Phương Pháp Elisa

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Phương Pháp Elisa xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 20/01/2021 trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Phương Pháp Elisa để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 7.623 lượt xem.

Có 9 tin bài trong chủ đề【Phương Pháp Elisa】

【#1】Kỹ Thuật Xét Nghiệm Máu Bằng Phương Pháp Miễn Dịch Học Elisa Tìm Ký Sinh Trùng

Khi người bệnh có nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng giun, sán sẽ tìm tới phòng khám chuyên khoa về bệnh giun sán để gặp bác sĩ. Với mỗi con giun, sán, đơn bào bác sĩ sẽ chọn phương pháp xét nghiệm phù hợp để tìm ra bệnh sớm nhất có thể cho bệnh nhân.

Trichomonas tenax Entamoeba gingivalis là những đơn bào ký sinh không gây bệnh ở miệng, trong nước bọt, trong cao răng.

Pneumocystis jiroveci ký sinh ở phổi, có thể tìm thấy trong đàm, nhưng hiếm khi bắt gặp. Tìm ký sinh trùng trong nước rửa phế quản, phế nang sẽ cho kết quả tốt hơn.

Cryptosporidium sp là một trùng bào tử, ký sinh ở ruột, gây tiêu chảy tự giới hạn ở người bình thường. Ở những người bị suy giảm miễn dịch, cryptosporidium gây tiêu chảy kéo dài và có thể gặp ở phổi.

Ngoài ra, có thể tìm thấy trứng sán lá phổi trong đàm hoặc trong chất nôn. Nếu người bệnh có bứu sán Echinococus granulosus ở phổi bị vỡ thì trong chất nôn có đầu sán, hay những màng bướu.

Trong thời gian ấu trùng của giun đũa, giun móc, giun lươn di chuyển qua phổi, trong đàm đôi khi tìm thấy chúng. Ngoài ra còn có thể gặp các tinh thể Charcot Leyden và rất nhiều bạch cầu đa nhân toan tính.

Kỹ thuật miễn dịch ELISA là kỹ thuật cho ra kết quả gián tiếp. Đây là phương pháp giúp hỗ trợ cho chẩn đoán bệnh sớm tránh bỏ sót. Nó không có giá trị hoàn toàn tuyệt đối, vì sự hiện diện của kháng thể không phải lúc nào cũng nói lên là bệnh đang tiến triển, mà có thể là bệnh đã qua. Kết quả được đánh giá theo chỉ số đo OD hoặc bằng mắt qua chỉ thị màu.

Những giá trị dương tính thấp gần với mức độ âm tính có thể chỉ là dương tính giả hoặc nghi ngờ nhiễm bệnh chứ chưa chắc hẳn là đã nhiễm bệnh do kháng nguyên của ký sinh trùng này kết hợp với kháng thể do ký sinh trùng khác gây ra phản ứng chéo do cơ thể bị kích thích tạo ra. Các kết quả xét nghiệm gián tiếp này không hoàn toàn thay thế việc khám bệnh và chẩn đoán của bác sĩ.

Các phản ứng miễn dịch này được bác sĩ căn cứ và phối hợp với các biểu hiện bên trong và bên ngoài cơ thể người bệnh, cộng với các nguy cơ mà người bệnh đã trải qua để bác sĩ dẫn tới kết luận người có nhiễm bệnh hay không. Để theo dõi và có hướng điều trị.

Dù vậy trong những năm gần đây, các xét nghiệm miễn dịch học ngày càng được sử dụng rộng rãi, dù không phải là nơi có bác sĩ chuyên khoa điều trị về giun sán, nhưng rất nhiều nơi vẫn tiến hành xét nghiệm và cho ra các kết quả không giống nhau, có nhiều kết quả dương tính thấp, dương tính giả làm cho bệnh nhân rất hoang mang nghĩ mình đã nhiễm bệnh và điều trị không phải nơi chuyên khoa. Làm cho người bệnh tốn kém tiền bạc và mất nhiều thời gian cho mà không đạt hiệu quả chữa bệnh.


【#2】Tìm Hiểu Về Phương Pháp Xét Nghiệm Hiv Elisa Cách Phát Hiện Bệnh Hiv

Hiện nay, có khá nhiều cách xét nghiệm phát hiện HIV tuy nhiên, xét nghiệm HIV bằng phương pháp ELISA được khá nhiều người lựa chọn. Thế nhưng xét nghiệm này được thực hiện thế nào và có đảm bảo chính xác không? Để giúp mọi người có những thông tin về vấn đề này thì chúng tôi xin có một vài chia sẻ thông qua nội dung bài viết sau đây.

Xét nghiệm HIV ELISA là gì?

Cách duy nhất để có thể giúp mọi người có thể phát hiện được mình có nhiễm virus HIV hay không là thực hiện xét nghiệm. Vì đa số người bệnh khi nhiễm HIV đều không hay biết cho tới khi bệnh có triệu chứng và phát triển với giai đoạn AIDS. Đặc biệt, người bị nhiễm HIV nếu không hay biết có thể sẽ làm bệnh lây lan nhanh chóng đặc biệt gây ra nhiều vấn đề nguy hiểm.

Xét nghiệm HIV ELISA là một trong nhiều những xét nghiệm giúp người bệnh biết được mình có nhiễm virus suy giảm miễn dịch hay không. Xét nghiệm ứng dụng trong quá trình sàng lọc máu. Phương pháp sẽ tiến hành nhiều xét nghiệm cùng một lúc và cho kết quả đọc trên máy không phụ thuộc nhiều nhiều và tính chủ quan của con người.

ELISA là kỹ thuật xét nghiệm virus HIV dựa vào định lượng vật chất bên trong cơ thể như protein, hormone, peptides…

Phương pháp xét nghiệm HIV ELISA là xét nghiệm sàng lọc mẫu máu chứa kháng thể HIV, nếu kiểm tra sàng lọc cho kết quả dương tính cho thấy kháng thể chống HIV thì bệnh nhân đã bị nhiễm HIV.

Nguyên lý chung của xét nghiệm HIV ELISA đó là:

Kháng nguyên (Ag) virus cố định trên phiến nhựa

Kháng thể (Ab) kháng HIV của bệnh nhân kết hợp với đặc hiệu Ag

Phức hợp Ag – Ab được phát hiện nhờ hệ thống cộng hợp gắn enzym và phản ứng hiện màu với cơ chất tương ứng.

Cách đọc kết quả xét nghiệm HIV ELISA như thế nào?

Có bao nhiêu cách xét nghiệm HIV ELISA?

Hiện nay có bốn loại xét nghiệm HIV ELISA được áp dụng thực hiện đó là:

ELISA trực tiếp: Phương pháp được sử dụng tỏng ELISA định tính, ít dùng trong định lượng, phương pháp này chỉ một lần ủ nên sẽ tiết kiệm thời gian tối thiểu được việc kiểm soát các điều kiện trong quá trình thực hiện.

ELISA gián tiếp: Phương pháp cho độ nhạy cao chỉ cần tạo một loại kháng thể mang enzym để nhận biết cho nhiều kháng nguyên khác nhau.

ELISA sandwich: Phương pháp này cho độ nhạy cao, giảm được nhuộm màu nền và các phản ứng không đặc hiệu do đã loại bỏ được hầu hết các thành phần tạp nên sẽ dễ dàng thực hiện hơn.

ELISA cạnh tranh; Phương pháp ELISA hiệu quả cho định lượng các yếu tố hiện diện trong mẫu với lượng nhỏ.

Thời gian để cho kết quả xét nghiệm HIV ELISa có thể từ 1 – 2 tuần do thực hiện kiểm tra nhiều mẫu thử.

Xét nghiệm HIV ELISA được thực hiện thế nào?

Phương pháp xét nghiệm HIV ELISA được thực hiện khá đơn gian bằng việc lấy mẫu máu của người bị nghi ngờ nhiễm HIV tại nhà hoặc địa chỉ y tế sau đó mẫu máu được gửi đến phòng thí nghiệm để phân tích.

Thời điểm xét nghiệm HIV là khi nào?

Thời điểm tốt nhất để thực hiện xét nghiệm HIV lần đầu là sau ba tháng khi có hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV như quan hệ tình dục không an toàn, sử dụng chung bơm kim tiêm. Lần thứ hai sau lần đầu khoảng ba tháng với trẻ em bị lây nhiễm từ mẹ thì chỉ có thể xác định khi bé đủ 18 tháng tuổi.

Địa chỉ xét nghiệm HIV bằng phương pháp ELISA nào uy tín?

Thời gian để cho kết quả xét nghiệm HIV chính xác là từ 3 – 6 tháng vì lúc này có thể người bệnh mới sinh sản các kháng thể chống lại virus.

Giai đoạn cửa sổ thường kéo dài từ ba đền bốn tháng tuy nhiên, có những trường hợp này có thể kéo dài hơn nhưng cũng không quá sáu tháng.

Do đó, việc xét nghiệm HIV ELISA có chính xác không sẽ tùy thuộc vào yếu tố thời gian thực hiện xét nghiệm cũng như địa chỉ y tế tiến hành. Để cho kết quả xét nghiệm đảm bảo thì mọi người cẩn chủ động lựa chọn địa chỉ y tế chất lượng.

Địa chỉ xét nghiệm HIV ELISA nào uy tín?

Trong số rất nhiều những cơ sở y tế thực hiện xét nghiệm HIV ELISA hiện nay thì phòng khám Đa Khoa Thái Bình Dương là cơ sở tiến hành xét nghiệm một cách nhanh chóng và đảm bảo tính chính xác cao.

Phòng khám có nhiều ưu điểm trong việc thực hiện các xét nghiệm HIV một cách đảm bảo như:

Đội ngũ kỹ thuật viên thực hiện xét nghiệm có tay nghề cao, được đào tào bài bàn tiến hành xét nghiệm một cách chính xác, tỉ mỉ.

Phòng xét nghiệm cũng như trang thiết bị y tế chất lượng, đảm bảo giúp thực hiện quá trình xét nghiệm chất lượng, hiệu quả.

Chi phí thực hiện xét nghiệm HIV ELISA tại phòng khám đảm bảo công khai, cụ thể, hợp lý phù hợp với mọi đối tượng.

Đảm bảo tính bảo mật thông tin cá nhân cho người thực hiện xét nghiệm, cũng như thực hiện xét nghiệm nhanh chóng.

B.S

   Địa chỉ phòng khám: 34- 36 Đinh Tiên Hoàng, phường Đakao, quận 1, TP. HCM.

Đừng ngại chia sẻ tình trạng của bạn với các bác sĩ chuyên khoa chúng tôi, bởi mọi thắc mắc của bạn sẽ được các bác sĩ giải đáp và cho lời khuyên tốt nhất


【#3】Tiểu Luận Phương Pháp Northern Blot, Southern Blot, Western Blot

Bài tiểu luận: Phương pháp Northern blot, Southern blot, Western blot Những người thực hiên: Nguyễn Xuân Trung Lê Đức Thuận Lê Hoàng Lâm Nguyễn Hữu Phúc Đàng Nguyên Lưu Vy Vi chúng tôi trên pha rắn 1. Nguyên tắc Lai trên pha rắn có cùng nguyên tắc với lai trên pha lỏng. Điểm khác biệt ở đây là một trong hai trình tự bổ sung (thường là trình tự đích , tức trình tự cần tìm) được cố định trên một giá thể rắn. Thuận lợi của việc sử dụng giá thể rắn là tạo dễ dàng trong thao tác và trong việc tách các trình tự không lai ra các phân tử lai, mặt khác còn ngăn sự tái bắt cặp giữa hai mạch của cùng một phân tử. Bù lại, việc phân tích định lượng các phân tử lai sau đó kém chính xác và hiệu quả thấp. Thật vậy, vận tốc lai trên pha rắn thấp hơn 10 lần so với vận tốc lai trên pha lỏng do một phần các nucleic acid được cố định trên giá thể bị che khuất, không tiếp xúc được với các trình tự bổ sung. 2. Các yếu tố kĩ thuật quan trọng trong các phương pháp lai trên pha rắn Giá thể rắn dùng cố định nucleic acid là các màng lai. Có hai loại màng lai : màng lai bằng nitrocellulose – là loại giá thể được sử dụng đầu tiên – hiện nay không còn thông dụng do hai nhược điểm : độ bền cơ học kém nên khó thao tác, không thể tách rời các phân tử lai trên màng để lai trở lại với một mẫu dò khác; màng lai bằng nylon, có độ bền cơ học cao và cho phép lai nhiều lần với nhiều mẫu dò khác nhau (cần loại bỏ mẫu dò cũ trước khi lai với mẫu dò mới). 3. Ứng dụng của các phương pháp lai trên pha rắn Trong rất nhiều ứng dụng của các phương pháp lai trên pha rắn , nổi bật lên ba phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất :phương pháp Southern blot, Northern blot và Western blot . 3.1. Southern blot Phương pháp này được sử dụng để định vị những trình tự đặc biệt trên DNA bộ gen ,hay những DNA kích thước nhỏ như DNA plasmid, phage … Cơ sở của phương pháp là kĩ thuật chuyển (tranfer) DNA từ gel lên màng lai do Southern mô tả năm 1975. Phương pháp Southern blot gồm các bước sau: – DNA bộ gen được cắt thành những đoạn kích thước khác nhau bởi 1 hay nhiều enzyme giới hạn (RE) ; các đoạn này được phân tách dựa vào kích thước qua điện di trên gel agarose . – DNA được làm biến tính (biến thành 2 mạch đơn ) ngay trên gel rồi được chuyển lên 1 màng lai. Trong quá trình chuyển, vị trí các đoạn được giữ nguyên . – DNA cố định trên màng được đem lai với mẫu dò có đánh dấu phóng xạ. Sau quá trình lai, người ta rửa màng lai để loại bỏ các mẫu dò không bắt cặp chuyên biệt với DNA cố định trên màng. – Cuối cùng, người ta dùng kĩ thuật phóng xạ tự ghi (autoradiography) để định vị các phân tử lai (DNA bộ gen ; mẫu dò ) trong kĩ thuật này, người ta đặt 1 phim nhạy cảm với tia xạ áp sát vào màng lai. Các phân tử lai (đúng hơn là mẫu dò có đánh dấu phóng xạ ) sẽ tác động lên phim và kết quả được thể hiện qua các chấm đen trên phim. Các ứng dụng của Southern blot : – Lập bản đồ giới hạn của 1 gen . – Phát hiện các đa dạng trình tự (frament polymorphism ) của cùng 1 gen ở các chủng hay các cá thể khác nhau qua sự so sánh bản đồ giới hạn của chúng . – Phát hiện các đột biến mất đoạn , đột biến điểm hay tái tổ hợp trên 1 gen vì chúng làm thay đổi bản đồ giới hạn . 3.2 Northern blot Phương pháp này được sử dụng để xác định kích thước và hàm lượng của 1 mRNA đặc trưng trong 1 hỗn hợp RNA. Phương pháp này cũng bao gồm những bước sau: – RNA (đã được làm biến tính )sẽ được phân tách theo kích thước nhờ điện di trên gel agarose có chứa các chất làm biến tính . Các chất làm biến tính có tác dụng khiến các liên kết yếu quy định cấu trúc bậc 2 của RNA không thể hình thành trở lại sau khi RNA đã biến tính. Và do đó không cản trở sự di chuyển cũng như sự phân tách các RNA trong gel. – Sau đó RNA được chuyển lên mành lai . – RNA cố định trên màng lai được đem lai với mẫu dò có đánh dấu phóng xạ . – Các phân tử lai được phát hiện nhờ kĩ thuật phóng xạ tự ghi. 3.3. Western blot Western blot là quá trình protein-protein kết hợp đặc hiệu với nhau. Thường thì người ta sẽ sử dụng antibody protein co gắn phóng xa hoặc gắn huỳnh quang để phát hiện một loại protein nào đó Western blot là kỹ thuật phát hiện protein bằng phương pháp điện di trên gel SDS-PAGE (sodium dodecyl sulfate-polyacrylamide gel electrophoresis), được dùng rộng rãi trong chẩn đoán các bệnh miễn dịch như chẩn đoán nhiễm HIV, viêm gan virus…Western blot còn có tên gọi khác là Western blotting hay là phương pháp lai thấm protein.Western blot bao gồm các bước cơ bản sau:- Protein được phân tách bằng điện di trên gel SDS-PAGE.- Các protein được chuyển sang màng lai nitrocellulose, giữ nguyên vị trí như đã phân tách trên gel.- Ủ màng lai đã cố định protein với một kháng thể sơ cấp (primary antibody). Kháng thể sơ cấp là một kháng thể đặc hiệu, sẽ bám vào protein và tạo thành một phức hợp protein-kháng thể đối với protein quan tâm.- Tiếp theo ủ màng lai với một kháng thể thứ cấp (secondary antibody) có enzyme (alkalin phosphatase hoặc horseradish peroxidase) đi kèm. Kháng thể thứ cấp sẽ bám vào kháng thể sơ cấp giống như kháng thể sơ cấp đã bám vào protein.- Tiếp tục ủ màng lai trong một hỗn hợp phản ứng đặc hiệu với enzyme. Nếu mọi việc đều diễn ra một cách chính xác sẽ phát hiện thấy các băng ở bất kỳ nơi nào có mặt phức hợp protein-kháng thể sơ cấp-kháng thể thứ cấp-enzyme hay nói cách khác là ở bất kỳ nơi nào có mặt protein quan tâm.- Ðặt một phim nhạy cảm với tia X lên màng lai để phát hiện các điểm sáng phát ra do enzyme. 3.4. Bảng so sánh các phương pháp lai : Southern Blot Northern Blot Western Blot 1) Trích DNA từ tế bào. 1) Trích RNA từ tế bào. 1) Trích protein từ tế bào . 2) Cắt với enzyme giới hạn. 2) Làm biến tính với formaldehyde . 2) Làm biến tính với SDS . 3) Chạy trên gel (thường dùng agarose). 3) Chạy trên gel (thường dùng agarose). 3) Chạy trên gel (thường dùng polyacrylamide gọi là “SDSPAGE”. 3*) Làm biến tính DNA với alkali. 4) Chuyển lên màng nitrocellulose (thường bằng họat động mao dẫn). 4) Chuyển lên màng nitrocellulose (thường bằng họat động mao dẫn). 4) Chuyển lên màng nitrocellulose (thường do chạy điện di). 5) Tắc nghẽn với DNA dư. 5) Tắc nghẽn với RNA dư. 5) Tắc nghẽn với protein dư 6) Lai với mẫu dò DNA được đánh dấu. 6) Lai với mẫu dò DNA được đánh dấu. 6) Lai với mẫu dò kháng thể được đánh dấu. 7) Rửa sạch khỏi mẫu dò chưa được liên kết (dưới sự kiểm sóat nghiêm ngặt) 7) Rửa sạch khỏi mẫu dò chưa được liên kết (dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt) 7) Rửa sạch khỏi mẫu dò chưa được liên kết Ứng dụng Bản đồ giới hạn của gene X trong chromosome. Phát hiện các fragment polymorphysm của cùng 1 gen ở các cá thể khác nhau . Phát hiện đột biến mất đoạn, điểm hay tái tổ hợp trên 1 gen. Ứng dụng – Bao nhiêu mRNA của gene X hiện diện? – Độ dài mRNA của gene X? Ứng dụng – Bao nhiêu protein X hiện diện ? – Độ lớn của protein X? Những đặc tính quan trọng của 3 phương pháp : Southern Northern Western Cái gì chia khối lượng phân tử đích? DNA bị cắt bởi enzyme cắt RNA bị làm biến tính với formaldehyde Protein bị làm biến tính với SDS Mẫu dò DNA mang gene X có tính phóng xạ DNA mang gene X có tính phóng xạ Kháng thể đối kháng với protein X được đánh dấu phóng xạ hay enzyme CHẤT PHỤ GIA THỰC PHẨM BIẾN ĐỔI GEN Tên giống Tác giả / cơ quan Gen hữu hiện Phương pháp xét nghiệm Năm Hiện trạng Ứng dụng Bắp Mosanto cry3Bb1 / Bacillus thuringiensis subsp. kumamotoensis Southern 2001 Làm thực phẩm, thức ăn gia súc ở Mỹ,Canada,Philipines,Nhật, Châu âu làm thúc ăn gia súc. Bảo vệ bắp đối với sâu hại rễ bắp Dekalb Genetics Corporation cry 1Ac / Bacillus thuringiensis subsp. kurstaki (Btk), bar/ Streptomyces hygrocopicus Phân tích Southern, PCR 1997 Dùng làm tực phẩm và thức ăn gia súc ở Canada, M, Philippines; thực phẩm ở Nhật, Úc và Đài loan Kháng sâu đục trái Châu âu và thuốc cỏ glufosinate Mosanto mepsps / Zea mays Phân tích Northern và Western 1997 Dùng làm thực phẩm và thức ăn gia súc ở Canada, Argentina, Nhật, Mỹ, Philippines; thực phẩm ở Đài loan, Úc và Hàn quốc; thức ăn gia súc ở Châu âu Kháng thuốc cỏ glyphosate Pioneer Hi-Bred International, Inc., Mycoyen Seeds/Dow AgrSciences LLC cry1Fa2 / Bacillus thuringiensis var. aizawai pat / Streptomyces viridochromogenes Phân tích Southern, Northern, Direct DNA sequencing, ELISA 2001 Dùng làm thực phẩm và thức ăn gia súc ở Canada, Argentina, Nhật, Mỹ, Philippines, Nam Phi; thực phẩm ở Đài loan, Úc; thức ăn gia súc ở Châu âu Kháng sâu đục trái bắp Châu âu (Ostrinia nubilalis), Tây nam (Diatraea gradiosella), sâu keo Spodoptera sp., black cutworm (Agrotis ipsilon); kháng thuốc cỏ glufosinate Cải dầu AgrEvo pat / Streptomyces viridochromogenes Phân tích Southern 1995 Được sử dụng làm thực phẩm và thức ăn gia súc ở Nhật và Canada; thực phẩm ở Mỹ Kháng thuốc trừ cỏ Glufosinate Plant Genetic System bar/ Streptomyces hygrocopicus, barstar / Bacillus amyloliquefaciens PCR, Phân tích Southern, Northern; pat assay, npttII assay 1996 Được sử dụng làm thực phẩm và thức ăn gia súc ở Nhật Kháng thuốc trừ cỏ Glufosinate, tính phục hồi hữu thụ Khoai tây Mosanto cry 3A / Bacillus thuringiensis subsp. Tenebrionis Phân tích Southern 1996 Chấp nhận dùng làm thực phẩm và thức ăn gia súc ở Canada và Mỹ; thực phẩm ở Úc Kháng bọ cánh cứng Colorado hại khoai tây Củ cải đường Monsanto, Syngenta Seeds AG cp4 epsps /Agrobacterium sp. strain CP4 Phân tích Southern,Western hoặc ELISA 1998 Dùng làm thực phẩm và thức ăn gia súc ở Úc, Philippines và Mỹ Kháng thuốc cỏ glyphosate Đậu nành Mosanto cp4 epsps /Agrobacterium sp.strain CP4 Phân tích Southern, Western; PCR, ELISA 1994 Dùng làm thực phẩm và thức ăn gia súc ở Mỹ, Canada, Argentina, Brasil, Cộng hoà Séc, Nhậ, Mexico Kháng thuốc cỏ glyphosate Cà chua Mosanto cry1Ac / Bacillus thuringiensis subsp. kurstaki (Btk) Phân tích Southern 1998 Dùng làm thực phẩm và thức ăn gia súc ở Mỹ; thực phẩm ở Canada Kháng sâu thuộc họ Lepidoptera Lúa mì Mosanto cp4 epsps /Agrobacterium sp.strain CP4 Phân tích Southern 2004 Dùng làm thực phẩm và thức ăn gia súc ở Mỹ Kháng thuốc trừ cỏ glyphosate Bông vải Bayer CropSci bar /Streptomyces hygroscopius Phân tích Southern, PCR 2003 Dùng làm thực phẩm và thức ăn gia súc ở Canada, Và Mỹ Kháng thuốc cỏ glufosinate CÁC CÂY TRỒNG BIẾN ĐỔI GEN Loại Sản phẩm Tác giả / cơ quan Gen hữu dụng / nguồn gốc Phương pháp xét nghiệm Hiện trạng Ứng dụng Lipase IUB3.1.1.3 Novo Nordisk lipase / Rhizomucor meihie Phân tích Southern NHẬT phê duyệt Acid béo cao cho công nghệ sản xuất bơ sữa a-Amylase TS-25 Novozymes A/S Hiệu suất cao Rennet Maxiren GIST-BROCADES N.V. Hiệu suất cao Pullulanase Optimax Genencor International, Inc. (USA) Hiệu suất cao Riboflavin Ribiflavin (vitamin B2) F. Hoffman-La Hiệu suất cao Glucoamylase AMG-E Novozymes A/S Hiệu suất cao


【#4】Về Phương Pháp Giảng Dạy Văn Học Pháp

PGS.TS NGUYỄN THỊ BÌNH

( Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, ĐH Ngoại ngữ, ĐH QG Hà Nội)

1. Mở đầu

Yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy văn học nước ngoài để phục vụ việc dạy tiếng trong các trường đại học ngoại ngữ là hết sức cần thiết, khi sinh viên không còn say mê học môn văn học, thậm chí họ chán nản và “sợ” môn học này. Đứng trước thực trạng đó, chúng tôi luôn trăn trở và mong muốn tìm hướng đi mới, các biện pháp tối ưu nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn văn. Xuất phát từ các phương pháp giảng văn học Pháp đã và đang được thực thi, bài viết của chúng tôi mong muốn chọn lọc những giải pháp thiết thực, khả thi rút ra từ những thành tựu lí luận và thực tiễn của nước ngoài nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy văn học Pháp nói riêng và văn học nước ngoài nói chung trong các trường đại học, đồng thời góp phần giới thiệu những quan niệm mới và biện pháp hiệu quả trong quá trình nâng cao chất lượng giảng dạy môn văn học tại Việt Nam.

