Phương Pháp Giảng Dạy Ezoe

--- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Tác Phẩm Văn Học Nước Ngoài Ở Trường Phổ Thông Dưới Ánh Sáng Lý Thuyết Tiếp Nhận
  • “Phương Pháp Dạy Học Tác Phẩm Văn Học Nước Ngoài Ở Trường Phổ Thông Dưới Ánh Sáng Của Lí Thuyết Tiếp Nhận”
  • Đề Tài Một Vài Kinh Nghiệm Dể Dạy Và Học Tốt Phần Văn Học Nước Ngoài – Ngữ Văn 11
  • Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt – Trường Đại Học Quốc Tế Hồng Bàng
  • Thông Báo: Tuyển Sinh Lớp “Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài”
  • Phương pháp giảng dạy Ezoe

    Để dạy tiếng Nhật cho người nước ngoài chưa từng tiếp cận với tiếng Nhật, cần một phương pháp hoàn toàn khác với cách dạy cho đối tượng là người Nhật. Kể từ sau khi thành lập vào năm 1975, trường Nhật ngữ Shinjuku đã bắt đầu nghiên cứu về phương pháp giảng dạy tiếng Nhật. Và “Ngữ pháp Ezoe” được sử dụng hiện nay chính là thành quả của công việc nghiên cứu này.

    Ngữ pháp Ezoe phân chia tiếng Nhật thành 2 phần, “thông tin” và “xác nhận thông tin”, và giữa 2 phần này sẽ có 2 cột giới từ. Phương pháp giảng dạy này tập trung không chỉ vào giáo dục tiếng Nhật cho người nước ngoài, mà còn phát triển giáo dục chữ quốc ngữ cho người Nhật. Đặc biệt là phương pháp này đã được công nhận là có hữu hiệu trong việc giáo dục cho người khiếm thính, và đã được sử dụng ở một số trường học.

    Giáo viên trường SNG sử dụng phương pháp giảng dạy Ezoe

    Phương pháp giảng dạy Ezoe chủ yếu dùng để giảng dạy cho học sinh nước ngoài, sự đơn giản, dễ hiểu của phương pháp đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người. Phương pháp này cũng đang được sử dụng ở các trường tiểu học, trường giáo dục cho người khiếm thính tại Nhật.

    Phương pháp giảng dạy Ezoe, sử dụng các tấm thẻ để trực quan hóa các từ loại của tiếng Nhật (danh từ, động từ, trợ từ, v…v). Học sinh sử dụng các tấm thẻ này để sắp xếp các loại từ thành một câu văn hoàn chỉnh. Ngoài các tấm thẻ này ra, phương pháp giảng dạy Ezoe không chỉ sử dụng từ ngữ mà còn kết hợp với các hành động, cử chỉ để học sinh nhớ được cách sử dụng của động từ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giảng Dạy Trực Tuyến Hấp Dẫn Hơn Với 5 Kỹ Thuật
  • Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Bộ Môn Tiếng Anh (Bậc Thạc Sĩ)
  • Thạc Sĩ Lý Luận Và Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh
  • Thông Báo Tuyển Sinh Thạc Sĩ Lý Luận Và Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh (Master Of Tesol) Liên Kết Với Đại Học Victoria (Australia)
  • Giải Pháp Giáo Dục Dành Cho Doanh Nghiệp
  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Tuyến

    --- Bài mới hơn ---

  • Trung Tâm Lao Động Ngoài Nước
  • Tuyển Sinh Lớp “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài”
  • Thông Báo Tuyển Sinh Lớp “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài”
  • Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài
  • Chiêu Sinh Khoá Đào Tạo “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Như Một Ngoại Ngữ”
  • Bước vào giai đoạn kinh tế tri thức, mô hình giảng dạy trực tuyến xuất hiện và trở thành một xu thế phát triển tất yếu của các nước trên thế giới. Mặc dù là quốc gia đang phát triển song Việt Nam đã nhanh chóng bắt nhịp xu hướng này và là thị trường tiềm năng của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước.

    E-Learning – phương pháp giảng dạy trực tuyến sôi động của thế giới

    Mô hình giảng dạy trực tuyến (Online learning hay E-Learning) xuất hiện đầu tiên trên thế giới tại Mỹ vào năm 1999, mở ra một môi trường học tập mới giúp người học có thể tương tác thông qua Internet trên các phương tiện truyền thông điện tử. Tuy nhiên, phải đến năm 2010, khi các ứng dụng trên nền tảng di động và mạng xã hội (Facebook, Google Plus, Instagram…) phát triển, mang lại khả năng tương tác mọi lúc, mọi nơi cho người dùng thì xu thế giảng dạy trực tuyến E-Learning mới thực sự lan tỏa trên toàn cầu. Đến nay, phương pháp E-Learning đã ghi tên mình vào bản đồ các ngành công nghiệp sôi động nhất thế giới.

    Theo The Economist, số người tham gia học phương pháp giảng dạy trực tuyến E-Learning trên thế giới đã tăng lên nhanh chóng từ khoảng 36 triệu người năm 2022 lên 60 triệu người năm 2022 và đạt gần 70 triệu người vào năm 2022. Số lượng người dùng không ngừng tăng lên đã kéo theo sự gia tăng về doanh thu của ngành công nghiệp này. Số liệu tại hội thảo quốc tế lần thứ 19 về “Ứng dụng công nghệ thông tin và quản lý – ITAM” tổ chức vào năm 2022 ở Việt Nam cho biết: Năm 2022, doanh thu lĩnh vực E-Learning trên toàn thế giới đạt con số khá ấn tượng là 51,5 tỷ USD. Sang năm 2022, thị trường giáo dục trực tuyến toàn cầu có bước phát triển nhảy vọt, đạt hơn 100 tỉ USD (kết quả nghiên cứu của Công ty khảo sát thị trường Global Industry Analysts).

    E-Learning hoạt động sôi động nhất tại Mỹ, quốc gia có nền giáo dục hàng đầu thế giới. Theo thống kê của Cyber Universities năm 2022, có hơn 80% trường đại học nước này sử dụng phương thức đào tạo E-Learning. Tham gia thị trường giáo dục trực tuyến của Mỹ còn có nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ MOOC (Massive Online Open Coures – các khóa học trực tuyến quy mô lớn) nổi tiếng nhất, có thể được kể tên như Coursera, edX và Udacity… E-Learning còn được coi như là một kênh đào tạo nhân viên hiệu quả khi có tới 77% công ty ở Mỹ đưa các khóa học E-Learning vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhân viên của mình.

    Bên cạnh Mỹ, Châu Á cũng là một thị trường cung cấp dịch vụ E-Learning khá “nhộn nhịp”. Theo tờ University World News, tổng doanh thu đạt được trong lĩnh vực E-Learning năm 2022 của khu vực này là khoảng 12,1 tỷ USD, trong đó Ấn Độ và Trung Quốc là hai quốc gia dẫn đầu, chiếm tới 70% vốn đầu tư mạo hiểm và 30% tổng số người dùng giáo dục trực tuyến toàn thế giới.

    Tại thị trường Trung Quốc, năm 2022, doanh thu của lĩnh vực E-Learning lên tới 5,2 tỷ USD. Mặc dù nền kinh tế nước bạn láng giềng có dấu hiệu suy giảm từ cuối năm 2022 đến nay do chịu ảnh hưởng từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, song giới kinh tế nhận định E-Learning vẫn rất phát triển, dường như để bù đắp cho sự thu hẹp của một số ngành sản xuất trong nước.

    Tuy không đạt được doanh thu lớn như Trung Quốc song Ấn Độ cũng là quốc gia có E-Learning phát triển với doanh thu 0,7 tỷ USD trong năm 2022. Nổi bật trên thị trường E-Learning Ấn Độ là BYJU (một đơn vị khởi nghiệp cung cấp ứng dụng học trực tuyến cho đối tượng học sinh K-12) nhờ những ứng dụng học trực tuyến hấp dẫn đối với người dân nước này và nhiều quốc gia khác. Theo báo cáo của Tổ chức tài chính thế giới (IFC) năm 2022, tính từ thời điểm ra mắt tháng 10/2015 đến năm 2022, ứng dụng học trực tuyến của BYJU đã phủ đến hơn 1.700 thành phố tại Ấn Độ và các quốc gia tại Trung Đông với hơn 15 triệu lượt tải ứng dụng và gần 1 triệu người dùng trả phí hàng năm. Tính đến 3/2018, doanh thu của BYJU đã chạm mốc 85 triệu USD và thu hút hơn 245 triệu USD đầu tư kể từ năm 2022.

    Sức lan tỏa mạnh mẽ của phương pháp giảng dạy trực tuyến E-Learning là nhờ những ưu điểm mà ngành công nghiệp mới này mang lại. Đó là: Tính tương tác cao dựa trên đa phương tiện trong môi trường mạng, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin một cách dễ dàng hơn dù ở bất kỳ vị trí nào; Nội dung và thời gian học tập đa dạng và phong phú, phù hợp với khả năng, sở thích, nhu cầu của từng người.

    Sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay đang là lực đẩy để E-Learning tiếp tục tiến xa hơn trong tương lai và ước tính sẽ đạt 325 tỷ đô la trên toàn cầu vào năm 2025, bởi nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có sức ép lớn về dân số, kinh tế như Ấn Độ, Philippines, Mexico… coi E-learning như cơ hội để đuổi kịp và san bằng khoảng cách với các nước phát triển.

    Một kênh học trực tuyến tên khá quen thuộc đối với người dùng Việt Nam có thể nói đến là chúng tôi của Hệ thống Giáo dục chúng tôi Sau hơn 10 hoạt động, trang website chúng tôi đã thu hút tới 3,5 triệu thành viên tham gia với trên 10.000 lượt truy cập và học tập đồng thời; cung cấp hơn 1.000 khóa học, 30.000 bài giảng mỗi năm của hơn 200 giáo viên trên các thiết bị máy tính, laptop, điện thoại… Theo số liệu 3 năm gần nhất của Hệ thống này, tỷ lệ người dùng đăng ký mới trên hệ thống học trực tuyến của đơn vị tăng gần 20% mỗi năm, trong đó, tỷ lệ người học trả phí tăng hơn 30%/năm. Điều này cho thấy xu hướng người dùng sử dụng E-Learning tại chúng tôi vẫn đang ngày một nhiều hơn.

    Cùng với chúng tôi thì Tổ hợp Công nghệ giáo dục Topica cũng là một địa chỉ được hàng nghìn người dùng lựa chọn để học tập với các giải pháp giáo dục trực tuyến đa dạng như: Chương trình cử nhân trực tuyến (Topica Uni); Học tiếng Anh trực tuyến (Topica Native); Nền tảng công nghệ cho khóa học trực tuyến mở trên nhiều lĩnh vực (Edumall).

    Đáng chú ý là E-Learning không chỉ thu hút sự quan tâm đầu tư của các doanh nghiệp mà còn là một xu hướng được ngành giáo dục Việt Nam lựa chọn. Cụ thể là Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với các doanh nghiệp triển khai E-Learning và thi trực tuyến trong nước như cuộc thi “Thiết kế hồ sơ bài giảng điện tử E-Learning” năm học 2009-2010 hay cuộc thi giải toán qua mạng tại website chúng tôi cuộc thi Olympic tiếng Anh trên mạng xã hội Go – ioe.go.vn… Nhiều trường đại học trong nước cũng từng bước áp dụng mô hình E-Learning bên cạnh phương pháp giáo dục truyền thống trong chương trình giáo dục. Ví dụ như Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, Trường Đại học Bách Khoa (thuộc Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh), Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh… Ngoài ra, tại Việt Nam còn có sự xuất hiện của trường đại học chuyên đào tạo trực tuyến là FUNiX, một thành viên của hệ thống FPT Education.

    E- Learning miếng bánh hấp dẫn của các nhà đầu tư

    Việt Nam được đánh giá là một thị trường tiềm năng để phát triển E-Learning bởi có hơn 60% dân số sử dụng Internet, người dùng chủ yếu là giới trẻ với nhu cầu học tập cao, chi tiêu cho giáo dục chiếm 5,8% GDP và 20% tổng chi ngân sách (số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo). Do đó, E-Learning không còn là sân chơi dành riêng cho những tên tuổi quen thuộc xuất hiện từ những ngày đầu phát triển mà còn thu hút sự tham gia của rất nhiều start-up Việt và các nguồn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp đến từ Singapore. Thống kê đến hết năm 2022, Việt Nam đã có 309 dự án đầu tư vào E-Learning với tổng số vốn đăng ký hơn 767 triệu USD. Dòng vốn đầu tư vào thị trường được đánh giá là vẫn tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo.

    Năm 2022 là năm đánh dấu nhiều thương vụ gọi vốn “khủng” trong lĩnh vực E-learning tại Việt Nam, trong đó phải kể tới thương vụ rót vốn của Tập đoàn Northstar Singapore vào Topica Edtech Group với khoản đầu tư lên tới 50 triệu USD vào cuối tháng 11/2018. Đây là khoản rót vốn lớn nhất cho một công ty giáo dục trực tuyến tại khu vực Đông Nam Á. Ngoài thương vụ đình đám trên, vào tháng 4/2018, nền tảng đánh giá giáo dục và đặt chỗ khoá học trực tuyến Edu2Review cũng nhận được khoản rót vốn từ Quỹ Nest Tech của Singapore, đã giúp Edu2Review được nâng định giá lên con số vài triệu USD, tăng gấp 5 lần so với cùng kỳ năm 2022.

