Top 3 # Phương Pháp Giáo Dục Lại Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

9 Lợi Ích Mà Phương Pháp Giáo Dục Stem Mang Lại

Hiện nay, giáo dục STEM là một phương pháp giáo dục đang được chú ý rất nhiều. STEM được áp dụng tích cực trong các chương trình giáo dục ở các nước phát triển (như Mỹ, Đức, Pháp, Nhật bản……) tại Việt Nam, giáo dục STEM cũng đang được bộ giáo dục và đào tạo định hướng để phát triển cho các em học sinh, sinh viên trong những năm gần đây. Như vậy, phương pháp giáo dục STEM đóng vai trò đặc biệt quan trong trong sự nghiệp giáo dục. Chúng ta cần phải khai thác những điểm mạnh của Giáo dục STEM

Phương pháp giáo dục STEM là gì?

STEM là phương pháp giáo dục tích hợp 4 bộ môn, bao gồm Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kỹ thuật) và Mathematics (Toán học). Theo “Hiệp hội các giáo viên dạy khoa học quốc gia Mỹ” (NSTA), điểm đặc biệt của phương pháp này là cách tiếp cận liên ngành trong quá trình học và lồng ghép các kiến thức lí thuyết trong bối cảnh thực tiễn. Nhờ vậy, học sinh có cái nhìn vừa đa chiều vừa có tính ứng dụng cao. Năm 2013, tổng thống Barack Obama đã yêu cầu Bộ Giáo dục thực hiện chiến dịch Cải tiến chất lượng giáo dục cho trẻ em Mỹ lấy nền tảng là STEM.

Thế mạnh của giáo dục STEM

Giáo dục STEM là phương thức giáo dục tích hợp theo cách tiếp cận liên môn (interdisciplinary) và thông qua thực hành, ứng dụng. Thay vì dạy bốn môn học như các đối tượng tách biệt và rời rạc, STEM kết hợp chúng thành một mô hình học tập gắn kết dựa trên các ứng dụng thực tế. Qua đó, học sinh vừa học được kiến thức khoa học, vừa học được cách vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn.

Áp dụng phương pháp giáo dục STEM sẽ phá đi khoảng cách giữa hàn lâm và thực tiễn, tạo ra những con người có năng lực làm việc “tức thì” trong môi trường làm việc có tính sáng tạo cao với những công việc đòi hỏi trí óc của thế kỷ 21. Điều này phù hợp với cách tiếp cận tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Vì thế, tư tưởng này của giáo dục STEM cần được khai thác và đưa vào mạnh mẽ trong Chương trình GDPT mới.

Giáo dục STEM đề cao một phong cách học tập mới cho người học, đó là phong cách học tập sáng tạo. Đặt người học vào vai trò của một nhà phát minh, người học sẽ phải hiểu thực chất của các kiến thức được trang bị; phải biết cách mở rộng kiến thức; phải biết cách sửa chữa, chế biến lại chúng cho phù hợp với tình huống có vấn đề mà người học đang phải giải quyết. Sự thẩm thấu kiến thức theo cách như vậy chính là một trong những định hướng mà giáo dục cần tiếp cận. Tuy vậy, có thể thấy phương thức dạy học như trên là không hề dễ dàng ngay cả đối với thế giới chứ không chỉ riêng trong điều kiện hiện nay của chúng ta

9 lợi ích của phương pháp giáo dục STEM

Phát triển sự khéo léo sáng tạo

Sự khéo léo và khả năng sáng tạo của các bé được STEM khơi dậy, giúp các em phát minh ra những ý tưởng và dự án mang tính đổi mới. Nếu không nhờ vào sự sáng tạo, những bước phát triển vượt bậc gần đây trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và giáo dục kỹ thuật số sẽ không thể xảy ra. Chỉ những người sáng tạo mới có thể nghĩ ra những công nghệ đột phá này, họ hiểu rằng trí não con người có thể nghĩ ra việc gì, thì việc đó sẽ có khả năng trở thành hiện thực. Điểm chung của họ là được dạy bởi một người thầy STEM tuyệt vời.

Dạy trẻ kỹ năng giải quyết vấn đề

Giáo dục STEM dạy cho học sinh cách giải quyết vấn đề bằng việc sử dụng các kỹ năng tư duy phản biện. Khi trải nghiệm phương pháp giáo dục STEM, các em sẽ được học cách phân tích các vấn đề và lên kế hoạch để giải quyết chúng.

Rèn luyện sức bền bỉ

Trong các hoạt động giáo dục STEM, học sinh được học trong một môi trường an toàn, nơi mà các em có thể thoải mái thất bại rồi thử lại lần nữa. Phương pháp giáo dục STEM đề cao giá trị của sự thất bại như một công cụ giảng dạy quý giá, nó cho các em biết coi trọng thất bại, và chấp nhận nó như một phần tất yếu của quá trình học. Điều này giúp học sinh rèn luyện sự tự tin và tính bền bỉ, hai đức tính không thể thiếu để các em có thể vượt qua những khó khăn sau này. Bởi dù sao đi nữa, khó khăn và thất bại là một phần tất yếu trên con đường dẫn đến thành công.