2. Các phương pháp giảng dạy văn học Pháp

Trong quá trình giảng dạy tiếng Pháp cho người nước ngoài, văn bản văn học được sử dụng như những tài liệu giảng dạy bắt buộc. Tuy nhiên vai trò của nó thay đổi theo những quan niệm khác nhau của các nhà sư phạm “siêu độc giả”, người khai thác tác phẩm văn học trong giảng dạy.

Theo phương pháp truyền thống, văn bản văn học là tài liệu ưu tiên để giảng dạy ngữ pháp và dịch. Những đoạn trích các tác phẩm văn học là tài liệu để xây dựng các bài tập về từ vựng, ngữ pháp, dịch ngược và dịch xuôi. Khi cho rằng, dịch là hình thức cho phép người học hiểu đúng tác phẩm, thì quá trình cảm thụ bị lệ thuộc vào ngôn ngữ mẹ đẻ và nguy cơ hiểu sai tác phẩm tăng lên rõ rệt. Bởi lẽ chúng ta đã biết, nếu trình độ dịch văn bản văn học non yếu dễ dẫn đến “phản bội” nghĩa đích thực của tác phẩm, đồng thời buộc người học trở nên thụ động.

Nhóm 1: thực hiện các thao tác phân tích những tính chất đặc trưng của bài thơ, vì vậy họ đã hiểu đúng ý nghĩa của văn bản và có những cảm nhận cá nhân tương đối độc lập và sáng tạo. Theo họ, không tham khảo phần dịch, họ hiểu bài thơ dễ dàng hơn khi áp dụng các thao tác thi pháp thơ: nghiên cứu các vần, nhịp điệu, cấu trúc các khổ thơ, kĩ thuật láy âm, các kĩ thuật tu từ để phát hiện nghĩa ngầm ẩn sâu sắc của tác phầm: Lên án sự phi lí của chiến tranh huỷ diệt con người và thiên nhiên tươi đẹp.

Nhóm 2: tham khảo phần dịch sang tiếng Việt, họ khó khăn nhận diện cấu trúc của bài thơ gồm 3 phần: Phong cảnh đầy sắc màu và âm thanh rộn rã của bức tranh thôn quê; miêu tả chân dung nhân vật – hình tượng trung tâm của bài thơ; phát hiện một xác chết – người lính.

Dịch thực chất là sáng tạo bài thơ lại một lần nữa sang một ngôn ngữ khác, nhưng dịch thơ lại vô cùng phức tạp vì muốn trung thành với văn bản, duy trì tính nhạc, vần điệu một số từ có thể bị lược bỏ. Như vậy giá trị biểu cảm bị giảm đi đáng kể. Thí dụ: les glaieuls trong tiếng Pháp là loại hoa có hình dáng của lưỡi kiếm sắc, khiến người đọc liên tưởng đến vũ khí chiến đấu và được đặt cạnh người đàn ông đang nằm giữa bãi cỏ gợi lên hình ảnh người lính bị giết ở chiến trường. Nhưng khi dịch sang tiếng Việt chỉ có nghĩa là một loài hoa, không gợi ra được ý nghĩa hàm ẩn của loại hoa đặc biệt này.

Hơn nữa, khi bài thơ được dịch sang một ngôn ngữ khác thì thường là cấu trúc âm thanh của nó bị huỷ bỏ. Trong khi đó, nhiều nhà thi pháp học cho rằng “âm mang nghĩa”, âm thanh tạo chất nhạc tràn đầy – một giá trị thẩm mĩ quan trọng của thi ca. Cảm thụ những âm vang được tạo nên từ các cách gieo vần, cấu trúc trùng điệp (sự láy lại cùng một phụ âm, hoặc cùng một nguyên âm…), sự tương ứng hoặc không tương ứng giữa câu thơ và câu ngữ pháp qua các kĩ thuật (enjambement, rejet, contre rejet) cũng là một sơ sở để khám phá vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm thơ. Đối với trường hợp bài thơ Le dormeur du val, các kĩ thuật gieo vần: vần đan chéo (rimes croisées- abab, cdcd) trong khổ thứ nhất và khổ thứ hai, sự đan xen hai hình thức gieo vần (vần phẳng= rimes plate: eef và vần ôm = rimes embrassées: fggf) trong hai khổ thơ cuối khó có thể chuyển dịch sang tiếng Việt.

LE DORMEUR DU VAL

C’est un trou de verdure où chante une rivière

Accrochant follement aux herbes des haillons

D’argent, oùle soleil, de la montagne fière,

Luit; c’est un petit val qui mousse de rayons,

Un soldat jeune, bouche ouverte, tête nue,

Et la nuque baignant dans le frais cresson bleu,

Dort: il est étendu dans l’herbe, sous la nue,

Pâle dans son lit vert où la lumière pleut,

Les pieds dans les glaieuls, il dort.

Souriant comme

Souriait un enfant malade, ilfait un somme,

Nature berce-le chaudement: il a froid!

Les parfums ne font pas frissonner sa narine,

Il dort dans le soleil, la main sur la poitrine,

Tranquille. Il a deux trous rouges au côté droit.

Với đối tượng là sinh viên học tiếng Pháp như một ngoại ngữ, phương pháp truyền thống khi phân tích các văn bản dựa quá nhiều vào ngôn ngữ mẹ đẻ, kĩ năng giao tiếp bị xem nhẹ, kĩ năng viết được đặt lên hàng đầu. Không chú trọng đến yếu tố ngôn ngữ, các đặc trưng kĩ thuật của thể loại, thể hình của tác phẩm văn học mà chỉ chú trọng đến khả năng cung cấp các kiến thức về văn hóa và xã hội. Phương pháp này không cho phép người đọc khả năng hiểu theo nhiều cách khác nhau đối với cùng một văn bản văn học, bởi lẽ chỉ có một bản dịch hay nhất, một nghĩa duy nhất khi chuyển sang ngôn ngữ của người học.

Mặt khác, ở thời kì hoàng kim của phương pháp truyền thống, giảng dạy văn học chịu sự tác động sâu sắc của trường phái Lanson khi đề cao vai trò quyết định của nhà văn và các yếu tố bên ngoài văn bản (nền văn minh, môi trường xã hội, lịch sử nơi mà văn bản được viết ra) để giải thích nghĩa của văn bản văn học. Nói một cách khác là người dạy dựa nhiều vào tiểu sử của nhà văn để soi sáng các giá trị xã hội, văn hóa và áp đặt một định hướng duy nhất trong phân tích văn bản cho người học .

Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với tác giả Nguyễn Thị Huyền về giá trị của tài liệu đích thực trong giảng dạy môn văn học cho mọi đối tượng. Đối với cùng một tài liệu đích thực có thể có hai thái độ tiếp nhận: người bản ngữ đọc tài liệu đó dựa vào năng lực ngôn ngữ, giao tiếp và văn hóa của mình, còn sinh viên nước ngoài đọc để đạt được những năng lực đó bằng việc vận dụng hai hệ thống, hệ thống tiếng nước ngoài và tiếng mẹ đẻ. Trong trường hợp đó, người đọc vẫn phải coi việc nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ của văn bản là quan trọng nhất

Phương pháp khai thác văn bản văn học theo loại hình và thể loại thực chất gắn liền với các nguyên tắc của thi Pháp học, khi nó yêu cầu trước hết là nghiên cứu các phương thức nghệ thuật, miêu tả các đặc trưng thể loại văn học, từ đó tìm tòi các tầng lớp ý nghĩa ẩn giấu của tác phẩm.

2.3.3. Đọc có phương pháp (lecture méthodique)

Đọc các tác phẩm văn học là yêu cầu bắt buộc đối với quá trình dạy và học văn học, cho dù áp dụng bất kỳ phương pháp truyền thống hoặc hiện đại nào. Lanson, nhà sáng lập phê bình lịch sử văn học, trong Lời nói đầu cuốn Lịch sử văn học Pháp đã khẳng định mục đích của công trình không phải chỉ cung cấp kiến thức văn chương mà thực chất là tạo động lực cho việc đọc các tác phẩm đặc sắc. Tại Pháp, việc đọc các tác phẩm văn học được thiết chế hóa trong chương trình dạy- học văn học. Việc đọc tác phẩm văn học là bài tập bắt buộc đối với người học ở tất cả các cấp học từ tiểu học cho đến đại học, được kiểm tra và đánh giá nghiêm túc. Nhưng phương thức đọc nào giúp người học có khả năng giải mã ý nghĩa, cảm thụ độc lập vẻ đẹp của tác phẩm văn học?

Thực chất trong các phần trên chúng tôi đã trình bày các giải pháp cụ thể với các thao tác chuyên biệt, bổ sung tương tác lẫn nhau hướng đến một kiểu Đọc có phương pháp. Điều kiện then chốt, cốt lõi của thành công về phương diện giáo học pháp trong cách tiếp cận hiệu quả các văn bản văn học là thực thi đồng thời các biện pháp, kĩ năng chuyên biệt của những thao tác khác nhau đối với các văn bản văn học. Chúng ta có thể tham khảo một sơ đồ tổng hợp gồm bốn thao tác của nhóm tác giả cuốn Hướng dẫn dạy Văn học Pháp ngữ [1]

Chúng tôi xin đưa ra một loại phiếu (fiche) ghi chép, tổng kết quá trình đọc tác phẩm văn học của người học. Sau khi đọc một truyện ngắn hoặc một tiểu thuyết, người đọc dành thời gian để suy ngẫm và trả lời một số câu hỏi sau đây :

BẢN TỔNG KẾT ĐỌC CÁ NHÂN

1. Tên tác giả, đầu đề, số trang, năm sáng tác và xuất bản

2. Hình thức tự sự

Ai kể? Xác định điểm nhìn? (người kể chuyện xuất hiện trong câu dưới dạng đại từ nhân xưng nào Je, Tu, Il, có đồng nhất với nhân vật không?).

3. Sơ đồ tự sự

Nhận xét diễn biến của câu chuyện có tuân theo 5 giai đoạn: tình huống ban đầu, tình huống cuối, yếu tố gây biến đổi, đỉnh cao của biến cố, giải pháp. Dựa trên sơ đồ đó viết một tóm tắt ngắn thể hiện quá trình diễn biến đó.

4. Cấu trúc tác phẩm

5. Không gian

Xác định những dấu hiệu chỉ dẫn không gian? Không gian nào được thể hiện: vùng, thành phố, phong cảnh? Phương thức miêu tả không gian: các lớp cảnh nhỏ, mang tính chân thực, giàu chất thơ, hoặc đậm tính chủ quan? Kĩ thuật điểm nhìn có tác động như thế

nào đến kĩ thuật miêu tả không gian?

6. Thời gian

Thời nào của động từ chiếm chủ đạo trong truyện kể: hiện tại, quá khứ hay xen kẽ luân phiên? Người kể chuyện ở thời điểm nào kể lại câu chuyện? Những dấu hiệu xác định thời gian: ngày, tháng, năm, mùa, giai đoạn, sự kiện lịch sử xã hội? Độ dài của câu chuyện? Nhịp điệu của truyện kể?

7. Nhân vật

Xác định hệ thống nhân vật chính, phụ? Lập sơ đồ tác nhân hành động: Destinateur, Destinataire, Objet, Sujet, Adjuvant, Opposant! Các kĩ thuật khắc họa chân dung thể chất, tâm lí, xã hội, tinh thần và đặc biệt quá trình phát triển tính cách của nhân vật trong quá trình diễn biến câu chuyện.

8. Bút pháp của nhà văn

Nhà văn sử dụng những biện pháp tu từ nào, loại câu gì? lối nói thân mật hoặc trang trọng nhằm tạo nên một kiểu bút pháp của mình? Bạn có thể trích dẫn một vài câu trong tác phẩm và giải thích lí do tại sao bạn thích nó!

9. Niềm hứng thú, mối quan tâm của người đọc

Đọc có phương pháp là bài tập bắt buộc đối với người học, bởi lẽ nó là một trong biện pháp hữu hiệu trong việc áp dụng phương pháp giao tiếp và phương pháp dạy theo loại hình và thể loại trong phân tích văn bản văn học.

3. Kết luận

Những thành tựu lí luận văn học là cơ sở cho sự ra đời các khuynh hướng mới trong phê bình và ảnh hưởng trực tiếp tới các phương thức tiếp cận văn bản văn học. Trong quá trình giảng dạy tiếng Pháp cho người nước ngoài, văn bản văn học được sử dụng như những tài liệu giảng dạy bắt buộc. Tuy nhiên vai trò của nó thay đổi theo những quan niệm khác nhau của các nhà sư phạm “siêu độc giả”, người khai thác tác phẩm văn học trong giảng dạy. Phương pháp truyền thống đề cao vai trò của nhà văn, không quan tâm đến người đọc – người học – những siêu độc giả. Văn bản khép kín, chỉ có một nghĩa, vì vậy người dạy áp đặt một cách hiểu duy nhất, không khuyến khích khả năng độc lập, sáng tạo của người học trong việc cảm thụ tác phẩm văn học.

Phương pháp nghe nhìn làm biến dạng tác phẩm văn học khi cố gắng thu gọn và làm đơn giản hoá các văn bản. Biến các văn bản văn học thành tài liệu để rèn luyện kĩ năng nói là chủ yếu, vì vậy người dạy chú trọng các văn bản có yếu tố hội thoại.

Kết hợp phương pháp giao tiếp và phương pháp dạy theo loại hình và thể loại trong phân tích văn bản văn học là hướng đi đúng đắn, đang được phổ cập ở trong các cấp học từphổ thông trung học đến đại học trên thế giới. Kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác tiếp cận văn bản văn học từ bên trong và bên ngoài văn bản, nhằm phát hiện nghĩa của tác phẩm, khuyến khích năng lực độc lập, sáng tạo của người học trong cảm thụ tác phẩm văn học đòi hỏi người dạy có kiến thức sâu rộng về khoa học văn bản, về văn hóa-xã hội không những của ngôn ngữ đang giảng dạy và cả nền văn hóa của người học.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Albert Marie – Claude, Souchon Marc, Hướng dẫn dạy Văn học Pháp ngữ, Nathan, 1992, tr.28.

2. Albert Marie- Claude, Souchon Marc, Les textes littératures en classe de langue, Hachette, 2000.

3. Barthes R, Kayser W, Booth W.C, Hamon PH, Poétique du récit, Ed. Du Seuil, 1977.

4. Barthes Roland, S/Z, Seuil, 1970.

5. Bakhtine Mikhail, Esthétique et théorie du roman, Gallimard, 1978.

6. Bergez Daniel, Introduction aux méthodes critiques pour l’analyse littéraire, Bordas, 1990.

7. Đỗ Đức Hiểu, Đổi mới đọc và bình văn, Nxb Hội Nhà văn, 1999.

8. Đỗ Đức Hiểu, Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, 2000.

9. Elisabeth Ravoux Rallo, Méthode de critique littéraire, Arman Colin, 1995, Tr.65.

10. Nguyễn Thị Huyền, Nghiên cứu phương pháp dạy-học văn bản văn học theo đặc điểm thể loại và loại hình cho sinh viên chuyên Pháp (đề tài NCKH cấp ĐHQGHN), 2005, tr. 46.

11. Peytard J, Littérature et classe de langue, Didier, 1982, tr.35.

12. Ravoux Rallo Elisabeth, Méthode de critique littéraire, Arman Colin, 1995.

SUMMARY

The teaching of French literature changes with different viewpoints from different ‘super readers’ who exploit literary works in their teaching. The traditional methodology dignifies the roles of the authors and pays little attention to the readers – the learners. Because the literary texts are then closed with only one meaning, teachers generally impose the only way of understanding when teaching, discouraging learners’s critical and creative thinkings. Besides, the audio-visual method deforms the literary works trying to compact and simplify the texts, turning the texts into materials for speaking practice. The combination of the communicative approach and genre teaching in the analysis of texts requires the teachers to approach the texts basing on the words and reading between the lines. The final aim of this teaching method is to discover more meanings of the texts and more importantly to encourage learner’s critical and creative abilities during their perception of the literary works.

Nguồn: Tạp chí Ngôn ngữ, số 10 năm 2012


【#5】Vật Lý Học Mới & Phương Pháp Thực Nghiệm (R. Blanché, 1969)

Đây là bản dịch bài dẫn nhập của Robert Blanché vào Q. 1 – Sự Xây Dựng Phương Pháp Thực Nghiệm (L’Instauration de la Méthode expérimentale) của Tuyển tập Phương Pháp Thực Nghiệm Và Triết Lý Của Khoa Vật Lý Học (La Méthode expérimentale et la philosophie de la physique)do chính ông tuyển chọn, giới thiệu, và xuất bản (Paris, A. Colin, 1969).

Bên cạnh những chú thích của tác giả, các tiểu tựa, và một số chú thích khác về niên đại và thời điểm của người dịch (có ký tên NVK) cũng được thêm vào, hoặc ngay trong bài, hoặc ở cuối bài, nhằm giúp bạn đọc theo dõi bản dịch dễ dàng hơn.

*

Sự đề bạt môn vật lý lên hàng khoa học, theo nghĩa hiện nay ta hiểu từ này, gắn liền với một biến đổi sâu sắc trong cách quan sát và tra vấn tự nhiên. Bất chấp tinh thần khoa học đáng phục của họ, người Hy Lạp cổ đại chưa hề thực thi phương pháp thực nghiệm, ít ra một cách có hệ thống, và ta chỉ tìm thấy ở Hy Lạp một vài phác thảo hiếm hoi mà cái hoàn chỉnh nhất có lẽ nằm nơi những công trình của Arkhimêdês* (khg 287-212 tCn). Các hệ thống triết học lớn đương thời không thúc giục đi theo đường hướng này. Chủ nghĩa duy toán học của Pythagoras* (khg 570-495 tCn) và Platôn* (khg 428-347 tCn) chẳng mấy chốc đã biến thoái thành một thứ thần bí số học. Ở cực trái ngược, cả Aristotelês* (384-322 tCn) lẫn các triết gia Khắc Kỷ (khg 300 tCn-529 sCn) đều không chiếu cố đến toán học trong những suy tư của họ về tự nhiên. Và cuối cùng, nếu nguyên tử luận của Dêmokritos* (khg 460-370 tCn), và phần kế thừa ông nơi các đệ tử của Epikouros* (341-270 tCn) có mở đường vào cách giải thích thiên nhiên theo kiểu cơ học đi nữa, nó cũng vẫn bỏ quên dụng cụ toán học.

I – THẨM ĐỊNH BẤT CẬP VỀ ĐẶC TRƯNG1 – VẬT LÝ HỌC MỚI, KHOA HỌC THỰC NGHIỆM CHĂNG? a) Kinh nghiệm trong khoa học của Aristotelês và Bacon CỦA KHOA VẬT LÝ HỌC MỚI

Bởi đừng bao giờ để bị ngôn từ huyễn hoặc mà tưởng rằng cái mới của phương pháp thực nghiệm chỉ có nội dung đơn giản là sự phó thác cho kinh nghiệm giác quan. Người xưa biết quan sát, thậm chí quan sát với độ chính xác cao, như nền thiên văn học của họ đã chứng minh. Trong bức tranh tường của Raphaël*, tác giả đã thể hiện Aristotelês với ngón tay chỉ thẳng xuống đất, như biểu trưng cho tư tưởng của triết gia. Thực vậy, không những nhận thức luận của Aristotelês dành cho kinh nghiệm một giá trị cao – “chẳng có gì trong trí thông minh mà lại không nằm nơi cảm thức trước (Nihil est in intellectu quod non prius fuerit in sensu”),như những kẻ tiếp nối ông thời Trung Cổsẽ nói-, mà cả hệ thống tự nhiên của ông cũng giàu nội dung kinh nghiệm. Và thực tế là cái hệ thống đó hoàn toàn ăn khớp với kinh nghiệm, tất nhiên, không phải là cái mà chúng ta gọi là kinh nghiệm sau gần bốn thế kỷ vật lý thực nghiệm – bởi đây là thứ kinh nghiệm đã được chính nền khoa học của ta tạo hình – mà với cái đã có thể là những bài học đầu tiên về kinh nghiệm cho một đầu óc tiền khoa học, để nói một cách chính xác. Ngay cả ngày nay, dù sao ta cũng có thể khiến cho một đứa trẻ chưa từng được dạy dỗ về khoa học chấp nhận những luận điểm cốt yếu trong các lý thuyết về vật lý học và vũ trụ học của Aristotelês dễ dàng hơn là những cái tương ứng trong vật lý học hiện đại, bởi vì thật ra chúng thích nghi dễ dàng hơn với kinh nghiệm trực tiếp của nó, như các quan điểm sau chẳng hạn: trái đất là trung tâm của vũ trụ, sự đối lập tuyệt đối giữa trên và dưới, không khí và lửa là nhẹ, chuyển động tự nhiên khác với chuyển động do một lực tác động, chuyển động ngừng khi lực tác động ngừng, v. v… Các nhà Kinh Viện* Trung cổ, những người truyền dạy thứ vật lý học này, không phải đều là người ngu hay kẻ mù hết cả. Điều đúng thật duy nhất là, nói một cách tổng quát, họ có thiên hướng nhìn thiên nhiên qua những cuộn sách của Aristotelês, và chỉ giải thích mọi sự kiện theo học thuyết của ông, cho dù phải gạt bỏ những cái không thể rút gọn vào đó hoặc có vẻ như bác bỏ nó. Thế nên, tốt hơn ta nên mời gọi họ, như chính Aristotelês từng làm, là hãy đọc thẳng vào cái mà sau Cremonini (1550-1631)*, đệ tử của Aristotelês và địch thủ của Galileo Galilei (1564-1642)*, chẳng đã từng từ chối nhìn vào kính viễn vọng như khi được mời, để thấy tận mắt rằng các thiên thể không hề là “bất khả suy hoại”, bởi vì theo ông ta, điều đó chỉ làm ông ta điên đầu hay sao? Galileo có lần đã viết cho Gassendi (1592-1655)* thực sự thực hiện vào năm 1641.

Một thí nghiệm khác, mà chúng tôi mượn từ tác phẩm của Coresio (1570-1659), người đệ tử của Aristotelês này tuyên bố đã nhận thấy rằng vật nặng hơn chạm đất trước, và do đó, quan điểm của Aristotelês là đúng. Được xuất bản tại Firenze, tác phẩm của Coresio không thể lọt qua mắt Galileo. Thế mà, theo như chúng tôi biết, ông ta không hề bận tâm tranh cãi về chuyện đúng hay sai của cái kết quả được thuật lại trong đó. Bởi vì lý trí đã cho Galileo biết một bài học khác. Nó cho ta biết rằng – ở đây, ông dùng lại một luận cứ từng được những người đi trước ông viện dẫn – hai viên gạch nặng bằng nhau sẽ luôn luôn rơi với cùng một vận tốc, dù chúng có được buộc vào với nhau hay không. Butterfield lưu ý: “Những người đi trước Galileo đã lập luận theo kiểu của họ để giải đáp vấn đề đặc thù này, song cả họ lẫn Galileo đều không cho thấy họ sẵn sàng thay đổi kết luận của mình chút nào, nếu chỉ vì lý do đơn giản là phương pháp thực nghiệm đã không xác nhận phán đoán của họ”10.