    Bước sang năm 2022, E-Learning vẫn chứng minh là thị trường hấp dẫn khi tiếp tục đón nhận dòng vốn đầu tư từ Ấn Độ và Trung Quốc. Cụ thể là vào đầu tháng 8/2019, quỹ đầu tư chuyên về mảng giáo dục có trụ sở tại Singapore và Ấn Độ – Kaizen Private Equity công bố rót 10 triệu USD vào Yola, một start-up cung cấp dịch vụ giảng dạy tiếng Anh trực tuyến tại Việt Nam. Ngay sau đó, cuối tháng 8/2019, Everest Education, một công ty khởi nghiệp của Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục gọi vốn thành công 4 triệu USD (Series B) từ Quỹ đầu tư tư nhân Hendale Capital có trụ sở tại Hồng Kông (Trung Quốc). Nguồn vốn này được dùng để hỗ trợ tài chính cho sự phát triển của các trung tâm đào tạo học thuật của công ty tại TP Hồ Chí Minh sử dụng phương pháp học tập tích hợp blended learning hòa trộn giữa cách học truyền thống trên lớp và cách học hiện đại E-learning (Mobile Learning và Internet Learning).

    Sự góp mặt của các công ty trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến cho thị trường E-learning tại Việt Nam phát triển và đưa Việt Nam đứng trong top 10 các nước châu Á phát triển nhanh lĩnh vực này (theo thống kê của University World News, năm 2022). Cũng trong năm 2022, Ambient Insight đánh giá Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất về học trực tuyến (với 44,3%), lớn hơn 4,9% so với Malaysia – một đất nước vốn đã có tốc độ tăng trưởng mạnh trong lĩnh vực này.

    Không chỉ sôi động trong nước, E-learning còn là lĩnh vực để nhiều Start-up Việt Nam tạo dấu ấn trên thế giới. Điển hình là GotIt! vừa thành công với khoản đầu tư 12,5 triệu USD từ các quỹ đầu tư Mỹ sau khi hoàn thành đợt gọi vốn lần trước với hơn 10 triệu USD. Ngoài ra, GotIt! cũng đã trở thành đối tác của Microsoft Office – phần mềm, ứng dụng văn phòng, máy chủ và dịch vụ hàng đầu của Microsoft được hàng tỷ người dùng khắp thế giới sử dụng. Sự hợp tác này đã nâng GotIt! lên một tầm cao mới.

    Cùng với GotiIt!, Elsa Speak – ứng dụng luyện phát âm tiếng Anh của Việt Nam đã vượt qua 1.000 đối thủ trên toàn thế giới, đạt giải nhất cuộc thi dành cho các start-up về giáo dục – SXSWedu Launch. Elsa Speak đã gọi được hơn 15 triệu USD qua vài vòng gọi vốn và hiện có hơn 4 triệu lượt người dùng từ 101 quốc gia trên toàn thế giới, từng lọt vào top 5 các ứng dụng AI hàng đầu, cùng với các ứng dụng Cortana của Microsoft và Google Allo của Google…

    Những rào cản của phương pháp giảng dạy trực tuyến

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Cách Giảng Dạy Để Học Sinh Hiểu Bài Nhanh Chóng
  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Quan
  • Giảng Dạy Pháp Luật Cộng Đồng Thcs Minh Hải, Văn Lâm, Hưng Yên
  • Việc Triển Khai Hoạt Động Pro Bono Thông Qua Chương Trình Giáo Dục Pháp Luật Thực Hành (Cle) Tại Trường Đại Học Đào Tạo Luật
  • Tư Duy Của Giáo Viên Dạy Tiếng Anh Khi Soạn Bài
  • Phương Pháp Giảng Dạy Hỏi Đáp

    --- Bài mới hơn ---

  • Sử Dụng Phương Pháp Giảng Dạy Tích Cực Đối Với Các Môn Chuyên Ngành Luật
  • Một Số Ppgd Hóa Học …
  • Áp Dụng Phương Pháp Giảng Dạy Tích Hợp Ở Bậc Đại Học
  • Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Nhật Hiệu Quả Tại Sofl
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Kỹ Năng Nghe Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Trung Học
  • “- Này Gia chủ, hãy nói lên những điều gì Ông nghĩ về vấn đề này; nhờ vậy, vấn đề này sẽ trở thành xác thật cho Ông.

    – Thưa Tôn giả, con nghĩ như sau: “Vô lượng tâm giải thoát và đại hành tâm giải thoát, các pháp này đồng nghĩa nhưng khác văn”.

    – Này Gia chủ, vô lượng tâm giải thoát và đại hành tâm giải thoát, những pháp này vừa khác nghĩa vừa khác văn. Do vậy, này Cư sĩ, đây cần phải hiểu đúng với pháp môn, nghĩa là các pháp này vừa khác nghĩa vừa khác văn.

    Và này Cư sĩ, thế nào là vô lượng tâm giải thoát?. …..”

    ” Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Abhiya Kaccana thưa với Tôn giả Anuruddha:

    – Tốt lành thay, Tôn giả Anuruddha! Ở đây, tôi có câu này cần phải hỏi thêm. Thưa Tôn giả, chư Thiên có hào quang, tất cả đều có hào quang có hạn lượng? Hay là ở đây có một số chư Thiên có hào quang vô lượng?

    – Này Hiền giả Kaccana, tùy theo trường hợp, ở đây một số chư Thiên có hào quang có hạn lượng, nhưng ở đây cũng có một số chư Thiên có hào quang vô lượng.

    – Thưa Tôn giả Anuruddha, do nhân gì, do duyên gì, dầu cho chư Thiên ấy được sanh khởi trong một Thiên chúng, lại có một số chư Thiên có hào quang hạn lượng và có một số chư Thiên khác có hào quang vô lượng?

    – Này Hiền giả Kaccana, ở đây Ta sẽ hỏi Hiền giả. Nếu Hiền giả kham nhẫn, Hiền giả sẽ trả lời. Này Hiền giả Kaccana, Hiền giả nghĩ thế nào? …”

    ” Này Hiền giả Kaccana, Ta sẽ cho Hiền giả một ví dụ. Nhờ ví dụ ở đây, người có trí hiểu được ý nghĩa của lời nói. Ví như, này Hiền giả Kaccana, một cây đèn đang cháy với dầu không được sạch sẽ, với tim đèn cũng không được sạch sẽ. Vì dầu không được sạch sẽ, và cũng vì tim đèn không được sạch sẽ, nên cây đèn cháy rất lu mờ. Cũng vậy, này Hiền giả Kaccana, ở đây Tỷ-kheo an trú, biến mãn và thấm nhuần với hào quang tạp nhiễm. Thân dâm hạnh của vị ấy không được khéo chấm dứt, hôn trầm thụy miên không được khéo đoạn trừ, trạo cử hối quá không được khéo nhiếp phục. Vì không được khéo chấm dứt thân dâm hạnh, vì không khéo đoạn trừ hôn trầm thụy miên, vì không khéo nhiếp phục trạo cử hối quá, nên vị ấy được cháy lên một cách lu mờ. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh cọng trú với chư Thiên có hào quang tạp nhiễm. “

    ” – Này Hiền giả Kaccana, l ời nói này của Hiền giả đến gần như thử thách Ta phải tuyên bố, nhưng Ta sẽ trả lời cho Hiền giả. Này Hiền giả Kaccana, đã từ lâu, T a đã sống từ trước, đã đàm thoại từ trước, đã đàm luận từ trước với chư Thiên ấy. “

    https://buocdauhocphat.com/kinh-trung-bo-tap-iii-127-kinh-a-na-luat-anuruddha-sutta

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Lịch Sử, Giáo Dục Công Dân
  • Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Giáo Dục Công Dân
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Giảng Dạy Và Hướng Dẫn Học Sinh Học Tốt Bộ Môn Gdcd Ở Trường Thpt
  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Tuyến Thời Đại Công Nghệ 4.0
  • Chuyên Đề Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Môn Thể Dục
  • Phương Pháp Giảng Dạy Giáo Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Để Dạy Giáo Lý Hiệu Quả Hơn
  • Phương Pháp Trình Bày Giáo Lý
  • Cách Học Tiếng Nhật Hiệu Quả Nhất Mà Bạn Nên Biết
  • Dạy Tiếng Nhật Cho Trẻ Em
  • Mở Lớp Phương Pháp Giảng Dạy Kỹ Năng Sống Tháng 10
  • CÁC LỚP XƯNG TỘI VÀ RƯỚC LỄ LẦN ĐẦU

    Tuổi này được gọi là tuổi khôn. Tuổi này quan trọng về cả ba mặt tâm lý, luân lý và tôn giáo. Chính Giáo hội cũng quy định : tới tuổi này trẻ có thể chịu các bí tích Hoà giải và Thánh thể

    1. Trí khôn nảy nở :

    -Biết đọc, biết viết.

    -Biết suy luận, giải thích các sự việc, nghĩa là biết so sánh, tìm thấy tương quan và tìm ra nguyên nhân.

    Ví dụ : Trẻ suy luận : Chúa Giêsu chịu chết trên thánh giá vì yêu thương ta.

    -Thích học cái mới, cái lạ.

    2. Biết hướng nội :

    Tuổi này là thời hướng nội : hướng sự chú ý vào nội giới. Đây là lúc thuận lợi để khơi động đời nội tâm và tập cho trẻ cầu nguyện trong lòng.

    3. Lương tâm chớm nở :

    -Biết cái hay, cái dở-cái tốt, cái xấu.

    -Biết phân biệt phải trái.

    -Biết lý do của việc mình làm.

    4. Ý thức đến các giá trị :

    -Ý thức trách nhiệm của tình thương cha mẹ.

    -Ý thức sự tận tụy của thầy cô.

    -Ý thức giá trị của tình bạn : tri kỷ và trung tín.

    -Biết giữ gìn đồ đạc.

    -Thích trật tự ngăn nắp.

    5. Gia đình, xã hội :

    -Bắt đầu tập sống chung.

    -Sống êm ấm với nhau, thích chơi chung với nhau.

    6. Trách nhiệm :

    -Tinh thần trách nhiệm bắt đầu nảy nở.

    -Tuổi này hay đến xin việc và rất vui khi được giao việc.

    -Được cha mẹ, thầy cô trao việc cho, trẻ làm rất cẩn thận, nghiêm túc.

    Tóm lại : các đức tính tự nhiên bắt đầu nảy nở, thức tỉnh trong lứa tuổi này. Chúng ta có nhiệm vụ làm cho các đức tính ấy lớn lên và trổ sinh, giúp các em thành NGƯỜI và thành CON CHÚA.

    Tuổi này quan trọng đến nỗi Chúa nói : “Khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã ! Thà buộc cối đá lớn vào cổ nó và xô xuống biển còn lợi cho nó hơn là để nó làm cớ cho một trong những kẻ bé nhỏ này vấp ngã. Anh em hãy đề phòng” (Lc 17, 1-3).

    1. Toàn bộ khối Sơ cấp bao trùm các bài dạy về :

    a. Chúa Ba Ngôi

    -Thiên Chúa trở nên thân thiết hơn các em. Ngài đến qua sự đối thoại bên trong và qua lời mời gọi của lương tâm.

    -Các em sẽ tin nhận Chúa Giêsu nhờ thái độ của bố mẹ và những người khác, nhất là thái độ cầu nguyện của giáo dân trong nhà thờ và của gia đình trong giờ kinh.

    b. Hội Thánh và đời sống con cái Chúa.

    Đời sống các Kitô hữu quanh đứa trẻ và lương tâm là hình ảnh sống động để chúng ta giới thiệu sự hiện diện của Chúa Thánh Thần và Hội Thánh.

    2. Nội dung chương trình

    a. Giáo lý SƠ CẤP 1 : 7 tuổi

    Chương trình Giáo lý SƠ CẤP 1 gồm bài 32 bài. Nội dung được phân chia như sau :

    • Lịch sử cứu độ : Từ tạo dựng đến Chúa Thánh Thần hiện xuống (23 bài : 3-17. 20-27)
    • Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi (3 bài : 28-30)
    • Cầu nguyện : (4 bài 18-19. 31-32 )

    Riêng phần Luân lý, Phụng vụ và Bí tích, đặc biệt là Bí tích Giải tội và Thánh Thể sẽ được học ở năm sau là năm trực tiếp chuẩn bị cho các em Xưng tội và Rước lễ lần đầu.

    b. Giáo lý SƠ CẤP 2 : 8 tuổi.

    Chương trình Giáo lý Sơ cấp 2 gồm 33 bài. Nội dung được phân chia như sau :

    • Lịch sử cứu độ : Hội Thánh ( 8 bài : 1-3. 5-6. 8-10 )
    • Luân lý (9 bài : 11-19)
    • Phụng vụ và Bí tích (14 bài : 20-33)
    • Cầu nguyện (2 bài : 4, 7 )

    Đây là năm chuẩn bị cho các em Xưng tội và Rước lễ lần đầu nên có một số địểm cần nhấn mạnh :

    – Luân lý : Tội lỗi (2 bài : 12-13)

    – Phụng vụ và bí tích : Nhấn mạnh về bí tích giải tội (6 bài 38-33) và bí tích Thánh Thể (5 bài : 23-27). Những bí tích khác như Thêm sức, Xức dầu bệnh nhân, Truyền Chức thánh và Hôn phối sẽ được học ở chu kỳ tiếp theo là chu kỳ Giáo lý Căn bản.

    Ngoài ra ở cuối sách học sinh có thêm phần phụ lục, giúp các em xét mình, xưng tội, dọn mình Rước lễ và cám ơn sau Rước lễ.

    CHƯƠNG III

    NHỮNG THÓI QUEN VÀ YÊU CẦU CẦN ĐẠT Ở KHỐI SƠ CẤP

    Sau 2 năm học Giáo lý ở khối Sơ cấp, các em học sinh phải đạt được các thói quen và yêu cầu sau đây :

    1. Về nếp sống đạo

    -Các kinh cần thuộc : từ kinh số 1-18 trong sách kinh nhỏ. Có thói quen đọc kinh tối, sáng (cá nhân hoặc với gia đình, liên gia ).

    -Có thói quen nói chuyện với Chúa hằng ngày : lúc vui lúc buồn.

    -Dự lễ tối thiểu : Chúa nhật và thứ năm hằng tuần.

    -Có thói quen tới nhà thờ : chào Chúa rồi mới đi làm việc khác.

    -Khi về nhà : Biết chào Chúa nơi bàn thờ.