Khuyến khích các cuộc thử nghiệm

Nếu không có một chút mạo hiểm và các cuộc thử nghiệm, rất nhiều bước tiến vĩ đại về công nghệ trong các thập kỷ vừa qua sẽ không xảy ra. Phần lớn các phát minh này khi mới đề xuất đều bị coi là viển vông, nhưng những vĩ nhân – tác giả đằng sau công trình trả lời rằng: “Hãy thử xem nào”. Chính quan điểm và cách nhìn này là điều mà giáo dục STEM mong muốn khuyến khích trong những năm học K-12. Làm thế nào để đạt được điều đó? Bằng cách cho phép học sinh thử nghiệm và mạo hiểm một cách an toàn trong các hoạt động học tập.

Khuyến khích làm việc nhóm

Phương pháp giáo dục STEM có thể áp dụng cho các học sinh ở tất cả các trình độ. Những học sinh có trình độ khác nhau vẫn có thể làm việc trong cùng một nhóm để giải quyết các vấn đề, ghi chép dữ liệu, viết báo cáo, thuyết trình và hơn thế nữa. Kết quả là những em học sinh được hợp tác với nhau và cùng phát triển trong môi trường yêu cầu khả năng năng làm việc nhóm cao.

Khuyến khích áp dụng kiến thức vào thực tiễn

Trong giáo dục STEM, học sinh được dạy những kĩ năng có thể áp dụng vào cuộc sống thực. Điều này làm động lực để các em học, vì các em biết là các kĩ năng này có thể được sử dụng ngay lập tức để giúp cuộc sống của các em và gia đình trở nên tốt hơn. Khả năng áp dụng kiến thức vào các nhiệm vụ thực tiễn sẽ là một công cụ đắc lực cho các em trong môi trường làm việc sau này.

Khuyến khích sử dụng công nghệ

Giáo dục STEM dạy cho trẻ sức mạnh của công nghệ và các phát minh. Vì thế, khi trẻ được tiếp cận một công nghệ mới, các em sẽ sẵn sàng đón nhận chúng thay vì do dự hay lo sợ. Điều này sẽ giúp các em có được lợi thế lớn trong một môi trường toàn cầu đang ngày càng trở nên công nghệ hóa.

Khuyến khích sự thích nghi

Để thành công trong cuộc sống, học sinh cần khả năng áp dụng những kiến thức được học vào các tình huống khác nhau. Giáo dục STEM dạy các em khả năng áp dụng các khái niệm được học một cách phù hợp tùy vào vấn đề được đưa ra.

Tính giải trí cao

học với robot là một cách học đầy thú vị

Tính cạnh tranh vừa sức

Học sinh trải nghiệm thành công cũng như thất bại qua các cuộc thi đấu robot. Thông qua đó, các em phát triển trí tuệ một cách lành mạnh.

Phương Pháp Giáo Dục Shichida

Tóm tắt: Tác giả Shichida Makoto là giám đốc công ty Shichida và Chủ tịch kiêm cố vấn của trường “Shichida Child Academy”, là hội viên Viện hàn lâm Hoa Kỳ (United State Academy Academician) . Nối tiếp sự nghiệp trồng người vĩ đại của người cha mình, tác giả đã có rất nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển giáo dục trẻ thơ từ năm 1958. Ông đã xuất bản 160 cuốn sách và nhận được nhiều giải thưởng tại Nhật Bản và Quốc tế như: Giải thưởng Dịch vụ văn hóa-Xã hội (Socio-Cultural Award) tháng 4 Năm 1997, dành cho những cá nhân có những thành tích vượt bậc trong 6 lĩnh vực khác nhau, bao gồm: nghệ thuật, mỹ thuật, tôn giáo, phúc lợi xã hội, văn hóa và giáo dục; Giải thưởng Khoa học Quốc tế Grand Prix (International Science Grand Prix) tháng 7 Năm 1997, Hội đồng Khoa học Thế giới đã đánh giá phương pháp Shichida về giáo dục não phải là một trong những học thuyết giáo dục tốt nhất; Huân chương Hiệp sĩ vì sự phục vụ xuất sắc của tổ chức Hòa bình Thế giới (The Order of the Grand Knight for the Distinguished Service of the World Peach) tháng 12 Năm 1997; Người đầu tiên đạt huân chương của Cộng hòa Liên bang Brazil (Commander of the Order of the Federative of Brazil) tháng 10 Năm 1998; Giải thưởng y khoa (Wellness Medicine Award) tháng 3 Năm 2003, giải thưởng được trao tặng cho những người đang phục vụ sức khỏe về thể chất và tinh thần cho con người, và đang có đóng góp cho tổ chức Hòa bình Thế giới trong nhiều năm, và giải thưởng Tưởng niệm Higashi-Kuninomiya (Higashi-Kuninomiya Memorial Award) tháng 6 Năm 2003, giải thưởng này được trao tặng cho những cá nhân chú trọng đến tầm quan trọng của những ý tưởng sáng tạo, phát triển tài sản trí tuệ và cống hiến công sức tối đa cho ngành giáo dục sáng tạo.

