Phương Pháp Nghiên Cứu Marketing

--- Bài mới hơn ---

  • Vật Lý Học Mới & Phương Pháp Thực Nghiệm (R. Blanché, 1969)
  • Bài Tập Một Số Phương Pháp Qui Hoạch Thực Nghiệm
  • Phương Pháp Kiểm Nghiệm Vi Sinh Trong Thực Phẩm
  • Phòng Lab Là Gì? Phòng Lab Như Nào Được Gọi Là Đạt Tiêu Chuẩn
  • Sinh Viên Thực Nghiệm Trực Tiếp Trong Phòng Lab Di Động 4G
  • Kết quả

    Phương pháp nghiên cứu Marketing:

    Những số liệu sơ cấp có thể thu thập theo bốn cách: Quan sát, nhóm tập trung, điều tra và thực nghiệm.

    – Nghiên cứu quan sát: Những số liệu mới có thể thu thập bằng cách quan sát các nhân vật và khung cảnh tương ứng. Những người nghiên cứu của American Airlines đi lang thang khắp các sân bay, văn phòng hãng hàng không và công ty du lịch để nghe ngóng khách hàng du lịch nói chuyện với nhau về các hãng hàng không khác nhau. Những người nghiên cứu có thể đi các máy bay của hãng American Airlines và các đối thủ cạnh tranh để quan sát chất lượng dịch vụ trên chuyến bay . Những nghiên cứu thăm dò này có thể gợi ý một số giả thiết bổ ích về khách du lịch lựa chọn các hãng hàng không.

    – Nghiên cứu nhóm tập trung: Nhóm tập trung là một cuộc họp mặt của từ sáu đến mười người được mời đến trong một vài giờ để cùng với một người chủ trì khôn khéo trao đổi với nhau về sản phẩm, dịch vụ, tổ chức hay một thực tế Marketing khác. Người chủ trì cần có thái độ khách quan, hiểu biết vấn đề và hiểu biết những động thái của nhóm và hành vi của người tiêu dùng.

    Ví dụ tại American Airlines người chủ trì cuộc họp có thể mở đầu bằng một câu hỏi chung chẳng hạn như “Bạn cảm thấy như thế nào về chuyện đi du lịch bằng máy bay?” Sau đó các câu hỏi sẽ chuyển dần sang những vấn đề mọi người nhìn nhận như thế nào về các hãng hàng không khác nhau, các dịch vụ khác nhau và dịch vụ điện thoại trong khi bay.

    – Nghiên cứu điều tra. Nghiên cứu điều tra nằm giữa một bên là nghiên cứu quan sát và nhóm tập trung và một bên là nghiên cứu thực nghiệm. Quan sát và nhóm tập trung thích hợp nhất với nghiên cứu thăm dò, còn nghiên cứu điều tra lại thích hợp nhất với nghiên cứu mô tả, và thực nghiệm thì thích hợp nhất với nghiên cứu nguyên nhân. Các công ty tiến hành điều tra để nắm được trình độ hiểu biết, niềm tin, sở thích, mức độ thỏa mãn v…v của công chúng và lượng định các đại lượng này trong nhân dân. Vì vậy những người nghiên cứu của American Airlines có thể muốn điều tra xem có bao nhiêu người biết về hãng, ưa thích hãng, v…v. Ta sẽ nói nhiều hơn về nghiên cứu điều tra khi trình bày các công cụ nghiên cứu, kế hoạch lấy mẫu và các phương pháp tiếp xúc.

    – Nghiên cứu thực nghiệm. Nghiên cứu có giá trị khoa học cao nhất là nghiên cứu thực nghiệm. Nghiên cứu thực nghiệm đòi hỏi phải tuyển chọn các nhóm đối tượng tương xứng, xử lý các nhóm đó theo những cách khác nhau, khống chế các biến ngoại lai, và kiểm tra xem những sai lệch trong các kết quả quan sát được có ý nghĩa thống kê không. Trong trường hợp các yếu tố ngoại lai bị loại trừ hay khống chế, thì khi xử lý theo những cách khác nhau đều có thể thu được cùng những kết quả quan sát. Mục đích của nghiên cứu thực nghiệm là nắm được quan hệ nhân quả bằng cách loại trừ những cách giải thích khác nhau về các kết quả quan sát được.