    -Tham gia hội đoàn : giúp lễ, ca đoàn, đọc Sách Thánh.

    2. Về nhân bản

    a. Giao tế :

    -Gặp người lớn tuổi biết chào hỏi.

    -Về nhà biết chào : ông, bà, cha mẹ, anh chị em

    -(đi thưa về trình).

    -Vui vẻ đoàn kết và biết giúp đỡ bạn bè.

    -Có ý thức làm công việc bác ái phù hợp lứa tuổi : nhịn quà cho kẻ khó, giúp đỡ người già, tàn tật….

    -Có ý thức giúp đỡ gia đình : quét nhà, lau bàn, phụ dọn bàn ăn gia đình.

    -Không nói tục, không nói chuyện riêng trong lớp học Giáo lý, nhà thờ.

    b. Trí dục

    -Biết truyền đạt câu ngắn đủ ý, đúng văn phạm.

    -Mạnh dạn phát biểu và tập cầu nguyện tự phát trong lớp Giáo lý.

    -Viết đúng chính tả và văn phạm bài ghi ở vở Giáo lý.

    -Chữ viết sạch sẽ, ngay ngắn tiến tới viết đẹp (nét chữ nết người ).

    c. Thể mỹ

    -Hằng ngày có thói quen tắm rửa, đánh răng sau bữa ăn và khi ngủ dậy.

    -Có thói quen tập bài thể dục nhi đồng.

    -Quần áo luôn ngay ngắn sạch sẽ.

    -Tránh xem sách báo, tranh ảnh không tốt.

    -Chân tay sạch sẽ, móng tay cắt ngắn.

    -Tập họp nhanh, thẳng hàng và im lặng khi ra vào lớp Giáo lý.

    LƯU Ý : Các Giáo lý viên hãy phân phối và sắp xếp các yêu cầu này vào chương trình giảng dậy.

    I. MỤC ĐÍCH VIỆC DẬY GIÁO LÝ.

    Dậy Giáo lý là trình bày Lời Thiên Chúa một cách đơn giản, cụ thể, sống động để giúp tín hữu biết và sống đức tin. Dậy Giáo lý không chỉ là truyền đạt kiến thức đức tin nhưng còn là và nhất là truyền thông sự sống của Thiên Chúa. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Tông huấn “Dậy Giáo lý” (Catechesi tradendae) đã viết : “Mục đích tối hậu của khoa dậy Giáo lý là làm cho con người không những tiếp xúc nhưng còn thông hiệp mật thiết với Đức Giêsu Kitô : chỉ một mình Người có thể đưa ta đến tình yêu của Chúa Cha trong Thần Khí và làm cho ta tham dự vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh” (số 5)

    II. DIỄN TIẾN MỘT TIẾT DẬY GIÁO LÝ.

    Để đáp ứng được mục đích của việc dậy Giáo lý, chúng ta sẽ trình bầy một tiết Giáo lý theo diễn tiến chung cho tất cả các khối : Sơ cấp, Căn bản, Kinh Thánh và Vào đời sau đây :

    1. Cầu nguyện khai mạc

    2. Dẫn vào Lời Chúa

    3. Công bố Lời Chúa

    4. Giải thích Lời Chúa

    5. Cầu nguyện giữa giờ ( theo đề tài Giáo lý)

    6. Sinh hoạt Giáo lý

    7. Bài tập Giáo lý

    8. Sống Lời Chúa ( dốc lòng)

    9. Cầu nguyện kết thúc.

    III-PHÂN BỐ THỜI GIAN CHO MỖI PHẦN.

    ·Thời gian một tiết dậy Giáo lý cho khối Sơ cấp : 50 phút.

    ·Phân bố :

    1. Cầu nguyện đầu giờ : 2 phút.

    2. Dẫn vào lời Chúa.

    * Ôn bài cũ : 3 phút.

    * Dẫn vào Lời Chúa : 2 phút.

    3. Công bố Lời Chúa : 2 phút.

    4. Giải thích Lời Chúa : 20 phút.

    * Dẫn giải Lời Chúa : 3 phút.

    * Giải thích câu hỏi thưa : 17 phút.

    5. Cầu nguyện giữa giờ : 3 phút.

    6. Sinh hoạt Giáo lý : 10 phút.

    7. Bài tập Giáo lý : 5 phút.

    8. Quyết tâm sống : 2 phút.

    9. Cầu nguyện kết thúc : 2 phút.

    IV-DẬY GIÁO LÝ THEO LỨA TUỔI.

    Khi dậy Giáo lý theo diễn tiến trên, chúng ta hãy lưu ý đến đối tượng học sinh của mình là lứa tuổi Sơ cấp (7-8 tuổi) để việc giảng dậy phù hợp với lứa tuổi này.

    Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã viết về điều này như sau : “Các phương pháp phải thích nghi với lứa tuổi, với văn hoá…” (THLBTM số 44 ) -và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã viết : “Khoa dậy Giáo lý có bổn phận thiết yếu phải tìm ngôn ngữ thích hợp với trẻ nhỏ và thanh niên thời nay nói chung và cho rất nhiêu lớp người khác …. ” (THDGLsố 59 ).

    Vì vậy, trong những chương tiếp theo, chúng ta sẽ tuần tự trình bầy các phương pháp giảng dậy theo diễn tiến một tiết dậy Giáo lý (9 bước) nói trên phù hợp với lứa tuổi khối Sơ cấp (7-8 tuổi).

    Giáo lý trình bầy Lời Thiên Chúa. Lời Thiên Chúa chính là nội dung của Giáo lý. Lời này được ghi lại trong Thánh Kinh. Do đó, Thánh Kinh là nguồn mạch chủ yếu của Giáo lý. Giáo lý càng gần Thánh Kinh bao nhiêu càng phong phú và vững chắc bấy nhiêu. Bộ sách Giáo lý phổ thông nói chung và sách Giáo lý khối Sơ cấp nói riêng luôn luôn khởi đầu bằng một đoạn Thánh Kinh liên hệ tới đề tài Giáo lý. Trong chương này chúng ta nói tới phương pháp trình bầy phần ” Dẫn vào Lời Chúa” và phần “Công bố Lời Chúa” trong tiết dậy Giáo lý.

    I. Dẫn vào Lời Chúa

    II. Công bố Lời Chúa

    1. Cách công bố Lời Chúa :

    Cũng như phần phụng vụ Lời Chúa trong Thánh lễ, người đọc Lời Chúa làm như sau :

    -Mở đầu bằng : “Bài trích sách. ..”

    -Đọc Lời Chúa.

    -Kết thúc bằng : ” Đó là Lời Chúa.”

    2. Người công bố Lời Chúa và người nghe Lời Chúa.

    Chính Giáo lý viên hay một em học sinh công bố Lời Chúa. Để việc công bố Lời Chúa được nghiêm trang và sinh hiệu quả, người công bố phải xem trước đoạn Lời Chúa. Khi công bố, người đọc đọc to tiếng, chậm rãi, rõ ràng. Giáo lý viên cho các em học sinh đứng nghiêm trang, yên lặng và cung kính khi nghe Lời Chúa.

    3. Giá sách để sách Thánh Kinh.

    -Nên có một giá sách để sách Thánh Kinh :

    -Sau khi công bố xong, quay sách Thánh Kinh hướng về các em học sinh.

    -Nên có một ngọn nến cháy sáng và một bình bông nhỏ ở giá sách để các em ý thức sự hiện diện của Chúa nơi Lời Chúa và chính Chúa đang nói với các em.

    Bài tập :

    Hãy chọn một bài Giáo lý (khối Sơ cấp) và soạn phần “Dẫn vào Lời Chúa” bằng một câu chuyện

    I. Mục đích

    Việc giải thích Lời Chúa có mục đích giúp các em học sinh hiểu bài Giáo lý. Mục này có hai phần :

    – Dẫn giải đoạn Lời Chúa vừa công bố.

    – Giải thích câu hỏi thưa.

    II. Dẫn giải đoạn Lời Chúa vừa công bố

    1. Đặt câu hỏi :

    Giáo lý viên đặt một số câu hỏi đơn giản để giúp các em hiểu và nắm bắt được ý chính của đoạn Lời Chúa vừa công bố và dẫn vào bài học Giáo lý.

    Ví dụ: Sách Giáo lý Sơ cấp 2, bài 20: Sống ngày Chúa Nhật

    – Lời Chúa : Cv 20, 7-12.

    – Dẫn giải Lời Chúa :

    Ngày thứ nhất trong tuần, các môn đệ họp nhau lại làm gì ? – (Bẻ bánh).·

    Bẻ bánh nghĩa là gì ? – ( ” Bẻ bánh” có nghĩa là dâng Thánh lễ để thờ phượng, tạ ơn Thiên Chúa).·

    Ngày thứ nhất trong tuần là ngày nào ? – (Ngày Chúa nhật )·

    2. Sử dụng sách “CHÚA NÓI VỚI TRẺ EM” trong phần dẫn giải Lời Chúa :

    Để giúp các em hiểu đoạn Lời Chúa vừa công bố, chúng ta sử dụng sách “Chúa nói với trẻ em” vào phần dẫn giải Lời Chúa vì sách này được trình bầy rất đơn sơ và dễ hiểu phù hợp với trình độ của các em. Chúng ta sử dụng sách này như sau :

    Chọn trong sách ” Chúa nói với trẻ em” đoạn có ý nghĩa tương tự với đoạn Lời Chúa vừa công bố.·

    Dựa vào đoạn Lời Chúa vừa công bố và đoạn sách “Chúa nói với trẻ em” đặt một số câu hỏi giúp các em nhận ra và hiểu ý chính của đoạn Lời Chúa đó.·

    Cho các em đọc chung đoạn sách trong sách “Chúa nói với trẻ em”.·

    Gợi vài ý dẫn vào bài học Giáo lý.·

    Ví dụ : Giáo lý Sơ cấp I, bài 3 :

    Thiên Chúa yêu thương tạo ra mọi loài mọi vật.

    Lời Chúa : St 1, 1.

    Sách “Chúa nói với trẻ em” : Đoạn 1, trang 3-4.

    Dẫn giải :

    Em nào cho anh (chị) biết Lời Chúa các em vừa nghe được trích từ sách nào ? (Sách Sáng thế)·

    Tại sao lại gọi là sách Sáng Thế?·

    (Vì những chương đầu của sách này nói đến việc Thiên Chúa dựng nên vũ trụ và loài người ).·

    Đoạn Lời Chúa chúng ta vừa nghe cho chúng ta biết điều gì ?·

    (Thiên Chúa đã dựng nên mọi loài mọi vật và mọi loài mọi vật Chúa dựng nên đều tốt đẹp).·

    Bây giờ tất cả chúng ta cùng nhau đọc chung đoạn Lời Chúa nói về việc Thiên Chúa tạo dựng mọi loài mọi vật trong sách “Chúa nói với trẻ em”, đoạn 1, trang 3.·

    A. Phương pháp quy nạp :

    1. Định nghĩa :

    Phương pháp quy nạp là phương pháp lý luận, khởi đầu bằng cách nghiên cứu các trường hợp riêng biệt – kế đến là rút ra kinh nghiệm – sau cùng là đưa ra định luật chung. Ví dụ :

    – Trường hợp riêng biệt : Ông A, ông B, Ông C đã chết.

    – Rút ra kinh nghiệm : Ông A, ông B, ông C là người.

    – Định luật chung : Vậy mọi người đều phải chết.

    Như thế phương pháp quy nạp đi từ một vài câu chuyện hay từ các điều kiện cụ thể trong đời sống thực tế tới trừu tượng, từ những trường hợp riêng lẻ tới tổng quát, từ dễ tới khó, từ dưới lên trên.

    2. Đức Giêsu đã theo phương pháp quy nạp khi giảng dậy.

    Đức Giêsu thuật lại một câu chuyện, một dụ ngôn, rồi sau đó rút ra bài học :

    Câu chuyện Bài học

    (khởi điểm) (kết luận)

    Ví dụ : – Người Samaritanô tốt lành ® Mọi người là anh em (Lc10, 29-37).

    – Chuyện người con phung phá ® Thiên Chúa đón nhận tội nhân (Lc 15, 11-32 ).

    3. Áp dụng phương pháp quy nạp vào việc dậy Giáo lý.

    Để áp dụng phương pháp quy nạp vào việc dậy Giáo lý, ta theo 3 bước sau :

    1.Giới thiệu : Đưa ra một sự kiện, một câu chuyện làm khởi điểm.

    2.Giải thích : Từ sự kiện, câu chuyện đó rút ra những ý tưởng, những bài học thích hợp.

    3.Áp dụng : Đem ý tưởng, bài học đó vào đề tài Giáo lý mình muốn trình bầy.

    Ví dụ : Sơ cấp 2 bài 23.

    Chúa Giêsu là bánh hằng sống nuôi dưỡng linh hồn ta.

    1.Giới thiệu : Mỗi ngày gia đình chúng ta họp nhau 3 lần để dùng bữa : bữa sáng, bữa trưa, bữa tối.

    2.Giải thích : Bữa ăn cần thiết để nuôi sống thân xác, bồi dưỡng sức khoẻ, làm cho ta lớn lên.

    3.Áp dụng : Linh hồn ta cũng cần được nuôi sống, bồi dưỡng, lớn lên. Chúa Giêsu lấy chính Mình, Máu Ngài để nuôi dưỡng linh hồn ta. Thánh Thể thật là của ăn vì chính Chúa đã nói : ” Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây…” (Ga 6, 51).

    4. Lưu ý :

    Vì phương pháp quy nạp đi từ cái riêng biệt tới cái tổng quát, tới chân lý – từ việc đưa ra một sự kiện làm khởi điểm, rút ra những ý tưởng và đem ý tưởng đó vào đề tài Giáo lý, nên khi dậy Giáo lý khối Sơ cấp, Giáo lý viên giải thích trước và cho các em đọc câu hỏi thưa sau. Câu hỏi – thưa là đề tài Giáo lý mình muốn trình bày.

