So Sánh Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình?

--- Bài mới hơn ---

  • Chương 1: Các Cuộc Cách Mạng Tư Sản (Từ Giữa Thế Kỉ Xvi Đến Cuối Thế Kỉ Xviii)
  • De Thi De Thi Hsg 12 Thpt 2022 Hai Duong
  • So Sánh Biên Dịch Viên Và Phiên Dịch Viên Đặc Điểm Giống Nhau Và Không Giống Nhau Giữa Họ
  • Vài Nét Về Hoạt Động Định Hướng Dư Luận Xã Hội
  • Sự Khác Nhau Giữa Áo Dài Và Sườn Xám 2022
  • Phương pháp hiểu theo nghĩa chung nhất là hệthống các nguyên tắcđược sửdụngnhất quán trong hoạt động nói chung của con người. Phương pháp bao gồm có phương pháp nhận thức và phương pháp thực tiễn. Phương pháp của triết học là phương pháp nhận thức thế giới hiện thực. Trong lịch sử phát triển của triết học, đã tồn tại hai phương pháp nhận thức đối lập nhau: đó làphương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.

    Phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức thếgiới với quanđiểm cơbảncho rằng, sự tồn tại của mọi sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan nói chung đều ở trong những mối liên hệ, trong sự vận động và phát triển theo những qui luật khách quan vốn có của nó.

    Phương pháp siêu hình là phương pháp nhận thức thếgiới với quanđiểm cơbản chorằng, mọi sự vật và hiện tượng của thế giới vật chất đều tồn tại cô lập lẫn nhau, cái này ở bên cạnh cái kia và nó luôn ở trong trạng thái tĩnh không có sự vận động và phát triển. Nhưng nếu như có thừa nhận sự phát triển thì chẳng qua chỉ là một quá trình tăng hoặc giảm về số lượng. Mặt khác, quan điểm này không thừa nhận mâu thuẫn bên trong bản thân các sự vật và hiện tượng.

    Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong lịch sửtriếthọc chủ yếu về mặt nguyên tắc và phương pháp nhận thức thế giới khách quan. Trong việc nghiên cứu của khoa học tự nhiên, thì vấn đề phân chia thế giới hiện thực thành các thuộc

    tính, bộ phận, hệ thống tĩnh tại và tách rời nhau đều là những điều kiện cần thiết cho nhận thức khoa học. Nhưng sẽ không đúng, nếu từ đó rút ra kết luận cho rằng phép siêu hình là thế giới quan khoa học và đúng đắn nhất. Cần phải phân biệt một bên là phương pháp trừu tượng hoá tạm thời cô lập sự vật và hiện tượng khỏi mối liên hệ chung, tách khỏi sự vận động và phát triển để nghiên cứu chúng, với một bên là phép siêu hình với tư cách là thế giới quan của triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Danh Sách Các Công Ty Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ Cập Nhật
  • So Sánh Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ
  • 9 Cách Phân Biệt Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Phi Nhân Thọ Khác Nhau
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Chấn Thương Thể Thao
  • Phân Biệt Ngay Trật Khớp Và Bong Gân Với Những Dấu Hiệu Đơn Giản Này!
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Phép Biện Chứng Và Các Hình Thức Cơ Bản Của Phép Biện Chứng
  • Phương pháp biện chứng và ph­ương pháp siêu hình

    Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện t­ợng của thế giới xung quanh ta tồn tại nh­ thế nào?

    Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nh­ng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình.

    *. Ph­ương pháp siêu hình

    – Nhận thức đối t­ợng trong trạng thái cô lập, tách rời đối t­ợng khỏi các chỉnh thể khác; giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

    – Nhận thức đối t­ợng trong trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự biến đổi về số lượng và nguyên nhân biến đổi nằm ở bên ngoài sự vật.

    Nh­ư vậy, phư­ơng pháp siêu hình là ph­ơng pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại với một t­ duy cứng nhắc, “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại..mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh.. mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng”.(Sđd, t.20, tr.37).

    *. Ph­ương pháp biện chứng

    – Nhận thức đối tư­ợng trong trạng thái liên hệ với nhau, ảnh h­ởng lẫn nhau và ràng buộc lẫn nhau.

    – Nhận thức đối t­ượng trong trạng thái vận động, biến đổi và phát triển; đó là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện t­ợng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn bên trong của chúng.

    Như­ vậy, ph­ương pháp biện chứng là phư­ơng pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt, “không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh..mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng”.

    Phư­ơng pháp biện chứng đã phát triển trải qua ba giai đoạn và đ­ợc thể hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.

    – Trong phép biện chứng tự phát thời cổ đại, các nhà biện chứng cả ph­ơng Đông và phương Tây đã thấy các sự vật, hiện t­ợng trong vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận. Nh­ng đó mới chỉ là cái nhìn trực quan, ch­a phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

    – Trong phép biện chứng duy tâm, mà đỉnh cao là triết học cổ điển Đức (ng­ời khởi x­ớng là Cantơ và ng­ời hoàn thiện là Hêghen), lần đầu tiên trong lịch sử t­ duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của ph­ơng pháp biện chứng. Nh­ng đó là phép biện chứng duy tâm, bởi nó bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần; thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm tuyệt đối.

    – Trong phép biện chứng duy vật, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển d­ới hình thức hoàn bị nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng
  • Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Mong Các Anh Cho Em Bít Quan Điểm Siêu Hình Và Các Phương Pháp Luận Của Chúng Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giaoanlop10 Giao An Lop 10 Minhlesua Doc
  • Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học: Phương Pháp Hiện Tượng Học
  • Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học Phạm Viết Vượng
  • Bài Giảng Về Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
  • Sách Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
  • Song qua các cuộc trao đổi đó cũng như qua các tài liệu khoa học ở nước ngoài, sự thiếu nhất trí trong cách hiểu bản thân khái niệm phương pháp luận nổi lên rất rõ. Chẳng hạn, trong các tài liệu của Liên Xô và một phần nào của Bungari mà chúng tôi được biết, khái niệm này thường được dùng:

    Như vậy, hiện nay khái niệm phương pháp luận còn đang được dùng theo nhiều nghĩa rất khác nhau. Các nhà triết học cũng như các chuyên gia trong các lĩnh vực khoa học cụ thể đã viết rất nhiều về phương pháp luận và những vấn đề phương pháp luận, song bản thân phương pháp luận là gì thì lại chưa được xác định thật rõ ràng. Phương pháp luận là mọi học thuyết về phương pháp hay chỉ là học thuyết triết học về phương pháp? Nó là hệ thống các nguyên lý thế giới quan hay chỉ là sự vận dụng các nguyên lý này vào trong hoạt động nhận thức và thực tiễn? Nó là phương pháp duy vật biện chứng hay là tập hợp các phương pháp được dùng trong một ngành khoa học nào đó? Nó là một chức năng của triết học hay là một khoa học riêng biệt?

    Để giải quyết được những vấn đề này ta cần lưu ý rằng, bất cứ một bộ môn khoa học nào cũng phải có đối tượng nghiên cứu riêng, có phương pháp nghiên cứu riêng và có hệ thống tri thức riêng. Không có đối tượng thì không có và không thể có bất cứ bộ môn khoa học nào vì không có đối tượng thì không xác định được phải nghiên cứu cái gì? Nhưng sau khi xác định được đối tượng nghiên cứu rồi, mỗi khoa học còn cần phải tìm ra được những phương pháp nghiên cứu thích ứng. Các phương pháp đó không thể là tuỳ tiện. Các phương pháp của vật lý học được xác định bởi những đặc điểm của hình thức vận động vật lý của vật chất, bởi các quy luật và bản chất của nó. Tương tự như vậy, các phương pháp của một bộ môn khoa học này không thể dùng hoàn toàn để nghiên cứu một đối tượng khác của một bộ môn khoa học khác. Tuy nhiên, có thể có một số phương pháp nào đó của một bộ môn khoa học này được áp dụng để nghiên cứu rộng rãi trong một số lĩnh vực khác, chẳng hạn, một số phương pháp của vật lý học có thể được dùng để nghiên cứu trong hoá học, sinh vật học, khảo cổ học v.v.. Đó là do các đối tượng nghiên cứu của hoá học, sinh vật họe, khảo cổ học… bao gồm dưới dạng này hay dạng khác các hình thức vận động vật lý của vật chất. Như vậy, tuỳ thuộc vào đối tượng nghiên cứu của mình mà mỗi khoa học có các phương pháp nghiên cứu riêng của mình. Việc tìm tòi những phương pháp nghiên cứu thích ứng với mỗi bộ môn khoa học nhất định, xác định xem những phương pháp đó là những phương pháp nào, nội dung của mỗi phương pháp là gì, cách áp dụng nó ra sao, phạm vi áp đụng của nó đến đâu v.v. do lý luận về phương pháp của môn khoa họe này giải quyết. Lý luận về phương pháp đó chính là phương pháp luận.

    Do chỗ phương pháp nghiên cứu của mỗi bộ môn khoa học đều phụ thuộc vào bản chất và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu của bộ môn khoa học đó nên muốn tìm ra được các phương pháp nghiên cứu thích ứng cần phải xuất phát từ bản thân đối tượng. Nhưng đối tượng nghiên cứu của mỗi bộ môn khoa học cụ thể chỉ là một bộ phận nhỏ, một “mảnh” nhỏ của thế giới hiện thực. Bộ phận nhỏ ấy, “mảnh” nhỏ ấy nằm trong một mối liên hệ qua lại chằng chịt hết sức phức tạp với các bộ phận khác, với các “mảnh” khác. Vì vậy, để xác định được hướng đi và cách đi thích ứng, để khỏi bị lạc trong mớ quan hệ chằng chịt các hiện tượng ấy, để luôn luôn nhắm trúng được đối tượng của mình, trước hết cần dựa vào các nguyên lý thế giới quan.

    Là những quan điểm khái quát của con người về thế giới nói chung và về vị trí của con người trong thế giới ấy, các nguyên lý thế giới quan có tác dụng định hướng cho người nghiên cứu, không những định hướng trong quá trình tìm ra phương pháp mà còn định hướng ngay cả trong quá trình vận dụng phương pháp. Xuất phát từ những nguyên lý thế giới quan nhất định, những nguyên lý gắn liền với bản chất của đối tượng cần nghiên cứu, người nghiên cứu xác định được những phương pháp nghiên cứu thích hợp. Vì vậy, các nguyên lý thế giới quan chính là cơ sở của các phương pháp, có tác dụng soi sáng cho các phương pháp, đóng vai trò chỉ dẫn các hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn.

