Phương Pháp Nghiên Cứu Giáo Dục Học Mầm Non

--- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Dân Sự Và Áp Dụng Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2022
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự Trong Giai Đoạn Xét Xử
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự Của Kiểm Sát Viên
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự Và Áp Dụng Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Nhận Thức Về Nghiên Cứu Lịch Sử
  • Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục mầm non không ngừng cải tiến và phát triển. Việc nghiên cứu giáo dục mầm non phải tuân theo yếu tố thực tiễn, giá trị định hướng, đáp ứng được nhu cầu về sự phát triển. Nghiên cứu giáo dục mầm non thực chất là một ngành khoa học có mục đích, đối tượng cụ thể. Có thể dựa vào các phương pháp nghiên cứu giáo dục học mầm non để thực hiện nghiên cứu dễ dàng hơn.

    Quan sát sư phạm là phương pháp thu thập thông tin dữ liệu nhanh nhất.

    Kết quả của quá trình quan sát còn bị tác động bởi nhiều yếu tố từ bên ngoài. Nhìn chung kết quả quan sát sư phạm bị tắc động bởi yếu tố chủ quan từ người quan sát. Nếu trang bị mặt kiến thức và cách thức nghiên cứu còn yếu kém thì kết quả quan sát sẽ thiếu khách quan, dẫn tới sai lệch dữ liệu.

    Phương pháp quan sát sư phạm được phân thành nhiều loại:

    – Quan sát trực tiếp – quan sát gián tiếp

    – Quan sát toàn diện – quan sát có bố trí

    – Quan sát dài hạn – quan sát ngắn hạn

    – Quan sát thực nghiệm – quan sát kiểm nghiệm

    Phương pháp trò chuyện hay đàm thoại là cách thu thập thông tin thông qua các câu trả lời được ghi nhận từ đối tượng khảo sát.

    Cách đặt ra các câu hỏi trong quá trình trò chuyện phải được thực hiện theo một trình tự nhất định. Kết quả của câu trả lời phải được ghi nhận tỉ mỉ, đảm bảo không có sai sót hay nhầm lẫn. Có thể sử dụng các thiết bị hỗ trợ như: máy quay, máy ghi âm,… Tùy vào địa điểm, tình huống và đối tượng mà gợi mở các câu hỏi khảo sát khác nhau.

    Phương pháp trò chuyện được phân thành các loại:

    – Trò chuyện trực tiếp – trò chuyện gián tiếp

    – Trò chuyện đường thẳng – trò chuyện đường vòng

    – Trò chuyện bổ sung – trò chuyện đi sâu

    – Trò chuyện phát hiện – trò chuyện kiểm nghiệm.

    Phương pháp điều tra

    Phương pháp điều tra là cách thức thu thập thông tin kết quả từ các nhóm câu hỏi. Ý kiến thu thập có thể được ghi nhận lại hoặc được tường thuật từ người điều tra.

    Dựa trên phương pháp này có thể thu thập thông tin nhanh chóng và trên diện rộng. Tuy nhiên, kết quả thu được hầu hết dựa trên ý kiến chủ quan từ người được phỏng vấn. Để có thể có được các kết quả chính xác, có thể sử dụng nhóm câu hỏi có hệ thống và mang tính ràng buộc nhau. Ngoài ra, cần thu thập lượng thông tin lớn mới có thể xác định tính chính xác.

    Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

    Phương pháp này là cách thức phân tích kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục, phương hướng giảng dạy, phương pháp thực hiện mà đưa ra các lý luận. Ứng dụng các cơ sở lý luận đến từ chủ nghĩa Mác – Lênin, chỉ đạo từ Nhà nước, phương hướng của Bộ giáo dục và các tri thức thực tiễn vốn có.

    Cần xác định chính xác đối tượng nghiên cứu, chính là các kinh nghiệm đã đạt được. Không bao gồm các dự định và việc làm dang dở. Các lý luận sau khi đút kết cần được đánh giá lại và xem xét về tính thực tế của lý luận.

    Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

    Phương pháp này dựa trên sự phân tích các sản phẩm được tạo ra bởi đối tượng nghiên cứu.

    Việc nghiên cứu các sản phẩm này phải bao gồm cả quá trình hình thành sản phẩm. Có nghĩa là phải xác định được điều kiện, hoàn cảnh và ghi nhận được quá tình hoàn thành sản phẩm.

    Nghiên cứu theo phương pháp này đòi hỏi sự tỉ mỉ, khả năng quan sát tốt và thời gian dài.

    Thực nghiệm sư phạm là phương pháp nghiên cứu sự tác động của giáo dục lên vấn đề nghiên cứu. Đặc điểm của phương pháp này là nhà nghiên cứu phải tự tạo ra điều kiện nghiên cứu và có thể lặp lại nếu cần tiếp tục thực hiện nghiên cứu.

    Có 2 phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm:

    Là thực nghiệm được tiến hành tự nhiên trong quá trình thực nghiệm sư phạm.

    Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm

    Là thực hiện được tiến hành trong các điều kiện chóng chế nhằm xác định được mặt định tính, định lượng và bản chất của giáo dục.

    Việc nghiên cứu giáo dục mầm non, đòi hỏi người nghiên cứ phải nắm bắt được các bản chất của việc nghiên cứu, không được gây đảo lộn quá trình sư phạm. Từ đó, cải tiến các phương pháp giảng dạy tại trường mầm non.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học: Phương Pháp Tiểu Sử
  • Cách Lựa Chọn Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Kinh Tế Hay
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Di Truyền Của Menđen
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Của Dân Tộc Học Là Gì?
  • Những Nghiên Cứu Tiêu Biểu Về Dược Liệu Việt Nam
  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục Mầm Non (Dùng Cho Hệ Đào Tạo Từ Xa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học.pdf
  • Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Của Khoa Học Luật Hiến Pháp
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Lý
  • Hướng Dẫn Viết Báo Cáo Nckh Sinh Viên
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Ts Vũ Cao Đàm
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

    PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Trinh

    GIÁO TRÌNH

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA

    HỌC GIÁO DỤC MẦM NON

    (Dùng cho hệ đào tạo từ xa – ngành GD Mầm non)

    2

    Lời nói đầu

    Cuốn “Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non” viết về vấn đề

    phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục cho trẻ

    từ 0-6 tuổi.

    Trong cuốn sách này tác giả trình bày những vấn đề mang tính hệ thống về

    nghiên cứu khoa học, các vấn đề phương pháp luận và các phương pháp nghiên

    cứu, các bước tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo

    dục mầm non. Ngoài ra, trong cuốn sách còn có phần phụ lục nhằm hướng dẫn cho

    sinh viên các lựa chọn đề tài nghiên cứu và thực thi đề tài nghiên cứu khoa học

    trong lĩnh vực giáo dục mầm non.

    Cuốn sách bao gồm 3 chương:

    – Chương 1: Những vấn đề chung về nghiên cứu khoa học

    – Chương 2: Các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non

    – Chương 3: Các bước tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học giáo

    dục mầm non.

    Cuốn “Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non” là giáo trình

    dùng cho sinh viên các trường Đại học sư phạm, ngành Giáo dục mầm non, hệ đào

    tạo từ xa, đồng thời là cuốn sách cần cho những ai quan tâm mong muốn tìm hiểu,

    nghiên cứu khám phá các vấn đề về giáo dục trẻ em.

    Cuốn sách viết không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận

    được sự đóng góp ý kiến của các độc giả để hoàn thiện thêm.

    Tác giả

    3

    Chương 1:

    NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    1. Về nghiên cứu khoa học.

    1.1. Khái niệm và các đặc điểm của nghiên cứu khoa học

    a) Khái niệm:

    Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật và sáng tạo

    các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi chúng theo mục đích sử dụng. Nói

    cho cùng nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội nhằm thoả mãn nhu cầu

    nhận thức và cải tạo thế giới.

    b) Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học:

    Đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi những sự vật mà

    khoa học chưa hề biết đến. Đặc điểm này dẫn đến hàng loạt các đặc điểm khác

    nhau của nghiên cứu khoa học như sau:

    – Tính mới:

    Vì nghiên cứu khoa học là quá trình thâm nhập thế giới của những sự vật,

    hiện tượng mà khoa học chưa biết, cho nên đó là quá trình hướng tới những phát

    hiện mới hoặc sáng tạo mới. Trong nghiên cứu khoa học không có sự lặp lại như cũ

    những phát hiện, những nghiên cứu đã qua. Vì vậy, tính mới là thuộc tính quan

    trọng số một của lao động khoa học.

    – Tính tin cậy:

    Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có khả

    năng kiểm chứng nhiều lần trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn

    toàn giống nhau, và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau. Một kết quả

    thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã đặt ra trước đó cũng chưa thể

    xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng.

    4

    Điều này dẫn đến một nguyên tắc mang tính phương pháp luận của nghiên

    cứu khoa học, là khi trình bày một kết quả nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện,

    các nhân tố và phương tiện thực hiện (nếu có).

    – Tính thông tin:

    Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều dạng, có thể đó

    là một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học … tuy nhiên trong tất cả các trường

    hợp khác nhau, sản phẩm khoa học luôn luôn mang đặc trưng thông tin. Đó là

    những thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về quy trình công nghệ

    và các tham số đi kèm quy trình đó.

    – Tính khách quan:

    Tính khách quan vừa là một đặc điểm của nghiên cứu khoa học vừa là một

    tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiên khoa học. Trong xã hội học khoa học,

    người ta xem đó là một chuẩn mực giá trị. Một nhận định vội vã theo tình cảm, một

    kết luận chưa được kiểm chứng chưa thể xem là một phản ánh khách quan về bản

    chất của sự vật.

    – Tính rủi ro:

    Quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới hoàn toàn có thể

    gặp thất bại. Đó là tính rủi ro của nghiên cứu. Sự thất bại trong nghiên cứu khoa

    học có thể do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn thiếu những thông tin cần thiết và đủ

    tin cậy, trình độ kỹ thuật của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm thấp, năng lực xử lý

    thông tin của người nghiên cứu còn hạn chế, giả thuyết khoa học đặt sai v.v. Tuy

    nhiên, trong khoa học “thất bại là mẹ thành công”, kết quả ấy dẫn đến một kết luận

    của nghiên cứu khoa học: đó là các giả thuyết đặt ra không được xác nhận về mặt

    khoa học, nghĩa là trong sự vật không tồn tại quy luật hoặc giải pháp như đã dự

    kiến. Nó giúp cho các đồng nghiệp đi sau rút được kinh nghiệm cho mình, tránh

    dẫm chân lên lối mòn, lãng phí các nguồn lực nghiên cứu.

    – Tính kế thừa:

    Ngày nay hầu như không còn một công trình nghiên cứu khoa học nào bắt

    đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến thức. Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các

    kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau rất xa. Tính kế thừa có

    5

    một ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận: một người nghiên cứu chân

    chính không bao giờ đóng cửa, cố thủ trong những lý luận và phương pháp luận

    của riêng mình mà bài xích sự thâm nhập về lý luận và phương pháp luận từ các

    lĩnh vực khoa học dù rất khác nhau. Hàng loạt phương hướng nghiên cứu mới và

    bộ môn khoa học mới xuất hiện chính là kết quả kế thừa lẫn nhau giữa các bộ môn

    khoa học.

    – Tính cá nhân:

    Dù làm một công trình nghiên cứu khoa học do một tập thể hay cá nhân thực

    hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định. Tính cá nhân

    được thể hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân.

    1.2. Về nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non:

    a) Khái niệm:

    Nghiên cứu khoa học GDMN là hoạt động tìm tòi, khám phá và nhận thức

    bản chất, quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong lĩnh vực GDMN, từ đó

    sáng tạo các giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ từ 0-6 tuổi.

    Mục đích của nghiên cứu khoa học GDMN chính là nhận thức và cải tạo

    nâng cao chất lượng công tác chăm sóc- giáo dục trẻ em từ 0-6 tuổi.

    Bản chất của nghiên cứu khoa học GDMN là sáng tạo ra cái mới

    b) Đối tượng của nghiên cứu khoa học GDMN

    Những sự vật, hiện tượng trong lĩnh vực GDMN cần được khám phá, nhận

    thức và cải tạo chính là đối tượng của nghiên cứu khoa học GDMN.

    Có thể kể đến các đối tượng nghiên cứu sau đây trong lĩnh vực này:

    – Các vấn đề về sự phát triển tâm, sinh lý của trẻ em từ 0-6 tuổi

    – Các vấn đề về giáo dục trẻ em từ 0-6 tuổi như mục đích, nội dung, chương

    trình, phương pháp, hình thức, phương tiện, kết quả giáo dục, các lực lượng giáo

    dục, mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong GDMN…

    – Các vấn đề về quản lý GDMN: quản lý nhà nước về GDMN, quản lý

    trường mầm non (mục đích, quá trình, nội dung, phương pháp, các điều kiện đảm

    bảo chất lượng GDMN; quản lý đội ngũ GVMN, quản lý trẻ và nhóm lớp trong

    trường mầm non…).

    6

    1.3. Trẻ em từ 0-6 tuổi là đối tượng cơ bản của nghiên cứu khoa học về

    GDMN.

    3.1.1. Các quan niệm về trẻ em

    a) Trẻ em là động vật:

    Đây là quan niệm của trường phái hành vi mà đại diện là J.Watson. Khi

    nghiên cứu hành vi của con người như là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trả lời các

    kích thích từ bên ngoài (theo công thức S – R; S là kích thích của môi trường bên

    ngoài; R là phản ứng trả lời tương ứng của cơ tthể), J.Watson và những người theo

    trường phái hành vi đã đồng nhất con người với con vật và đồng nhất trẻ em với

    động vật. Ông viết : “… Con người là động vật có hai chân, hai tay với những ngón

    tay cực kỳ tinh vi uyển chuyển. Con người phát triển 9 tháng trong thời kỳ bào thai,

    8 năm trong thời kỳ thơ ấu và 70 năm trong suốt cuộc đời”.