    1. Định nghĩa

    Trực quan là phương pháp giảng dậy qua việc cho học sinh tự quan sát sự việc hoặc giáo cụ. Giáo lý viên sẽ dùng phát vấn (đặt câu hỏi) để xây dựng bài học và đúc kết bài học.

    Như vậy, phương pháp trực giác là quan sát cụ thể qua giác quan (sờ mó, nếm, ngửi, nghe…) để rồi suy nghĩ, rút kinh nghiệm, đúc kết thành bài học. Châm ngôn của phương pháp trực giác là : VẬT TRƯỚC LỜI SAU.

    Phương pháp này đặc biệt thu hút các em học sinh Giáo lý ở lứa tuổi này, vì các em có kinh nghiệm cảm tính (khả giác ) và suy nghĩ bằng hình ảnh chứ chưa lĩnh hội được các ý niệm và chưa lý luận cách trừu tượng được.

    2. Giá trị của phương pháp trực quan

    a. Người xưa nói : ” Trăm nghe không bằng mắt thấy”, ý nói học hiểu bằng quan sát trực tiếp vẫn hơn việc nghe mô tả. Ví dụ : Bản tin qua truyền thanh khó được ghi nhận hơn bản tin trên báo hoặc truyền hình.

    b. Việc tái hiện các nhân vật, các biến cố xa xưa trong lịch sử hoặc ở những nơi xa xôi trên thế giới sẽ dễ giúp các em cảm nghiệm, hiểu và khơi động tâm tình.

    c. Việc ngắm nhìn các thực tại trần thế sẽ giúp các em hình dung phần nào các thực tại cao siêu.

    3. Đức Giêsu sử dụng phương pháp trực quan để giảng dậy.

    Khi đi rao giảng, nhiều lần Đức Giêsu đã sử dụng phương pháp trực quan để giảng dậy.

    a. Sử dụng sự việc đang diễn ra để giảng dậy.

    – Đức Giêsu rửa chân cho các môn đệ (Ga 13, 4-20 )

    Để diễn tả cái chết của mình, để cử hành trước cái chết của mình, trong Bữa Tiệc Ly Chúa Giêsu đã cúi mình xuống rửa chân cho các tông đồ. Việc rửa chân này diễn tả Ngài hạ mình xuống trong cái chết nhục nhã trên thập giá để làm cho nhân loại được sạch, để mang ơn cứu độ đến cho loài người.

    Để dậy các tông đồ bài học khiêm nhường phục vụ, Chúa Giêsu đã dùng việc Ngài rửa chân cho họ.

    – Đồng xu của bà goá nghèo (Mc 12, 41-44).

    Chúa Giêsu nói các môn đệ quan sát đám đông bỏ tiền vào thùng tiền dâng cúng Đền Thờ. Ngài nói với họ chú ý đến bà goá nghèo đang bỏ hai xu vào thùng tiền.

    Ngài dùng hình ảnh đó để dậy các môn đệ bài học về tấm lòng thành đối với Thiên Chúa.

    b. Sử dụng giáo cụ trực quan để giảng dậy.

    – Nộp thuế cho Cêsarê (Mt 22).

    -Giáo cụ : đồng tiền Roma.

    -Khai thác giáo cụ : Chúa Giêsu nói với những người hỏi Ngài phải nộp thuế cho ai quan sát và trả lời câu hỏi : “Hình in trên đồng tiền là hình của ai ?”

    -Rút ra bài học : Điều gì của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa.

    – Giáo huấn về phục vụ (Mc 9, 33-37).

    Để dậy các môn đệ sống khiêm nhường, phục vụ khi họ tranh cãi với nhau ai trong họ là người lớn nhất, Đức Giêsu đã dùng một giáo cụ trực quan để giảng dậy.

    Giáo cụ trực quan : một em bé.·

    Khai thác giáo cụ : Sau khi dậy các môn đệ muốn làm lớn phải làm người phục vụ mọi người, Ngài dùng giáo cụ trực quan là đặt một em nhỏ vào giữa các môn đệ và nói : “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy, và ai đón tiếp Thầy thì không phải là đón tiếp Thầy nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mc 9, 37 ). Chúa Giêsu muốn nói em nhỏ là tượng trưng cho người sứ giả khiêm nhường, người khiêm tốn phục vụ, người đó là người được Thiên Chúa đồng hoá và người ấy là người lớn nhất vì giống Thiên Chúa.·

    * Rút ra bài học : Hãy sống khiêm nhường phục vụ.

    4. Sử dụng phương pháp trực quan trong việc dậy Giáo lý

    a. Các sự việc :

    – Các sự việc đang xảy ra : Trong Hội Thánh, xã hội, những sự kiện đời sống quanh ta, những việc các em vừa chứng kiến hoặc nghe bàn tán….

    – Chương trình đang được phát sóng trên truyền hình: bộ phim đang thu hút các em, tin tức thời sự nóng bỏng.

    – Các hoạt cảnh, bài hát, trò chơi.

    Giáo lý viên sử dụng các sự việc này để hướng dẫn các em học sinh qua phát vấn, đàm thoại và dẫn đến bài học.

    b. Các giáo cụ trực quan :

    – Bảng : Tập sử dụng bảng cho hiệu quả. Nếu chữ viết bảng chưa đẹp, Giáo lý viên nên luyện tập.

    – Vẽ trực tiếp trên bảng : vẽ sơ đồ, vẽ các hình đơn giản để minh hoạ khi giảng bài.

    – Bản đồ : Bản đồ Việt Nam (các giáo phận ), bản đồ Đất Thánh, bản gia phả của Chúa Giêsu.

    – Tranh ảnh : Chúng ta hiện có rất nhiều tranh ảnh Kinh Thánh, Giáo lý, các ảnh đạo… Giáo lý viên cố gắng tìm kiếm và sử dụng các loại tranh ảnh phù hợp với đề tài Giáo lý để dậy Giáo lý. Chúng ta có thể sử dụng tranh ảnh để : dẫn vào Lời Chúa, giải thích Lời Chúa, làm bài tập Giáo lý.

    – Rối vải cầm tay, rối bằng giấy bìa.

    – Các vật dụng quanh ta, trong đời sống øhằng ngày như cành hoa, nhánh cây nhỏ, quyển sách, cây đàn…

    Tóm lại, trực quan là phương pháp đạt hiệu quả sư phạm cao do tính cụ thể, sống động và nguyên lý thực nghiệm của nó. Tuy nhiên đối việc sử dụng giáo cụ, không nên dùng quá nhiều nhưng cần phối hợp giáo cụ với bài giảng Giáo lý cho nhịp nhàng đúng lúc, đúng đề tài. Đặc biệt các Giáo lý viên luôn ghi nhớ rằng mục tiêu của tiết dậy Giáo lý là gặp gỡ Chúa, hiểu biết, yêu mến và sống theo lời Ngài, nên phương pháp trên chỉ mang ý nghĩa chuyển tải và hỗ trợ, đừng quá lệ thuộc.

    Bài tập :

    Hãy chọn một bài Giáo lý (khối Sơ cấp) và soạn phần giải thích Lời Chúa gồm dẫn giải Lời Chúa và và giải thích các câu hỏi thưa theo các phương pháp quy nạp và phát vấn.

    II. Các phần cầu nguyện.

    1. Cầu nguyện đầu giờ.

    Phần cầu nguyện đầu giờ có mục đích giúp các em đi vào cuộc gặp gỡ với Chúa trong giờ học Giáo lý và xin Chúa soi sáng cho mình trong giờ học Giáo lý bằng cách :

    – Đặt các em trước sự hiện diện của Chúa.

    – Giúp các em nhận ra giờ học Giáo lý chính là thời gian đến với Chúa để học cùng Chúa.

    – Xin Chúa thánh hoá giờ học Giáo lý.

    2. Cầu nguyện giữa giờ.

    Phần cầu nguyện giữa giờ là đỉnh cao của giờ học Giáo lý. Lý do là sau khi các em đã nghe Chúa nói qua việc công bố Lời Chúa, sau khi đã hiểu Lời Chúa qua phần giải thích Lời Chúa, sau khi đã tiếp nhận lời mời gọi của Chúa với tất cả tâm tình, các em hẳn có nhiều điều muốn nói với Chúa, muốn đi vào cuộc đối thoại trang nghiêm thân tình với Chúa.

    Do đó nội dung của phần cầu nguyện giữa giờ này là ý chính, là nội dung của bài Giáo lý.

    3. Cầu nguyện cuối giờ.

    Phần cầu nguyện cuối giờ có hai mục đích :

    – Cảm ơn Chúa vì Chúa đã soi sáng trong giờ học vừa xong.

    – Xin Chúa giúp các em sống điều quyết tâm đã chọn.

    Nếu như phần cầu nguyện đầu giờ giúp các em từ cuộc sống bước vào cuộc gặp gỡ với Chúa trong giờ học Giáo lý, thì phần cầu nguyện cuối giờ hướng các em đến một cuộc gặp gỡ khác với Chúa qua việc sống Lời Chúa trong đời thường. Nhờ đó, toàn bộ cuộc sống các em sẽ là lời cầu nguyện liên lỉ.

    III. Thái độ, điều kiện và các cách thức cầu nguyện.

    Để các giây phút cầu nguyện trong giờ Giáo lý không trở thành những thói quen không hồn, tránh được sự nhàm chán … Chúng ta cần lưu ý tới những điểm sau đây :

    1. Thái độ khi cầu nguyện :

    Khi giúp các em học sinh cầu nguyện, chúng ta giúp các em xác định vị trí của mình đối với Chúa.

    a.Thái độ thụ tạo : Mọi sự, kể cả bản thân ta, đều do Chúa tác tạo, yêu thương, nên thái độ phải có là tôn thờ, ca tụng, biết ơn Chúa.

    b.Thái độ người con : Nhờ Chúa Giêsu, ta được trở nên con Thiên Chúa. Tâm tình của người con là yêu mến, kính trọng, vâng phục, phó thác vào Cha như tâm tình của Chúa Giêsu.

    c.Thái độ tội nhân : Tin vào Thiên Chúa là Cha, Đấng giầu lòng thương xót, nhân từ, ta hãy khiêm tốn xin ơn tha thứ.

    1.Để sống các thái độ này, khi cầu nguyện, ta hãy có tâm tình : thờ lạy, cám ơn, xin lỗi và xin ơn.

    2. Điều kiện để cầu nguyện :

    a. Đặt mình trước sự hiện diện của Chúa.

    Cầu nguyện là gặp gỡ, nói chuyện với Chúa, nên cần ý thức sự hiện diện của Chúa.

    b. Có gì để nói với Chúa.

    Cầu nguyện không phải là đọc vài kinh hay hát một bài cho xong nhưng cần có vài điều riêng tư trong lòng để nói với Chúa : Chúc tụng, cám ơn, xin lỗi, xin ơn.

    c. Lắng nghe tiếng Chúa nói :

    Đây là điều thường bị “bỏ quên”. Cầu nguyện còn là lắng nghe Chúa nói nữa. Chúa nói với ta qua lương tâm, những câu Thánh Kinh …

    3. Các cách thức diễn tả tâm tình khi cầu nguyện :

    a.Cử điệu : Khi giúp các em cầu nguyện, Giáo lý viên nên tùy theo nội dung của lời nguyện giúp các em có những cử chỉ thích hợp để diễn tả tâm tình của các em, để tạo sự nghiêm trang, hiệu quả khi cầu nguyện.

    oBái gối – cúi mình : có ý nghĩa chúng con thật nhỏ bé trước Thiên Chúa cao cả.

    oTrong lúc cầu nguyện :

    §Nâng hai tay lên : khẩn khoản nài xin.

    §Nhắm mắt : Chú trọng đến Đấng vô hình không thể nhìn thấy bằng đôi mắt thể xác.

    §Im lặng : Lắng nghe tiếng Chúa thôi thúc trong tâm hồn.

    §Chắp tay : Chúa ban cho con tất cả, này toàn thân con hướng về Chúa.

    b.Lời nói : Nên dựa vào những câu Kinh Thánh hoặc phụng vụ để dọn lời cầu nguyện vì khi cầu nguyện cần có ơn Chúa Thánh Thần. Nếu không có Thánh Thần dậy dỗ và gợi cảm hứng, chúng ta không thể thưa với Thiên Chúa một điều gì có ý nghĩa. Chính Chúa Thánh Thần đã dùng Thánh Kinh và Phụng vụ dậy ta thưa chuyện với Chúa.

    4. Các hình thức cầu nguyện trong giờ Giáo lý :

    a. Lặp lại to tiếng lời cầu nguyện.

    Giáo lý viên đọc lớn từng câu ngắn, các em lặp lại to tiếng. Hình thức này thích hợp với lứa tuổi khối Xưng tội,Rước lễ (Sơ cấp) (7-8 tuổi).

    b. Lặp lại thầm lời cầu nguyện.

    Giáo lý viên đọc lớn từng câu ngắn, các em lặp lại thầm câu đó. Đây là cách tập cho các em nội tâm hoá lời cầu nguyện. Hình thức này hợp hơn cho khối Thêm sức (Căn bản) (9-12 tuổi). Thỉnh thoảng cũng nên áp dụng cho các em khối Xưng tội,Rước lễ (Sơ cấp) để các em tập làm quen với cách cầu nguyện trong tâm hồn.

    c. Học sinh âm thầm cầu nguyện theo lời nguyện của GLV.

    Giáo lý viên chậm rãi đọc lời cầu nguyện, các em âm thầm cầu nguyện theo, các em cùng thưa khi kết thúc lời nguyện : Amen. Hình thức này thích hợp khối Thêm sức (Căn Bản) (9-12 tuổi ), khối Bao đồng (Kinh Thánh), Vào Đời (13-18 tuổi ).

    d. Đọc một kinh hay hát một bài hát thích hợp với nội dung bài Giáo lý.

