốt. Chú ý người ta dùng từ

    Khi quen thì thở ra không qua miệng nữa mà ra vào đều qua mũi.

    Thở lúc này chủ yếu ko phải để cung cấp thêm oxi mà để điều hòa nội tạng, ổn định thần kinh. Không nên thở ra, thở vào – chứ không phải thở ra, hít vào. Hàm ý thở ra thở vào phải như nhau – êm, nhẹ, sâu, đều. cố thở thật sâu thật nhiều đưa oxi vào nhiều quá vì khi đó khí carbonic bị khử cũng nhiều làm độ pH của máu tăng quá cao, gây chóng mặt. Nhiều người mới tập thường mắc sai lầm này. Cần thở chậm rãi – êm nhẹ sâu đều.

    Khi thở thì giữ hai vai bất động, tay chân thả lỏng, nét mặt thư thái – nói chung tất cả các cơ trong người đều ko căng cứng.

    Vừa thở vừa tập trung theo dõi sự vào ra của hơi thở bằng cách hoặc đếm hơi thở, hoặc tưởng tượng đường đi của hơi thở: từ từ đi qua mũi, xuống cổ, vào phổi, xuống đan điền (vùng dưới cách rốn khoảng vài cm), lưu chuyển ở đấy một lát rùi lại từ từ theo đường cũ trở ra.

    Ghi chú thêm về phép thở

    Thở thường

    Đây là cách thở thông thường. Không khí chi vào phần trên của buồng phổi thôi.

    Thở bụng

    phương pháp thở bằng bụng (abdominal breathing) hay thở bằng hoành cách mô (diaphragmatic breathing ).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Nhân Sinh Khối Trichoderma Tại Nhà
  • Phá Thai Bằng Phương Pháp Sinh Non Là Như Thế Nào? Chi Phí Bao Nhiêu
  • Các Phương Pháp Điều Trị Sinh Non
  • Hướng Dẫn Cách Vệ Sinh Máy Lạnh Âm Trần Chi Tiết
  • Hướng Dẫn Vệ Sinh Máy Lạnh Đơn Giản Đúng Cách An Toàn Tại Nhà
  • Phương Pháp Dưỡng Sinh Nguyễn Khắc Viện 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Đau Đẻ Và Các Phương Pháp Giảm Đau
  • Lợi Ích Của Sinh Tự Nhiên
  • Phương Pháp Giao Dịch Phái Sinh Hiệu Quả – Giới Thiệu Robot Stockwin Vf1.0
  • Chuyên Gia Đài Loan “Bật Mí” Kinh Nghiệm Giao Dịch Phái Sinh Hiệu Quả
  • Đánh Giá Khóa Học: Phương Pháp Giao Dịch Phái Sinh Hiệu Quả
  • Phương pháp dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện 2

     

     

    BS Nguyễn Khắc Viện nỗi tiếng là một kỳ nhân

    Tức không cáu,

    Nóng không quạt, 

    Ngứa không gãi,

    (và nghe đâu cả: Bẩn không tắm )

    Tốt nghiệp ĐH Y Paris đi làm chưa bao lâu đã bị bệnh nan y, phải lên bàn mỗ 7 lần, cắt bỏ một lá rưỡi phổi với dăm chiếc xương sườn, bác sĩ phán sống thêm không quá 2 năm, thế nhưng đã sống thêm gấp hơn 20 lần lời tiên đoán ấy. và nhất là, trong hơn 50 năm sống thêm ấy, ông đã hoạt động tích cực trong nhiều lĩnh vực, từ chính trị xã hội đến văn hóa giáo dục, viết hàng chục cuốn sách, hàng trăm bài báo có giá trị .. Thế nhưng khi được hỏi bài nào là có giá trị lâu dài nhất, ông không chọn trong số hàng ngàn trang viết được mọi người đánh giá cao kia, mà là một bài vè luyện thở mười ba câu từ ngữ thô sơ

    Thót bụng thở ra

    Phình bụng thở vào

    Hai vai bất động

    Chân tay thả lỏng

    Mặt Phật ung dung

    Tập trung theo dõi

    Luồng ra luồng vào

    Bình thường qua mũi

    Khi gấp qua mồm

    Êm, chậm, sâu, đều

    Ðứng ngồi hay nằm

    Ở đâu cũng được

    Lúc nào cũng được.

    Đấy chính là khẩu quyết của phép luyện thở đã giúp ông không những chữa được bệnh mà còn sống khỏe trong hơn 50 năm tiếp theo của cuộc đời  (Ông mất năm 1997, thọ 85 tuổi). Lời lẽ mộc mạc rõ ràng, ai cũng có thể hiểu và làm theo dễ dàng.

    Cách thở ông hướng dẫn được gọi là thở bụng vì khi thở chỉ dùng bụng, đúng ra chỉ dùng cơ hoành: thót bụng để thở ra, phình bụng để thở vào.

    Cách thở như này có thể tập bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất kì ở tư thế nào – nằm, ngồi, đứng, đi .. Tuy nhiên lúc mới tập nếu được thì nên ngồi thẳng người trên ghế dựa, lưng ép sát ghế, hoặc nằm ngữa trên giường cứng (để giữ lưng được thẳng). Nếu đang bệnh thì ở tư thế khiến người thoải mái nhất.

     

    Mới tập thở, bạn hãy tưởng tượng đang bưng tô cháo nóng thổi cho nguội. Thổi nhẹ và đều. Thót bụng lại để thổi. Khi đã thót bụng, thở hết hơi thì phình bụng lên để thở vào. Cũng nhẹ và đều. Bụng phình lên hết, ngưng một tí rồi lại thót bụng thở ra, lập lại chu kì. Tập bao lâu cũng được, vài phút cũng tốt.

    Khi quen thì thở ra không qua miệng nữa mà ra vào đều qua mũi.

    Chú ý người ta dùng từ thở ra, thở vào – chứ không phải thở ra, hít vào. Hàm ý thở ra thở vào phải như nhau – êm, nhẹ, sâu, đều.

    Thở lúc này chủ yếu ko phải để cung cấp thêm oxi mà để điều hòa nội tạng, ổn định thần kinh.

    Không

    nên cố thở thật sâu thật nhiều đưa oxi vào nhiều quá vì khi đó khí carbonic bị khử cũng nhiều làm độ pH của máu tăng quá cao, gây chóng mặt.

    Nhiều người mới tập thường mắc sai lầm này. Cần thở chậm rãi – êm nhẹ sâu đều.

    Khi thở thì giữ hai vai bất động, tay chân thả lỏng, nét mặt thư thái – nói chung tất cả các cơ trong người đều ko căng cứng.