Cần phải hiểu rằng, với một khoa học được diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học, phán quyết của kinh nghiệm chỉ có nghĩa khi nó mang lại một giải đáp chính xác cho vấn đề được đặt ra; bởi nếu giới hạn sai số ( marge d’erreur) còn khá rộng, thì làm sao quyết định xem kết quả của cuộc thí nghiệm phải được diễn giải như thế nào – như một giá trị xấp xỉ, hoặc như một phủ nhận hay một cải chính? Thế nhưng, trong khi sự xây dựng dần dần một khoa học toán hóa giả định phải có những dụng cụ đo lường chính xác như vậy, thì ngược lại, sự chế tác ra loại dụng cụ như thế cũng giả định một khoa học đã được kiến tạo. Vì vậy, không nên ngạc nhiên nếu những thí nghiệm liên tục để chứng thực bằng kinh nghiệm luật rơi của vật nặng mà Galileo đã phát biểu – theo năm tháng, đây là cái đầu tiên trong số các luật định lượng của cơ học – đều còn chưa được xác nhận như nhau suốt hơn nửa thế kỷ, và phải đợi đến một cách thức chất vấn kinh nghiệm mới, để vừa buộc nó phải phục tùng, vừa cho phép nó kiểm soát suy luận.

b) Quy nạp theo nghĩa của khoa học thực nghiệm

Sau từ thực nghiệm được dùng để đặc trưng hóa khoa học hiện đại, quy nạp cũng là một từ khác có rủi ro dẫn ta đi lạc. Do ý thức về sự tất yếu cho một khoa học về hiện thực là nó phải khởi đi từ kinh nghiệm để leo ngược dần lên tới các định đề, nghĩa là đi theo chiều chính xác trái ngược với con đường mà khoa học chứng minh phải trải qua, *. Ông ta không biết thứ trí năng mà Descartes* đã tìm thấy trong công việc, thông qua phát minh toán học”. Nhưng những người vận dụng phương pháp mới trong vật lý học thì cảm nhận được ngay sự khác biệt. Khi bị Vicenzo di Gracia (15..?-16..?) chê bai ông đã không áp dụng đúng các quy luật của lối lập luận quy nạp, Galileo trả lời bằng cách nhấn mạnh trên sự hư ảo của một lối quy nạp như vậy: vô ích nếu nó thao tác trên một tập hợp hữu hạn sau khi đã liệt kê mọi trường hợp cá biệt, vô hiệu lực nếu nó muốn mở rộng đến một tập hợp vô hạn. Cái mà phương pháp thực nghiệm lấy làm mẫu mực, đấy không phải là lối quy nạp của các ákholoi, mà là lối phân tích của các nhà kỷ hà học Mill (1806-1873)* và trong việc nghiên cứu thế giới tự nhiên? Ta có thể rút gọn chúng vào ba điểm sau đây, tuy không cái nào tự nó là hoàn toàn mới cả, song sự kết hợp mật thiết cả ba đã tạo nên tính độc đáo của phương pháp thực nghiệm trong vật lý học hiện đại: sự sử dụng lý luận giả thuyết-diễn dịch ( hypothetico-déductive), sự xử lý kinh nghiệm bằng toán học, và sự cầu viện tới thí nghiệm.

a) Từ nguyên lý-diễn dịch đến giả thuyết-diễn dịch

Lối diễn dịch từ giả thuyết ( déduction hypothétique = giả thuyết-diễn dịch hay diễn dịch-giả thuyết) khác với lối diễn dịch từ nguyên lý ( déduction catégorique = nguyên lý-diễn dịch hay diễn dịch-nguyên lý) ở chỗ, thay vì khẳng định nguyên lý là đúng để truyền đạt sự chắc chắn của nó đến các hệ quả, nó chỉ cần đặt cái nguyên lý này ở điểm khởi đầu – đấy là nghĩa đen của từ hypothesis – đơn giản như một định đề* ( postulat) mà giá trị chân lý còn để treo đấy, rồi từ đó rút ra những hệ quả, tất nhiên là những hệ quả này cùng tham gia với nguyên lý vào cái khả năng trung tính là có thể đúng hoặc sai. Nói cách khác, nó chỉ quan tâm đến tính chặt chẽ hình thức của toàn bộ lập luận mà không lưu ý đến sự thật vật chất của từng mệnh đề trong đó. Điều này không ngăn cản là, sau đó, sự đúng hoặc sai của các hệ quả có thể được viện dẫn – nếu ta có thể nhận biết nó bằng cách nào khác – để xác định giá trị chân lý của giả thuyết từ đó chúng được rút ra.

Một lối lập luận như thế là thường xuyên ở các nhà toán học Hy Lạp, và Platôn đã từng lập thuyết về nó, rồi sau được Pappos* thành Alexandreia (khg 290-350)* lấy lại. Thật vậy, phương pháp phân tích, với chứng minh bằng phản chứng như trường hợp đặc biệt, chung quy dẫn về lập luận này. Rồi từ toán học nó nhảy sang thiên văn học, và thậm chí trở thành phương pháp tiêu biểu nhất của thiên văn học hình thức hay toán học. Cần phải nhắc lại ở đây rằng, vào thời Cổ đại và Trung cổ, thiên văn học được quan niệm theo hai hướng khác nhau. Trong khi Aristotelês chẳng hạn tìm cách giải thích sự vận hành của các tinh tú bằng loại nguyên do hiện thực, và như vậy sáp nhập ngành thiên văn vào vật lý học; những người theo quan điểm của Platôn khác xem nó như một khoa học thuần túy toán học, nên sau khi đã thu thập những quan sát, thấy chỉ còn nhiệm vụ là tưởng tượng ra các tổ hợp hình học thế nào để tính cho đúng những dữ kiện của quan sát, hay, nói theo kiểu của họ, “cứu giữ những hiện tượng” ( sôzein ta phainomena) 31, nhưng không cho các kiến trúc toán học đó một tầm hiện thực nào cả. Những vòng tròn của họ chẳng là gì khác hơn là các đường vẽ hình học, trong khi Aristotelês cho các hình cầu bằng pha lê của ông ta là những bộ phận thực sự của guồng máy thiên văn. Phương pháp của họ rõ ràng có hai thời đoạn. Trước tiên là một phương pháp tiến hành thoái triển; ở đây, nhà bác học phải biểu hiện được khả năng sáng tạo và sự tinh nhạy của mình: trước các hiện tượng, phải tạo ra giả thuyết nào cho phép ta tìm lại được những hiện tượng đó như hệ quả. Mô tả phương pháp này, Proklos (412-485)* nói: “Các nhà thiên văn không kết luận hệ quả từ giả thuyết như người ta làm trong các khoa học khác; nhưng họ lấy các kết luận làm khởi điểm, và nỗ lực dựng lên những giả thuyết từ đó các kết quả thích ứng với kết luận của họ nhất thiết phải là hệ quả”. Tuy nhiên, để bảo đảm chắc chắn đúng như thế, một lối tiến hành thứ hai rõ ràng là cũng cần thiết, chính xác là sự suy ra các hệ quả từ giả thuyết, bằng một lập luận chặt chẽ, nhằm đối chiếu chúng với những sự kiện. Đầu tiên là giả thuyết, sau đó là diễn dịch: đấy là hai thời đoạn kế tiếp nhau của phương pháp tiến hành, điều này biện minh cho cái tên phương pháp giả thuyết-diễn dịch mà các nhà khoa học hiện đại đặt cho nó (Mario Pieri, 1860-1913).

Theo sự thú nhận của chính những kẻ áp dụng phương pháp trên, tính bất cập của nó chính là dường như nó chỉ có thể dẫn đến những hư cấu ít nhiều tài tình, chứ không phải là những chân lý được xây dựng vững chắc. Bởi vì, nếu trong một lập luận đúng về mặt hình thức, sai lầm của hệ quả cho phép ta đánh giá là có một nhầm lẫn đâu đó trong nguyên lý, quy tắc này không tác động cùng chiều cho chân lý: hệ quả đúng không bảo đảm là nguyên lý cũng đúng, cái đúng có thể được suy ra từ cái sai, hay như người ta nói, “từ cái sai có thể suy ra tất cả”. Sắt là chất cháy được, trang sách này bằng sắt, vậy trang sách này cháy được. Nói cách khác: trong khi nguyên lý quy định chính xác những hệ quả, thì ngược lại, hệ quả lại để những nguyên lý từ đó chúng được rút ra trong tình trạng tương đối bất định. Cho một tập hợp mệnh đề, ta có thể tìm ra nhiều và ngay cả, trên lý thuyết, vô số hệ thống nguyên lý cho phép ta từ đó suy ra tập hợp mệnh đề trên. Người xưa hoàn toàn biết rõ những đặc tính lô-gic của tương quan nguyên lý – hệ quả này, và các nhà thiên văn trong dòng toán học bày tỏ không giấu giếm tính chất giả tạo của những kết quả mà họ thu được, như Proklos* đã nói công khai. ” Từ những giả thuyết sai, người ta có thể rút ra một kết luận đúng, và sự phù hợp của kết luận này với các hiện tượng không phải là bằng chứng đủ để cho phép ta xác lập sự đúng đắn của giả thuyết”. Vì vậy nên những giả thuyết khác nhau mà người ta có thể đặt ra để giải thích cùng một hiện tượng không loại trừ nhau. Nên Simplikios (490-560)* lưu ý: “Hiển nhiên là sự kiện có những ý kiến khác nhau về những gì hiện ra hay không. Cho nên chẳng có lý do gì phải ngạc nhiên khi các nhà thiên văn khác nhau lấy nhiều giả thuyết khác nhau như khởi điểm nhằm tìm cách cứu giữ những hiện tượng“. Trường hợp đã gây ấn tượng sâu đậm nhất cho các nhà thiên văn xưa là chứng minh của Apollônios* thành Pergê (khg 262-190 tCn), khi ông thiết lập qua một lý luận hình học sự tương đương giữa hai giả thuyết lệch tâm ( excentriques) và giả thuyết vòng ngoài ( épicycles), và sự tương đương này sẽ giúp cho (H)Ipparkhos (190-120 tCn)* khỏi phải chọn một trong hai giả thuyết trên. Như vậy, sự kiện có nhiều giả thuyết về cùng một loại hiện tượng không phải lúc nào cũng là một nhược điểm; đôi khi nó còn khiến người ta mừng rỡ như một sự phong phú, như ta thấy ở Epikouros* (trong thư gửi Pythoklês) chẳng hạn. Khi tìm mọi giải thích có thể có cho nhiều hiện tượng thiên văn học khác nhau, ông phản đối những người “thay vì chỉ cần chăm chú theo cái phương pháp duy nhất khả thi, đã rơi vào loại ý kiến vô bổ, bởi vì họ nghĩ rằng các hiện tượng thiên văn chỉ có thể nhận một giải thích duy nhất mà thôi, nên họ vất bỏ mọi giải thích khác mà ta có thể quan niệm được, và vì vậy, đặt tư duy trước một cái gì mà nó không thể hiểu nổi: tại sao cứ phải áp đặt một giải thích duy nhất và loại trừ mọi giải thích khác?”.

Tính phi thực tếcủa một khoa học như thiên văn còn có thể được nêu lên để biện minh cho sự táo bạo của giả thuyết được đưa ra. Thí dụ nổi tiếng nhất nằm trong bức thư mà Kopernik (1473-1543)*, khi ông giả vờ nhìn giả thuyết nhật tâm (mặt trời trung tâm) đơn giản như một mẹo toán. Ông ta viết: “Công việc đặc thù của nhà thiên văn, trước hết là thu thập bằng sự quan sát, kỹ lưỡng và khôn khéo, mọi mô tả về những chuyển động của các thiên thể, sau đó là tìm ra nguyên nhân của chúng, nghĩa là – do ta không thể nào đạt tới loại nguyên nhân thật sự – dùng trí tưởng tượng phát minh ra bất kỳ giả thuyết nào mà, một khi đã giả định chúng và tuân theo các nguyên lý hình học, những chuyển động đó có thể được tính toán chính xác, trong quá khứ cũng như trong tương lai… Và loại giả thuyết này không cần phải có thực, hoặc ngay cả tưởng như có thực; chỉ cần một điều kiện này là đủ: chúng cho phép ta làm ra các con tính phù hợp với những điều được quan sát”31. Đầu thế kỷ thứ XVII, khi Galileo Galilei lấy lại luận điểm chính của Kopernik, hồng y Duhem (1861-1916)*, Ramus (1515-1572) hứa nhường ghế giáo sư tại Collège Royal cho bất cứ ai có thể nghiên cứu thiên văn mà không cần giả thuyết nào. Bacon so sánh thiên văn toán học với một bộ da không có bộ lòng, nghĩa là không có những lý do vật lý ( raisons physiques). Galileo không chịu đẩy sự thận trọng tới mức trình bày thuyết nhật tâm chỉ như một hư cấu toán học. Kepler đứng lên chống lại tất cả những ai dám đặt ngang hàng Klaudios Ptolemaîos với Kopernik, vì lý cớ cả hai hệ thống đều cho phép tính toán về các hiện tượng như nhau; còn về phần mình, ông chủ trương xây dựng một khoa thiên văn không phải giả thuyết hư cấu, mà dựa trên lý do vật lý (non hypothesibus ficticiis, sed physicis causis). của Newton 21, có lẽ ta phải nghĩ nhớ tới cái nghĩa tuy xa xưa nhưng vẫn còn rất dai dẳng này của từ giả thuyết.

Nhưng thế thì cái phương pháp cho phép ta xây dựng nên một khoa thiên văn vật lý như vậy cũng phải có khả năng được sử dụng để xây dựng một khoa vật lý trên mô hình của thứ thiên văn này. Khoa vật lý đó phải được dựng lên từ một kiểu lật đổ phương pháp chứng minh, bằng cái phương pháp mà sau này Pascal nói rằng, qua nó, chính kinh nghiệm mới được xem là “nguyên lý độc nhất của vật lý học”. Hãy hiểu cho đúng cái nghĩa của từ nguyên lý ở Pascal, bởi nó không còn tương ứng với cái nghĩa của Descartes nữa. Ở đây, nguyên lý không còn được hiểu theo nghĩa lô-gic học, như các mệnh đề từ đấy những quy luật vật lý có thể được suy ra như hệ quả nữa, mà như các khởi điểm của việc nghiên cứu, nghĩa là nguyên lý trong nghĩa phương pháp. Từ chúng, người ta không đạt tới sự hiểu biết quy luật vật lý bằng một lập luận hình thức có tính bắt buộc về mặt lô-gic nữa, mà qua một lối tiếp cận tự do hơn song cũng đầy phiêu lưu. Những sự kiện kinh nghiệm hiện ra trước mắt ta như “những hệ quả không có tiên đề”, theo kiểu Baruch Spinoza (1632-1677)* nói, để ta đi ngược lại, bằng sự phân tích, từ những hệ quả này đến các tiên đề có thể đặt ra được. Nói cách khác, là đưa ra một ước đoán ít ra có vẻ như có thể đúng thực; rồi sau đó, đảo ngược cách vận hành, lần này bằng sự diễn dịch chặt chẽ, đi từ ước đoán xuống những hệ quả, sao cho các hệ quả này cho phép ta xác định giá trị của ước đoán, qua sự đối chiếu với những sự kiện kinh nghiệm. Một ý tưởng giữa hai sự kiện: từ quan sát đưa ra một giả thuyết, rồi từ giả thuyết, thông qua một diễn dịch, trở lại với kinh nghiệm để kiểm soát giả thuyết đấy là nội dung của phương pháp giả thuyết-diễn dịch, và nó sẽ là phương pháp của khoa học vật lý mới.

Như vậy, trong khi các nhà vật lý mới bác bỏ giả thuyết như hư cấu hoàn toàn, để đền bù – do sự chống đối cả một thứ vật lý đơn thuần là chứng minh kiểu hình học ( more geometrico) nữa – họ cũng sử dụng một cách có hệ thống giả thuyết như ước đoán, và qua đó, mang tới cho lối lập luận giả thuyết-diễn dịch một nghĩa mới và một tầm quan trọng mới. Đúng là nói một cách tổng quát, họ tránh nhấn mạnh trên lối tiến hành cốt yếu này của phương pháp, và thích thú đề cao sự chặt chẽ của lập luận, và sự quy chiếu về sự kiện hơn. Nhưng ai cũng nhìn thấy, nếu không phải thường xuyên qua lời nói, thì ít ra cũng luôn luôn trong hành động, rằng giả thuyết là cái phần không thể thiếu trong phương pháp của họ. Chỉ cần dẫn chứng hai thí dụ nổi tiếng: ta đều nhớ Kepler đã liên tục làm không biết bao nhiêu thử nghiệm trước khi rơi vào ý tưởng một quỹ đạo dạng ê-lip, và ta đều nhớ rằng học thuyết về lực hấp dẫn đã nằm không biết bao nhiêu năm tháng trong đầu Newton như một giả thuyết sai lầm, cho đến khi một đo đạc trắc địa mới cho thấy là nó tương ứng chính xác với những sự kiện.

c) Từ probabilis Kinh Viện đến phép tính xác suất

Tuy nhiên, dù hiểu giả thuyết khởi đầu theo nghĩa nào, làm sao ta có thể né tránh được điểm khiếm khuyết vẫn được nhìn nhận của cái phương pháp này, nhất là khi bây giờ nó còn được sử dụng như phương tiện để đánh giá tính chân thực của các nguyên lý, căn cứ trên hệ quả của chúng? Liệu nó sẽ khiến cho sự chắc chắn của toàn bộ khoa vật lý bị nghi ngờ, và ngăn cản bộ môn này đạt tới cương vị khoa học chăng?

Các nhà vật lý hiện đại không tranh cãi gì chung quanh điểm khiếm khuyết về lô-gic trên; họ chỉ nghĩ rằng, trong một số điều kiện, phương pháp này có thể cho ta một bảo đảm, trên thực tế, tương đương với sự chắc chắn. Ở đây nữa, phải tránh kỹ mọi lẫn lộn. Giống như ý niệm giả thuyết, và trong tương quan với nó, lúc ấy ý niệm xác suất cũng đang chao đảo.Ý tưởng có một thứ vật lý học chỉ có xác suất như thế, và do đó, đối lập với cái chắc chắn như thế của toán học, còn rất xa với cái gọi là mới, mà ngược lại, là một trong những giáo điều của triết thuyết Kinh Viện*. Bởi vì vật lý học được giảng dạy đương thời như một ngành của triết học, chứ không đứng chung với các khoa học chính xác. Có điều cái có xác suất như thế, theo nghĩa riêng của từ probabilis đối với các nhà Kinh Viện, là cái có thể chứng minh được: nó là điểm kết của một lập luận biện chứng. Trong điều kiện này, chẳng có mệnh đề nào là không “có xác xuất như thế”, tất cả tùy thuộc ở sự khôn khéo của kẻ tranh biện. Một quan điểm về cái “có xác xuất như thế” hiển nhiên chỉ có những quan hệ xa xôi với sự chắc chắn và chân lý. Chúng ta đều biết vị trí mà loại “disputationes pro et contra”chiếm giữ trong Nhà trường Kinh Viện. Và chúng ta đều hiểu sự căm ghét thứ khoa học mà “lý tính chỉ là cái có xác xuất như thế” của Descartes, một sự căm ghét hoàn toàn được các tác giả quảng bá phương pháp thực nghiệm chia sẻ. Nhưng bản thân các vị này cũng đã bắt đầu hiểu từ probabilis theo một nghĩa khác, cái nghĩa đã trở thành của ta ngày nay. Thực vậy, trong ngôn ngữ thường ngày của chúng ta, cái “có xác suất như thế” chính là cái đã tiến đến gần tuy chưa đạt tới cái chắc chắn, và trong nghĩa rộng hơn của ngôn ngữ khoa học, là tất cả cái vùng nằm giữa cái nhất thiết đúng và cái nhất thiết sai, cả hai còn được nó bao gồm như hai trường hợp giới hạn. Trong thời kỳ chuyển tiếp là thế kỷ XVIII này, có lẽ không có gì cho ta thấy sự cộng sinh và đồng thời là sự đối lập giữa hai nghĩa trên rõ ràng hơn là sự kiện chính Pascal, kẻ từng đả phá quyết liệt cái học thuyết về những ý kiến có xác xuất như thế trong quyển Các Trưởng Giáo Khu (Les Provinciales),lại cũng là người khởi xướng hiện đại của phép tính xác suất. Trong phép tính này, bản thân tính xác xuất đã trở thành đối tượng khoa học, nghĩa là nó phải tuân theo sự đo lường và xử lý toán học: xác xuất chính là cái có thể được định lượng bằng con số.

2 – SỰ XỬ LÝ KINH NGHIỆM BẰNG TOÁN HỌC a) Sự quy giản thế giới kinh nghiệm vào cấu trúc toán học

Đúng là vào thế kỷ XVII, chưa có vấn đề áp dụng biện pháp , Robert Boyle (1627-1691)bắt đầu làm rõ những điều kiện của nó. Đến cuối thế kỷ, vấn đề hết còn là đối tượng tranh cãi. Gottfried Leibniz (1646-1716)*, kẻ từng mong muốn là người ta sẽ tạo ra, bên cạnh môn lô-gic học chứng minh ( démostrative), “một thứ lô-gic học mới nhằm xử lý các mức độ xác suất, đồng thời cho chúng ta một bàn cân cần thiết để cân nhắc những ngoại hiện (apparences), và đưa ra một phán đoán vững chắc về chúng”, còn nói rõ thêm các chi tiết sau: , điều mà trên thực tế họ đã không làm, và có lẽ là không muốn hay không thể làm. Chỉ cần phải công nhận rằng một giả thuyết càng giản dị dễ hiểu, và càng có quyền năng rộng nghĩa là cho phép giải thích một số lượng hiện tượng lớn nhất với ít giả định nhất thì càng có xác suất cao hơn. Và có thể có trường hợp một giả thuyết nào đó được xem như chắc chắn về mặt vật lý, một khi nó đã thỏa mãn hoàn toàn mọi hiện tượng xảy ra, kiểu như một chiếc chìa khóa để giải mã những bản mật ước. Nhưng ngoài tính chân lý của nó, giá trị lớn nhất của một giả thuyết là khi nó cho phép ta đưa ra cả các tiên đoán về những hiện tượng hay kinh nghiệm chưa bao giờ được thử thách, bởi vì trong trường hợp này, một giả thuyết như thế có thể được xem luôn như chân lý trong thực tế”. Điều này cho phép ông viết ở nơi khác: ” Có vẻ như là sự chắc chắn (hiểu theo nghĩa tinh thần hay vật lý) chứ không phải là sự tất yếu (hay chắc chắn siêu hình) của loại mệnh đề này – mà ta chỉ học được do kinh nghiệm thôi, chứ không phải từ sự phân tích và tương quan ý tưởng – đã được thiết lập giữa chúng ta rồi, và một cách hoàn toàn hợp lý”.

b) Thao tác đo đạc và sự định lượng chính xác

Nét thứ hai phân biệt nền vật lý học hiện đại với vật lý học trước kia là sự quy giản một cách có hệ thống thế giới kinh nghiệm vào cấu trúc toán học của nó. Ở đây cũng vậy, cần phải thấy rõ sự mới mẻ của lối nhận thức hiện tượng này nằm ở đâu. Chỉ áp dụng toán học vào việc diễn giải kinh nghiệm thôi, thì chưa đủ để làm nhà khoa học hiện đại. Ông thầy pháp của truyền thống giả kim không hề bỏ quên toán. Ngay chính Kepler cũng chưa bao giờ vượt thoát hoàn toàn thứ não trạng thần bí toán học. Trong tác phẩm đầu tay, Những Bí Ẩn Của Vũ Trụ (Mysterium cosmographicum),ông giải thích số lượng và khoảng cách giữa các hành tinh được biết tới lúc đó, bằng quy chiếu về lý thuyết hình đa diện đều mà số lượng chính xác là năm – chúng ta đều biết điều này từ thời Platôn, khi triết gia trên đã thực tế sử dụng nó trong . Kepler viết: Nhưng không phải trừu tượng theo nghĩa ở các khái niệm của Aristotelês – nghĩa là khi mức độ trừu tượng và tổng quát của chúng càng cao, thì chúng càng mất đi tính xác định, và do đó, không cho phép tạo lại cái cụ thể từ đấy chúng được rút ra nữa. Chúng chỉ trừu tượng theo nghĩa là thuộc về trí tuệ, không dễ tiếp cận tức thì bằng cảm quan, và chỉ có ý nghĩa vật lý khi đi kèm với sự chỉ định một thao tác cho phép đạt được một con số đo chính xác tương ứng trong cụ thể. Người ta còn đi tới chỗ khẳng định rằng ý nghĩa của chúng nằm, hoàn toàn và duy nhất, trong toàn bộ những thao tác dùng để đo đạc chúng; hoặc là, và điều này cũng có nghĩa như thế mà thôi, “phương pháp khoa học đo đạc trước khi biết nó đo đạc cái gì”. Và thực thể mới chỉ có nghĩa nhờ cái thao tác đo đạc đã xác định nó, cho dù nó còn mượn tên của một ý niệm quen thuộc hơn đi nữa. Chính là giữa những đại lượng trừu tượng này – trong cái nghĩa mới của hình dung từ “trừu tượng” – chứ không phải giữa những hiện tượng cụ thể, mà khoa vật lý học sẽ dệt lên mạng lưới các định luật của nó.

Đối với loại triết gia mà đầu óc truyền thống còn gắn chặt vào một thứ vật lý định tính, cùng với thói quen nhìn toán học như một khoa học thứ yếu, thì hoàn toàn có thể hiểu được là cách bước vào nghiên cứu tự nhiên như trên có vẻ là quái gở cỡ nào. Điều người đương thời chê trách Galileo là ông đã suy luận như nhà toán học; trong khi ngược lại, Galileo đòi hỏi rằng, bên cạnh danh hiệu chính thức của ông là nhà toán học, người ta còn phải ghi thêm danh hiệu triết gia – nghĩa là nhà vật lý học -, bởi vì ông viết: “tôi tuyên bố đã cống hiến nhiều năm cho việc nghiên cứu triết học hơn là nhiều tháng để nghiên cứu toán học thuần túy”. Và sự thật là “sách triết lý là quyển sách luôn luôn rộng mở trước mắt chúng ta; nhưng vì nó được viết bằng thứ chữ khác với những chữ trong bảng chữ cái của ta, nên không phải tất cả mọi người đều đọc được; những chữ của quyển sách đó chúng không là gì khác hơn là các tam giác, hình vuông, hình tròn, hình cầu, hình nón, và những hình thể khác của toán học hoàn toàn thích hợp với kiểu đọc này”.

