Top 18 # Phương Pháp Mohr Dung Ở Môi Trường Nào / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Môi Trường Là Gì? Những Biện Pháp Nào Giúp Bảo Vệ Môi Trường Hiệu Quả / 2023

Môi trường là không gian, nơi ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, cung cấp tài nguyên thiên nhiên phục vụ cuộc sống của con người. Chính vì sự quan trọng đó vấn đề sống còn của toàn nhân loại, nên cần có các biện pháp bảo vệ môi trường để duy trì sự sống của chúng ta.

Môi trường chính là không gian sống của con người và các loài sinh vật. Đây chính là nơi cung cấp những tài nguyên thiên nhiên như rừng, khoáng sản, động thực vật quý hiếm,… và những yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mặt thiết với nhau, phục vụ, ảnh hưởng tới đời sống, quá trình tồn tại và phát triển của cuộc sống của con người. Nhưng đây cũng chính là nơi chứa những chất thải mà con người tạo ra.

1. Phân loại môi trường 

Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, ít nhiều cũng sẽ chịu tác động của con người. Đây là nơi cung cấp cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, nơi giải trí…

Môi trường xã hội: đây là tổng thể các mối quan hệ của con người, đó là những cam kết, luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở cá cấp khác nhau. Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển.

Không chỉ có 2 môi trường trên, còn có môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm tiện nghi cho cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, công viên, khu vui chơi…

Từ khái niệm trên cho thấy, môi trường có vai trò cực kì quan trọng và mang tính sống còn với con người.

2. Vai trò của môi trường

Thứ nhất, môi trường cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên cần thiết như đất nước, rừng, khoáng sản, vệ sinh biển cho cuộc sống và cách hoạt động sản xuất.

Thứ hai, môi trường chứa đựng các chất thải và ô nhiễm từ các hoạt động sản xuất và sinh sống của con người.

Thứ ba, môi trường cung cấp các dịch vụ môi trường hay hệ sinh thái (đa dạng, toàn vẹn hệ sinh thái, và ngăn cản bức xạ tai cực tím) giúp hỗ trợ các sự sống trên Trái Đất mà không cần bất kỳ hành động của con người.

Thứ tư, môi trường là nơi tạo nên các giá trị tâm lý, thẩm mỹ và tinh thần của môi trường.

Biểu hiện của sự ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, sự sống của các loài sinh vật, làm giảm chất lượng môi trường.

Môi trường ô nhiễm điển hình như khi thiên nhiên, khí hậu ngày càng khắc nghiệt,nắng nóng nhiệt độ cao, mưa bão, lũ quét xuất hiện thất thường, suy giảm nguồn tài nguyên rừng, ô nhiễm môi trường xảy ra trên diện rộng, hàng loạt loài động vật bị tuyệt chủng hay đứng trước bờ vực tuyệt chủng, cháy rừng trên diện rộng… Đó là các vấn đề về môi trường mà chúng ta đã và đang phải đối mặt.

Con người đã ngày càng tác động quá nhiều đến môi trường, việc khai thác đến mức cạn kiệt các nguồn tài nguyên, thải nhiều chất độc làm cho môi trường không còn khả năng tự tái sinh. Biểu hiện dễ thấy nhất là các hậu quả như cháy rừng, biến đổi khí hậu, hiện tượng hiệu ứng nhà kính, băng tan, mưa axit,…

Môi trường sống ngày càng ô nhiễm, nếu chúng ta không có những biện pháp hành động tích cực sẽ đẩy tình trạng này càng nghiêm trọng hơn. Cần có cách bảo vệ môi trường thiết thực nhất.

Ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe con người, mất đa dạng sinh học, tầng ozon bị suy yếu, những ảnh hưởng đến quần thể sinh vật và môi trường của chúng, ảnh hưởng đến ngành du lịch, ảnh hưởng đến ngành kinh tế

Môi trường sống ngày càng ô nhiễm, nếu chúng ta không có những biện pháp hành động tích cực sẽ đẩy tình trạng này càng nghiêm trọng hơn. Cần có cách bảo vệ môi trường thiết thực nhất.

Vậy những biện pháp bảo vệ môi trường nào hiệu quả?

Để có các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường chúng ta cần thực hiện lâu dài, không phải ngày một ngày 2 mà cần thời gian dài. Các giải pháp bảo vệ môi trường có thể kể đến như:

1.Trồng nhiều cây xanh

Cây xanh chính là nguồn cung cấp oxi cho bầu khí không khí và là nguồn hấp thụ khí cacbon, giảm xói mòn đất và hệ sinh thái.

Vì thể nên trồng nhiều cây xanh xung quanh nhà để được hưởng những không khí trong lành do cây tạo ra nên giữ gìn không chặt phá bừa bãi.

2. Sử dụng các chất liệu từ thiên nhiên

Nếu tất cả chúng ta sử dụng năng lượng, vận chuyển các dịch vụ khác nhau cẩn thận hơn, chúng có thể giảm lượng khí thải độc hại cho không khí, đất và nước. Bằng các lập kế hoạch bảo vệ môi trường, chúng ta có thể tạo nên sự khác biệt và giúp môi trường xanh, sạch, đẹp hơn.

3. Sử dụng năng lượng sạch

Chúng ta nên và cần thay đổi thói quen về việc sử dụng các nguồn năng lượng có thể tái tạo. Bất cứ khi nào con người cũng có thể sử dụng các năng lượng từ gió, ánh nắng mặt trời…

Đó đều là các loại năng lượng sạch vì việc sản xuất và tiêu thụ chúng không làm phát sinh khí thải gây hiệu ứng nhà kính như sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch.

4.Tiết kiệm điện

5.Giảm sử dụng túi nilon

Túi nilon phải mất đến hàng trăm, hàng nghìn năm mới có thể bị phân hủy sinh học, nên chúng có thể tồn tại trong môi trường và gây hại cho loài người cũng như rất nhiều sinh vật sống trong nước, trong đại dương… Hàng ngày, hàng năm để sản xuất ra 100 triệu túi nhựa phải tiêu tốn 12 triệu barrel dầu hỏa. Vì vậy hãy sử dụng giấy hay các loại lá, giỏ tre, nứa… để gói sản phẩm thay vì sử dụng loại túi này.

6. Tiết kiệm giấy

Tiết kiệm giấy giúp bảo vệ môi trường như thế nào?

Hạn chế sử dụng giấy giúp cho tần suất chặt phá cây để sản xuất giấy sẽ giảm, từ đó giảm lượng khí thải CO2 để giúp bảo vệ rừng tự nhiên và hệ sinh thái rừng cung cấp. 

Giảm chất thải rắn ra ngoài môi trường, hãy tiết kiệm giấy bằng cách tái sử dụng khoảng 6 lần trước khi chôn lấp hoặc đốt bỏ chúng. Lúc này sẽ làm giảm thiểu nước thải, cải thiện chất lượng nước hiệu quả. 

7. Ưu tiên sản phẩm tái chế

Đây là một trong những cách phổ biến và được ưu tiên nhiều nhất để giúp bảo vệ môi trường hiện nay, với cách này ta có thể tận dụng chất thải nhựa để tạo ra những sản phẩm mới có ích trong cuộc sống. 

Việc ưu tiên sử dụng các sản phẩm tái chế sẽ làm sạch môi trường hiệu quả, tái sử dụng tài nguyên đồng thời tạo việc làm cho người lao động. 

8. Sử dụng các tiến bộ của khoa học

Môi trường sống ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe con người và sự phát triển của xã hội. Vì thế, sử dụng các tiến bộ của khoa học và công nghệ để bảo vệ môi trường là hoàn toàn cần thiết. 

Thủ tướng chính phủ Việt Nam đã phê duyệt hoạt động này là một trong năm nhóm công nghệ ưu tiên trong định hướng phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2020. Do vậy, ở nước ta đang từng bước quan tâm ứng dụng các giải pháp khoa học, công nghệ trong lĩnh vực môi trường để góp phần giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên.

9. Xử lý ô nhiễm trong nước thải trước khi xả ra môi trường

Cần có những biện pháp để xử lý ngay tình trạng ô nhiễm nguồn nước thải từ các khu đô thị lớn, khu công nghiệp tập trung, những nơi xả nước thải nhiều… để khắc phục được tình trạng ô nhiễm nguồn nước, góp phần lấy lại được sự trong sạch cho môi trường sống. 