Những bài học kết hợp với vui chơi cùng trẻ có thể không mới với các bậc cha mẹ, nhưng không phải ai trong chúng ta cũng biết rõ những bài học đó có tác dụng như thế nào đến sự phát triển trí não của trẻ, ông đã đi sâu nghiên cứu và phát triển chúng. Đặc biệt, ông đi sâu nghiên cứu từng giai đoạn phát triển của trẻ, giai đoạn phát triển của bán cầu não phải, não trái và đề ra phương pháp giáo dục thích hợp cho từng thời kỳ. Phương pháp giáo dục Shichida là phương pháp giáo dục nuôi dưỡng tâm hồn, nuôi dưỡng tình yêu thương đến mọi người, nuôi dưỡng ước mơ và ý chí. Shichida khẳng đinh rằng, quá trình giáo dục không phải là việc chỉ truyền đạt kiến thức như chúng ta đang làm hiện nay, mà cần phải có một sự biến đổi lớn trong quá trình nuôi dưỡng khả năng học tập, năng lực suy nghĩ, khả năng sống và sinh tồn. Lấy “trí dục”, “đức dục”, “thể dục’ và “thực dục” làm cơ sở, hướng đến việc giáo dục toàn bộ nhân cách và phát triển não phải.

Shichida cho rằng, việc giáo dục phát triển não phải không chỉ là việc tập trung vào thành tích học tập của trẻ, mà một trong những kết quả thần kỳ của nó là tất cả trẻ em được phát triển tâm trí một cách nhẹ nhàng và hài hòa, trẻ sẽ biểu lộ sự nhạy cảm đa dạng, lòng nhân đạo, trí tưởng tượng và sự sáng tạo. Nó nuôi dưỡng tình yêu, tạo sự hiệp nhất của các giác quan (thính giác, thị giác, xúc giác ….) và điều quan trọng là sự hợp tác tuyệt vời giữa bố mẹ và các con. Giáo dục sớm và giáo dục phát triển não phải sẽ định hình tương lai của thế giới, bởi một trong những mục tiêu của giáo dục là để tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn. Đây là kết quả tự nhiên của giáo dục phát triển não phải, phương pháp học tập dựa trên tình yêu và sự hợp tác. Ngược lại, “giáo dục phát triển não trái là tạo nên sự đối đầu và cạnh tranh”-Shichida. Gần đây trong nhà trường Nhật Bản, còn quan tâm dạy và rèn luyện cho học sinh :, trước khi nói, trước khi hành động cần suy nghĩ phán đoán đối tác của mình sẽ suy nghĩ, sẽ phản ứng thế nào? Hay nói khác hơn là phải đặt mình vào vị trí của người khác trước khi nói và hành động để không làm tổn thương đến họ. Shichida là người rất quan tâm và là người khởi xướng phương cách giáo dục sao cho cân bằng giữa não phải và não trái. Phương pháp Shichida về giáo dục não phải đã được tổ chức Hòa bình Thế giới đăng ký là Tài sản Trí tuệ của thế giới vào tháng 12 năm 1997. Hiện nay phương pháp giáo dục này đang rất được thịnh hành tại Nhật Bản, nhưng muốn giảng dạy theo phương pháp Shichida cần phải có bản quyền.

Nội dung:

1) Thông điệp của tác giả Shichida Makoto

Quá trình giáo dục không phải là việc chỉ truyền đạt kiến thức như chúng ta đang làm hiện nay, mà phải là một sự biến đổi lớn trong quá trình nuôi dưỡng khả năng học tập, năng lực suy nghĩ, khả năng sống và sinh tồn. Hiện nay phương pháp giáo dục này đang rất được thịnh hành tại Nhật Bản.

Việc nuôi dưỡng trẻ phải được bắt đầu bằng việc nuôi dưỡng tình yêu ngay từ khi mới sinh ra cho đến việc nuôi dưỡng ý chí, ước mơ; giáo dục như thế nào để có thể hướng dẫn trẻ cách khen chê, hay làm thế nào để trẻ có tính kiên nhẫn,…Tiếp đó chúng ta cần phải suy nghĩ về cả một quá trình nuôi dưỡng dài hơn, đó là việc giáo dục đạo đức, và làm thế nào để trẻ có thể cống hiến bản thân cho xã hội.

Tất nhiên việc giáo dục kiến thức, giáo dục lý trí là cần thiết, nhưng bên cạnh đó chúng ta cần phải giáo dục nuôi dưỡng tâm hồn trẻ biết yêu thương con người, giáo dục cảm tính, sau đó là làm thế nào để “vận dụng tối đa để bản thân mình trở thành người có ích cho mọi người”.