    Thế giới quan đúng sẽ đảm bảo tìm ra các phương pháp nghiên cứu đúng. Ngược lại, nếu thế giới quan sai lầm thì các phương pháp nghiên cứu tìm được để nghiên cứu đối tượng đó cũng sẽ sai lầm. Chẳng hạn, xuất phát từ luận điểm cho rằng, lịch sử phát triển của xã hội là lịch sử đấu tranh giai cấp, những người mác xít đòi hỏi khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội cần áp dụng phương pháp phân tích giai cấp, cần đứng vững trên quan điểm giai cấp. Ngược lại những người theo trường. phái tâm lý trong xã hội học lại xuất phát từ chỗ cho rằng, kinh nghiệm tâm lý và những xúc cảm của con người tạo nên bản chất của các hiện tượng và các quá trình xã hội, vì vậy, họ đòi hỏi phải nghiên cứu các hiện tượng xã hội bằng các phương pháp của tâm lý học và việc nghiên cứu phải được bắt đầu từ tâm lý cá thể là những đơn vị quan sát cơ bản. Rõ ràng là xuất phát từ những nguyên lý thế giới quan khác nhau, người ta đã đi đến khẳng định những phương pháp nghiên cứu khác nhau và tính chất đúng đắn hay sai lầm của thế giới quan có ảnh hưởng quyết định đến thành công hay thất bại của việc tìm tòi và vận đụng các phương pháp. Vì vậy, các nguyên lý thế giới quan tạo nên bộ phận quan trọng nhất trong nội dung của phương pháp luận.

    Ngoài các nguyên lý thế giới quan, trong nội dung phương pháp luận của mỗi bộ môn khoa học còn có một loạt nguyên lý khác. Đó là các nguyên lý chung về các cách xem xét, nghiên cứu sự vật, là các nguyên tắc chung về sự vận dụng các phương pháp, về việc sử dụng các tài liệu, sự kiện v.v. trong một ngành khoa học nhất định. Những nguyên lý và nguyên tắc chung này xuất phát từ những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Chúng không phải là những nguyên lý thế giới quan nhưng cũng không trực tiếp nằm trong nội đung của các phương pháp. Chẳng hạn, đối tượng nghiên cứu của kibécnêtic là các hệ thống tự điều khiển với bất kỳ cấu trúc nào với bất kỳ nguyên tắc hoạt động nào và với bất kỳ thực thể vật chất nào (có thể đó là cơ thể sống, là các máy tính tự động, là các hệ thống điều khiển các quá trình kỹ thuật…)

    Do những đặc điểm đó nên ngoài các nguyên lý thế giới quan, nội dung phương pháp luận của kibécnêtic còn bao gồm những nguyên lý quan trọng khác đặc trưng riêng cho kibécnêtic: nguyên lý trừu tượng hoá khỏi những đặc điểm chất lượng tập trung sự chú ý vào việc tìm những đặc điểm chung trong hoạt động của các hệ thống tự điều khiển, nguyên lý chung về sự sử dụng như nhau của tất cả các công thức và lý thuyết toán học, không tuỳ thuộc vào loại hình hay sự phức tạp của các hệ thống tự điều khiển mà nó nghiên cứu v.v.. Rõ ràng các nguyên lý này không phải là các nguyên lý thế giới quan, tuy chúng gắn bó mật thiết với các nguyên lý thế giới quan, cụ thể ở đây với nguyên lý phản ánh; đồng thời chúng cũng không trực tiếp nằm trong nội dung của các phương pháp nghiên cứu của kibécnêtic, cụ thể là không trực tiếp tạo nên nội dung của các phương pháp mô hình hoá, phương pháp thuật toán hoá và phương pháp “hộp đen” là những phương pháp nghiên cứu cơ bản của kibécnêtic. Tuy vậy, chúng là cơ sở của các phương pháp này, là những nguyên lý chỉ đạo và có tác đụng định hướng rất lớn đối với người nghiên cứu trong lĩnh vực kibécnêtic khi thu thập, sử dụng các tài liệu cũng như khi vận dụng các phương pháp. Vì vậy, chúng cũng tạo nên một bộ phận rất quan trọng trong nội dung của phương pháp luận.

    Như vậy, khi nói rằng phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là học thuyết về các phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực, là nói tới bản chất của nó. Nhưng bản chất chưa phải là toàn bộ nội dung, mặc dầu bản chất là những cái cơ bản nhất, chung nhất trong nội dung. Đứng về không phải đơn thuần chỉ là một hệ thống trình tự các quy trình và các biện pháp nghiên cứu, cũng không phải là một tập hợp tuỳ tiện các nguyên lý nào đó mà là một hệ thống lý luận chặt chẽ với những loại nguyên lý nhất định gắn bó hữu cơ với nhau: Thứ nhất, đó là các nguyên lý thế giới quan gắn liền với bản chất của đối tượng nghiên cứu. Thứ hai, đó là các nguyên lý chung về các cách xem xét, nghiên cứu sự vật, các nguyên tắc chung về việc vận dụng các phương pháp, về sự sử đụng tài liệu, sự kiện… trong một ngành khoa học nhất định; các nguyên lý và nguyên tắc chung này gắn liền với đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Cuối cùng, đó là lý luận về bản thân các phương pháp (về nội dung, phạm vi và mối quan hệ qua lại giữa các phương pháp) của ngành khoa học ấy. Tất cả các bộ phận này gắn bó mật thiết với nhau tạo nên một hệ thống lý luận chặt chẽ, thống nhất và là một thành phần không thể thiếu được của bất cứ bộ môn khoa học nào.

    Vì vậy, phương pháp luận không phải là một tập hợp lý luận tuỳ tiện, càng không phải chỉ là một tập hợp đơn thuần các phương pháp được dùng trong một ngành khoa học nào đấy, nhưng đồng thời nó cũng không phải là một khoa học riêng biệt đứng độc lập như các khoa học khác. Phương pháp luận là một bộ phận không thể thiếu được của mỗi bộ môn khoa học, là học thuyết về các phương pháp. Chính vì thế, phương pháp luận không phải chỉ là một học thuyết triết học về các phương pháp như một số tác giả khẳng định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Tập Thuế Xuất Nhập Khẩu Có Lời Giải
  • Tài Liệu Học Kế Toán Thuế Phần Xuất Nhập Khẩu
  • Cách Hạch Toán Kế Toán Xuất Khẩu Ủy Thác
  • Kế Toán Ủy Thác Xuất Khẩu Tại Bên Giao Và Bên Nhận Ủy Thác
  • Kế Toán Ủy Thác Xuất Nhập Khẩu
  • Phương Pháp Biện Chứng Là Gì? Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Quá Trình Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Lịch Triết Học
  • Phép Biện Chứng Trong Triết Học Phương Đông
  • Khám Phá Phương Pháp Truy Vấn Socrates
  • Bài 2. Một Số Phương Pháp Biểu Hiện Các Đối Tượng Địa Lý Trên Bản Đồ
  • Phân Tích Sự Đối Lập Giữa Phương Pháp Siêu Hình Và Phương Pháp Biện Chứng
  • Các khái niệm “biện chứng” và “siêu hình” trong lịch sử được dùng theo một số nghĩa khác nhau. Còn trong triết học hiện đại, đặc biệt là triết học mác-xít, chúng được dùng, trước hết để chỉ hai phương pháp chung nhất đối lập nhau của triết học.

    Phương pháp biện chứng phản ánh “biện chứng khách quan” trong sự vận động, phát triển của thế giới. Lý luận triết học của phương pháp đó được gọi là “phép biện chứng”.

    Phương pháp siêu hình là phương pháp:

    – Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

    – Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại. Nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng.

    Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”.

    Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thứcnnó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định.

    Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    2.1. Phương pháp biện chứng là phương pháp:

    Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.

    – Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.

    Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là…” còn có cả cái “vừa là… vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau.

    Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.

    2.2. Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng:

    Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã qua ba giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử của nó: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.

    Các nhà biện chứng cả phương Đông lẫn phương Tây thời kỳ này đã thấy các sự vật, hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận.

    Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng hồi đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.

    Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện trong triết học cổ điển Đức, người khởi đầu là và người hoàn thiện là Hêghen.

    Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng.

    Song theo họ biện chứng ở đây bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm.

    Phép biện chứng duy vật được thể hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin phát triển.

    C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lịch Sử Phát Triển Của Phép Biện Chứng Trong Triết Học
  • Hãy Nêu Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Nguyên Lý Biện Chứng Mác Xít?
  • Luận Văn Tiểu Luận Bàn Luận Về Vấn Đề Đổi Mới Toàn Diện Nội Dung Và Phương Pháp Dạy Học Ở Bậc Học Phổ Thông Trên Quan Điểm Biện Chứng
  • Phép Biện Chứng Và Tư Duy Biện Chứng
  • Vai Trò Của Tư Duy Biện Chứng Duy Vật Đối Với Sinh Viên Đại Học Nước Ta
  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Siêu Hình Phương Pháp Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Giáo Án Gdcd Khối 10
  • Bài 1: Tgq Duy Vật Và Ppl Biện Chứng Anhanh Ppt
  • Bài soạn tuần 3

    Sự khác nhau giữa phương pháp siêu hình & phương pháp biện chứng

    Triết học có nhiều phương pháp; trong đó có 2 phương pháp cơ bản là:

    1. Phương pháp siêu hình

    2. Phương pháp biện chứng.

    Biện chứng và siêu hình là hai phạm trù trong triết học, nó là hai phương pháp tư duy trái ngược nhau

    1. Phương pháp siêu hình

    Là phương pháp:

    – Nhận thức đối tượng trong trạng thái cô lập, tách rời khỏi những sự vật, hiện tượng khác.

    2. Phương pháp biện chứng

    Là phương pháp

    Xem xét về sự vật hiện tượng trong trạng thái động. Mọi sự vật hiện tượng luôn có mối liên hệ tác động qua lại nhau và trong trạng thái chung là phát triển.

    VÍ DỤ

    Một viên phấn

    – Theo phương pháp luận biện chứng: thi dưới tác dung lực cơ học thi sau khi viết viên phấn sẽ bị mài mòn đi không còn hình dạng như trước nữa. Dưới tác dụng hoá học sẽ bị ăn mòn dần … nên theo thời gian viên phấn sẽ không còn như trước nữa.

    – Theo pp luận siêu hình: thì dù bao lâu đi nữa thi viên phấn đó vẫn luôn tồn tai như thế không thay đổi.

    Tại sao nói phát triển phải diễn theo đường xoáy ốc

    – Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức được tính đúng đắn và tất yếu của sự vật bởi phát triển là khuynh hướng chung, do đó cái mới bao giờ cũng chiến thắng. Song, quá trình phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà con đường xoắn ốc: quanh co, phức tạp với nhiều chu kỳ và giai đoạn trung gian.

    – Sự vật ra đời sau luôn là cái mới, cái tiến bộ hơn cái trước thế nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, có nhiều lúc, cái mới lại là cái thụt lùi so với cái cũ, thế nhưng sự thụt lùi đó là những bước thụt lùi trong quá trình phát triển chung của nó.

    – Nhận thức được quy luật này chúng ta sẽ biết cách tác động phù hợp sao cho sự vật phát triển nhanh hay chậm, tránh được những nhận thức sai lầm, chủ quan duy ý chí và bảo thủ trong công việc và trong các hiện tượng xã hội. Đồng thời cần phải chống thái độ phủ định sạch trơn hoàn toàn không có gì, coi thường giá trị truyền thống mà cần phải biết phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển

    Tại sao có mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất

    Từ sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất: chất và lượng là 2 của một sự vật, chúng thống nhất với nhau. Sự thống nhất giữa chất và lượng tồn tại trong một độ nhất định khi sự vật còn . Còn là nó, chưa trở thành cái khác.

    Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật đấy,

    Vd : Dưới áp suật bình thường của không khí, sự tăng giảm nhiệt độ trong khoảng giới hạn , từ 0 – 1000 độ C, nước nguyên chất vẫn ở trạng thái lỏng,

    Trong mối liên hệ giữa lượng và chất, thì chất là mặt tương đối ổn định còn lượng là mặt biến đổi hơn

    Sự vật động và pt của sự vật, bao giờ bắt đầu thay đổi về lượng. Xong phẩy không phải bắt kỳ sự thay đổi về lượng cũng dẫn đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc, mặc dù bắt kì sự thay dổi nào về lượng cũng ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại, của sự vật .

    Chỉ khi nào lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định độ thì mới dẫn đến sự thay đổi về vật chất. Thời điểm mà đó dẫn ra bước nhảy, gọi là điểm nuốt . Điểm nút là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đủ làm thay đổi về chất của sự vật

    VD: nhiệt độ của nước , giảm xuống 0 độ, nước thể lỏng chuyển về thể rắn,

    Ý nghĩa phương pháp luận

    Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải chú ý tích lũy dẫn những thay đổi về lượng, đồng thời phải biết thực hiện kịp thời những bước nhảy khi có điều kiện chín muồi.

    Chống lại quan điểm tả khuynh: chủ quan, nóng vội, duy ý chí, khi lượng chưa biến đổi đến điểm nút đã thực hiện bước nhảy.

    Chống lại quan điểm hữu khuynh: bảo thủ, trì trệ, khi lượng đã biến đổi đến điểm nút nhưng không thực hiện bước nhảy.

    Phải có thái độ khách quan và quyết tâm thực hiện bước nhảy khi hội đủ các điều kiện chin muồi.

    Những câu ca dao về lượng và chất

    Lượng

    ”Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

    “Yêu nhau ba bốn núi cũng trèo

    Bốn sông cũng lội, năm đèo cũng qua”

    “Một thương tóc bỏ đuôi gà

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên”

    “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”

    “Trăm năm bia đá cũng mòn

    Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”

    “Thương em anh chẳng dám qua

    Sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”

    Chất

    “Trong tốt ngoài xấu”

    “Khẩu Phật , tâm xà”

    “Bề ngoài thơn thớt nói cười

    Mà trong nham hiểm giết người không dao”

    “Con lợn có béo thì cỗ lòng mới ngon”

    “Ở chi 2 dạ 3 bòng

    Dạ cam thì ngọt cạ bòng thì chua”

    “Nhân chi sơ tính bản thiện”

    “Phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc”

    “Thấy sang bắt quàng làm họ”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biểu Mẫu Số 08B Bảng Xác Định Giá Trị Khối Lượng Công Việc Hoàn Thành
  • Hướng Dẫn Cách Lập Bảng So Sánh Kế Hoạch Với Thực Hiện Dự Án Trong Excel
  • Bong Gân Và Trật Khớp Trong Tai Nạn Chấn Thương
  • Bong Gân Và Trật Khớp: Phân Biệt Và Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Bài Tập 5 Trang 30, 31 Sách Bài Tập (Sbt) Lịch Sử 12
  • Sự Đối Lập Giữa Phương Pháp Siêu Hình Và Phương Pháp Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Toán Bằng Định Luật Bảo Toàn Electron
  • Chuyên Đề: Sử Dụng Phương Pháp Bảo Toàn Electron Để Giải Bài Tập Kim Loại Tác Dụng Với Dung Dịch Axit
  • Phương Pháp Giải Hóa Học
  • Cấy Chỉ Chữa Thoát Vị Đĩa Đệm? Ai Nên Áp Dụng?
  • Phương Pháp Cấy Chỉ Chữa Thoát Vị Đĩa Đệm
  • Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng

    a) Phương pháp siêu hình

    Phương pháp siêu hình là phương pháp:

    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng.

    Phương pháp siêu hình làm cho con người “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”.

    Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    b) Phương pháp biện chứng

    Phương pháp biện chứng là phương pháp:

    + Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.

    + Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.

    Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là… hoặc là…” còn có cả cái “vừa là… vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau.

    Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Tạo Bản Đồ 3D Trong Excel
  • Nội Dung Và Hình Thức: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa
  • Thực Trạng Áp Dụng Phương Pháp Socrate (Truy Vấn) Và Mootcourt (Diễn Án) Trong Đào Tạo Luật Tại Một Số Trường Đại Học Và Giải Pháp Áp Dụng Tại Trường Đại Học Ngoại Thương
  • Socrate Và Vấn Đề Tích Cực Hóa Nhận Thức
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng
  • Phương Pháp Và Phương Pháp Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Là Gì, Có Hiệu Quả Không?
  • Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Bao Nhiêu Tiền & Cắt Ở Đâu?
  • Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Là Gì Và Ở Đâu An Toàn Nhất
  • Hplc Là Gì ? Khái Niệm, Nguyên Tắc, Phân Loại & Phạm Vi Ứng Dụng
  • Phương Pháp Sắc Ký Lỏng Hiệu Năng Cao (Hplc)
  • 1. Phương pháp

    Theo nghĩa thông thường phương pháp (tiếng Hy Lạp, phương pháp – methodos) là cách thức, thủ đoạn mà chủ thể sử dụng để đạt một mục đích nhất định. Thí dụ để hỏi quả trên cây, người ta có thể dùng nhiều cách: Trèo lên để bứt, dùng gậy để khều, hoặc dùng dao để chặt; muốn qua sông người ta có thể dùng nhiều cách: bơi bằng phao, hoặc dùng thuyền, hoặc dùng bè v.v. Ngay trong việc bơi cũng có nhiều cách như bơi ếch, bơi bướm, bơi sải v.v. Đó là những phương pháp hoạt động thực tiễn. Trong quá trình nhận thức cũng có nhiều cách để đi đến kết quả cần thiết. Thí dụ, để tính toán tổng các số chẵn có hai chữ số: 12 + 14 + 16 + ….+ 98, ta có ba cách: một là cộng lần lượt từ số thứ nhất đến số cuối cùng.

    Hai là có thể nhóm thành từng cặp có giá trị bằng nhau rồi nhân với số lượng các cặp bằng nhau đó: 12 + 98 = 110;

    ………………

    Có 22 cặp số mà tổng bằng 110 vậy tổng dãy số trên là: 22 X 110 = 2420.

    Cách thứ ba: ta có nhận xét nếu cộng tổng hai dãy số trên theo thứ tự tăng dần và giảm dần như sau:

    12+14+16+……. + 96 + 98

    110 + 110 + 110 + …+ 110+ 110. Có 44 số hạng bằng 110 trong tổng này, nên ta có thể tính dễ dàng bằng: 110 X 44 = 4840.

    Nếu định nghĩa một cách khái quát, khoa học và chặt chẽ thì phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện một mục đích nhất định.

    Định nghĩa nêu trên vừa nói lên được một cách khái quát hình thức thể hiện của phương pháp vừa nói lên được nguồn gốc và vai trò của phương pháp.

    Một vấn đề đặt ra là những nguyên tắc đó được con người rút ra như thế nào, từ đâu, và bản chất của nó là gì? Trả lời vấn đề này có một số quan điểm khác nhau.

    Nguồn gốc và bản chất của phương pháp

    Có một số quan niệm khác nhau về nguồn gốc và bản chất của phương pháp.

    Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm cho phương pháp là nhũng nguyên tắc do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức và hoạt động thực tiễn. Như vậy, theo quan niệm này, phương pháp là phạm trù thuần tuý chủ quan, không phụ thuộc vào đối tượng nhận thức và đối tượng tác động thực tế của con người. Thoạt nhìn, chúng ta thấy quan niệm này có vẻ hợp lý. Nhưng xem xét tỷ mỷ hơn chúng ta thấy con người không thể tuỳ tiện đặt ra những cách thức cho hoạt động của mình được. Thí dụ, khi bơi, chúng ta không thể hoạt động một cách tuỳ tiện, mà phải phối hợp cử động chân, tay một cách nhịp nhàng mới bơi được. Neu không phối hợp tay, chân một cách nhịp nhàng, người bơi sẽ không tạo ra một lực nâng tổng họp lớn hơn trọng lượng cơ thể, người đó thì sẽ bị chìm. Một thí dụ khác, khi chèo thuyền phải khua mái chèo theo một tư thế nhất định thuyền mới chạy đúng hướng được, nếu ìchông thuyền sẽ đứng tại chỗ mà không tiến lên phía trước như mong muốn. Như vậy hoạt động của con người không thể tuỳ tiện theo ý muốn chủ quan được, mà bị quy định bởi tính tất yếu bên ngoài, phụ thuộc vào đối tượng mà con người tác động.

    Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: phương pháp dù là những nguyên tắc do con người đặt ra và dùng để điều chỉnh hoạt động của mình nhằm đạt mục đích nhất định, nhưng không được đặt ra một cách hoàn toàn chủ quan, tuỳ tiện, cũng không phải là những nguyên tắc có sẵn bất biến trong tự nhiên. Phương pháp phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và đối tượng tác động, phụ thuộc vào mục đích đặt ra của chủ thể. Đối tượng tác động và mục đích của con người không phải do con người tạo ra theo ý nuốn chủ quan thuần tuý của mình. Muốn tiếp cận đối tượng và giải quyết nhiệm vụ đặt ra, chủ thể phải nghiên cún đối tượng và mục đích cần đạt tới một cách khách quan. Nghĩa là phải vạch rõ đối tượng có tính chất gì, các yếu tố cấu thành nên đối tượng, giới hạn tồn tại của đối tượng là gì, v.v. Từ đó chủ thể nhận thức rõ những quy luật tồn tại và biến đổi của đối tượng. Chỉ trên cơ sở đó và sau đó chủ thể mới xác định được phải nghiên cún và hành động như thế nào và cần phải sử dụng những phương tiện, công cụ và biện pháp gì cho thích hợp, cũng như cần phải kết họp các yếu tố đã cho theo một trình tự như thế nào cho họp lý để đạt được mục đích. Như vậy phương pháp mà con người dựa vào đe hoạt động, phải tuân theo một lôgic nhất định, tuỳ thuộc vào lôgic của đối tượng. Rõ ràng phương pháp bắt nguồn từ hiện thực khách quan, phản ánh nhũng quy luật khách quan của đối tượng nghiên cứu chứ không phải là những nguyên tắc được đặt ra một cách tùy tiện, theo ý muốn chủ quan của chủ thể (con người). Nhưng phương pháp phải do hoạt động có ý thức, có mục đích của chủ thể mới hình thành được. Hoạt động có ý thức ở đây không phải là ý thức thuần tuý tưởng tượng ra các nguyên tắc, không dựa vào hiện thực khách quan, mà là quá trình ý thức con người phản ánh hiện thực khách quan, rút ra những mối liên hệ bản chất của đối tượng, căn cứ vào đó để điều chỉnh hoạt động của mình phù hợp với quy luật vận động của đối tượng. Do vậy cũng có thể nói phương pháp là sản phẩm của hoạt động có ý thức của con người, là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người.