10. Sử dụng năng lượng mặt trời và những nguồn năng lượng sạch

Trước thực trạng môi trường ngày càng ô nhiễm mà nguyên nhân chính từ việc sử dụng các nguồn năng lượng không thân thiện với môi trường, đó là lý do năng lượng sạch đang được quan tâm đầu tư hơn bao giờ hết. 

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 428/QĐ-TTg phê duyệt Đề án điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, với quan điểm phát triển năng lượng tái tạo là khâu đột phá để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường.

Nguồn: https://vietchem.com.vn/tin-tuc/bien-phap-bao-ve-moi-truong.html

Tags:

Tags: môi trường

Phương Pháp Và Hình Thức Giáo Dục Môi Trường / 2023

Việc giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) thường được tích hợp qua nội dung của một số môn học, trong đó có môn Địa lí. Do đó, để việc giáo dục có hiệu quả, không khiên cưỡng, GV cần căn cứ vào nội dung của các bài học cụ thể, lựa chọn một số ý trong bài viết này để giảng dạy cho phù hợp và không làm quá tải nội dung bài.

Mục đích của việc đưa GDBVMT vào trong nhà trường thông qua các môn học là nhằm giúp HS có được một số kiến thức phổ thông cơ bản về môi trường (MT); biết được hiện trạng về MT, nguyên nhân và hậu quả của hiện tượng suy giảm tài nguyên, suy thoái và ô nhiễm MT. Từ đó, hình thành ở HS có thái độ và hành vi ứng xử thân thiện, phù hợp với MT. Vì vậy, trong quá trình dạy học, GV cần quan tâm và sử dụng một số phương pháp dạy học có nhiều khả năng thực hiện được mục đích này. Đó là:

– Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan ( PP trực quan)

Trong dạy học Địa lí, việc sử dụng các phương tiện trực quan có một ý nghĩa lớn, bởi vì HS chỉ có thể quan sát được một số các vấn đề về MT trên thực tế, còn phần lớn các vấn đề MT ở Việt Nam và trên thế giới HS không có điều kiện quan sát trực tiếp, mà chỉ có thể nhận biết được trên cơ sở các phương tiện trực quan.

Phương tiện trực quan (PTTQ) trong dạy học Địa lí khá đa dạng, song các tranh ảnh; băng, đĩa hình có nội dung về MT giúp HS có thể dễ dàng nhận biết được những vấn đề của MT như hiện tượng ô nhiễm không khí, nguồn nước ; hiện tượng xói mòn, sạt lở đất…

Bản chất của PP sử dụng tranh ảnh, băng, đĩa hình là PP hướng dẫn HS quan sát, phân tích các hình ảnh để lĩnh hội kiến thức. Khi hướng dẫn HS quan sát, trước hết GV cần xác định mục đích, yêu cầu quan sát ; sau đó yêu cầu HS xác định xem bức tranh/ đoạn băng đó thể hiện hiện tượng gì, vấn đề gì và ở đâu, mô tả hiện tượng ; cuối cùng GV gợi ý HS nêu nguyên nhân và hậu quả của hiện tượng.

– Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của HS.

Bản chất của PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề là đặt ra trước HS các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tình huống có vấn đề, kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề.

Mấu chôt của PPDHGQVĐ là tạo ra các tình huống có vấn đề phù hợp với trình độ nhân thức của HS. Tình huống đặt ra nếu quá dễ hoặc quá khó đều không đưa lại sự ham muốn giải quyết vấn đề và vì thế nó không trở thành tình huống có vấn đề. Việc tạo tình huống có vấn đề kết thúc ở chỗ vấn đề được nêu lên dưới hình thức câu hỏi nêu vấn đề.

Ví dụ 1 tình huống có vấn đề : Việc khai thác than ở Quảng Ninh đã làm cho Vịnh Hạ Long bị ô nhiễm. Vậy có nên ngừng hoạt động khai thác than để bảo vệ môi trường cho Di sản thiên nhiên thế giới và phát triển du lịch ? Làm thế nào để vừa có thể phát triển công nghiệp khai thác than, vừa bảo vệ được vịnh Hạ Long khỏi bị ô nhiễm ?

– Phương pháp tham quan, điều tra, khảo sát thực địa

Phương pháp tham quan, điều tra, khảo sát thực địa không chỉ là PPDH đặc trưng của bộ môn Địa Lí, mà còn là phương pháp đạt hiệu quả cao trong GDBVMT. PP này không chỉ giúp HS kiểm nghiệm các kiến thức đã học trên lớp, mà còn phát triển kĩ năng quan sát và rèn luyện hành vi ứng xử phù hợp với MT.

Việc tham quan, khảo sát thực địa giúp HS cảm nhận được sự phong phú, đa dạng, vẻ đẹp của tự nhiên; đồng thời qua đó thấy được hiện trạng cũng như một số vấn đề của MT, nguyên nhân và hậu quả của sự suy giảm, suy thoái và ô nhiễm MT.

Phương pháp này có thể tiến hành dưới các hình thức:

+ Tổ chức cho HS đi tham quan, học tập ở các khu bảo tồn thiên nhiên, danh lam thắng cảnh….

+ Tổ chức cho các nhóm HS điều tra, khảo sát tình hình MT ở địa phương và viết báo cáo ( kết quả khảo sát, phương án cải thiện MT)

Việc tổ chức cho các nhóm HS điều tra, khảo sát có thể tiến hành giao cho HS thực hiện các dự án nhỏ, phù hợp với điều kiện của nhà trường và với trình độ của HS.

– Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch và thực hiện. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả thực hiện dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được

Ví dụ : Dự án ‘Tìm hiểu vấn đề môi trường ở địa phương’

Mỗi nhóm có thể chọn một trong những vấn đề tiêu biểu cho MT ở địa phương như : ô nhiễm nước, không khí ; suy giảm tài nguyên khoáng sản…

Bước 2 : Xây dựng đề cương

+ Hiện trạng môi trường ở địa phương

+ Nguyên nhân và hậu quả

+ Giải pháp khắc phục

Bước 3 : Xác định thời gian và phương pháp tiến hành

+ Thời gian thực hiện dự án : 1 tuần ( hoặc 2 tuần, 1 tháng…)

+ P hương pháp tiến hành : Khảo sát thực địa ; phân tích tài liệu địa lí địa phương, các báo cáo của cơ quan có thẩm quyền ; phỏng vấn người dân địa phương…

Bước 4 : Thực hiện dự án

+ Lựa chọn địa điểm khảo sát . Khảo sát thực tế, thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu khác nhau và phỏng vấn nhân dân về hiện trạng của MT, nguyên nhân, hậu quả và biện pháp giải quyết.

+ Xử lí thông tin và viết báo cáo

Bước 5 : Giới thiệu sản phẩm ( các bài viết, tranh ảnh , biểu đồ, bảng số liệu…)

Bước 6 : Đánh giá.

+ GV tổ chức cho HS tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau về kết quả làm việc của từng nhóm.

Mua bán piano Nhật

+ GV tổng kết, đánh giá về phương pháp tiến hành và kết quả làm việc của từng nhóm.

, Dạy Học mat xa, dạy massage body, Mi Katun

Nghị Luận Về Ô Nhiễm Môi Trường Ở Địa Phương Em / 2023

Nội dung khóa học

Nghị luận về ô nhiễm môi trường là một đề tài văn hay có ý nghĩa trong cuộc sống.

Dàn ý nghị luận về ô nhiễm môi trường

Đề số 1: Nghị luận về ô nhiễm môi trường ở địa phương em

Hàng ngày trên các phóng sự, bản tin đâu đâu cũng thấy nói những cụn từ như băng tan, Trái Đất nóng lên, mưa axit, biến đổi khí hậu toàn cầu hay lại thêm những vùng đất mới trở thành bãi rác công nghiệp. Tất cả đều là những hậu quả mà ô nhiễm môi trường gây nên.

Đã từ lâu những thông tin về ô nhễm môi trường được mọi người trong xã hội quan tâm và đăc biệt chú ý. Bởi mọi người đã ý thức được những tác hại mà nó gây ra. Và ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nóng hiện nay.