    Vừa thở vừa tập trung theo dõi sự vào ra của hơi thở bằng cách hoặc đếm hơi thở, hoặc tưởng tượng đường đi của hơi thở:  từ từ đi qua mũi, xuống cổ, vào phổi, xuống đan điền (vùng dưới cách rốn khoảng vài cm), lưu chuyển ở đấy một lát rùi lại từ từ theo đường cũ trở ra.

    Cái mới chăng của Nguyễn Khắc Viện là đã đem nhãn quan của một bác sĩ Tây y với những hiểu biết sâu sắc về sinh lý học hiện đại để từ các phương pháp thở cổ xưa, lược bỏ đi phần thần bí mơ hồ, rút ra những gì là cơ bản phục vụ cho việc rèn luyện thân thể, không phải để có những năng lực siêu nhiên, mà để có cuộc sống bình thường nhưng khỏe, vui.

    Mời xem video, nghe chính BS Nguyễn Khắc Viện giải thích về ý nghĩa từng câu của bài khẩu quyết để hiểu rõ hơn vì sao khi thở cần giữ hai vai bất động, mặt Phật ung dung là gì ..

    Cuốn sách chỉ khoảng 100 trang, nhưng lợi ích sẽ là mấy chục năm sống khỏe.

    Giói thiệu – Bí quyết

    Biết thở

    Biết Tĩnh

    Bắt nhịp cứng mềm

    Bắt nhịp (tiếp)

    Linh Giác – Bỏ mặt nạ

    Ghi chú thêm về phép thở

    Thở thường

    Đây là cách thở thông thường. Không khí chi vào phần trên của buồng phổi thôi.

    Thở bụng

     

    phương pháp thở bằng bụng (abdominal breathing) hay thở bằng hoành cách mô (diaphragmatic breathing ).

    Khi bụng thót vào, hoành cách mô ( diaphragm) co lên, ép buồng phổi lại, đẩy hết không khi ra khỏi buồng phổi . Khi bụng phình ra, hoành cách đi xuống, buồng phổi không còn bị ép nữa, không khí bị hút vào  phổi.

    Thở bụng – tư thế nằm

    3 chiều

    Yoga – Tập thở bụng với Master Kamal

    Những điều này sẽ được trình bày kĩ và rõ trong sách

    Từ Sinh Lý Đến Dưỡng Sinh

    BS Nguyễn Khắc Viện

    Xem Nội dung

    Link download: TuSinhLyDenDuongSinh.NguyenKhacVien.pdf

    Về BS Nguyễn Khắc Viện

    Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện – nhà văn hóa VTV 1

    Noi theo đạo nhà 1

    Noi theo đạo nhà 2

    Một nghị lực phi thường

    Nguyễn Thanh Giang

    Xem/ẩn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phá Thai Bằng Phương Pháp Sinh Non Có An Toàn Không?
  • Phá Thai Bằng Phương Pháp Sinh Non Nguy Hiểm Không?
  • Cách Vệ Sinh Máy Lạnh Đơn Giản Tại Nhà Tiết Kiệm Chi Phí
  • Quản Lý Mầm Non : Làm Thế Nào Để Thu Hút Phụ Huynh Đến Trường Mầm Non
  • Chương Trình Đào Tạo Tuyển Sinh Hiệu Quả & Bền Vững: Nguyên Lý Luật Hấp Dẫn
  • Bác Sĩ Chuyên Khoa Nguyễn Thị Song Hà

    --- Bài mới hơn ---

  • Dấu Hiệu Nào Cho Biết Bạn Sắp Sinh ? – Khoa Sản Nhi – Viện Y Học Biển Vn
  • Biểu Hiện Chó Sắp Đẻ Và Những Vấn Đề Cần Lưu Ý
  • Các Dấu Hiệu Sắp Sinh Mẹ Bầu Dễ Nhận Biết
  • Nguyên Nhân Và Dấu Hiệu Nhận Biết Trầm Cảm Sau Sinh
  • Trầm Cảm Cấp Độ 1 – Triệu Chứng Và Cách Điều Trị
  • Sanh mổ và sanh thường

    Mổ lấy thai là phẫu thuật phổ biến của đẻ mổ. Trường hợp bạn cần sinh mổ bác sỹ sẽ chỉ định cho bạn. Với tình hình của bạn và thai nhi bạn hoàn toàn có thể chủ động nhận ra mình cần phải sinh mổ hay sinh thường? 

    Thông thường sau khi ăn 6 tiếng, thức ăn mới có thể tiêu hóa toàn bộ. Khi đó dạ dày trống và đồng thới trong dạ dày chỉ có ít dịch nên không gây nguy hiểm. Còn trước 6 tiếng, thức ăn vẫn còn trong dạ dày do chưa được tiêu hóa hết, nên rất nguy hiểm nếu có hiện tượng trào ngược xảy ra do mất kiểm soát khi gây mê….

    Nếu thai đã đủ 38 – 40 tuần và thấy xuất hiện một số triệu chứng như: tử cung co thắt, âm đạo chảy ra chất màu máu, mót tiểu tiện, phá nước ối… thì bà bầu nên vào bệnh viện để chờ sanh. Tuy nhiên, ở mỗi người sẽ có những biểu hiện rất khác nhau. 

    Cuối cùng thì những tuần lễ mong đợi rồi cũng đã kết thức và bạn đã bắt đầu chuyển dạ. Đây là cao điểm của tiến trình mang thai của bạ, vì chỉ còn vài giờ nữa là bạn sẽ thấy được mặt con. Bạn sẽ rất phấn khởi, tuy nhiên cũng e sợ không biết rồi cuộc chuyển dạ của mình sẽ diễn ra thế nào. 

    Trong các giai đoạn khi chuyển dạ, bạn hãy thử qua nhiều tư thế khác nhau, vì hẳn là từng lúc khác nhau, thì có những tư thế thoải mái khác nhau. 

    Thời gian khó khăn nhất của tiến trình chuyển dạ thường rơi vào phần cuối của giai đoạn đầu khi các cơn co mạnh nhất. Các cơn co này kéo dài lối một phút và có thể chỉ cách nhau một phút thôi, nên có ít thời gian để nghỉ sau một cơn co, trước khi cơn sau ập tới bạn.

    Mặc dù tiến trình chuyển dạ thường rất đau nhưng mỗi cơn đau đều đưa bạn đến gần sự trào đời của em bé thêm được một bước. Bạn có thể quyết tâm không dùng đến các biện pháp giảm đau, tuy nhiên bạn cũng nên cố gắng giữa đầu óc cởi mở.

    Giờ đã tới cao điểm của tiến trình chuyển dạ, và em bé của bạn sắp sửa ra đời. Thật là hào hứng, khi bạn có thể sờ thấy đầu em bé lần đầu khi mới trồi ra, và chẳng mấy chốc sau đó, được nựng bé trên tay. 