Chúng tôi đã loan báo rằng những nét chúng tôi dùng để đặc trưng hóa phương pháp khoa học mới là liên đới rồi. Hãy ghi nhận thêm ở đây là sự đo lường chính xác và sự chặt chẽ của lý luận toán học đã đóng góp đến mức nào vào việc nâng cao uy tín cho việc sử dụng phương pháp giả thuyết-diễn dịch để tìm hiểu hiện thực. Thực vậy, sự chắc chắn tinh thần (niềm tin tinh thần) rằng tính chân lý của hệ quả bảo đảm cho tính chân lý của giả thuyết càng tăng thêm, nếu các kết quả này chẳng những đã nhiều hơn, mà còn được thiết lập với độ chính xác cao hơn. Nếu khi còn ẩn trong sự mơ hồ, cái xác suất người ta có thể suy ra cùng một tập hợp sự kiện từ nhiều hệ thống giả thuyết khác nhau là điều hầu như cầm chắc – và do đó, nó không cho phép ta kết luận giả thuyết nào là đúng -, thì tình hình khác hẳn khi những sự kiện ấy đã được tiên đoán một cách chính xác đến tận chi tiết. Để chứng minh giả thuyết nguyên tử, Titus Lucretius Carus* (Lucrèce, khg 99-55 tCn) đã dẫn chứng, chẳng hạn, rằng chiếc nhẫn đeo trên ngón tay sẽ bị mòn dần do sự cọ xát, rằng những tấm vải phơi gần bờ sông sẽ thấm ẩm nhưng khi phơi ra nắng thì ráo khô, v. v… Những chứng cớ ấy có vẻ như đúng thật, song không hề loại bỏ khả năng có những giải thích khác. Thế nhưng, khi để thử thách các lý thuyết nguyên tử hiện đại, Jean Perrin (1870-1942)* tính giá trị của con số Avogadro bằng cả chục cách tính độc lập với nhau mà mọi kết quả đều cho ra cùng một con số, thì không còn chỗ cho một nghi ngờ hợp lý nào nữa.

d) Cái cụ thể như mặt đối lập của cái khách quan

Dù sự đưa một cách có hệ thống thao tác đo lường vào việc nghiên cứu hiện tượng tự nhiên là quan trọng tới mức nào, nó cũng chỉ biểu thị một khía cạnh của sự toán học hóa thiên nhiên, và một khía cạnh phụ thuộc mà thôi. Nói cho cùng, cả Bacon nữa cũng đòi hỏi ta phải đếm, phải cân, phải đo. Thế nhưng, thứ đo lường ấy thuộc vào loại mà bất cứ ai cũng có thể làm một cách trực tiếp trên trên những dữ kiện của kinh nghiệm cụ thể. Chúng có thể mang tới một sự chính xác lớn hơn cho cho nền khoa học cũ, nhưng không gây ra một sự đảo lộn nào cả: cách ta nhìn tự nhiên vẫn như cũ, chỉ có sự sắp xếp sao cho thích hợp trở thành tốt hơn mà thôi. Bước chuyển sang khoa học hiện đại giả định một cuộc cách mạng tinh thần thật sự, gắn liền với một sự biến đổi triệt để về cách nhìn vạn vật. Đấy là thói quen nhìn tự nhiên với con mắt của nhà hình học, thực hiện “sự thay thế không gian cụ thể của nền vật lý học trước Galileo bằng không gian trừu tượng của hình học Eukleidês”, nghĩa là đặt những hiện tượng vào trong một không gian thuần nhất, đẳng hướng và vô hạn – nói cách khác, là quan niệm một thế giới không còn là thứ vũ trụ đã hoàn thành nữa mà mất hút trong cõi vô tận, một thế giới không có trung tâm, và tổng quát hơn, không có những nơi chốn cũng như định hướng ưu đãi như trên dưới… Và trong thứ không gian là hư vô vật lý, là trống rỗng tuyệt đối như vậy, quy mọi chuyển động thành những sự đổi chỗ đơn giản của các điểm hình học; và thậm chí còn đi xa hơn nữa, lấy lại những phỏng đoán táo bạo của các nhà nguyên tử luận xưa nhờ một dụng cụ toán học mà họ không có, lần này quy tất cả mọi thay đổi trong hiện tượng thành những chuyển động đơn giản, theo nghĩa hiện đại của chuyển động cục bộ. Như vậy là ném ra ngoài hiện thực vật lý học mọi phẩm chất cảm tính vốn là xương thịt của hiện thực đối với các nhà vật lý Kinh Viện* kiểu Aristotelês cũng như của thông kiến, để chỉ xem chúng đơn giản như loại tác động của ngoại giới lên chủ thể. Galileo từng tuyên bố trong Người Thí Nghiệm (Saggiatore, 1623), rằng đen và trắng, ngọt và đắng… chỉ là những cái tên mà ta áp đặt cho các sự vật đã gây ra trong ta một số cảm giác, trong khi chỉ có hình thể và đại lượng, sự chuyển độngsự đứng yên, là những phẩm chất sơ đẳng và hiện thực (primi e reali accidenti). Descartes quy vật chất thành quảng tính hình học, và tuyên bố rằng trong thiên nhiên tất cả đều chỉ do hình thể và chuyển động tạo nên. Gassendi thích nghi cơ học nguyên tử của Dêmokritos vào các đòi hỏi mới của khoa học. Huygens tuyên bố rằng ta sẽ chẳng bao giờ hiểu gì về vật lý học cả, nếu không quan niệm nguyên nhân của mọi hiệu ứng tự nhiên bằng lý do cơ học. Và Newton giao cho vật lý học nhiệm vụ xác định mọi hiện tượng thông qua hiện tượng chuyển động.

3 – SỰ CẦU VIỆN TỚI THÍ NGHIỆM a) Từ quan sát tầm thường sang quan sát thông thái

Như vậy là hai thành phần xưa vẫn được hợp nhất trong định nghĩa hiện thực nay đã bị đã tách rời ra. Một mặt, hiện thực là cái tự phơi bày trong kinh nghiệm trực tiếp, cái tự áp đặt cho nhận thức bất chấp mọi sở thích của tôi, tóm lại là cái cụ thể. Mặt khác, nó cũng là cái tồn tại độc lập với mọi hiểu biết mà anh hay tôi có thể sở hữu về nó, cái mà mọi tri thức đều phải dựa vào để tự điều chỉnh hầu có một giá trị khách quan. Giờ đây, hai tính chất này không còn phối hợp hài hòa với nhau nữa, mà có khuynh hướng trở thành đối kháng; và khoảng cách chỉ ngày càng sâu đậm hơn với những triển khai sau này của khoa vật lý. Ngày càng rõ ràng là ta chỉ đạt tới tính khách quan của tri thức vật lý học bằng sự tước bỏ khỏi vật thể cái vỏ ngoài cảm quan của nó. Từ hiện thực bây giờ phải được hiểu theo hai nghĩa, không những chẳng còn lân cận, mà ngược lại, được đặt ở hai cực của quá trình hiểu biết, một như cái thưở ban đầu ( terminus a quo), một như cái ngày kết thúc (terminus ad quem) của nó: một bên là dữ kiện trực tiếp, điểm bắt đầu tất yếu của mọi hiểu biết về tự nhiên, bên kia là thế giới khách quan mà tri thức khoa học nhắm tới như lý tưởng. Giữa cái cụ thểcái khách quan, ngày nay ta buộc phải chọn lựa. Cái hiện thực của nhà vật lý học không còn có thể là cùng một thứ với cái hiện thực của thông kiến, như đã từng cho tới nay. Từ cái này sang cái kia, cuộc chia tay và sự đoạn tuyệt là chuyện đã rồi.

Cuối cùng, nét đối lập cơ bản với nền vật lý cũ trong phương pháp vật lý học hiện đại hiện ra bên ngoài và dễ nhận thấy hơn: đó là sự tinh vi trong quan sát, bước chuyển từ sự quan sát tầm thường mà người ta vẫn luôn luôn thực hiện cho đến lúc đó sang sự quan sát thông thái, nhờ cầu viện tới một thiết bị được quan niệm cho chính mỗi mục đích này (ad hoc). Một biến đổi sẽ đẩy nhà vật lý xa dần các triết gia và nhà văn, để từ từ đến gần giới thợ thủ công và kỹ sư hơn, đồng thời đưa ông ta ra khỏi thư viện để vào phòng thí nghiệm. Đầu thế kỷ XVII, người ta thấy các nhà bác học cộng tác, tuy thường là không mấy suôn sẻ, với những người thợ được tuyển lựa nhờ tài khéo léo, nhằm chế tạo ra loại công cụ cần dùng cho việc nghiên cứu. Rồi những công cụ này được nhân lên, trở thành phức tạp hơn, và đòi hỏi những chi phí vượt xa khả năng tài chính của một cá nhân, nên những phòng thí nghiệm cộng đồng bắt đầu xuất hiện, lúc đầu do các hội nghiên cứu ( sociétés savantes) được tổ chức một cách chính thức trang trải, sau đó bởi các Đại học. Đồng thời, một thứ kỹ nghệ và thương mại hoàn toàn mới của giới chế tác và thương gia chuyên biệt về thiết bị vật lý học cũng xuất hiện và không ngừng phát triển.

Những thiết bị này thuộc nhiều loại, và đáp ứng nhiều nhiệm vụ khác nhau, ngoài một số có thể thích nghi với nhiều chức năng. Đầu tiên là loại công cụ quan sát, nhằm gia tăng tầm sức các giác quan của chúng ta. Cái kính thiên văn (perspicillum) của Galileo có thể được xem là dụng cụ khoa học đầu tiên như Koyré* từng khẳng định; nó cho phép ta vượt lên trên cái giới hạn mà thiên nhiên áp đặt cho khả năng cảm nhận và hiểu biết của con người; với nó, bắt đầu một thời kỳ mới trong sự phát triển khoa học mà ta có thể gọi là thời đại công cụ. Sau này, nhiều công cụ mới còn cho phép ta, chẳng những nới rộng tầm hoạt động của một trong các giác quan, mà còn chuyển được thành biểu hiện cảm giác những hiện tượng mà không một giác quan nào của ta có thể thích ứng. Tiếp theo là loại công cụ đo lường. Một nền vật lý dựa trên sự hiểu biết những kích thước tất nhiên đòi hỏi phải có loại dụng cụ tương tự. Mỗi cặp phẩm chất trái ngược trên đó khoa vật lý học của Aristotelês được xây dựng, như nóng với lạnh, khô với ướt, nay được thay thế bằng một ý niệm trừu tượng duy nhất, như ý niệm nhiệt độ hay mức độ ẩm, song lại được phân chia trên một bậc thang có những nấc giá trị khác nhau, dựa trên đó ta có thể quy định, bằng công cụ thích hợp, một đại lượng vừa chính xác vừa khách quan cho mỗi thí nghiệm: đây chính là hai đặc tính không thể thiếu để đưa các hiện tượng lên tầm mức khoa học, nhưng lại là những thứ mà các giác quan của ta không thể cung cấp. Cuối cùng, những cỗ máy ít nhiều phức tạp, với các bộ phận cho phép ta tự tạo ra hiện tượng phải nghiên cứu trong những điều kiện quan sát thuận lợi hơn. Tấm ván nghiêng của Galileo với những hòn bi, thước đứng ( toise) và đồng hồ nước, đã là một cỗ máy như vậy, nhưng dưới một hình thức thô sơ. Khi Bacon đòi hỏi ta tra tấn thiên nhiên để buộc nó phải khai ra những bí mật của mình, và khi Descartes nói về “những thí nghiệm hiếm hoi và được chuẩn bị” mà người ta có thể nghĩ ra sau loại “thí nghiệm tự nhiên hiện ra trước các giác quan” vào lúc đã có nhiều hiểu biết hơn,… cả hai ông đều nghĩ tới cách cật vấn tự nhiên triệt để này.

b) Hai chức năng của thí nghiệm: gợi mở và kiểm tra giả thuyết

Nhưng nhất là, trong chiều hướng ngược lại, việc tra vấn tự nhiên là vô bổ, nếu nó không được thực thi với một tinh thần thực sự khoa học. Khoan nói tới sự thay thế tự nhiên bằng dụng cụ nhân tạo mà kỹ thuật mang lại: từ thế kỷ XIII, kỹ xảo của con người đã có một bước tiến mới, nhưng nền khoa học chính thức vẫn giữ thái độ bề trên, khinh khỉnh nhìn xuống những công trình của giới tiểu công nghệ và ngay cả của các kỹ sư. Hãy nghĩ tới bao kẻ vẫn sống khép kín trong các phòng thí nghiệm, giữa nào bình, chén, nồi, lò… suốt từ thời Trung Cổ sang đến thời Phục Hưng. Họ chỉ hoài công tra tấn tự nhiên, với đủ trò nấu, chưng, cất, trộn,… thiên nhiên vẫn không hề trả lời, ngay cả cho những người đã xua khỏi đầu óc mình mọi tàn dư của ma thuật hay thần bí, bởi vì họ không biết đặt ra những câu hỏi thích hợp. Thật đáng lưu ý là khoa hóa học, bộ môn đã đi trước khoa vật lý rất nhiều trong việc thực hành cái ta buộc phải gọi là “làm thí nghiệm” mà thôi, lại chỉ trở thành một khoa học với gần hai thế kỷ chậm hơn môn vật lý, chính xác là từ khi nó thu nhận cách đặt vấn đề của nhà vật lý, và cụ thể là từ khi nó bắt đầu sử dụng một cách có hệ thống thứ cân chính xác ( balance de précision). Ngay cả trong vật lý học, việc thí nghiệm chưa thực sự là mới ở thế kỷ XVII. Về điểm này, Roger Bacon (1214-1294) thường được viện dẫn như người báo trước. Thế nhưng Pierre Brunet (1893-1950) ghi chú rằng: ở ông, “cũng như ở hầu hết các tác giả của thế kỷ XIII, từ experimenta mang ý nghĩa ít nhiều bí hiểm, ám chỉ các phương pháp giả kim, và đến một mức độ nào đó, có lẽ cả ma thuật nữa, nhưng dù sao cũng chẳng có tí gì là thực nghiệm theo nghĩa hiện đại” .

III – SỰ “CẢI ĐẠO TRÍ THỨC VÀ TINH THẦN 1 – NHỮNG CHƯỚNG NGẠI KHOA HỌC LUẬN

Đấy là lý do khiến cho việc thực hành sự quan sát nhân tạo, dù rất đều đặn, tự nó cũng không đủ để được xem là đặc trưng của phương pháp mới trong vật lý học. Nó chỉ cho kết quả tốt khi được gắn chặt với hai nét đã dùng để định nghĩa phương pháp thực nghiệm: sự sử dụng triệt để lý luận giả thuyết-diễn dịch, và sự diễn đạt các vấn đề vật lý bằng ngôn ngữ kích thước. Để kiểm soát những hệ quả của nó – được diễn tả qua một số đại lượng chính xác -, phương pháp giả thuyết phải động viên một thủ tục có khả năng, trong điều kiện lý tưởng, làm hiện ra các đại lượng mà vấn đề đặt ra quan tâm tới nơi hiện tượng nghiên cứu, bằng cách kéo chúng ra khỏi những nhiễu loạn thường ảnh hưởng tới chúng trong tự nhiên, do được kết hợp với các đại lượng khác – nghĩa là cô lập chúng hầu có thể theo dõi các biến thiên của chúng, “giả định rằng mọi yếu tố khác của tình huống đều không thay đổi”, v. v… Ngay cả sự chính xác của các biện pháp đo lường cũng đòi hỏi vô số thận trọng, và chúng áp đặt một thiết bị phức tạp. Hơn nữa, khi chính những kết quả lý thuyết đạt được từ đợt quan sát đầu tiên được thí nghiệm xác nhận, thì đến phiên chúng cũng trở thành các loại sự kiện trên đó bây giờ người ta có thể leo lên một nấc để xây dựng, rồi cứ như thế mà sự việc tiếp diễn. Whewell* đã nhấn mạnh trên sự biến đổi ý tưởng thành sự kiện này một cách đúng đắn. Áp suất của khí quyển trên mặt nước hay trên chậu thủy ngân, đấy là sự kiện chăng, hay là lý thuyết? Trả lời: đây là một lý thuyết đã trở thành sự kiện. Trong những điều kiện như trên, các sự kiện căn bản di chuyển dần về phía vấn đề mà nhà vật lý đặt ra, và ngày càng xa những sự kiện mà tự nhiên cung cấp. Theo chiều hướng này, Edouard Le Roy sẽ nói rằng sự kiện khoa học là do các nhà bác học làm ra. Có thể nói rằng nhà bác học dựng lên một tự nhiên nhân tạo; và vật lý học, vốn là một khoa học của tự nhiên như tên nó luôn luôn nhắc nhở, rốt cuộc đã trở thành, trọn vẹn, một khoa học của phòng thí nghiệm.

Người ta có thể tự hỏi vì sao nhân loại chỉ tiến tới một cách thức nghiên cứu tự nhiên – hầu như tất yếu phải như thế đối với chúng ta ngày nay – một cách trễ nãi và khó khăn như vậy; vì sao cả người Hy Lạp lẫn người Ả Rập đều không thành công trong việc xây dựng phương pháp thực nghiệm, dù đôi khi họ cũng loáng thoáng thấy nó; và vì sao, buổi đầu đời, phương pháp này còn phải đối mặt với bao khó khăn trước khi được thừa nhận. Chính là vì nó còn phải vượt qua bao trở ngại nữa. Khoan nói đến những cản trở ngoại tại, và có thể cho là tiêu cực – như sự thiếu thốn phương tiện quan sát hay vốn liếng toán học – còn có những lúng túng nội tại, và hoàn toàn tích cực, thuộc trình tự tình cảm cũng như tri thức, càng khó ý thức bao nhiêu thì càng khó chiến thắng hay chỉ đơn giản là phát hiện ra bấy nhiêu – tức là loại cản trở mà sau Bachelard* gọi là những “chướng ngại trong lý luận khoa học”. Để có thể bước vào nghiên cứu tự nhiên trong một tinh thần thực sự khoa học, phải thay đổi não trạng, tiến hành một sự “cải đạo trí thức và tinh thần. Không chỉ từ bỏ cái não trạng “hiện thực hay bản thể của trường phái Aristotelês, nói theo từ Louis Rougier (1889-1982) dùng để chỉ nó, mà còn phải tẩy khỏi đầu óc những tàn dư cổ hủ hơn nữa, của cái não trạng “vật linh hay ma thuật và cái não trạng “tượng trưng hay thần bí , các loại não trạng mà tàn tích không chỉ còn rất dai dẳng, mà chính xác còn được phục hồi ngay trong thời Phục Hưng. Robert Lenoble* đã nhấn mạnh đúng đắn trên điểm này, khi ông chỉ ra rằng cái “chủ nghĩa tự nhiên đương thời còn cách xa một sự lĩnh hội lành mạnh những hiện tượng tự nhiên đến đâu, và rằng nếu nó thực sự là đối lập thì nó cũng đánh dấu một bước lùi so với khoa học Kinh Viện, bởi nó quan niệm tự nhiên giống như một “cái hộp đầy phép lạ . Descartes không chỉ phải đương đầu với các “tiến sĩ ( docteurs) ở Sorbonne, mà còn phải vất bỏ mọi “học thuyết nhảm nhí rất thịnh hành thời đó nữa: giả kim, chiêm tinh, ma thuật. Đừng quên rằng Bacon* vẫn còn giữ ma thuật trong bảng phân loại các khoa học của ông, và Kepler* còn khẳng định lòng tin vào ngành chiêm tinh.

a) Tập quán và uy tín của lối diễn dịch từ nguyên lý

Ta có thể làm rõ hơn nữa, và xác nhận trong ba yếu tố cấu thành phương pháp thực nghiệm, cái gì là chướng ngại ở mỗi yếu tố.

b) Thái độ nhận thức duy tự nhiên chủ nghĩa

Sự sử dụng diễn dịch một cách bình thường là lấy nó làm phương tiện chứng minh, trong nghĩa trực tiếp. Khởi đi từ các tiên đề được cho là chắc chắn vì một lý do nào đó, ta truyền đạt sự chắc chắn của chúng cho những hệ quả từ đấy suy ra. Như vậy, ta có thể tiến tới trên một nền tảng vững chắc. Nói về khoa học chứng minh, cái duy nhất xứng đáng được gọi là khoa học theo ông, Aristotelês tuyên bố: “điều thiết yếu là nó phải khởi đi từ các tiên đề đúng, đầu tiên, trực tiếp, được biết rõ hơn và có trước những kết luận mà chúng là nguyên nhân”. Và thật sự là khoa học chứng minh tiêu biểu nhất – toán học – đã hiện ra dưới hình thức xác quyết ( catégorique) này cho đến gần đây. Cả Legendre* nữa chẳng hạn, còn tưởng rằng mình đã chứng minh được định đề song song* định tính của ông như thế nào -, mà ngay ở giới triết gia, như ở dòng duy hiện tượng luận ( phénoméniste) từ Berkeley cho đến cả Bergson. Thậm chí ngay một nhà vật lý học như Pierre Duhem có lúc cũng còn mơ tưởng đến một sự thay da đổi thịt cho nền vật lý phẩm chất (định tính).

2 – SỰ TỪ BỎ MỘT SỐ NÃO TRẠNG a) Thói quen trân trọng tư biện và lý tưởng người hiền

Vì sao con người đã sử dụng phương pháp thực nghiệm trễ như vậy là điều không dễ thấy tức thì. Bởi có hai hệ thống giá trị làm chướng ngại, đó là thế ưu tiên của lý thuyết . Ta đều biết những khó khăn mà các giới kiến trúc, hội họa và điêu khắc thời Phục Hưng đã phải đối phó, để rốt cuộc mới đạt được sự trọng thị ngang hàng với các giới bác học và thi sĩ; và cái luận cứ lớn nhất của họ là cả thứ nghệ thuật của họ nữa cũng đều là “món ăn tinh thần . Giới y sĩ được đặt cao trên bậc thang xã hội nhờ họ biết tiếng la-tinh và làm việc với sách vở, trong khi giới phẫu thuật bị hạ xuống cùng một cấp với phường hội thợ cạo, bởi vì họ chỉ là những “nghề tay chân như tên gọi. Dễ hiểu là một tâm thái như thế không khích lệ các nhà bác học rờ tới, thậm chí nghĩ tới, những thiết bị thử nghiệm; trong khi về phần họ, các nhà tiểu công nghiệp cũng không có lý do gì để chế tạo loại công cụ đó, cho dù nếu muốn là có phương tiện. Và nếu vào cuối thời Trung Cổ, vai trò của nó được đánh thức, thế giới kỹ thuật tương đối vẫn còn bị cách ly với những công trình khoa học, trừ ở một vài bộ óc siêu đẳng như ở Leonardo* cái tự nhiên” này, thực tiễn thí nghiệm chỉ có thể bị xếp vào loại “học thuyết sai lầm”, và bị xem như phần tiếp nối của những thực hiện ma thuật, đúng như R. Lenoble đã nói. Dù có cố tạo ra ý niệm “ma thuật tự nhiên” cũng vô ích thôi: nó luôn luôn mang chút hương vị dị giáo.