Tại sao tôi lại nói rằng ô hiễm môi trường là một vấn đề nóng. Bởi vấn đề ấy ngày càng trở nên trầm trọng và ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của con người cũng như các loài động thực vật sinh sống trên Trái Đất.

Nhiều người vẫn còn chưa hiểu rõ về ô nhiễm môi trường. Có người vẫn chỉ hiểu đơn thuần nó như một hiện tượng xấu nào đó ma không biết những tác nhân, hậu quả hay cụ thể hơn là những biểu hiện của nó.

Chính vì thế hôm nay tôi sẽ giúp họ hiểu hơn về những nội dung này. Trước tiên là khái niệm ô nhễm môi trường. Môi trường là khái niệm chỉ toàn bộ mọi thứ xung quanh con người, được hiểu như tất cả điều kiện tự nhiên và vật chất mà Trái Đất có được.

Nhưng thông thường về ô nhiễm môi trường, người ta chỉ chia ra thành ba loại chính đó là đất, nước và không khí. Ba thành phần này là những bộ phận cơ bản nhất ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người cũng như các loài động thực vật khác.

Thật vậy, chẳng ai hay bất kì sinh vậ nào có thể sống thiếu những thành tố trên. Đất là nơi sinh sống, là nơi trú ngụ của mọi sinh vật. Nước là sự sống.

Con người có thể không ăn nhưng không thể thiếu nước. Bạn cứ tưởng tượng một ngày bị “mất” nước cuộc sống của bạn sẽ rơi vào hoàn cảnh như thế nào?.

Hay không khí. Mất không khí bạn sẽ không thể thở. Chỉ cần ngừng thở hơn một phút, tim bạn sẽ ngừng hoạt động và bạn biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo rồi đó. Khi ba thành tố này bị ô nhiễm, bạn cũng có thể hiểu như chúng đang dần mất đi.

Sự tàn phá của ô nhiễm môi trường cũng không khác gì so với hậu quả của chiến tranh thế giới. Ô nhiễm môi trường cứ từng bước gây hại, một cách từ từ và lâu dài. Đầu tiên, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống của các sinh vật trên Trái Đất.

Sức khỏe con người, sự tồn tại và phát triển của các loài động thực vật khác. Tại sao nó ảnh hưởng thì tôi đã nói ở trên rồi. Vậy ảnh hưởng như thế nào?

Thì trước hết là về vấn đề sức khỏe con người. Ô nhiễm môi trường gây ra hiện tượng thủng tầng ozon mà ai cũng biết tầng ozon là lá chắn bảo vệ Trái Đất của chúng ta khỏi những tác nhân gây hại như tia cực tím, tia uv, các xung cường độ sóng có hại. Lá chắn này bị hủy hoại đã gây ra rất nhiều những vấn đề về môi trường.

Tia cực tím, tia uv.. là các tác nhân chính gây ra các bệnh khó chữa ở người mà điển hình là ung thư. Mặc dù nhiều căn bệnh hiện nay đã có phương pháp chữa trị tuy nhiên hiệu quả vẫn chưa được cao.

Sức khỏe con người bị đe dọa là vậy, các loài động thực vật khác cũng không tránh khỏi. Ô nhiễm môi trường với những đợt mưa axit ảnh hưởng trực tiếp đến thực vật, cháy rừng thiêu rụi biết bao đa dạng sinh học, làm mất đi nơi cư trú của biết bao loài động vật hoang dã.

Biến đổi khí hậu đột ngột dẫn đến sự tuyệt chủng của biết bao loài động vật quý hiếm. Nước biển dâng còn mang nguy cơ nhấn chìm nhiều nên văn minh nhân loại.

Đề 2: Nghị luận về ô nhiễm môi trường

Trong mỗi giờ lên lớp, cô giáo vẫn nhắc nhở với chúng em rằng môi trường đang bị ô nhiễm và cần sự chung ta giúp đỡ của mọi người.

Chúng em đang làm học sinh, chúng em sẽ làm những việc vừa sức mình để đóng góp sức nhỏ bảo vệ môi trường.

Mỗi ngày, chúng ta đi ra ngoài, nhìn thấy phố xá đông đúc, bụi mù mịt phủ lên những tán lá cây. Con người đang phải chịu đựng tiếng ồn, khói bẩn và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe.

Tình trạng mọi người xả rác bừa bãi ra ngoài đường đã làm mất cảnh quan đô thị cũng như khiến cho cuộc sống của người dân phức tạp hơn.

Môi trường xung quanh chúng ta đang ôi nhiễm quá trầm trọng, những con sông đang ngập ngụa nước, tình cảnh thiếu nước sạch, rác thải tràn lan khiến cho con người không thể phát triển được.

Mỗi bạn học sinh khi đang ngồi trên ghế nhà trường, hãy chung tay của mình bảo vệ môi trường bằng những hành động nhỏ nhặt đến hành động lớn lao hơn. Chỉ là một hành động vứt rác vào thùng rác theo quy định.

Không phải bạn học sinh nào cũng có ý thực bảo vệ môi trường như thế này. Nhiều bạn vẫn vứt rác bừa bãi ra đường, khiến cho mặt đường bẩn, mất cảnh quan. Ý thức cũng không được nâng cao.

Mỗi khi về nhà, rác rất nhiều, cần nên gom rác lại giúp mẹ, cho vào một túi lớn và chờ xe rác đến để xử lý.

Năm nay em đã sang lớp 4 rồi, ý thức bảo vệ môi trường cũng cần được quan tâm. Em giữ gìn vệ sinh trong lớp học, làm trực nhật thường xuyên, để rác đúng nơi quy định.

Lúc về nhà em có thể tự đi xe đạp để bảo vệ môi trường, tránh bụi bẩn.

Mỗi năm có dịp Tết trồng cây thì em sẽ tham gia với mọi người gieo mầm những cây xanh để lan tỏa bóng mát.

Đây là việc làm giúp cho môi trường thêm xanh sạch đẹp hơn mà nhiều người cần phải ý thức có được.

Môi trường của chúng ta được bảo vệ, luôn xanh sạch đẹp thì sức sống của mỗi người cũng được nâng cao lên rất nhiều. Bởi vậy bảo vệ môi trường chính là trách nhiệm của mỗi người.

Bài 3

Môi trường bao gồm những yếu tố tự nhiên như đất, nước, không khí, sinh vật,….mang lại nhiều lợi ích to lớn, đóng vai trò quan trọng trong sự sống của loài người. Tuy nhiên hiện nay, môi trường đang bị ô nhiễm một cách trầm trọng, nhận được sự quan tâm và lo lắng của nhiều quốc gia trên thế giới.

Vậy ô nhiễm môi trường là gì? Ô nhiễm môi trường là một tình trạng mà tất cả những yếu tố tự nhiên đã và đang bị nhiễm các chất cặn bẩn, chất độc hại, có hại với sức khỏe con người. Với môi trường đất đai, con người sử dụng những chất thuốc hóa học như thuốc trừ sâu, bảo vệ thực vật,….

Tuy diệt được các loài có hại nhưng những sinh vật có ích cũng bị nhiễm độc thuốc ảnh hưởng theo, làm đất bị thoái hóa trầm trọng, đặc biệt là Việt Nam tình trạng này còn trầm trọng hơn khi ngoài việc phun thuốc hóa học để chống sâu bệnh hại quá liều mà do tỉ lệ dân số nước ta khá cao so với diện tích đất khiến cho diện tích đất trồng đang bị thu hẹp lại.

Với môi trường nước, các nhà máy hoạt động thải chất bẩn ra các con sông mà không xử lý, gây nhiễm độc nước làm nhiều loài sinh vật biển chết hàng loạt. Trong đó phải kể đến sự việc cá chết hàng loạt vào năm 2016 nhà máy Formosa thả chất thải trực tiếp xuống sông khiến các vùng biển Vũng Áng, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế bị nhiễm độc nặng, ảnh hưởng đến công việc ngư dân và đời sống sinh hoạt cũng như sức khỏe của người dân.

Ngoài ra, việc phun thuốc hóa học không chỉ làm đất bị suy thoái, mà còn gây ô nhiễm nguồn nước khi phun thuốc trước hoặc sau các ngày mưa làm thuốc hóa học theo đất đổ ra các con sông, đồng thời khí độc trong thuốc bay hơi sẽ ảnh hưởng đến môi trường không khí. Môi trường không khí hiện nay cũng đang bị ô nhiễm rất lớn bởi khí thải của các phương tiện giao thông, các nhà máy chưa qua xử lý.