    Ví dụ, American Airlines có thể tổ chức dịch vụ điện thoại trong khi bay trên một trong những chuyến bay thường xuyên từ New York đến Los Angeles với giá 25 USD một lần gọi. Ngày hôm sau trên chuyến bay đó hãng thông báo có dịch vụ này, nhưng với giá 15 USD một lần gọi. Nếu máy bay đó chuyên chở số lượng và loại hành khách như nhau trên mỗi chuyến bay, và các ngày trong tuần không có gì khác nhau, thì mọi chênh lệch lớn về số lần gọi có thể xem là do giá cả. Thí nghiệm có thể phát triển tiếp bằng cách áp dụng thử những giá khác nữa, lặp lại cùng một giá trên một số chuyến bay, bổ sung thêm những tuyến khác vào thí nghiệm.

    Nguồn: Th.s: Nguyễn Ngọc Long – Sưu tầm & hiệu chỉnh (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cac Phuong Phap Kiem Nghiem Vi Sinh Vat Thuc Pham
  • Cac Phuong Phap Kiem Nghiem Vi Sinh Thuc Pham
  • Các Phương Pháp Kiểm Nghiệm Thực Phẩm Phổ Biến
  • Trung Tâm Kiểm Nghiệm Thực Phẩm Chức Năng
  • Dạy Học Thông Qua Trải Nghiệm
  • Phương Pháp Tiếp Xúc Trong Nghiên Cứu Marketing

    --- Bài mới hơn ---

  • Axit Sunfuric (H2So4) Và Công Nghệ Sản Xuất. Hóa Chất Công Nghiệp
  • Hàn Điện Tiếp Xúc Là Gì? Các Phương Pháp Hàn Điện Tiếp Xúc
  • Viêm Da Tiếp Xúc Là Gì? Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Cách Điều Trị
  • Yoga Là Gì? Phương Pháp Tập Yoga Hiệu Quả Cho Mọi Người
  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Kết quả

    Phương pháp tiếp xúc trong nghiên cứu Marketing:

    Vấn đề này giải đáp câu hỏi: Phải tiếp xúc với đối tượng như thế nào? Có thể chọn cách phỏng vấn bằng thư, điện thoại hay trực tiếp.

    Phiếu câu hỏi gửi qua bưu điện là cách tốt nhất để tiếp cận với những cá nhân không chấp nhận phỏng vấn trực tiếp hay nội dung trả lời của họ có thể bị người phỏng vấn làm thiên vị hay sai lệch đi. Song phiếu câu hỏi gửi qua bưu điện đòi hỏi những câu hỏi phải đơn giản, rõ ràng, và việc nhận được phiếu trả lời thường đạt tỷ lệ thấp và/ hay chậm.

    Phỏng vấn qua điện thoại là phương pháp tốt nhất để thu thập thông tin nhanh chóng và người phỏng vấn cũng có khả năng giải thích rõ thêm các câu hỏi nếu người được phỏng vấn không hiểu. Tỷ lệ trả lời thường cao hơn so với trường hợp gửi phiếu câu hỏi qua bưu điện. Hai nhược điểm chính là chỉ có thể phỏng vấn được những người có điện thoại, và cuộc phỏng vấn phải ngắn gọn cũng như không quá đi sâu vào chuyện riêng tư.

    Phỏng vấn trực tiếp là phương pháp linh hoạt nhất trong số ba phương pháp. Người phỏng vấn có thể đưa ra nhiều câu hỏi hơn và có thể ghi lại những điều quan sát thêm được về người trả lời, chẳng hạn như cách ăn mặc và vóc dáng. Phỏng vấn trực tiếp là phương pháp đắt tiền nhất và đòi hỏi phải có kế hoạch quản lý cùng giám sát kỹ hơn. Nó cũng có thể bị người phỏng vấn làm thiên lệch hay méo mó kết quả trả lời.

    Phỏng vấn trực tiếp có hai dạng, phỏng vấn có thỏa thuận trước và phỏng vấn chặn đường. Trong trường hợp phỏng vấn có thỏa thuận trước, những người trả lời được lựa chọn một cách ngẫu nhiên rồi sau đó gọi điện hay đến tận nhà hoặc cơ quan để xin phỏng vấn. Thường có trả một số tiền nhỏ hay có quà tặng cho người trả lời vì đã mất thời gian. Phỏng vấn chặn đường là chặn những người bắt gặp ở một khu thương mại hay một góc phố đông người để xin phỏng vấn. Phỏng vấn chặn đường có nhược điểm của mẫu sẽ là mẫu không xác suất và cuộc phỏng vấn phải rất ngắn gọn.