Phương pháp giáo dục Shichida là phương pháp giáo dục nuôi dưỡng tâm hồn, nuôi dưỡng tình yêu thương đến mọi người, nuôi dưỡng ước mơ, ý chí. Lấy “trí dục”, “đức dục”, “thể dục’ và “thực dục” làm cơ sở, chúng ta hướng đến việc giáo dục toàn bộ nhân cách, xử lý não phải và khởi xướng việc giáo dục sao cho cân bằng giữa não phải và não trái. Shichida cũng chỉ ra rằng tất cả chúng ta đều có khả năng về não phải như nhau, trách nhiệm của cha mẹ và giáo viên là phải ” giải phóng” tiềm năng ban đầu trở thành khả năng mà bất cứ đứa trẻ nào đều có thể phát triển đến mức tối đa thông qua giáo dục (” giải phóng khả năng bẩm sinh của trẻ”). “Việc giáo dục não không phải chỉ là việc tập trung vào thành tích học tập , mà một trong những kết quả thần kỳ của nó phải là tất cả các trẻ em được học tập với phương pháp này sẽ phát triển tâm trí một cách nhẹ nhàng và hài hòa. Trẻ sẽ bắt đầu biểu lộ đa dạng sự nhạy cảm, lòng nhân đạo, trí tưởng tượng và sự sáng tạo. Đây là kết quả tự nhiên của giáo dục não phải, phương pháp học tập dựa trên tình yêu và sự hợp tác. Phương pháp Shichida

Giáo dục vẫn được cho là có 3 mục chính là “Trí dục”, “Đức dục” và “Thể dục”. Phương pháp Shichida có thêm một mục đích là “Thực dục”.

Những đứa trẻ có thói quen sinh hoạt ăn uống tùy tiện thường không có khả năng học tập tốt, chính vì thế việc học tập sẽ mãi không thể mang lại kết quả cao.

Cần phải suy nghĩ con người không chỉ cần khỏe mạnh về thể chất mà cần phải có sức khỏe trong tâm hồn, cần phải có kiến thức xã hội và khả năng giao tiếp.

Từ khi còn nhỏ, trẻ cần phải có cách suy nghĩ đặt mình vào địa vị của người khác, không nên tự mình đắc ý, tự vừa lòng về bản thân..

Những trẻ sinh ra trong gia đình có từ 3 anh chị em trở lên được coi giống như sống trong một xã hội thu nhỏ, chúng luôn phải nhường nhịn, yêu thương lẫn nhau và chính điều đó tự nhiên đã trang bị cho bản thân chúng kiến thức xã hội cần thiết. Nhưng nếu trong gia đình ít con, những trải nghiệm như vậy sẽ rất hạn chế.

Để giáo dục trẻ không lấy mình làm trung tâm, phải luôn suy nghĩ đến cảm giác của người khác, hãy cho trẻ đọc nhiều truyện tranh, hoặc là tích cực cho trẻ tham gia hoạt động cùng với bọn trẻ đồng trang lứa.

Hướng cho trẻ học tập trong điều kiện tốt nhất, khỏe mạnh cả về thể chất và tâm hồn, trẻ có thể có thêm niềm đam mê và việc học tập sẽ đạt hiệu quả cao hơn.

Nếu có sự tự tin cũng như nhận được phản ứng của đối phương (cha mẹ, thầy giáo) một cách đúng đắn, việc học tập tự bản thân nó đã là niềm vui, và trẻ tự có ý thức học tập.

Thời kỳ tốt nhất để có thể phát huy những khả năng cơ bản đó chính là lúc còn là em bé, trước khi bắt đầu học tiểu học. Đây là thời kỳ hoàng kim để tiếp cận thích hợp nhất, và nếu bố mẹ và con cái có thể vui vẻ tìm được sự hòa hợp, dần dần những năng lực tự nhiên đó sẽ được phát huy.

2) Đặc trưng của từng độ tuổi và phương pháp tiếp cận

– Giai đoạn 0 tuổi – Giai đoạn trưởng thành nhanh chóng mỗi ngày, não bộ cũng phát triển nhanh chóng.

Đặc trưng của trẻ 0 tuổi

0 tuổi là thời kỳ “cứng cổ” “bắt đầu ê a” ” lẫy” “mọc răng”, đây là giai đoạn trưởng thành nhanh chóng, có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Tuy nhiên, cũng có những bộ phận phát triển nhanh đến mức ngạc nhiên mà ta không thể nhìn được bằng mắt thường, đó là não bộ. Đây là thời kỳ đáng ngạc nhiên nhất, trẻ bắt đầu nhận thức sự sống trên thế gian này và thẩm thấu dần dần sự vật sự việc. Giai đoạn này hãy nuôi dưỡng trẻ bằng tình yêu, bằng sự vuốt ve, âu yếm.

Phương pháp tiếp cận với trẻ 0 tuổi

Rèn luyện chất lượng phần não nhận sự kích thích, bắt đầu với việc dạy trẻ nhận biết về 5 giác quan là rất quan trọng, đặc biệt kết hợp nghe và nhìn khi dạy cho trẻ sẽ đem lại hiệu quả rất cao. Dần dần cho trẻ tiếp xúc với con chữ, con số và từ ngữ.

Xoa bóp chính là cách truyền tình yêu thương đến với trẻ, làm cho trẻ cho cảm giác an tâm. Đặc biệt từ sau khi sinh ra, việc xoa bóp ngay tức thì sẽ làm cho cơ thể trở nên khỏe mạnh hoạt bát, có khả năng phòng chống lại bệnh tật.

Hãy cho trẻ nghe những khúc nhạc nhẹ nhàng của Mozart làm cho tâm hồn êm dịu, kích thích não bộ.