Đặc biệt tình trạng ô nhiễm không khí nặng nề phải kể đến thủ đô Bắc Kinh Trung Quốc khi người dân Trung Quốc gần như không thấy mặt trời, ra đường luôn phải đội mũ bảo hộ. Đây quả thực là một tình trạng hết sức nguy cấp và có dấu hiệu gia tăng khi khí hậu đang dần biến đổi, vùng Bắc cực có dấu hiệu băng tan.

Tình trạng ô nhiễm gây ra rất nhiều tác hại mà không chỉ sinh vật, con người sẽ là nạn nhân chịu ảnh hưởng trực tiếp. Với sức khỏe con người, ô nhiễm môi trường gián tiếp gây ra những căn bệnh nguy hiểm khi họ ăn phải hoặc uống, sử dụng phải nguồn nước nhiễm độc, sinh vật chết do nhiễm chì nặng gây ngộ độc thực phẩm, đặc biệt Việt Nam ta hiện nay đang là nước đứng thứ hai thế giới vì tỉ lệ người bị mắc bệnh ung thư.

Với tâm lý xã hội, hiện tượng này sẽ gây ra sự hoang mang, lo lắng cho người dân, làm tổn hại nền kinh tế khi họ phát bệnh nặng khi sử dụng những nguồn nước và thức phẩm không đảm bảo, khiến chi phí chữa bệnh vô cùng lớn, làm ảnh hưởng đến lương tháng, công việc của họ.

Vậy tại sao môi trường lại ô nhiễm đến như vậy? Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này trước hết về khách quan, nước ta chưa có sự đầu tư cao cho các công tác bảo vệ môi trường, chất thải sinh ra từ các khu sinh hoạt , khu công nghiệp nhà máy quá nhiều đến mức không xử lý được hết, những phần dư sẽ tích tụ và gây nên ô nhiễm, hay tại các phố đông người phân bố thùng rác không hợp lý, hiệu ứng nhà kính làm Trái Đất nóng lên làm quá trình ô nhiễm bị đẩy lên cao hơn.

Tuy nhiên, yếu tố khách quan là một phần nhưng yếu tố chủ quan lại là nguyên nhân chính dẫn đến sự ô nhiễm quá mức trầm trọng bởi nếu có ý thức bảo vệ môi trường, con người hoàn toàn có thể khắc phục được những nguyên nhân khách quan, nhưng hầu hết người dân chưa thực sự ý thức được về tác hại mà những tác động dù nhỏ nhất của họ vẫn có thể dẫn đến sự ô nhiễm, nhiều người vứt rác thải bừa bãi, không đúng nơi quy định, sử dụng nhiều túi nylon, rác thải nhựa như ống hút, cốc nhựa,…

Bởi các chất thải nhựa mất đến hơn một thế kỷ mới có thể phân hủy, việc sử dụng đồ nhựa cũng khiến người dân bị nhiễm độc nhựa hay lạm dụng các chất hóa học bởi chúng “tiện”, những nhà máy cũng vì cái “tiện” mà không qua xử lý thải chất độc hại ra môi trường

Có biện pháp nào hạn chế được tác hại mà ô nhiễm môi trường gây ra hay không? Câu trả lời là có, nước ta nên có thêm những chính sách đầu tư cho các chiến dịch, công tác bảo vệ môi trường, địa phương tại các nơi thường tụ tập hoặc có đông người đi lại nên phân bổ thùng rác hiệu quả và thường xuyên vệ sinh chúng hay tạo ra ngày môi trường, vận động người dân đi xe đạp, xe điện.

Ngoài ra, bạn có thể tuyên truyền cho người dân biết về tác hại môi trường ảnh hượng thế nào đến lợi ích của họ và gia đình, nâng cao ý thức hạn chế sử dụng đồ nhựa, sử dụng các chất hóa học, các nhà máy nên đầu tư mua các trang thiết bị lọc chất thải tối tân, hiện đại để bảo vệ môi trường.

Tuy vậy, để thực hiện được những giải pháp trên cần một quá trình lâu dài và cần sự nhận thức của tất cả mọi người rằng nên vì lợi ích chung sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân, không nên vì cái lợi trước mắt mà ảnh hưởng đến cuộc sông của những người khác những sinh vật đã và đang bị đe dọa bởi ô nhiễm môi trường.

Như vậy, ô nhiễm môi trường quả là một tình trạng đáng lo ngại, là hiểm họa đối với cuộc sống sức khỏe con người nói chung và hành tinh Trái Đất nói riêng.

Là học sinh, mỗi chúng ta nên là những người biết sống xanh, biết bỏ rác đúng nơi quy định, chúng ta phải thật sự thay đổi thì người khác mới có thể thay đổi, tự trau dồi những kiến thức về môi trường để tuyên truyền và vận động những người xung quanh chúng ta.

Bài 4

Thế kỷ 21 không chỉ được coi là thế kỷ của công nghệ thông tin mà đây còn là thế kỷ của những nguy cơ ô nhiễm môi trường đang ngày càng tăng cao, đe dọa vô cùng trầm trọng đến đời sống xã hội nếu không khắc phục kịp thời .

Ô nhiễm môi trường đã và đang là nhận được sự quan tâm hàng đầu trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.

Trước hết, môi trường là toàn bộ những gì có trong tự nhiên, không do con người tạo ra, mà được hình thành qua nhiều những biến đổi diễn ra từ hàng triệu năm trên Trái Đất như đất, nước, không khí, sinh vật.

Ô nhiễm môi trường tức là các yếu tố tự nhiên không còn giữ được độ sạch và trong hay số lượng như ban đầu do các tác động xấu bên ngoài từ khách quan cho đến chủ quan. Hiện nay, ở Việt Nam, ô nhiễm môi trường đang ở mức báo động . Trong nông nghiệp, con người phun các loại thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật làm từ các chất hóa học hay tắm cho gia súc gia cầm ở gần những sông, hồ thường cung cấp nước cho sinh hoạt.

Trong công nghiệp, các nhà máy khí thải xả chất thải ra ngoài môi trường không qua xử lý ra các con sông hoặc xả trực tiếp vào không khí. Các doanh nghiệp xây dựng xí nghiệp hay xây dựng nhà ở đang chiếm phần lớn diện tích đất trồng trọt, canh tác hay các sự cố tràn dầu trên biển.

Trong sinh hoạt xã hội, hầu hết người dân có thói quen vứt rác ra vỉa hè, ra đường phố hay vứt rác qua nhà hàng xóm, ra các con sông gần nhà.

Những sự việc đó gây ảnh hưởng thế nào đến môi trường cũng như xã hội? Xét về vấn đề môi trường, môi trường đất đang dần bị thoái hóa vì không được canh tác, cung cấp các chất hữu cơ tốt cho đất.

Trong đó việc con người sử dụng các chất hóa học để chăm sóc cây trồng không mang lại bất cứ lợi ích gì cho môi trường bởi chúng chứa những hoạt chất nguy hiểm nếu tiếp xúc lâu ngày với đất sẽ khiến đất bị suy thoái dần, năng suất cây trồng không cao, đặc biệt vào những ngày mưa hoạt chất còn sót lại trong đất theo nước mưa hòa vào những con sông, ao hồ làm nước sông bị nhiễm độc, nếu hoạt chất bay hơi trong không khí thì độ phân tán và số người hít phải chất có hại tăng cao.

Với môi trường nước, nước trong các con sông, biển, ao hồ bị hòa lẫn nhiều cặn bẩn, bị đổi màu, nhiễm các chất độc, nếu sử dụng nước này để tưới cho cây trồng có thể dẫn đến tình trạng thực phẩm bẩn, người ta dự đoán nếu tình trạng này vẫn còn kéo dài thì chỉ vài thập kỷ thế giới sẽ thực sự mất đi toàn bộ nước sạch.