    Sanh đẻ là một quá trình sinh lý tự nhiên cho nên sản phụ không nên có tâm lý hoảng sợ, căng thẳng, chỉ cần không có tình trạng khác thường thì có thể phối hợp tốt với bác sỹ và y tá hộ sinh để việc sinh đẻ tự nhiên được diễn ra thuận lợi. 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trường Hợp Nào Nên Chọn Phương Pháp Sinh Mổ?
  • Kinh Nghiệm Nhận Biết Dấu Hiệu Sắp Sinh Sớm
  • Hướng Dẫn: Các Dấu Hiệu Nhận Biết Và Chăm Sóc Hamster Mang Thai (Phần 1)
  • Cách Chăm Sóc Chuột Hamster Đẻ
  • Mẹ Bầu Bị Tiêu Chảy Bao Lâu Thì Chuyển Dạ?
  • Phương Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Ngữ Văn 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Luyện Thi Học Sinh Giỏi Văn Đạt Giải Cao
  • 7 Phương Pháp Để Học Giỏi Môn Toán Lớp 9
  • Học Giỏi Hóa Nhờ 5 Phương Pháp Học Hiệu Quả, Bạn Nên Nắm Ngay
  • Những Phương Pháp Để Học Hóa Hiệu Quả
  • Cách Học Tốt Môn Hoá Và Bí Quyết Làm Bài Thi Đạt Điểm Cao Môn Hoá
  • – Trong đời giáo viên day cho HS biết làm một bài văn hay là khó nhất . Với 32 năm đi dạy và rất nhiều năm bồi dưỡng HS giỏi tôi có rút ra một số kinh nghiệm để các bạn tham khảo .

    B – Trình tự dạy như sau :

    I – Bài thứ nhất : – Cách phân tích giá trị biểu cảm của từ :

    1 – Sơ đồ cơ bản : Tiếng – từ -ngữ -câu

    – Tiếng có một lần phát âm .

    – Từ do một hay nhiều tiếng có nhĩa tạo thành .

    – Ngữ là nhiều từ tạo thành nhưng chưa diễn đạt ý trọn vẹn .

    – Câu là do nhiều từ +ngữ tạo thành diện đạt một ý trọn vẹn .

    2 – Phương pháp : – Khi phân tích giá trị biểu cảm của từ chúng ta phải theo các bước sau :

    a – Đặt từ đó trong câu để xác định văn cảnh .

    b – Phần giải thích phải năm vững từ đó là đơn hay ghép hay từ láy bởi vì :

    – Từ đơn từ ghép trong câu văn câu thơ thườ có nghĩa đen và nghĩa bóng .

    – Từ láy có sắc thái tu từ âm và thanh .

    Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi ngữ văn 9 A - Lời nói đầu : - Trong đời giáo viên day cho HS biết làm một bài văn hay là khó nhất . Với 32 năm đi dạy và rất nhiều năm bồi dưỡng HS giỏi tôi có rút ra một số kinh nghiệm để các bạn tham khảo . B - Trình tự dạy như sau : I - Bài thứ nhất : - Cách phân tích giá trị biểu cảm của từ : 1 - Sơ đồ cơ bản : Tiếng - từ -ngữ -câu - Tiếng có một lần phát âm . - Từ do một hay nhiều tiếng có nhĩa tạo thành . - Ngữ là nhiều từ tạo thành nhưng chưa diễn đạt ý trọn vẹn . - Câu là do nhiều từ +ngữ tạo thành diện đạt một ý trọn vẹn . 2 - Phương pháp : - Khi phân tích giá trị biểu cảm của từ chúng ta phải theo các bước sau : a - Đặt từ đó trong câu để xác định văn cảnh . b - Phần giải thích phải năm vững từ đó là đơn hay ghép hay từ láy bởi vì : - Từ đơn từ ghép trong câu văn câu thơ thườ có nghĩa đen và nghĩa bóng . - Từ láy có sắc thái tu từ âm và thanh . c- Giá trị biểu cảm : là khi đọc từ đó lên tạo hình ảnh gì trước mắt người đọc . ( Tạo hình} Gợi cảm là tình cảm của tác giả như thế nào , từ đó gây cảm xuc gì cho người đọc nói chung và bản thân em nói riêng . d- Thực hành : + Phân tích giá trị biểu cảm của từ đơn từ ghép : VD :Phân tích tư "nghiêng" trong câu thơ : nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng . trả lời:từ nghiêng là hình ảnh chiếc chày ngả về một phía theo nhịp của người giã gạo . còn từ nghiêng trong "giâc ngủ em nghiêng" có nghĩa đen là hình ảnh đứa bé nằm ngủ trên lưng mẹ đồng nghĩa với giấc ngủ không bình thường . + Giá trị biểu cảm :từ nghĩa đen và nghĩa bóng trên từ "nghiêng" đã tạo được một hình ảnh cụ thể sinh động về cuộc sống vất vả của người phụ nữ và trẻ em trong những năm chống Mỹ gợi cho tác giả và người đọc một tình cảm đau xót cho đòng bào vừa căm giận bọn cướp nước gây nên những cảnh khổ cực đó . +Phân tích giá trị biểu cam của từ láy :Khi phân tích ta cần xác định được các loại từ láy . có 3 loại : -từ láy thanh là từ tượng thanhbắt chước âm thanh sự vật tác động vào nhau . * ví dụ :giải thích và phân tích từ "ầm ầm" trong đoạn trích "kiều ở lầu Ngưng Bích" . Trước hết ta phải đặt từ trong văn cảnh sau đó giải thích .Từ "ầm ầm" là bắt chước âm thanh tiếng sóng vỗ vào nhau ,vào bờ liên tiếp mạnh mẽ. Giá trị biểu cảm của nó :tạo nên được phong cảnh một vùng quanh năm có sóng vỗ . Những tiếng sóng đang vây quanh sự cô độc Nàng Kiều .Tiếng sóng như giằng xé níu kéo đe doạ báo trước bước đường dông tố của Nàng . Từ láy nghĩa : là từ tượng hình có tác dụng làm tăng thêm nhấn mạnh giá trị từ gốc . Vi dụ : giải thích và phân tích từ "lom khom" trong bài thơ Qua đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan : Từ "Lom khom" là từ láy nghĩa nhằm tăng giá trị của từ khom . Từ đó tạo ra hình ảnh sinh động vài chú tiều nhỏ nhoi giữa không gian mênh mông chiều vắng . Gợi cho nhà thơ một nội niềm man mác trước cảnh chiều tà . Tìm người thấy người mà không thể trò chuyện được . Làm cho nỗi nhớ nhà lại càng trào dâng trong lòng thi sĩ . -Từ láy âm :cũng gọi là từ tượng hình ,nhưng có tác dụng làm tăng thêm giá trị ý nghĩa bằng cách điệp vần hoặc phụ âm đầu ví du: giải thích và phân tích từ "quạnh quẽ" trong bài thơ Bến đò xuân đầu trại" của Nguyễn Trãi . - Trước hêt ta đặt từ vào trong văn cảnh để giải thích và phân tích . Đây là từ láy âm có tác dụng làm tăng giá trị gợi cảm của phụ âm đầu .Từ tượng hình này tạo nên một hình ảnh rõ nét về một con đường dẫn đến bến đò ở thôn quê vắng vẻ,thưa thớt khách . Từ đó gợi nên một cảm giac yên bình ở nông thôn nước ta sau bao năm khói lửa . II - Bài thứ hai :Phân tích giá trị biểu cảm của phép tu từ . 1 - Phép so sánh (tu từ): a-Định nghĩa :Khi nói và viết người ta đưa sự vật này ra đẻ đối chiếu với vật khác cốt làm cốt làm cho sự vật đươc mô tả cụ thể hơn sinh động hơn ,có hình ảnh và gây cảm xúc nhiều hơn .Câu so sánh bao giờ cũng có dụng ý nghệ thuật ,có hai vế ,vế so sánh và vế được so sánh . giữa hai vế thường có từ so sánh :như ,tựa bằng , đồng Ví dụ : Mặt trời xuống biển như hòn lửa A B b- Khi phân tích ta làm như sau : -cách viết :tác giả đã sử dụng nghệ thuật so sánh đem sự vật "A" so sánh vơi sự vật "B" để làm cho sự vật "A" được mô tả cụ thể hơn sinh động hơn từ đó gây cảm xúc cho tác giả và người đọc . -Bài tập :Trong câu thơ sau tác giả đã sử dụng phép tu từ gì ,nêu giá trị biểu cản của phép tu từ đó ? Mặt trời xuống biển như hòn lửa (Huy Cận - Đoàn thuyền đánh cá) * cách làm : Cách so sánh của nhà thơ Huuy Cận khá độc đáo vì tác giả đem hình ảnh "mặt trơi xuống biển"so sánh với hình ảnh "Hòn lửa" tạo nên buổi chiều trên biển thật cụ thể sinh động , đó là buổi chiều huy hoàng rực rỡ làm cho người đọc ngây ngất trước cảnh đẹp biển lúc hoàng hôn . từ đó thêm yêu quý đất nươc của chúng ta . 