    Pascan cũng quan niệm “… Con người là động vật có phản ứng với từ ngữ và

    sử dụng từ ngữ, nhưng phản ứng ngôn ngữ ấy chẳng qua chỉ là sự co bóp của cơ cổ

    mà thôi…”

    Tóm lại những người theo trường phái hành vi chỉ phân biệt sự khác nhau

    giữa con người (trẻ em) với con vật ở những dấu hiệu bên ngoài.

    b) Trẻ em là người lớn thu nhỏ lại.

    Đó là quan điểm tiến bộ hơn và tương đối phổ biến, ngay cả hiện nay. Sự

    khác nhau giữa trẻ em và người lớn về mọi phương diện (tư tưởng; tình cảm; hành

    động…) chỉ là sự khác nhau ở số lượng, tầm cỡ, kích thước, chứ không phải là sự

    khác nhau về chất.

    c) Quan điểm của J.J Rutxô (1712-1778):

    Ngay từ thế kỷ XVIII J.J Rutxô đã nhận xết rất tinh tế về những đặc điểm

    tâm lý của trẻ nhỏ. Theo ông, trẻ em là trẻ em, không phải là người lớn thu nhỏ lại

    và người lớn không phải lúc nào cũng có thể hiểu được trí tuệ, nguyện vọng và tình

    cảm độc đáo của trẻ thơ…. Vì …”trẻ em có những cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm

    nhận riêng của nó”. Sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn là sự khác nhau về chất.

    d) Quan niệm của Tâm lý học duy vật biện chứng:

    7

    Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại, trẻ em là trẻ em, nó vận động,

    phát triển theo quy luật riêng của nó. Để hiểu được khái niệm về trẻ em cần phải

    xem xét nó ít nhất trên 3 bình diện: sinh vật, văn hoá hay tâm lý cá nhân

    – Khái niệm trẻ em xét trên bình diện sinh vật:

    Trẻ em cũng giống như động vật đều kế thừa cấu trúc và chức năng của cơ

    thể từ thế hệ trước, tuy nhiên, khác với động vật:

    + Đứng về góc độ loài, con người không còn chịu sự chi phối của quy luật

    tiến hoá sinh vật (như động vật), mà chủ yếu chịu sự tác động của các quy luật xã

    hội.

    + Bộ não của trẻ em có tính chất co giản đặc biệt, còn “trống”- nên có khả

    năng học tập, sẵn sàng tiếp nhận những kinh nghiệm lịch sử -xã hội từ thế hệ trước

    để phát triển tâm lý và nhân cách của mình.

    + Tuy vậy, cấu trúc hình thái của cơ thể trẻ phát triển và hoàn thiện từ khi lọt

    lòng đến tuổi trưởng thành (cân nặng, chiều cao, sự thuần thục dần của các cơ quan

    nội tạng, đặc biệt hệ thần kinh và bộ não).

    Có thể nói, khái niệm trẻ em có thể hiểu là một cấu trúc hình thái cơ thể

    người còn non nớt đang được tăng trưởng.

    – Khái niệm trẻ em xét trên bình diện văn hoá:

    + ở người thế hệ sau tiếp nhận kinh nghiệm hoạt động, tri thức, kỹ năng và

    các phẩm chất tâm lý không phải bằng con đường di truyền sinh vật (như động vật)

    mà bằng con đường di truyền xã hội hay còn gọi là kế thừa văn hoá.

    + Thông qua hoạt động và giao tiếp trẻ em linh hội các kinh nghiệm ls-xh

    của loài người được kết tinh trong nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần

    (nền văn hoá xã hội)

    + Trẻ em lĩnh hội các kinh nghiệm nói trên dưới sự hướng dẫn, dạy dỗ

    thường xuyên của người lớn- giáo dục.

    + Quá trình phát triển của lịch sử, văn hoá làm thay đổi vốn kinh nghiệm lsxh, làm thay đổi yếu tố môi trường và giáo dục, đặc biệt là thay đổi hành vi, hoạt

    động, các chức năng tâm lý cấp cao của con người (trẻ em).

    8

    Như vậy, khái niệm trẻ em là một khái niệm lịch sử-văn hoá, luôn thay đổi

    cùng với sự thay đổi của nền văn hoá.

    – Khái niệm trẻ em xét trên bình diện tâm lý cá nhân:

    + Đối với trẻ em từ lọt lòng đến tuổi trưởng thành đều phải trải qua một quá

    trình phát triển bao gồm nhiều thời kỳ, giai đoạn, nhiều pha, còn động vật thì chỉ có

    khả năng sinh trưởng – tuần tự theo thời gian mà bộc lộ những gì tổ tiên đã trang bị

    sẵn.

    + Mỗi giai đoạn phát triển đều mang những đặc điểm riêng đặc trưng cho

    mỗi đứa trẻ, xuất hiện những cấu tạo tâm lý mới chưa từng có trong giai đoạn phát

    triển trước. Từ giai đoạn trước đến giai đoạn sau là một bước chuyển biến mang

    tính nhảy vọt, có sự biến đổi về chất, sự phát triển ở một giai đoạn vừa là kết quả

    của giai đoạn trước đó, vừa là tiền đề cho bước phát triển tiếp theo ở giai đoạn sau.

    + Sự phát triển tâm lý trẻ em là kết quả của 2 quá trình quyện chặt với nhau:

    sự trưởng thành, chín muồi của cơ thể với sự ăn nhập vào nền văn minh nhân loại.

    Như vậy, xét trên bình diện tâm lý cá nhân trẻ em là một thực thể đang phát

    triển.

    Tóm lại: Theo quan điểm tâm lý học duy vật biện chứng trẻ em là một thực

    thể đang phát triển về nhiều mặt (sinh vật, văn hoá, tâm lý cá nhân) để trở thành

    một thành viên của xã hội, một nhân cách.

    Do có nhiều cách hiểu khác nhau về trẻ em như vậy nên có nhiều quan niệm

    khác nhau về nghiên cứu trẻ em .

    1.3.2. Một số quan niệm về nghiên cứu trẻ em

    a) Trường phái hành vi (coi trẻ em là động vật).

    Vì quan niệm trẻ em là động vật nên họ chủ trương nghiên cứu hành vi của

    động vật và áp dụng kết quả đó cho trẻ em. Tuy nhiên, trẻ em không phải là động

    vật vì thế những kết luận từ nghiên cứu trên động vật không đảm bảo tính khoa

    học.

    b) Coi trẻ em là người lớn thu nhỏ lại

    9

    Vì quan niệm trẻ em và người lớn chỉ khác nhau về tầm cỡ, kích thước, chứ

    không phải khác nhau về chất, nên những người theo quan điểm này đã áp đặt tất

    cả những nghiên cứu trên người lớn cho trẻ em. Rõ ràng, cách làm này là sai lầm.

    c) Coi trẻ em là trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại và người lớn

    chúng ta đôi lúc không thể hiểu được trẻ em (J.J.Rutxo). Từ cách hiểu này dẫn đến

    quan niệm cho rằng trẻ em là một thế giới bí ẩn, chúng ta không thể biết được sự

    phát triển của trẻ em diễn ra như thế nào vì thế không nên can thiệp vào sự pháp

    triển đó, và tất nhiên cũng chả cần nhọc công nghiên cứu chúng.

    d) Quan niệm Tâm lý học duy vật biện chứng về trẻ em đã dẫn đến các

    nguyên tắc sau đây khi nghiên cứu về trẻ em:

    – Trẻ em là sản phẩm của thời đại lịch sử, nên muốn nghiên cứu trẻ em phải

    nghiên cứu các yếu tố lịch sử- xã hội bao quanh đứa trẻ.

    – Trẻ em tự sinh thành ra mình bằng hành động cho nên cần tìm hiểu hành

    động, hoạt động của trẻ em và sản phẩm hoạt động khi nghiên cứu trẻ em .

    – Trẻ em là trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại, nó vừa mang nét

    chung ở cùng giai đoạn lứa tuổi với những trẻ em khác, vừa mang đặc thù riêng của

    chính nó. Do vậy các nghiên cứu trẻ em phải vừa nắm được quy luật tâm- sinh lý

    chung để lý giải: em bé này đang ở giai đoạn tâm lý nào về tính tình, về trí khôn, lại

    vừa phải nắm được chân dung tâm lý riêng của nó.

    – Các nhà tâm lý học duy vật biện chứng không phủ nhận vai trò của các yếu

    tố sinh vật trong sự phát triển tâm lý trẻ em, do vậy, khi nghiên cứu trẻ em chúng ta

    cần nghiên cứu mặt sinh lý, tức cơ chế hoạt động điều hoà (hay là xem em bé có

    bệnh tật gì không? khoẻ hay yếu?).

    2. Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học GDMN

    Trong nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu khoa học GDMN nói

    riêng chúng ta thường gặp các thuật ngữ: phương pháp, phương pháp hệ, phương

    pháp luận. Vậy phương pháp, phương pháp hệ, phương pháp luận là gì?

    2.1. Phương pháp nghiên cứu khoa học

    a) Khái niệm:

    10

    Theo nghĩa chung thì phương pháp là con đường đạt mục đích, là cách thức

    giải quyết một công việc cụ thể. ở mỗi ngành khoa học lại có một hệ thống các

    phương pháp nghiên cứu riêng. Nhà khoa học phải nắm vững bản chất và biết cách

    sử dụng các phương pháp để tiến hành hoạt động nghiên cứu của mình có kết quả.

    Vậy: phương pháp nghiên cứu khoa học là tổ hợp các thao tác, biện pháp

    thực tiễn hoặc lý thuyết mà nhà khoa học sử dụng để nhận thức, khám phá đối

    tượng, tạo ra hệ thống những kiến thức về đối tượng.

    b) Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học:

    – Phương pháp có tính mục đích: mọi hoạt động đều có tính mục đích, mục

    đích công việc sẽ chỉ dẫn việc lựa chọn phương pháp. Phương pháp càng chính xác,

    càng sáng tạo càng làm cho công việc đạt tới kết quả nhanh, chất lượng cao và đôi

    khi vượt xa dự kiến ban đầu. Phương pháp nghiên cứu khoa học gắn bó với mục

    đích sáng tạo khoa học.

    – Phương pháp có tính đối tượng: phương pháp nghiên cứu khoa học phụ

    thuộc vào đối tượng nghiên cứu. Đối tượng càng phức tạp, càng cần có phương

    pháp tinh vi. Phương pháp nghiên cứu có hiệu quả khi nó phù hợp với đặc điểm của

    đối tượng, phù hợp với quy luật vận động khách quan của đối tượng.

    – Phương pháp là con đường vận dụng của nội dung: mọi hoạt động đều có

    nội dung, nội dung công việc quy định phương pháp và phương pháp là cách thức

    thực hiện nội dung, là yếu tố quyết định chất lượng của công việc. Trong nghiên

    cứu khoa học mỗi chuyên ngành có 1 hệ phương pháp đặc thù, mọi đề tài có 1

    nhóm phương pháp cụ thể.

    – Phương pháp là tổ hợp các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối

    ưu. Nếu từng thao tác được thực hiện chính xác thì phương pháp đạt tới độ hoàn

    hảo và công việc đạt mức tối ưu.

    – Phương pháp là cách làm việc của chủ thể, do chủ thể lựa chọn…Phương

    pháp bị quy định bởi trình độ nhận thức và kinh nghiệm đã có của chủ thể. Do đó,

    phương pháp mang tính chủ quan. Trong nghiên cứu khoa học các nhà khoa học

    phải có trình độ trí tuệ cao, khả năng lớn và một kinh nghiệm dày dạn.

    11

    – Mỗi phương pháp nghiên cứu khoa học có điểm mạnh và điểm yếu, do đó

    không nên chỉ sử dụng duy nhất 1 phương pháp để nghiên cứu đối tượng.

    c) Phân loại các phương pháp nghiên cứu khoa học:

    Khi nghiên cứu khoa học cần sử dụng rất nhiều phương pháp, phối hợp các

    phương pháp, dùng các phương pháp để hộ trợ nhau, kiểm tra lẫn nhau và để khẳng

    định kết quả nghiên cứu. Vì sự đa dạng của các phương pháp mà người ta tìm ra

    cách phân loại nó để tiện sử dụng. Có những cách phân loại phương pháp sau đây:

    – Dựa trên quy trình nghiên cứu, người ta chia phương pháp thành 3 nhóm:

    mô tả, giải thích và chuẩn đoán.

    – Dựa vào các bước của công việc, có các nhóm phương pháp: thu thập thông

    tin, gia công và xử lý thông tin.

    – Dựa vào trình độ tiếp cận của đối tượng, có các nhóm phương pháp:

    phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phương pháp nghiên cứu thực tiễn và phương

    pháp xử lý số liệu.

    Việc sử dụng hệ thống phương pháp phải nhất quán theo một cách phân loại.

    Trong thực tế cách phân loại thứ 2 và thứ 3 được chấp nhận rộng rãi.

    2.2. Phương pháp hệ

    Là nhóm các phương pháp được sử dụng trong một lĩnh vực khoa học hay

    một đề tài cụ thể. Các phương pháp này hỗ trợ, bổ sung và kiểm tra lẫn nhau trong

    quá trình nghiên cứu và để khẳng định tính chân thực của các luận điểm khoa học.