Với môi trường không khí, không khí chứa nhiều lượng khí độc gây ra nguy cơ làm tầng ozon bị thủng, Trái Đất không còn lớp bảo vệ trước bức xạ Mặt Trời. Với môi trường sinh vật, hiện nay có nhiều loài động thực vật đã và đang có nguy cơ tuyệt chủng bởi nguồn cung cấp dinh dưỡng của chúng đang mất dần đi hoặc nhiễm các dịch bệnh hoặc tạp chất qua thức ăn với động vật. Vậy con người bị ảnh hưởng như nào?

Con người đang phải đối mặt với nhiều dịch bệnh nguy hiểm, nan y như bệnh ung thư trong đó Việt Nam ta được ghi nhận là nước đứng thứ hai về số lượng người mắc bệnh này khi thực phẩm không đảm bảo, nguồn nước không đảm bảo, không khí đang dần có sự xáo trộn khi lượng O2 đang bị giảm xuống do không đủ cây xanh để quang hợp cung cấp khí O2.

Trong đó, khi mắc các bệnh khó chữa, người dân phải trả khoản tiền lớn để chạy chữa làm tổn hại kinh tế.

Nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường được xét trên hai phương diện: khách quan và chủ quan. Về nguyên nhân khách quan, nước ta chưa có nhiều chính sách, đầu tư cao cho các công tác bảo vệ môi trường hay do dân số Việt Nam đông nên lượng chất thải xả ra quá tải khiến các khu xử lý không kịp giải quyết.

Về chủ quan, ô nhiễm môi trường sinh ra từ việc thiếu ý thức, thói quen xấu của người dân, vứt rác không đúng nơi quy định hay họ chưa thực sự nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, đôi khi người dân thường lấy chữ “tiện” biện hộ cho hành vi của bản thân khi sử dụng nhiều túi nylon, các đồ dùng làm từ nhựa, hoặc đồ dùng một lần làm bằng thủy tinh bởi nếu như nhựa mất hơn một thế kỷ mới có thể phân hủy thì quá trình đó với thủy tinh sẽ mất gần 400 năm. Các nhà máy xí nghiệp chưa có nhiều biện pháp trong việc xử lý chất thải.

Giải pháp cho những vấn đề trên không quá khó nhưng đòi hỏi một quá trình dài để thay đổi nhận thức của toàn bộ người dân đất Việt. Nước ta nên đầu tư vào các công tác bảo vệ môi trường hiệu quả, các trang bị máy móc xử lý chất thải với năng suất cao.

Với người dân, tuyên truyền, vận động cung cấp cho mọi người những kiến thức về vai trò của môi trường, hạn chế đi các phương tiện giao thông sử dụng xăng dầu nếu không thực sự cần thiết, đi các loại xe đạp, xe điện để bảo vệ môi trường vận động cung cấp cho mọi người những kiến thức về vai trò của môi trường, hạn chế đi các phương tiện giao thông sử dụng xăng dầu nếu không thực sự cần thiết, đi các loại xe đạp, xe điện để bảo vệ môi trường.

Những hành động nhỏ ấy nhưng lại góp phần bảo vệ sự sống còn của những loài sinh vật đang có nguy cơ tuyệt chủng, cứu chúng khỏi sự đau đớn, tuyệt vọng bởi những căn bệnh do ô nhiễm môi trường gây nên.

Vì thế hành động vì bảo vệ môi trường không bao giờ là vô nghĩa mà vô cùng thiết thực. Chúng ta hãy chung tay bảo vệ môi trường cũng chính là bảo vệ cuộc sông và sức khỏe bản thân và gia đình. Là học sinh, ta nên không ngừng các kiến thức về môi trường để tuyên truyên truyền bảo vệ môi trường cho những người xung quanh ta.

Qua các bài viết trên có thể bạn sẽ dễ dàng nhận thấy được vai trò của môi trường cũng như cái cách mà chúng ta hoàn toàn có thể bảo vệ môi trường trước những sự thay đổi đáng kể của thế giới quan.

Ô Nhiễm Môi Trường Ở Hà Nội: Thực Trạng Và Giải Pháp / 2023

Ô nhiễm môi trường ở Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

1. Thực trạng ô nhiễm môi trường ở Hà Nội

1.1. Ô nhiễm môi trường nước

Hà Nội có lượng nước thải sinh hoạt rất lớn và rất ô nhiễm. Tổng lượng nước thải hàng ngày của thành phố Hà Nội vào khoảng 320.000m3 trong đó có tới 1/3 là nước thải CN. Môi trường nước tiếp nhận lượng nước này là các hồ, kênh, mương và sông. Hầu hết các cơ sở CN đều xả trực tiếp nước thải vào các sông thoát nước chính là Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ, Sét và các mương, hồ của thành phố. Đã có nhiều tài liệu cho thấy, nước thải CN của Hà Nội có chứa các chất lơ lửng, các hợp chất chứa P, N, chỉ số BOD5 (nhu cầu ôxy sinh hóa các chất hữu cơ), COD (nhu cầu ôxy hóa học chất hữu cơ), kim loại nặng đều rất cao. Hầu hết các sông hồ của Hà Nội đều bị ô nhiễm cả về cơ học, hóa học và sinh hoạt, có sự phân hủy yếm khí tạo ra khí độc như H2S, NH4. Hàm lượng NO2, NO3 đều cao, BOD5 quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP) tới 3 lần. Thậm chí, hàm lượng coliform của một số hồ gần khu vực dân cư vượt TCCP tới 100-200 lần, vào mùa khô vượt tới… 700 lần2.

100% nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất tại khu vực nông thôn, ở các làng nghề và gần 100% nước thải sinh hoạt đô thị chưa qua xử lý đang xả thẳng ra sông, hồ, ao, mương.

Bảng 1: Diện tích cây xanh/đầu người ở Hà Nội và một số thành phố trên thế giới

TT

Thành phố

Diện tích cây xanh (m2/người)

So sánh (% so với Hà Nội)

1

2

3

4

5

6

7

Hà Nội (Việt Nam)

Paris (Pháp)

Moskva (Nga)

Washington (Hoa Kỳ)

Nam Kinh (Trung Quốc)

Quế Lâm (Trung Quốc)

Hàng Châu (Trung Quốc)

4,6

10,0

26,0

40,0

22,0

11,0

7,3

100,0

217,4

565,2

869,5

473,9

239,1

158,7

Đa số các khu, cụm, điểm sản xuất công nghiệp (SXCN) chưa có hoặc có các trạm xử lý nước thải tập trung nhưng hoạt động không hiệu quả hoặc không hoạt động.

Kết quả phân tích các mẫu nước trong thời gian qua đều vượt quá TCCP, nhiều nơi cao từ 20 đến 30 lần3. Nguy hại hơn, mức ô nhiễm đang tăng dần theo thời gian, xã Yên Sở trong năm 2002 kết quả đo đạc cho thấy hàm lượng amoni là 37,2 mg/l năm 2003 đã tăng lên 45,2 mg/l, phường Bách Khoa mức nhiễm từ 9,4 mg/l, nay tăng lên 14,7 mg/l. Có nơi chưa từng bị nhiễm amoni song nay cũng đã vượt TCCP như Long Biên, Tây Mỗ, Đông Ngạc… Hiện bản đồ nguồn nước nhiễm bẩn đã lan rộng ở phạm vi toàn thành phố.

Tầng nước ngầm dưới (cách mặt đất từ 45 m đến 60m) là nguồn cung cấp cho các nhà máy cũng bị nhiễm bẩn. Hiện các nhà máy nước Hạ Đình, Tương Mai, Pháp Vân, Linh Đàm đã bị nhiễm amoni và có hàm lượng sắt cao, 1,2-19,5 mg/l. Nước từ các nhà máy đang đứng trước nguy cơ nhiễm bẩn bởi vẫn chưa có hạng mục xử lý amoni4.

Theo Đài tiếng nói Việt Nam (VOV), mức ô nhiễm asen trong nguồn nước ở Hà Nội đã lên tới 40 lần so với TCCP. Ô nhiễm amôni (NH4+) cũng vượt mức cho phép 20-30 lần5.

Chất bẩn trong nước thải cao, nguồn nước sạch có biểu hiện suy thoái6. Theo thống kê chưa đầy đủ, có khoảng 290 giếng khoan của cơ quan, xí nghiệp và khoảng 100.000 lỗ khoan nhỏ của hộ dân khai thác thường xuyên. Gần 70% mẫu nước tầng trên và gần 50% mẫu nước tầng dưới ở Hà Nội có nồng độ asen cao hơn mức cho phép hàng chục lần.