    Phương pháp làm cho hoạt động củả con người phù họp với quy luật khách quan của đối tượng, nhờ vậy mới nhận thức và cải tạo được đối tượng. Do vậy phương pháp là một trong những yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại đối với hoạt động của con người. Nếu với những điều kiện khách quan nhất định như nhau, phương pháp đúng đắn thì kết quả đạt được càng cao và ngược lại phương pháp không phù hợp có thể không đưa đến kết quả như mong muốn, hoặc hiệu quả công việc không cao. Bê-cơn, một nhà triết học Anh thế kỷ XVIII nói: phương pháp như ngọn đèn soi đường đi cho khách lữ hành trong đêm tối. Hêghen – một nhà triết học lỗi lạc của Đức thế kỷ XVIII – XIX cho phương pháp gắn liền với đối tượng và phụ thuộc vào đối tượng, phương pháp là “linh hồn” của đối tượng. Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin rất coi trọng phương pháp, nhất là phương pháp hoạt động thực tiễn cách mạng, phương pháp vận động quần chúng. Chính phương pháp làm cho hoạt động của con người mang tính tự giác, có mục đích và có tính sáng tạo. Đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta, việc vạch ra mục tiêu phương hướng cách mạng đúng là yếu tố quan trọng cho thành công của cuộc cách mạng. Tuy nhiên nếu không có phương pháp hoạt động cách mạng đúng đắn, thì với những điều kiện vật chất nhất định sẽ không thể đưa cách mạrig tiến lên đế đạt được mục tiêu đã định. Vậy phương pháp là một nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của việc thực hiện mục tiêu hoạt động của con người.

    Căn cứ vào nội dung, phạm vi ứng dụng và mức độ phổ biến người ta phân chia phương pháp ra làm nhiều loại khác nhau như:

    – Phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn.

    – Phương pháp riêng

    – Phương pháp chung

    – Phương pháp chung nhất (hay phương pháp phổ biến)

    Phương pháp riêng chỉ áp dụng cho từng bộ mổn khoa học, cho một đối tượng riêng, cụ thể. Thí dụ: phương pháp phân loại thực vật, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp chứng minh trong toán học v.v.

    Phương pháp chung được áp dụng cho nhiều môn khoa học khác nhau, hoặc cho các đối tượng thuộc các lĩnh vực khác nhau như: phương pháp quan sát, phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình hoá, phương pháp hệ thống cấu trúc, v.v.

    Phương pháp chung nhất (hay còn gọi là phương pháp phổ biến) áp dụng cho mọi lĩnh vực khoa học và hoạt động thực tiễn. Đó là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử như: phương pháp kết hợp phân tích và tổng họp, phương pháp kết hợp lôgic và lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá v.v.

    Trong phương pháp nhận thức khoa học lại có thể chia một cách tương đối ra thành nhóm các phương pháp thu nhận tri thức ở trình độ kinh nghiệm và nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học.

    Nhóm các phương pháp thu nhận tri thức ở cấp độ kinh nghiệm như:

    Phương pháp quan sát, là phương pháp nghiên cứu để xác định các thuộc tính, các quan hệ của sự vật hiện tượng riêng lẻ của thế giới xung quanh trong điều kiện tự nhiên vốn có của nó. Thí dụ: Quan sát các hiện tượng thời tiết như: diễn biến thời tiết trước, trong và sau khi bão, mưa, lốc xoáy; quan sát, sự biến đổi cây cối trong năm; quan sát sự sinh trưởng của cây. Qua quan sát, con người thấy được các đặc điếm của sự vật và các mối liên hệ giữa đặc điểm này với các đặc điểm khác.

    Phương pháp thí nghiệm, là phương pháp nghiên cứu các sự vật, hiện tượng bằng cách sử dụng các phương tiện vật chất để can thiệp vào trạng thái tự nhiên của chúng, tạo ra những điều kiện đặc biệt (có tính chất nhân tạo), tách chúng thành các bộ phận và kết họp chúng lại, sản sinh chúng dưới dạng thuần khiết. Thí dụ: lai ghép cây, lai tạo các giống động vật, sinh sản vô tính, thí nghiệm để xác định độ chịu lực của vật liệu, thí nghiệm một phương pháp sản xuất mới, một công nghệ mới. Ngày nay thí nghiệm được sử dụng rộng rãi cả trong khoa học tự nhiên, trong kỹ thuật và trong xã hội. Thí nghiệm như một dạng cơ bản của hoạt động thực tiễn, giữ vai trò là cơ sở của nhận thức khoa học và tiêu chuẩn để kiểm tra tính chân lý của nhận thức khoa học.

    Nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học gồm những phương pháp sau:

    Phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp: Phân tích là quá trình phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ phận để đi sâu nhận thức các bộ phận đó. Tổng họp là quá trình liên kết thống nhất các bộ phận đã được phân tích lại nhằm nhận thức cái toàn bộ. Nhận thức phải kết họp cả quá trình phân tích và tổng họp. Không có phân tích thì không thể tổng hợp được và ngược lại không tổng họp thì phân tích chỉ đưa lại hình ảnh rời rạc về sự vật, không thể có được hình ảnh toàn diện về sự vật.

    Phương pháp kết hợp quy nạp và diễn dịch: quy nạp là phương pháp đi từ tri thức về cái riêng đến tri thức về cái chung, từ tri thức về cái ít chung đến ứi thức về cái chung hơn. Diễn dịch là phương pháp đi từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái riêng, từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái ít chung hơn. Quá trình nhận thức phải có sự kết họp giữa phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch mới phản ánh được đầy đủ những đặc tính của sự vật cũng như phát huy được tính tích cực chủ động của hoạt động chủ quan của chủ thể nhận thức.

    Phương pháp lịch sử và lôgic

    Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải phản ánh trong tư duy quá trình lịch sử cụ thể của sự vật với những chi tiết của nó, phải nắm lấy sự vận động lịch sử trong toàn bộ tính phong phú của đối tượng, phải theo dõi mọi bước đi của đối tượng theo trình tự thời gian.

    Phương pháp lôgic vạch ra bản chất, tính tất yếu, tính quy luật của sự vật dưới hình thức lý luận trừu tượng và khái quát. Phương pháp lôgic có nhiệm vụ dựng lại lôgic khách quan của sự vật.

    Quá trình nhận thức phải kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic mới phản ánh đúng và đầy đủ được sự vận động phát triển của sự vật. Nếu nhận thức chỉ dựa vào phương pháp lịch sử tách rời phương pháp lôgic thì nhận thức không thể phản ánh được bản chất của các sự kiện lịch sử. Các sự kiện lịch sử hiện ra trước con neười như một bức tranh rất nhiều màu sắc, nhiều đường nét chằng chịt, nhưng còn lộn xộn, chưa theo trật tự có tính tất yếu. Ngược lại nếu nhận thức chỉ dựa vào phương pháp lôgic tách rời phương pháp lịch sử thì hình ảnh về sự vật chỉ là một bức tranh không có màu sắc, thiếu đường nét, khô khan nghèo nàn và đon điệu, một bức tranh méo mó về sự vật. Phương pháp lịch sử và lôgic phải kết hợp chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, giúp cho con người không những nhận thức được những mối liên hệ bản chất của sự vật, mà cả những biểu hiện đa dạng của các mối liên hệ đó trong những điều kiện lịch sử khác nhau. Như vậy kết họp phương pháp lịch sử và lôgic giúp con người phản ánh sự vật đầy đủ, sâu sắc và đúng đắn.

    Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể

    Cái cụ thể là phạm trù chỉ những sự vật, hiện tượng nhất định của thế giới khách quan. Phản ánh cái cụ thể khách quan trong nhận thức dưới hai hình thức: Thứ nhất, cái cụ thể cảm tính – điểm bắt đầu của nhận thức, hình ảnh cảm tính về cái cụ thể khách quan; thứ hai, cái cụ thể trong tư duy- kết quả của tư duy lý luận, của nhận thức khoa học, phản ánh cái cụ thể khách quan bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật.

    Cái trừu tượng là một trong những yếu tố, một trong những vòng khâu của quá trình nhận thức. Cái trừu tượng trong tư duy là kết quả của sự trừu tượng hoá một mặt, một mối liên hệ nào đó trong tổng thể phong phú các mối liên hệ của sự vật. Do vậy trừu tượng là một mặt, một biểu hiện của cái cụ thể trong tư duy, là bậc thang của nhận thức cái cụ thể.

    Nhận thức về một đối tượng nhất định gồm hai giai đoạn (hay hai quá trình) quan hệ chặt chẽ với nhau: Một là đi từ cái cụ thể cảm tính đến cái trừu tượng, hình thành cái trừu tượng trong tư duy. Hai là đi từ trừu tượng đến cụ thể, hình thành cái cụ thể trong tư duy. Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể là phương pháp nhận thức khoa học quan trọng, nhờ đó mà tư duy quán triệt được cái cụ thể cảm tính ban đầu và tái tạo nó với tư cách là một cái cụ thể trong tư duy. Đây là phương pháp cơ bản được Mác sử dụng trong Tư bản. Tuy nhiên đây không phải là phương pháp duy nhất và cũng không phải là Mác sử dụng một cách tách rời với các phương pháp khác trong Tư bản.

    Như vậy chúng ta thấy có nhiều phương pháp nhận thức khoa học khác nhau, có quan hệ biện chúng với nhau. Sự phân biệt các loại phương pháp chỉ mang ý nghĩa tương đối, tuỳ theo góc độ và tiêu chuẩn phân loại khác nhau. Trong hệ thống các phương pháp, mỗi phương pháp đều có vị trí nhất định. Tùy từng đối tượng và điều kiện lịch sử khác nhau mà chủ thể hoạt động có thể lựa chọn phương pháp nào đó là phương pháp chủ yếu, nhưng đồng thời kết họp với các phương pháp khác. Không nên coi mọi phương pháp đều ngang bằng nhau, có thế thay thế cho nhau một cách tùy tiện, hoặc một phương pháp nào đó luôn là quan trọng nhất có thể bao trùm, thay thế cho mọi phương pháp khác. Không nên tuyệt đối hoá phương pháp này, hạ thấp phương pháp kia. Trên thực tế, hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn thường phải sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp mới nhanh chóng đạt được mục đích.

    2. Phương pháp luận Khái niệm phương pháp luận

    Trên thực tế, để giải quyết một công việc đã định người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau. Trong các phương pháp đó có phương pháp thích hợp đưa lại hiệu quả cao, cũng có phương pháp không thích họp, đưa lại hiệu quả thấp. Làm thế nào để chọn được một phương pháp thích họp nhất trong số rất nhiều phương pháp có thế sử dụng? Trả lời cho vấn đề này làm nảy sinh nhu cầu tri thức về phương pháp. Từ nhu cầu tri thức về phương pháp đưa đến sự ra đời khoa học và lý luận về phương pháp. Đó chính là phưo’ng pháp luận. Vậy ta có thể nói phương pháp luận là lý luận về phương pháp (hay khoa học về phương pháp).