Trong sự chống đối thực tiễn thí nghiệm chung này, hai lối đánh giá trên được hợp nhất và, qua đó, trở thành mạnh mẽ hơn. Kỹ thuật đi đôi với thực hành, như lý thuyết cặp đôi với sự quan sát tự nhiên đơn thuần. Nhờ vậy mà một lỗ hổng tự động mở ra, khi hai vế này bắt đầu tách rời. Một minh họa đủ ấn tượng để có thể lấy làm ví dụ ở đây được cung cấp qua trường hợp của Bernard Palissy (1510?-1589?)*, ở nửa sau của thế kỷ XVI. Một mặt, vì là người theo thần học Calvin một cách khắc khổ, Palissy tôn sùng tạo phẩm của Thượng Đế và đánh giá rằng kỹ thuật không thể thành công nếu nó bạo hành tự nhiên: bởi vì “mọi bạo hành đều không thể trường tồn… Không thể bắt chước tự nhiên về bất cứ chuyện gì được, trước hết bởi vì ta chỉ thấy những hiệu ứng của tự nhiên này mà tưởng là thầy chỉ đạo mẫu mực, và bởi vì chỉ có những sự vật hoàn hảo trên đời trong tạo phẩm của Thượng Đế mà thôi”. Tuy nhiên, cách bắt kỹ thuật phải phục tùng tự nhiên ấy, một mặt, quét sạch mọi nghi ngờ bất sùng tín đối với Palissy – bởi ông tìm cách sao chép chứ không phải chống báng những tạo phẩm của Thượng Đế -, mặt khác, cho phép nhà tiểu công không biết tý cổ ngữ Hy Lạp hoặc La-tinh nào lật ngược tôn ti trật tự truyền thống giữa lý thuyết với thực hành, và đặt sự tích cực cật vấn tự nhiên trên những bài học thụ động được rút ra từ sách vở. Trong của quyển Discours admirables…(1580), Palissy giải thích như sau: “Bạn đọc thân mến, để việc đọc quyển sách này là thật sự hữu ích, tôi buộc phải đưa ra lời cảnh báo sau: bạn nên tránh để đầu óc đắm say trong thứ lý thuyết tưởng tượng của loại khoa học bàn giấy, hay moi móc từ một quyển sách nào đó được viết ra từ mộng mị của kẻ chưa bao giờ biết thực hành là gì; và hãy tránh tin vào ý kiến của bất cứ ai quả quyết rằng lý thuyết đẻ ra thực hành… Tôi muốn hỏi những người đó – sau nửa thế kỷ đọc sách về vũ trụ học và hàng hải học, lại được trang bị nào bản đồ của mọi vùng biển, nào địa bàn đi biển, nào compa và đủ thứ công cụ thiên văn khác – liệu họ có dám nhận lái thuyền đi khắp mọi nước như một hoa tiêu thực nghiệp và thiện nghệ hay không? Họ sẽ tránh tự đặt mình vào việc nguy hiểm, dù đã học bao nhiêu lý thuyết đi nữa; và sau khi đã tranh cãi rốt ráo, họ sẽ phải thú nhận rằng thực hành đẻ ra lý thuyết mà thôi. Tôi viết lời nói đầu này hầu khép miệng những kẻ hay nói: làm sao một người không đọc sách triết bằng tiếng La-tinh lại có thể biết gì và phát biểu gì về hiện tượng tự nhiên cơ chứ? Loại ngôn từ này không thể nhắm vào tôi, bởi vì tôi đã từng chứng minh ở nhiều nơi, bằng thực hành, rằng lý thuyết của nhiều triết gia, ngay cả các vị nổi tiếng và cổ xưa nhất, là sai bét. Bằng cách chứng minh những lý lẽ từng được viết ra minh bạch của mình, tôi đã thỏa mãn đường hoàng cả thị giác, thính giác lẫn xúc giác: vì vậy, những kẻ chuyên phỉ báng không còn lý do gì hòng nhắm vào tôi hết”. “Sự kết nối con người vào tự nhiên”biểu thức mà sauFrancis Bacon dùng để định nghĩa kỹ thuật đã được biện giải và nâng cấp như thế, như giai đoạn mở đường cho cái sẽ từng bước trở thành nền vật lý của phòng thí nghiệm ngày nay.

Robert Blanché,

Sự Thiết Lập Phương Pháp Thực Nghiệm – Bài Dẫn Nhập

(L’Instauration de la méthode expérimentale – Introduction)

Trg: Phương Pháp Thực Nghiệm Và Triết Lý Của Vật Lý Học,

(La Méthode expérimentale et la philosophie de la physiqueParis, A. Colin, 1969, tr. 7-36).

Raphaël (1483-1520, tên tắt của Raffaello Sanzio hay Raffaello Santi, hay Raffaello da Urbino hay Raffaello Sanzio da Urbino): họa sư và kiến trúc sư người Ý, được xem là một trong ba bậc thầy của thời Thịnh Phục Hưng, cùng với Michelangelo (1475-1564), Leonardo da Vinci (1452-1519). NVK

Về điểm này, xem các lưu ý thích đáng của R. Lenoble trong Origines de la pensée scientifique moderne (Trg: Histoire des sciences, Paris: Gallimard, 1957, tr. 378 và tiếp theo). RB. Robert Lenoble (1902-1954): tu viện trưởng, triết gia, và sử gia khoa học Pháp. Tác phẩm chính: Mersenne ou la naissance du mécanisme (1943), Essai sur la notion d’expérience (1943), Esquisse d’une histoire de l’idée de nature (1969). NVK

Các sử thi mang tính thần thoại thời Cổ đại. là sử thi La Mã; là sử thi Hy Lạp. NVK

Trích dẫn bởi E. Cassirer*, Das Erkenntnisproblem in der Philosophie und Wissenschaft der neueren Zeit (Berlin, Bruno Cassirer, 1907, xbl 2, 1911, q. I, tr. 379). RB. Ernst Cassirer (1874-1945): triết gia Đức gốc Do Thái, được xem là thuộc một trong hai trường phái Hậu-Kant là triết phái Marburg. Cassirer trước tác trong nhiều lĩnh vực triết học; tác phẩm được biết nhiều nhất của ông là Philosophie der symbolischen Formen, 3 q., 1923-29 = Philosophy of Symbolic Forms, 1953-1957. NVK

Trong số các tác phẩm của Galileo Galilei, có hai đối thoại: Dialogue Concerning the Two Chief World Systems (Dialogo dei due massimi sistemi del mondo, 1632) và Discourses and Mathematical Demonstrations Relating to Two New Sciences (Discorsi e Dimostrazioni Matematiche, intorno a due nuove scienze, 1638). Hai nhân vật chính trong các đối thoại này là Simplicio (đại diện cho nền khoa học cũ của Aristotelês) và Salviati (đại diện cho các quan điểm khoa học mới). NVK

Tên Simplicio có thể do từ “semplice” ( simple-minded, simplet = ngây ngô, thiển cận), nhưng cũng có thể ám chỉ hai nhân vật có thật là Simplikios thành Kilikia (Simplicius of Cilicia, xem chú thích 25 bên dưới), và thậm chí là Giáo hoàng Urbanus VIII theo một số tác giả. Mặt khác, nhân vật Simplicio này còn là chân dung tổng hợp của hai triết gia và địch thủ đương thời của Galileo là Lodovico delle Colombe (1565-1616?) và Cesare Cremonini (1550-1631)*.

Pierre Gassendi (hay Pierre Gassend, hay Petrus Gassendi, 1592-1655): nhà toán học, thiên văn học, thần học, triết gia và mục sư Pháp thời Phục Hưng. Trước tác (bằng tiếng La-tinh) của ông được tập hợp trong: Pierre Gassendi Toàn Tập (Œuvres complètes, 6 q., 1658). NVK

Xem: H. Butterfield, The Origins of Modern Science (London, G. Bell & Sons, 1958, ch. V, tr. 81-83). Xem: A. Koyré, Galilée et l’expérience de Pise : à propos d’une légende, trg: Études d’histoire de la pensée scientifique (Paris, Gallimard, 1966, tr. 213-223). RB. Herbert Butterfield (1900-1979): sử gia và triết gia người Anh. Tác phẩm chính: The Whig Interptation of History (1931); Origins of Modern Science (1949). NVK

Giorgio Coresio (1570-1659), người gốc ở đảo Chios, từng làm giảng viên tại Đại học Pisa (1609-1615), nhưng phải từ nhiệm vì bị phát hiện đã rao giảng Ki-tô giáo phương Đông (theo văn hóa Hy Lạp) sau cuộc Đại Ly giáo hay Ly giáo Đông-Tây, hoặc bị mắc bệnh tâm thần. NVK

Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, bởi trong thí nghiệm đã được thực hiện, đây không phải là sự rơi tự do.

“Tôi đã được lý trí thuyết phục trước khi được kinh nghiệm bảo đảm” (phần bổ túc của Exercices philosophiques d’Antonio Rocco). Về sau, ông còn viết về việc sử dụng toán học của ông trong nghiên cứu về chuyển động như sau: “Tôi đã lập luận từ giả định( ex suppositione) về chuyển động được định nghĩa như thế, để ngay cả khi kết quả không hợp với những bất ngờ trong chuyển động tự nhiên của vật nặng khi rơi, điều đó là không quan trọng đối với tôi” (thư gửi G. B. Baliani, 7-1-1639; được trích dẫn trong: P. H. Michel, Galilée – Dialogues et lettres choisies, Paris, Hermann, 1966, tr. 426). Nhưng chính ông Baliani này, trong khi vẫn tự hào đã gặp gỡ Galileo trên nhiều điểm, luôn luôn cải chính ông từng là một trong những người thán phục và đứng về phe Galileo: “Phải thấy rằng tôi, tôi dựa trên những nguyên lý hoàn toàn khác, nghĩa là trên kinh nghiệm” (thư gửi Mersenne, 10-1647; được trích dẫn trong: S. Moscovici, L’Expérience du mouvement, Paris, Hermann, 1967, tr. 22).

Xem: S. Moscovici, sđd, tr. 49. Xem: A. Koyré, Une expérience de mesure, trg: Études d’histoire de la pensée scientifique (Paris, Gallimard, 1966, tr. 289-319). RB. Serge Moscovici (tên gốc Srul Herș Moscovici, 1925-2014): sử gia khoa học, nhà tâm lý xã hội học, nhà hoạt động môi trường Pháp gốc România. Tác phẩm tiêu biểu: L’Expérience du mouvement: Jean-Baptiste Baliani (1967); Essai sur l’histoire humaine de la nature (1968, 1977); La Société contre nature (1972, 1994); Hommes domestiques et hommes sauvages (1974); Social influence and social change (1976); Psychologie des minorités actives (1979); L’Âge des foules: un traité historique de psychologie des masses (1981); La Machine à faire les dieux (1988); Social Repsentations: Explorations in Social Psychology (2000); De la nature: pour penser l’écologie (2002); Réenchanter la nature (2002); The Making of Modern Social Psychology (với Ivana Markova, 2006); Raison et cultures (2012); Le scandale de la pensée sociale (2013). NVK

Xem: É. Bréhier, Histoire de la philosophie (Paris, Alcan, 1929, q. 2, tr. 25). RB. Émile Bréhier (1876-1952): triết gia Pháp chuyên về triết học cổ điển và lịch sử triết học. Tác phẩm chính: Histoire de la Philosophie (7 q., sau rút còn 2 q., 1928-1932). NVK

Vicenzio di Gracia (15..-16.., hay Vicentio di Gracia, Vicentius Gracia), nhà toán học, thần học và triết gia người Ý. Xin đừng nhầm với Vicenzo de Gracia (1785-1856), một triết gia Ý khác (người chống chủ nghĩa phê phán của Kant và chủ nghĩa duy tâm của Hegel nhân danh kinh nghiệm) khoảng 2 thế kỷ sau. NVK

Ở đây, R. Blanché dùng các từ cũ, nay không còn phổ biến, là “méthode résolutive” và “méthode compositive”, nên chúng tôi không tìm cách chuyển ngữ mà dịch thẳng theo giải thích của Blanché như trên. NVK

Pappos thành Alexandreia (khg 290-350): một trong những nhà toán học lớn nhất của Hy Lạp cổ đại. Tác phẩm chính: (Tập Hợp Toán Học = Collection, 8 q., khg năm 340), một tập hợp vừa hướng dẫn, vừa bình giải về các công trình toán học thuộc nhiều lĩnh vực của trên 30 nhà toán học cổ đại đương thời. NVK

Proklos thành Lykia (Proclus Lycaeus = Proclos thành Lycie, 412-485), hay Próklos ho Diádokhos (Proklos Kẻ Kế Thừa = Proclus the Successor = Proclos le Diadoque): triết gia Hy Lạp thuộc trường phái Tân-Platôn ở Athênai, người đã triển khai một trong các hệ thống Tân-Platôn đầy đủ nhất và có ảnh hưởng lớn trên nền triết học Tây Phương thời Trung Cổ. Tác phẩm chính đã được dịch sang tiếng Anh: về các đối thoại của Platôn, về quyển của Eukleidês, Platonic Theology, Elements of Theology, Elements of Physics. NVK.

(H)Ipparkhos (190-120 tCn) là nhà thiên văn học, nhà toán học, nhà địa lý học người Hy Lạp (thời Hy Lạp hóa). Về thiên văn, ông đã xác định vĩ tuyến và kinh tuyến của hoàng đạo, của 850 ngôi sao, đưa ra khái niệm cấp sao biểu kiến, phát hiện ra hiện tượng tuế sai trong chuyển động của các hành tinh, tính toán chính xác độ dài của 1 năm và khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trăng. Về toán học, (H)Ipparchus là một trong những nhà tiên phong về lượng giác học. NVK.

Xem: Epikouros, Lettre à Pythoclès. Bản dịch của O. Hamelin ( Revue de métaphysique et de morale, 1910, tr. 420). RB. Octave Hamelin (1856-1907)*: triết gia Pháp, dịch giả của nhiều triết gia Hy Lạp cổ đại. NVK

Andreas Osiander (1498-1552)* nhà thần học Phổ theo khuynh hướng cải cách của Martin Luther*. Ông chủ yếu được biết tới như người đã xuất bản tác phẩm cách mạng của Kopernik, nhưng với một bài tựa mang nội dung gây tranh cãi như trên (bởi vì dù được viết ra nhằm bênh vực Mikolaj Kopernik, nó lại biểu thị quan điểm hình thức và công thức “cứu giữ hiện tượng” của các nhà thiên văn Hy Lạp cổ đại, vốn không phải là quan điểm hiện thực của Kopernik). Xem bản dịch bài tựa này trên trang mục Vật Lý & Thiên Văn Học khi có thể tham khảo. NVK.

Về đoạn này, xem: A. Lalande, Les Théories de l’induction et de l’expérimentation (Paris, Boivin, 1929, Ch. V: Développement de l’hypothèse-conjecture). André Lalande (1867-1963): triết gia Pháp. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là quyển từ điển triết học Vocabulaire technique et critique de la philosophie (1927, 2006).

Petrus Ramus (Pierre de La Ramée, khg 1515-1572): nhà lô-gic học và triết gia Pháp, được xem là một trong các nhà bác học nhân bản nhất trong thế kỷ XVI. Ông cải đạo từ Cơ Đốc giáo sang thần học của Jean Calvin, và bị ám sát khi xảy ra các cuộc tàn sát người Huguenots (những người Pháp theo nền thần học Calvin thuộc Giáo hội Cải cách Kháng Cách tại Pháp) trong ngày lễ Thánh Barthélemy (24-8-1572). NVK

Collège Royal (Trường Hoàng Gia) làtên đầu tiên của Collège de France* ngày nay (Trường Quốc Học Pháp). NVK

Trong phần đầu của Astronomia nova; được trích dẫn bởi: A. Koyré, La Révolution astronomique : Copernic, Kepler, Borelli (Paris: Hermann, 1961, tr. 394). Xem: sđd, tr. 96-97, 129-131, 381-382.

Tycho Brahe (Tyge Ottesen Brahe, 1546-1601): nhà thiên văn học, nhà chiêm tinh và nhà giả kim người Đan Mạch. Ông được xem là cha đẻ của ngành thiên văn quan sát trước khi có kính viễn vọng. Ngoài việc khám phá ra một sao mới trong chòm sao Cassiopeia (nay gọi là sao SN1572, cách Trái Đất 7500 năm ánh sáng), Tycho Brahe còn để lại một học thuyết về hệ thống các hành tinh mang tên ông. Ở đây, Tycho Brahe bác bỏ cả hai thuyết nhật tâm và địa tâm mà đưa ra một hệ lai tạp, cho rằng Mặt Trời và Mặt Trăng quay quanh Trái Đất, trong khi mọi hành tinh khác quay quanh Mặt Trời. NVK.

Xem: B. Pascal, Les Provinciales (tựa đầy đủ : Lettres écrites par Louis de Montalte à un provincial de ses amis et aux RR. PP. Jésuites sur le sujet de la morale et de la politique de ces Pères) là một tập hợp 18 bức thư, viết khoảng 1656-1657, trước hết nhằm bênh vực nhà thần học Antoine Arnauld (bị kết tội theo giáo phái của Cornelius Jansen), nhưng sau đó phê phán luôn cả Dòng Tên, đặc biệt về sự lỏng lẻo của nhiều cố đạo trên các vấn đề thần học có nghi nghĩa. NVK

Robert Hooke (1635-1703), triết gia và nhà khoa học đa ngành Anh, được xem là một trong những nhà khoa học kinh nghiệm chủ nghĩa lớn nhất thế kỷ VII và nhân vật mấu chốt của cuộc cách mạng khoa học đương thời. Trước tác của ông được tập hợp trong: Collection of Lectures: Physical, Mechanical, Geographical and Astronomical (1679), The Posthumous Works of Robert Hooke (1705). NVK

Theo nghĩa của Descartes. “Với kích thước, tôi chẳng hiểu gì khác hơn là cái phương thức và mối tương quan qua đó một đối tượng bất kỳ được xem là có thể đo lường được, nghĩa là hiểu thế nào để không chỉ có chiều dài, chiều rộng và chiều sâu là những kích thước của vật thể thôi, mà sức nặng còn là kích thước qua đó đối tượng được cân đo, tốc độ còn là kích thước của chuyển động, và vô số những thứ khác cùng loại như vậy nữa” (, XIV; G. Le Roy dịch, Boivin, 1933, tr. 175). Hay, đơn giản hơn: “Ta còn có thể, khi thấy có bao nhiêu chất lượng khác nhau để đo lường ở mỗi vật thể, thì gán cho nó bấy nhiêu kích thước khác biệt” (Thư gửi Debeaune, 30-4-1639; Trg: Oeuvres philosophiques, F. Alquié chủ biên, Paris, Garnier, 1967, q. II, tr. 129).

G. Bénézé đã ghi nhận đúng đắn rằng, nhờ đo lường, con số cũng can thiệp vào sự quy định những cái bất biến vốn là loại thực thể thường gặp của nhà vật lý học. Thí dụ: khi trọng lượng và sự gia tốc được đo riêng, người ta thấy rằng tỉ số P/G là không đổi, và sự ổn định này định nghĩa cái bất biến gọi là khối lượng trong cơ học cổ điển. Những thực thể vật lý thoát khỏi tri giác đã hiện ra như vậy, như ở trường hợp hiển nhiên trong lĩnh vực điện từ. Chỉ cần các phương trình đưa ra những con số không đổi, là những bất biến này sẽ có chỗ đứng trong thế giới vật lý, và chính đáng hơn loại phẩm chất cảm tính rất nhiều. RB. Georges Bénézé (1888-1978): triết gia Pháp. Tác phẩm: Allure du transcendantal (1936); Valeur: Essai d’une théorie générale (1936); La Méthode expérimentale (1954); Généreux Alain (1962); Le nombre dans les sciences expérimentales (1962).

Xem: Jean Ullmo*, La Pensée scientifique moderne (Paris: Flammarion, 1958, tr. 28), và trên trang mục Triết lý Khoa Học ở đây: Jean Ullmo, Định Nghĩa Thao Tác.

Xin nhắc lại rằng, vật lý học đương thời được xem là một phần của triết học, và danh giá hơn toán học.

Galileo Galilei, Thư gửi Belisario Vinta (7-5-1610); Trg : P. H. Michel, sđd, tr. 360.

Galileo Galilei, Thư gửi Fortunio Liceti, (1-1641); Trg : P. H. Michel, sđd, tr. 430.

Hằng số Avogadro (ký hiệu N A hoặc L) là một hằng số tỉ lệ thuận liên hệ số hạt (nguyên tử, phân tử hoặc ion) trong một mẫu với lượng chất trong mẫu đó. Hằng số Avogadro có đơn vị là nghịch đảo của mol, và được xác định là N A = 6,022 140 76 × 10 23 1 ( mol là đơn vị lượng chất trong hệ đo lường quốc tế SI, được chấp nhận năm 1971). Nói tóm gọn, hằng số Avogadro là số nguyên tử có trong 1 mol chất. Đây là một con số rất quan trọng trong vật lý và đặc biệt là hoá học, được đặt tên theo nhà vật lý và hóa học người Ý Amedeo Avogadro (Lorenzo Romano Amedeo Carlo Avogadro, 1776-1856). Tác phẩm của ông nay được tập hợp trong: Opere scelte di Amedeo Avogadro (1911).

Xem: J. Piaget*, Introduction à l’épistémologie génétique (Paris, PUF, q. II, 1950, tr. 79-83).

Về điểm này, thư từ trao đổi của Descartes cho khá nhiều thông tin, cụ thể là những bức thư gửi cho Ferrier vào cuối năm 1629.

Như: Accademia del Cimento (Florence, 1657), Royal Society (London, 1662), Académie des Sciences (Paris, 1666).

Perspicillum (từ Galileo đặt ra trong Sidereus Nuncius, năm 1610). Do động từ perspiciō = See through something = Voir au travers de; Perceive or discern clearly =Percevoir avec clarté. Perspicillum có thể được hiểu là cái giúp ta thấy rõ, cái khiến ta sáng suốt. NVK

Xem: M. Daumas, Esquisse d’une histoire de la vie scientifique, trg: Histoire de la science (Paris, Gallimard, 1957, tr. 122).

Do Hoàng hậu Jeanne de Navarre Đệ nhất (vợ Vua Philippe Le Bel, trị vì 1285-1314) cho xây tại Paris từ tiền bán di sản riêng (viên đá đầu được đặt năm 1309), để nhận học viên từ quê hương Navarre của bà; nhưng thật ra, Trường nhận mọi học viên nghèo, không phân biệt điều kiện xã hội hoặc tuổi tác. Collège de Navarre chỉ dạy thần học, lô-gic học và ngữ pháp, không dạy y học và luật học; được xem là thuộc hệ thống Đại học Paris lịch sử, cạnh tranh với Sorbonne, và nổi tiếng nhờ thư viện của nhà trường. Trong thời Đại Cách Mạng, Trường bị dẹp bỏ, thư viện bị phân tán, và văn khố bị thất lạc. Năm 1805, Napoleon cho lập Trường Bách Khoa tại địa điểm và từ những cơ sở cũ của Collège de Navarre. NVK

Jean-Antoine Nollet (1700-1770): tu viện trưởng, nhà vật lý học Pháp. Tác phẩm: Cours de physique expérimentale (1735); Leçons de physique expérimentale (6 q., 1743-1764); Conjectures sur les causes de l’électricité des corps (1745); Observations sur quelques nouveaux phénomènes d’électricité (1746); Essai sur l’électricité des corps (1750); Recherches sur les causes particulieres des phénomènes électriques (1749); Lettres sur l’électricite (1760); L’Art des expériences (3 q., 1770, 1784, 1787). NVK

John Theophilus Desaguliers (Jean Théophile Desaguliers, 1683-1744): mục sư Anh giáo, triết gia tự nhiên tích cực phổ biến tư tưởng của Newton, một trong các nhà sáng lập Hội Tam Điểm người Anh gốc Pháp. Tác phẩm khoa học: A Course of Experimental Philosophy (2 q., 1734-1744); A Dissertation Concerning Electricity (1742).

Giovanni Vailati đã giải thích xuất sắc sự tương thuộc giữa phương pháp giả thuyết-diễn dịch và thực tiễn thí nghiệm trong La méthode déductive comme instrument de recherche ( Revue de métaphysique et de morale, 1898, tr. 673-674).RB.Giovanni Vailati (1863-1909): nhà toán học, triết gia và sử gia khoa học Ý. Tác phẩm: Opere di Giovanni Vailati(Open Library, Internet Archive). Xem bản dịch trích dẫn quan trọng trong chú thích của RB ở đây trên trang mục này: Giovanni Vailati, Từ Giả-Thuyết Diễn Dịch Đến Thực Tiễn Thí Nghiệm.

Tiếng Pháp “toutes choses égales d’ailleurs”, do thành ngữ La-tinh “ceteris paribus sic stantibus”, thường được viết tắt là “ceteris paribus”, và có nghĩa là chỉ xem xét mỗi lần một thông số, và bỏ ra ngoài những tham số khác của trường hợp, xem như chúng không thay đổi. NVK

Édouard Le Roy (1870-1954): triết gia người Pháp. Tác phẩm: Sur l’intégration des équations de chaleur (1898);Science et philosophie (1899);Dogme et critique (1907);Une philosophie nouvelle: Henri Bergson (1912);a pensée mathématique pure (giáo trình ở College de France 1914-1915 và 1918-1919, xb năm 1960);Qu’est-ce-que la Science? (1926);L’Exigence idéaliste et le fait de l’évolution (1927);Les Origines humaines et l’évolution de l’intelligence(1928), La Pensée intuitivee problème de Dieu (1929);Essai d’une philosophie pmière: l’exigence idéaliste et l’exigence morale(skc, 2 q.1956-1958). NVK

Và tiếp tục nằm ở đấy cho đến giữa thế kỷ XVIII!

Xem: S. F. Mason, Histoire des sciences, bản dịch của Vergnaud (Paris, A. Colin, 1956, tr. 105). RB. Stephen Finney Mason (1923-2007): nhà hóa học và khoa học sử Anh. Tác phẩm: A history of the sciences: main currents of scientific thought (1956); Molecular Optical Activity and the Chiral Discriminations (1982); Chemical Evolution: Origins of the Elements, Molecules and Living Systems (1991). NVK

Xem: B. Palissy, Discours admirables de la nature des eaux et fontaines, 1580. Trg: Oeuvres complètes (nxb Cap, 1844, tr. 137 và 157).