    Nhưng xin lưu ý : Giáo lý viên hướng ý trước, gợi tâm tình trước rồi các em mới đọc kinh hay hát. Hình thức này phù hợp với các lứa tuổi : Xưng tội,Rước lễ (Sơ cấp) – Thêm sức (Căn bản) – Bao đồng (Kinh Thánh) – Vào đời.

    e. Giáo lý viên gợi tâm tình và đề tài, các em tự cầu nguyện theo tâm tình và đề tài đó. Giáo lý viên kết thúc, các em thưa : Amen.

    Hình thức này thích hợp với các em khối Thêm sức (Căn bản) (9-12 tuổi ), khối Bao đồng (Kinh Thánh) (13-15 tuổi ), Vào đời (16-18 tuổi ). Thỉnh thoảng nên áp dụng cho các em khối Xưng tội,Rước lễ (Sơ cấp) để các em tập cầu nguyện tự phát.

    f. Cầu nguyện theo kiểu lời nguyện tín hữu trong Thánh Lễ :

    Giáo lý viên gợi ý, một số em học sinh xướng lên một ý nguyện, có thể dọn sẵn hoặc tự phát, tất cả thưa : Xin Chúa nhận lời chúng con – Giáo lý viên kết thúc bằng lời nguyện chung, các em cùng thưa Amen – Hình thức này thích hợp với các em lứa tuổi Bao đồng (Kinh Thánh) và Vào đời (13-18 tuổi ).

    IV. Giáo lý viên dậy các em cầu nguyện

    1. Chính Giáo lý viên hãy trở nên người cầu nguyện.

    Cầu nguyện nhiều trong cuộc sống, nuôi dưỡng tâm tình cầu nguyện mọi nơi, mọi lúc.

    2. Thái độ của Giáo lý viên khi dậy cầu nguyện.

    Giáo lý viên cần có thái độ trang nghiêm “như thấy Đấng vô hình” khi giúp các em cầu nguyện. Vì thế, Giáo lý viên không thể giúp các em cầu nguyện trong thái độ giận dữ, quát nạt, lo ra, lăng xăng … Hãy bộc lộ nét trang nghiêm, cung kính trong lúc cầu nguyện. Nếu cần sửa lỗi các em đang lo ra, chơi giỡn trong lúc cầu nguyện thì chờ đến khi đã cầu nguyện xong.

    3. Tập cho các em cầu nguyện theo diễn tiến :

    ·Đặt mình trước mặt Chúa.

    ·Gợi tâm tình : thờ lạy, cảm ơn, xin lỗi, xin ơn.

    ·Tìm lời và cử chỉ thích hợp để diễn tả tâm tình.

    V. Cách soạn một lời cầu nguyện.

    • Sơ cấp 1, bài 12 : Chúa Giêsu làm việc.
    • Nêu danh xưng : Lậy Chúa, Lý do xin ơn : Chúa đã tạo dựng chúng con có trí khôn để suy nghĩ, có trái tim để yêu thương, có đôi tay để làm việc, có đôi chân để chạy nhảy vui chơi, đến trường, đến nhà thờ, có miệng lưỡi để nói năng, để ca tụng Chúa.
    • Nội dung ơn xin : Xin cho chúng con biết dùng những khả năng Chúa ban,
    • Chủ đích ơn xin.
  • -Chủ đích 1 : để làm vinh danh Chúa

    -Chủ đích 2 : và giúp ích cho mọi người.

        Kết thúc : Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

    BÀI TẬP :

    Hãy chọn một bài Giáo lý ( khối Sơ cấp ) và soạn một lời nguyện gồm 5 phần vừa học

    I. Mục đích.

    1. Thư giãn, giải trí.

    Ở lứa tuổi Khối Xưng tội, Rước lễ (Sơ cấp) (7t-8t) các em chỉ có thể cầm trí được 20 phút, tối đa là 30 phút. Do đó, sau khi các em đã gặp Chúa trong phần cầu nguyện giữa giờ, nghĩa là đã học nửa giờ Giáo lý, Giáo lý viên cho các em sinh hoạt để tâm trí các em được thư giãn, thoải mái hầu có thể tiếp tục học hỏi tốt hơn ở nửa giờ Giáo lý còn lại.

    2. Tạo bầu khí vui tươi trong giờ Giáo lý.

    3. Ghi nhớ nội dung bài Giáo lý :

    Phần sinh hoạt cũng nhằm giúp các em ghi nhớ những gì vừa học. Do đó, phần sinh hoạt này phải được lựa chọn phù hợp với nội dung bài Giáo lý.

    II. Các hình thức sinh hoạt trong giờ Giáo lý.

    Vì thời gian sinh hoạt rất ngắn, khoảng 10 phút và không gian sinh hoạt là phòng học, nên chúng ta chỉ lựa chọn các hình thức sinh hoạt đơn giản sau đây : băng reo, trò chơi nhỏ, bài hát.

    1. Băng reo.

    Chúng ta sáng tác băng reo dựa theo nội dung bài Giáo lý và theo một trong các thể loại sau đây :

    a. Các em lặp lại theo người điều khiển, thêm cử điệu.

    Ví dụ :

    -Người điều khiển (NĐK ) : Chúa đã về.

    -Tất cả ( TC ) lặp lại : Chúa đã về ( vỗ tay 3 cái ).

    -NĐK- Trên phố phường – TC : lặp lại ( bước vào 3 bước )

    -NĐK- Trên làng quê – TC : lặp lại ( bước thêm vào 3 bước ).

    -NĐK- Trên quê hương Việt Nam – TC : bước ra 6 bước, vung tay và la lên : A !

    b. Người điều khiển chỉ nói 1 câu, tất cả nói câu khác.

    Ví dụ :

    -NĐK : Chúa ở đâu ? TC : Trong anh ( chỉ vào người bên cạnh ).

    -NĐK : Chúa ở đâu ? TC : Trong tôi (chỉ ngực ).

    -NĐK : Chúa ở đâu ? TC : Trên trời ( chỉ lên trời ).

    -NĐK : Chúa ở đâu ? TC : Khắp mọi nơi (xoay tròn ).

    c. Người điều khiển nêu nhiều ý, tất cả chỉ lặp lại một câu :

    Ví dụ :

    -NĐK : Ta vui – TC : bên nhau ( vỗ tay 2 cái ).

    -NĐK : Ta múa – TC : bên nhau ( vỗ lên đùi hai cái ).

    -NĐK : Ta hát – TC : bên nhau ( hai tay lên vai ).

    -NĐK : Tất cả – TC : bên nhau.

    d. Người điều khiển nêu ý, tất cả cùng bổ túc ý.

    Ví dụ :

    -NĐK : Sống trên đời – TC : Phải có bạn ( giơ hai tay hình chữ V ).

    -NĐK : Không có bạn – TC : Buồn chết đi ( chắp tay ).

    -NĐK : Nhưng phải chọn – TC : Bạn tốt ( nắm tay người bên cạnh ).

    BÀI TẬP :

    Chọn một bài Giáo lý ( khối Sơ cấp ) và sáng tác hay chọn một băng reo, một trò chơi, một bài hát phù hợp với nội dung bài Giáo lý

    BÀI TẬP

    Hãy chọn một bài Giáo lý trong khối Sơ cấp và soạn phần bài tập theo một trong các loại bài tập trên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoa Sư Phạm Tiếng Anh
  • Cùng Topica Thay Đổi Từng Ngày Bằng Phương Pháp Giảng Dạy E
  • Đổi Mới Phương Pháp Tổ Chức Giảng Dạy Thực Hành Tdtt :: Xuất Bản
  • Giảng Viên Fpt Polytechnic Tập Huấn Về Phương Pháp Giảng Dạy Cdio
  • Một Số Phương Pháp Giảng Dạy Thơ Trữ Tình Trung Đại Lớp 7
  • Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Đánh Giá Của Học Sinh Về Giáo Viên Giảng Dạy Tại Roadmap
  • Bàn Về Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Tại Các Trường Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ
  • Kinh Nghiệm Trong Đánh Giá Và Phương Pháp Giảng Dạy Đại Học
  • Nhận Xét Của Các Bạn Học Viên Về Cách Giảng Dạy Tại Tester Việt Trong Bài Kiểm Tra Cuối Khóa.
  • Hệ Tọa Độ Gauss Và Những Ứng Dụng Của Hệ Tọa Độ Gauss
    • Học viên đã tốt nghiệp đại học;
    • Có nhu cầu giảng dạy tiếng Việt cho Việt kiều, người nước ngoài;

    2. Khoá học:

    Tổng thời lượng: 60 tiết, học trong 8 tuần; có các lớp như sau:

    • Các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu; hoặc thứ ba, thứ năm, thứ bảy; mỗi tuần 3 buổi, mỗi buổi 2 tiết (tuỳ chọn các lớp buổi sáng, buổi chiều, buổi tối);
    • Hai ngày thứ bảy và chủ nhật: mỗi ngày 1 buổi sáng hoặc chiều, mỗi buổi 3 tiết.

    3. Nội dung Chương trình:

    1. Phương pháp giảng dạy ngoại ngữ (10 tiết)
    2. Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt và vấn đề dạy kỹ năng nghe, nói (14 tiết);
    3. Đặc điểm từ vựng tiếng Việt và vấn đề dạy kỹ năng đọc (12 tiết);
    4. Đặc điểm ngữ pháp tiếng Việt và vấn đề dạy kỹ năng viết (12 tiết);
    5. Khung Năng lực tiếng Việt cho người nước ngoài của Bộ GD&ĐT và Đề thi mẫu (10 tiết);
    6. Kiểm tra cuối khoá (2 tiết)

    4. Chuẩn đầu ra:

    • Nắm các kiến thức, kỹ năng cơ bản trong hoạt động giảng dạy ngoại ngữ; tâm lý học giáo dục;
    • Nắm các đặc điểm cơ bản của ngữ âm tiếng Việt: cấu trúc âm tiết, hệ thống âm vị, phát âm phương ngữ, một số vấn đề cần lưu ý khi dạy phát âm tiếng Việt;
    • Nắm các đặc điểm cơ bản của từ vựng tiếng Việt: cấu tạo từ, từ đơn và từ ghép, từ láy, nghĩa của từ, một số vấn đề cần lưu ý khi dạy từ tiếng Việt;
    • Nắm các đặc điểm cơ bản của ngữ pháp tiếng Việt: từ loại, cụm từ, câu, một số vấn đề cần lưu ý khi dạy ngữ pháp tiếng Việt;
    • Nắm Khung năng lực tiếng Việt cho người của Bộ GD&ĐT và cấu trúc, yêu cầu của một đề thi, đề thi mẫu của Bộ.

    5. Chứng chỉ:

    Sau khi học và kiểm tra đạt yêu cầu, học viên được cấp chứng chỉ của Trung tâm Ngoại ngữ Tin học Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng và có thể được mời giảng các lớp tiếng Việt do Trung tâm tổ chức nếu có nhu cầu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thông Báo Chiêu Sinh Khóa “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Như Một Ngoại Ngữ” Khóa 02
  • Thông Báo Tổ Chức Lớp Bồi Dưỡng “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Như Một Ngoại Ngữ”
  • Chiêu Sinh Khoá Đào Tạo “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Như Một Ngoại Ngữ”
  • Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài
  • Thông Báo Tuyển Sinh Lớp “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài”
  • Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Học Tốt Môn Toán
  • Xử Lý Nền, Chống Thấm Công Trình
  • Trường Mầm Non Jello Academy
  • Thí Nghiệm Jartest Trong Xử Lý Nước Thải
  • Tìm Hiểu Về Jartest Trong Xử Lý Nước Thải * Vật Tư Tiêu Hao, Nông Nghiệp, Thủy Sản, Môi Trường,…
  • Trong bối cảnh Kinh tế – Xã hội thay đổi mạnh mẽ, yêu cầu về nguồn nhân lực được đào tạo cũng thay đổi nhanh chóng, phương pháp giảng dạy truyền thống ngày càng bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Chính vì vậy, một trong những thách thức đặt ra cho hệ thống giáo dục nói chung và các trường đại học nói riêng là cần phải thay đổi phương pháp giảng dạy, sao cho có thể tạo ra những lớp người không chỉ đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường lao động mà còn góp phần dẫn dắt xã hội. Bài viết này muốn nói lên sự cần thiết phải thay đổi phương pháp giảng dạy truyền thống đang phổ biến hiện nay, đồng thời làm nổi bật những ưu điểm của phương pháp giảng dạy mới -tạm gọi là các phương pháp giảng dạy tích cực.

    Phương pháp giảng dạy truyền thống và yêu cầu đổi mới

    Thực ra, xét đến cùng thì tất cả các phương pháp giảng dạy đều có thể ẩn chứa những hoạt động mang tính tích cực của nó. Tuy nhiên, để trở thành một phương pháp mà yếu tố tích cực trở thành nét đặc trưng thì hầu hết các nhà nghiên cứu đều đề cập đến mức độ tham gia của sinh viên trong quá trình học tập (3). Phải thực sự xem người học là trung tâm, là chủ thể của hoạt động “học”. Muốn vậy cần phải:

    • Đa dạng hóa các phương pháp giảng dạy.
    • Giảm thời lượng thuyết giảng và tăng thời lượng hoạt động của người học.
    • Tạo sự tương tác cao giữa người dạy và người học, giữa người học với nhau.
    • Khuyến khích tư duy độc lập và sáng tạo, xóa bỏ lối áp đặt kiến thức theo kiểu giáo điều.
    • Hướng đến việc phát triển nhận thức bậc cao cho sinh viên, đó là: phân tích, tổng hợp, và đánh giá (4).
    • Chú trọng phát triển kỹ năng và xây dựng thái độ làm việc tích cực cho người học.

    Ngược lại, về phía người học, cần phải thay đổi thái độ và phương pháp học tập, tích cực tham gia vào các hoạt động, chủ động tìm kiếm kiến thức, rèn luyện kỹ năng cũng như điều chỉnh thái độ trong quá trình làm việc với nhau.

    Ưu điểm của phương pháp giảng dạy tích cực

    (1) Phương pháp giảng dạy tích cực sẽ tạo điều kiện và lôi cuốn người học chủ động trong học tập.