    2.3. Phương pháp luận

    Theo nghĩa hẹp là lý luận tổng quát, là những quan điểm chung, là cách tiếp

    cận đối tượng khoa học. Đây là những luận điểm mang màu sắc triết học, tuy nhiên

    nó không đồng nhất với triết học, mà nó vận dụng triết học như thế giới quan để

    giải thích và khám phá mà thôi. Những quan điểm phưong pháp luận là kim chỉ

    nam hướng dẫn các nhà khoa học trên con đường tìm tòi nghiên cứu. Có những

    quan điểm phương pháp luận cho nhiều ngành khoa học, cũng có những quan điểm

    riêng, đặc thù của một lĩnh vực khoa học mà gọi là phương pháp luận chuyên

    ngành.

    12

    Khoa học tự nhiên và khoa học xã hội có 2 cách tiếp cận với phương pháp

    luận. Khoa học tự nhiên là khoa học thực nghiệm. Nghiên cứu khoa học tự nhiên

    bắt đầu từ các sáng kiến cụ thể. Con đường nghiên cứu thường bắt đầu từ thí

    nghiệm và bằng cách quy nạp mà hình thành luận điểm khoa học nghĩa là đi từ

    phương pháp nghiên cứu cụ thể, sau đó mới xuất hiện nhu cầu về phương pháp

    luận.

    Khoa học xã hội là khoa học thực chứng. Nghiên cứu khoa học xã hội đòi

    hỏi phải tích luỹ các sự kiện đông đảo, để giải thích chúng luôn động chạm đến các

    vấn đề triết học. Do vậy, nghiên cứu và giải thích các hiện tượng xã hội bao giờ

    cũng có quan điểm dẫn đường. Vai trò của phương pháp luận vô cùng to lớn.

    2.4. Một số phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học GDMN.

    a) Phương pháp luận hệ thống:

    Để hiểu rõ bản chất của quan điểm hệ thống chúng ta cần phân biệt một số

    khái niệm

    * Hệ thống: Là một tập hợp các yếu tố nhất định có mối quan hệ biện chứng

    với nhau tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn, ổn định và có quy luật vận động tổng

    hợp.

    Trong thực tiễn mọi sự vật và hiện tượng, nếu là một chỉnh thể trọn vẹn thì

    bao giờ cũng là một hệ thống được cấu tạo bởi những bộ phận, nhiều thành tố. Các

    bộ phận này có một vị trí độc lập, có chức năng riêng, tuy vậy chúng lại có quan hệ

    biện chứng với nhau theo mối quan hệ vật chất, quan hệ chức năng và chúng vận

    động theo quy luật của toàn hệ thống. Một hệ thống bao giờ cũng có mối liên hệ

    với những hệ thống và đối tượng khác cùng nằm trong một môi trường nhất định.

    Môi trường chính là hệ thống lớn chứa đựng các hệ thống nhỏ ta đang nghiên cứu

    và các đối tượng khác bên cạnh nó. Giữa môi trường và hệ thống có mối quan hệ

    hai chiều. Môi trường tác động và quy định hệ thống, còn hệ thống tác động và cải

    tạo môi trường.

    * Tính hệ thống: là thuộc tính quan trọng của thế giới, là hình thức diễn đạt

    tính chất phức tạp của đối tượng và nó chính là một thông số quan trọng để đánh

    giá đối tượng. Một công trình nghiên cứu khoa học phải tìm cho được tính hệ thống

    13

    của đối tượng và trình bày nó một cách rành mạch, hàm xúc, chi tiết với lập luận

    chặt chẽ nhất.

    * Quan điểm hệ thống: là một luận điểm quan trọng chỉ dẫn quá trình nghiên

    cứu đối tượng phức tạp, là cách tiếp cận đặc trưng bằng phương pháp hệ thống để

    tìm ra các cấu trúc của đối tượng, phát hiện ra tính hệ thống: một thuộc tính quan

    trọng của đối tượng. Quan điểm hệ thống yêu cầu nghiên cứu đối tượng theo quy

    luật của cái toàn thể có tính hệ thống với các thành phần có mối tương tác biện

    chứng hữu cơ.

    Trong mọi lĩnh vực của cuộc sống và cả trong hoạt động tâm lý, ở các mức

    độ khác nhau ta đều phát hiện ra tính hệ thống trong các đối tượng nghiên cứu:

    – Đối tượng đơn giản nhất là các hiện tượng tâm lý riêng lẻ (cử động, thao

    tác, hành động, hoặc cá thể) tồn tại độc lập một cách tương đối, ta có thể cô lập để

    nghiên cứu.

    – Đối tượng phức tạp hơn, có kết cấu trọn vẹn như một chỉnh thể, như một hệ

    thống (hoạt động, các đặc điểm nhân cách). Ví dụ: Đời sống tâm lý, nhu cầu của

    đứa trẻ hay hệ thống tâm lý- sinh lý- xã hội.

    – Đối tượng phức tạp nhất là hiện thực xã hội, bao gồm những khách thể có

    mối liên hệ với nhau, tạo thành siêu hệ thống. Ví dụ: Vấn đề tâm lý và văn hoá.

    Khi nghiên cứu khoa học GDMN theo quan điểm hệ thống cần:

    + Nghiên cứu đối tượng một cách toàn diện, nhiều mặt, dựa vào việc phân

    tích đối tượng thành các bộ phận mà xem xét cụ thể.

    + Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật

    phát triển từng mặt và của toàn bộ đối tượng tâm lý.

    + Nghiên cứu đối tượng trong mối tương tác với các hiện tượng xã hội khác,

    với người khác, với toàn bộ nền văn hoá xã hội. Tìm môi trường thuận lợi cho sự

    phát triển của nó.

    + Trình bày kết quả nghiên cứu rõ ràng, khúc chiết, theo một hệ thống chặt

    chẽ, có tính logic cao.

    Như vậy, nghiên cứu khoa học GDMN theo quan điểm hệ thống cho phép

    nhìn nhận một cách sâu sắc toàn diện, khách quan về đối tượng nghiên cứu, thấy

    14

    được mối quan hệ của hệ thống nghiên cứu với các đối tượng khác trong hệ thống

    lớn, từ đó xác định được con đường tổng hợp tối ưu để phát triển nâng cao chất

    lượng chăm sóc- giáo dục trẻ mầm non.

    b) Phương pháp luận hoạt động:

    Đây là quan điểm vô cùng quan trọng, là kim chỉ nam dẫn đường trong các

    nghiên cứu con người nói chung và nghiên cứu khoa học GDMN nói riêng. Phương

    pháp luận hoạt động được hiểu như sau:

    – Khẳng định rằng: Hoạt động là bản thể của tâm lý- ý thức, hay tâm lý, ý

    thức được nảy sinh bởi hoạt động. Sự phát triển phức tạp và chuyển hóa của hoạt

    động kéo theo sự phát triển phức tạp và chuyển hoá của tâm lý. Tất cả các phạm trù

    trong tâm lý học: Phản xạ, phản ánh, ý thức, nhu cầu, động cơ vv…đều bị quy định

    bởi phạm trù hoạt động.

    – Phản ánh tâm lý và hoạt động gắn bó chặt chẽ với nhau. Hoạt động vừa tạo

    ra tâm lý, vừa sử dụng phản ánh tâm lý làm khâu trung gian tác động vào đối tượng

    tạo ra kinh nghiệm kép “ở con người”.

    – Tâm lý, ý thức, nhu cầu của con người được nghiên cứu như là các hoạt

    động.

    – Bằng hoạt động con người trở thành 1 nhu cầu và tồn tại như là một nhân

    cách. Nhu cầu là các cấu tạo tâm lý mới do từng người tự tạo ra cho mình bằng

    hoạt động của bản thân.

    – Tâm lý, ý thức, nhu cầu của con người được biểu hiện ra bên ngoài thông

    qua hoạt động của cá nhân. Vì thế, muốn nghiên cứu tâm lý, nhu cầu của con người

    ta phải nghiên cứu hoạt động, hành động và sản phẩm hoạt động, nơi kết tinh năng

    lực con người vào đấy.

    c) Phương pháp luận tích hợp

    Quan điểm tích hợp coi tự nhiên- xã hội- con người như là một thể thống

    nhất tác động qua lại với nhau.

    Quan điểm tích hợp trong nghiên cứu khoa học đòi hỏi một sự kết hợp, đan

    xen, lồng ghép các mảng đề tài, các góc độ nghiên cứu chung.

    Quan điểm tích hợp được sử dụng trong nghiên cứu khoa học GDMN, vì:

    15

    – Trẻ em là một đối tượng nghiên cứu mang tính tích hợp (đối tượng nghiên

    cứu của nhiều khoa học).

    – Sự phát triển của trẻ em trong 6 năm đầu đời rất nhanh, mạnh, tuy nhiên,

    các chức năng tâm-sinh lý chưa hình thành thật rõ nét và tách bạch rạch ròi như ở

    người lớn. Vì thế, để hiểu rõ về trẻ em, người ta cần sử dụng tổng hợp nhiều

    phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau.

    Để vận dụng quan điểm tích hợp trong nghiên cứu trẻ em, cần phải:

    – Cần kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khi nghiên cứu trẻ

    em, trong đó có một phương pháp đóng vai trò chủ đạo.

    – Để nghiên cứu các vấn đề chung của giáo dục mầm non, cần vận dụng các

    hướng nghiên cứu mang tính tích hợp, được thực hiện bởi các chuyên gia từ nhiều

    lĩnh vực khoa học khác nhau.

    – Các dữ kiện thu được từ quá trình nghiên cứu vừa được phân tích, nhìn

    nhận từ nhiều góc độ khác nhau: xã hội học, tâm lý học, sinh lý học…và chúng

    cũng vừa được tổng hợp, lồng ghép với nhau để giải quyết các vấn đề nuôi và dạy

    trẻ.

    – Đối với việc giáo dục trẻ em trước 6 tuổi cần kết hợp giữa chăm sóc và dạy

    dỗ trẻ em. Muốn đạt hiệu quả thì 2 nhiệm vụ này cần lồng ghép, đan xen, hoà

    quyện với nhau.

    – Chương trình chăm sóc- giáo dục trẻ em trước 6 tuổi được xây dựng trên cơ

    sở nhằm hình thành những thuộc tính, những năng lực chung- hình thành nền tảng

    nhân cách ban đầu cho trẻ em.

    d) Phương pháp luận lịch sử

    Mọi sự vật đều có nguồn gốc phát sinh và quá trình phát triển, vì thế, khi

    nghiên cứu cần xem xét đối tượng một cách toàn diện trong suốt quá trình phát sinh

    và phát triển của nó, tức là nghiên cứu theo quan điểm lịch sử.

    Nghiên cứu một đối tượng nào đó theo quan điểm lịch sử tức là nghiên cứu

    đối tượng trong quá trình vận động

    Khi nghiên cứu khoa học GDMN cần đảm bảo quan điểm tiếp cận lịch sử,

    vì:

    16

    – Nghiên cứu khoa học theo quan điểm lịch sử không những giúp ta phát hiện

    ra quy luật phát triển của đối tượng mà còn giúp tìm ra những nguyên nhân gây nên

    những thành công hay thất bại của sự kiện lịch sử, từ đó rút ra được bài học cần

    thiết.

    – Các tài liệu lịch sử có chức năng vô cùng quan trọng trong các nghiên cứu

    khoa học: chức năng làm cơ sở để xây dựng giả thuyết và chứng minh giả thuyết;

    chức năng minh hoạ, chứng minh; chức năng đánh giá các kết luận khoa học..

    – Trẻ em trước 6 tuổi là một thực thể đang phát triển với tốc độ nhanh. Trong

    quá trình đó các quy luật phát triển được bộc lộ một cách khách quan.

    Để đảm bảo quan điểm tiếp cận lịch sử, nhà nghiên cứu phải:

    – Xem xét đứa trẻ trong quá trình phát triển của nó với những điều kiện phát

    triển nhất định, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa giáo dục và phát triển.

    – Coi giáo dục là mặt phổ biến, tất yếu trong quá trình phát triển những đặc

    điểm lịch sử ở đứa trẻ, chứ không phải là mặt tự nhiên của con người.

    e) Phương pháp luận thực tiễn

    Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính chất lịch sử xã hội của

    con người làm biến đổi tự nhiên và xã hội.

    Thực tiễn vừa là nguồn gốc, vừa là động lực, vừa là mục đích, vừa là tiêu

    chuẩn để đánh giá đối với mọi lý thuyết khoa học:

    – Nghiên cứu khoa học GDMN phải bắt nguồn từ thực tiễn. Động lực nghiên

    cứu khoa học đó chính là nhu cầu giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn.

    – Kết quả nghiên cứu khoa học GDMN quay trở lại phục vụ thực tiễn (nâng

    cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ mầm non).

    – Những sự kiện thực tiễn là những cứ liệu quan trọng giúp nhà nghiên cứu

    tìm hiểu đối tượng và khám phá ra quy luật vận động của nó.

    – Thực tiễn là tiêu chuẩn để đánh giá các sản phẩm khoa học một cách chính

    xác nhất.

    Nghiên cứu khoa học GDMN cần đứng vững trên quan điểm thực tiễn mới hi

    vọng đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học về trẻ em, mang lại lợi ích thiết thực

    cho sự nghiệp chăm sóc- giáo dục trẻ em trước 6 tuổi.

    17

    Chương 2:

    CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC MẦM NON

    Nghiên cứu khoa học GDMN, dựa trên những hiện tượng thực của thế giới

    khách quan nhà nghiên cứu thu thập một cách kỹ lưỡng những sự kiện cần thiết và

    xem xét chúng một cách sâu sắc theo những khía cạnh khác nhau. Trong khi đối

    chiếu những hiện tượng thu thập được với nhau, nhà nghiên cứu khám phá ra

    những nguyên nhân và quy luật hoạt động của chúng, từ đó làm giàu cho khoa học,

    giúp ích cho thực tiễn.