    Nguồn: Th.s: Nguyễn Ngọc Long – Sưu tầm & hiệu chỉnh (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khí Hư Ra Nhiều Có Màu Xanh Là Bệnh Gì?
  • Cách Chống Oxy Hóa Cho Da Mặt Hiệu Quả Và An Toàn Nhất Hiện Nay
  • Xung Đột Kênh Phân Phối
  • Xung Đột Là Gì? Biện Pháp Thông Minh Giải Quyết Xung Đột
  • Tấm Cách Âm Xps Asean
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Định Tính Trong Marketing Thực Sự Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đại Cương Về Nghiên Cứu Định Tính
  • Hướng Dẫn Cách Viết Đề Cương Nghiên Cứu Khoa Học Chi Tiết Nhất
  • Sự Khác Biệt Giữa Phương Pháp Nghiên Cứu Định Tính Và Phương Pháp Nghiên Cứu Định Lượng
  • Tiểu Luận Một Số Phương Pháp Phân Tích Định Lượng Trong Nghiên Cứu Khoa Học Xã Hội
  • Phương Pháp Nội Suy Tuyến Tính, Bài Tập Đã Giải / Toán Học
  • Nghiên cứu định tính giúp nắm bắt được toàn bộ kinh nghiệm của con người, trải nghiệm và bản chất của họ. Dữ liệu của nghiên cứu định tính không ở dạng số.

    Mục đích của nghiên cứu định tính

    Mục đích của nghiên cứu định tính là tìm hiểu thực tế xã hội của các cá nhân, nhóm và nền văn hóa để có thể cảm nhận nó như thực sự sống trong nó vậy. Do đó, mọi người và các nhóm, được nghiên cứu trong môi trường tự nhiên của họ.

    Nghiên cứu theo cách tiếp cận định tính là thăm dò và tìm cách giải thích ‘làm thế nào’ và ‘tại sao’ cho một hiện tượng hoặc hành vi cụ thể, hoạt động trong một bối cảnh cụ thể.

    Điều này cho phép người trả lời nói chuyện một cách sâu sắc, lựa chọn từ ngữ của riêng họ. Giúp nhà nghiên cứu phát triển ý thức thực sự về sự hiểu biết của một người về tình huống.

    Phương pháp này bao gồm phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn nhóm:

    • Phỏng vấn cá nhân: một người hỏi và một người trả lời

    Quan sát sự vật, hiện tượng trong điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh khác nhau để thu thập những dữ liệu đặc trưng cho hoàn cảnh đó.

    Phương pháp quan sát được sử dụng trong hai trường hợp: phát hiện vấn đề nghiên cứu hoặc đặt giả thuyết kiểm chứng giả thuyết.

    Phân tích tài liệu, hiện vật, hồ sơ

    Kinh nghiệm cá nhân

    Nói một cách đơn giản, dữ liệu định lượng (quantitative data) giúp bạn có được những con số để chứng minh những điểm chung của nghiên cứu. Trong khi dữ liệu định tính (qualitative data) mang đến cho bạn các chi tiết và độ sâu để hiểu ý nghĩa đầy đủ của dữ liệu cũng như hiểu sâu về thị trường, khách hàng.

    Để có kết quả tốt nhất từ các phương pháp này trong các khảo sát, nghiên cứu, điều quan trọng là bạn phải hiểu được sự khác biệt để kết hợp hoặc lựa chọn phương pháp phù hợp.

    Mô tả định tính có thể đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất các mối quan hệ, nguyên nhân, hiệu ứng và quy trình.

    Phân tích định tính cho phép sự mơ hồ trong dữ liệu, tuy nhiên nó lại phản ánh được thực tế xã hội.

    Cung cấp thông tin hữu ích để xây dựng giả thiết, thang đo.

    Trong trường hợp bạn muốn khám phá sâu sắc insight cụ thể là kỳ vọng, paint point của họ, bạn sẽ cần phải nghiên cứu định tính – một phương pháp truyền thống sử dụng để thấu hiểu khách hàng.

    Do thời gian và chi phí, thiết kế cho nghiên cứu định tính thường không thể thiết kế trên quy mô mẫu lớn. Do đó độ tin cậy khi chỉ nghiên cứu định tính là không được bảo đảm do chưa được kiểm tra trên số lượng mẫu lớn. Như vậy rất khó áp dụng các tiêu chuẩn thông thường về độ tin cậy.