    Phương pháp luận giải quyết những vấn đề như: Phương pháp là gì? bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp là thế nào? cách phân loại phương pháp như thế nào? vai trò của phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn như thế nào? phương pháp thích hợp nhất là phương nào V.V.? Mục đích của những vấn đề lý luận trên là xác định được những quan điểm, nguyên tắc cơ bản nhất để trên cơ sở của những nguyên tắc đó con người có thể lựa chọn được những phương pháp hoạt động thực tiễn và nhận thức thích họp. Từ đó ta có thể định nghĩa phương pháp luận một cách rõ ràng hơn như sau:

    Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát rút ra từ một lý thuyết hoặc một hệ thống lý luận nhất định, để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng một cách họp lý, đưa lại hiệu quả tối đa. Thí dụ phương pháp luận toán học, xuất phát từ việc nghiên cún các lý thuyết toán học để đề xuất được những nguyên tắc chung chỉ đạo quá trình xác định và áp dụng các phương pháp toán học V.V.; phương pháp luận kinh tế học có nhiệm vụ nghiên cứu các lý thuyết kinh tế, để rút ra những quan điểm, nguyên tắc cơ bản như: quan điểm về hiệu quả; quan điểm về tiến bộ xã hội; quan điểm về phát triển bền vững v.v. làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp kinh tế cụ thể như: phương pháp điều tra chọn mẫu; phương pháp phân tích các hoạt động kinh tế, phương pháp thống kê v.v. Việc lựa chọn một phương pháp kinh tế cụ thể nào đó phải xuất phát từ các nguyên tắc phương pháp luận chung đó.

    Phân biệt phương pháp luận và phương pháp

    Phương pháp và phương pháp luận không đồng nhất với nhau, tuy có quan hệ chặt chẽ với nhau. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là nhũng quan điểm, những nguyên tắc xuất phát để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp một cách đúng đắn, còn phương pháp là những nguyên tắc cụ thể để chủ thể dựa vào đó điều chỉnh cách thức hoạt động cho thích họp với một đối tượng cụ thể. Phương pháp luận là những nguyên tắc được rút ra từ một lý thuyết mang tính chất thuần tuý lý luận, chưa gắn với một đối tượng cụ thể nào. Mỗi hệ thống lý luận (thậm chí mỗi lý thuyết) đều bao hàm một nội dung phương pháp luận nhất định. Còn phương pháp là những nguyên tắc nhận thức và hoạt động thực tiễn được rút ra từ tri thức về các đối tượng cụ thể. Phương pháp luận nghiên cứu phương pháp nhưng không nhằm ‘mục đích xác định một phương pháp cụ thể nào, mà nhằm rút ra những quan điểm, nguyên tắc xuất phát, làm cơ sở cho việc xác định và áp dụng phương pháp, còn phương pháp là những nguyên tắc do kết quả nghiên cứu đối tượng, những nguyên tắc quy định các thủ đoạn cụ thể để tiếp cận đối tượng và cải tạo các đối tượng cụ thể.

    Tuy nhiên phương pháp và phương pháp luận lại thống nhất với nhau ở chỗ phương pháp và phương pháp luận đều phản ánh nhũng mối liên hệ tất nhiên của hiện thực khách quan, chính vì vậy nó mới là cơ sở cho hoạt động của con người. Phương pháp luận là cơ sở lý luận cho việc xác định các phương pháp cụ thể, còn phương pháp phải xuất phát từ quan điểm, nguyên tắc của phương pháp luận để xác định các cách thức hoạt động phù hợp với một đối tượng nhất định.

    Phân loại phương pháp luận

    Phương pháp luận có các cấp độ khác nhau.

    Phương pháp luận môn học là cấp độ hẹp nhất, trong đó các quan điểm, các nguyên tắc được rút ra từ một lý thuyết khoa học chuyên ngành, phản ánh quy luật của một lĩnh vực cụ thể. Những nguyên tắc đó chỉ là cơ sở để xác định các phương pháp của một môn học nhất định nào đó.

    Phương pháp luận chung có cấp độ rộng hơn phương pháp luận môn học, đó là những quan điểm, nguyên tắc được rút ra từ những lý thuyết khoa học phản ánh quy luật chung của một số môn học, hoặc một số lĩnh vực của hiện thực khách quan. Những ngiịyên tắc chung này làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp chung cho một số môn học hoặc một số lĩnh vực nào đó, Thí dụ phương pháp luận chung của các môn khoa học xã hội, hay phương pháp luận chung của các môn khoa học tự nhiên v.v.

    Phương pháp luận chung nhất (hay phương pháp luận phổ biến) có cấp độ rộng nhất, đó là những quan điểm, nguyên tắc chung nhất được rút ra từ những lý thuyết khoa học có cấp độ khái quát cao nhất, làm cơ sở cho việc xác định phương pháp chung cho nhận thức và hoạt động thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực. Có thể nói, phương pháp luận chung nhất được rút ra từ lý luận triết học, trong đó phép biện chứng là một trong những bộ phận quan ứọng nhất của lý luận triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Đánh Giá Thành Tích Công Việc Mà Các Nhà Quản Lý Nhất Định Phải Biết!
  • Các Phương Pháp Đánh Giá Công Việc
  • 7 Phương Pháp Đánh Giá Nhân Viên Hiệu Quả Nhất Cho Doanh Nghiệp
  • 3 Phương Pháp Giảng Dạy Mới Có Thể Giúp Đổi Mới Giáo Dục
  • 7 Cách Thai Giáo Cho Thai Nhi Thông Minh Ngay Từ Trong Bụng Mẹ
  • Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Có Sự Khác Biệt Căn Bản Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 Doc
  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • 1. Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

    Trong lịch sử triết học, bên cạnh vấn đề bản chất thế giới là vật chất hay tinh thần, còn một vấn đề quan trọng khác cần triết học giải quyết – đó là vấn đề về trạng thái tồn tại của thế giới. Vấn đề đó được biểu hiện qua các câu hỏi đặt ra: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới tồn tại trong trạng thái biệt lập, tách rời, đứng im, bất biến hay có quan hệ, ràng buộc với nhau, không ngừng vận động, biến đổi? Giải đáp câu hỏi đó đã làm nảy sinh hai phương pháp (quan điểm) nhận thức đối lập nhau – phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.

    a) Phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tách rời với các sự vật khác; xem xét sự vật trong trạng thái không vận động, không biến đổi.

    Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ quan niệm cho rằng muốn nhận thức một đối tượng nào đó trước hết phải tách đối tượng đó ra khỏi mọi mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác; đồng thời phải nhận thức đối tượng trong trạng thái không vận động, không biến đổi. Việc xem xét đối tượng sự vật theo quan niệm như vậy cũng có tác dụng nhất định. Tuy nhiên, sai lầm căn bản của phương pháp siêu hình chính là đã tuyệt đối hoá trạng thái tĩnh tương đối của đối tượng sự vật. Trong thực tế, các sự vật, hiện tượng không tồn tại trong trạng thái tĩnh, bất biến một cách tuyệt đối. Trái lại, các sự vật hiện tượng luôn nằm trong những mối quan hệ và trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng.

    Ph.Ăngghen đã từng vạch rõ sự hạn chế của phương pháp siêu hình là “Chỉ nhìn thấy những sự vật mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng” .

    b) Phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau với các sự vật khác xung quanh; xem xét sự vật trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng của nó.

    Phương pháp biện chứng là hệ quả tất yếu của quan điểm biện chứng, – quan điểm khẳng định các sự vật hiện tượng đều luôn tồn tại trong trạng thái vận động và trong mối quan hệ hữu cơ với nhau. Do đó, muốn nhận thức đúng về sự vật, cần phải nhận thức, xem xét sự vật trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng của nó, trong trạng thái quan hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau giữa nó với các sự vật khác xung quanh.

    Có thể kết luận rằng: Sự khác biệt căn bản giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng là ở chỗ, phương pháp siêu hình nhìn nhận sự vật bằng một tư duy cứng nhắc, máy móc; còn phương pháp biện chứng nhìn nhận, xem xét sự vật với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Phương pháp biện chứng không chỉ nhìn thấy những sự vật cụ thể mà còn thấy mối quan hệ qua lại giữa chúng; không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành, sự diệt vong của chúng; không chỉ thấy trạng thái tĩnh mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật; không chỉ “thấy cây mà còn thấy cả rừng”. Đối với phương pháp siêu hình thì, sự vật hoặc tồn tại, hoặc không tồn tại; hoặc là thế này, hoặc là thế khác; “hoặc là… hoặc là…”, chứ không thể vừa là thế này vừa là thế khác; “vừa là… vừa là…”. Đối với phương pháp biện chứng thì, một sự vật vừa là thế này vừa là thế kia, “vừa là… vừa là…”. Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực khách quan đúng như nó đang tồn tại. Vì vậy, phương pháp biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới.

    2. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng

    Với tư cách là một phương pháp nhận thức đúng đắn về thế giới, phương pháp biện chứng không phải ngay khi ra đời đã trở nên hoàn chỉnh, mà trái lại nó phát triển qua từng giai đoạn gắn liền với sự phát triển của tư duy con người. Trong lịch sử triết học, sự phát triển của phương pháp biện chứng được biểu hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.

    + Phép biện chứng tự phát là hình thức biện chứng tồn tại ở thời cổ đại. Các nhà biện chứng cổ đại cả phương Đông lẫn phương Tây đã nhận thức được các sự vật, hiện tượng của vũ trụ luôn tồn tại trong trạng thái vận động, biến đổi và trong những mối liên hệ chằng chịt với nhau. Tuy nhiên, những nhận xét của các nhà biện chứng cổ đại về sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng chủ yếu vẫn chỉ là kết quả của sự quan sát, trực kiến thiên tài chứ chưa phải là kết quả của sự nghiên cứu và của thực nghiệm khoa học. Vì vậy, tư tưởng biện chứng thời kỳ này chủ yếu dừng ở những đánh giá về hiện tượng biến đổi, mối liên hệ giữa các sự vật chứ chưa thật sự đi sâu vào xem xét bản thân sự vật để có những nhận xét sâu sắc về sự vận động của sự vật. Theo Ph.Ăngghen, cách nhận xét thế giới của các nhà biện chứng cổ đại như trên là cách nhận xét còn nguyên thuỷ, ngây thơ nhưng căn bản là đúng.

    + Phép biện chứng duy tâm biểu hiện tập trung, rõ nét nhất trong triết học cổ điển Đức, mà người khởi đầu là I.Cantơ và người hoàn thiện là Ph.Hêghen. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử của tư duy nhân loại, các nhà biện chứng trong nền triết học cổ điển Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phép biện chứng. Các nhà biện chứng cổ điển Đức không chỉ nhìn thế giới trong quá ttrình vận động, phát triển, trong tính chỉnh thể thống nhất mà còn khẳng định về tính quy luật của sự phát triển đó. Tuy nhiên, phép biện chứng này lại mang tính duy tâm, biểu hiện ở việc khẳng định sự phát triển của thế giới xuất phát từ tinh thần và kết thúc cũng ở tinh thần. Theo Ph.Hêghen, sự phát triển thực chất là quá trình vận động, phát triển của yếu tố tinh thần gọi là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần tuyệt đối”. Trong quá trình phát triển của mình, “ý niệm tuyệt đối” tự tha hoá chuyển thành giới tự nhiên, xã hội để sau đó lại quay trở về bản thân mình. Như vậy, đối với phép biện chứng duy tâm này, sự vận động phát triển của giới hiện thực chẳng qua chỉ là sự sao chép lại sự tự vận động của “ý niệm tuyệt đối”.