【#6】Cac Phuong Phap Kiem Nghiem Vi Sinh Thuc Pham

Published on

CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM VI SINH THỰC PHẨM

  1. 1. Chương 5: CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM VI SINH THỰC PHẨM
  2. 2. Chuẩn bị mẫu * Thu mẫu ngẫu nhiên, tại nhiều vị trí để có tính đại diện * Mẫu chứa trong bình nhựa hay bao nilon * Bảo quản lạnh trong quá trình vận chuyển * Bảo quản -200C cho đến khi phân tích hoặc 0- 40C trong vòng 36h * Giải đông ở 2-50C trong 18h hoặc 450C trong 15 phút * Đồng nhất mẫu trước khi phân tích
  3. 3. * Phương pháp MPN (most probable number): phương pháp định lượng theo số lượng VSV có xác xuất cao nhất dựa vào kết quả định tính của một loạt thí nghiệm được lặp lại ở một số độ pha loãng khác nhau
  4. 4. Các loại môi trường nuôi cấy VSV * Về bản chất của thành phần môi trường: – Môi trường tự nhiên – Môi trường tổng hợp – Môi trường bán tổng hợp Mt tổng hợp hoặc bán tổng hợp dưới dạng đông khô thương phẩm của các hãng MERCK, OXOID,DIFCO, BBL, HIGH-MEDIA
  5. 5. * Về tính chất vật lý: – Môi trường lỏng – Môi trường rắn – Môi trường bán rắn (xốp) * Về công dụng: – Môi trường tiền tăng sinh – Môi trường tăng sinh – Môi trường chọn lọc – Môi trường thử nghiệm sinh hóa
  6. 6. QUI TRÌNH PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU VI SINH VẬT
  7. 7. 1. TỔNG SỐ VI KHUẨN HIẾU KHÍ * Chỉ thị mức độ vệ sinh của thực phẩm, đánh giá chất lượng của mẫu về VSV, nguy cơ hư hỏng, thời hạn bảo quản của sản phẩm. * Xác định bằng phương pháp đếm khuẩn lạc * Biểu diễn bằng đơn vị CFU/g hay CFU/ml
  8. 8. Mẫu Cấy mẫu bằng pp hộp đổvới 10-15ml mt Plate Count Agar Đếm khuẩn lạc Đồng nhất mẫu Pha loãng thành dãy các nồng độ thập phân Dung dịch nước muối pepton Lắc đều, ít nhất 2 phút Chọn 2 nồng độ pha loãng thích hợp, chuyển 1ml mẫu vào các đĩa petri vô trùng ( mỗi nồng độ 2 đĩa) Ủ 300C, 72h QUI TRÌNH ĐỊNH LƯỢNG TỔNG SỐ VI KHUẨN HIẾU KHÍ
  9. 9. Cách tính kết quả * Chọn các đĩa có số khuẩn lạc từ 25 – 250 * Mật độ VK trong 1g hay 1ml mẫu: N n1Vf1 + …+ niVfi A: số tế bào VK trong 1g hay 1ml mẫu N: số khuẩn lạc đếm được trên các đĩa đã chọn ni: số lượng đĩa cấy tại độ pha loãng thứ I V: thể tích dịch mẫu (ml) cấy vào trong mỗi đĩa fi: độ pha loãng tương ứng A =
  10. 10. * Mt nước muối pepton (SPW) – 8,5g NaCl – 1g pepton – Nước cất cho đủ 100ml
  11. 11. 2. COLIFORMS VÀ chúng tôi * Coliforms là nhóm VK Gram âm, hiếu khí hoặc kỵ khí tùy ý, không sinh bào tử, lên men lactose sinh hơi trong 24- 48h ở 350C * Nhóm Coliforms bao gồm 4 giống là Escherichia coli, Enterobacter aerogenes, Klebsiella pneumoniae và Citrobacter
  12. 12. * Coliforms chịu nhiệt là những coliforms có khả năng lên men sinh hơi khi ủ 440C trong mt EC (E.coli medium) * Coliforms phân là những coliform chịu nhiệt có khả năng sinh Indol trong mt trypton * chúng tôi là coliforms phân cho kết quả thử nghiệm IMViC (++–) * Nhóm Coliform sinh hơi khi nuôi trong mt canh thang lactose mật bò BGBL (Brilliant Green Bile Broth Lactose) và LSB ( Lauryl Sulphate Broth) * Định lượng bằng phương pháp đếm khuẩn lạc, MPN (Most Probable Number)
  13. 13. * Thử nghiệm Indol: – Vi khuẩn được cấy vào trong môi trường canh thang tryptophan, để ở 35° – 37°C trong 18 – 24h. – Nhỏ 3 – 5 giọt thuốc thử Kovac vào trong ống nghiệm. Quan sát kết quả. Phản ứng (+) sẽ xuất hiện vòng màu đỏ phía trên dung dịch nuôi cấy * Cơ sở khoa học: Vi khuẩn có enzyme tryptophanase có khả năng thủy phân acid amin tryptophan sinh indol, acid pyruvic và NH3+. Indol sinh ra sẽ kết hợp với nhóm (CHO) của p – dimetthylaminobenzaldehyd có trong thuốc thử Kovac hình thành nên phức hợp màu đỏ.
  14. 14. * Thử nghiệm MR (Methyl-Red) – Kiểm tra khả năng tạo và duy trì acid được tạo ra từ quá trình lên men glucose của vi sinh vật – Thực hiện: Nuôi VSV trên canh thang (broth) MR-VP, thêm 5 giọt dung dịch đỏ methyl 0,2% (chỉ thị pH), phản ứng (+) khi mt có màu đỏ
  15. 15. * Thử nghiệm VP (Voges-Proskauer): – Xác định khả năng sinh acetylmethylcarbinol (acetoin) trong quá trình lên men glucose của một số vi sinh vật. – Thực hiện: nuôi VSV trên MR-VP Broth, nhỏ 6 giọt dung dịch a-napthol 5%, 2 giọt KOH 40%. Phản ứng (+) khi có màu đỏ xuất hiện sau 15-20 phút
  16. 16. * Thử nghiệm citrate: – Xác định khả năng sử dụng citrate như là nguồn carbon duy nhất trong quá trình biến dưỡng của vi sinh vật. – Môi trường (Simmons citrate) có chứa muối ammonium vô cơ. Vi sinh vật có khả năng sử dụng citrate làm nguồn Carbon duy nhất thì có khả năng sử dụng muối Amonium làm nguồn Nitơ và sinh NH3 làm môi trường trở nên kiềm. Trong mt có Bromthymol blue – chất chỉ thị pH, chuyển từ xanh lục sang xanh dương khi mt kiềm. – Thực hiện: nuôi VSV trên mt Simmons citrate, ủ 24h, phản ứng (+) khi mt chuyển từ màu xanh lục sang xanh dương.
  17. 17. Qui trình định lượng Coliforms, coliforms chịu nhiệt, coliforms phân và chúng tôi bằng pp MPN Chuẩn bị dịch đồng nhất hoặc pha loãng mẫu để có độ pha loãng 10-1, 10-2, 10-3… Chuyển 1ml dung dịch 10-1, 10-2, 10-3 vào ống 10ml canh LSB, mỗi nồng độ 3 ống lặp lại, ủ 370C, 48h Ghi nhận các ống LSB (+) ở mỗi nồng độ pha loãng Cấy vào ống canh BGBL ủ 37 + 10C, 48h Cấy vào ống canh EC ủ 44,5 + 0,20C, 24h Số ống (+) ở mỗi độ pha loãng Số ống (+) ở mỗi độ pha loãng Coliforms Coliforms chịu nhiệt
  18. 18. Cấy lên thạch EMB, ủ 370C, 24h Chọn khuẩn lạc điển hình (tròn, dẹt hình đĩa, có ánh kim tím), cấy vào canh Trypton, ủ 44,5 + 0,20C, 24h Chọn khuẩn lạc điển hình (tròn, dẹt hình đĩa, có ánh kim tím), cấy vào canh Trypton, MR- VP, SC Citrate ủ 44,5 + 0,20C, 24h Thử nghiệm Indol Thử nghiệm IMViC Đếm số ống canh EC(+) và Indol (+), tra bảng MPN Đếm số ống canh EC(+) và IMViC (++–), tra bảng MPN Coliforms phân chúng tôi Eosin Methylene Blue Agar: phân biệt có lên men lactose hay không? Sinh acid phản ứng thuốc nhuộm tạo màu ánh kim tím
  19. 19. * Mt LSB – Trypton: 20g – Lactose: 5g – KH2PO4: 2,75g – K2HPO4: 2,75g – NaCl:5g – Sodium lauryl sulfate:0,1g – Nước cất: 1 lít pH cuối 6,8 + 0,2. Phân phối vào các ống nghiệm có ống Durham
  20. 20. * Mt BGBL – Peptone: 10g – Lactose: 10g – Mật bò: 20g – Brilliant green: 0,0133g – Nước cất: 1 lít Hòa tan từng loại rồi trộn chung. pH cuối 7,2 + 0,2. Phân phối vào các nghiệm chứa ống Durham.
  21. 21. * Mt EC – Trypton: 20g – Muối mật: 1,5g – Lactose: 5g – KH2PO4: 1,5g – K2HPO4:4g – NaCl: 5g – Nước cất: 1 lít pH cuối 6,9 + 0,2. Rót vào các ống nghiệm có chứa ống Durham.
  22. 22. * Mt canh Trypton – Trypton :10g – Nước cất: 1 lít pH 6,9 + 0,2
  23. 24. Thử nghiệm Indol Thử nghiệm IMViC Đếm số ống canh EC(+) và Indol (+) Đếm số ống canh EC(+) và IMViC (++–), tra bảng MPN Coliforms phân E.coli
  24. 25. * Mt TSA (Tryptic Soy Agar) – Trypticase pepton: 15g – Phytone pepton: 5g – NaCl:5g – Agar: 15g – Nước cất:1 lít pH 7,3 + 0,2
  25. 26. * Mt VRB (Violet Red Bile Agar) – Cao nấm men: 3g – Pepton: 7g – NaCl: 5g – Muối mật: 1,5g – Lactose: 10g – Neutral red:0,03g – Crystal violet: 0,002g – Agar: 15g – Nước cất: 1 lít pH 7,4 + 0,2
  26. 27. 3. Staphylococcus aureus * VK hiếu khí hay kỵ khí tùy ý, hình cầu, Gram dương, có thử nghiệm coagulase, có khả năng lên men và sinh acid từ mannitol, sucrose. * Sản sinh độc tố đường ruột enterotoxin bền nhiệt, không bị phân hủy 1000C trong 30 phút. * Gây triệu chứng nôn mữa, tiêu chảy kéo dài
  27. 28. Qui trình định lượng Staphylococcus aureus Chuẩn bị dịch đồng nhất hoặc pha loãng mẫu để có độ pha loãng 10-1, 10-2, 10-3… Chuyển 1ml dung dịch 10-1, 10-2, 10-3 vào ống 10ml canh MSB, mỗi nồng độ 3 ống lặp lại, ủ 370C, 48h Chọn ống (+) (mt chuyển từ đỏ sang vàng) ở mỗi độ pha loãng Ria lên đĩa thạch BPA, ủ 370C, 48h Trải lên đĩa thạch BPA, ủ 370C, 24- 48h, trải lên đĩa thạch máu, ủ 370C, 24h Chọn khuẩn lạc đặc trưng (lồi, đen bóng có vòng sáng rộng bao quanh) Đếm số khuẩn lạc đặc trưng Đếm số khuẩn lạc không đặc trưng
  28. 29. Cấy vào TSA, ủ 37 + 10C, 24h Lấy 5 khuẩn lạc đặc trưng cấy vào TSA, ủ 37 + 10C, 24h Thử nghiệm ngưng kết coagulase Tỉ lệ khuẩn lạc đặc trưng, coagulase (+) Mật độ S.aureus (MPN/g hoặc MPN/ml) Mật độ S.aureus (CFU/g hoặc CFU/ml) Ghi nhận số coagulase(+) ở mỗi nồng độ pha loãng Tra bảng MPN Lấy 5 khuẩn lạc không đặc trưng cấy vào TSA, ủ 37 + 10C, 24h Thử nghiệm ngưng kết coagulase Tỉ lệ khuẩn lạc không đặc trưng, coagulase (+)
  29. 30. * Thử nghiệm coagulase: VSV tiết ra enzym coagulase làm kết tụ các thành phần huyết tương tạo thành các khối đông làm đông huyết tương – Huyết tương người hay dạng đông khô thương phẩm hoặc tự điều chế bằng cách ly tâm máu chứa chất chống đông (citrate) để thu huyết tương – Cho vào ống nghiệm 0,5ml huyết tương, bổ sung 0,5ml dịch nuôi cấy chủng thuần. Trộn đều, ủ 370C. Kết quả (+) khi có xuất hiện khối kết tụ
  30. 31. * Mt MSB (Mannitol Salt Broth) – Cao thịt: 1g – Polypeptone:10g – NaCl:75g – Mannitol: 10g – Phenol red: 0,025g – Nước cất: 1 lít pH: 7,4 + 0,2
  31. 32. * Mt Baird- Parker (BPA), pH:7,0 – Trypton:10g – Cao thịt: 5g – Cao nấm men: 1g – Sodium pyruvate: 10g – Glycine: 12g – Lithium chloride.6H2O: 5g – Agar: 20g Đem hấp vô trùng. Bảo quản tủ lạnh dùng trong 1 tháng. Trước khi sử dụng, đun nóng chảy, thêm 5ml Bacto EY tellurite enrichment ấm vào 95ml mt trên. Đổ đĩa, sử dụng.
  32. 33. 4. Streptococcus phân * Liên cầu khuẩn có nguồn gốc từ phân, Gram dương, không di động không sinh bào tử, sống hiếu khí tùy ý nhưng tốt nhất trong đk kỵ khí. * Chỉ thị chất lượng vệ sinh thực phẩm
  33. 34. Qui trình định lượng Streptococcus phân Chuẩn bị dịch đồng nhất hoặc pha loãng mẫu để có độ pha loãng 10-1, 10-2, 10-3… Chuyển 1ml dung dịch 10-1, 10-2, 10-3 vào ống 5ml canh Azide Glucose, mỗi nồng độ 3 ống lặp lại, ủ 370C, 48h Trải lên mt Enterococcus Agar, ủ 440C, 48h Lấy 5 khuẩn lạc đặc trưng cấy vào TSA, ủ 370C, 24h Mật độ Streptococcus phân (CFU/g hay CFU/ml) Khẳng định (+): BHI chịu muối 6,5% (+), chịu pH 9,6 (+), catalase (-), oxidase (-) Ria các ống (+) lên thạch Bile Esculin, ủ 44 + 0,50C trong 48h Khuẩn lạc đặc trưng ( nâu đen) Đếm khuẩn lạc đặc trưng (màu hồng đến đỏ đậm, có thể có vòng trong suốt bao quanh khuẩn lạc) Thử nghiệm catalase (-) Số ống nghiệm (+) cho mỗi độ pha loãng: AG (+), BE (+), Catalase (-) Mật độ Streptococcus phân (MNP/g hay MNP/ml)
  34. 35. * Thử nghiệm catalase: Trên phiến kính hoặc nhỏ trực tiếp H2O2 30% trực tiếp lên sinh khối VSV. Ghi nhận (+) nếu có bọt khí sủi quanh sinh khối * Thử nghiệm oxidase Giấy lọc nhúng dung dịch 1% tetramethyl -p- phenylenediamin dihydrochloride hoặc oxalate. Dùng que cấy lấy sinh khối dàn đều lên miếng giấy lọc tại vị trí có thuốc thử, ghi nhận sự xuất hiện màu xanh dương
  35. 36. * Mt BHI (Brain Heart Infusion) – Dịch não dê: 200g – Dịch tim bò: 250g – Polypepton: 10g – NaCl: 5g – Na2HPO4:2,5g – Dextrose: 2g – Nước cất:1 lít
  36. 37. * Mt Bile Esculin agar – Cao thịt:3g – Pepton: 5g – Esculine:1g – Oxgall:40g – Fe citrate:0,5g – Agar:15g – Nước cất: 1 lít pH: 6,6 + 0,2
  37. 38. * Mt Azide Glucose – Trypton : 20g – Dextrose: 5g – K2HPO4: 4g – KH2PO4: 1,5g – NaCl: 5g – Sodium azide: 0,5g – Bromocresol purple:0,032g – Nước cất: 1 lít pH: 6,9 + 0,2
  38. 39. 4. Salmonella * Trực khuẩn Gram âm, hiếu khí và kỵ khí tùy ý, có khả năng di động, không tạo bào tử, lên men glucose và mannitol sinh acid nhưng không lên men saccharose và lactose, không sinh Indol, không phân giải ure, hầu hết đều sinh H2S. * Gây ngộ độc thực phẩm với các triệu chứng tiêu chảy, ói mửa, buồn nôn
  39. 40. Qui trình phát hiện Salmonella trong thực phẩm Đồng nhất 25g mẫu trong 225ml mt tăng sinh (BPW), ủ 370C, 18-24h Cấy 0,1ml dịch tăng sinh sang mt tăng sinh chọn lọc (RV), ủ 420C, 18-24h Chọn khuẩn lạc đặc trưng, cấy sang BHI hay TSA, ủ qua đêm Kết luận Salmonella (+) hay (-) trong 25 g mẫu Trên KIA/TSI: đỏ/vàng, có/không H2S, sinh hơi/không. Urease (-), Indol (-), VP(-), Manitol (+), Sorbitol (+) Phân lập khuẩn lạc đơn trên ít nhất 2 mt chọn lọc phân biệt (XLD,BS), ủ 370C, 24h Thử nghiệm ngưng kết kháng huyết thanh: Poly: O, Poly: H
  40. 41. * Trên mt XLD: khuẩn lạc có màu hồng trong suốt, có hay không có tâm đen * Trên mt BS: khuẩn lạc có màu nâu xám hay màu đen, thỉnh thoảng có xuất hiện ánh kim tím. Môi trường chung quanh khuẩn lạc chuyển thành màu nâu và sau đó thành đen nếu kéo dài thời gian ủ
  41. 42. * Thử nghiệm KIA/TSI – KIA chứa 2 loại đường glucose và lactose – TSI chứa 2 loại đường trên cùng với sucrose + chỉ sử dụng glucose: mt đỏ bề mặt, vàng phần sâu + dùng hết các đường: mt vàng toàn bộ + không sử dụng: đỏ trên bề mặt, phần sâu không đổi màu * Thử nghiệm H2S – Sử dụng chính loại mt trên do trong thành phần có sodium thiosulphate – VSV khử sulphate sinh H2S kết hợp ion Fe2+ của chỉ thị ferric ammonium citrate tạo kết tủa đen FeS
  42. 43. * Thử nghiệm urease: Mt urea lỏng chứa chỉ thị đỏ phenol. Dùng que cấy lấy khuẩn lạc chủng thuần cho vào ống nghiệm chứa 3ml mt. Ủ 370C, 48h. Thử nghiệm (+) khi mt trở thành màu đỏ tím và (-) khi mt giữa màu vàng cam * Thử nghiệm ngưng kết kháng huyết thanh (thực hiện song song chứng âm để loại ngưng kết giả). Phản ứng (+) khi tạo ngưng kết với kháng huyết thanh Poly O và Poly H
  43. 44. 4. Shigella * Trực khuẩn Gram âm, hiếu khí và kỵ khí tùy ý,cho thử nghiệm catalase (+), oxidase (-), lên men glucose không sinh hơi, không lên men và sinh acid từ lactose, không sinh H2S. * Tác nhân gây bệnh lỵ. Biểu hiện bệnh lý từ nhẹ tiêu chảy đến mức nặng đi tiêu ra máu, mất nước, sốt cao, bị co rút thành bụng.
  44. 45. Qui trình phát hiện Shigella trong thực phẩm Đồng nhất 25g mẫu trong 225ml mt tăng sinh (TSB), pH 7,2, ủ 370C, 16-20h Cấy 0,1ml dịch tăng sinh sang 10ml mt tăng sinh chọn lọc (GN), ủ 370C, 16-20h Chọn khuẩn lạc đặc trưng, cấy sang BHI hay TSA, ủ qua đêm 370C Kết luận Shigella (+) hay (-) trong 25 g mẫu Thử nghiệm sinh hóa: Trên KIA/TSI: đỏ/vàng, H2S (-), sinh hơi(-) Không di động trong thạch mềm, Oxydase (-) Phân lập khuẩn lạc đơn trên ít nhất 2 mt chọn lọc phân biệt (HE,DC), ủ 370, 24h Thử nghiệm sinh hóa khẳng định
  45. 46. * Trên mt thạch HE: khuẩn lạc Shigella có màu xanh nhạt, trong suốt * Trên mt thạch DC: khuẩn lạc Shigella có màu đỏ nhạt * Thử nghiệm sinh hóa khẳng định – Urease (-) – MR (+) – VP (-) – Thử nghiệm kháng huyết thanh dương tính : A,B,C,D
  46. 47. 4. Vibrio * Phẩy khuẩn, Gram âm, di động, sống kỵ khí tùy ý, catalase và oxidase (+), lên men glucose nhưng không sinh hơi, không sinh H2S, * Tác nhân gây bệnh tả do tạo độc tố tả là chlorae-toxin, có độ tính mạnh, chỉ cần 5µg có thể gây tiêu chảy ở người trưởng thành. * Triệu chứng ngộ độc là đau thắt vùng bụng, viêm nhiễm đường ruột và tiêu chảy.
  47. 48. Qui trình phát hiện và định danh Vibrio trong thực phẩm Đồng nhất 25g mẫu trong 225ml APW hoặc Colistine Ủ canh khuẩn ở 370C Chọn khuẩn lạc đặc trưng (V.parahaemolyticus :xanh; V.cholerae: vàng), ria trên TSA chứa 1% NaCl hay BHI , ủ qua đêm 370C Kết luận: V.parahaemolyticus hay V.cholerae Thử nghiệm sơ bộ: Trên KIA/TSI: đỏ/vàng, H2S (-), sinh hơi(-), di động trong thạch mềm, Oxydase (+), Gram (-) Ủ 370, 24h Thử nghiệm sinh hóa khẳng định Phân lập trên TCBS Sau 16-24h Phân lập trên TCBS Sau 6-8h
  48. 49. * Mt TCBS (Thiosulfate-Citrate-Bile-Salt- Sucrose) – Cao nấm men: 5g – Sucrose: 20g – Sodium thiosulfate.75H2O:10g – Sodium citrate.72H2O:10g – Sodium cholate:3g – Oxgall: 5g – NaCl:10g – Ferric citrate:1g – Bromothymol blue: 0,04g – Thymol blue: 0,04g – Agar: 15g – Nước cất: 1 lít Để vừa sôi nhấc ra, không hấp khử trùng
  49. 51. Qui trình định tính nấm mốc Đống nhất mẫu trong SDB thành độ pha loãng 10-1, ủ 300C, 1-7 ngày Cấy canh trường có nấm mốc mọc lên đĩa SDA, MEA hay PDA, ủ 300C trong 7 ngày Kết luận có hay không có nấm mốc
  50. 52. * Mt SDB (Sabouraud’s Dexrotrose Broth) – Polypepton: 10g – Dextrose: 40g – Nước cất: 1 lít * Mt PDA (Potato Dextrose Agar) – Khoai tây: 200g – Dextrose: 20g – Agar: 15-20g – Nước cất: 1 lít * Mt MEA (Malt Extract Agar) – Cao malt: 30g – Agar: 15-20g – Nước cất: 1 lít
  51. 53. Qui trình định lượng tống số nấm men nấm mốc Đồng nhất và pha loãng mẫu thành các độ pha loãng 10-1, 10-2, 10-3… Đếm khuẩn lạc nấm men, nấm mốc, tính mật độ (CFU/g) Định danh Trải 0,1ml mẫu lên đĩa DRBC hoặc DG18, ủ ngửa đĩa ở 250C, 5-7 ngày Cấy lên ống thạch nghiêng SDA, ủ 300C, 7 ngày
  52. 54. * Mt DG 18 (Dichloran 18% glycerol) – Glucose: 10g – Pepton: 5g – KH2PO4: 1g – MgSO4: 0,5g – Dichloran (0,2% trong etanol): 1ml – Glycerol: 220 ml – Agar: 15g – Choramphenicol: 0,1g – Nước cất: 1 lít
  53. 55. Các phương pháp hiện đại * Phương pháp phát quang ATP * Phương pháp ELISA * Phương pháp lai phân tử * Phương pháp PCR
  54. 56. Phương pháp phát quang sinh học ATP trong giám sát vệ sinh * ATP là dấu hiệu nhận biết sự tồn tại của vật chất sống * Có thể phát hiện nhanh ATP bởi lượng ánh sáng phát ra khi ATP kết hợp với enzym luciferase E + LH2 + ATP + O2 Oxyluciferin + AMP + CO2 + PPi (E: Luciferase, LH2:luciferin)
  55. 57. * Oxyluciferin phát ra ánh sáng vàng xanh và được ghi nhận trị số ánh sáng phát ra bằng một máy đo ánh sáng * ATP của eukaryote được tách chiết bởi các chất tẩy không ion như Triton X-100. ATP này được tách ra trước và bị thủy phân bởi ATPase được bổ sung vào. Sau đó mới trích ly ATP từ VSV bằng trichloacetic acid 5%.
  56. 58. Quệt trên bề mặt kiểm tra Thực hiện phản ứng Đọc kết quả trên máy đo sáng Qui trình phát hiện VSV bề mặt bằng dụng cụ Clean-Track
  57. 59. Phương pháp ELISA (Enzyme- Linked ImunoSorbent Assay) * Phương pháp miễn dịch là phản ứng kết hợp giữa một tế bào (kháng nguyên) với một kháng thể đặc hiệu. * Tín hiệu của phản ứng miễn dịch được nhận biết thông qua sự ngưng tủa hay kết dính của kháng nguyên- kháng thể hoặc bằng cách sử dụng các kháng thể đã đánh dấu bằng chất nhuộm phát huỳnh quang, đồng vị phóng xạ hay enzym)
  58. 60. Phương pháp hấp phụ miễn dịch dùng enzym (ELISA) sử dụng kháng thể đơn dòng phủ bên ngoài các đĩa giếng. Khi có kháng nguyên mục tiêu trong mẫu, nó sẽ gắn kết với kháng thể đã có trong giếng. Sau đó phức hợp này được phát hiện bằng cách sử dụng kháng thể thứ cấp có gắn enzym horseradish peroxidase hay alkaline phosphatase. Khi bổ sung cơ chất đặc hiệu của enzym vào giếng, enzym xúc tác phản ứng thủy phân cơ chất để tạo ra các sản phẩm có màu hay phát sáng. Từ đó định lượng kháng nguyên
  59. 61. Phương pháp lai phân tử * Dựa trên phản ứng bắt cặp giữa một mẫu dò (oligonucleotit) với DNA/RNA mục tiêu trong mẫu. Mẫu dò luôn được đánh dấu bằng chất phát huỳnh quang để có thể được nhận biết khi có phản ứng bắt cặp xảy ra.
  60. 62. * Trình tự: – Phá vỡ tế bào thu nhận DNA hoặc RNA – Mẫu dò có gắn đuôi oligodeoxyadenylic nucleotide (dA) và mẫu dò phát hiện chứa fluorescein isothiocyanate (F) ở đầu 5′ và 3′ của phân tử được đặt vào phản ứng. – Que thử được bao bọc với polydeoxythymidine (dT) để gắn được với oligodA của mẫu dò – Que thử được đặt vào ống đo chứa mẫu dò phát hiện được đánh dấu bằng enzym – Sau khi rửa loại phần enzym thừa, que thử được đặt vào ống đo chứa cơ chất tạo màu – Sau khi ủ để hiện màu, màu được phát hiện ở bước sóng 450nm
  61. 63. Phương pháp PCR * Khuyếch đại 1 trình tự DNA nhờ mồi chuyên biệt và nhận biết sản phẩm khuyếch đại bằng điện di sau khi nhuộm với ethidium bromide


【#7】Các Phương Pháp Xét Nghiệm Miễn Dịch Lâm Sàng

Các phương pháp xét nghiệm miễn dịch lâm sàng

Cập nhật: 12/4/2018 – Số lượt đọc: 14890

Trong phạm vi bài viết này sẽ trình bầy nguyên lý và kỹ thuật về một số phương pháp xét nghiệm miễn dịch và một số sản phẩm theo phương pháp xét nghiệm miễn dịch đó như: Xét nghiệm miễn dịch phóng xạ (RIA), xét nghiệm miễn dịch hóa phát quang (CLIA), xét nghiệm miễn dịch sắc ký, xét nghiệm miễn dịch enzyme (EIA, ELISA), xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang (F-EIA), x ét nghiệm miễn dịch dựa vào phản ứng kết tủa, x ét nghiệm miễn dịch dựa vào phản ứng ngưng kết, x ét nghiệm miễn dịch dựa vào phản ứng kết hợp bổ thể, x ét nghiệm miễn dịch dựa vào phản ứng trung hòa

I. Bản chất của xét nghiệm miễn dịch là sự kết hợp giữa kháng nguyên và kháng thể

Sự kết hợp giữa kháng nguyên và kháng thể phụ thuộc vào cấu trúc bề mặt của kháng nguyên và kháng thể. Sự kết hợp này xảy ra giữa một phần rất giới hạn giữa phân tử kháng nguyên (nhóm quyết định) và một phần rất giới hạn của phân tử kháng thể (trung tâm hoạt động).