    Ngoài ra, để có thể xây dựng các câu hỏi mở cũng như điều khiển người được phỏng vấn cảm thấy thoải mái và chia sẻ sâu hơn các vấn đề của mình trogn quá trình phỏng vấn thì yếu tố chuyên môn và kỹ thuật cao là rất quan trọng. Thường tại các cuộc nghiên cứu thị trường, các cuộc phỏng vấn sâu (IDIs) hoặc phỏng vấn nhóm (FGIs) thường được tiến hành và triển khai trực tiếp bởi các chuyên gia – người có kinh nghiệm lâu năm, chuyên môn sâu.

    Phân tích dữ liệu định tính tương đối khó khăn. Cần có kiến thức về lĩnh vực để có thể giải thích dữ liệu định tính, và cần hết sức cẩn thận khi làm như vậy.

    Để thực hiện một dự án nghiên cứu thị trường, người ta thường cần phải áp dụng cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Khi cả hai phương pháp được áp dụng thì đem lại hiệu quả tốt nhất, độ chính xác cao cho nghiên cứu.

    DTM Consulting cung cấp dịch vụ nghiên cứu thị trường có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cả nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Nếu như bạn cần thực hiện nghiên cứu thị trường hay gặp khó khăn trong bất kỳ phần nào của nghiên cứu, hãy liên hệ với chúng tôi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thắc Mắc Về Phương Pháp Nhập Sau, Xuất Trước (Lifo)?
  • Hàng Tồn Kho _ Ưu Và Nhược Điểm Từng Phương Pháp Xác Định Hàng Tồn Kho
  • Bài Tập Tính Giá Thành Sản Phẩm Có Đáp Án
  • Ưu Nhược Điểm Của Phương Pháp Tính Giá Trị Hàng Tồn Kho
  • Các Phương Pháp Xác Định Giá Xuất Kho Theo Thông Tư 200
  • Các Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Trong Nghiên Cứu Marketing

    --- Bài mới hơn ---

  • Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam/chương Mở Đầu
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Học
  • Nghiên Cứu Ngành Ngôn Ngữ Học
  • Nhân Học: Khoa Học Nghiên Cứu Về Con Người
  • Nhân Chủng Học Là Gì? Sự Phân Ngành Trong Nhân Loại Học
  • Thu thập dữ liệu là một giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội. Tuy nhiên việc thu thập dữ liệu lại thường tốn nhiều thời gian, công sức và chi phí; do đó cần phải nắm chắc các kỹ thuật thu thập dữ liệu.

    2. Các phương pháp thu thập dữ liệu trong nghiên cứu Marketing

    2.1. Phương pháp quan sát (observation)

    Quan sát là phương pháp thu thập dữ liệu bằng cách ghi lại có kiểm soát các sự kiện hoặc các hành vi ứng xử của con người. Phương pháp thu thập dữ liệu này khá tiện dụng thường được dùng kết hợp với các phương pháp khác để kiểm tra chéo độ chính xác của dữ liệu thu thập.

    • Quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp: Quan sát trực tiếp là tiến hành quan sát khi sự kiện đang diễn ra. Ví dụ: Quan sát thái độ của khách hàng khi thưởng thức các món ăn của một nhà hàng
    • Quan sát ngụy trang và quan sát công khai: Quan sát ngụy trang có nghĩa là đối tượng được nghiên cứu không hề biết họ đang bị quan sát. Ví dụ: Bí mật quan sát mức độ phục vụ và thái độ đối xử của nhân viên.
    • Người quan sát hay quan sát bằng thiết bị: Quan sát do con người nghĩa là dùng giác quan con người để quan sát đối tượng nghiên cứu. Ví dụ: Kiểm kê hàng hóa; quan sát số người ra vào ở các trung tâm thương mại.
    • Quan sát có cấu trúc hay không cấu trúc Quan sát có cấu trúc là quan sát hành vi nào trước, hành vi nào sau. Ngược lại, quan sát không theo cấu trúc là không giới hạn hành vi quan sát.