    Tính chủ động cao là tiền đề cho sự hình thành khả năng tư duy độc lập. Tư duy độc lập là mầm móng của sáng tạo.

    (2) Phương pháp giảng dạy tích cực giúp nâng cao hiệu quả học tập nhờ vào việc giảm thời lượng thuyết giảng.

    Thực vậy, công trình nghiên cứu của Russell, Hendricson và Herbert (1984) chỉ ra rằng: sinh viên học và lưu lại thông tin bài giảng tốt hơn khi mật độ thông tin cung cấp ở mức thấp (so với mức trung bình và mức cao trong thí nghiệm). Hàm ý ở đây là lượng thông tin mới mà sinh viên có thể học được trong một khoảng thời gian là có giới hạn, và chính giảng viên phá vỡ mục đích của mình khi vượt quá giới hạn đó.

    Tiếp theo là công trình nghiên cứu nổi tiếng của Ruhl, Hughes, và Schloss (1987) đã đi đến một kết luận bất ngờ: nếu giảng viên nói ít thì sinh viên có thể học được nhiều hơn! Phát hiện này hoàn toàn trái ngược với niềm tin của hầu hết giảng viên khi cho rằng việc học của sinh viên sẽ tốt hơn nếu giảng viên nói nhiều và cung cấp nhiều thông tin hơn.

    Nếu xét về mức độ tập trung chú ý của sinh viên, công trình nghiên cứu của Wilbert Mc Keachie cho thấy: giảng dạy theo phương pháp tích cực thì độ tập trung chú ý giữ ở mức cao (75%) suốt 60 phút. Trong khi đó, giảng dạy theo phương pháp thuyết giảng kiểu truyền thống thì độ tập trung chỉ đạt mức cao (75%) trong vòng 20 phút, sau đó sẽ giảm dần một cách nhanh chóng (biểu đồ 1) Như vậy, với lối giảng dạy truyền thống, chúng ta đang đi ngược lại mục tiêu của chính mình bởi lẽ giảng viên nói quá nhiều làm cho sinh viên học được quá ít. Trong những lớp học đông sinh viên, theo kết quả nghiên cứu của Lewis và Woodward (1984) thì giảng viên nói đến hơn 88% thời gian trên lớp, sự im lặng chiếm hơn 6%, và thời gian dành cho sinh viên nói chỉ chiếm hơn 5%. Điều này thuyết phục chúng ta cần phải nhanh chóng thực hiện phương pháp giảng dạy tích cực: giảng viên nói ít hơn và sinh viên làm nhiều hơn.

    (3) Phương pháp giảng dạy tích cực sẽ giúp nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức nhờ vào sự tương tác và đa dạng hóa các loại hình hoạt động.

    Lưu giữ kiến thức là yếu tố quan trọng của việc học tập. Một số công trình nghiên cứu (5) về tỷ lệ lưu giữ kiến thức từ các phương pháp học tập đã thu được những kết quả hết sức ấn tượng về hiệu quả của phương pháp giảng dạy tích cực (xem các biểu đồ 2a, 2b, 2c).

    Mặc dù kết quả đưa ra trong ba biểu đồ có khác biệt chút ít, nhưng ý tưởng chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy là:

    • Với lối học thụ động (nghe giảng, đọc, nhìn), sinh viên học được nhiều nhất là 50% lượng kiến thức. Trong đó, nếu chỉ có thuyết giảng suông thì mức độ tiếp thu kiến thức hết sức thấp. Điều này phần nào giải thích được vì sao phương pháp giảng dạy truyền thống không mang lại hiệu quả cao.
    • Với phương pháp giảng dạy tích cực, nhấn mạnh sự tham gia của sinh viên vào quá trình dưới nhiều hình thức, lôi cuốn sinh viên chủ động trong học tập, thì kết quả khác biệt hết sức rõ ràng: có thể đạt được mức độ tiếp thu kiến thức lên đến 90%.

    Càng ngày người ta càng nhận ra tầm quan trọng của thái độ và kỹ năng đối với công việc cũng như đối với sự thành công của mỗi cá nhân, nhất là trong xu thế phát triển mới của thế kỷ 21. Theo nhận định của Đại học Michigan, đa số sinh viên có khuynh hướng nghĩ rằng một mức điểm trung bình cao và một mảnh bằng trong tay sẽ bảo đảm sự thành công trong nghề nghiệp, nhưng thực tế thì bất cứ ai trong thế giới công việc đều biết rằng chỉ có kỹ năng và tính cách mới bảo đảm sự thành công. (6)

    (4) Phương pháp giảng dạy tích cực giúp xây dựng thái độ và phát triển tốt kỹ năng, nhất là kỹ năng mềm.

    Về kỹ năng, thuật ngữ kỹ năng mềm (soft skills) (7) đang được quan tâm rộng rãi bởi lẽ nó có ảnh hưởng quyết định đến sự thành công nhưng lại không được chú ý trong các chương trình đào tạo. Trường Đại học sự phạm Harvard khẳng định tầm quan trọng của kỹ năng mềm khi họ cho rằng: “Bằng việc chỉ đẩy mạnh kỹ năng cứng (hard skills), nhiều trường học ngày nay tiếp tục giáo dục trẻ em cho một nền kinh tế không có lối thoát trong dài hạn” (8).

    Trong khi đó, phương pháp giảng dạy truyền thống chỉ cung cấp được kỹ năng cứng, hoàn toàn không quan tâm đến kỹ năng mềm. Ngược lại, trong phương pháp giảng dạy tích cực, nhờ vào các hoạt động mà sinh viên được tham gia, có thể phát triển rất tốt thái độ cũng như kỹ năng mềm. Biểu đồ 3 là kết quả khảo sát của Nacy Tobler, cho thấy hiệu quả của các chương trình đào tạo mang tính tương tác cao (phương pháp giảng dạy tích cực): cả kiến thức, tư duy và thái độ trong những chương trình tương tác đều có sự thay đổi mạnh mẽ so với chương trình không tương tác, nhất là về kỹ năng.

    Rõ ràng các phương pháp giảng dạy tích cực mang lại hiệu quả học tập cao hơn rất nhiều so với phương pháp thuyết giảng truyền thống. Giảng viên nói ít lại, dành nhiều thời gian cho việc lôi cuốn sinh viên vào các hoạt động đa dạng trong lớp cũng như ngoài lớp học. Về phía sinh viên, chỉ trên cơ sở tham gia, trải nghiệm, họ mới có thể thực sự thấu hiểu và tạo dựng nhận thức cho chính mình. Có lẽ vì vậy mà Howard Hendricks đã khẳng định: “tối đa hóa việc học tập luôn luôn là kết quả của việc tối đa hóa sự lôi cuốn” (9).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Femto Lasik Phương Pháp Điều Trị Tật Khúc Xạ An Toàn, Chính Xác
  • Hướng Dẫn Kĩ Thuật Chiết Cành Cơ Bản
  • Cách Chiết Cành Tất Cả Các Loại Cây
  • Hướng Dẫn Lọc Cổ Phiếu Theo Phương Pháp Canslim Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
  • Canslim Là Gì? Những Điều Cơ Bản Cần Biết Về Canslim
  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Quan

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Cách Giảng Dạy Để Học Sinh Hiểu Bài Nhanh Chóng
  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Tuyến
  • Trung Tâm Lao Động Ngoài Nước
  • Tuyển Sinh Lớp “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài”
  • Thông Báo Tuyển Sinh Lớp “phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài”
  • Về phương pháp sư phạm, nhiều phương pháp giảng dạy được biết đến, đặc biệt trong vai trò của sinh viên trong quá trình thu thập kiến thức mới. Tùy thuộc vào vai trò đó, các phương pháp có thể thụ động, tích cực và tương tác. Trong mỗi nhóm này, có thể xác định các phân nhóm. Một trong những phân nhóm của các phương pháp có thể tham gia vào bất kỳ nhóm lớn các phương pháp trên là các phương pháp đào tạo trực quan , bao gồm nhiều cách trình bày thông tin.

    Do các thiết bị kỹ thuật của nhiều cơ sở giáo dục đã tăng lên nên có thể sử dụng máy chiếu, máy ghi băng video, ti vi, máy vi tính và các thiết bị video khác trong bài học, phương pháp video được tách ra thành một phương pháp độc lập từ một nhóm lớn “phương pháp giảng dạy trực quan”. Điều này cũng áp dụng cho việc làm việc với sách và các nguồn in khác. Phương pháp bao gồm các kỹ thuật như tóm tắt, viết, trích dẫn, lập kế hoạch, chú thích, rà soát, lập sổ chứng nhận …

    Bất kỳ giáo viên nào cũng biết được tình huống khi trong các bài học của trẻ em không hấp dẫn và nhàm chán. Tại sao đời sống trường học thường không giống như thế giới tươi sáng và đầy màu sắc của thời thơ ấu đi kèm với đứa trẻ trong cuộc sống hàng ngày? Dường như đó là trường học nên làm say đắm cho đứa trẻ, dẫn cậu đi theo con đường đẹp của kiến thức đến một thế giới tươi đẹp mới, nhưng điều này không phải lúc nào cũng xảy ra.

    Chỉ cần đừng kết luận vội vã và nói rằng trường học không thể phục vụ như là một nguồn tri thức, mà đôi khi có thể tìm thấy trên các phương tiện truyền thông. Mặc dù đôi khi các tuyên bố như vậy có thể được khá hợp lý. Thực tế là trường luôn có một số lượng bảo thủ nhất định mà không cho phép quá trình chuyển giao kiến thức cho thế hệ trẻ để theo kịp với thời đại.

    Như vậy đã nảy sinh một mâu thuẫn giữa thời đại bốc đồng mới, đặc điểm đặc trưng của nó là sự thâm nhập đầy đủ các công nghệ hiện đại vào cuộc sống hàng ngày và thói quen giáo dục truyền thống của trường học, điều này không chấp nhận bất kỳ sự đổi mới nào.

    Tuy nhiên, hoàn toàn có thể vượt qua mâu thuẫn này. Các giáo viên xuất sắc trong thời đại chúng ta đã suy nghĩ lâu về điều này và đã cố gắng hết sức để vượt qua tình trạng này.

    Các phương pháp đào tạo trực quan được coi là liên kết đầu tiên trong chuỗi các phương pháp hàng đầu khác có thể làm cho kiến thức mới có thể tiếp cận và thú vị cho trẻ em, và do đó sự nhàm chán là không cần thiết. Nói chung, thành công trong đào tạo có thể phụ thuộc không chỉ vào các phương pháp được sử dụng – người ta nên nhớ rằng chỉ đơn giản không có phương pháp phổ quát phổ quát phù hợp với mọi trường hợp của cuộc sống. Thành công có thể trực tiếp phụ thuộc vào tính cách của giáo viên.

    Áp dụng các phương pháp giảng dạy trò chơi, bạn có thể đa dạng hóa quá trình học tập và làm cho nó hấp dẫn. Ở các cơ sở giáo dục đặc biệt bậc cao và trung học, các phương pháp đào tạo nghề cũng thường hoạt động và tương tác, điều này làm cho việc thu thập tài liệu học tập một cách tốt nhất có thể.

    Câu hỏi về phương pháp vẫn còn rất quan trọng, nhưng chỉ đơn giản không có ai trả lời cho câu hỏi “tốt hơn thế nào”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giảng Dạy Pháp Luật Cộng Đồng Thcs Minh Hải, Văn Lâm, Hưng Yên
  • Việc Triển Khai Hoạt Động Pro Bono Thông Qua Chương Trình Giáo Dục Pháp Luật Thực Hành (Cle) Tại Trường Đại Học Đào Tạo Luật
  • Tư Duy Của Giáo Viên Dạy Tiếng Anh Khi Soạn Bài
  • Giới Thiệu Bộ Sách Tiếng Anh Phonics
  • 4 Phương Pháp Dạy Trẻ Đọc Dựa Trên Ngữ Âm
  • Về Phương Pháp Giảng Dạy Văn Học Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Kinh Nghiệm Dạy Văn Học Nước Ngoài Ở Cấp Thcs
  • Bế Giảng Khóa Học Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài
  • Phép Chiếu Gauss Và Hệ Tọa Độ Ô Vuông Gauss
  • Sử Dụng Bản Đồ Quân Sự
  • Phương Pháp Học Tập Tốt Môn Ngữ Văn
  • PGS.TS NGUYỄN THỊ BÌNH

    ( Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, ĐH Ngoại ngữ, ĐH QG Hà Nội)

    1. Mở đầu

    Yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy văn học nước ngoài để phục vụ việc dạy tiếng trong các trường đại học ngoại ngữ là hết sức cần thiết, khi sinh viên không còn say mê học môn văn học, thậm chí họ chán nản và “sợ” môn học này. Đứng trước thực trạng đó, chúng tôi luôn trăn trở và mong muốn tìm hướng đi mới, các biện pháp tối ưu nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn văn. Xuất phát từ các phương pháp giảng văn học Pháp đã và đang được thực thi, bài viết của chúng tôi mong muốn chọn lọc những giải pháp thiết thực, khả thi rút ra từ những thành tựu lí luận và thực tiễn của nước ngoài nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy văn học Pháp nói riêng và văn học nước ngoài nói chung trong các trường đại học, đồng thời góp phần giới thiệu những quan niệm mới và biện pháp hiệu quả trong quá trình nâng cao chất lượng giảng dạy môn văn học tại Việt Nam.

    2. Các phương pháp giảng dạy văn học Pháp

    Trong quá trình giảng dạy tiếng Pháp cho người nước ngoài, văn bản văn học được sử dụng như những tài liệu giảng dạy bắt buộc. Tuy nhiên vai trò của nó thay đổi theo những quan niệm khác nhau của các nhà sư phạm “siêu độc giả”, người khai thác tác phẩm văn học trong giảng dạy.