Phản ứng kết tủa là sự kết hợp giữa kháng nguyên hòa tan lúc gặp kháng thể tương ứng, tạo thành tủa có thể quan sát trực tiếp bằng mắt thường hoặc nhờ soi kính lúp. Kháng nguyên đa hóa trị kết hợp với kháng thể hóa trị hai để tạo thành kết tủa hình mạng lưới 3 chiều. Phản ứng có thể thực hiện ở môi trường lỏng hoặc môi trường gel.

Kháng thể đặc hiệu với sự tham gia của bổ thể sẽ gây ly giải tế bào vi khuẩn hoặc một số tế bào động vật khác.

Kháng thể đặc hiệu có khả năng trung hoà độc tố, độc lực của vi sinh vật, làm mất đi một tính chất nào đó của vi sinh vật hoặc sản phẩm của nó.

Những thuốc nhuộm huỳnh quang như Fluorescein, Rhodamin có thể kết hợp với kháng thể mà không phá hủy tính chất đặc hiệu của kháng thể. Kháng thể liên hợp ấy có khả năng kết hợp với kháng nguyên và phức hợp KN-KT có thể quan sát ở kính hiển vi huỳnh quang.

Thiết bị: máy miễn dịch Vedalab Easy reader,

Nguyên lý: Phức hợp kháng kháng thể (KKT) gắn chất màu được phân bố đều trên bản giấy sắc ký. Kháng nguyên (KN) đặc thù của vi sinh vật được gắn cố định tại “vạch phản ứng”. Khi nhỏ huyết thanh cần xác định kháng thể (KT) lên bản sắc ký, KT đặc hiệu (nếu có) trong huyết thanh sẽ kết hợp với KKT gắn màu, phức hợp miễn dịch KT-KKT gắn màu này di chuyển trên giấy sắc ký sẽ bị giữ lại tại “vạch phản ứng” do KT kết hợp với KN vi sinh vật, kết quả “vạch phản ứng” hiện màu. Nếu trong huyết thanh không có KT đặc hiệu, ở “vạch phản ứng” KN không thể giữ được KKT gắn màu, vì vậy không hiện màu.

XI. Nhận định kết quả các phản ứng kết hợp Kháng nguyên – Kháng thể (Xét nghiệm miễn dịch)

X. Xét nghiệm miễn dịch dựa vào kỹ thuật hóa phát quang (CLIA)

– Máy miễn dịch hóa phát quang CLIA : Monobid TINTIN-S, Autoplex g2, Lumatic CLIA analyzer, NeoLumax

– Máy miễn dịch Glow CLIA: Siemens Immulite 2000, Siemens Advia Centaur CP/XP, Beckman Dxl 600 , Beckman Access 2

Nguyên lý: Kỹ thuật xét nghiệm miễn dịch hóa phát quang dựa trên nguyên lý kháng nguyên (chất có trong mẫu bệnh phẩm) kết hợp với kháng thể (chất có trong thuốc thử) nhờ chất đánh dấu có khả năng phát quang mà người ta có thể định lượng các chất có nồng độ rất thấp hoặc các chất bất thường trong cơ thể với độ chính xác rất cao so với các kỹ thuật hóa sinh thông thường khác.

Hiện nay, xét nghiệm miễn dịch . Các CLIA Kits được thiết kế để phát ánh sáng dựa trên phản ứng hóa phát quang đã được thực tế và công nghệ chứng minh là kết quả xét nghiệm chính xác hơn, dải đo rộng không cần pha loãng mẫu và nhạy hơn các phương pháp ELISA, EIA, FEIA đo màu thông thường và không cần ủ lâu hóa phát quang. Các bộ xét nghiệm CLIA có một phạm vi hoạt động xét nghiệm rộng hơn, độ nhạy cao và nhanh hơn so với các phương pháp ELISA đo màu thông thường.

Trong nhận định kết quả của các phản ứng giữa kháng nguyên và kháng thể trước hết phải lưu ý đến độ nhạy

Kết quả định tính cho biết trong mẫu xét nghiệm có hay không có kháng thể hoặc kháng nguyên. Thông thường kết quả các phản ứng được ký hiệu bằng các mức độ dương tính (+, + +, + + +) , không rõ dương tính hay âm tính (+/-), âm tính (-). Các ký hiệu này tuy có tiêu chuẩn quy định nhưng phụ thuộc vào chủ quan của người đọc kết quả.

Chẩn đoán gián tiếp các bệnh nhiễm trùng qua việc xác định kháng thể trong huyết thanh được gọi là chẩn đoán huyết thanh học. Kết quả định lượng trong chẩn đoán huyết thanh cho biết hiệu giá kháng thể. Nồng độ kháng thể trong huyết thanh cao hay thấp được đánh giá qua hiệu giá kháng thể. Thông thường kháng thể người bệnh được pha loãng dần theo cấp sô 2 hoặc 4. Đậm độ huyết thanh thấp nhất cho kết quả dương tính thì đậm độ đó là hiệu giá.

Các phản ứng định lượng cần thiết để theo dõi động lực kháng thể của các huyết thanh kép thường lấy cách nhau 7 ngày. Động lực kháng thể là đại lượng đặc trưng cho mức độ thay đổi hiệu giá kháng thể theo thời gian. Trong nhận định, quan trọng là số thương chứ không phải hiệu số giữa hai lần kết quả. Đối với bệnh virus hiệu giá kháng thể tăng lên 4 lần mới có giá trị chắc chắn.

Là ranh giới giữa hiệu giá kháng thể bình thường và hiệu giá bệnh lý. Liên cầu thường cư trú ở hầu hết mọi người nên trong huyết thanh của hầu hết mọi người đều có kháng thể kháng streptolysin O (ASO). Vì thế người ta xem 1/200 (200 đơn vị /ml), là hiệu giá ranh giới. Chỉ khi nào trong huyết thanh có 400 đơn vị/ml trở lên mới là bệnh lý.

4. Kết quả dương tính giả

Hay gặp lúc làm phản ứng huyết thanh học vì kỹ thuật và trong một vài trạng thái sinh lý bệnh lý của người bệnh.

Trong huyết thanh học cổ điển chẩn đoán giang mai với các kháng nguyên lipoit có thể thấy nhiều kết quả dương tính giả (sốt rét, một số bệnh ký sinh trùng khác…). Trong thực tế người ta thực hiện nhiều phản ứng huyết thanh học khác nhau cùng một lúc để kiểm tra dương tính giả. Ví dụ Kolmer, Kaln, VDRL và nhất là dùng các kháng nguyên đặc hiệu để tránh dương tính giả, ví dụ TPI, FTA-Abs…

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng âm tính giả như: các thành phần tham gia phản ứng không được chuẩn độ, lượng kháng thể quá nhiều so với kháng nguyên và ngược lại, kháng thể mẫu hoặc kháng nguyên mẫu bị hỏng… Để khắc phục hiện tượng dương tính giả, âm tính giả phải chuẩn độ các thành phần tham gia phản ứng, đảm bảo đúng các điều kiện của phản ứng (dung dịch đệm, nhiệt độ, thời gian ủ…) và phải luôn luôn có chứng dương, chứng âm.

Kháng thể được liên hợp với thuốc nhuộm huỳnh quang rồi cho tác dụng với kháng nguyên. Ví dụ trong chẩn đoán vi khuẩn tả sau 6 – 8 giờ nuôi cấy ở nước pepton kiềm, làm một phiến phết rồi nhuộm với kháng huyết thanh liên hợp với Fluorescein. Quan sát ở kính hiển vi huỳnh quang, ta phát hiện thấy khuẩn tả phát huỳnh quang xanh lục nếu mầu phân dương tính.

Kháng thể được cho tác dụng trực tiếp với kháng nguyên rồi cho kết hợp với kháng globulin người liên hợp với Fluorescein. Trước hết cho kháng nguyên cố định lên tiêu bản rồi cho tác dụng với huyết thanh bệnh nhân, rửa để loại bỏ kháng thể thừa sau đó nhỏ một giọt globulin người gắn Fluorescein rồi quan sát ở kính hiển vi huỳnh quang. Phương pháp này được sử dụng để chẩn đoán bệnh giang mai (phản ứng FTA – Abs), bệnh tự miễn… Phương pháp gián tiếp có nhiều ưu điểm như: Sự phát huỳnh quang mạnh hơn, tiết kiệm được thời gian nếu nhiều huyết thanh được thử nghiệm cùng một lúc.

VII. Xét nghiệm miễn dịch dựa vào phản ứng miễn dịch Enzyme: ELISA, EIA (Enzyme-linked immunosorbent assay)

Nguyên lý: Kỹ thuật này sử dụng kháng thể hoặc kháng nguyên cố định vào một tấm polystyren. Sau đó nó được dùng để bắt kháng nguyên hoặc kháng thể đối ứng ở dung dịch thử nghiệm và phức hợp được phát hiện nhờ enzyme gắn với kháng thể hoặc kháng nguyên tác động lên cơ chất đặc hiệu. Cơ chất của enzyme thủy phân đo ở quang phổ kế, tỷ lệ với nồng độ của kháng thể hoặc kháng nguyên không biết ở trong dung dịch thử nghiệm.

Kháng nguyên hoặc kháng thể liên hợp với enzyme vẫn giữ hoạt tính miễn dịch. Enzyme được sử dụng có thể là photphatase kiễm hoặc peroxydase. Thử nghiệm cho kết quả khách quan và rất nhạy. Thử nghiệm miễn dịch liên kết enzyme được áp dựng để chẩn đoán những vi khuẩn như giang mai, Brucella, Salmonella , vi khuẩn tả..và các virus như virus viêm gan, virus sởi, virus rota…

VIII. Xét nghiệm miễn dịch dựa vào phản ứng miễn dịch phóng xạ (Radioimmunoassay: RIA)

Nguyên lý: Dùng đồng vị phóng xạ như Thymidin H 3, Cacbon 14, I 125 … đánh dấu kháng nguyên hoặc kháng thể để theo dõi phản ứng kết hợp kháng nguyên kháng thể. Có thể xác định vị trí của kháng nguyên (hoặc kháng thể) đã đánh dấu đồng vị phóng xạ bằng cách cho nhũ tương ảnh lên trên tiêu bản tổ chức học, sau đó phát hiện bằng các phương pháp chụp ảnh thông thường. Để phát hiện và đo lường đồng vị phóng xạ trong môi trường lỏng, ví dụ các đồng vị phát xạ beta (như thymidin H3, Cacbon C14), cần dùng một dung dịch nhấp nháy và đo trong máy đếm tự động. Phương pháp đồng vị phóng xạ không những có thể khu trú vị trí kết hợp một cách chính xác mà còn làm tăng độ nhạy cảm phản ứng lên hàng nghìn lần.

IX. Xét nghiệm miễn dịch dựa vào kỹ thuật sắc ký miễn dịch

2. Phản ứng trung hòa độc tố

Độc tố nói ở đây là ngoại độc tố. Nêú một liều chí mạng hay lớn hơn độc tố được hỗn hợp với một lượng thích nghi kháng độc tố đối ứng rồi tiêm hỗn hợp vào một động vật nhạy cảm thì con vật không bị nguy hiểm. Tính độc của độc tố đã bị kháng độc tố trung hòa. Cũng như những phản ứng miễn dịch khác, phản ứng này rất đặc hiệu: một độc tố chỉ trung hòa với kháng độc tố tương ứng.

Lượng kháng độc tố cần thiết để trung hòa một lượng độc tố phụ thuộc với cách thức hỗn hợp 2 cấu trúc với nhau vì tùy theo điều kiện thí nghiệm độc tố có khả năng kết hợp với kháng độc tố ở những tỷ lệ khác nhau. Nếu thay vì cho một lượng độc tố đã biết vào một lượng kháng độc tố để trung hòa, người ta cho lượng độc tố làm hai lần vào lượng kháng độc tố thì hỗn hợp không trung hòa đối với động vật thí nghiệm. Đó là hiện tượng Danysz. Người ta cho rằng lúc cho nửa lượng độc tố vào kháng độc tố thì độc tố kết hợp với nhiều kháng độc tố hơn và do đó số lượng phân tử kháng độc tố tự do còn lại ít không đủ để trung hòa lượng độc tố còn lại.

3. Phản ứng trung hòa virus

Nhiều loài virus phát triển ở nuôi cấy tế bào thì phá hủy các tế bào (hiện tượng tế bào bệnh lý) nhưng nếu cho kháng thể tương ứng của virus vào đồng thời với virus thì virus bị trung hòa không nhân lên được và hiện tượng tế bào bệnh lý không xảy ra. Phản ứng này được sử dụng để xác định hàm lượng kháng thể trong huyết thanh cũng như định type virus.

Mặt khác cũng có thể định lượng kháng thể của virus ở trong huyết thanh bằng cách hỗn hợp kháng huyết thanh với virus rồi tiêm hỗn hợp vào một nhóm động vật nhạy cảm. Nếu động vật thử nghiệm không cho thấy triệu chứng bệnh thì sự hiện diện của kháng thể trung hòa đã được chứng minh.

4. Phản ứng trung hòa enzyme

Nhiều enzyme của vi khuẩn có tính chất sinh kháng tốt và kích thích sự tạo thành kháng thể như streptolysin O, streptokinase của liên cầu khích động sự tạo thành kháng streptolysin O (antistreptolysin O – ASO), kháng streptokinase (anti streptokinase – ASK). Dựa trên nguyên tắc phản ứng trung hòa có thể định lượng kháng streptolysin O (ASO), kháng streptokinase (ASK) có trong huyết thanh của bệnh nhân để chẩn đoán nhiễm liên cầu. Đặc biệt phản ứng ASO phát hiện kháng thể kháng streptolysin O được sử dụng trong chẩn đoán bệnh thấp tim và viêm cầu thận cấp sau nhiễm liên cầu nhóm A.

VI. Xét nghiệm miễn dịch dựa vào phản ứng miễn dịch huỳnh quang: FEIA (Flourescence EIA)

Thiết bị thông dụng: Tosoh AIA-2000, Tosoh AIA-900, Tosoh AIA-600II, Tosoh AIA-360, Biomerieux Vidas, Wondfo Finecare II

2. Các giai đoạn tiến hành phản ứng kết hợp bổ thể

Trong phòng thí nghiệm người ta thực hiện phản ứng kết hợp bổ thể bằng cách ghép 2 hệ thống phản ứng:

– Trong hệ thống 1, kháng nguyên được cho tác dụng với kháng thể (một yếu tố biết, một yếu tố chưa biết). Nếu kháng nguyên và kháng thể phản ứng đặc hiệu thì tất cả lượng bổ thể kết hợp vào phức hợp kháng nguyên – kháng thể (KN-KT)

– Hệ thống thứ hai được sử dụng để nhận mặt bổ thể tự do (không kết hợp). Thêm vào hệ thống thứ nhất những hồng cầu cừu và huyết thanh kháng hồng cầu cừu (hệ thống tan máu). Lúc bổ thể kết hợp vào phức hợp KN-KT của hệ thống 1 thì không còn bổ thể để ly giải hồng cầu cừu đã nhạy cảm hóa. Nếu ở hệ thống 1, kháng nguyên và kháng thể không phản ứng đặc hiệu với nhau thì bổ thể tự do kết hợp với phức hợp hồng cầu cừu – kháng hồng cầu cừu và do đó làm tan hồng cầu cừu. Cho nên đọc kết quả phản ứng dương tính lúc không có tan máu và âm tính lúc có tan máu.

Phản ứng kết hợp bổ thể được sử dụng để chẩn đoán bệnh giang mai, bệnh virus cũng như để nhận mặt kháng nguyên và kháng thể.

V. Xét nghiệm miễn dịch dựa vào phản ứng trung hòa

2. Phản ứng kết tủa ở môi trường lỏng

Được thực hiện với kháng huyết thanh pha loãng hoặc không pha loãng. Kháng huyết thanh và kháng nguyên được trộn với nhau và quan sát kết tủa tạo thành. Cũng có thể cho kháng huyết thanh vào một ống nghiệm nhỏ rồi sau đó cho kháng nguyên dần dần vào theo thành ống. Một vòng kết tủa được quan sát ở mặt phẳng phân cách.

Cho phép xác định lượng kháng thể kết tủa với một lượng kháng nguyên đã biết. Cho một lượng kháng nguyên tăng dần vào một lượng kháng huyết thanh không đổi,lấy kết tủa bằng ly tâm và định lượng protein bằng những phương pháp thông thường để xác định lượng kháng thể đã phản ứng.

3. Phản ứng kết tủa ở môi trường gel

Kháng nguyên và kháng thể được đặt vào những lỗ đục ở trong thạch. Chúng khuếch tán và tạo nên những đường kết tủa ở trên mặt thạch. Một phẩm vật chứa nhiều kháng nguyên tạo thành nhiều đường kết tủa.

Những liên hệ miễn dịch giữa hai kháng nguyên có thể khảo sát bằng phản ứng khuếch tán đôi. Những dải kết tủa tạo thành có thể cho biết sự tương đồng miễn dịch, sự đồng nhất từng phần hoặc sự không liên hệ.

3.2. Phản ứng khuếch tán đơn

Có thể làm cho sự khuếch tán ở môi trường gel nhạy hơn bằng cách trộn kháng thể vào thạch. Kháng nguyên được cho khuếch tán từ một lỗ đục ở trên môi trường thạch chứa kháng thể. Lúc bắt đầu khuếch tán, kháng nguyên còn ở nồng độ cao nên tạo thành những phức hợp hòa tan. Lúc khuếch tán xa hơn, nồng độ hạ dần cho đến khi đạt một trị số thích nghi ở đó vòng kết tủa được tạo thành. Phương pháp này không những có thể ứng dụng để nhận mặt kháng nguyên mà còn có thể cho phép định lượng IgG ở trong huyết thanh.

III. Xét nghiệm miễn dịch dựa vào phản ứng ngưng kết

Phản ứng ngưng kết là sự kết hợp giữa kháng nguyên hữu hình với kháng thể tương ứng, tạo thành các hạt ngưng kết có thể quan sát được bằng mắt thường. Kháng nguyên có thể là vi khuẩn, hồng cầu, bạch cầu, tinh trùng.v.v… Phản ứng ngưng kết chi xảy ra nếu có chất điện giải, rõ nhất, nhanh nhất ở pH từ 7 đến 7,2 và ở nhiệt độ 37oC.

2. Phản ứng ngưng kết trực tiếp

Vi sinh vật sống và chết đều có khả năng ngưng kết với kháng thể. Với vi sinh vật sống, thực hiện phản ứng trên một phiến kính. Phản ứng này thường được sử dụng để nhận mặt vi khuẩn. Ngoài vi khuẩn, các tếbào như hồng cầu, tinh trùng… đều có khả năng ngưng kết với kháng thể đối ứng.

Trường hợp kháng nguyên là vi sinh vật chết, thực hiện phản ứng trong ống nghiệm để xác định hiệu giá kháng thể ở trong huyết thanh trong chẩn đoán bệnh như phản ứng Widal trong chẩn đoán bệnh thương hàn.

3. Phản ứng ngưng kết gián tiếp

Ở đây kháng nguyên và kháng thể chỉ ngưng kết khi có sự hiện diện của một nhân tố thứ 3. Phản ứng Coombs là một ví dụ. Người mẹ Rh- sinh đứa con Rh+ (kháng nguyên D). Lúc sinh con, hồng cầu Rh+ lọt vào máu người mẹ và khích động sự tạo thành kháng thể D. Kháng thể D có thể lọt qua nhau trong những lần mang thai sau. Phản ứng giữa kháng thể D và kháng nguyên D có thể phá hủy hồng cầu và gây nên chứng tan máu ở trẻ sơ sinh.

Để phòng ngừa cho bà mẹ Rh- khỏi bị nhạy cảm hóa bởi kháng nguyên D của đứa con Rh+, tiêm vào người mẹ ngay trước khi sinh đứa con thứ nhất một lượng nhỏ kháng thể D.

4. Phản ứng ngưng kết thụ động

Kháng nguyên hòa tan được hấp phụ lên bề mặt những nền mượn như hạt bentonit, hạt latex nhưng thông dụng nhất là hồng cầu cừu. Những hạt này ngưng kết với kháng thể nhờ sự hiện diện của kháng nguyên dính vào bề mặt chúng. Những hạt này khá lớn nên phản ứng dương tính có thể khám phá bằng mắt thường. Trong trường hợp hồng cầu được sử dụng làm giá mang kháng nguyên thì phản ứng được gọi là phản ứng ngưng kết hồng cầu thụ động.

Để phát hiện kháng nguyên, người ta gắn kháng thể lên nền mượn. Khi kháng thể gặp kháng nguyên đặc hiệu, hiện tượng ngưng kết sẽ xuất hiện. Loại này được gọi là phản ứng ngưng kết thụ động ngược.

Phản ứng ngưng kết thụ động nhạy hơn phản ứng ngưng kết trực tiếp nhờ hình thể tương đối lớn của những hạt mang kháng nguyên và độ đặc hiệu cao hơn phản ứng ngưng kết trực tiếp vì có thể tinh chế được các kháng nguyên hoặc kháng thể trước khi gắn lên nền mượn. Loại phản ứng này được dùng trong chẩn đoán nhiều bệnh nhiễm trùng như dịch hạch, Whitmore, viêm màng não mủ…

5. Phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu

Có một số virus có khả năng ngưng kết hồng cầu của một số động vật và phản ứng đó bị ức chế bởi kháng huyết thanh của virus. Đó là phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu. Phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu được sử dụng để chẩn đoán nhiều chứng bệnh virus như cúm, quai bị, sốt xuất huyết, đậu mùa.v.v…

IV. Xét nghiệm miễn dịch dựa vào phản ứng kết hợp bổ thể

3.1. Phản ứng khuếch tán đôi Ouchterlony

Theo Pauling, phân tử kháng thể thường hóa trị hai nghĩa là cùng một lúc có thể kết hợp với hai phân tử kháng nguyên. Còn kháng nguyên đa hóa trị nên cùng một lúc có thể kết hợp với nhiều phân tử kháng thể. Cho nên kháng nguyên và kháng thể kết hợp với nhau để tạo thành một phức hợp hình mạng lưới trong không gian ba chiều. Vì kích thước quá lớn nên phức hợp kết tủa hoặc ngưng kết.