    2.2. Phương pháp phỏng vấn

    Phỏng vấn là một cuộc hỏi đáp giữa một bên là phỏng vấn viên và một bên là người được phỏng vấn thông qua một hình thức tiếp xúc nào đó. Trong thực tiễn các hình thức tiếp xúc trong phỏng vấn khá đa dạng:

    Các hình thức tiếp xúc trong phỏng vấn;

    • Phỏng vấn trực tiếp;
    • Phỏng vấn qua thư tín;
    • Phỏng vấn qua điện thoại;
    • Phỏng vấn qua Email…

    Các kỹ thuật trong phỏng vấn

    Việc phỏng vấn này thích hợp cho các cuộc nghiên cứu với số lượng người được hỏi khá lớn. Mọi người chắc chắn được hỏi những câu hỏi giống nhau. Sau này, việc thống kê phân tích sẽ dễ dàng hơn.

    Hỏi đáp không theo cấu trúc: Phỏng vấn viên được hỏi một cách tự nhiên như một cuộc mạn đàm, hay nói chuyện tâm tình, tùy theo sự hiểu biết của người đáp mà hỏi nhiều hay ít, hoặc đi sâu vào những điều khác lạ mới phát hiện nơi người đáp. Đồng thời đi cả vào những chi tiết mà trong Kế hoạch thông tin không đề cập do không thể tiên liệu hết tình hình cụ thể.

    Hỏi đáp không theo cấu trúc đòi hỏi phỏng vấn viên phải có trình độ cao về kỹ thuật phỏng vấn, nắm vững mục đích của cuộc nghiên cứu, khía cạnh chuyên môn về marketing. trong thực tế, người ta gọi đây là phỏng vấn theo chiều sâu, và được áp dụng trong trường hợp số lượng đối tượng phỏng vấn ít, các chuyên gia, các nhà bán sỉ, lẻ có uy tín và người đáp có trình độ.

    Hình thức phỏng vấn nhân: Diễn ra chỉ giữa 2 người là phỏng viên và đối tượng phỏng vấn, nêu tiếp xúc với một đám động thì phải tiến hành phỏng vấn với từng người một, và chú ý hạn chế tối đa sự chúng kiến nội dung phỏng vấn nhằm hạn chế sự trả lời thiên lệch của đối tượng phỏng vấn (do bị ảnh hưởng bởi tâm lý dẫn dắt, bầy đàn). Vì vậy, người ta thường cố gắng thực hiện phỏng vấn với không gian riêng, tránh sự góp ý nhòm ngó của những người xung quanh.

    Các hình thức tổ chức phỏng vấn

    Phỏng vấn nhóm: Là việc tiến hành phỏng vấn cùng lúc với nhiều người, có 2 loại áp dụng trong phỏng vấn nhóm gồm:

    Nếu như bạn đang gặp khó khăn trong quá trình hoàn thành bài luận văn về các đề tài kinh tế, hãy liên hệ Dịch vụ viết thuê luận văn của Luận Văn 24 – Chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề của bạn nhanh chóng và hiệu quả nhất.

    • Nhóm cố định: Là nhóm từ 50-200 người được lựa chọn theo một tiêu chuẩn chọn mẫu, được huấn luyện về mục đích nghiên cứu, về phương pháp trả lời (nhiều hình thức). Họ có thể là những thành viên có thoả thuận cộng tác nghiên cứu để làm tốt việc trả lời các câu hỏi do công ty nghiên cứu đưa ra, để theo dõi trong một thời gian dài (6T-12T) để đo lường sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng.

    Phương pháp thu thập dữ liệu này gồm 2 loại:

    Thử nghiệm tại hiện trường là việc quan sát đo lường thái độ, phản ứng của khách hàng trước những sự thay đổi của nhà cung cấp sản phẩm/dịch vụ như: thay đổi giá bán, thay đổi cách thức phục vụ, chăm sóc khách hàng… Việc quan sát được thực hiện tại nơi diễn ra sự giao dịch, cho nên được gọi là thử nghiệm tại hiện trường.

    2.4. Phương pháp điều tra thăm dò

    Điều tra là việc tìm hiểu thật kỹ ngọn nguồn các sự kiện, chú trọng tới việc thu thập thông tin cùng các nhân chứng, vật chứng. Trong nghiên cứu marketing phương pháp thu thập dữ liệu này được áp dụng khá phổ biến vì những ưu thế của nó nhằm bảo đảm 4 nguyên tắc của một nghiên cứu khoa học.