– Giai đoạn 1 tuổi – Không thu hẹp môi trường “Học tập”

Đặc trưng của trẻ 1 tuổi

1 tuổi là giai đoạn thẩm thấu dần dần giống như miếng bọt biển tự thấm hút nước, nó thẩm thấu tất cả những gì nhìn thấy, nghe thấy. Những việc nhìn thấy, nghe thấy, hay cảm giác được kích thích càng nhiều sẽ càng tạo cơ hội cho não bộ phát triển. Đây là thời kỳ hấp thụ dần dần mọi việc được tiếp cận.

Phương pháp tiếp cận với trẻ 1 tuổi

1 tuổi được gọi là giai đoạn thể nghiệm, có thể ném, hoặc kéo một vật gì đó, và đây là thời kỳ nuôi dưỡng các năng lực nổi bật. Trong khả năng của trẻ hãy yêu cầu trẻ dọn dẹp những đồ vật không cần thiết, sắp xếp lại mọi thứ xung quanh mình một cách nhẹ nhàng, tránh không được trách mắng nặng lời.

Ngoài ra, từ 1 tuổi 8 tháng trẻ có ý thức học tập tự phát, việc duy trì ý thức này sẽ tạo cho trẻ tính tự lập.

Tạo kích thích cho não phải bằng việc học sử dụng tranh, thẻ chấm, thẻ nhớ (đọc tên chữ số, tên đồ vật được viết vẽ trên thẻ, và xoay vòng với tốc độ nhanh nhất có thể). Thẻ tranh này cũng có tác dụng nâng cao vốn từ (từ vựng).

– Giai đoạn 2 tuổi – 2 tuổi là thời kỳ thiên tài, thời kỳ cơ hội

Đặc trưng của trẻ 2 tuổi

2 tuổi là thời kỳ thiên tài, và là giai đoạn phát triển nhanh chóng đến 3 tuổi. Từ sáng sớm khi ngủ dậy cho đến lúc tối muộn khi đi ngủ, ý thức ham muốn học hỏi mọi việc như là “muốn vận động cơ thể”, “muốn học tập từ ngữ”, “muốn làm giỏi những việc xung quanh mình” bị mất đi, và thay vào đó là muốn tự mình làm mọi thứ. Bố mẹ không cần phải nói mà hãy cho trẻ làm những việc đơn giản như thay quần áo, ăn uống đúng như suy nghĩ của trẻ. Và nếu có thể hãy luôn khen ngợi trẻ, tạo cho trẻ có sự tự tin và niềm đam mê.

Phương pháp tiếp cận với trẻ 2 tuổi

Đây là thời kỳ tốt nhất để dạy cho trẻ luyện kỹ năng của đầu ngón tay. Hãy cho trẻ tiếp cận một cách vui vẻ với sợi dây, cái kéo, hay những bộ xếp hình. Việc luyện tập với đầu ngón tay cũng là là cách tốt để kích thích não bộ.

Khoảng thời gian này có thể tiếp cận với khả năng ghi nhớ. Càng sớm càng tốt hãy trang bị cho bản thân trẻ khả năng ghi nhớ những việc có ích cho cuộc sống.

Bắt đầu cho trẻ chuyên tâm vào tập viết các nét cơ bản của viết chữ. Hãy bắt đầu từ những nét viết nguệch ngoạc. Nếu cha mẹ nào có ý định cho trẻ học nhạc thì hãy bắt đầu khi trẻ được 2-3 tuổi.

– Giai đoạn 3 tuổi – Giai đoạn bước vào độ tuổi tự lập

Đặc trưng của trẻ 3 tuổi

3 tuổi là giai đoạn tính ưu việt của não sẽ chuyển từ não phải sang não trái, vì thế từ việc chỉ có thể dạy cho trẻ, cho trẻ ghi nhớ như từ trước đến nay vẫn làm thì hãy nâng cao khả năng suy nghĩ của trẻ. Hãy cho trẻ tự lập dời xa bố mẹ, người mà chúng thường xuyên gắn bó từ trước tới nay, để trẻ có thể tự mình suy nghĩ, hay hãy để cho trẻ tự làm những gì mà chúng muốn. Hãy giúp trẻ vui vẻ trưởng thành, tự mình dời xa mà không phản kháng lại. Bằng việc được truyền đạt đầy đủ tình yêu thương của người mẹ, đứa trẻ sẽ cảm thấy an tâm để tự lập.

Phương pháp tiếp cận với trẻ 3 tuổi

3 tuổi là giai đoạn trẻ bắt đầu biết suy nghĩ. Nếu thường xuyên cho trẻ chơi những trò chơi có yêu cầu phải suy nghĩ càng có thể tăng cường khả năng này của trẻ.

Hãy học cách đưa ra những câu trả lời sau khi tập trung suy nghĩ từ tranh ảnh. Việc sử dụng tranh ảnh thường xuyên sẽ có thể trang bị cho trẻ những thói quen tự nhiên.

Để tự bản thân trẻ có thể suy nghĩ hãy cho trẻ đọc truyện tranh, và hãy hướng cho trẻ suy nghĩ với gợi ý “nếu mình là nhân vật chính thì sẽ như thế nào”.

Đây là thời kỳ kỹ năng tinh tế ví dụ như việc sử dụng kéo phát triển. Hãy tạo dựng môi trường để có thể trang bị cho trẻ các kỹ năng sử dụng đầu ngón tay như là sử dụng kéo, buộc thắt dây, cài khuy áo, hoặc gập giấy.