Kháng nguyên và kháng thể có thể kết hợp với nhau theo bất cứ tỷ lệ nào nhưng phản ứng yếu đi nếu thừa hoặc thiếu kháng nguyên hoặc kháng thể. Phản ứng rõ rệt nhất lúc số phân tử kháng nguyên tương đương với số phân tử kháng thể.

Sự kết hợp giữa phân tử kháng nguyên và kháng thể xảy ra nhờ các lực như: lực liên kết ion (lực tĩnh điện Coulomb) giữa các nguyên tử hoặc các nhóm hoá học mang điện trái dấu, ví dụ giữa NH3+ và COO-, lực liên kết của các cầu nối hydro giữa các nguyên tử hydro mang điện tích dương với các nguyên tử mang điện tích âm, lực Van der Walls (lực hấp dẫn liên phân tử) giữa hai phân tử phụ thuộc vào tương tác giữa các lớp mây điện tử ở mặt ngoài và lực ố thuỷ nếu ở diện tiếp xúc cả phía kháng nguyên và kháng thể đều có các axít amin ố thuỷ thì khi kháng nguyên kháng thể kết hợp, nước sẽ bị đẩy ra tạo nên một lực gắn giữa các axít amin ố thuỷ đó, sự kết hợp này không phải là một phản ứng hóa học.

Phản ứng kết hợp giữa kháng nguyên và kháng thể rất đặc hiệu. Một kháng nguyên chỉ kết hợp với kháng thể do nó kích thích cơ thể tạo thành. Do đó phản ứng kết hợp kháng nguyên – kháng thể được sử dụng để xác định kháng nguyên hoặc kháng thể nếu một trong hai phân tử đã biết. Hiệu giá của kháng thể ở trong huyết thanh người hoặc động vật có thể xác định nhờ kháng nguyên đã biết và do đó cho biết sự tiếp xúc trước đó với kháng nguyên. Ngược lại nhờ kháng thể đã biết những kháng nguyên khác nhau của một vi sinh vật có thể nhận mặt. Mặt khác sự hiểu biết cấu tạo kháng nguyên cho phép chọn lựa thích đáng vi sinh vật dùng làm vaccine phòng ngừa bệnh nhiễm trùng.

II. Xét nghiệm miễn dịch dựa vào phản ứng kết tủa

CÁC TIN KHÁC

0938238868

[email protected]

Mr. Độ – 0938 238 868

[email protected]

Snibe-Dutch-Erba

Hotline: 0938238868

[email protected]

Ms. Lương – 02435 20 2226

[email protected]

Ms. Lương – 02435 20 2226

[email protected]


【#8】Giới Thiệu Một Số Phương Pháp Đánh Giá Hoạt Tính Sinh Học Các Hợp Chất Thiên Nhiên

    Phương pháp đánh giá hoạt tính diệt tế bào ung thư

Phương pháp 1: Phương pháp MTT (3--2,5-điphenyltetrazol brom). Ba dòng tế bào ung thư người dự kiến sẽ sử dụng là HL-60 (human acute promyeloid leukemia – ung thư máu), PC-3 (human prostate cancer – ung thư tuyến tiền liệt), SNU-C5 (human colon cancer – ung thư ruột kết) được nuôi cấy trong môi trường RPMI 1640 bổ sung 10% huyết thanh phổi bò (fetal bovine serum) và penicillin/streptomycin (tương ứng 100 U/mL và 100 mg/mL) ở 37 °C trong môi trường 5 % CO 2 được làm ẩm. Các tế bào phát triển theo cấp số nhân được sử dụng trong các thí nghiệm.

Phương pháp 2. Phương pháp của Monks thử độ độc tế bào in vitro

Phương pháp thử độ độc tế bào in vitro được Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute – NCI) xác nhận là phép thử độ độc tế bào chuẩn nhằm sàng lọc, phát hiện các chất có khả năng kìm hãm sự phát triển hoặc diệt tế bào ung thư ở điều kiện in vitro. Phép thử này được thực hiện theo phương pháp của Monks . Phép thử tiến hành xác định hàm lượng protein tế bào tổng số dựa vào mật độ quang học (Optical Density – OD) đo được khi thành phần protein của tế bào được nhuộm bằng Sulforhodamine B (SRB). Giá trị OD máy đo được tỉ lệ thuận với lượng SRB gắn với phân tử protein, do đó lượng tế bào càng nhiều (lượng protein càng nhiều) thì giá trị OD càng lớn. Phép thử được thực hiện trong điều kiện cụ thể như sau:

– Chất thử (10 μL) pha trong DMSO 10% được đưa vào các giếng của khay 96 giếng để có 20, 4, 0,8 và 0,16 μg/mL.

– Trypsin hóa tế bào thí nghiệm để làm rời tế bào và đếm trong buồng đếm để điều chỉnh mật độ cho phù hợp với thí nghiệm.

– Thêm vào các giếng thí nghiệm lượng tế bào phù hợp (trong 190 μL môi trường) và để chúng phát triển trong vòng từ 3-5 ngày.

– Một khay 96 giếng khác không có chất thử nhưng có tế bào ung thư (180 μL) sẽ được sử dụng làm đối chứng ngày 0. Sau 1 giờ, đĩa đối chứng ngày 0 sẽ được cố định tế bào bằng Trichloracetic acid – TCA.

Sau giai đoạn ủ trong tủ ấm CO 2 tế bào được cố định vào đáy giếng TCA trong 30 phút, được nhuộm bằng SRB trong vòng 1 giờ ở 37 o C. Đổ bỏ SRB và các giếng thí nghiệm được rửa 3 lần bằng 5% axit axetic rồi để khô trong không khí ở nhiệt độ phòng.

– Cuối cùng, sử dụng dung dịch tris (hydroxymethyl)aminomethane 10 mM để hòa tan lượng SRB đã bám và nhuộm các phân tử protein, đưa lên máy lắc đĩa lắc nhẹ trong 10 phút và sử dụng máy ELISA Plate Reader (Bio-Rad) để đọc kết quả về hàm lượng màu của chất nhuộm SRB thông qua phổ hấp thụ ở bước sóng 515 nm. Khả năng sống sót của tế bào khi có mặt chất thử sẽ được xác định thông qua công thức sau:

Các phép thử được lặp lại 3 lần để đảm bảo tính chính xác. Ellipticine (Sigma) luôn được sử dụng làm chất đối chứng dương và được thử nghiệm ở các nồng độ 10, 2, 0,4 và 0,08 μg/mL. DMSO 10% luôn được sử dụng như đối chứng âm. Giá trị IC50 sẽ được xác định nhờ vào phần mềm máy tính TableCurve.

Phương pháp 3: Phương pháp WST-8 tại Viện Y học tự nhiên, Đại học Toyama, Nhật Bản

Ngoài ra, hoạt tính gây độc tế bào còn được thử nghiệm theo phương pháp WST-8 tại Viện Y học tự nhiên, Đại học Toyama, Nhật Bản:

Các dòng tế bào A549 (ung thư phổi), HeLa (ung thư cổ tử cung) và TIG- 3 (tế bào thường) được duy trì trong môi trường MEMα (Wako pure chemicals Ind. Ltd., Osaka, Japan); PANC-1 và PSN-1 (ung thư tuyến tụy) được bảo quản trong môi trường DMEM (Wako pure chemicals Ind., Ltd., Osaka, Japan). Các môi trường này được bổ sung 10% fetal bovine serum – FBS (Gibco BRL Products Gaithersburg, MD) và 1% dung dịch kháng sinh (Sigma- Aldrich Inc., St. Louis, U.S.A.). Tế bào phát triển theo cấp số nhân được thu thập và 2×10 3 tế bào trong 100 μL môi trường được đưa vào mỗi giếng của khay 96 giếng (Corning Inc., NY, U.S.A ). Sau khi ủ 24 giờ trong tủ ấm 5% CO 2 ở 37 o C để cố định tế bào, tế bào được xử lý với các nồng độ khác nhau của mẫu thử trong môi trường tương ứng của chúng (100 μL). Sau 72 giờ, môi trường được thay đổi 10% WST-8 và cuối cùng là đếm % tế bào sống sót bằng cách đo mật độ quang tại 450 nm. 5-Fluorouracil được dùng làm đối chứng dương.

    Phương pháp đánh giá hoạt tính kháng viêm

Phương pháp 1

Những chủng vi khuẩn và nấm kiểm định gây bệnh ở người thường được sử dụng:

Bacillus subtilis (ATCC 6633): Là trực khuẩn gram (+), sinh bào tử, thường không gây bệnh.

Staphylococcus aureus (ATCC 13709): Cầu khuẩn gram (+), gây mủ các vết thương, vết bỏng, gây viêm họng, nhiễm trùng có mủ trên da và các cơ quan nội tạng;

Escherichia coli (ATCC 25922): Gram (-), gây một số bệnh về đường tiêu hoá như viêm dạ dày, viêm đại tràng, viêm ruột, viêm lỵ trực khuẩn.

Pseudomonas aeruginosa (ATCC 15442): Gram (-), trực khuẩn mủ xanh, gây nhiễm trùng huyết, các nhiễm trùng ở da và niêm mạc, gây viêm đường tiết niệu, viêm màng não, màng trong tim, viêm ruột.

Candida albicans (ATCC 10231): Là nấm men, thường gây bệnh tưa lưỡi ở trẻ em và các bệnh phụ khoa.

Lactobacillus fermentum (Lp B14): Gram (+), là loại vi khuẩn đường ruột lên men có ích, thường có mặt trong hệ tiêu hoá của người và động vật.

Enterococcus faecium (B650): Gram (+), vi khuẩn gây bệnh viêm đường tiết niệu, viêm ruột thừa, viêm màng trong tim, viêm màng não.

Cách tiến hành: Thực hiện dựa trên phương pháp vi định lượng trên môi trường lỏng. Đây là phương pháp thử hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định và nấm nhằm đánh giá mức độ kháng khuẩn mạnh yếu của các mẫu thử thông qua các giá trị thể hiện hoạt tính là MIC (nồng độ ức chế tối thiểu), IC50 (nồng độ ức chế 50%), MBC (nồng độ diệt khuẩn tối thiểu).

– Mẫu ban đầu được pha loãng trong DMSO và nước cất vô trùng thành một dãy 05 nồng độ là 128 μg/ml, 32 μg/ml, 8μg/ml, 2μg/ml, 0,5μg/ml

– Chuẩn bị dung dịch vi khuẩn hoặc nấm với nồng độ 5.105CFU/ml khi tiến hành thử.

– Chuẩn bị mẫu đối chứng: mẫu đối chứng (+) kháng sinh được pha trong nước cất theo nồng độ 10mg/ml và khử trùng bằng màng lọc Millipore 0,22μm; tiến hành các bước thì nghiệm tiếp theo tương tự như các chất thử khác. Mẫu đối chứng (-) chất thử được thay thế bằng nước cất vô trùng.

– Sau 24h đọc giá trị MIC bằng mắt thường. Giá trị MIC được xác định tại giếng có nồng độ chất thử thấp nhất gây ức chế hoàn toàn sự phát triển của vi sinh vật.

– Giá trị IC50 được tính toán dựa trên số liệu đo độ đục tế bào bằng máy quang phổ bước sóng λ = 492nm và phần mềm xử lý chuyên dụng.

Thí nghiệm được lặp lại với n = 3.

Phương pháp 2. Thử hoạt tính ức chế vi khuẩn bằng phương pháp khuếch tán đĩa thạch

Phương pháp thử hoạt tính ức chế vi khuẩn là phương pháp của Hadacek et al. (2000). Chủng vi khuẩn sau khi được hoạt hóa từ ống chủng gốc trên môi trường LB đặc, một khuẩn lạc được cấy chuyển sang 5 ml môi trường LB lỏng và lắc qua đêm ở nhiệt độ 37 oC . Đĩa thử hoạt tính được chuẩn bị bằng cách cấy trải 200 μL dịch khuẩn, nồng độ tương đương 4-5 × 108 CFU/ml lên bề mặt đĩa petri có chứa môi trường LB đặc, để khô và đục 5-6 giếng, đường kính khoảng 6 mm sao cho mỗi giếng cách nhau khoảng 2-3 cm. Chuẩn bị dịch chiết thử bằng cách hòa tan cặn chiết methanol của các mẫu thực vật trong Dimethyl Sulfoxide (DMSO) thành các nồng độ theo yêu cầu. Bổ sung 50 μL dịch chiết thử vào các giếng thạch trên đĩa petri và giữ các đĩa thí nghiệm ở nhiệt độ phòng trong 2 tiếng, tới khi dịch chiết từ các giếng khuếch tán ra môi trường nuôi cấy vi khuẩn; sau đó, đặt các đĩa vào tủ ấm 37 oC trong 24 giờ. Đối chứng dương là dung dịch kháng sinh (Ampicilin 0,1 mg/ml với E. coliP. mirabillis; Kanamycin 5 mg/ml với S. aureusP. vulgaris); đối chứng âm là DMSO. Hoạt tính ức chế khuẩn được đánh giá bằng cách đo bán kính (BK) vòng ức chế vi sinh vật bằng công thức: BK (mm) = D-d; trong đó D = đường kính vòng vô khuẩn và d = đường kính lỗ khoan thạch. Thí nghiệm được lặp lại ba lần và lấy giá trị bán kính trung bình.

3. Phương pháp đánh giá hoạt tính chống oxi hóa Phương pháp 1. Thông qua phản ứng bao vây gốc tự do (DPPH)

Hoạt tính chống oxy hóa của mẫu được xác định thông qua phản ứng bao vây gốc tự do (DPPH). Phản ứng được tiến hành theo phương pháp của Shela et al. (2003) . Dựa trên nguyên tắc 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl (DPPH) có khả năng tạo ra các gốc tự do bền trong dung dịch EtOH bão hoà. Khi cho các chất thử nghiệm vào hỗn hợp này, nếu chất có khả năng làm trung hoà hoặc bao vây các gốc tự do sẽ làm giảm cường độ hấp thụ ánh sáng của các gốc tự do DPPH. Hoạt tính chống ôxy hoá được đánh giá thông qua giá trị hấp thụ ánh sáng của dịch thí nghiệm so với đối chứng khi đọc trên máy Elisa ở bước sóng 515 nm.

Các mẫu có biểu hiện hoạt tính (SC ≥ 50%) sẽ được thử nghiệm để tìm giá trị SC50. Giá trị SC50 được xác định thông qua nồng độ chất thử và % hoạt động của chất thử mà ở đó 50% các gốc tự do tạo bởi DPPH được trung hòa bởi chất thử.

Phương pháp 2. Dựa vào năng lượng khử

Năng lực khử được xác định theo phương pháp của Oyaizu (1986) với một vài hiệu chỉnh nhỏ. Nhiều thể tích khác nhau của dịch chiết được trộn với đệm phosphate pH = 6,6 để đạt thể tích cuối cùng 1,5ml trước khi thêm 0,5 ml K 3(Fe[CN 3]) 1%. Hỗn hợp được ủ ở 50 oC trong 20 phút, sau đó thêm 0,5ml TCA 10% và 2 ml nước cất, cuối cùng 0,4ml AlCl 3 0,1% được thêm vào. Độ hấp thu quang học được xác định tại bước sóng 700nm. Độ hấp thu quang học càng cao thì năng lực khử càng mạnh. Kết quả được tính toán bởi giá trị IC 50, là lượng mẫu làm tăng độ hấp thu quang học lên 0,50.

Phương pháp 3. Xác định khả năng chống oxi hóa trên mô hình dầu – nước

Hệ nhũ tương dầu – nước được chuẩn bị gồm: 10% dầu Olive, 85% nước và 0,5% Tween 40. Hỗn hợp được đồng hóa ở tốc độ 10.000 rpm trong 5 phút (IKA, T18B, Ultra – Turax, Germany). Chính xác 2ml dịch chiết được trộn đều với 10ml hệ nhũ tương dầu – nước chứa trong ống nhựa 50 ml có nắp đật, đặt trong tủ ổn nhiệt ở 50 o C, quá trình oxi hoá chất béo được quan sát hàng ngày. Hàm lượng hydroperoxide được xác định theo phương pháp của Richards và Hultin (2002). Hàm lượng hydroperoxide được xác định trên dịch chiết chất béo theo phương pháp của Bligh and Dyer (1959). Kết quả tính toán hàm lượng hydroperoxide từ đường chuẩn Cumene hydroperoxide (HPO) nồng độ từ 0-120 nmol/ml.

Thiard Frank, Tất Tố Trinh, Nguyễn Thuỵ Vy, Nguyễn Hoài Nghĩa, Nguyễn Diệu Liên Hoa, Nguyễn Thị Kim Phụng, Nguyễn Ngọc Hạnh, Hồ Huỳnh Thuỳ Dương; (2008); Khảo sát hoạt tính ức chế tăng trưởng của các cây thuốc Việt Nam trên dòng tế bào ung thư cổ tử cung HeLa; Tạp chí phát triển Khoa học và Công nghệ, tập 11, số 01 – 2008.

Phạm Thanh Loan, Trần Huy Thái, Phan Văn Kiệm, Hoàng Lê Tuấn Anh, Châu Văn Minh, Đỗ Thị Thảo, Trần Thị Sửu, (2013), Hoạt tính sinh học của một số hợp chất phân lập từ cây cẩm lai (Dalbergia oliveri Gamble ex Prain); Tạp chí Sinh học 2013, 35(4):439-444.

Nguyễn Thị Diệu Thuần, (2015), Nghiên cứu thành phần hoá học và khảo sát hoạt tính sinh học của loài xáo leo ( Paramignya Scandens (Griff.) Craib) ở Lâm Đồng, Luận án Tiến sĩ.

Trần Mỹ Linh, Vũ Hương Giang, Lê Quỳnh Liên, Nguyễn Tường Vân, Ninh Khắc Bản, Châu Văn Minh, (2013), Đánh giá hoạt tính ức chế vi khuẩn kiểm định của một số loài thực vật ngập mặn tại vườn quốc gia Xuân Thuỷ, Nam Định, Tạp chí sinh học, 35(3): 342-347.

Tin bài: Đinh Thị Kim Hoa Người duyệt: TS. Trần Văn Chí Người đăng: Bùi Đình Lãm


【#9】Các Phương Pháp Xét Nghiệm Hp Dạ Dày

Xét nghiệm Hp trong dạ dày để làm gì? Các phương pháp xét nghiệm Hp dạ dày là gì? Thực hiện các phương pháp xét nghiệm vi khuẩn Hp là biện pháp tiên quyết giúp bạn phát hiện sớm vi khuẩn Hp trong dạ dày và có phương hướng điều trị bệnh kịp thời.

Vi khuẩn Helicobacter Pylori là nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm loét dạ dày, hành tá tràng và được cho là một trong những nguy cơ dẫn đến bệnh ung thư dạ dày. Đây là một loại xoắn khuẩn cư trú trong niêm mạc dạ dày và có khả năng phá hủy niêm mạc dạ dày gây ra viêm loét, rối loạn tiêu hóa, ung thư dạ dày…

Để phát hiện vi khuẩn Hp trong dạ dày, y học đã có nhiều phương pháp xét nghiệm Hp và đưa và áp dụng trong nghiên cứu và lâm sàng. Có hai nhóm phương pháp chẩn đoán Hp dạ dày là:

– Xét nghiệm xâm lấn nội soi dạ dày – tá tràng.

– Xét nghiệm không xâm lấn.

Khi thực hiện các phương pháp xét nghiệm Hp, người bệnh không được sử dụng thuốc kháng sinh, thuốc giảm tiết dịch vị và trung hòa axit ít nhất 1 tháng

Phương pháp xét nghiệm Hp xâm lấn nội soi dạ dày-tá tràng

Phương pháp xét nghiệm xâm lấn nội soi dạ dày- tá tràng bao gồm nhiều phương pháp nhỏ khác như test Urease, mô bệnh học, nuôi cấy và kháng sinh đồ nhằm lấy các mảng sinh thiết để xét nghiệm và kiểm tra hình thái tế bào, xác định chủng vi khuẩn Hp và xem chúng nhạy cảm với loại kháng sinh nào.

– Test Urease:

Nếu có vi khuẩn Hp , men Urease sẽ được tiết ra phân hủy ure thành ampniac và làm môi trường có Hp trở nên kiềm tính, chất ure-Indol từ màu vàng sẽ chuyển thành hồng tím trong môi trường này.

Độ nhạy của xét nghiệm là 85-90%, độ đặc hiệu là 95-98%

Ưu điểm của phương pháp này là cho kết quả khá nhanh, xét nghiệm khá đơn giản và giá thành thường không cao.

Nhược điểm là độ nhạy thấp, không đánh giá được mức độ viêm do vi khuẩn, có thể gặp phải các trường hợp âm tính giả hoặc dương tính giả do mật độ vi khuẩn thấp, gặp phải một số vi khuẩn khác cũng tiết men Urease…

Mảnh sinh thiết là mẫu mô niêm mạc dạ dày của người bệnh sẽ được nghiền trong nước muối sinh lý và cấy vào trong môi trường cấy với nhiệt độ luôn luôn là 37 độ C để phát hiện vi khuẩn Hp. Nếu có vi khuẩn, 3 ngày sau sẽ phát hiện được các khuẩn lạc tròn, sáng.

Độ nhạy của xét nghiệm là 70-80%, độ đặc hiệu là 100%.

Ưu điểm: cho độ đặc hiệu cao nhất, từ phương pháp này có thể nhận biết được cấu trúc gen của các chủng Hp, mật độ vi khuẩn Hp và thực hiện được kháng sinh đồ.

Nhược điểm: chi phí cho việc xét nghiệm không nhỏ, độ nhạy thấp và chỉ thường dùng cho một số trường hợp đặt biệt.

– Xét nghiệm mô bệnh học:

Mẫu mô bệnh học được nhuộm màu và quan sát dưới kính hiển vi để phát hiện vi khuẩn Hp nằm trong các khe của niêm mạc dạ dày. Các phương pháp nhuộm là Warthin- Starry, Hematixyline – eosine (H.E), Acridine- Orange, Peroxydase- Antiperoxydase sẽ cho hình ảnh rõ, đặc biệt nhuộm Giemsa thì đơn giản, chi phí thấp và cho kết quả khá nhanh.

Độ nhạy của xét nghiệm là 85-98%, độ đặc hiệu là 95-100%.

Ưu điểm: đơn giản, dễ áp dụng, nhận biết được mức độ viêm.

Phương pháp xét nghiệm Hp không xâm lấn

Độ nhạy của xét nghiệm là 85%, độ đặc hiệu 79%.

* Test thở CO2 phóng xạ:

Có nguyên lý tương tự như phương pháp test Urease của xét nghiệm có xâm lấn, người bệnh được ăn thức ăn chứa ure C13, nếu có vi khuẩn Hp sẽ tiết ra urease và phân cắt làm thoát ra khí CO2 chứa C13 được định lượng bằng quang phổ hồng ngoại.

Độ nhạy của xét nghiệm là 90%, độ đặc hiệu là 95%. Xét nghiệm này có thể chẩn đoán tiêu diệt vi khuẩn Hp, dùng được cho trẻ em, phụ nữ mang thai vàcho con bú, tuy nhiên chi phí cho xét nghiệm này thường khá cao và không đánh giá được mức độ viêm.

* Test thở với ure phóng xạ C13:

Tương tự như xét nghiệm test thở với ure C13 nhưng không an toàn cho phụ nữ trong trong độ tuổi sinh sản, thai phụ hay phụ nữ cho con bú và trẻ em.

Chú ý: Trước khi thực hiện các xét nghiệm vi khuẩn Hp bằng test thở, nên nhịn đói trước đó 6h, tốt nhất nên xét nghiệm vào buổi sáng. Ngưng sử dụng các thuốc kháng sinh, thuốc giảm tiết dịch vị hay thuốc trung hòa axit điều trị bệnh dạ dày…để cho kết quả chính xác nhất.

* Test thở với ure C14:

– Xét nghiệm nước bọt và nước tiểu:

Độ nhạy của xét nghiệm là 95-100%, độ đặc hiệu là 91-98%.

Ưu điểm: đơn giản, cho kết quả nhanh.

Nhược điểm: có thể cho kết quả dương tính giả, không thực sự đáng tin cậy.

– Xét nghiệm tìm kháng nguyên H.pylori trong phân:

Dựa trên kỹ thuật ELISA với laoi5 kit chẩn đoán đơn giản là kit HpSA tìm kháng nguyên H. pylori trong phân có độ nhạy 83-100% và độ đặc hiệu 94-99%. Ưu điểm của phương pháp này là có thể được sử dụng để chẩn đoán vi khuẩn Hp ở trẻ em hay người lớn và theo dõi vi khuẩn này hiệu quả trước và sau khi điều trị Hp. Tuy nhiên, giá thành cho phương pháp này lại khá cao.


Bạn đang xem chủ đề Phương Pháp Elisa trên website Sansangdethanhcong.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!