    Trong quá trình nghiên cứu khoa học, nhà nghiên cứu phải:

    – Xác định những sự kiện nào họ cần phải thu thập.

    – Nắm vững những thủ thuật nghiên cứu cần thiết và đôi khi xây dựng những

    phương pháp nghiên cứu riêng và những hệ phương pháp để thu thập những sự

    kiện ấy.

    – Phân tích và khái quát những sự kiện thu được, nhà nghiên cứu cần biết loại

    bỏ tất cả cái gì không cần thiết, không quan trọng, giữ lại cái quan trọng, cái bản

    chất.

    1. Các nguyên tắc chỉ đạo việc lựa chọn và sử dụng phương pháp nghiên

    cứu khoa học GDMN:

    a) Phải coi hoạt động là nguồn gốc của toàn bộ nền văn hoá loài người, của

    thế giới tinh thần của con người. Hoạt động là nơi tinh thần, tâm lý thực hiện chức

    năng của chúng đối với cuộc sống thực của con người. Hoạt động cũng chính là

    động lực phát triển tâm lý. Không thể nghiên cứu trẻ em ngoài hoạt động của chính

    bản thân trẻ.

    b) Phải tính đến tính chất tổng thể, hoàn chỉnh, trọn vẹn của đối tượng

    nghiên cứu. Khi nghiên cứu một hiện tượng tâm lý nào đó không được tách nó ra

    khỏi toàn bộ đời sống tâm lý của con người, cũng như khi nghiên cứu một đặc điểm

    nào đó của một loại hiện tượng tâm lý cũng không được tách nó ra khỏi các đặc

    điểm khác. Hơn nữa phải đặt đối tượng nghiên cứu vào trong mối quan hệ với các

    18

    loại hiện tượng khác. V.I. Lênin viết: “Toàn bộ tất cả các mặt của hiện tượng, hiện

    thực và các quan hệ của các mặt ấy đó là cái hợp thành chân lý”.

    c) Muốn thấy được tính chất tổng thể hoàn chỉnh, trọn vẹn của đối tượng

    nghiên cứu, phải xếp hiện tượng nghiên cứu vào hệ thống đó. Cuộc sống của con

    người có nhiều hoạt động. Mỗi hoạt động tương ứng với một động cơ vì vậy con

    người có nhiều động cơ. Do đó cần phải tìm ra hệ thống động cơ và xét động cơ

    nào trong thời điểm nhất định là động cơ chính. Tương tự như vậy, phải tìm ra hệ

    thống mục đích và xem cái nào là chính.

    d) Cần nghiên cứu, xem xét các hiện tượng tâm lý trong sự nảy sinh, biến đổi

    và phát triển của nó. Các hiện tượng tâm lý không bất biến, nghiên cứu một hiện

    tượng tâm lý phải thấy được quá khứ, hiện tại và tương lai của nó. Đồng thời cũng

    phải thấy được tính ổn định của nó trong một thời điểm nhất định, trong những

    điều kiện nhất định.

    2. Các phương pháp nghiên cứu khoa học GDMN

    3.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

    3.1.1. Chức năng:

    Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết có chức năng cơ bản là định hướng

    cho việc nghiên cứu đề tài, vạch con đường tiếp cận đối tượng, chỉ đạo việc lựa

    chọn các phương pháp nghiên cứu cụ thể để khám phá đối tượng. Chức năng thứ

    hai của các phương pháp nghiên cứu lý thuyết là xây dựng hệ thống khái niệm

    khoa học là công cụ nghiên cứu đề tài. Chức năng thứ ba là khái quát những cứ

    liệu khoa học thành những kết luận khoa học, lý thuyết khoa học (ở mức độ cao

    hơn).

    3.1.2. Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết cụ thể

    a) Phương pháp phân tích- tổng hợp lý thuyết

    – Phân tích là thao tác tác đối tượng ra thành nhiều bộ phận, nhiều chi tiết để

    có thể xem xét kỹ lưỡng đối tượng từ nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau.

    – Tổng hợp là thao tác gộp các bộ phận, các chi tiết đã phân tích theo hướng

    nhất định để tạo thành một chỉnh thể, nhờ đó đối tượng được nhìn nhận một cách

    toàn diện và sâu sắc hơn.

    19

    Phân tích- tổng hợp lý thuyết là phương pháp nghiên cứu cơ bản không thể

    thiếu được đối với việc xây dựng những luận cứ khoa học về trẻ em. Phương pháp

    này thường được sử dụng ở bước khởi đầu của việc nghiên cứu lý luận hoặc xây

    dựng cơ sở lý luận cho các nghiên cứu thực tiễn.

    Khi thực hiện phương pháp phân tích- tổng hợp lý thuyết, cần phải:

    – Phân tích mỗi lý thuyết hay trường phái khoa học thành nhiều khía cạnh,

    nhiều thành phần.

    – Tìm hiểu kỹ càng từng thành phần trong cấu trúc của mỗi lý thuyết để chỉ

    ra đặc điểm riêng biệt của nó, xác định sự phát triển của lý thuyết do nhiều thế hệ

    tác giả khác nhau đóng góp mà thành.

    – Tổng hợp lý thuyết theo quan điểm riêng của nhà nghiên cứu, lược bỏ

    những mặt sai lầm, lạc hậu, yếu kém, kế thừa, lĩnh hội những mặt tích cực, tạo ra lý

    luận về đối tượng nghiên cứu, từ đó định hướng cho việc nghiên cứu đề tài.

    b) Phương pháp phân loại và hệ thống hoá lý thuyết

    – Phân loại lý thuyết là sự phân chia các tài liệu nghiên cứu, các lý thuyết

    khoa học đã có về đối tượng nghiên cứu thành các mặt, các đơn vị kiến thức… khác

    nhau dựa trên các dấu hiệu bản chất hay hướng nghiên cứu.

    – Tổng hợp lý thuyết là sự sắp xếp những tài liệu khoa học đã được phân loại

    vào một hệ thống nhất định trên cơ sở một mô hình lý thuyết do người nghiên cứu

    đề xuất.

    Phương pháp phân loại và tổng hợp lý thuyết là hai thao tác luôn đi cùng

    nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Nhờ đó, các tài liệu, lý thuyết khoa học với kết

    cấu phức tạp về mội dung trở nên dễ nhận thấy, dễ sử dụng theo mục đích nghiên

    cứu. Trong nghiên cứu khoa học GDMN, phương pháp phân loại và tổng hợp lý

    thuyết làm cho các lý thuyết khoa học về GDMN mang tính khái quát cao, định

    hướng cho việc nghiên cứu thực tiễn và có tác dụng chỉ đạo hoạt động chăm sócgiáo dục trẻ em.

    c) Phương pháp cụ thể hoá lý thuyết

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Kinh Doanh
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì?
  • Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Khái Niệm Địa Lý Lớp 6 Ở Trường Thcs Ngọc Sơn
  • Chuyên Đề: Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Trực Quan Trong Giảng Dạy Địa Lý 6
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Kinh Doanh
  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục Mầm Non (Dùng Cho Hệ Đào Tạo Từ Xa
  • Tài Liệu Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học.pdf
  • Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Của Khoa Học Luật Hiến Pháp
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Lý
  • Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục

    Khoa học giáo dục nghiên cứu những qui luật của quá trình truyền đạt (người giáo viên) và quá trình lĩnh hội (người học) tức là qui luật giữa người với người, nên thuộc phạm trù khoa học xã hội. Phương pháp của khoa học giáo dục nói riêng và khoa học xã hội nói chung là quan sát, điều tra, trắc nghiệm, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, thực nghiệm…

    Chương I. Những cơ sở chung về khoa học giáo dục và nghiên cứu khoa học

    I. Một số khái niệm

    II. Nghiên cứu khoa học giáo dục

    III. Các lĩnh vực nghiên cứu khoa học giáo dục

    Khoa học giáo dục Việt Nam theo nhiều học giả như GS Dương Thiệu Tống nhận xét là một không gian chưa được nghiên cứu, khoa học giáo dục có rất nhiều lĩnh vực. Một số lĩnh vực cần thiết cần nghiên cứu để phục vụ công tác giáo dục đó là:

    Chương II. Logic tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học

    Nghiên cứu khoa học là một hoạt động được tổ chức đặc biệt, với một lôgic gồm các bước đi nghiêm ngặt. Logíc này được thể hiện ở hai mặt: lôgic tiến trình nghiên cứu và lôgic nội dung công trình nghiên cứu.

    I. Lôgic tiến trình nghiên cứu

    Hiệu quả của nghiên cứu khoa học phụ thuộc rất lớn vào phương diện tổ chức hợp lý các bước thực hiện mà trong tài liệu này gọi là lôgic tiến trình nghiên cứu. Logíc tiến trình nghiên cứu được thực hiện theo các bước sau:

    II. Lôgic nội dung công trình khoa học

    Lôgic nội dung công trình khoa học là trật tự các phần của nội dung luận văn hay báo cáo khoa học. Nội dung của công trình bao gồm các phần sau đây:

    Chương III. Đề tài nghiên cứu và soạn đề cương nghiên cứu

    I. Đề tài khoa học

    II. Đề cương nghiên cứu khoa học

    Khi bắt tay vào nghiên cứu một đề tài khoa học thì thao tác rất quan trọng là phải xây dựng cho được đề cương nghiên cứu. Đề cương nghiên cứu là một văn bản dự kiến các bước đi và nội dung của công trình nghiên cứu. Với những đề tài có tính chất làm kết quả đánh giá một trình độ đào tạo (luận văn, đồ án, lậun án) hay kết thúc một môn học (tiểu luận) thì đề cương nghiên cứu gồm các mục sau đây:

    Chương IV. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục

    I. Những cơ sở chung về phương pháp nghiên cứu khoa học

    II. Các phương pháp nghiên cứu thu thập thông tin

    Chương V. Xử lý thông tin

    II. Qui trình xử lý thông tin

    Chương VI. Công bố và trình bày các kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục

    I. Khái niệm chung

    II. Các loại kết quả nghiên cứu

    III. Trình bày luận văn

    Luận văn là kết quả của toàn bộ nỗ lực trong suốt thời gian học tập. đó sự thể hiện toàn bộ năng lực của người nghiên cứu. Trình bày một luận văn thể hiện ở cấu trúc và văn phong theo những khuôn mẫu nhất định.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, 2007
    • Tác giả: Ts. Nguyễn Văn Tuấn, Đại học sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì?
  • Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Khái Niệm Địa Lý Lớp 6 Ở Trường Thcs Ngọc Sơn
  • Chuyên Đề: Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Trực Quan Trong Giảng Dạy Địa Lý 6
  • Phương Pháp Sử Dụng Kênh Hình Trong Dạy Học Địa Lý 6
  • Đổi Mới Ppdh Toán 6 Thuc Trang Va Giai Phap Phttc Mon Toan 6 Ppt
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục – Kipkis

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Kinh Doanh Của Nguyễn Đình Thọ
  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học – Vũ Cao Đàm, Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học – Lingocard.vn
  • Cấu Trúc Một Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
  • 100+ Đề Tài Mẫu Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Danh Sách Các Đề Tài Khóa 21
  • Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục

    Khoa học giáo dục nghiên cứu những qui luật của quá trình truyền đạt (người giáo viên) và quá trình lĩnh hội (người học) tức là qui luật giữa người với người, nên thuộc phạm trù khoa học xã hội. Phương pháp của khoa học giáo dục nói riêng và khoa học xã hội nói chung là quan sát, điều tra, trắc nghiệm, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, thực nghiệm…

    Chương I. Những cơ sở chung về khoa học giáo dục và nghiên cứu khoa học

    I. Một số khái niệm

    II. Nghiên cứu khoa học giáo dục

    III. Các lĩnh vực nghiên cứu khoa học giáo dục

    Khoa học giáo dục Việt Nam theo nhiều học giả như GS Dương Thiệu Tống nhận xét là một không gian chưa được nghiên cứu, khoa học giáo dục có rất nhiều lĩnh vực. Một số lĩnh vực cần thiết cần nghiên cứu để phục vụ công tác giáo dục đó là:

    Chương II. Logic tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học

    Nghiên cứu khoa học là một hoạt động được tổ chức đặc biệt, với một lôgic gồm các bước đi nghiêm ngặt. Logíc này được thể hiện ở hai mặt: lôgic tiến trình nghiên cứu và lôgic nội dung công trình nghiên cứu.

    I. Lôgic tiến trình nghiên cứu

    Hiệu quả của nghiên cứu khoa học phụ thuộc rất lớn vào phương diện tổ chức hợp lý các bước thực hiện mà trong tài liệu này gọi là lôgic tiến trình nghiên cứu. Logíc tiến trình nghiên cứu được thực hiện theo các bước sau:

    II. Lôgic nội dung công trình khoa học

    Lôgic nội dung công trình khoa học là trật tự các phần của nội dung luận văn hay báo cáo khoa học. Nội dung của công trình bao gồm các phần sau đây:

    Chương III. Đề tài nghiên cứu và soạn đề cương nghiên cứu

    I. Đề tài khoa học

    II. Đề cương nghiên cứu khoa học

    Khi bắt tay vào nghiên cứu một đề tài khoa học thì thao tác rất quan trọng là phải xây dựng cho được đề cương nghiên cứu. Đề cương nghiên cứu là một văn bản dự kiến các bước đi và nội dung của công trình nghiên cứu. Với những đề tài có tính chất làm kết quả đánh giá một trình độ đào tạo (luận văn, đồ án, lậun án) hay kết thúc một môn học (tiểu luận) thì đề cương nghiên cứu gồm các mục sau đây:

    Chương IV. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục

    I. Những cơ sở chung về phương pháp nghiên cứu khoa học

    II. Các phương pháp nghiên cứu thu thập thông tin

    Chương V. Xử lý thông tin

    II. Qui trình xử lý thông tin

    Chương VI. Công bố và trình bày các kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục

    I. Khái niệm chung

    II. Các loại kết quả nghiên cứu

    III. Trình bày luận văn

    Luận văn là kết quả của toàn bộ nỗ lực trong suốt thời gian học tập. đó sự thể hiện toàn bộ năng lực của người nghiên cứu. Trình bày một luận văn thể hiện ở cấu trúc và văn phong theo những khuôn mẫu nhất định.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, 2007
    • Tác giả: Ts. Nguyễn Văn Tuấn, Đại học sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

    “Like” us to know more!