    Theo phương pháp truyền thống, văn bản văn học là tài liệu ưu tiên để giảng dạy ngữ pháp và dịch. Những đoạn trích các tác phẩm văn học là tài liệu để xây dựng các bài tập về từ vựng, ngữ pháp, dịch ngược và dịch xuôi. Khi cho rằng, dịch là hình thức cho phép người học hiểu đúng tác phẩm, thì quá trình cảm thụ bị lệ thuộc vào ngôn ngữ mẹ đẻ và nguy cơ hiểu sai tác phẩm tăng lên rõ rệt. Bởi lẽ chúng ta đã biết, nếu trình độ dịch văn bản văn học non yếu dễ dẫn đến “phản bội” nghĩa đích thực của tác phẩm, đồng thời buộc người học trở nên thụ động.

    Nhóm 1: thực hiện các thao tác phân tích những tính chất đặc trưng của bài thơ, vì vậy họ đã hiểu đúng ý nghĩa của văn bản và có những cảm nhận cá nhân tương đối độc lập và sáng tạo. Theo họ, không tham khảo phần dịch, họ hiểu bài thơ dễ dàng hơn khi áp dụng các thao tác thi pháp thơ: nghiên cứu các vần, nhịp điệu, cấu trúc các khổ thơ, kĩ thuật láy âm, các kĩ thuật tu từ để phát hiện nghĩa ngầm ẩn sâu sắc của tác phầm: Lên án sự phi lí của chiến tranh huỷ diệt con người và thiên nhiên tươi đẹp.

    Nhóm 2: tham khảo phần dịch sang tiếng Việt, họ khó khăn nhận diện cấu trúc của bài thơ gồm 3 phần: Phong cảnh đầy sắc màu và âm thanh rộn rã của bức tranh thôn quê; miêu tả chân dung nhân vật – hình tượng trung tâm của bài thơ; phát hiện một xác chết – người lính.

    Dịch thực chất là sáng tạo bài thơ lại một lần nữa sang một ngôn ngữ khác, nhưng dịch thơ lại vô cùng phức tạp vì muốn trung thành với văn bản, duy trì tính nhạc, vần điệu một số từ có thể bị lược bỏ. Như vậy giá trị biểu cảm bị giảm đi đáng kể. Thí dụ: les glaieuls trong tiếng Pháp là loại hoa có hình dáng của lưỡi kiếm sắc, khiến người đọc liên tưởng đến vũ khí chiến đấu và được đặt cạnh người đàn ông đang nằm giữa bãi cỏ gợi lên hình ảnh người lính bị giết ở chiến trường. Nhưng khi dịch sang tiếng Việt chỉ có nghĩa là một loài hoa, không gợi ra được ý nghĩa hàm ẩn của loại hoa đặc biệt này.

    Hơn nữa, khi bài thơ được dịch sang một ngôn ngữ khác thì thường là cấu trúc âm thanh của nó bị huỷ bỏ. Trong khi đó, nhiều nhà thi pháp học cho rằng “âm mang nghĩa”, âm thanh tạo chất nhạc tràn đầy – một giá trị thẩm mĩ quan trọng của thi ca. Cảm thụ những âm vang được tạo nên từ các cách gieo vần, cấu trúc trùng điệp (sự láy lại cùng một phụ âm, hoặc cùng một nguyên âm…), sự tương ứng hoặc không tương ứng giữa câu thơ và câu ngữ pháp qua các kĩ thuật (enjambement, rejet, contre rejet) cũng là một sơ sở để khám phá vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm thơ. Đối với trường hợp bài thơ Le dormeur du val, các kĩ thuật gieo vần: vần đan chéo (rimes croisées- abab, cdcd) trong khổ thứ nhất và khổ thứ hai, sự đan xen hai hình thức gieo vần (vần phẳng= rimes plate: eef và vần ôm = rimes embrassées: fggf) trong hai khổ thơ cuối khó có thể chuyển dịch sang tiếng Việt.

    LE DORMEUR DU VAL

    C’est un trou de verdure où chante une rivière

    Accrochant follement aux herbes des haillons

    D’argent, oùle soleil, de la montagne fière,

    Luit; c’est un petit val qui mousse de rayons,

    Un soldat jeune, bouche ouverte, tête nue,

    Et la nuque baignant dans le frais cresson bleu,

    Dort: il est étendu dans l’herbe, sous la nue,

    Pâle dans son lit vert où la lumière pleut,

    Les pieds dans les glaieuls, il dort.

    Souriant comme

    Souriait un enfant malade, ilfait un somme,

    Nature berce-le chaudement: il a froid!

    Les parfums ne font pas frissonner sa narine,

    Il dort dans le soleil, la main sur la poitrine,

    Tranquille. Il a deux trous rouges au côté droit.

    Với đối tượng là sinh viên học tiếng Pháp như một ngoại ngữ, phương pháp truyền thống khi phân tích các văn bản dựa quá nhiều vào ngôn ngữ mẹ đẻ, kĩ năng giao tiếp bị xem nhẹ, kĩ năng viết được đặt lên hàng đầu. Không chú trọng đến yếu tố ngôn ngữ, các đặc trưng kĩ thuật của thể loại, thể hình của tác phẩm văn học mà chỉ chú trọng đến khả năng cung cấp các kiến thức về văn hóa và xã hội. Phương pháp này không cho phép người đọc khả năng hiểu theo nhiều cách khác nhau đối với cùng một văn bản văn học, bởi lẽ chỉ có một bản dịch hay nhất, một nghĩa duy nhất khi chuyển sang ngôn ngữ của người học.

    Mặt khác, ở thời kì hoàng kim của phương pháp truyền thống, giảng dạy văn học chịu sự tác động sâu sắc của trường phái Lanson khi đề cao vai trò quyết định của nhà văn và các yếu tố bên ngoài văn bản (nền văn minh, môi trường xã hội, lịch sử nơi mà văn bản được viết ra) để giải thích nghĩa của văn bản văn học. Nói một cách khác là người dạy dựa nhiều vào tiểu sử của nhà văn để soi sáng các giá trị xã hội, văn hóa và áp đặt một định hướng duy nhất trong phân tích văn bản cho người học .

    Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với tác giả Nguyễn Thị Huyền về giá trị của tài liệu đích thực trong giảng dạy môn văn học cho mọi đối tượng. Đối với cùng một tài liệu đích thực có thể có hai thái độ tiếp nhận: người bản ngữ đọc tài liệu đó dựa vào năng lực ngôn ngữ, giao tiếp và văn hóa của mình, còn sinh viên nước ngoài đọc để đạt được những năng lực đó bằng việc vận dụng hai hệ thống, hệ thống tiếng nước ngoài và tiếng mẹ đẻ. Trong trường hợp đó, người đọc vẫn phải coi việc nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ của văn bản là quan trọng nhất

    Phương pháp khai thác văn bản văn học theo loại hình và thể loại thực chất gắn liền với các nguyên tắc của thi Pháp học, khi nó yêu cầu trước hết là nghiên cứu các phương thức nghệ thuật, miêu tả các đặc trưng thể loại văn học, từ đó tìm tòi các tầng lớp ý nghĩa ẩn giấu của tác phẩm.

    2.3.3. Đọc có phương pháp (lecture méthodique)

    Đọc các tác phẩm văn học là yêu cầu bắt buộc đối với quá trình dạy và học văn học, cho dù áp dụng bất kỳ phương pháp truyền thống hoặc hiện đại nào. Lanson, nhà sáng lập phê bình lịch sử văn học, trong Lời nói đầu cuốn Lịch sử văn học Pháp đã khẳng định mục đích của công trình không phải chỉ cung cấp kiến thức văn chương mà thực chất là tạo động lực cho việc đọc các tác phẩm đặc sắc. Tại Pháp, việc đọc các tác phẩm văn học được thiết chế hóa trong chương trình dạy- học văn học. Việc đọc tác phẩm văn học là bài tập bắt buộc đối với người học ở tất cả các cấp học từ tiểu học cho đến đại học, được kiểm tra và đánh giá nghiêm túc. Nhưng phương thức đọc nào giúp người học có khả năng giải mã ý nghĩa, cảm thụ độc lập vẻ đẹp của tác phẩm văn học?

    Thực chất trong các phần trên chúng tôi đã trình bày các giải pháp cụ thể với các thao tác chuyên biệt, bổ sung tương tác lẫn nhau hướng đến một kiểu Đọc có phương pháp. Điều kiện then chốt, cốt lõi của thành công về phương diện giáo học pháp trong cách tiếp cận hiệu quả các văn bản văn học là thực thi đồng thời các biện pháp, kĩ năng chuyên biệt của những thao tác khác nhau đối với các văn bản văn học. Chúng ta có thể tham khảo một sơ đồ tổng hợp gồm bốn thao tác của nhóm tác giả cuốn Hướng dẫn dạy Văn học Pháp ngữ [1]

    Chúng tôi xin đưa ra một loại phiếu (fiche) ghi chép, tổng kết quá trình đọc tác phẩm văn học của người học. Sau khi đọc một truyện ngắn hoặc một tiểu thuyết, người đọc dành thời gian để suy ngẫm và trả lời một số câu hỏi sau đây :

    BẢN TỔNG KẾT ĐỌC CÁ NHÂN

    1. Tên tác giả, đầu đề, số trang, năm sáng tác và xuất bản

    2. Hình thức tự sự

    Ai kể? Xác định điểm nhìn? (người kể chuyện xuất hiện trong câu dưới dạng đại từ nhân xưng nào Je, Tu, Il, có đồng nhất với nhân vật không?).

    3. Sơ đồ tự sự

    Nhận xét diễn biến của câu chuyện có tuân theo 5 giai đoạn: tình huống ban đầu, tình huống cuối, yếu tố gây biến đổi, đỉnh cao của biến cố, giải pháp. Dựa trên sơ đồ đó viết một tóm tắt ngắn thể hiện quá trình diễn biến đó.

    4. Cấu trúc tác phẩm

    5. Không gian

    Xác định những dấu hiệu chỉ dẫn không gian? Không gian nào được thể hiện: vùng, thành phố, phong cảnh? Phương thức miêu tả không gian: các lớp cảnh nhỏ, mang tính chân thực, giàu chất thơ, hoặc đậm tính chủ quan? Kĩ thuật điểm nhìn có tác động như thế

    nào đến kĩ thuật miêu tả không gian?

    6. Thời gian

    Thời nào của động từ chiếm chủ đạo trong truyện kể: hiện tại, quá khứ hay xen kẽ luân phiên? Người kể chuyện ở thời điểm nào kể lại câu chuyện? Những dấu hiệu xác định thời gian: ngày, tháng, năm, mùa, giai đoạn, sự kiện lịch sử xã hội? Độ dài của câu chuyện? Nhịp điệu của truyện kể?

    7. Nhân vật

    Xác định hệ thống nhân vật chính, phụ? Lập sơ đồ tác nhân hành động: Destinateur, Destinataire, Objet, Sujet, Adjuvant, Opposant! Các kĩ thuật khắc họa chân dung thể chất, tâm lí, xã hội, tinh thần và đặc biệt quá trình phát triển tính cách của nhân vật trong quá trình diễn biến câu chuyện.

    8. Bút pháp của nhà văn

    Nhà văn sử dụng những biện pháp tu từ nào, loại câu gì? lối nói thân mật hoặc trang trọng nhằm tạo nên một kiểu bút pháp của mình? Bạn có thể trích dẫn một vài câu trong tác phẩm và giải thích lí do tại sao bạn thích nó!

    9. Niềm hứng thú, mối quan tâm của người đọc

    Đọc có phương pháp là bài tập bắt buộc đối với người học, bởi lẽ nó là một trong biện pháp hữu hiệu trong việc áp dụng phương pháp giao tiếp và phương pháp dạy theo loại hình và thể loại trong phân tích văn bản văn học.

    3. Kết luận

    Những thành tựu lí luận văn học là cơ sở cho sự ra đời các khuynh hướng mới trong phê bình và ảnh hưởng trực tiếp tới các phương thức tiếp cận văn bản văn học. Trong quá trình giảng dạy tiếng Pháp cho người nước ngoài, văn bản văn học được sử dụng như những tài liệu giảng dạy bắt buộc. Tuy nhiên vai trò của nó thay đổi theo những quan niệm khác nhau của các nhà sư phạm “siêu độc giả”, người khai thác tác phẩm văn học trong giảng dạy. Phương pháp truyền thống đề cao vai trò của nhà văn, không quan tâm đến người đọc – người học – những siêu độc giả. Văn bản khép kín, chỉ có một nghĩa, vì vậy người dạy áp đặt một cách hiểu duy nhất, không khuyến khích khả năng độc lập, sáng tạo của người học trong việc cảm thụ tác phẩm văn học.

    Phương pháp nghe nhìn làm biến dạng tác phẩm văn học khi cố gắng thu gọn và làm đơn giản hoá các văn bản. Biến các văn bản văn học thành tài liệu để rèn luyện kĩ năng nói là chủ yếu, vì vậy người dạy chú trọng các văn bản có yếu tố hội thoại.

    Kết hợp phương pháp giao tiếp và phương pháp dạy theo loại hình và thể loại trong phân tích văn bản văn học là hướng đi đúng đắn, đang được phổ cập ở trong các cấp học từphổ thông trung học đến đại học trên thế giới. Kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác tiếp cận văn bản văn học từ bên trong và bên ngoài văn bản, nhằm phát hiện nghĩa của tác phẩm, khuyến khích năng lực độc lập, sáng tạo của người học trong cảm thụ tác phẩm văn học đòi hỏi người dạy có kiến thức sâu rộng về khoa học văn bản, về văn hóa-xã hội không những của ngôn ngữ đang giảng dạy và cả nền văn hóa của người học.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Albert Marie – Claude, Souchon Marc, Hướng dẫn dạy Văn học Pháp ngữ, Nathan, 1992, tr.28.