    +Phép biện chứng duy vật là hình thức biện chứng biểu hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng trên cơ sở khắc phục tính chất duy tâm của phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, sau đó được V.I.Lênin phát triển. C.Mác và Ph.Angghen đã gạt bỏ tính chất duy tâm, thần bí đồng thời kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Hiệu Quả
  • Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Bằng Phương Pháp Nào Là Hiệu Quả?
  • Điều Trị Dứt Điểm Bệnh Viêm Lộ Tuyến Bằng Phương Pháp Sóng Cao Tần Rfa
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Đúc Kim Loại, Tính Công Nghệ, Ưu Và Nhược Điểm
  • Tìm Hiểu Về Các Phương Pháp Đúc Đặc Biệt Trong Cơ Khí.
  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Nghiên Cứu Phương Pháp Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Miễn Phí Sách Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống
  • Các Phương Pháp Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm 2022
  • Phương Pháp Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm Hiện Nay
  • Phương Pháp Mổ Thoát Vị Đĩa Đệm Hiện Nay Là Gì?
  • Phương Pháp Dùng “các Mảnh Ghép” Là Cách Dạy Học Tốt
  • Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học bao gồm đốc các lý thuyết về cớ chê sáng tạo, những quan điểm tiếp cận đôi tượng khoa học, cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp kỹ thuật và lôgíc tiên hành nghiên cứu một công trình khoa học cũng như phương pháp tổ chức , quản lý qúa trình ấy. Vậy khái niệm phương pháp luận là gì, ý nghĩa phương pháp luận nghiên cứu khoa học là gì? Bạn cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết sau đây.

    + Tổng hợp mẫu lời mở đầu bài tiểu luận các ngành mới nhất

    + Tổng hợp các đề tài luận văn thương mại điện tử hay nhất

    1. Phương pháp luận là gì?

    Phương pháp là một hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ những tri thức về các quy luật khách quan dùng để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định.

    Vậy phương pháp luận là gì? Phương pháp luận (Methodology) là học thuyết hay lý luận về phương pháp. Đó là hệ thống những quan điểm (nguyên lý) chỉ đạo, xây dựng các nguyên tắc hợp thành phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng có hiệu quả. Trong đó quan trọng nhất là các nguyên ly có quan hệ trực tiếp với thế giới quan, có tác dụng định hướng việc xác định phương hướng nghiên cứu, tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp. Phương pháp và phương pháp luận là khác nhau.

    Phương pháp là phạm trù rất rộng, cho liên phạm vi bao quát của phương pháp luận rất lớn. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học đặt ra cho mình hàng loạt những nhiệm vụ quan trọng sau đây:

    + Nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất của khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết các quy luật phát triển của khoa học hiện đại.

    + Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ chế tư duy sáng tạo trong nhận thức của nhà khoa học và các kỹ năng thực hành sáng tạo của họ.

    + Nghiên cứu những quan điểm tổng quát, những cách tiếp cận đối tượng nhận thức, đồng thời xây dựng hệ thống lý thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học, với tư cách là con đường, cách thức và kỹ thuật nghiên cứu cụ thể, đây là vấn đề trung tâm của phương pháp luận.

    + Phương pháp luận khẳng định phương pháp nghiên cứu khoa học không những nằm trong lôgíc nhận thức mà còn nằm trong cấu trúc nội dung một công trình khoa học. Cho nên Phương pháp luận nghiên cứu khoa học một mặt xác định các bước đi trong tiến trình nghiên cứu một đề tài, mặt khác còn tìm ra cấu trúc lôgic nội dung của các công trình khoa học đó.

    + Phương pháp luận nghiên cứu khoa học cũng chú ý đến phương pháp tổ chức, quản lý nghiên cứu hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, coi đó là một khâu ứng dụng chính các thành tựu khoa học, nhằm nâng cao tiềm lực khoa học và tổ chức quá trình nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả cao.

    Tóm lại phương pháp luận nghiên cứu khoa học là hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học bao gồm đốc các lý thuyết về cớ chê sáng tạo, những quan điểm tiếp cận đôi tượng khoa học, cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp kỹ thuật và lôgíc tiên hành nghiên cứu một công trình khoa học cũng như phương pháp tổ chức , quản lý qúa trình ấy.

    – Khoa học hiện đại có kết cấu bởi nhiều thành phần, trong đó có ba bộ 4 phận chủ yếu và quan trọng sau đây:

    + Hệ thống những khái niệm phạm trù, những quy luật, các lý thuyết, học thuyết khoa học.

    + Hệ thống trí thức ứng dụng đưa các thành tựu khoa học vào sản xuất và quản lý xã hội, nhằm cải tạo thực tiễn.

    + Hệ thống lý thuyết về phương pháp nghiên cứu, về các con đường tìm tòi, sáng tạo khoa học.

    Vậy vị trí của phương pháp luận là gì? Phương pháp luận chính là một trong ba bộ phận quan trọng của khoa học.

    – Nghiên cứu khoa học luôn là sáng tạo và cách mạng, trong mỗi giai đoạn phát triển của khoa học hiện đại đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới đối với khoa học, phải tìm ra các phương pháp nghiên cứu mới, phải phát hiện ra các con đường mới để ứng dụng khoa học vào thực tiễn. Có thể nói: Hoàn thiện về phương pháp luận là sự đòi hỏi thường xuyên của sự phát triển khoa học hiện đại.

    – Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là kết quả của quá trình khái quát lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu khoa học và nó trở thành công cụ sắc bén để chỉ dẫn tất cả các nhà khoa học và các nhà quản lý trong công tác tổ chức, quản lý và thực hành sáng tạo khoa học.

    – Ngày nay trong thế giới hiện đại, để hoàn thành có chất lượng bất cứ một loại công việc nào, nhà chuyên môn cũng phải là người sáng tạo, có ý thức tìm tòi các con đường, các phương pháp tạo động mới. Thiếu tinh thần sáng tạo không có chỗ đứng trong cuộc sống đầy sôi động. Cải tiến chuyên môn thông qua con đường hoạt động thực tiễn của mình đã góp phần làm phát triển khoa học và công nghệ. Như vậy, nắm vững phương pháp luận nghiên cứu khoa học không chỉ có nghĩa đối với các nhà nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, mà còn đối với các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn.

    Tóm lại, phương pháp luận nghiên cứu khoa học là một bộ phận quan trọng của khoa học. Hoàn thiện phương pháp luận nghiên cứu khoa học là sự tự ý thức về sự phát triển của bản thân khoa học. Như vậy, nắm vững phương pháp luận nghiên cứu khoa học không chỉ có nghĩa đối với các nhà nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, mà còn đối với các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn.

    Tham khảo tại nguồn: Tri Thức Cộng Đồng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
  • Các Phương Pháp Kế Toán Cơ Bản
  • 4 Phương Pháp Kế Toán Cơ Bản Hiện Nay
  • Các Phương Pháp Của Kế Toán
  • Hai Kĩ Thuật Dạy Học: Khăn Trải Bàn Và Các Mảnh Ghép
  • Phương Pháp Luận Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Dha Chữa Bệnh Lậu Là Phương Pháp Gì?
  • Phương Pháp Dha Chữa Bệnh Lậu Là Gì, Điều Trị Bao Lâu Thì Khỏi
  • Mô Hình Dcf Và Những Kiến Thức Đầu Tư
  • Định Giá Cổ Phiếu Bằng Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Tiền Dcf
  • Dòng Tiền Chiết Khấu (Discounted Cash Flow
  • Bất cứ một nhà khoa học nào cũng không thể không biết đến thuật ngữ “phương pháp luận”. Bất cứ một ngành hay một bộ môn khoa học nào cũng đều không thể không có phương pháp luận của riêng mình. Sự phát triển của một ngành khoa học phụ thuộc một phần quan trọng vào sự đóng góp của phương pháp luận nghiên cứu khoa học nói chung và của phương pháp luận nghiên cứu của ngành khoa học đó nói riêng.

    Trong ngành nghiên cứu văn học cũng vậy, phương pháp luận có một vai trò rất to lớn. Nó xứng đáng có được một vị trí thoả đáng trong sự quan tâm của giới nghiên cứu. Thế nhưng ở nước ta, cho đến nay phương pháp luận nghiên cứu văn học mới chỉ được bàn đến như là một phần trong các công trình lý luận văn học của các nhà nghiên cứu; và tính đến năm 2004, là thời điểm xuất bản lần đầu tiên cuốn sách Phương pháp luận nghiên cứu văn học của chúng tôi, vẫn chưa có một công trình chuyên luận nào bàn riêng về phương pháp luận nghiên cứu văn học. Đó là vì từ trước đến nay, người ta thường quan niệm rằng, ngành nghiên cứu văn học bao gồm ba bộ môn: lý luận văn học, lịch sử văn học và phê bình văn học. Còn lĩnh vực phương pháp luận nghiên cứu văn học vẫn được xếp vào một bộ môn của nghiên cứu văn học có tên là Lý luận văn học.

    Tuy nhiên, trong mấy chục năm trở lại đây, trên thế giới đã xuất hiện nhiều ý kiến muốn phân biệt phương pháp luận nghiên cứu văn học với lý luận văn học. Có nhiều người cho rằng lý luận văn học trả lời câu hỏi: “Văn học là gì?”. Còn phương pháp luận trả lời câu hỏi: “Phải nghiên cứu văn học như thế nào?”. Cụ thể là từ năm 1969, A. Bushmin, nhà nghiên cứu văn học của Liên Xô cũ, đã cho xuất bản một công trình nhan đề Những vấn đề phương pháp luận của khoa nghiên cứu văn học. Trong công trình này ông cũng phân biệt lý luận văn học với phương pháp luận. Có thể nói, ý nghĩa công cụ của phương pháp luận đối với lý luận văn học hay với nghiên cứu văn học nói chung là điều không phải bàn cãi nữa, nhưng còn về ý nghĩa lý luận của nó thì hiện nay các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới đang có xu hướng muốn coi nó như là một bộ phận nghiên cứu riêng biệt, có vị trí độc lập tương đối của nó

    Ở Việt Nam, phương pháp luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học cũng đã được quan tâm từ lâu. Bộ sách Lý luận văn học (xuất bản từ những năm 1980, nhiều tác giả, GS Phương Lựu chủ biên) đã bàn đến “phương pháp luận nghiên cứu văn học” trong phần “Phương pháp nghiên cứu văn học” do GS Phương Lựu viết. Sau khi cuốn sách Phương pháp luận nghiên cứu văn học của chúng tôi ra đời lần đầu vào năm 2004 (Nxb. KHXH), đến năm 2005, GS Phương Lựu đã tách phần “Phương pháp nghiên cứu văn học” trong bộ sách Lý luận văn học ra thành một cuốn sách riêng đứng tên ông và cũng lấy nhan đề Phương pháp luận nghiên cứu văn học (Nxb. Đại học Sư phạm). Như vậy, có lẽ Phương Lựu cũng cho rằng cần phân biệt phương pháp luận nghiên cứu văn học với lý luận văn học để gán cho nó một vị trí độc lập. Có một điều chắc chắn rằng, dù nó được coi là một bộ phận độc lập hay phụ thuộc vào lý luận văn học, thì vai trò của nó cũng không bị xem nhẹ. Bất cứ một nhà nghiên cứu văn học nào, cũng giống như bất cứ một nhà nghiên cứu khoa học nào khác, đều phải được trang bị một phương pháp luận có hiệu quả, dù người đó làm việc ở lĩnh vực lý luận, lịch sử hay phê bình văn học.