1.2. Ô nhiễm bầu không khí

Kết quả quan trắc môi trường không khí tại các khu, cụm công nghiệp cho thấy nồng độ bụi lơ lửng tại hầu hết khu vực này đều có xu hướng tăng dần và vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 2,5-4,5 lần. Nơi có nồng độ bụi tăng mạnh nhất là ở khu vực Văn Điển, Pháp Vân và Mai Động.

Số liệu từ Viện Y học Lao động và vệ sinh môi trường cho thấy, vào những giờ cao điểm, Hà Nội có nồng độ bụi cao gấp 4 lần TCCP, CO cao gấp 2,5-4,4 lần, hơi xăng từ 12,1-2.000 lần. Trẻ ở lứa tuổi học đường sống quanh các nút giao thông bị ảnh hưởng tới sức khỏe rõ rệt: mắt, mũi, họng, da và thần kinh thực vật bị kích thích, tỷ lệ mắc bệnh lý đường hô hấp cao hơn hẳn so với nhóm đối chứng. Một cuộc khảo sát ý kiến 1.500 người dân Hà Nội cho thấy, có tới hơn 66% nhận định rằng môi trường không khí ở Hà Nội bị ô nhiễm nặng và khá nặng, 32% cho là “ô nhiễm nhẹ”, chỉ 2% cho rằng họ vẫn được “tận hưởng không khí trong lành”.

Theo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường, tình trạng ô nhiễm môi trường không khí do bụi hiện nay trên địa bàn thành phố đang ở mức “báo động đỏ” bởi nồng độ bụi lơ lửng ở các quận nội thành đều vượt quá TCCP từ 2-3 lần. Đường Nguyễn Trãi có hàm lượng bụi lơ lửng vượt TCCP tới 11 lần, đường Nguyễn Văn Linh vượt TCCP tới 10,8 lần,… Kết quả quan trắc năm 2008 có tới 6/34 ngã tư nồng độ khí CO trung bình vượt TCCP từ 1,03-1,55 lần; có 3/34 ngã tư có nồng độ SO2 vượt TCCP từ 1,02-2 lần; có 32/34 ngã tư có nồng độ C6H6 vượt TCCP từ 1,1-3 lần…7. Tại các quận Hai Bà Trưng, Đống Đa, khí thải đã vượt quá TCCP: Khí CO2 vượt 3-5 lần, SO2 vượt 3-10 lần, bụi vượt 2-6 lần. Tại một số cụm công nghiệp như Vĩnh Tuy, Mai Động, Thượng Đình, không khí bị ô nhiễm chủ yếu là do bụi và các khí độc hại như SO2, CO, NO2.

1.3. Ô nhiễm môi trường từ chất thải rắn

Trung bình tổng lượng chất thải rắn ở thành phố Hà Nội khoảng 5.000 tấn/ngày, trong đó có khoảng 3.500 tấn chất thải sinh hoạt ở đô thị và 1.500 tấn ở nông thôn. Hà Nội đang phải gánh chịu nguy cơ ô nhiễm môi trường do sự gia tăng đột biến về khối lượng và thành phần các loại chất thải rắn8.

Tài liệu khác đánh giá tai các khu công nghiệp (KCN) của Hà Nội việc ô nhiễm môi trường đã đến mức báo động. Hà Nội đang trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, so với các nước trong khu vực thì mức độ công nghiệp hóa còn thấp nhưng tình trạng ô nhiễm lại khá cao. Hàng ngày Hà Nội thải ra khoảng 9.100 m3 chất thải rắn, trong đó khoảng 80% là rác thải sinh hoạt, 20% là rác CN. Mặc dù rác thải của Hà Nội không chứa các kim loại nặng và chất phóng xạ nhưng chất thải rắn lại là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm nước và không khí. Đặc biệt chất thải CN và chất thải bệnh viện là rất nguy hiểm nhưng cũng chỉ được chôn dưới đất mà không qua công đoạn xử lý nào gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước và không khí. Một số lượng rác thải không nhỏ còn bị đổ xuống các sông, kênh mương, hồ ao gây ô nhiễm nghiêm trọng. Theo thống kê thì sự ô nhiễm môi trường nặng nhất là khu Thượng Đình sau đó là các khu Mai Động, Văn Điển, Sài Đồng,…9

Có tài liệu đánh giá chất thải CN khoảng 750 tấn/ngày, mới thu gom được 90%, chất thải nguy hại khoảng 97-112 tấn/ngày (chiếm 13-14%) trong khi đó mới chỉ thu gom 58-78,4 tấn/ngày (chiếm 60-70%). Đặc biệt, rác thải kim loại từ ngành CN sản xuất điện tử được đánh giá là có nhiều chất có độc tính cao. Ngoài các thành phần hữu cơ poly-me, các kim loại nặng, kim loại bán dẫn còn có các chất As, Se, Sb,Hg…

Dù không thống nhất về số liệu song các tài liệu đều cho thấy ô nhiễm môi trường Hà Nội đã đến mức báo động đỏ! Chúng ta chưa có tài liệu nào đánh giá xem cần bao nhiêu tiền để làm sạch lại môi trường Hà Nội. Tuy nhiên, chắc chắn con số đó là không nhỏ, sẽ là nhiều chục nghìn tỉ đồng.

2. Nguyên nhân làm môi trường Hà Nội ô nhiễm

Thứ nhất, tình trạng vi phạm pháp luật về môi trường của các DN, KCN mang tính phổ biến. Vì sao lại như vậy? Đó đơn giản là vì triết lý thu “lợi nhuận” bằng mọi cách, kể cả vi phạm pháp luật, có lẽ đã được nhiều cơ sở CN lợi dụng triệt để trong khi pháp luật không đủ sức trừng trị kẻ vi phạm:

– Khi đưa cơ sở sản xuất vào hoạt động, họ muốn và họ có cửa “lách luật”  để cơ sở sản xuất của họ có thể hoạt động mà không cần xử lý rác thải, khí thải, nước thải, tiếng ồn… đúng tiêu chuẩn hoặc thậm chí không cần có các thiết bị đó: “Hiện nay, nhiều cụm, điểm CN, DN thuộc diện phải có trạm xử lý nước thải nhưng một số không có ngay từ khi quy hoạch, thiết kế. Một số khác có quy hoạch, thiết kế thì lại chưa đầu tư như KCN Quang Minh, Ngọc Hồi. Hầu hết các KCN tập trung đã hoạt động từ lâu nhưng chưa đầu tư các khu xử lý nước thải theo quy hoạch, hay việc diện tích dành cho mục đích này trong một số khu đã cho DN… thuê để làm nhà xưởng (KCN Nam Thăng Long, Hà Nội-Đài Tư…)10.

Thứ hai, quy trình cấp phép hoạt động cho các DN, các KCN có vấn đề:

Mộ trong những câu hỏi lớn được đặt ra là tại sao các KCN, các DN chưa đảm bảo các tiêu chuẩn cần thiết về đảm bảo môi trường như xử lý nước thải, khí thải, chất thải… lại được hoạt động? Và liệu còn có nước nào có cách xử lý theo kiểu mặc dù có đưa ra các tiêu chuẩn về môi trường và xử lý môi trường nhưng các DN, KCN không đủ tiêu chuẩn vẫn được hoạt động như chúng ta đang làm? Có hai trường hợp xảy ra:

– Nếu các DN, các KCN đảm bảo đủ điều kiện vệ sinh môi trường mới được cấp phép hoạt động thì chỉ các DN đủ điều kiện mới được hoạt động. Tất nhiên, nếu làm như thế này thì môi trường nước ta nói chung và môi trường Hà Nội nói riêng đã không bị ô nhiễm nặng nề như ngày nay. Tuy nhiên, sẽ có người biện minh rằng DN hiện nay ít vốn nên nếu quy định như thế họ không có tiền làm. Thử hỏi, liệu Vedan hay Tổng Công ty Cổ phần Bia Rượu nước giải khát Hà Nội (HABECO) – hai trong số những đơn vị có hành vi vi phạm môi trường do xả nước thải vượt TCCP – có ít vốn? Và đáng tiếc là chưa bao giờ người ta có ý định tính toán cụ thể xem cần bao nhiêu tiền để làm sạch lại được môi trường như nó đã từng có ở thập niên 70 và liệu số tiền đó có nhỏ hơn số lợi nhuận mà sự phát triển CN trong mấy thập kỷ mang lại.