– Giai đoạn 4 tuổi – Đây là thời kỳ đỉnh cao để nuôi dưỡng tính sáng tạo cũng như cá tính nổi bật

Đặc trưng của trẻ 4 tuổi

Đây là thời kỳ phản kháng. Thực ra đây không phải là việc xấu, mà chẳng qua vì trẻ muốn tự bản thân mình lớn lên, muốn làm mọi việc bằng cảm giác, suy nghĩ và sở thích của bản thân. Thêm vào đó, muốn nuôi dưỡng khả năng sáng tạo không thể thiếu việc nuôi dưỡng cá tính nổi bật. Đây cũng là thời kỳ tính tò mò bộc lộ rõ nét, trẻ hay đặt câu hỏi “tại sao” và có thể thấy giai đoạn này trẻ nói liên tục, nói như gió. Điều này chứng tỏ trẻ đã rất vui mừng vì đã được nuôi dưỡng tính sáng tạo một cách phong phú. Hãy nuôi dưỡng khả năng này của trẻ sao cho lên 5 tuổi nó không bị mất dần đi.

Phương pháp tiếp cận với trẻ 4 tuổi

Hãy chọn cho trẻ các món đồ chơi có tính trí tuệ. Khuyến khích những đồ có thể tạo hình mới, tự mình tháo ra rồi lắp lại hơn là những đồ chơi đã được lắp sẵn trước mặt.

Để tích lũy được nhiều kinh nghiệm, hãy cho trẻ tiếp xúc với những trò chơi thủ công đơn giản, có tính sáng tạo.

Việc khuyến khích trẻ đọc sách là một phương pháp hiệu quả tạo nền móng cho việc suy nghĩ sáng tạo nên những cái mới.

– Giai đoạn từ 5-6 tuổi – Thời kỳ trẻ thay đổi từ xã hội trẻ con sang xã hội người lớn

Đặc trưng của trẻ 5-6 tuổi

Trẻ 5-6 tuổi có thể gọi là một thành viên nhỏ bé của xã hội, một con người hoàn chỉnh đã có ý thức về bản thân mình trước người khác. Trẻ có thể đối đáp, cãi lại, hoặc nói những điều không thuận tai nhưng ngược lại trẻ sẽ có sự bình tĩnh như người lớn, và có thể trông cậy được. Nếu biết lắng nghe, đồng điệu với ý muốn của trẻ và dạy trẻ cách nói hợp lý sẽ có thể nuôi dưỡng sự tự tin của chúng. Ngoài ra, từ 6 tuổi, vì là giai đoạn chuyển dần từ nhà trẻ mẫu giáo lên nhi đồng nên việc thay đổi xung quanh dễ làm cho trẻ cảm thấy bất an, đây là thời kỳ rất khó xử lý. Lúc này có thể xuất hiện hiện tượng “thoái lui” như những việc từ trước đến nay đã có thể làm được nay đột nhiên không thể làm được, vì vậy hãy quan tâm đến trẻ bằng tình yêu thương nồng ấm.

Phương pháp tiếp cận với trẻ 6 tuổi

Vì chỉ còn một thời gian ngắn nữa trẻ sẽ vào bước vào tiểu học nên hãy luyện cho trẻ không chỉ việc đọc chữ mà luyện cách viết chữ một cách cẩn thận. Trang bị đầy đủ cho trẻ năng lực suy nghĩ và kỹ năng học tập cơ bản.

Hãy cho trẻ nghe những câu chuyện về giáo dục tâm hồn. Nuôi dưỡng trẻ tình yêu thương, cách suy nghĩ không chỉ cho bản thân mình mà cho cả những người xung quanh. Ngoài ra, hãy hướng dẫn cẩn thận cho trẻ những quy tắc như “trả tiền khi đi mua đồ”, “không vứt rác ra đường hay công viên”, …

Sugimoto Reiji

Phương Pháp Giáo Dục Stem

Tổ chức giáo dục FPT luôn đi đầu trong việc áp dụng các phương pháp giáo dục hiện đại nhất trong quá trình giảng dạy. Hiện nay, Tiểu học FPT đã mạnh dạn phối hợp cùng AmericanSTEM để đưa phương pháp học STEM theo chuẩn Mỹ (NNGS) vào chương trình giảng dạy chính khóa trong suốt cả cấp học.

Đây là một phương pháp giáo dục tích hợp các yếu tố về Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kỹ thuật) và Math (Toán học) – để đem cho người học những kiến thức về khoa học, tiếp cận kỹ năng toán học để phát triển khả năng thể hiện các ý tưởng một cách chính xác và áp dụng trong đời sống hàng ngày.

Mỗi giáo viên tại Tiểu học FPT cũng thường xuyên được yêu cầu tham gia đào tạo để có thể áp dụng các phương pháp giảng dạy mới nhất vào tất cả các môn học khác ở trường để khơi gợi sự tò mò khám phá. (hình ảnh cô giáo và học sinh đang học qua mô hình).