2- Phép ẩn dụ : a- Định nghĩa : Khi viết văn để cho sự biểu hiện đươc sâu sắc kín đáo ,người ta dùng những từ hay ngữ mà nghĩa đen đươc chuyển sang nghĩa bóng nhờ một sự so sánh ngầm . đó là cách thức ẩn dụ (ví ngầm) . Ví dụ : Thân em vừa tráng lại vừa tròn (Bánh trôi nước - Hồ Xuân Hương) -nghĩa đen :bánh trôi nước về màu sắc và hình dáng -Nghĩa bóng : Hình ảnh về vẻ đẹp người phụ nữ có làn da trắng và thân hình đầy đặn . b- Khi phân tích ta làm như sau :Cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ của nhà thơ thật tài tình vì qua hình ảnh (nghĩa đen) nhà thơ đã gợil cho người đọc hình dung được một hình ảnh khác thật sâu săc kín đáo đó là hình ảnh "Nghĩa bóng" từ đó gợi cảm xúc cho người đọc . c- Bài tập : Ví dụ : Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ ( Viễn Phương -Viếng lăng Bác) Hãy xác định hình ảnh "mặt trời" nào là phép tu từ gọi tên phép tu từ đó ? Phân tích giá trị biểu cảm ? cách viết :Cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ của nhà thơ thật tài tình vì qua hình ảnh "mặt trời"là một vầng thái dương "nghĩa đen" ,tác giả tạo ra một hình ảnh so sánh ngầm sâu sắc ,tế nhị làm cho người đoc suy nghĩ và hình dung ra được hình ảnh của Bác Hồ(nghĩa bóng) ,một con người rực rỡ và ấm áp như mặt trời dẫn dắt dân tộc ta trên con đường giành tự do và độc lập xây dựng tổ quốc công bằng dân chủ văn minh .từ đó tạo cho người đọc một tình cảm yêu mến khâm phục vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc chúng ta . 3- Phép nhân hoá : a- Định nghĩa : Khi viết và nói để cho sự vật thêm sinh động người ta gán cho chúng những suy nghĩ hành động , tình cảm như con người . Đó là phép nhân hoá . * Ví dụ : Con cá rô ơi chớ có buồn (Tố Hữu - Bác ơi) b- bài tập : khi phân tích giá trị biểu cám của phép nhân hoá ta viết như sau : -Cách sử dụng biện pháp nhân hoá của nhà thơ khá độc đáo vì tác giả đã ganhanhf động (tình cảm) của con người cho sự vật để miêu tả sinh động hình ảnh từ đó gợi cảm xúc -Thực hành : cho cau thơ sau : Sóng đã cài then đêm sập cửa ( Huy Cận - Đoàn thuyền đánh cá ) -Tìm phép nhan hoá ? - phân tích giá trị biểu cảm của phép tu từ đó ? - Cahs phân tích : Cách sử dụng tu từ nhân hoá của tác giả thật độc đáo vì Huy Cận đã gán hành động "cài then" cuả con người cho sóng và hành động "sập cửa" cho đêm để miêu tả sinh động hình ảnh màn đêm lan dần trên biển gợi nên một cảm giác thoải mái về đêm khi vũ trụ nghỉ ngơi . 4 - Phép hoán dụ : (cơ bản giống phép ẩn dụ ). III -Bài thứ ba : Phân tích tính nhạc và tính hoạ trong thơ : Tính hoạ là gi ? Trong thơ thường có những bức tranh được vẽ bằng ngôn ngữ Nóđược tạo bởi các biện pháp tu từ và các từ gợi tả . Các biên pháp tu từ về tư : so sánh , nhân hoá , ẩn dụ , hoán dụ ,tượng hình tượng thanh Các biện pháp tu từ về câu điệp ngữ ,thậm xưng , đối lập tăng tiến ,câu hỏi tu từ -Vì vậy khi phân tích phải cho ngươi đọc thấy được hình ảnh gì hiện ra trước mắt ngươi họ và cảm nhận được điều gì ? * ví dụ : Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điêm một vài bông hoa ( Truyện Kiều - Nguyễn Du ) 2- Tính nhạc trong thơ là gì ? Nhạc trong thơ được cấu tạo bằng nhịp điệu tiết tấu và sự thay đổi thanh .thơ khác văn xuôi ,vè là ở tính nhạc . Nhà thơ Tản Đà đã từng nói : Đàn là đàn ,thơ là thơ Thơ có nhạc đàn có tơ . + Vậy vần ở đâu ? -Những nguyên âm hẹp thường biểu hiện tâm trạng buồn , u uất ,bế tắc ,khó nhọc ,tủi hổ ( I, u , o ) - Những nguyên âm rộng thường biểu hiện tâm trạng vui vẻ không gian bao la rộng mở cả xúc tự hào phấn khởi (a ,ia , ưa ) *ví dụ : Em không nghe mùa thu Dưới trăng mờ thổn thức Em không nghe rạo rực Hình ảnh kẻ chinh phu Trong lòng người cô phụ (Tiếng thu - Lưu Trọng Lư ) Thanh bằng thường biểu hiện tâm trạng buồn , không gian yên bình Thanh trắc thường biểu hiện tâm trạng bế tăc , cùng quẩn * vi du : Trời buồn làm gì trời rầu rầu Anh yêu em xong anh đi đâu Vắng tiếng gió suối thấy tiếng khóc Một bụng một dạ một nặng nhọc Ảo tưởng chỉ để khổ để tủi Nghĩ mãi gỡ mãi lỗi vẫn lỗi. ( Hoài tình - Thế Lữ ) + Nhịp điệu tiết tấu : -Nhịp điệu tiết tấu chính là nhạc của thơ nhờ sự lặp đi lặp lại cùng một chu kỳ về bằng - trắc ,về vần (nguyên âm và phụ âm ) .vì vậy nhiều bài thơ không có phép tu từ nào nhưng nhờ nhạc mà vân thơ trở nên xuất sắc . * ví dụ : Hôm qua đi chùa Hương Hoa cỏ mờ hơi sương Cùng thầy me thức dậy Em vấn đầu soi gương (Đi chùa Hương - Nguyễn Nhược Pháp ) Nhà thơ đã sử dụng nhiều thanh bằng và gieo vần "ương" đẻ tạo cho bài thơ có nhạc điệu .,có tiết tấu diễn tả cảnh thanh bình và tâm trạng vui tươi phấn chấn của cô gái mười lăm lần đầu đi chùa Hương . IV - Bài thứ tư : Rèn luyện kỹ năng phân tích đề : Đối với học sinh khi làm bài phải tuyệt đối theo yêu cầu của đề ra . vì vậy đọc kỹ đề là một vấn đề vô cùng quan trọng . Phải hiểu đề nắm chắc đề và tiến hành trình tự theo các bước sau : Đọc đề bài : Học sinh phải đọc thật kỹ đề để có một cái nhìn khái quát nhất . Chú ý không để sót một chữ nào một chi tiết nào . Tránh hiểu sai đề dẫn đến làm lac đề . Khi đọc xong phải gạch chân những từ ,những chỗ quan trọng . Phân tích đề : Một đề ra cho học sinh là đặt học sinh trước một tình huống có vấn đề .Nghĩa là phát hiện ra được cái vấ đề càn được giải quyết nằm trong đề bài . Kết cấu một đề bài đầy đủ thường có hai bộ phận : Bộ phận thứ nhất : Đây là bộ phận chứa đựng những dữ kiện ,những điều nà đề bài cho biết trước .bộ phận này thường có những chi tiết sau : -Lời dẫn giải , giới thiệu hay xuất xứ của phần trích hay một nhận định . - phần đoạn trích hay nhận định . * như vậy trong phần này hoc sinh phải gạch chân những từ then chốt để xác định được : -Vấn đề cần phân tích ( có mấy ý chính ) . - Giới hạn của đề (số lượng ý chính mà mình đươc làm và phạm vi cho phép được lấy dẫn chứng . Bộ phậ thứ hai : Chứa đựng những điều mà đề bài yêu cầu thực hiện ,nghĩa là Cách giải quyết vấn đề Bộ phận này thường diễn đạt bẵng những câu cầu khiến : Hãy phân tích ? Nêu suy nghĩ ? Cảm nhậm của em ? ( Chú ý : dạng đề mở thì học sinh phỉ suy nghĩ kỹ để xách định được thể loại và ý để làm bài .) * Như vậy trong