– Trường hợp ngược lại, nếu cấp phép hoạt động ngay khi chưa biết cơ sở sản xuất có đủ điều kiện về vệ sinh môi trường hay không trong điều kiện luật pháp không đủ sức trừng trị như phân tích ở trên tất sẽ dẫn đến, càng ngày, càng có nhiều DN ngang nhiên không xử lý môi trường mà vẫn hoạt động được. Vì nếu bị phát hiện (thường là do nhân dân xung quanh không chịu nổi nên tố cáo) không đảm bảo các tiêu chuẩn môi trường cần thiết, cơ sở sản xuất mới có thể bị kiểm tra và sau một hồi dài nghiên cứu, thống nhất kết luận (vì trong nhiều trường hợp kết luận của các cơ quan đo đạc, kiểm tra lại không giống nhau) thì có thể họ bị phạt…Nhưng nếu có bị phạt thì mức phạt lại không thấm vào đâu so với số tiền họ bỏ ra để xây dựng, lắp đặt các thiết bị bảo vệ môi trường. Khi mức bị phạt thấp hơn, thậm chí thấp hơn nhiều lần so với số đáng ra “phải bỏ ra” thì việc vi phạm là chuyện đương nhiên.

Thứ ba, chồng chéo trong quản lý và chịu trách nhiệm:

Một hiện trạng trong quản lý nhà nước cứ dai dẳng tồn tại là chồng chéo và chịu trách nhiệm tập thể:nhiều cơ quan, nhiều người cùng chịu trách nhiệm về một công việc. Là người dân bình thường, nhiều người cứ tự hỏi: tại sao cơ quan môi trường lại không phải chịu trách nhiệm về môi trường mà phải nhiều cơ quan “cùng” chịu trách nhiệm về môi trường? Là người có tư duy cao hơn, họ tự hỏi liệu “cùng” chịu trách nhiệm dựa trên cơ sở lý thuyết nào, mô hình nào?

Có một nghịch lý là khi xác định đảm nhiệm một công việc nào đó, cơ quan nào cũng vơ vào mình. Vì sao vậy? Vì nếu giao cho họ, họ sẽ nhận được “quyền”: quyền chi phối, quyền nhận kinh phí… và khi công việc không được như ý muốn, họ lại có quyền “đổi lỗi” cho xung quanh, cho “nhiều nơi cùng chịu trách nhiệm”. Ông Vũ Văn Hậu – Giám đốc sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã lấy một ví dụ: Khi phát hiện nước ô nhiễm ở một đoạn sông nào đó, không ai nghĩ đó là trách nhiệm của mình; phường tưởng quận, quận tưởng thành phố…

Thử hỏi, nếu Hà Nội tổ chức đánh giá về tình trạng môi trường ngày nay và kiểm tra trách nhiệm thì sở nào, cơ quan nào chịu trách nhiệm? Chắc chắn có ngay câu trả lời: không sở nào, mà cũng chẳng có cơ quan nào phải chịu trách nhiệm, kể cả sở có đúng tên gọi. Và còn nguy hại hơn, ai ngồi trong hội nghị cũng cho rằng kết luận như thế là hợp lý; không ai và cũng chẳng có cơ quan nào nghĩ rằng lỗi tại mình hoặc chí ít là mình có lỗi. Họ đổ lỗi tại dân đông nhưng phớt lờ thực tế nhiều thành phố trên thế giới còn đông dân hơn Hà Nội nhiều; họ lại bảo tại dân trí thấp mà quên rằng dân trí cách đây 60 năm – Hà Nội thời Pháp thuộc – chắc chắn thấp hơn ngày nay nhiều… Người khác lại đổ tại CN phát triển nhanh; thử hỏi, liệu tỷ trọng CN của Hà Nội đang ở mức độ nào của thế giới? Liệu do dân đông, CN phát triển nhanh hay do trình độ yếu kém, cách thức quản lý không hiệu quả mà hầu như không ai phải chịu trách nhiệm?

Nếu làm không tốt mà luôn cố gắng đánh giá không đúng thực tế “cái không tốt”, như trường hợp nói quen miệng Hà Nội “xanh, sạch, đẹp”; lại không xác định đúng nguyên nhân, không quy đúng trách nhiệm; kết luận theo hướng ai cũng chịu trách nhiệm, ai cũng đổ lỗi cho kẻ khác, cho “khách quan” tất yếu dẫn đến hậu quả là:

– Một cơ quan bất kỳ không nhất thiết phải làm tròn bổn phận của họ. Quyền hạn được trao và “phải chịu trách nhiệm” về hậu quả gây ra là 2 phạm trù có quan hệ biện chứng: nếu cơ quan được trao quyền và người đứng đầu phải chịu trách nhiệm tương xứng quyền được trao thì người đó ắt phải rất cẩn thận khi điều hành hoạt động; nếu tình hình ngược lại, người đứng đầu cơ quan sẽ lạm quyền, lơ là từ khâu tuyển người, sử dụng người và tổ chức công việc của cơ quan…

– Thời gian càng trôi đi mà hiện tượng trên không được khắc phục, lại được chấp nhận như là “đương nhiên” thì mức độ ô nhiễm môi trường sẽ ngày càng  nguy hại hơn.

3. Giải pháp và kiến nghị giảm ô nhiễm môi trường Hà Nội

3.1. Phải bắt đầu từ đảm bảo tính khách quan trong các đánh giá thực trạng

Cần chấm dứt cách đánh giá kiểu xoa dịu, đại loại như: “công tác này đã ngày càng được chú trọng” hay “Hà Nội cũng đã làm được nhiều việc; tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn ngày càng xấu đi và việc xử lý vẫn còn nhiều bất cập”,… Cần nhấn mạnh rằng, nếu các cơ quan có trách nhiệm đã chú trọng thật, nếu họ đã làm được nhiều việc thật… thì môi trường nhiều việc thật,… thì môi trường Hà Nội đã không xuống dốc không phanh như những năm qua. Chắc chắn các cơ quan có trách nhiệm đã làm đại khái, qua loa, không đến nơi, đến chốn. Việc chỉ ra thực trạng thì cho đến nay các nhà khoa học cũng đã làm được ở mức độ nhất định (đã chỉ ra được nhưng chưa phân tích sâu sắc) song việc truy tìm nguyên nhân thì chưa khoa học. Nếu tìm không đúng nguyên nhân, chắc chắn không có giải pháp đúng.

Việc đánh giá thực trạng môi trường và tìm nguyên nhân ô nhiễm môi trường của các cơ quan chức năng còn nhiều vấn đề. Muốn khắc phục nó phải có giải pháp về mặt luật pháp chấm dứt tình trạng làm báo cáo và đưa ra trình bày trước các hội nghị tùy tiện theo kiểu: “đã có nhiều thành tự… mặc dù đã có nhiều cố gắng song vẫn còn những thiếu sót”… còn cho phép (ở mọi góc độ: chế tài của pháp luật, giám sát của người dân, xử lý của người có trách nhiệm…) duy trì cách báo cáo này, còn không truy tìm được tận gốc rễ nguyên nhân để xử lý vấn đề.

Cần lưu ý, đánh giá tùy tiện thực trạng khách quan không chỉ là “bệnh thành tích” mà là một kiểu trốn tránh trách nhiệm của nơi phải chịu trách nhiệm. Càng duy trì cách làm này bao nhiêu, càng tạo thói quen tư duy không khoa học bấy nhiêu. Khi đã thành nếp thì ngay việc thay đổi tư duy này ở phạm vi xã hội cũng vô cùng khó khăn và mất rất nhiều năm chứ chưa nói đến việc làm sao để làm cho tốt.

Cần dành kinh phí thích đáng để nghiên cứu và đánh giá chính xác:

– Môi trường nước, không khí Hà Nội đã ô nhiễm đến mức độ nào so với một năm mốc đã có trong thời kỳ chưa phát triển mạnh công nghiệp hoặc so với tiêu chuẩn.

– Mức độ ô nhiễm đó tác động như thế nào đến sức khỏe người dân.