    Công cụ chủ yếu được dùng để thu thập các thông tin, sự kiện trong phương pháp này là Bảng câu hỏiQuestions Form” do khách hàng tự trả lời.

    Nó đặc biệt hữu dụng trong nghiên cứu định lượng bởi vì: Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của nghiên cứu marketing là các ý kiến, kỳ vọng của khách hàng, nhà cung cấp, người tiêu dùng… cần được đo lường, tính toán, so sánh một cách cụ thể. Vì vậy, cách thức để thu thập dữ liệu bằng “bảng câu hỏi” trong điều tra thăm dò là phù hợp hơn cả.

    Trong thực tế, phương pháp phỏng vấn (theo cấu trúc) cũng sử dụng một hình thức sử dụng “bảng câu hỏi” nhưng nó mang tính chất đối thoại nhiều hơn do đó đối với những vấn đề cần có những ý kiến so sánh, đánh giá, đo lường cụ thể và chi tiết (nghiên cứu định lượng) thì phương pháp điều tra thăm dò tỏ ra có ưu thề hơn về mặt hiệu quả của việc thu thập thông tin.

  • Có khả năng quan sát và kỹ năng tiếp xúc
  • Có khả năng dẫn dắt và là người biết lắng nghe. Xóa bỏ các thành kiến, đồng cảm và khuyến khích các thành viên khác đưa ra ý kiến.
  • Trong quá trình làm bài luận văn tốt nghiệp, nếu bạn gặp phải bất kì khó khăn gì cần giúp đỡ thì đừng ngần ngại liên hệ qua hotline 0988 55 2424 để dịch vụ tư vấn làm luận văn tốt nghiệp của chúng tôi giúp bạn hoàn thành bài luận văn của mình một cách tốt nhất.

    • Khám phá thái độ, thói quen tiêu dùng;
    • Phát triển giả thuyết để kiểm nghiệm định lượng tiếp theo;
    • Phát triển dữ liệu cho việc thiết kế bảng câu hỏi cho nghiên cứu định lượng;
    • Thử khái niệm sản phẩm mới;
    • Thử khái niệm thông tin;
    • Thử bao bì, lô gô, tên của thương hiệu…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Sơ Cấp Nghiên Cứu Marketing
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Luận Văn Phân Tích Hoạt Động Kinh Doanh
  • Đối Tượng Và Phương Pháp Của Môn Lịch Sử Các Học Thuyết Kinh Tế
  • Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Bài 1: Lý Luận Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Lịch Sử Logic Học
  • Các Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Sơ Cấp Nghiên Cứu Marketing

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Trong Nghiên Cứu Marketing
  • Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam/chương Mở Đầu
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Nhân Học
  • Nghiên Cứu Ngành Ngôn Ngữ Học
  • Nhân Học: Khoa Học Nghiên Cứu Về Con Người
  • 1. Khái niệm phương pháp thu thập dữ liệu

    Trong khi các phương pháp thay đổi theo kỷ luật, sự nhấn mạnh vào việc đảm bảo bộ sưu tập chính xác và trung thực vẫn giống nhau. Mục tiêu của tất cả việc thu thập dữ liệu là thu thập bằng chứng chất lượng cho phép phân tích dẫn đến việc đưa ra các câu trả lời thuyết phục và đáng tin cậy cho các câu hỏi đã được đặt ra. ( Nguồn: vi.wikipedia.org)

    2. Các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

    2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp là gì?

    Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu chưa có sẵn, được thu thập lần đầu, do chính người nghiên cứu thu thập. Trong thực tế, khi dữ liệu thứ cấp không đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu, hoặc không tìm được dữ liệu thứ cấp phù hợp thì các nhà nghiên cứu sẽ phải tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp.

    Các dữ liệu sơ cấp sẽ giúp giải quyết cấp bách và kịp thời những vấn đề đặt ra. Dữ liệu sơ cấp là do trực tiếp thu thập nên độ chính xác cao hơn. Tuy nhiên,dữ liệu sơ cấp phải qua quá trình nghiên cứu thực tế mới có được, vì vậy việc thu thập dữ liệu sơ cấp thường tốn nhiều thời gian và chi phí.

    Vì vậy, các nhà nghiên cứu sẽ phải cân nhắc khi nào sẽ phải thu thập dữ liệu sơ cấp và lựa chọn phương pháp thu thập hiệu quả để hạn chế nhược điểm này.