    * * *

    Bây giờ chúng ta hãy xem xét những vấn đề trọng tâm: Phương pháp luận là gì? Bản chất của phương pháp luận nghiên cứu văn học là như thế nào? Quan hệ giữa phương pháp luận nghiên cứu văn học với các phương pháp luận khác thể hiện ra sao? Quan hệ giữa phương pháp luận với các phương pháp nghiên cứu cụ thể là như thế nào?

    Hiện nay trên thế giới, những vấn đề nói trên là vô cùng phức tạp. Điểm qua ý kiến của các nhà lý luận nổi tiếng viết về phương pháp luận nghiên cứu khoa học, chúng ta sẽ có cảm giác như đang lạc vào một mê cung của các khái niệm. Có người cho rằng “Phương pháp luận là lý luận về phương pháp”, có ý kiến cho rằng phương pháp luận bao gồm nhiệm vụ, mục đích và các nguyên tắc của phương pháp nghiên cứu Averzhanov (cũng Liên Xô cũ) thì tuyên bố: “Phương pháp luận – đó là thế giới quan trong hành động.”, có người coi chúng là những thủ pháp, phương thức, kỹ thuật phân tích, có người hiểu phương pháp theo từng trường hợp cụ thể: khi thì là thủ pháp, khi là kỹ thuật, khi là một thái độ cảm quan. Nhưng ngược lại có người lại cho rằng thuyết cấu trúc không phải là một thế giới quan như kiểu chủ nghĩa Marx , theo nghĩa là một thái độ cảm quan và một sự cảm nhận trực giác đối với cấu trúc của tác phẩm nghệ thuật – tức họ hiểu từ “phương pháp luận” ở đây chỉ có nghĩa như là “phương pháp”. Còn đối với chính những đại biểu của thuyết cấu trúc thì tình trạng cũng không khá hơn. Claude Lévi-Strauss coi thuyết cấu trúc là thái độ tri thức luận; A. J. Greimas cho nó là một phương pháp luận; Michel Foucault quan niệm nó là hệ tư tưởng; T. Todorov gọi nó là phép phân tích khoa học; và đến lượt Julia Kristeva thì nó chỉ còn là một sự bày đặt của các nhà báo! Hiệu quả của công việc nghiên cứu cụ thể sẽ là một yếu tố cơ bản để biện hộ cho lý luận (tuy rằng không phải lúc nào cũng như vậy). Đây có thể gọi là lối tiếp cận chuyên sâu. Ngày nay xu hướng chuyên sâu là một xu hướng hợp lý, nó phù hợp với tình hình phát triển mạnh mẽ của tri thức loài người, có sự phân công lao động ngày càng sâu rộng.

    Tuy nhiên, quy luật biện chứng của sự phát triển cũng giống như biện chứng của tự nhiên, cái chuyên sâu sẽ kéo theo cái tổng hợp. Có điều, xu hướng tổng hợp ngày nay khác xu hướng tổng hợp thời Phục hưng. Nó diễn ra đồng thời trên cả bình diện đối tượng nhận thức lẫn chủ thể nhận thức. Tức là sự tổng hợp không phải chỉ tiến hành hướng tới nhiều đối tượng xuất phát từ một chủ thể duy nhất, mà còn hướng tới nhiều đối tượng xuất phát từ một tập hợp các chủ thể. Cái chuyên của mỗi người vì thế luôn nằm dưới bóng của cái tổng hợp, theo sự phân công của cái tổng hợp. Do đó, việc tìm hiểu các công thức đại cương của một lý thuyết nào đó cũng không phải là vô ích đối với những ai thích bàn đến những công việc cụ thể. Đứng trên quan điểm này để suy xét lĩnh vực phương pháp luận nghiên cứu văn học, chúng ta sẽ có thể chắt lọc được những suy nghĩ bổ ích từ cái “mê cung” choáng ngợp đó.

    Nhưng trước khi đi sâu tìm hiểu phương pháp luận nghiên cứu văn học, chúng ta cần phải thống nhất quan niệm thế nào là phương pháp luận? Không phải vô cớ mà chúng tôi đặt ra câu hỏi này. Vì trên thực tế có rất nhiều người vẫn không phân biệt rạch ròi “phương pháp luận” với “phương pháp”. Có người dùng từ “phương pháp” cho một đối tượng đáng ra phải được gọi là “phương pháp luận”; có người thì làm ngược lại. Có người coi phương pháp là cái bao trùm cả phương pháp luận, nhưng có người lại gạt phương pháp ra khỏi phạm vi bao quát của phương pháp luận.

    Về mặt thuật ngữ, “phương pháp luận” là một khái niệm tương đối mới ở Việt Nam. Căn cứ vào cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (xuất bản lần đầu năm 1931) thì trước đây từ “phương pháp luận” là từ Hán – Việt được các học giả Việt Nam dùng để dịch tên cuốn sách của nhà triết học duy lý người Pháp René Descartes, tên ông này được họ phiên âm theo âm Hán – Việt là “Địch-cáp-nhi”. Tên tiếng Pháp cuốn sách của nhà triết học này là: Discours de la méthode (xuất bản năm 1637) .

    Còn việc ghi xuất xứ của trích dẫn cũng là một trong những quy cách phương pháp luận quan trọng cần phải tuân thủ, không phải chỉ là do yêu cầu về luật bản quyền, mà còn để giúp cho người đọc có thể kiểm tra xem người trích có trích đúng không. Tôi nói như thế là vì chuyện trích dẫn sai không phải là chuyện hiếm trong giới khoa học, cả trong và ngoài nước. Ví dụ từ điển Microsoft Encarta 99 Encyclopedia của Mỹ đã trích sai câu ” ngôn ngữ là hình thức chứ không phải chất liệu” của Ferdinand de Saussure thành ” ngôn ngữ không phải là hình thức cũng không phải là chất liệu. ” Hay có người, cả trong nước lẫn ngoài nước, dẫn một luận điểm được một tác giả dẫn ra để phê phán mà lại bảo là của chính tác giả đó! Đây là hậu quả của một tình trạng “đọc lười nhác, đọc cẩu thả”, nói theo đúng ngôn từ của nhà ngữ nghĩa học thực chứng người Anh I. A. Richards. Ở một số người, tình trạng đọc cẩu thả còn thể hiện ở việc đọc nhảy cóc, nối nửa đầu của một đoạn vào nửa sau của một đoạn khác, làm sai lệch hẳn ý của nguyên bản, cho dù có thể người đọc không chủ tâm. Tiếc thay ở nước ta, tình trạng đọc cẩu thả cũng không phải là không xảy ra. Có người đọc một văn bản nước ngoài mà không hiểu ý nên trích sai đã đành, nhưng ngay cả đối với văn bản tiếng Việt mà cũng có nhiều người trích sai, điều này chỉ có thể giải thích bằng tình trạng đọc cẩu thả, đọc nhảy cóc. Việc trích sai như thế rất nguy hiểm, bởi vì khi người khác trích lại một lời trích sai thì cái sai cứ thế lây lan và không thể cứu vãn được nữa. Tất nhiên việc trích lại là điều hoàn toàn hợp pháp. Khi người ta không có khả năng tiếp cận với bản gốc thì người ta có quyền trích lại. Tuy nhiên, nếu có ai đó trích lại một ý kiến sai mà cứ “vô tâm” không nói rõ mình trích theo ai, thì người đó sẽ vô tình “lãnh đủ” lỗi của người đi trước. Chuyện này tôi đã có lần nói rõ trên báo chí, và trong một khoa cũng được chua bằng tiếng Anh là ” The Brothers Karamazov“. Ở đây, các quy chuẩn về ngôn ngữ khoa học đang bị phá huỷ, một phần do bị lây nhiễm bởi hiện tượng quốc tế hoá tiếng Anh trong đời sống xã hội và thương mại. Hơn nữa, càng ngày ta càng thấy ảnh hưởng của hiện tượng quốc tế hoá tiếng Anh từ phía đời sống xã hội và thương mại sang các lĩnh vực khác đang tỏ ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

    Tóm lại, ở đây có hai câu hỏi đặt ra là: 1. Tại sao phải giải nghĩa từ nguyên cho các thuật ngữ; và 2. Tại sao lại phải giải nghĩa từ nguyên cho các thuật ngữ trong tiếng nước ngoài? Rõ ràng nếu không trả lời được hai câu hỏi này thì việc giải nghĩa sẽ là một việc làm vô nghĩa: nó không đem lại ý nghĩa gì cho nội dung khoa học của công trình, cũng như không đóng góp gì cho lĩnh vực ngữ nghĩa của ngôn ngữ. Quả thực, hiện tượng chua và giải nghĩa từ nước ngoài một cách vô cớ như thế này sẽ gây một cảm giác rất khó chịu.

    Trong các văn bản nước ngoài, nhìn chung không có hiện tượng nói trên. Chỉ khi đang nói đến một tác giả hay một tác phẩm thuộc một ngôn ngữ đã được xác định, thì người ta mới chua thêm những từ thuộc ngôn ngữ đó mà không cần ghi thêm danh tính ngôn ngữ của những từ đó. Ví dụ, khi đang nói đến đại triết gia người Đức Hegel, thì khi chua nguyên văn từ dùng của Hegel, người ta sẽ không phải chú thích thêm là “bằng tiếng Đức” nữa. Cũng như khi nói đến nhà triết học người Pháp Descartes, người ta sẽ không phải chua thêm là “bằng tiếng Pháp”. Còn khi trình bày quan điểm của chính mình, thì người ta rất ít khi phải chua thêm tiếng nước ngoài, bởi vì giữa các nước phương Tây có một sự tương đương về thuật ngữ khoa học khá phổ biến. Đặc biệt người ta không bao giờ dùng một thứ tiếng nước ngoài để chua cho tất cả mọi văn bản, giống như ở ta nhiều người vẫn dùng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp để chua. Duy nhất có lẽ chỉ có tiếng Latin là được dùng để chua mà người ta không cần phải nói rõ đó là tiếng Latin, vì đó là tiếng cổ phổ thông của các nước châu Âu.