phần này học sinh gạch chân những tư then chốt đẻ xác định thể loại của bài làm . Luyện tập : * ... ánh , nhân hoá , ẩn dụ , hoán dụ , nói quá , điệp từ điệp ngữ , đảo ngữ v.v Câu văn , lời văn , bố cục diễn đạt :Câu dài câu ngắn , câu xen kẽ , câu đặc biệt , caaucamr câu kể .Câu văn có đẽo gọt hay luộm thuộm . Có vận dụng các thành ngữ tục ngữ ,.. các dấu đi kèm biểu hiện nội dung hay hình thái , cách ngắt câu ngắt nhịp tạo nhạc cách bố cục v.v Thể loại : Văn xuôi , văn vàn ,miêu tả kể chuyện , chính luận . THơ tự sự hay trữ tình . thơ lục bát , song thất lục bát , thơ đường hay tự do v.v Giọng điệu , nhịp điệu : Vui hay buồn , tha thiết hùng hồn hay bi ai phận uất , đơn điệu hay phong phú ,lên bổng xuống trầm hay đều đều gây hưng phấn . Nhịp thơ khoan thai hay dồn dập , buông lơi hay hối hả . Nhip thơ 2/2 hay 2/4 , 3/3, 4/4 v.v C - Quan hệ giữa nội dung và nghệ thuật : Nội dung và nghệ thuật luôn gắn bó mật thiết với nhau . Nội dung nào nghệ thuật ấy . Nội dung hay phần lớn là nhờ nghệ thuật vì nhờ nghệ thuật mà biểu hiện nội dung . Nội dung dung vui vẻ thì hình thức sinh độn và ngược lại . * Ví dụ : Hì hà , hì hục Lục cục ,lào cào Anh cuốc,em cuốc Đá lở, đất nhào . ( Phá đường - Tố Hữu ) + Nội dung : Quang cảnh buổi lao động "phá đường" cản giặc trong kháng chiến chống Pháp . + Nghệ thuật :Từ láy gợi tả ,gợi hình , gợi thanh , sử dụng điệp từ " cuốc cuốc , cào cào" D - Luyện tập : Tìm nội dung và nghệ thuật đoạn thơ sau : KHông họ chưa hai mươi Cô gái hôm nào mới lớn Soi trộm vào gương thấy má mình hồng Nghĩ đến chuyện lấy chồng đỏ mặt . Người con trai ngồi trên gò đất Thổi sáo gọi người yêu, làm nắng chiều đứng lại Lúa đang thời con gái cũng thấy rộn trong lòng ( Nhân câu chuyện mấy người tự tử - Lê Đạt ) VI - Bài thứ sáu : Phân tích tác phẩm văn học Tác phẩm văn học là gì ? Người ta gọi tác phẩm văn học là công trình sáng tác đạt đến trình độ nghệ thuật cao thuộc :thơ , truyện , kịch , ký v.v Một bài thơ, tập thơ ,tiểu thuyết ,truyện ngắn , ký , kịch đều gọi là tác phẩm văn học . Mỗi tác phâm văn học đều có đặc thù riêng của nó . 2- Phân tích tac phẩm văn học là gì ? Phân tích tác phẩm văn học là tìm hiểu nhận xét đánh giá tac phẩm ấy về hai phương diện nội dung và nghệ thuật trong mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm cũng như hoàn cảnh ra đời của nó . Khi phân tích nếu là tác phẩm văn tự sự thì phân tích nội dung riêng nghệ thuật riêng . Nếu là tác phâm trữ tình thì phân tích nghệ thuật để làm sáng tỏ nội dung . Vì sao ? Vì tác phẩm tự sự Thì tư tưởng tình cảm của tác giả đươc thể hiện thông qua hàng động ,tính cách ,lời nói ,tâm trạng của nhân vật . Còn tác phẩm trữ tinh thì tư tưởng tình cảm của tác giả biểu hiện thông qua ngôn ngữ ( Cách ngắt nhịp ,sử dụng từ gợi tả ,biện pháp tu từ ,sử dụng câu v.v) 3-Các bước phân tích :Khi phân tích tác phẩm văn học cần theo trình tự ba bước sau (Khái quát - phân tích - tổng hợp ) . Nhân xét khái quat bước đầu về tác phẩm.Nếu là thơ ( bài thơ khổ thơ , đoạn thơ ) .Phải nêu đại ý của nó trước khi phân tích . Phân tích từng phần ,từng mặt, từng ý trong tác phẩm về hai mặt nội dung và nghệ thuật . Tổng hợp lại trên cơ sở đã phân tích . Chú ý :- nếu là tác phẩm tự sự thì chú ý nhiều về cốt truyện và nhân vật . Nếu là tác phẩm trữ tình thì chú ý đến từ ngữ ,hình ảnh ,nhịp điệu biện pháp tu từ . 4-Tìm hiểu đè :có nghĩa là đọc kỹ đề xem người ra đề yêu cầu ta làm những vấn đề gì : -Về thể loại : bài viết theo kiểu nào, đơn thuần hay tổng hợp . - xuất xứ : tác phẩm ra đời vào lúc nào ,hoàn cảnh xã hội lúc đó ra sao ,tác giả là ai có đặc điểm gì ? - Nội dung khái quát của đề là gì ? (miêu tả cảnh trí thiên nhiên gửi gắm tâm tình ,miêu tả người nêu lên tính cách nhân vật ,canh lao động hay cảnh nhàn du ,tự sự về cái gì hay trào phúng ) 5-Tìm ý :Tìm hiểu đề mới là tìm hiểu tổng quát .Tìm ýlà đi sâu vào chi tiết nội dung và nghệ thuật . - Trước hết là xác định đề có bao nhiêu ý lớn để bài viết đáp ứng đầy đủ yêu cầu của đề (tuỳ theo đề bài ta có thể chia ra từ 2 đến 3ý là vừa nếu hơn thì nhiều quá sẽ vụn vặt ) - Đặt ra nhiều câu hỏi câu hỏi về cả hai mặt nội dung và nghệ thuật của tác phẩm cần phân tích rồi trả lời ,kể cả câu hỏi về tư liệu phụ (Khi viết thành bài các câu trả lời phải được liên kết chặt chẽ ,diễn đạt cho kín mạch văn ) * Ví dụ : Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân (Viếng Lăng Bác - Viễn Phương ) Ta đặt câu hỏi như sau : + Khổ thơ có mấy ý ? Đó là những ý nào ? Các ý đó tập trung phản ánh nội dung gì của đoạn thơ ? + Điệp từ "Ngày ngày" diễn tả điều gì ? vấn đề đó ra sao ? + Từ "mặt trời" câu thứ hai chỉ ai ? Nghệ thuật được dùng ơ đây là gì ? Tác dụng của nó ra sao ? Hai từ "mặt trời" ở câu 1 và câu 2 khác nhau chỗ nào ? + Từ rất đỏ ý muốn nói điều gì ? +Sao không nói đoàn người mà nói "dòng người"? Từ "dòng" biểu hiện thái độ gì của những người vào lăng viếng Bác ? +Từ dâng thể hiện điều gì ?Tại sao lại "bảy mươi chín mùa xuân" ? * Bài luyện tập : Tìm ý để phân tích khổ thơ sau : Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng đâu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ Đồng chí ; +Cách lập dàn ý : Dàn ý là sắp xếp các ý đã tìm được bằng cách đặt ra nhiều câu hỏi theo một trình tự hợp ký nhất định đúng theo kiểu văn phân tích tác phẩm . Dàn ý được trình bày bằng những câu ngắn gọn ,gạch đầu dòng tạo thành một thể thống nhất hoàn chỉnh . Mở bài : Giới thiệu tác giả , hoàn