    2.2. Phương pháp nghiên cứu định tính

    Mục đích của kỹ thuật này nhằm đạt được những hiểu biết sâu sắc vấn đề nghiên cứu bằng cách lắng nghe một nhóm người được chọn ra từ một thị trường mục tiêu phù hợp với những vấn đề mà người nghiên cứu đang quan tâm.

    Đặc điểm phỏng vấn chuyên sâu là : Cũng giống như phỏng vấn nhóm tập trung, phỏng vấn cá nhân cũng là một kỹ thuật trực tiếp và không cầu kỳ để thu thập thông tin, nhưng khác ở chỗ phỏng vấn cá nhân chỉ có hai người đối diện: người phỏng vấn và người được phỏng vấn (one-to-one). Thời gian phỏng vấn có thể từ 30 phút đến 1 giờ

    Một số kĩ thuật có thể sử dụng

    Kĩ thuật liên tưởng: Là kỹ thuật trong đó người được phỏng vấn trình bày ý kiến với sự kích thích và được hỏi bằng bảng liệt kê các từ để trả lời từng từ một mà từ đó sẽ rất gợi nhớ.

    Kỹ thuật hoàn chỉnh: Là kỹ thuật đòi hỏi người được phỏng vấn hoàn chỉnh những tình huống chưa kết thúc các vấn đề quan tâm. Nói chung, kỹ thuật hoàn chỉnh được sử dụng trong nghiên cứu marketing là hoàn thành câu dỡ dang hay một câu chuyện.

    Kỹ thuật dựng hình: Là kỹ thuật đòi hỏi người được phỏng vấn trình bày câu trả lời theo hình thức của một câu chuyện, một mẫu đàm thoại hay mô tả. Kỹ thuật này bao gồm hai hình thức: diễn giải qua tranh ảnh và đặt lời chú giải cho phim hoạt hình.

    2.3. Phương pháp quan sát và điều tra

    Quan sát là phương pháp ghi lại có kiểm soát các biến cố hoặc tác phong của con người. Qua cảm nhận nơi mình đang sống hay hành động, con người có thể ghi nhận và lượng định các sự kiện bên ngoài. Quan sát gồm hai hành động của con người: nghe nhìn để cảm nhận và lượng định.

    Con người có thể quan sát trực tiếp bằng tai, mắt để nghe, nhìn hay bằng phương tiện cơ giới. Quan sát là một phương pháp thu thập dữ liệu đơn giản dễ thực hiện nhưng rất hữu ích, dù đây không phải một phương pháp điều tra vì không có các câu hỏi hay câu trả lời như thường lệ. Tuy vậy muốn phương pháp này đạt kết quả tôt cần phải có một mẫu nghiên cứu thích đáng.

    Mức độ chính xác của số liệu thu thập phụ thuộc vào kỹ năng đặt câu hỏi một cách khéo léo, sự tinh tế trong việc nêu câu hỏi nhằm theo dõi và kiểm tra đối tượng phỏng vấn.

    Phỏng vấn nhóm cố định: Nhóm cố định bao gồm một số đối tượng không đổi, định kỳ trả lời các bảng câu hỏi (người tiêu dùng, hộ gia đình, doanh nghiệp…). Tùy theo mục tiêu phỏng vấn, có thể duy trì nhóm cố định trong một tuần, một tháng, một năm hay nhiều hơn. Hình thức phỏng vấn nhóm cố định: phỏng vấn cá nhân các thành viên trong nhóm, phỏng vấn bằng điện thoại hay thư tín.

    Phỏng vấn bằng điện thoại: Đây là phương pháp thu thập dữ liệu được tiến hành bằng cách bố trí một nhóm người phỏng vấn tập trung phỏng vấn khách hàng với nhiều máy điện thoại kết nối với tổng đài để dễ kiểm tra người phỏng vấn. Yêu cầu đối với người phỏng vấn là phải cảm nhận đối tượng phỏng vấn trong một khung cảnh mà anh ta không nhìn thấy.

    Phương pháp này được áp dụng khi số đông người được hỏi có máy điện thoại; và khi cuộc điều tra đòi hỏi phải có một mẫu nghiên cứu phân bố rộng trên các vùng địa lý thì phương pháp điều tra bằng điện thoại là tiện lợi nhất.

    Phỏng vấn bằng thư tín: Với phương pháp này người phỏng vấn gửi cho người dự phỏng vấn một bảng câu hỏi qua đường bưu điện và chờ trả lời. Phương pháp này không phải bao giờ cũng tốt, nhưng nó có những ưu điểm mà các phương pháp khác lại không có.