Ông Lê Phước Hùng – Chủ tịch HĐQT AmericanSTEM: “Tuổi thơ của tôi cũng như các bạn đã được trải qua rất nhiều trường, lớp. Chúng ta đã được học rất nhiều kiến thức, rất nhiều môn học nhưng cuối cùng lại quên tất cả. Với phương pháp học tập của môn STEM, con em chúng ta sẽ có thể chủ động quan sát, phân tích sự kiện, hiện tượng, để từ đó ghi nhớ rất sâu kiến thức trong não bộ”

Phương pháp giáo dục sớm STEM & ART (STEAM) cung cấp cho trẻ những kỹ năng gì?

Không phải là những cách đào tạo, những bí quyết học cao siêu để dạy học sinh thành tài, thành những nhà toán học, khoa học vĩ đại… mà phương pháp này sẽ phát triển các kỹ năng cho trẻ để chúng có thể sử dụng trong cuộc sống tương lại, đặc biệt với môi trường công nghệ hóa, hiện đại hóa như hiện nay. Kỹ năng STEM là sự tích hợp hài hòa bốn nhóm kỹ năng riêng lẻ: khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học.

-Kỹ năng khoa học:

Phương pháp này xây dựng khả năng liên kết những định luật, khái niệm, nguyên lý và cả những cơ sở lý thuyết trong công cuộc giáo dục khoa học – công nghệ để thực hành và giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống.

-Kỹ năng công nghệ:

Mang đến khả năng sử dụng, quản lý, sự nhận thức về công nghệ từ những vật dụng đơn giản hàng ngày như bút chì, bút màu đến những vật dụng phức tạp hơn. Cho trẻ hiểu theo hướn g tất cả các thay đổi của thế giới tự nhiên đều phục vụ các hoạt động của con người đều được coi là công nghệ.

-Kỹ năng kỹ thuật:

Giúp trẻ hình thành các khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn trong đời sống, hiểu được quy trình sản xuất ra một đối tượng cụ thể.

-Kỹ năng toán học:

Trẻ hình thành kỹ năng toán học từ sớm sẽ có các ý tưởng chính xác, áp dụng hiệu quả các khái niệm, kỹ năng toán học vào cuộc sống hàng ngày. Giáo dục STEM giúp trẻ hình thành sớm các kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phản biện, kỹ năng cộng tác, kỹ năng giao tiếp…

Và đặc biệt sự phát triển của phương pháp STEM kết hợp với Art mang đến một chiến lược giáo dục cải tiến hiệu quả cao cho lĩnh vực giáo dục mầm non.

Thông qua hình thức tích hợp với nghệ thuật, trẻ sẽ dễ dàng khám phá ra các giai đoạn khác nhau của vấn đề thông qua bài múa.

Tại các trường học đào tạo theo phương pháp STEAM, múa trở thành một môn học cụ thể trong chương trình giáo dục, trẻ sẽ tự nhận thức được khái niệm thông qua thị giác.

Khi đã xây dựng được một mối liên hệ tự nhiên giữa chương trình giáo dục các kỹ năng cần thiết của STEM cùng chương trình nghệ thuật, hệ thống giáo dục có bối cảnh hấp dẫn, tạo hứng thú học tập và phát triển các kỹ năng toàn diện cho trẻ từ 4 tuổi trở lên.

Các công ty và tổ chức mà trước kia vẫn tìm kiếm những tài năng từ trong các trường đại học nghiên cứu cỡ lớn, nay lại chuyển hướng đi tìm những người có khả năng sáng tạo, những người có thể mang đến những kỹ năng giải quyết vấn đề độc đáo, và một sự hiểu biết sâu sắc về trải nghiệm của người dùng.

Gần đây, trong cuốn sách bán chạy nhất của Walter Issacson viết về tiểu sử Steve Jobs, có nhắc đến việc Jobs đã từng nói rằng nhiều kỹ sư tài năng nhất của Apple đều rất giỏi trong âm nhạc hay một loại hình nghệ thuật nào đó. Lisa Phillips, một tác giả, nhà báo, và là một nhà giáo dục về kỹ năng lãnh đạo và nghệ thuật cũng đã liệt kê ra một danh sách 10 kỹ năng mà những người trẻ tuổi sẽ lĩnh hội được thông qua việc học nghệ thuật, đó là:

Sáng tạo

Tự tin Giải quyết vấn đề

Kiên trì

Tập trung

Giao tiếp phi ngôn từ

Tiếp nhận phản hồi mang tính xây dựng

Hợp tác

Tận tâm

Trách nhiệm

Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần những chương trình đào tạo kết hợp hài hòa giữa các bộ môn Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học và Nghệ thuật để đào tạo ra những thế hệ trẻ toàn diện cả về học thuật, và thúc đẩy sự sáng tạo bên trong của mỗi người. Chúng ta cần những ý tưởng mới, những giải pháp mới cho các vấn đề hiện tại và sau này. Chúng ta cần đánh thức những “nghệ sĩ” bên trong chính những thế hệ học sinh nhỏ tuổi để các em có thể trở thành những công dân toàn cầu thực thụ.