    Song, có lẽ vì thấy quy cách chua tiếng nước ngoài là một chuyện mà ai cũng hiểu, cho nên các cuốn sách về phương pháp luận của nước ngoài đã không liệt kê nó vào trong số những quy cách trình bày công trình khoa học bắt buộc phải tuân theo. Thế nhưng ở Việt Nam, do có sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hoá, do chưa dám chắc về chữ dùng của mình cũng như chưa dám chắc về trình độ hiểu của người đọc, cho nên ban đầu các nhà khoa học đã phải chua thêm tiếng nước ngoài, mà thường là tiếng Anh hay tiếng Pháp, đối với một số thuật ngữ mới. Việc làm đó là hoàn toàn chính đáng. Sau đó có nhiều người bắt chước theo và thế là nó trở thành một hiện tượng lạm dụng mà không cần có nguyên tắc hoặc quy cách. Nhưng nếu đứng từ góc độ phương pháp luận mà nhận xét thì chúng ta sẽ thấy việc làm thiếu nguyên tắc này rất mâu thuẫn và phi lý. Còn nếu đứng từ góc độ tâm lý người tiếp nhận thì những hiện tượng như vậy sẽ gây cho người đọc một cảm giác khó chịu. Vậy tại sao những tác giả rất cẩn trọng về quy cách phương pháp luận nói trên đã không nhận ra điều ấy. Đó là vì họ đã máy móc tiếp nhận các cuốn sách giáo trình của nước ngoài mà không quan sát các hiện tượng thực tế ở Việt Nam và không dựa vào điều kiện và đặc điểm ngôn ngữ – văn hoá của Việt Nam để điều chỉnh và bổ sung thêm các nguyên tắc và quy cách mới. Đáng ra họ phải bổ sung thêm ” quy cách về việc chua thêm từ nước ngoài” và ” nguyên tắc về việc chua bản gốc “. Phải chăng đây là biểu hiện của một căn bệnh tiếp thu thụ động cố hữu?

    Tóm lại theo tôi, về nguyên tắc, việc chua từ bằng tiếng nước ngoài chỉ được phép thực hiện trong hai trường hợp sau: 1. Khi từ được chua là một thuật ngữ mới và đang có nhiều cách hiểu và cách dịch khác nhau; hoặc khi gặp phải một thuật ngữ khoa học quan trọng thì ta có thể chua thêm thuật ngữ tương đương của ngôn ngữ nước ngoài để người đọc tham khảo nhằm xác định rõ hơn nghĩa nội hàm của thuật ngữ đó. Và tất nhiên, khi chua phải ghi rõ từ được chua là từ thuộc ngôn ngữ nào, trừ trường hợp đang nói đến tác giả thuộc một ngôn ngữ đã được xác định. 2. Khi ta đang đề cập đến quan điểm của một tác giả nghiên cứu người nước ngoài, thì ta có thể chua thêm chữ dùng nguyên văn của tác giả đó; và thông thường, tác giả là người nước nào thì ngôn ngữ viết của người đó sẽ là ngôn ngữ của nước đó. Trong trường hợp này, ta sẽ không cần chua thêm danh tính của ngôn ngữ dùng để chua, ngoại trừ trường hợp tác giả đó viết bằng ngôn ngữ khác với ngôn ngữ thuộc quốc tịch của anh ta thì ta phải chú thích thêm. Thông thường, khi chua một từ mà người chua không ghi rõ là ngôn ngữ nào, thì người đọc hoàn toàn có quyền hiểu ngôn ngữ dùng để chua là ngôn ngữ của nguyên tác. Ví dụ, nếu nói đến nhà nghiên cứu hình thức chủ nghĩa người Nga Shklovskij mà không ghi rõ là “bản dịch tiếng Anh”, thì người đọc có quyền hiểu rằng ông này viết công trình của mình bằng tiếng Anh, trong khi đó trên thực tế Shklovskij lại viết bằng tiếng Nga, và tên nguyên tác công trình của ông phải là tên tiếng Nga: Iskusstvo kak prijom. Hay nếu ta chua tác phẩm Nghệ thuật thơ ca của Aristote là Poetics, thì người đọc cũng hoàn toàn có quyền hiểu rằng nhà triết học Hy Lạp cổ đại này cách đây hơn 2.300 năm đã biết viết văn bằng tiếng Anh, một điều không có gì phi lý hơn!

    * * *

    Như vậy, những điều phân tích trên cho chúng ta thấy rằng khái niệm ” phương pháp luận” có một trường bao quát rất rộng: nó đi từ thế giới quan qua các phương pháp suy lý lôgic chung, các phương pháp riêng, các thủ pháp, kỹ thuật thao tác, đến các quy cách trình bày kết quả khoa học. Tức là nó mang một ý nghĩa bao quát rộng hơn so với nghĩa được gán cho cuốn chuyên luận triết học của Descartes. Thực chất, nó cũng có nghĩa là “phương pháp học” và được dùng để chỉ một lĩnh vực khoa học cụ thể. Tuy nhiên, không nên đồng nhất nó với “khoa học luận”. Đây là nói về trường bao quát của phương pháp luận, nhưng còn về nghĩa nội hàm của nó thì ta phải định nghĩa như thế nào?

    Theo định nghĩa của cuốn từ điển bách khoa vào loại mới nhất của Pháp, Le petit Larousse illustré năm 2000, thì từ méthodologie trong tiếng Pháp có nghĩa là ” Việc nghiên cứu một cách có hệ thống, thông qua quan sát, đối với công việc thực hành khoa học, đối với các nguyên tắc làm thành cơ sở cho việc thực hành công việc khoa học đó cũng như đối với các phương pháp nghiên cứu mà nó sử dụng.” Theo nghĩa này thì ta có thể dịch từ méthodologie là ” phương pháp luận/học“. Ngoài ra, từ méthodologie còn có một nghĩa thứ hai là ” Tập hợp các phương pháp và các kỹ thuật của một lĩnh vực riêng biệt.” Theo nghĩa này thì từ méthodologie trong tiếng Pháp còn có nghĩa là ” tập hợp phương pháp“. Theo định nghĩa của từ điển bách khoa Microsoft Encarta 99 Encyclopedia, từ methodology trong tiếng Anh cũng có nghĩa là: ” 1. Khoa học về phương pháp; 2. Một tập hợp các phương pháp được sử dụng trong một lĩnh vực hoạt động riêng biệt.” ở nước ta, “phương pháp luận” là một thuật ngữ ngoại nhập mới, cho nên nó cũng có hai nghĩa. Từ điển tiếng Việt định nghĩa “phương pháp luận” là: “1. Học thuyết về phương pháp nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội ngành khoa học đó.

    Ví dụ, cái “phương pháp phân tích” theo cách gọi của nhiều người và được coi là một phương pháp chung, khi áp dụng cho nghiên cứu văn học thì nó sẽ không thể được gọi là “phương pháp phân tích” chung chung, mà nó phải được áp dụng để phân tích một khía cạnh cụ thể của đối tượng, chẳng hạn như để phân tích cấu trúc tác phẩm, phân tích tâm lý nhân vật… Như vậy thì khi đó nó sẽ phải được gọi là “phương pháp phân tích cấu trúc” hay “phương pháp phân tích tâm lý”, và như thế cái “từ khoá” của hai phương pháp này phải là ” cấu trúc” và ” tâm lý ” chứ không phải là “phân tích”, đến nỗi người ta có thể quên cái vế chữ “phân tích” đó đi để chỉ nói một cách đơn giản là “phương pháp cấu trúc” và “phương pháp tâm lý”. Tương tự, những phương pháp chung khác như “phương pháp tổng hợp”, “phương pháp điều tra”… cũng phải chịu một số phận như vậy.

    Những điều nói trên cho thấy rằng, khi nghiên cứu về phương pháp của một lĩnh vực cụ thể thì ta phải gắn liền phương pháp với các đối tượng cụ thể của ngành khoa học đó. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các phương pháp cụ thể cũng không thể được tiến hành một cách biệt lập, tách rời khỏi phương pháp luận chung. Ở nước ta hiện nay, các công trình về phương pháp luận nghiên cứu khoa học mới chỉ quan tâm một phần đến khâu phương pháp luận chung, trong khi đó lại quá chú trọng đến các quy cách thực hiện công trình nghiên cứu mà chưa đề cập đến phương pháp luận chuyên ngành. Còn các bài viết về phương pháp luận chuyên ngành lại chưa làm rõ được mối quan hệ giữa nó với phương pháp luận chung, cũng như chưa làm rõ được mối quan hệ giữa phương pháp luận với phương pháp. Như vậy là tình hình nghiên cứu phương pháp luận ở nước ta vừa thừa lại vừa thiếu. Thừa vì có nhiều công trình chỉ quá chú trọng đến những lĩnh vực mà thực ra chúng có thể được gọi là phần phụ lục của phương pháp luận, ví dụ như lĩnh vực quy cách trình bày một công trình khoa học. Thiếu vì chúng chưa quan tâm thoả đáng đến các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và đến mối quan hệ giữa các phương pháp chung. Do đó ở đây, đối với lĩnh vực phương pháp luận nghiên cứu văn học, tôi sẽ tập trung sự quan tâm vào hai khâu: các nguyên tắc phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể. Theo tôi, đây là hai khâu vẫn chưa được bàn đến một cách thấu đáo và biện chứng. Nhưng trước khi rút ra các nguyên tắc phương pháp luận và tìm hiểu các nguyên tắc, tôi muốn chúng ta cùng xét xem các phương pháp luận có tính hệ thống hay không.

    CHÚ THÍCH:

    A. Bushmin, “Những vấn đề phương pháp luận của khoa nghiên cứu văn học”, tạp chí Khoa học xã hội (tiếng Nga), số 3, 1981, tr. 88-103 (bản dịch tiếng Việt của Viện Thông tin KHXH, 1982).

    ), tập I, Nxb. Giáo dục, H., 1985, tr. 26.

    G. Kosikov, ” ‘Phê bình mới’ của Pháp và đối tượng nghiên cứu văn học”, trong sách Lý thuyết, trường phái, quan niệm (tiếng Nga), Nxb. Khoa học, Moskva, 1977, tr. 37-65 (bản lược thuật tiếng Việt của Viện Thông tin KHXH, 1978).

    Trích theo Phương Lựu, như trên, tr. 650.

    Xem Ion Pascadi, Nivele estetice Ju. Barabash, “Nghệ thuật với tư cách là một đối tượng của sự nghiên cứu tổng hợp” (t. Nga, bản dịch t. Việt của Viện Thông tin KHXH, 1975).

    Ju. Borev, “Phê phán chủ nghĩa cấu trúc tư sản và địa vị khoa học của phương pháp cấu trúc” (tiếng Nga, bản lược thuật tiếng Việt của Viện Thông tin KHXH, 1978).

    A. Bushmin, “Những vấn đề phương pháp luận của khoa nghiên cứu văn học”, nguồn đã dẫn.

    Xem Nguyễn Văn Dân, “Để có một nền lý luận phê bình văn học chất lượng cao”, tạp chí Nhà văn, số 7 – 2001.

    Nguồn: Trích Nguyễn Văn Dân, Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb. KHXH, Hà Nội, 2012, (in lần thứ ba).Copyright © 2012-2014 – Phê bình văn học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiropractic Là Gì? Hiệu Quả Của Phương Pháp Này Ra Sao?
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Hướng Dẫn Thiết Kế Website Bằng Bootstrap Từ A
  • Hướng Dẫn Đăng Nhập 12Bet Chính Chủ 2022 Trong 1 Giây
  • 789Bet Là Gì ? Giới Thiệu Roulette (Rou Lắc) Trên Nhà Cái 789
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100