    Knowledge is power

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Vận Dụng Kiến Thức Liên Môn Trong Dạy Học Địa Lí Lớp 6 Ở Trường Thcs Hà Tân
  • Skkn Một Số Phương Pháp Và Kĩ Năng Dạy Bài Thực Hành Ở Bộ Môn Sinh Học 6
  • Đề Tài Một Vài Kinh Nghiệm Trong Giảng Dạy Thí Nghiệm Chương Trình Sinh Học 6
  • Bí Quyết Học Toán Lớp 6
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Và Phát Triển Từ Vựng Cho Học Sinh Lớp 6
  • Giáo Dục Mầm Non Là Gì? Mục Tiêu Và Phương Pháp Nghiên Cứu

    --- Bài mới hơn ---

  • Ứng Dụng Phương Pháp Giáo Dục Tiên Tiến Đổi Mới Tổ Chức Các Hoạt Động Trong Trường Mầm Non
  • 5 Phương Pháp Giảng Dạy Mới Góp Phần Thay Đổi Giáo Dục
  • Vận Dụng Phương Pháp Nêu Gương Của Hồ Chí Minh Vào Giáo Dục Đạo Đức Cho Cán Bộ, Đảng Viên
  • ​hiệu Quả Từ Phương Pháp Nêu Gương
  • Các Phương Pháp Giáo Dục Não Phải : Shichida, Heguru, Glenn Doman
  • 1. Khái niệm giáo dục mầm non là gì?

    Giáo dục học là một khoa học về việc giáo dục con người – có nhiệm vụ chỉ ra bản chất và nêu ra các quy luật của quá trình giáo dục con người; xác định mục tiêu giáo dục; quy định nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức giáo dục cho trẻ em ở các đối tượng khác nhau nhằm đạt được hiệu quả hoạt động tối ưu trong những điều kiện, xã hội nhất định.

    Giáo dục học mầm non là một chuyên ngành của giáo dục học, có nhiệm vụ xây dựng lí luận và tổ chức khoa học quá trình giáo dục trẻ em ở độ tuổi từ 0 – 6 tuổi (trước tuổi đến trường phổ thông).

    Dựa trên cơ sở khoa học mang tính quy luật chung của giáo dục học và tính đến những đặc điểm riêng của sự phát triển tâm sinh lí của trẻ để hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em ở lứa tuổi này, giáo dục học mầm non có nhiệm vụ nghiên cứu, xác định mục tiêu, quy định nội dung, chỉ dẫn phương pháp và các hình thức tổ chức giáo dục trẻ em ở lứa tuổi này một cách khoa học để đạt được hiệu quả giáo dục tối ưu cho trẻ em trong độ tuổi trước tuổi đến trường phổ thông.

    2. Đối tượng của giáo dục mầm non

    Con người là đối tượng của nhiều ngành khoa học (triết học, văn học, sử học, xã hội học, sinh lí học, tâm lí học…) trong đó con người cũng chính là đối tượng của giáo dục.

    Giáo dục học mầm non nghiên cứu bản chất của quá trình giáo dục, quá trình hình thành con người có mục đích, có kế hoạch, một hoạt động tự giác tác động đến việc hình thành nhân cách trẻ em của nhà giáo dục hoặc tổ chức giáo dục.

    Trên cơ sở đó, giáo dục học mầm non xác định mục đích, mục tiêu giáo dục, quy định nội dung, chỉ ra phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục thích hợp nhằm tổ chức tối ưu quá trình hình thành con người trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Vậy đối tượng của giáo dục học mầm non chính là quá trình giáo dục trẻ em từ 0 – 6 tuổi.

    3. Nhiệm vụ của giáo dục mầm non

    Giáo dục học mầm non có nhiệm vụ nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản sau đây:

    • Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục trẻ từ 0 – 6
    • Xây dựng hệ thống các nguyên tắc giáo dục mầm non.
    • Tổ chức các hoạt động giáo dục trong các cơ sở giáo dục mầm non.
    • Tìm ra phương hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình giáo dục trẻ em.

    Ngày nay, đường lối đổi mới giáo dục trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đã vạch ra cho khoa học giáo dục nói chung và giáo dục học nói riêng những nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu phù hợp, đáp ứng các yêu cầu xây dựng và phát triển giáo dục trong giai đoạn mới.

    Theo xu thế phát triển chung, giáo dục học mầm non cần nghiên cứu bổ sung, hoàn chỉnh các vấn đề lí luận cũng như thực tiễn giáo dục mầm non, đảm bảo vừa có giá trị định hướng, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển của hoạt động giáo dục mầm non theo hướng đa dạng hóa, xã hội hóa, tạo điều kiện để hoạt động giáo dục mầm non đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội và có cơ sở, có điều kiện hội nhập, tham gia vào hoạt động giáo dục mầm non trên thế giới và khu vực.

    • Nghiên cứu tổng thể hiện trạng giáo dục mầm non ở từng khu vực để đánh giá chính xác tình hình, có giải pháp từng bước giải quyết các mâu thuẫn, bất cập.
    • Nghiên cứu hoàn thiện mục tiêu giáo dục mầm non, đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn đổi mới.
    • Nghiên cứu nhu cầu của xã hội đối với giáo dục mầm non trong tình hình hiện nay và xu thế phát triển của nó.
    • Nghiên cứu các loại hình giáo dục mầm non, xu thế và khả năng phát triển của loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục ở từng khu vực. Nghiên cứu các mô hình khả thi đặc trưng, thích hợp cho từng vùng, miền.
    • Nghiên cứu các giải pháp phát triển giáo dục mầm non ở thôn thôn, vùng sâu, vùng xa, ưu tiên thiết kế chính sách đảm bảo công bằng xã hội, hỗ trợ người nghèo…
    • Nghiên cứu các điều kiện đảm bảo duy trì và nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
    • Nghiên cứu đổi mới công tác quản lí giáo dục mầm non.
    • Nghiên cứu các giải pháp đào tạo giáo viên nhằm tăng cường số lượng và đảm bảo chất lượng.
    • Xác định rõ những tiêu chí cơ bản trong việc đánh giá, phân loại chất lượng ở mỗi cơ sở giáo dục mầm non của mỗi địa phương theo chuẩn mực quốc gia.
    • Nghiên cứu, bổ sung các thuật ngữ trong giáo dục mầm non.

    Giáo dục mầm non gắn liền và chịu ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triển chung của xã hội, không chỉ vì trẻ em là nguồn nhân lực tương lai của đất nước mà còn vì cha mẹ của các em là nguồn nhân lực trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội.

    Để thực hiện tốt các nhiệm vụ nói trên, giáo dục học mầm non phải dựa trên các thành tựu của khoa học hiện đại nghiên cứu trẻ em dưới 6 tuổi và liên kết phối hợp chặt chẽ với nhiều ngành khoa học khác.

    4. Phương pháp nghiên cứu giáo dục học mầm non

    Giáo dục học mầm non là một khoa học có đối tượng, nhiệm vụ và hệ thống phương pháp nghiên cứu của mình. Khi nghiên cứu giáo dục học mầm non với tư cách là một chuyên ngành của giáo dục học, chúng ta cần sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nói chung, nhưng xuất phát từ đặc điểm của đối tượng, phải đặc biệt chú ý một số phương pháp sau:

    4.1. Phương pháp quan sát sư phạm

    Ví dụ: Quan sát trẻ mẫu giáo trong giờ chơi để thu thập thông tin về hứng thú chơi của trẻ.

    Phương pháp quan sát sư phạm trong giáo dục mầm non được phân thành các loại như sau:

    • Quan sát trực tiếp – quan sát gián tiếp.
    • Quan sát toàn diện – quan sát có bố trí.
    • Quan sát lâu dài – quan sát thời gian ngắn.
    • Quan sát phát hiện – quan sát kiểm nghiệm.

    Muốn quan sát đạt hiệu quả cao cần đảm bảo những yêu cầu:

    • Xác định mục đích quan sát rõ ràng (quan sát để làm gì?)
    • Xây dựng kế hoạch, tiến trình quan sát.
    • Tiến hành quan sát cẩn thận và có hệ thống.
    • Ghi chép khách quan, chính xác (các sự kiện, hiện tượng, số liệu đúng như đối tượng bộc lộ).
    • Lưu giữ tài liệu quan sát phải cẩn thận và thuận tiện sử dụng.

    Phương pháp quan sát sư phạm có khả năng thu thập được nhiều tài liệu cụ thể, sinh động, tự nhiên, làm cơ sở cho quá trình tư duy khoa học.

    Song đây là phương pháp phụ thuộc nhiều vào chủ quan của người quan sát, nếu người quan sát không được trang bị những tri thức cần thiết và kĩ năng sử dụng phương pháp này thì sẽ dẫn tới tình trạng tài liệu thu được thiếu khách quan, không đảm bảo chất lượng.

    4.2. Phương pháp trò chuyện (đàm thoại)

    Trò chuyện là phương pháp đặt ra câu hỏi cho người đối thoại và dựa vào câu trả lời của họ để thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu.

    Ví dụ:Trò chuyện với giáo viên, trò chuyện với trẻ em.

    Trò chuyện được phân thành các loại sau đây:

    Tùy theo mục đích, điều kiện, hoàn cảnh và đặc điểm của đối tượng mà vận dụng các hình thức trò chuyện cho phù hợp. Khi trò chuyện, muốn thu được tài liệu có chất lượng phải tôn trọng các yêu cầu:

    • Xác định rõ mục đích, yêu cầu.
    • Cần tìm hiểu người đối thoại để lựa chọn cách trò chuyện cho phù hợp (hiểu tính cách, hứng thú, năng lực, khí chất, hoàn cảnh…).
    • Cần tạo không khí tự nhiên, thân mật, cởi mở trong khi trò chuyện. Không nhất thiết phải ghi chép các câu trả lời của đối tượng.

    Phỏng vấn cũng là một dạng của đàm thoại, các câu hỏi phải chuẩn bị trước và được hỏi theo một trình tự nhất định, các câu trả lời cần được ghi chép một cách công khai. Trong phỏng vấn người ta dùng cả phương tiện kĩ thuật hiện đại như máy ảnh, máy ghi âm hoặc ghi hình để giữ lại tư liệu nghiên cứu.

    Điều tra là phương pháp dùng một số câu hỏi nhất loạt đặt ra cho một số lượng đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập ý kiến của họ về một vấn đề nào đó. Ý kiến trả lời có thể được viết ra hoặc trình bày bằng miệng do người điều tra ghi lại.

    Điều tra có thể phân loại như sau:

    • Điều tra thăm dò (câu hỏi rộng và nông) nhằm thu thập tài liệu ở mức sơ bộ về đối tượng.
    • Điều tra đi sâu (câu hỏi hẹp và sâu) nhằm khai thác sâu sắc một vài khía cạnh nào đó của đối tượng nghiên cứu.
    • Điều tra bổ sung nhằm thu thập tài liệu bổ sung cho các phương pháp khác.

    Căn cứ vào mục đích, tính chất của việc điều tra, người ta có thể sử dụng nhiều dạng câu hỏi khác nhau:

    • Câu hỏi “đóng”là những câu hỏi có kèm theo phương án trả lời. Người được trưng cầu ý kiến có thể lựa chọn một hoặc một vài phương án phù hợp với nhận thức của mình.
    • Câu hỏi “mở”là những câu hỏi không có phương án trả lời sẵn và người được trưng cầu ý kiến tự trả lời.

    Sử dụng phương pháp điều tra có thể trong một khoảng thời gian ngắn thu thập được ý kiến của nhiều người ở một phạm vi rộng, tuy nhiên độ tin cậy của tài liệu thu được bị hạn chế, bởi vì nó phụ thuộc vào chủ quan của người trả lời.

    Để có tài liệu tương đối chính xác phải điều tra nhiều lần và đảm bảo số lượng người được hỏi đủ lớn. Các câu hỏi cần xây dựng theo một hệ thống, chúng ràng buộc lẫn nhau, kiểm tra lẫn nhau để có thể buộc người trả lời phải bộc lộ ý nghĩ thật của mình.

    4.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

    Tổng kết kinh nghiệm giáo dục là phương pháp đi từ thực tiễn giáo dục, dùng lí luận phân tích thực tiễn, từ phân tích thực tiễn mà rút ra lí luận.

    Trong khoa học giáo dục nói chung và giáo dục học mầm non nói riêng, tổng kết kinh nghiệm, tức là dùng cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối quan điểm giáo dục của Đảng, dùng tri thức về khoa học giáo dục mầm non và các khoa học khác để tìm hiểu, phân tích, đánh giá các kinh nghiệm có tác dụng tích cực trong thực tiễn giáo dục, từ đó rút ra những bài học mang tính lí luận, lí luận đó được chỉ đạo trở lại thực tiễn giáo dục.

    Ví dụ: Kinh nghiệm phòng chống trẻ suy dinh dưỡng ở trường mầm non; kinh nghiệm huy động trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo; kinh nghiệm của các điển hình tiên tiến trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ; kinh nghiệm quản lí của hiệu trưởng trường mầm non.