“STEM còn hơn là một môn học, hay một bảng tuần hoàn hóa học. Đó là một cách tiếp cận, một cách hiểu và khám phá thế giới để từ đó thay đổi nó” – Obama

Phương Pháp Giáo Dục Mầm Non

1. Phương pháp giáo dục nhà trẻ

1.1. Phương pháp giáo dục tình cảm:

Cô giáo dùng cử chỉ âu yếm, vỗ về, vuốt ve, gần gũi cùng với những điệu bộ , nét mặt, lời nói để tạo cho trẻ những cảm xúc gần gũi, tin tưởng, thân thiện, thỏa mãn được nhu cầu giao tiếp, gắn bó, tiếp xúc với người thân và mọi người xung quanh.

Cô đang âu yếm trò chuyện với trẻ

1.2. Phương pháp dùng lời nói: (kể chuyện , trò chuyên, giải thích)

Các cháu tập trung nghe cô kể chuyện

Là phương pháp dùng lời nói, lời kể diễn cảm, câu hỏi gợi mở sử dụng một cách phù hợp với điệu bộ, cử chỉ nhằm động viên khuyến khích cho trẻ mạnh dạng giao tiếp với đồ vật, với mọi người xung quanh. Tạo tình huống thích hợp để trẻ bộc lộ ý muốn chia sẽ những cảm xúc với người khác bằng lời nói hành dộng cụ thể. Thông qua đó ngôn ngữ của trẻ được phát triển mạch lạc hơn, trôi chảy hơn.

Dùng các phương tiện trực quan (vật thật, đồ chơi, tranh ảnh, phim ảnh) hành động làm mẫu với lời nói và cử chỉ, cho trẻ quan sát nói và làm theo, rèn luyện sự nhạy cảm của các giác quan trong cơ thể của bé.

1.4. Phương pháp thực hành:

Hành động, thao tác với đồ vật đồ chơi, dụng cụ đơn giản phù hợp với mục đích và nội dung giáo dục. Trẻ cùng cô quan sát, thao tác với đồ vật như sờ mó, cầm nắm, mở đóng, chồng lên và phân loại vật dụng với nhau.

Sử dụng các yếu tố chơi, các trò chơi thích hợp để kích thích trẻ hoạt động , mở rộng hiểu biết về môi trường xung quanh đồng thời phát triển về lời nói, sự tư duy của trẻ.

Các cháu đang chơi trò đóng kịch trong hoạt động học

1.6 Luyện tập:

cho trẻ thực hiện lặp lại nhiều lần các câu nói , động tác, những cử chỉ, điệu bộ phù hợp với nội dung yêu cầu giáo dục và sự hứng thú của trẻ.

Người lớn tỏ thái độ đồng tình, khích lệ những việc làm, những lời nói, hành vi tốt của trẻ. Ở lứa tuổi trẻ nhỏ khen, nêu gương, khích lệ trẻ làm được những việc tốt là chủ yếu, đồng thời phải hướng dẫn, chỉ những điều chưa tốt cho trẻ hiểu và tiếp thu, phải thực hiện nhẹ nhàng tránh những cử chỉ thô bạo như la mắng, nói những lời thô tục như vậy trẻ sẽ học theo những điều xấu.

2. Phương pháp giáo dục mẫu giáo

Tương tự các phương pháp giáo dục ở lứa tuổi nhà trẻ, phương pháp giáo dục mẫu giáo yêu cầu nâng cao hơn

2.1 Phương pháp thực hành

Phương pháp thao tác với đồ vật, đồ chơi là cho trẻ phối hợp các giác quan, hành động với đồ vật, đồ chơi nhằm cung cấp các kinh nghiệm cảm tính và rèn luyện thao tác tư duy.

Phương pháp dùng trò chơi là sử dụng các trò chơi, yếu tố chơi phù hợp với mục đích giáo dục nhằm kích thích trẻ tự nguyện, hứng thú tìm tòi học hỏi và sự tư duy tích cực.

2.2 Phương pháp nêu tình huống:

Là phương pháp đưa ra các tình huống cụ thể nhằm kích thích trẻ suy nghĩ, tìm tòi để giải quyết vấn đề đặt ra.

2.3 Phương pháp luyện tập:

Là phương pháp cho trẻ thực hiện lặp lại nhiều lần các động tác, cử chỉ, điệu bộ thông qua những yêu cầu cụ thể mà giáo viên đặt ra để nâng cao vốn hiểu biết và kỷ năng thực hành trong công việc.

Các cháu đang luyện tập bộ môn Toán

2.4 Phương pháp trực quan minh họa:

Sử dụng các phương tiện trực quan, thực hiện các hành động mẫu, hình ảnh tự nhiên, mô hình, sơ đồ và phương tiện nghe nhìn… Tạo điều kiện cho trẻ sử dụng các giác quan kết hợp với lời nói nhằm nâng cao vốn hiểu biết và sự tư duy của trẻ.

Sử dụng các phương tiện nghe, nhìn để truyền đạt thông tin, kích thích trẻ suy nghĩ, chia sẽ ý tưởng, bộc lộ cảm xúc bằng lời nói với mọi người xung quanh.

+ nêu gương: sử dụng các hình thức khen chê phù hợp, đúng lúc, đúng nơi và biểu dương khuyến khích trẻ là chính.

+ đánh giá: thể hiện thái độ đồng tình hoặc chưa đồng tình của người lớn của bạn bè trước những hành vi, cử chỉ của trẻ từ đó đưa ra nhận xét đánh giá tùy theo từng tình huống cụ thể.