– Cần làm gì và chi ra bao nhiêu tiền để có thể làm “sống lại” môi trường Hà Nội tương đương mức ở năm mốc đưa ra nghiên cứu.

3.2. Thay đổi nhận thức về phát triển: không chỉ đòi hỏi phát triển mà cần và chỉ cần phát triển bền vững

Phát triển bền vững là phạm trù đã xuất hiện từ lâu ở các nước phát triển. Theo đuổi mục tiêu này, các nước phát triển đã tạo ra được môi trường khá thân thiện với con người mặc dù ở các quốc gia đó, CN đã rất phát triển.

Ở  nước ta, các giáo trình, xuất bản phẩm đã nhắc đến cụm từ phát triển bền vững, song, đáng tiếc là tư duy này mới chỉ có trong sách vở, trong nhận thức của các sinh viên sắp phải trả bài chứ chưa lan truyền đến các nhà quản lý xã hội, các nhà quản trị kinh doanh cũng như trong đời sống xã hội.

Nhận thức này trước hết cần có ở các nhà quản lý xã hội, những người mà tiếng nói của họ có trọng lượng trong quy hoạch, trong cấp phép kinh doanh và cấp phép cho DN được triển khai hoạt động. Nhận thức này không thể thiếu ở các nhà chuyên môn.

Vì thế, rất cần tổ chức đào tạo lại, bồi dưỡng kiến thức và phải có các cuộc sát hạch, thi cử để loại những người không đủ tiêu chuẩn này ra khỏi bộ máy công quyền.

Thiết nghĩ, nếu đó thực sự là những bài học cho các nhà quản lý xã hội, các cán bộ công quyền qui hoạch, cấp phép kinh doanh… thì từ nay người dân mới có thể có cơ hội sống trong môi trường đỡ ô nhiễm hơn môi trường họ đang phải gánh chịu. Nguyên tắc ứng xử rất đơn giản: đừng vì đồng tiền “còm cõi” trước mắt mà phá đi môi trường “đã đến mức báo động đỏ” của chính chúng ta và con cháu mai sau!

3.3. Hoàn thiện luật pháp

Nếu không có luật pháp thì nhận thức mãi mãi vẫn chỉ là nhận thức. Như phân tích ở trên, để giảm thiểu “sự tham tiền” dẫn đến các hành vi hủy hoại môi trường cần một nền tảng luật pháp: đủ, rõ ràng và trừng trị thích đáng các hành vi vi phạm! Điều này hoàn toàn dựa trên các cơ sở khoa học vững chắc. Thực tế ở các nước thành công cũng chỉ ra điều đó: mọi chế tài phạt các hành vi vi phạm pháp luật đều phạt cao hơn rất nhiều lần so với thiệt hại mà cá nhân hay tổ chức nào đó gây ra.

Thiết nghĩ, môi trường chỉ không bị ô nhiễm hơn và tiến đến dân khôi phục lại được nếu chế tài luật pháp cần thay đổi theo hướng:

– Tăng nặng hình phạt (ở nhiều nước thường quy định mức phạt gấp nhiều chục lần so với mức thiệt hại do vi phạm pháp luật gây ra):

+ Đối với người cấp phép không đảm bảo các tiêu chuẩn môi trường thân thiện.

+ Đối với cơ quan có trách nhiệm nhưng chậm phát hiện hoặc kết luận không chính xác về mức độ ô nhiễm môi trường.

+ Đối với DN làm ô nhiễm môi trường.

3.4. Thay đổi quan điểm về tiêu chuẩn đánh giá kết quả, thành tích

Đánh giá kết quả, thành tích đã (sẽ) thu được của mọi cá nhân, tập thể dù là cơ quan quản lý nhà nước hay DN đều phải trên cơ sở đảm bảo các tiêu chuẩn về duy trì môi trường bền vững:

– Thay vì chỉ chú ý đến số lượng, phát triển theo chiều rộng, cần xây dựng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng, phát triển theo chiều sâu.

– Thay vì chỉ đánh giá kết quả theo các chỉ tiêu về lượng như tăng số lượng DN, KCN, doanh thu, lợi nhuận… càn xây dựng thêm các chỉ tiêu đánh giá về chất như mức độ gây ô nhiễm môi trường, chi phí xã hội phải bỏ ra để xử lý ô nhiễm môi trường….

3.5. Thay đổi cách thức làm việc

Đã đến lúc không thể tiếp tục duy trì cơ chế quản lý kiểu “cùng làm, cùng chịu trách nhiệm”. Một cách tổ chức rất khoa học và tự nhiên là mỗi người đảm nhiệm và phải chịu trách nhiệm về việc đó. Vì thế, thay vì tổ chức chồng chéo như hiện nay, cần chuyển sang cách thức tổ chức quản lý theo quá trình công việc và thực hiện một cửa “thực sự” và quá trình này phải không được diễn ra dài dài.

Thay đổi quy trình cấp phép (bắt buộc): dù có giấy phép kinh doanh nhưng chưa có giấy phép hoạt động thì DN hay KCN vẫn không được hoạt động. Nếu DN hoạt động mà phát hiện vẫn chưa đủ tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, trách nhiệm thuộc về cơ quan cấp phép hoạt động.

Thay đổi quy trình xây dựng (bắt buộc): mọi DN đều phải xây dựng cơ sở hạ tầng đủ tiêu chuẩn trước mới được phép xây dựng các công trình nhà ở… Điều này không dẫn đến DN thiếu tiền xây dựng mà chỉ dẫn đến chấm dứt cảnh xây dựng ồ ạt, lộn xộn mà không đủ tiêu chuẩn môi trường như đang diễn ra.

Thay đổi mức phạt: gấp nhiều chục lần thiệt hại gây ra và thủ tục phạt phải công khai, đơn giản, do một cơ quan đảm nhiệm.

Chú thích:

1. Xem bảng 1

2. Xử lý ô nhiễm mô trường Hà Nội: Đã rất cấp bách! chúng tôi 11:24 ngày 08/04/2009

3 Theo tiểu chuẩn vệ sinh nước ăn uống dựa trên Quyết định 1329 của Bộ Y tế, nước sinh hoạt đạt chuẩn ở mức hàm lượng amoni: 1,5 mg/l, độ oxy hóa: 2 mg/l.

5 Báo động đỏ về ô nhiễm nguồn nước ngầm ở Hà Nội: VOV, Cập nhật lúc 9:53 AM, 29/12/2008

6. Hà Nội: nguy cơ ô nhiễm môi trường từ 150 xí nghiệp, Cập nhật lúc 02:13, Thứ sáu, 20/8/2004 (Theo Lao động).

7. Bức tranh “xám” về môi trường Hà Nội: Báo Tài nguyên và Môi trường điện tử: Thứ năm 01/07/2010.

8. Trang web của Bộ Tài nguyên và Môi trường: gian nan quản lý chất thải rắn Hà Nội, 17:23 08/07/2010.

9. Ô nhiễm môi trường ở Hà Nội: Cần có cái nhìn đúng đắn từ phía doanh nghiệp, Go green: 03/Nov/2008 lúc 10:22

10. Trần Minh: Môi trường Hà Nội bao giờ “sạch”? Báo Kinh tế hợp tác Việt Nam, Thứ sáu ngày 17 tháng 4 năm 2009.

11. Văn bản Quản ly môi trường KCN- nhiều nhưng thiếu (14:56 13/07/2010).

1. Báo động đỏ về ô nhiễm nguồn nước ngầm ở Hà Nội: VOV, cập nhật lúc 9:53 AM, 29/12/2008

2. Bức tranh “xám” về môi trường Hà Nội: Báo Tài nguyên và Môi trường điện tử: Thứ năm 01/07/2010.

4. Hà Nội: nguy cơ ô nhiễm môi trường từ 150 xí nghiệp, Cập nhật lúc 02:13, Thứ sáu, 20/8/2004 (Theo Lao động).

5. Ô nhiễm môi trường ở Hà Nội: Cần có cái nhìn đúng đắn từ phía doanh nghiệp, Go green: 03/Nov/2008 lúc 10:22

7. Trần Minh: Môi trường Hà Nội bao giờ “sạch”? Báo Kinh tế hợp tác Việt Nam, Thứ sáu ngày 17 tháng 4 năm 2009

8. Văn bản Quản ly môi trường KCN- nhiều nhưng thiếu (14:56 13/07/2010).