    2. Albert Marie- Claude, Souchon Marc, Les textes littératures en classe de langue, Hachette, 2000.

    3. Barthes R, Kayser W, Booth W.C, Hamon PH, Poétique du récit, Ed. Du Seuil, 1977.

    4. Barthes Roland, S/Z, Seuil, 1970.

    5. Bakhtine Mikhail, Esthétique et théorie du roman, Gallimard, 1978.

    6. Bergez Daniel, Introduction aux méthodes critiques pour l’analyse littéraire, Bordas, 1990.

    7. Đỗ Đức Hiểu, Đổi mới đọc và bình văn, Nxb Hội Nhà văn, 1999.

    8. Đỗ Đức Hiểu, Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, 2000.

    9. Elisabeth Ravoux Rallo, Méthode de critique littéraire, Arman Colin, 1995, Tr.65.

    10. Nguyễn Thị Huyền, Nghiên cứu phương pháp dạy-học văn bản văn học theo đặc điểm thể loại và loại hình cho sinh viên chuyên Pháp (đề tài NCKH cấp ĐHQGHN), 2005, tr. 46.

    11. Peytard J, Littérature et classe de langue, Didier, 1982, tr.35.

    12. Ravoux Rallo Elisabeth, Méthode de critique littéraire, Arman Colin, 1995.

    SUMMARY

    The teaching of French literature changes with different viewpoints from different ‘super readers’ who exploit literary works in their teaching. The traditional methodology dignifies the roles of the authors and pays little attention to the readers – the learners. Because the literary texts are then closed with only one meaning, teachers generally impose the only way of understanding when teaching, discouraging learners’s critical and creative thinkings. Besides, the audio-visual method deforms the literary works trying to compact and simplify the texts, turning the texts into materials for speaking practice. The combination of the communicative approach and genre teaching in the analysis of texts requires the teachers to approach the texts basing on the words and reading between the lines. The final aim of this teaching method is to discover more meanings of the texts and more importantly to encourage learner’s critical and creative abilities during their perception of the literary works.

    Nguồn: Tạp chí Ngôn ngữ, số 10 năm 2012

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Học Úc Ngành Thạc Sĩ Giảng Dạy Tiếng Anh (Master Of Tesol)
  • Tuyển Sinh Chương Trình Thạc Sĩ Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh (Tesol)
  • Pháp: Sử Dụng Phương Pháp Giảng Dạy “học Sinh Là Trung Tâm”
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Tin Học 6 Bằng Phương Pháp Giảng Dạy Trực Quan
  • Phương Pháp Giảng Dạy Trực Quan Tương Tác
  • Bế Giảng Khóa Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bật Mí Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh Tiểu Học Cải Tiến Tại Trung Tâm British Council
  • Các Phương Pháp, Kỹ Năng Và Cách Thức Giảng Dạy
  • Trao Đổi Về Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh Hiệu Quả
  • Kinh Nghiệm Xây Dựng Giáo Án Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Em Mầm Non
  • Tiếng Anh Cho Trẻ Em: Lợi Ích Và Các Phương Pháp Giảng Dạy Hiệu Quả
  • “Trước khi tham gia khóa học này, chúng tôi chỉ có một vài ý tưởng về cách giảng dạy tiếng Anh cho học sinh tiểu học. Chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn khi hỗ trợ giáo viên tiếng Anh tại các trường tiểu học khi họ cần. Tuy nhiên, bản thân chúng tôi cũng không có đủ kiến thức và hiểu biết về giảng dạy tiếng Anh cho trẻ em. Hơn nữa, chúng tôi không có kinh nghiệm về việc thực hiện các hội thảo để giúp giáo viên chia sẻ những ý kiến cũng như giúp họ giải quyết vấn đề.”, chị Ngô Thị Thuỳ Hương, giảng viên Trường Sư phạm Hòa Bình chia sẻ tại lễ bế giảng Chương trình Đổi mới Phương pháp Giảng dạy Tiếng Anh Tiểu học năm 2014 do Hội đồng Anh và Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) phối hợp thực hiện.

    Cô Ngô Thị Thùy Hương là một trong số 62 giảng viên cao đẳng, đại học và giáo viên tiểu học đã tham dự khóa học về Đổi mới Phương pháp Giảng dạy Tiếng Anh tiểu học kéo dài 6 tuần trong vòng 9 tháng qua. Theo một trong những giáo viên tiểu học trong chương trình thì khóa này là một sự kết hợp hoàn hảo. “Chúng tôi được trải nghiệm công tác giảng dạy và các giáo viên tập huấn có kiến thức rất tốt. Chúng tôi cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và khi gặp phải vướng mắc, chúng tôi luôn nhận được sự hỗ trợ từ các chuyên gia của Hội đồng Anh.”, cô Ngọc Anh, giáo viên Trường tiểu học Kim Ngọc, tỉnh Hà Giang chia sẻ tại lễ bế giảng.

    Chương trình Cải cách Phương pháp Giảng dạy Tiếng Anh Tiểu học hiện đã được thực hiện tại Việt Nam lần thứ 4 và là chương trình được xây dựng nhằm hỗ trợ đội ngũ giảng viên và giáo viên cốt cán địa phương nâng cao các kỹ năng đào tạo giáo viên tiếng Anh tại các trường tiểu học bao gồm việc áp dụng các cách tiếp cận thân thiện với trẻ em, quản lý lớp học, soạn giáo án và thiết kế khóa học. Mục đích nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên và giáo viên cốt cán cho từng địa phương cũng như hỗ trợ họ phát triển các kỹ năng đào tạo giáo viên tiếng Anh tiểu học.

    Những giảng viên và giáo viên cốt cán tham gia khóa học cho biết họ đã học được rất nhiều từ chương trình này. Cô Ngô Thị Thùy Hương chia sẻ: “Khóa học cung cấp cho chúng tôi kiến thức về những đặc điểm của trẻ em trong học ngôn ngữ, các kỹ thuật giảng dạy tiếng Anh dành cho học sinh nhỏ tuổi, đặc biệt là những kỹ năng truyền đạt các kiến thức đã học được từ khóa học cho các giáo viên tiểu học trong tỉnh dưới dạng các hội thảo. Với những bài giảng về kỹ năng của các chuyên gia Hội đồng Anh, chúng tôi không những lĩnh hội được ngôn ngữ trong giảng dạy mà chúng tôi còn học được những kỹ thuật để truyền đạt những lý thuyết mà chúng tôi có thể áp dụng trong thực tế giảng dạy một cách hiệu quả. Đây cũng là cơ hội để chúng tôi gặp gỡ với các giáo viên từ nhiều trường tiểu học khác nhau, hiểu hơn về những khó khăn trong giảng dạy tiếng Anh cho học sinh nhỏ tuổi, chia sẻ với họ và tìm hiểu những giải pháp để giúp họ giải quyết những vấn đề. Và sau khi hoàn tất khóa học, chúng tôi đủ tự tin để thực hiện công việc của một giảng viên cốt cán.”.

    Hi vọng rằng những giảng viên và giáo viên cốt cán này sẽ được Bộ GD&ĐT, các Sở Giáo dục và trường đại học tin dùng ‘để thực hiện các hội thảo nhằm cung cấp cho giáo viên tiếng Anh tại các trường tiểu học trong tỉnh những gì họ đã học được từ khóa học này để nâng cao các phương pháp giảng dạy’. Các giảng viên và giáo viên cốt cán không những được trang bị các kỹ năng nhằm hỗ trợ giáo viên tiếng Anh tại các trường tiểu học đổi mới phương pháp giảng dạy, mà còn có thể tham gia đào tạo phương pháp giảng dạy tiếng Anh tiểu học dành cho sinh viên tại các trường cao đẳng hoặc đại học. Do đó, chương trình đã góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao chuẩn dạy và học tiếng Anh trong hệ thống giáo dục quốc dân vào năm 2022 của Bộ GD&ĐT.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Cách Thực Hành Giảng Dạy Đạt Hiệu Quả Cao
  • Các Nguyên Tắc Và Phương Pháp Dạy Học Tiếng
  • Cải Tiến Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Anh Bậc Trung Học
  • 13 Cách Giảm Mỡ Bụng Nhanh Và Hiệu Quả Nhất Tại Nhà “quá Dễ”
  • Các Phương Pháp Giảm Cân Hiệu Quả Tại Nhà
  • Phương Pháp Giảng Dạy Học Mới Nhất 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Mở Và Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ngữ Văn
  • Chuyên Đề Đổi Mới Ppdh Môn Ngữ Văn Ở Trường Thpt
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Bài Thu Hoạch Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Đổi Mới Giáo Dục Và Đào Tạo Trong Các Trường Quân Đội Hiện Nay
  • Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang có những bước phát triển và đổi mới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như: Kinh tế, an ninh – chính trị, văn hóa – xã hội, trong đó bao gồm cả giáo dục. Trong những năm vừa qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều chính sách trong việc đổi mới chương trình giảng dạy và học tập cho giáo viên và học sinh Việt Nam, nhằm giúp cho nền giáo dục nước nhà ngày một tiến bộ và phát triển hơn. Theo đó, trong năm 2022 đã có rất nhiều những phương pháp giảng dạy mới đã được đề ra, trong số đó có thể kể đến 9 phương pháp giảng dạy học mới nhất năm 2022 như sau:

    Các phương pháp dạy học hay nhất năm 2022

    Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống

    Trong trường hợp này thì những phương pháp dạy học truyền thống sẽ không bị bỏ đi mà dựa vào những phương pháp dạy học truyền thống đã có như: thuyết trình, đàm thoại,… người dạy sẽ khắc phục những nhược điểm cũng như phát huy ưu điểm sẵn có để cải tiến và nâng cao hiệu quả giảng dạy hơn.

    Kết hợp đa dạng phương pháp dạy học

    Mỗi phương pháp dạy học đều tồn tại những ưu và nhược điểm riêng, chính vì thế sẽ không có phương pháp dạy học nào toàn năng để phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung. Vì vậy, việc sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học là việc làm quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học.

    Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề

    Đây được xem là một phương pháp tốt nhằm giúp phát triển tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề của người học. Với những vấn đề xảy ra, thông qua việc giải quyết vấn đề, học sinh có thể tiếp thu được những kỹ năng và phương pháp nhận thức phù hợp với bản thân mình. Đây là phương pháp giúp cho người học có thể phát huy tính tích cực của bản thân, nâng cao hiệu quả của việc học.

    Các phương pháp dạy học tích cực

    Vận dụng dạy học theo tình huống

    Vận dụng dạy học định hướng hành động

    Là phương pháp dạy học lý thuyết đi liền với thực tế làm cho các hoạt động của trí óc và chân tay kết hợp chặt chẽ. Lúc này, người học sẽ thực hiện các nhiệm vụ học tập và cho ra sản phẩm bằng hành động. Phương pháp này giúp người học nắm vững kiến thức hơn, ghi nhớ kiến thức sâu và lâu hơn.

    Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ dạy học

    Trong thời buổi công nghệ 4.0 thì công nghệ thông tin được cho là đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống của chúng ta, đặc biệt là trong môi trường giáo dục. Các em học sinh nếu được tiếp xúc và thực hành sớm với các công cụ công nghệ thông tin thì sẽ trang bị được cho mình những kiến thức cần có cho công việc trong tương lai. Hơn thế nữa việc sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ dạy học sẽ giúp cho việc dạy và học trở nên hiệu quả và chất lượng hơn.

    Các phương pháp dạy học truyền thống

    Sử dụng kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo

    Với phương pháp này thì kỹ thuật dạy học chính là cách thức hành động của người dạy và người học trong các tình huống nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kỹ thuật này được cho là đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Đây được cho là một trong những phương pháp giảng học hiệu quả nhất năm 2022.

    Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn

    Phương pháp giảng dạy có mối quan hệ mật thiết với nội dung dạy học. Nếu như, phương pháp chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn khác nhau thì với việc sử dụng phương pháp dạy học đặc thù thì sẽ có vai trò quan trọng trong dạy học từng bộ môn khác nhau.

    Các phương pháp dạy học tích cực đổi mới

    Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh

    Bên cạnh những phương pháp dạy học tốt nhất, thì người học cũng cần phải được trang bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết để việc học tập của bản thân đạt hiệu quả cao và có những tiến bộ tích cực hơn. Một số phương pháp học tập tích cực mà người học cần có như: thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, tổ chức làm việc, làm việc nhóm,… Ngoài ra, thầy cô còn cần rèn luyện cho các bạn học sinh cách học tập trung và các phương pháp học tập bộ môn khác.

    Tóm lại, hiện nay có rất nhiều hướng đổi mới phương pháp dạy học với những cách tiếp cận riêng. Việc đổi mới phương pháp dạy học là rất quan trọng và chúng đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất, nơi tổ chức dạy học, cùng với điều kiện về tổ chức, quản lý. Mỗi giáo viên sẽ có những đặc điểm riêng biệt, kinh nghiệm riêng mà sẽ có cho mình những phương pháp dạy học phù hợp cho bản thân và cho từng học viên.

    Phương pháp giảng dạy học mới nhất 2022

    Tư vấn tìm gia sư 24/7

    Hotline hỗ trợ mọi vấn đề xung quanh việc học con em bạn .

    Hỗ trợ giải đáp tư vấn tìm gia sư các môn học, các cấp học 24/7.

      CÔNG TY TNHH TƯ VẤN VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VINA GIA SƯ là 1 trung tâm gia sư uy tín hàng đầu tại Việt Nam

      Địa chỉ : 338/2A Tân Sơn Nhì , phường Tân Sơn Nhì , Quận Tân Phú, TP.Hồ Chí Minh

      Điện thoại : 0903 108 883 – 0969 592 449

      Email : [email protected]

      Website : Vinagiasu.vn

    @ Copyright 2010-2020 chúng tôi , all rights reserved

    Loading…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Thảo Khoa Học “đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Theo Hướng Tích Hợp Cho Trẻ Mầm Non”
  • Linh Hoạt Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Lớp 1
  • Kế Hoạch Đổi Mới Ppdh Và Ktđg Của Tổ Toán
  • Kế Hoạch Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học. Năm Học 2022
  • Tuyên Quang: Tăng Cường Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Và Kiểm Tra Đánh Giá Ở Tiểu Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×