cảnh ra đời của tác phẩm , khái quat về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm ( Nếu là đoạn trích thì nêu thêm ấn tượng của đoạn trích ) . Thân bài : - Đoạn đầu của phần thân bài : Nêu cái nhìn tổng quát ban đầu tác phẩm sắp phân tích . -Các đoạn sau cứ mỗi ý lớn thì dựng thành một đoạn theo sự sắp xếp khi tìm ý . ( Trong các ý lứn nên gạhj đầu dòng các ý nhỏ để tránh khi viết bị quên .) Kết bài : Đánh giá một cách khái quát về tác phẩm vừa phân tích . Nêu một chút cảm nghĩ hoặc bài học cụ tuể được rút ra Cách phân tích thơ : + Muốn phân tích và bình giảng thơ cần phải nắm vững các thao tác sau : -Tìm hiểu giọng thơ xem : nhẹ nhàng hay ngọt ngào ,chậm rãi hay dồn dập , gân guốc hay uyển chuyển v.vvì giọng thơ thể hiện hồn thơ mà tác giả gửi gắm . - Tìm hiểu cách ngắt nhịp bởi vì giọng thơ với cách ngắt nhịp và hiệp vần tạo nên nhạc thơ . - Tìm "mắt thơ": Đó là các từ gợi tả (gợi hình ,gợi cảm ,) - Tìm phép tu từ : Đó là phép tu từ gi ? + Sau khi làm xong các thao tác trên .Muốn Phân tích và bình giảng ta nên đặ hệ thống câu hỏi sau : Với giọng thơ như thế nào ? Kết hợp với ( biện pháp nghệ thuật gì ?hoặc từ gợi tả nào để tạo nên ý gì ? biện pháp nghệ thuật tạo nên hình ảnh gì ? gây cảm xúc gì cho người đọc ? Ví dụ : Phân tích và bình giảng hai câu thơ "Đoàn thuyền dánh cá" của Huy Cận : Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa . Với giọng thơ gân guốc kết hợp với biện pháp so sánh tác giả đã vẽ nên một cảnh hoàng hôn trên biển thật là tuyệt đẹp . Cái hay ở đây là Huy Cận đã đem hình ảnh mặt trời so sánh với hòn lửa rực hồng đang từ từ lặn xuống biển , tạo nên một quang cảnh hoàng hôn huy hoàng và tráng lệ trên biển làm ngây ngất người đọc .Nhưng khung cảnh ấy chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc rồi nhường chỗ màn đêm lan toả . Cách sử dụng phép nhân hoá ở đây thật là độc đáo vì tác giả đã gán hành động "Cài then" của con người cho sóng và Sập cửa" cho đêm để thể hiện sự dứt khoát của vụ trụ đoạn tuyệt với công việc để đi vào nghỉ ngơi thư giản . Trong khi đó con người lại bắt tay vào lao động , qua đó để thấy được tinh thần làm việc không quản ngày đêm của người dân làng chài . VII - Bài thứ bảy : Cách viết mở bài Khái niệm : Mở bài là phần đầu tiên ,là phần trước nhất đến với người đọc ,gây cho người đọc cảm giác và ấn tượng ban đầu về bài viết , tạo ra âm hưởng chung cho toàn bài văn . -phần này có một vai trò và tầm quan trọng khá đặc biệt vì một mở bài gọn gàng hấp dẫn sẽ tạo được hứng thú ở người đọc thường báo hiệu một nội dung tốt . nên mở bài rất khó viết hay . 2- Cấu tạo của mở bài : a- Về nội dung : Mở bài thường có những bộ phận nhỏ sau : + Gợi mở vào đề 🙁 Kiểu mở bài lung khởi ) Nêu xuất xứ của đề , của nhận định Nêu lý do đưa đến bài viết + Giớ thiệu đề : Đây là trọng tâm của mở bài co nhiệm vụ tạo nên tình huống có vấn đề mà ta giải quyết ở phần thân bài : Giới thiệu nội dung vấn đề . Xác định phương hướng , phương pháp ,phạm vi mức độ giới hạn (nếu có ) Nếu đoạn thơ thì có thể trích dẫn . B- Hình thức : Dung lượng và độ dài phải cân xứng với bài viết . Đặc biệt phải liên hệ chặt chẽ và sự tương ứng cả về dung lượng lẫn phong cách diễn đạt với kiểu bài . -Nên viết ngắn gọn , khéo léo ,gợi hứng thú . - Tránh viết vòng cèo mà không vào được vấn đề . - Tráng viết lan man không ăn khớp với các phần sau . - Tránh viết bay bướm cầu kỳ dài dòng làm phân tán sự chú ý người đọc . Một số kiểu viết mở bài : - Giới thiếu thẳng với người đọc vấn đề sẽ trình bày . - Cách mở bai này nhanh gọn và giản dị dễ tiếp nhận thích hợp với những bài viết ngắn . - Nhược điểm nếu viết không khéo sẽ khô khan , ít hấp dẫn . Mở bài trực khởi: (trực tiếp ) Giới thiệu tac giả .(1) . Giới thiệu tác phâm (2) và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ,(3) Đánh giá sơ bộ về nội dung(4) +nghệ thuật .(5) Với năm yếu tố trên ta có thể viết được các kiểu mở bài như sau : 1 2 3 4 / 4 5 2 1 3 4 / 4 5 3 2 1 4 / 4 5 4 1 2 3 /5 5 3 1 2 / 4 *Ví dụ : Phân tích bài thơ "Đồng chí" của Chính Hữu . - Ta viết mở bài như sau :Chính Hữu là một nhà thơ quân đội thường xuyên viết về đề tài người lính . Nhưng có lẽ thành công nhất là bài thơ "Đồng chí" đó là hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ trong chin năm trường kỳ chống thực dân Pháp .Từ khi ra đời đến nay tác phẩm đã chiếm được cảm tình người đọc đặc biệt là các thế hệ học trò ( Các kiểu khác thì chúng ta cũng vết tương tự ) b- Mở bài lung khởi : (Gián tiếp ).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Học Guitar Nhanh Cho Tất Cả Mọi Người
  • Phương Pháp Học Đàn Guitar Nhanh
  • Guitar Lead Là Gì? Phương Pháp Tự Học Guitar Lead
  • Phương Pháp Học Đàn Guitar Hiệu Quả Cho Người Đang Nản Chí
  • Những Phương Pháp Học Đàn Guitar Không Bị Nản Chí
  • Phương Pháp Tân Dưỡng Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Tân Dưỡng Sinh ” Tiêu Dao Blogs
  • Đánh Giá Khả Năng Chẩn Đoán Của Phương Pháp Sinh Thiết Phổi Dưới Hướng Dẫn Của Chụp Cắt Lớp Vi Tính
  • Chọc Sinh Thiết U Phổi Có Đau Không?
  • Tìm Hiểu Để Giải Đáp Câu Hỏi Sinh Thiết Phổi Có Nguy Hiểm Không?
  • Nhiều Người Thắc Mắc Sinh Thiết Phổi Có Đau Không?
  • Phương Pháp Tân Dưỡng Sinh là quyển sách đầu tiên bằng Việt ngữ (ngoài tập Ăn Cơm Gạo Lứt) nói về phương pháp của Ohsawa Tiên sinh. Dựa vào phương pháp này không những trị được tất cả các chứng bệnh mà còn ngăn ngừa được các chất phóng xạ xâm nhập vào cơ thể.