    Khi sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục cần đảm bảo một số yêu cầu sau:

    • Phát hiện, xác định đúng đối tượng nghiên cứu. Tức là kinh nghiệm có thật và đang tồn tại chứ không phải là những dự định sẽ làm hoặc đã làm nhưng chưa tới mức gọi là kinh nghiệm. Muốn vậy phải kiểm tra kĩ và đánh giá chính xác hiệu quả đã đạt được do kinh nghiệm mang lại.
    • Khi thu thập, xử lí các số liệu phải hết sức khách quan. Muốn vậy phải thu thập, xử lí thông tin từ nhiều nguồn và bằng nhiều phương pháp khác nhau như: Phương pháp trò chuyện, phương pháp quan sát, phương pháp điều tra.
    • Những lí luận tổng kết từ kinh nghiệm cần tiếp tục khẳng định và phát triển, đồng thời phải đem ứng dụng vào thực tế để “nhân”kinh nghiệm bằng cách chỉ đạo điểm hoặc thực nghiệm khoa học.

    4.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

    Nghiên cứu sản phẩm hoạt động là phương pháp tìm hiểu con người thông qua sản phẩm do họ tạo ra.

    Ví dụ: Nghiên cứu sản phẩm nặn, vẽ, xé dán của trẻ mẫu giáo 5 tuổi để hiểu đặc điểm và khả năng sáng tạo của trẻ. Hoặc nghiên cứu sản phẩm của giáo viên mầm non để hiểu về chính họ.

    Khi nghiên cứu sản phẩm hoạt động cần nắm được đầy đủ điều kiện và quá trình hoạt động của con người đưa đến sản phẩm. Tức là chúng ta không chỉ tìm hiểu con người làm ra cái gì, mà quan trọng hơn là làm như thế nào? Bởi vì các sản phẩm và năng lực của con người thường bộc lộ qua những điều kiện và quá trình làm ra sản phẩm.

    4.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

    Thực nghiệm sư phạm là phương pháp nghiên cứu một cách chủ động, có hệ thống một hiện tượng giáo dục nhằm xác định mối quan hệ giữa tác động giáo dục với hiện tượng giáo dục cần được nghiên cứu trong những điều kiện đã được khống chế.

    Nét đặc trưng của phương pháp thực nghiệm sư phạm là nhà nghiên cứu chủ động tạo ra điều kiện nghiên cứu và khi cần thiết có thể lặp lại nhiều lần điều kiện đó.

    Thường có 2 loại thực nghiệm: thực nghiệm tự nhiên và thực nghiệm trong phòng thí nghiệm.

    • Thực nghiệm tự nhiên là những thực nghiệm được tiến hành trong điều kiện bình thường của quá trình sư phạm.
    • Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm là những thực nghiệm được tiến hành trong điều kiện khống chế nhằm xác định mặt định tính, định lượng và bản chất của hiện tượng giáo dục.

    Phương pháp thực nghiệm cho phép người nghiên cứu tìm hiểu sâu bản chất của hiện tượng giáo dục để từ đó phát hiện ra cái mới, nhưng đây là phương pháp đòi hỏi sự chuẩn bị công phu cả về lí luận cũng như công việc và trang thiết bị kĩ thuật khi tiến hành thực nghiệm.

    Thực nghiệm sư phạm có thể được tiến hành theo các bước sau đây:

    Bước 1: Xác định được vấn đề thực nghiệm với mục đích rõ ràng.

    Bước 2: Nêu giả thuyết và xây dựng đề cương thực nghiệm.

    Bước 3: Tổ chức thực nghiệm.

    Gồm các công việc:

    • Chọn mẫu thực nghiệm.
    • Bồi dưỡng cộng tác viên.
    • Theo dõi thực nghiệm: quan sát, ghi chép, đo đạc.

    Bước 4: Xử lí kết quả thực nghiệm, rút ra kết luận khoa học.

    Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển mạnh, nhiều phương tiện kĩ thuật hiện đại được sử dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục. Máy vi tính là một phương tiện hiện đại giúp cho việc xử lí kết quả thực nghiệm nhanh, chính xác và tiện lợi.

    Yêu cầu nghiêm ngặt của thực nghiệm sư phạm là khi tiến hành thực nghiệm sư phạm, không được làm đảo lộn hoạt động bình thường của quá trình sư phạm, và chỉ tiến hành trong những điều kiện và tiêu chuẩn nghiêm ngặt với luận cứ khoa học để đảm bảo việc đưa những cái mới đã được kiểm tra vào quá trình sư phạm.

    Bài viết trên đã cung cấp cho bạn đầy đủ những thông tin hữu ích nhất về khái niệm giáo dục mầm non là gì, mục tiêu, nhiệm vụ và các phương pháp nghiên cứu giáo dục mầm non. Nếu còn bất cứ thắc mắc nào hãy liên hệ với chúng tôi theo hotline: 0915 686 999 hoặc email qua địa chỉ: [email protected] để được tư vấn và giải đáp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Năm Phương Pháp Giáo Dục Trẻ Mầm Non Nổi Tiếng Trên Thế Giới
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Mầm Non
  • Những Biện Pháp Hay Về Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mầm Non
  • Giáo Dục Lối Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Giáo Dục Đạo Dức Lối Sống Cho Học Sinh Tiểu Học Có Tư Liệu Minh Học
  • Đào Tạo Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Khoa Học: Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Ở Việt Nam…
  • Ngành Ngôn Ngữ Trung Quốc Là Gì? 29+ Trường Đại Học Đào Tạo Ngành Ngôn Ngữ Trung Quốc
  • Khoa Học Luật Hành Chính Và Môn Học Luật Hành Chính Việt Nam
  • Những Quan Trọng Về Nghiên Cứu Khoa Học
  • Đề Cương Ôn Thi Môn Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
  • Để cán bộ quản lý ở cơ sở có thể làm được điều đó, thì họ cần được trang bị công cụ. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục chính là công cụ để đưa ra chứng cứ làm cơ sở cho mọi quyết định chính sách. Hiện nay trên thế giới người ta phải dựa vào bằng chứng để làm chính sách, gọi là “evidence based policies”. Những bằng chứng thuyết phục thường xuất phát từ nghiên cứu khoa học. Trong y khoa hiện nay, giới nghiên cứu hiểu rất rõ thực hành y khoa cần phải dựa vào bằng chứng, và bằng chứng chỉ có thể tin cậy nếu rút ra từ nghiên cứu. Giáo dục cũng không khác, vì là một lĩnh vực có ảnh hưởng đến nhiều người và nhiều thế hệ, nên nhu cầu chứng cứ rất quan trọng. Y học thực chứng (evidence- based medicine) đã trở thành kim chỉ nam cho thực hành y khoa và chính sách y tế công cộng, nhưng trong lĩnh vực giáo dục, thì giáo dục thực chứng (evidence-based education) chưa được chú ý đúng mức. Bài viết này bàn về mục tiêu, nội dung và ý nghĩa việc đào tạo phương pháp khoa học giáo dục cho cán bộ quản lý giáo dục, nhằm đẩy mạnh những nỗ lực cải cách trong giáo dục.

    Từ thực tế hiện nay

    Có thể nêu lên vài hiện trạng để thấy bức tranh thực tế ở cấp chính sách: (i) Vấn đề biên soạn chương trình và sách giáo khoa hiện nay chủ yếu đang là công việc thuần túy lý thuyết của một nhóm chuyên gia, mà chưa có thực nghiệm nhằm khảo sát đánh giá tác động của nó trong thực tế đối với người học và dựa trên kết quả này để điều chỉnh nội dung, chương trình và sách giáo khoa cho phù hợp; (ii) Việc thiết kế đề thi năm nào cũng có vài trục trặc và sự cố, gây hoang mang cho không ít học sinh và phụ huynh. (iii) Nhiều câu hỏi đang đặt ra: Có nên tiếp tục duy trì kỳ thi tốt nghiệp phổ thông? Có nên tổ chức kỳ thi đại học “ba chung”? Lấy chỉ tiêu gì để đánh giá chất lượng giáo dục trong bối cảnh Việt Nam? Phân tầng đại học cần dựa trên tiêu chí gì và cơ sở khoa học của những tiêu chí ấy là gì? Những câu hỏi như vậy, không thể có câu trả lời khách quan mà không dựa trên bằng chứng khoa học, tức là dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học. Có lẽ một phần do thiếu chứng cứ khoa học, nên nhiều chính sách hay đề xuất được đưa ra phần nhiều chỉ dựa trên kinh nghiệm cá nhân hay thậm chí cảm tính. Ở cấp nhà trường, thì việc ra quyết định dựa trên các dữ liệu nghiên cứu lại càng hiếm hoi.

    Trong lúc đó, chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý trường phổ thông ở bậc sau đại học đều có bao gồm học phần về nghiên cứu khoa học giáo dục. Vì sao việc đào tạo chính quy về PPNCKHGD trong thực tế đã không giúp giải quyết được những bất cập nêu trên?

    Học phần này có các nội dung chính như sau:

      Khái niệm và cách phân loại

      2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

      3. Phương pháp chuyên gia

      4. Phương pháp quan sát

      5. Phương pháp điều tra – khảo sát

      6. Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động

      7. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

    Tuy nhiên, nội dung giảng dạy bộ môn này chủ yếu tập trung vào những phương pháp nghiên cứu cụ thể và các kỹ năng để thực hiện hoạt động nghiên cứu mặc dù phần thực hành rất ít. Mục đích của học phần này trong thực tế là để giúp học viên thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp. Trong lúc đó, bộ môn này cần được xem như một môn công cụ, và cần được vận dụng thường xuyên trong thực tiễn làm việc sau này của người quản lý. Nhìn từ khía cạnh này sẽ thấy việc đào tạo PPNCKHGD hiện nay thiếu hẳn một phần rất quan trọng là phương pháp luận của NCKHGD.

    Trước hết cần thay đổi quan niệm và nhận thức về ý nghĩa của bộ môn PPNCKHGD trong chương trình đào tạo cán bộ quản lý giáo dục. Chương trình này nhằm đào tạo ra không chỉ những người nghiên cứu chuyên nghiệp mà còn là những người thực thi nghề nghiệp quản lý giáo dục (practitioner). Do vậy, bộ môn PPNCKHGD không nên được xem là chỉ phục vụ cho những người chọn trở thành người nghiên cứu chuyên nghiệp, mà còn phục vụ cho công việc hàng ngày của người cán bộ quản lý giáo dục, như sẽ trình bày trong phần tiếp theo.

    Xác định lại vai trò của NCKHGD trong thực tiễn quản lý giáo dục

    Edward Vockell cho rằng nghiên cứu giáo dục là ứng dụng những phương pháp khoa học hay những hình thức khác của việc tìm tòi tri thức chuyên môn vào thực tiễn hoạt động giáo dục. Các nhà nghiên cứu giáo dục tìm kiếm mối quan hệ giữa những tham tố khác nhau trong giáo dục. Thông qua quan sát và kết luận về mối liên hệ giữa các tham tố đó, họ đề nghị những cách lựa chọn hiệu quả hơn cho các giáo viên, những người thiết kế chương trình, và những người quản lý lãnh đạo trong việc tác động vào thực tiễn giáo dục. Những công trình nghiên cứu có hiệu quả sẽ giúp nâng cao chất lượng của các quyết định về giáo dục.

    Nghiên cứu giáo dục không chỉ là một khoa học trừu tượng. Nó là một công cụ hữu ích để giải quyết những vấn đề thực tế. Nó giúp các nhà giáo dục xác định những kết quả cần đạt, tạo ra các dự đoán, xây dựng những mối quan hệ nhân quả. Tất cả mọi quá trình ra quyết định trong giáo dục đều dựa trên các giả thiết nhân quả. Nhà quản lý ra quyết định thế này thay vì thế khác là vì có lý do để tin rằng quyết định như thế sẽ dẫn tới kết quả tốt hơn. Nhiều khi những quyết định này dựa trên phong tục tập quán, dựa trên thẩm quyền, dựa trên định kiến hay một số nhân tố khác mà ít khi dựa trên khảo sát dữ liệu một cách có hệ thống. Những nhân tố như trực giác của người thầy và người thiết kế chương trình, những suy tư triết lý, và những giới hạn của luật pháp, tất cả đều có một vai trò chính đáng trong quá trình ra quyết định. Tuy vậy, nói một cách đơn giản, những quyết định dựa trên những kết luận và khái quát hóa sâu sắc thì nhiều khả năng là đúng đắn hơn so với những quyết định dựa trên các khái quát nhầm lẫn (Sđd).

    Không chỉ các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp mới cần có kỹ năng nghiên cứu và thực thi việc nghiên cứu. Bằng cách vận dụng những chiến lược nghiên cứu giáo dục phù hợp, các thầy giáo và các nhà quản lý giáo dục có thể trở thành những người suy nghĩ sâu sắc hơn và được hưởng nhiều lợi ích hơn từ những kinh nghiệm cá nhân của họ. Luôn luôn xử sự trong công việc như một người quan sát có hệ thống và phần nào như một nhà nghiên cứu, tức luôn luôn tìm cách nắm bắt bản chất của vấn đề, mối liên hệ giữa các hiện tượng, tính xác đáng của các kết luận, là cách để chúng ta làm công việc của mình ngày càng có hiệu quả tốt hơn. Nói một cách vắn tắt, PPNCKHGD là công cụ giúp chúng ta tư duy tốt hơn về thực tiễn giáo dục.