    Thực hành Phương Pháp Tân Dưỡng Sinh cần những thực phẩm gì, nấu nướng thế nào cho đúng phương pháp và đối với những chứng bệnh phải chữa, cần ăn uống kiêng cử ra sao, được trình bày đầy đủ trong quyển sách này. Quyển sách này từ lý thuyết đến thực hành rất đầy đủ. Một dân tộc hậu tiến, bênh hoạn, kinh tế nghèo nàn, muốn sống còn với thế giới, thiết tưởng không thể không lưu tâm đến Phương Pháp Tân Dưỡng Sinh này.

    Ba yếu tố độc lập của một quốc gia : Thổ địa, nhân dân, chủ quyền. Nếu không có phương pháp nào làm cho nhân dân khang kiện, không bệnh hoạn mà không tốn thuốc, để có thể gầy dựng một nền kinh tế phong phú, thiết tưởng ba yếu tố ấy không thể nào thập phần đầy đủ.

    Một y sĩ trong gia đình các bạn mà lại không tốn thuốc thang : quyển sách này!

    Một ân nhân chỉ dẫn cho các bạn tự tìm mối hạnh phúc vĩnh cữu duy nhất : quyển sách này !

    Một minh sư dìu dắt các bạn trong đường tinh thần để tạo cho các bạn một mối tự do vô biên : quyển sách này !

    Georges Ohsawa, tên thật là Sakurazawa Nyoichi là triết gia người Nhật Bản, là người truyền bá phong trào thực dưỡng rộng rãi trên thế giới. Geoge Ohsawa (1893-1966) được nhìn nhận như người sáng lập ra những nguyên tắc và phong cách sống Thực dưỡng.

    Mục Lục :

    Lời tựa

    Lời nói đầu

    Từ sức khỏe đến Hòa Bình Chương I – Thuật trường sinh và y thuật Đông phương

    Chương II – Phương pháp chữa bệnh

    Chương III – 6 điều kiện của sức khỏe

    Chương IV – Không có gì không làm được với đức tin

    Chương V – Âm và dương

    Chương VI – Nhà bếp trường sinh

    Chương VII – Món ăn chính

    Chương VIII – Món ăn phụ

    Chương IX – Món đặc biệt

    Chương X – Thử chữa đôi bệnh

    Chương XI – Phương thức ăn để chữa bệnh

    Chương XII – Thức ăn trẻ con

    Chương XIII – Vài ý tưởng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Do Thuyết Phục Khi Mẹ Bầu Chọn Phương Pháp Sinh Mổ
  • Mẹ Bầu Nên Lựa Chọn Sinh Thường Hay Sinh Mổ?
  • Sinh Thường Và Sinh Mổ: Nên Chọn Phương Pháp Nào Tốt Nhất?
  • Khi Nào Nên Chọn Phương Pháp Sinh Mổ?
  • Danh Sách 4 Lưu Ý Quan Trọng Nhất Khi Sinh Mổ Các Mẹ Cần Biết!
  • Tác Dụng Bài Tập Dưỡng Sinh Của Nguyễn Văn Hưởng Trên Đói Tượng Công Nhân Phơi Nhiễm Xăng Dầu Có Hội Chứng Nhiễm Độc Benzen Nghề Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Ăn Gạo Lứt Số 7 Mở Rộng
  • Các Trợ Phương Theo Phương Pháp Dưỡng Sinh
  • Phương Pháp Dưỡng Sinh Gạo Lứt Muối Mè
  • 10 Cách Dễ Dàng Để Sản Sinh Ra Ý Tưởng “chất”
  • Báo Hạnh Phúc Gia Đình Và Xã Hội: Nuôi Con Theo Easy
  • Từ những năm đầu của thập kỷ 90 xăng, dầu đã là nguồn nguyên liệu chính của nền công nghiệp thế giới, việc khai thác và sử dụng xăng dầu ngày càng được đẩy mạnh.

    Ở Việt Nam, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhu cầu sử dụng xăng dầu ngày càng tăng, mạng lưới cung cấp, giao nhận, bán lẻ và đội ngũ nhân viên tiếp xúc với xăng dầu ngày càng nhiều, không thể tránh khỏi các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp như: nguy cơ cháy nổ, ô nhiễm môi trường và một vấn đề rất đáng quan tâm đó là nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp.

    Từ những năm 1920 Tetraethyl chì được pha vào xăng với mục đích đảm bảo hệ số cháy nổ của xăng. Sau 50 năm người ta đã chứng minh Tetraethyl chì là một chất gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và sức khoẻ con người. Hàm lượng chì đã được giảm dần trong xăng từ năm 1975 và được thay thế bằng hợp chất khác mà vẫn đảm bảo hệ số cháy nổ như đối với xăng pha chì. Hợp chất được sử dụng là: Dung môi hữu cơ có nhân thơm (benzen, toluene, xylene…).

    Để đạt được chỉ số octan 91-96 thì thành phần chất hữu cơ có chứa nhân thơm trong xăng phải là 36,4% và benzene là 3,3%.

    Theo tài liệu quản lý độc tính của benzen (ATSDR-1997) cho thấy công nhân bán xăng dầu có nguy cơ tiếp xúc với benzen. Một công nhân bơm xăng 70 phút/ngày liên tục trong vòng một năm ước tính lượng benzen hấp thụ là 10 ^g/ngày. Với lượng tiếp xúc như vậy dần dần sẽ có các rối loạn chức phận như nhức đầu, chóng mặt, thay đổi thể chất và tâm thần đối với công nhân làm ảnh hưởng đến khả năng lao động, lâu dần làm thay đổi số lượng các tế bào máu và có thể dẫn đến ung thư máu nếu tiếp xúc trong thời gian dài.

    Do vậy, việc tìm kiếm các biện pháp dự phòng giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm benzen như các biện pháp dự phòng cho đối tượng tiếp xúc, cũng như các biện pháp nhằm tăng cường thải độc benzen trên các đối tượng có nhiễm độc benzen đã được nhiều nhà khoa học quan tâm. Một số biện pháp thải độc của Y học hiện đại (YHHĐ) được áp dụng như dùng thuốc, luyện tập… Nhưng trên thực tiễn còn nhiều bất cập về hiệu quả, cũng như tính thuận tiện và giá thành.

    Thực hiện phương châm phòng bệnh là chính, chữa bệnh là quan trọng và biến quá trình chữa bệnh thành quá trình tự chữa bệnh. Chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá tác dụng bài tập Dưỡng sinh của Nguyễn Văn Hưởn

    trên đôi tượng công nhân phơi nhiễm xăng dâu có hội chứng nhiễm độc benzene nghề nghiệp” với các mục tiêu cụ thể sau:

    1. Đánh giá tác dụng bài tập dưỡng sinh của Nguyễn Văn Hưởng trên

    đối tượng công nhân phơi nhiễm xăng dầu có hội chứng nhiễm độc

    benzen nghề nghiệp trên một số chỉ tiêu lâm sàng.

    2. Đánh giá sự biên đoi một số chỉ số huyêt học và sinh hoá trên đối

    tượng công nhân phơi nhiễm xăng dầu có hội chứng nhiễm độc benzen nghề nghiệp sau luyện tập bằng bài tập dưỡng sinh của Nguyễn Văn Hưởng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ba Mẹo Sinh Con Theo Ý Muốn Bằng Khoa Học Và Lịch Vạn Niên
  • Dịch Vụ Sinh Con Theo Ý Muốn, Theo Yêu Cầu Tại Bệnh Viện Tâm Anh
  • 5 Cách Sinh Đôi Con Trai Dễ Thành Công Bố Mẹ Nên Biết
  • 2 Cách Khó Tin Giúp Sinh Con Trai Tự Nhiên Chính Xác Đến 99%
  • Bí Kiếp Canh Ngày Rụng Trứng Để Sinh Con Trai Tự Nhiên