    Hơn thế nữa, sự hiểu biết về PPNCKHGD và sự quen thuộc với cách tư duy này sẽ giúp các nhà quản lý đánh giá nhanh chóng và chính xác tầm quan trọng của các báo cáo kết quả nghiên cứu về giáo dục, cũng như có thể nắm bắt và diễn giải được ý nghĩa của các kết quả nghiên cứu ấy, và tận dụng những lợi ích mà các bài viết, bản báo cáo ấy có thể mang lại.

    Tất nhiên, kết quả có được từ nghiên cứu giáo dục không phải là căn cứ duy nhất để đưa ra quyết định, ở cấp nhà trường cũng như ở cấp chính sách. Có nhiều vấn đề cần được giải quyết bằng nhiều cách khác hơn là nghiên cứu. Ví dụ, có nên đưa chương trình giáo dục giới tính vào nhà trường hay không, là một quyết định phải được chủ yếu dựa trên triết lý giáo dục, khuôn khổ pháp lý hay những cân nhắc về mặt xã hội hơn là chỉ đơn thuần dựa trên những thông tin nghiên cứu. Tuy vậy, điều này không phủ nhận tầm quan trọng của NCKHGD trong thực tiễn giáo dục và quản lý giáo dục.

    Đề xuất đổi mới việc đào tạo PPNCKHGD

    Từ các phân tích trên chúng tôi cho rằng cần bổ sung vào chương trình hiện hành:

    • Phương pháp luận về NCKHGD
    • Hướng dẫn cách tìm kiếm tư liệu, giới thiệu các nguồn tư liệu trong nước và quốc tế và cách thức hệ thống hóa tư liệu
    • Kiến thức cơ bản về xử lý thống kê và một số phần mềm thông dụng (R hoặc SPSS)
    • Tăng cường thực hành
    • Xây dựng những nguồn tài nguyên trực tuyến về KHGD được sắp xếp một cách hệ thống.
    1. Edward Vockell (2004) Educational Research.

      Nguồn:http://education.calumet.purdue.edu/vockell/research/

    2. Phạm Thị Ly, Nguyễn Văn Tuấn (2012). Khoa học giáo dục Việt Nam qua phân tích ấn phẩm khoa học 1996-2010. Báo cáo tại Hội nghị Quốc tế Việt Nam học Lần thứ tư, 27- 11-2012.
    3. D. Hien (2010). A comparative study of research capabilities of East Asian countries and implications for Vietnam. Higher Education. 2010;60:615-25.
    4. The Impact of Educational Research: An Overview (2000). Higher Education Division Department of Education, Training and Youth Affairs, Australia. (Chương 1, trang 1-23: Biblio/Sciento/Infor-metrics:Terminological Issues and Early Historical Developments)

    Ly Pham

    What you see depends on where you stand (Albert Einstein).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Lý Thuyết
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Kinh Doanh Thiết Kế Và Thực Hiện
  • Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Kinh Tế
  • Tổng Hợp Các Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Kế Toán
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Khoa Học Xã Hội Và Khoa Học Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Ở Việt Nam: Những Con Số Giật Mình
  • Cách Ghi Phương Pháp Nghiên Cứu Chuyên Đề Môn Học Iuh
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Kinh Tế
  • Htkh_Khoa Kế Toán: “những Vấn Đề Mới Về Kế Toán, Kiểm Toán: Lý Thuyết, Thực Tiễn & Phương Pháp Nghiên Cứu”
  • Sách Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Trong Kinh Doanh
  • Phương pháp Nghiên cứu trong Khoa học Xã hội và Khoa học Giáo dục – Năm 2012

    Chuỗi chuyên đề đào tạo 100% học bổng về:

    “Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Khoa Học Xã Hội và Khoa Học Giáo dục” – Năm 2012

    Vài thông tin của chương trình: Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục (Viện IRED), Trung tâm Phát triển Năng lực Lãnh đạo và Thay đổi Châu Á Thái Bình Dương (APCLC) thuộc Viện Giáo dục Hồng Kông, cùng với Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam (VDIC) – Ngân hàng Thế Giới (WB)

    • Giảng viên phụ trách: GS Philip Hallinger – Viện Giáo Dục Hong Kong
    • 3 buổi – 25/10/2012, 15/11/2012, và 11/12/2012 (13:30 – 17:00)
    • Địa điểm: 178 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, TP. HCM (đối với học viên tại TP. HCM) Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam (VDIC), lầu 2, 63 Lý Thái Tổ, Hà Nội (đối với học viên tại Hà Nội)
    • Ngôn ngữ: Song ngữ, Anh-Việt
    • Học phí: Học bổng toàn phần được trao tặng đến số lượng giới hạn những giảng viên đại học, nghiên cứu viên, và sinh viên sau đại học phù hợp nhất với tiêu chí của chương trình.
    • Đối tượng tham dự : Giáo sư/giảng viên của các trường đại học, nghiên cứu viên của các viện/trung tâm nghiên cứu, cũng như các nghiên cứu sinh tiến sĩ và học viên sau đại học mong muốn nâng cao kỹ năng nghiên cứu trong khoa học xã hội và khoa học giáo dục.
    • Mục tiêu của chương trình:

      • Truyền tải đến những người tham dự những kiến thức, nhận thức cốt lõi, và một số kỹ năng để thực hiện đề tài nghiên cứu thành công và công bố kết quả nghiên cứu này;
      • Kết nối những người đang và sẽ theo đuổi công tác nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khoa học xã hội khác nhau và tạo điều kiện để học viên tiếp cận với các phương pháp nghiên cứu và cách tư duy, và nâng cao kỹ năng công bố kết quả nghiên cứu thành công trong các tập san khoa học uy tín quốc tế;
      • Khuyến khích cơ hội đối thoại, học hỏi và cùng nhau bàn luận về những khó khăn, thách thức mà các nhà nghiên cứu và những người làm giáo dục Việt Nam đang đối mặt.
    • Phương thức giảng dạy:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Bước Làm Bài Nghiên Cứu Khoa Học
  • Hướng Dẫn Làm Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục Chất Lượng
  • Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục
  • Chương 2 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Pgs. Ts. Nguyễn Bảo Vệ Và Ths. Nguyễn Huy Tài, Trường Đại Học Cần Thơ (Đhct
  • 100 Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Chi Tiết Học Phần: Phương Pháp Luận Trong Nghiên Cứu Khoa Học Mã Số: Nn601
  • Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
  • Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Du Lịch
  • Nghiên Cứu Khoa Học Sư Phạm Ứng Dụng
  • Hệ Thống Danh Bạ Trường Học Việt Nam
  • Rate this post

    100 Đề tài nghiên cứu khoa học mầm non

    1. Chủ đề châu Phi – Châu Phi có rất nhiều điều để học hỏi. Có rất nhiều thứ để tìm hiểu về thực phẩm, con người và động vật và hãy nên bắt đầu từ các trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ở nơi đây để dạy các em mầm non biết quý trọng những gì mình đang có.
    2. Chủ đề miêu tả tất cả về bản thân – Trẻ em, giống như người lớn, thích nói về bản thân. Trẻ em có thể tìm hiểu về các tính cách và điểm mạnh của riêng mình.
    3. Chủ đề bảng chữ cái – Một lý do hoàn hảo để dạy các em có thể phát âm đúng bảng chữ cái. Kết hợp một số bài hát hoặc bài thơ nói về bảng chữ cái trong đề tài nghiên cứu là một ý tưởng không nên bỏ qua.
    4. Chủ đề Mỹ – Cả Bắc và Nam Mỹ cung cấp rất nhiều nguồn văn hóa, thời tiết, ngày lễ, động vật, v.v.
    5. Chủ đề nghiên cứu sách – Tất cả sách đều là một kho tàng các kỹ năng xã hội, cảm xúc, kiến thức. Giúp trẻ mầm non quý trọng sách và tạo thói quen là một ý tưởng để tạo nền tảng cho một xã hội phát triển sau này.
    6. Chủ đề động vật – Rất nhiều lựa chọn: bắt chước các động vật, tìm hiểu về môi trường sống, đọc một số trong hàng triệu cuốn sách có sự tham gia của động vật, nói về các kích cỡ khác nhau, nghe âm thanh động vật quý hiếm hoặc tạo ra một nghề! Bạn có thể bắt đầu với con vật yêu thích của lớp bạn và bắt đầu từ đó.
    7. Chủ đề con Nhện – Nghiên cứu nhện , bọ cạp hoặc các sinh vật tám chân khác và chúng khác với bọ như thế nào. Chơi trò chơi thú vị này bằng hình ảnh của những con nhện thực sự sẽ tạo ra sự hào hứng với mọi người.
    8. Chủ đề Bắc Cực hoặc Nam Cực – Tập hợp để tìm hiểu về những nơi khắc nghiệt của thế giới và những động vật sống ở đó. Chủ đề này là một thời gian thú vị để sử dụng các trò chơi hoặc tìm thấy rất nhiều ý tưởng trong kế hoạch bài học ở Bắc Cực này.
    9. Chủ đề Úc – Kanguru và gấu túi, đây là một lục địa khác có hàng tấn động vật độc đáo và thực phẩm vui nhộn.
    10. Chủ đề bãi biển – Nếu bạn đủ may mắn để sống ở một khu vực ven biển, đây là một cơ hội hoàn hảo cho một chuyến đi thực địa! Nếu không, bạn có thể thực hiện một trò chơi cảm giác giống như cát bãi biển. Nói về các sinh vật độc đáo và các kết cấu khác nhau. Cũng là một thời gian tuyệt vời cho một chai khám phá sinh vật đại dương.
    11. Chủ đề Gấu – Chủ đề nghiên cứu khoa học mầm non này là một chiến thắng chắc chắn! Những con vật này sống ở khắp nơi trên thế giới, vì vậy bạn có thể sử dụng nó để kết hợp mọi thứ từ địa lý đến màu sắc
    12. Chủ đề con Ong – Một trong những công nhân chăm chỉ nhất hành tinh, người giúp chăm sóc một số cây và hoa quan trọng nhất của chúng ta.
    13. Chủ đề về loài chim – Một nghiên cứu hoàn hảo cho những con chim trong khu vực của bạn và rất có thể bạn có thể thấy một số tổ của chúng nếu bạn làm điều đó vào đúng thời điểm trong năm.
    14.  Chủ đề  cắm trại – Đây là một lý do tuyệt vời để kéo ra đèn pin và nói về việc qua đêm giữa thiên nhiên. Biến khu vực chơi kịch tính của bạn trong một khu cắm trại.
    15. Chủ đề Tết Nguyên Đán – Các Tết Nguyên Đán, một trong những lễ hội nổi tiếng nhất trên thế giới, xảy ra mỗi năm trong giai đoạn 21 tháng 1 – ngày 20 tháng 2 ngày hàng năm. Đây là thời gian đặc biệt để các gia đình quây quần bên nhau và thờ cúng các vị thần và tổ tiên, cũng như rất nhiều phong tục văn hóa vui nhộn khác.
    16. Chủ đề Màu sắc – Xác định màu sắc, tìm hiểu về màu chính và phụ và pha các màu với nhau để tìm hiểu điều gì xảy ra khi chúng trộn lẫn!
    17. Chủ đề nấu ăn – Làm bánh mì trong túi, kem tự làm, một bữa ăn nhẹ cho thời gian uống trà, hoặc bất cứ điều gì khác khiến trẻ hào hứng với nhà bếp.
    18. Chủ đề Sức khỏe Nha khoa – Tháng sức khỏe nha khoa là vào tháng Hai, và đây là một tháng tuyệt vời để nói về việc làm sạch răng và loại thực phẩm nào tốt cho chúng
    19. Chủ đề sa mạc – Cuộc sống sa mạc nóng bỏng và đầy những sinh vật độc đáo như rùa sa mạc và thực vật như cây xương rồng gai.
    20. Chủ đề Ngày Trái đất – Ngày Trái đất là một cách để kết hợp việc tìm hiểu về thiên nhiên, tái chế và chăm sóc thế giới của chúng ta vào kế hoạch bài học của bạn.
    21. Chủ đề cảm xúc – Chủ đề mầm non này rất tốt cho sự phát triển xã hội cảm xúc và có thể được thực hiện bất cứ lúc nào trong năm.
    22. Chủ đề Châu Âu – Lâu đài, lịch sử, truyền thống, ngôn ngữ, văn hóa và ngày lễ, Châu Âu có tất cả!
    23. Chủ đề trang trại
    24. Chủ đề an toàn cháy nổ
    25. Chủ đề về cá
    26. Chủ đề về hoa
    27. Chủ đề tình bạn
    28. Chủ đề Trái cây và Rau quả
    29. Chủ đề vườn
    30. Chủ đề Địa lý
    31. Chủ đề môi trường sống
    32. Chủ đề Halloween
    33. Chủ đề nóng và lạnh
    34. Chủ đề kem
    35. Chủ đề về lòng tốt
    36. Chủ đề về những chiếc Lá
    37. Chủ đề Nam châm
    38. Chủ đề quái vật
    39. Chủ đề mặt trăng
    40. Chủ đề âm nhạc
    41. Chủ đề thiên nhiên
    42. Chủ đề động vật về đêm
    43. Chủ đề năm mới
    44. Chủ đề số
    45. Chủ đề dinh dưỡng
    46. Chủ đề Thế vận hội
    47. Chủ đề đối lập
    48. Chủ đề không gian bên ngoài
    49. Vẽ tranh
    50. Chủ đề yêu nước
    51. Chủ đề chim cánh cụt
    52. Chủ đề cho thú cưng
    53. Chủ đề dã ngoại
    54. Chủ đề Cướp biển
    55. Chủ đề Thực vật và Vòng đời
    56. Chủ đề Động vật Bắc Cực
    57. Chủ đề bí ngô
    58. Chủ đề Nữ hoàng và Vua
    59. Mưa
    60. Chủ đề cầu vồng
    61. Chủ đề tái chế
    62. Chủ đề động vật bò sát
    63. Chủ đề gieo vần
    64. Robots
    65. Chủ đề đá
    66. Chủ đề Hội chợ Khoa học
    67. Các Mùa trong năm
    68. Chủ đề hạt giống
    69. Chủ đề hình dạng
    70. Chủ đề cá mập
    71. Vỏ 
    72. Chủ đề tuyết
    73. Chủ đề thể thao
    74. Chủ đề mùa xuân
    75. Chủ đề sóc
    76. Chủ đề mùa Hè
    77. Chủ đề tiệc trà
    78. Chủ đề gấu bông
    79. Chủ đề Lễ Tạ ơn
    80. Thời gian
    81. Chủ đề xe lửa
    82. Chủ đề giao thông
    83. Chủ đề du lịch
    84. Cây cối
    85. Chủ đề kỳ lân
    86. Chủ đề biển
    87. Chủ đề bác sĩ thú y
    88. Chủ đề núi lửa
    89. Chủ đề thời tiết

    Hy vọng 100 đề tài nghiên cứu khoa học mầm non trên đã gợi ý cho bạn có được những ý tưởng sáng tạo hay dành cho các em!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Đề Tài Nghien Cứu Khoa Học Mầm Non Cho Trẻ 5 – 6 Tuổi
  • Bài Tập Nghiên Cứu Khoa Học
  • Danh Sách Các Đề Tài Khóa 21
  • 100+ Đề Tài Mẫu Môn Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Cấu Trúc Một Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học
  • Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Làm Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục Chất Lượng
  • Các Bước Làm Bài Nghiên Cứu Khoa Học
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Khoa Học Xã Hội Và Khoa Học Giáo Dục
  • Nghiên Cứu Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Ở Việt Nam: Những Con Số Giật Mình
  • Cách Ghi Phương Pháp Nghiên Cứu Chuyên Đề Môn Học Iuh
  • 1. Khái niệm nghiên cứu khoa học giáo dục

    Nghiên cứu khoa học

    Nghiên cứu có hai dấu hiệu

    Nghiên cứu khoa học giáo dục

    Nghiên cứu khoa học

    Kho tàng tri thức của loài người ngày một nhiều là do các thế hệ con người nối tiếp nhau làm nên, trong đó, chủ yếu là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học. Vậy, nghiên cứu khoa học là gì?

    Nghiên cứu là một cô mang tính chất tìm tòi, xem xét cặn kẽ một vấn đề nào đó để nhận thức nó hoặc để giảng giải cho người khác rõ. Ví dụ: nghiên cứu một bài toán, nghiên cứu một câu nói để hiểu nó, nghiên cứu bảng giờ tàu để tìm chuyến đi thích hợp cho mình.

    Nghiên cứu có hai dấu hiệu

      Con người làm việc (tìm kiếm) tự lực (cá nhân hoặc nhóm)
      Tìm ra cái mới cho chủ thể, cho mọi người.

    Nếu đối tượng của công việc là một vấn đề khoa học thì công việc ấy gọi là nghiên cứu khoa học. Nếu con người làm việc, tìm kiếm, tuy xét một vấn đề nào đó một cách có phương pháp thì cũng có thể gọi là nghiên cứu khoa học.

    Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật (tự nhiên, xã hội, con người), nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, đồng thời sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng.

    Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới.

    Nghiên cứu khoa học, theo Dương Thiệu Tống là một hoạt động tìm hiểu có tính hệ thống đạt đến sự hiệu biết được kiểm chứng. Nó là một hoạt động nỗ lực có chủ đích, có tổ chức nhằm thu thập những thông tin, xem xét kỹ, phân tích xếp đặc các các dữ kiện lại với nhau rồi rồi đánh giá các thông tin ấy bằng con đường qui nạp và diễn dịch.

    Cũng theo những quan điểm trên, Vũ Cao Đàm cho rằng nghiên cứu khoa học nói chung là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới đó là:

    • Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật và hiện tượng
    • Phát hiện qui luật vận động của sự vật và hiện tượng
    • Vận dụng qui luật để sáng tạo giải pháp tác động lên sự vật hiện tượng.

    Nghiên cứu khoa học là một quá trình sử dụng những phương pháp khoa học, phương pháp tư duy, để khám khá các hiện tượng, phát hiện qui luật để nâng cao trình độ hiểu biết, để giải quyết những nhiệm vụ lý luận hay thực tiễn, các đề xuất trên cơ sở kết quả nghiên cứu.

    Nghiên cứu khoa học giáo dục

    Nghiên cứu khoa học giáo dục là một hoạt động nghiên cứu khoa học đặc thù trong lĩnh vực giáo dục. Nó là một hoạt động có tính hệ thống, xuất phát từ khó khăn trong hoạt động giáo dục hay từ nhu cầu nhận thức hoạt động giáo dục nào đấy, cố gắng hiểu biết nhằm tìm ra được cách giải thích sâu sắc về cấu trúc và cơ chế cùng biện chứng của sự phát triển của một hệ thống giáo dục nào đó hay nhằm khám phá ra những khái niệm, những qui luật mới của thực tiễn giáo dục mà trước đó chưa ai biết đến.

    Sản phẩm của nghiên cứu khoa học giáo dục là những hiểu biết mới về họt động giáo dục (những chân lý mới, những phương pháp làm việc mới, những lý thuyết mới, những dữ báo có căn cứu). Nghiên cứu có nghĩa là tìm tòi: người nghiên cứu đi tìm cái mới (đã có trong thực tiễn hay tạo ra trong những kinh nghiệm có hệ thống và tập trung). Theo nghĩa đó, một công trình chỉ tập hợp các thông tin đã có sẵn không phải là một sản phẩm của nghiên cứu khoa học.

    Hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục là hoạt động sáng tạo: sáng tạo ra tri thức mới, kinh nghiệm mới, phương pháp mới giáo dục.

    Những công việc chủ yếu của nghiên cứu khoa học nói chung

    (1) Thu thập dữ liệu:

    (2) Sắp xếp dữ liệu:

    Qua nh ững hoạt động nghiên cứu ban đầu, ta thu được rất nhiều dữ liệu. Cần sắp xếp chúng lại theo hệ thống, thứ, loại, thậm chí có thể sàng lọc bớt những dữ liệu không cần thiết hoặc quyết định bổ sung thêm dữ liệu mới để công việc cuối cùng được đơn giản hơn.

    (3) Xử lí dữ liệu:

    Ðây là công vi ệc quan trọng nhất, giá trị nhất của nghiên cứu khoa học. Một lần nữa, nhà nghiên cứu phải phân tích các dữ liệu để có thể đoán nhận, khái quát hóa thành kết luận. Nếu dữ liệu là những con số, cần xử lí bằng thống kê, rút ra kết quả từ các đại lượng tính được. Tư duy khoa học bắt từ đây.

    (4) Khái quát hóa toàn bộ công trình, rút ra kết luận chung cho đề tài nghiên cứu

    1. GS. TS. Dương Thiệu Tống: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và tâm lý. Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2005, trang 22 ff.
    2. Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nhà xuất bản Giáo dục, 1997, trang 23
    3. GS. TS. Dương Thiệu Tống: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và tâm lý, nhà xuất bản khoa học xã hội, 2005, trang 22 ff.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, 2007
    • Tác giả: Ts. Nguyễn Văn Tuấn, Đại học sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương 2 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Pgs. Ts. Nguyễn Bảo Vệ Và Ths. Nguyễn Huy Tài, Trường Đại Học Cần Thơ (Đhct
  • . Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Sơ Lược Về Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Cách Tiếp Cận
  • Phương Pháp Dạy Học Sinh Yếu Kém Môn Vật Lí Thpt
  • Phương Pháp Giáo Dục Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Phương Pháp Giáo Dục Mầm Non Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
  • Trang Bị Kỹ Năng Sống Cho Con Với Phương Pháp Giáo Dục Mầm Non Hiện Đại
  • Đánh Thức Năng Lực Tiềm Ẩn Của Trẻ Bằng Giáo Dục Não Phải
  • 10 Quy Tắc Vàng Để Phát Triển Não Phải
  • Phương Pháp Giáo Dục Giới Tính Cho Trẻ Em Ở Nước Ngoài
  • 1. Phương pháp giáo dục nhà trẻ

    1.1. Phương pháp giáo dục tình cảm:

    Cô giáo dùng cử chỉ âu yếm, vỗ về, vuốt ve, gần gũi cùng với những điệu bộ , nét mặt, lời nói để tạo cho trẻ những cảm xúc gần gũi, tin tưởng, thân thiện, thỏa mãn được nhu cầu giao tiếp, gắn bó, tiếp xúc với người thân và mọi người xung quanh.

    Cô đang âu yếm trò chuyện với trẻ

    1.2. Phương pháp dùng lời nói: (kể chuyện , trò chuyên, giải thích)

    Các cháu tập trung nghe cô kể chuyện

    Là phương pháp dùng lời nói, lời kể diễn cảm, câu hỏi gợi mở sử dụng một cách phù hợp với điệu bộ, cử chỉ nhằm động viên khuyến khích cho trẻ mạnh dạng giao tiếp với đồ vật, với mọi người xung quanh. Tạo tình huống thích hợp để trẻ bộc lộ ý muốn chia sẽ những cảm xúc với người khác bằng lời nói hành dộng cụ thể. Thông qua đó ngôn ngữ của trẻ được phát triển mạch lạc hơn, trôi chảy hơn.

    Dùng các phương tiện trực quan (vật thật, đồ chơi, tranh ảnh, phim ảnh) hành động làm mẫu với lời nói và cử chỉ, cho trẻ quan sát nói và làm theo, rèn luyện sự nhạy cảm của các giác quan trong cơ thể của bé.

    1.4. Phương pháp thực hành:

    Hành động, thao tác với đồ vật đồ chơi, dụng cụ đơn giản phù hợp với mục đích và nội dung giáo dục. Trẻ cùng cô quan sát, thao tác với đồ vật như sờ mó, cầm nắm, mở đóng, chồng lên và phân loại vật dụng với nhau.

    Sử dụng các yếu tố chơi, các trò chơi thích hợp để kích thích trẻ hoạt động , mở rộng hiểu biết về môi trường xung quanh đồng thời phát triển về lời nói, sự tư duy của trẻ.

    Các cháu đang chơi trò đóng kịch trong hoạt động học

    1.6 Luyện tập:

    cho trẻ thực hiện lặp lại nhiều lần các câu nói , động tác, những cử chỉ, điệu bộ phù hợp với nội dung yêu cầu giáo dục và sự hứng thú của trẻ.

    Người lớn tỏ thái độ đồng tình, khích lệ những việc làm, những lời nói, hành vi tốt của trẻ. Ở lứa tuổi trẻ nhỏ khen, nêu gương, khích lệ trẻ làm được những việc tốt là chủ yếu, đồng thời phải hướng dẫn, chỉ những điều chưa tốt cho trẻ hiểu và tiếp thu, phải thực hiện nhẹ nhàng tránh những cử chỉ thô bạo như la mắng, nói những lời thô tục như vậy trẻ sẽ học theo những điều xấu.

    2. Phương pháp giáo dục mẫu giáo

    Tương tự các phương pháp giáo dục ở lứa tuổi nhà trẻ, phương pháp giáo dục mẫu giáo yêu cầu nâng cao hơn

    2.1 Phương pháp thực hành

    Phương pháp thao tác với đồ vật, đồ chơi là cho trẻ phối hợp các giác quan, hành động với đồ vật, đồ chơi nhằm cung cấp các kinh nghiệm cảm tính và rèn luyện thao tác tư duy.

    Phương pháp dùng trò chơi là sử dụng các trò chơi, yếu tố chơi phù hợp với mục đích giáo dục nhằm kích thích trẻ tự nguyện, hứng thú tìm tòi học hỏi và sự tư duy tích cực.

    2.2 Phương pháp nêu tình huống:

    Là phương pháp đưa ra các tình huống cụ thể nhằm kích thích trẻ suy nghĩ, tìm tòi để giải quyết vấn đề đặt ra.

    2.3 Phương pháp luyện tập:

    Là phương pháp cho trẻ thực hiện lặp lại nhiều lần các động tác, cử chỉ, điệu bộ thông qua những yêu cầu cụ thể mà giáo viên đặt ra để nâng cao vốn hiểu biết và kỷ năng thực hành trong công việc.

    Các cháu đang luyện tập bộ môn Toán

    2.4 Phương pháp trực quan minh họa:

    Sử dụng các phương tiện trực quan, thực hiện các hành động mẫu, hình ảnh tự nhiên, mô hình, sơ đồ và phương tiện nghe nhìn… Tạo điều kiện cho trẻ sử dụng các giác quan kết hợp với lời nói nhằm nâng cao vốn hiểu biết và sự tư duy của trẻ.

    Sử dụng các phương tiện nghe, nhìn để truyền đạt thông tin, kích thích trẻ suy nghĩ, chia sẽ ý tưởng, bộc lộ cảm xúc bằng lời nói với mọi người xung quanh.

    + nêu gương: sử dụng các hình thức khen chê phù hợp, đúng lúc, đúng nơi và biểu dương khuyến khích trẻ là chính.

    + đánh giá: thể hiện thái độ đồng tình hoặc chưa đồng tình của người lớn của bạn bè trước những hành vi, cử chỉ của trẻ từ đó đưa ra nhận xét đánh giá tùy theo từng tình huống cụ thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Mầm Non 4 Đến 5 Tuổi
  • Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Trong Giáo Dục Mầm Non
  • Cô Giáo Mầm Non Tâm Huyết Với Phương Pháp “lấy Trẻ Làm Trung Tâm”
  • Phương Pháp Giáo Dục Con Hiệu Quả, Không Đòn Roi, Không Nước Mắt
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Học Sinh Trong Lớp Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×