    – Phương pháp phỏng vấn bằng thư tín có thể đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau, kể cả vấn đề riêng tư, và do không gặp mặt người hỏi nên người trả lời tự chủ khi trả lời câu hỏi, không bị chi phối bởi người hỏi.

    – Không bị giới hạn chặt chẽ về thời gian nên người được hỏi có thể suy nghĩ chín chắn trước khi trả lời, và vào thời gian thuận tiện nhất.

    – Có thể hỏi được nhiều người do phí tổn thấp; đối tượng được hỏi ở quá xa, tản mát vẫn có thể phỏng vấn được bằng phương pháp này.

    – Có thể sử dụng tài liệu để minh họa kèm với bảng câu hỏi.

    Để thu thập dữ liệu ngoài việc nghiên cứu các tài liệu (để thu thập dữ liệu thứ cấp), hoặc quan sát, phỏng vấn (để thu thập dữ liệu sơ cấp), còn có thể được thực hiện thông qua việc thử nghiệm.

    Trong nghiên cứu marketing, các cuộc thử nghiệm đóng vai trò rất lớn, ngoài việc kiểm tra hoặc khẳng định một giải pháp hiệu chỉnh đưa ra, chúng còn cung cấp một nguồn dữ liệu khá lớn có thể sử dụng trong nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực marketing.

      Thử nghiệm labo (laboratory expriments)

    Trong thử nghiệm labo, người nghiên cứu đưa ra các tác động cho các đối tượng trong khung cảnh đã được xếp đặt cho mục tiêu của các cuộc thử nghiệm. Khung cảnh xếp đặt theo ý muốn như vậy giúp cho người nghiên cứu giảm thiểu đến mức thấp nhất ảnh hưởng không thích hợp của một số biến ngoại lai nhờ kiểm soát và điều chỉnh được sự biến đổi của một số biến số nào đó.

    Trong các labo như vậy, có đủ các trang thiết bị cần thiết như là gương một chiều, màn ảnh, hệ thống kiểm tra độ thắp sáng và nhiệt độ cũng như các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến việc thử nghiệm.

    Thử nghiệm labo được tiến hành không khó khăn lắm nhưng ít khi được thực hiện trong nghiên cứu marketing do các biến số thử nghiệm labo không phải lúc nào cũng giống như thực tế trên hiện trường, và trong quá trình này, người nghiên cứu đã khống chế các tác động bên ngoài, do đó việc áp dụng các kết quả thử nghiệm này rất hạn chế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Luận Văn Phân Tích Hoạt Động Kinh Doanh
  • Đối Tượng Và Phương Pháp Của Môn Lịch Sử Các Học Thuyết Kinh Tế
  • Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Bài 1: Lý Luận Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Lịch Sử Logic Học
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Kinh Tế
  • Các Phương Pháp Chọn Mẫu Trong Nghiên Cứu Thị Trường Mà Bạn Cần Phải Biết

    --- Bài mới hơn ---

  • Lấy Mẫu Hạn Ngạch: Định Nghĩa, Phương Pháp, Ưu Và Nhược Điểm
  • Các Phương Pháp Lựa Chọn Tinh Trùng Phổ Biến Nhất Hiện Nay
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Gia Công Chế Tạo Máy Hiện Nay
  • Phương Pháp Chọn Mẫu Ngẫu Nhiên Trong Đối Tượng Kiểm Toán Cụ Thể
  • Công Thức Chọn Mẫu Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Việc chọn mẫu và xác định cỡ mẫu là một công việc quan trọng và cần thiết trong nghiên cứu marketing đối với cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.

    Nhưng làm thế nào để chọn mẫu và xác định cỡ mẫu ra sao cho hợp lý là câu hỏi mà không phải ai cũng trả lời được.

    Các phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu marketing bao gồm chọn mẫu xác suất và phi xác suất, cụ thể:

    • Chọn mẫu thuận tiện
    • Chọn mẫu phán đoán
    • Chọn mẫu tỷ lệ
    • Chọn mẫu tích lũy nhanh
    • Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản
    • Chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống
    • Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng
    • Chọn mẫu theo cụm

    Mẫu là trong một dự án nghiên cứu thị trường gồm tập hợp các phần tử. Trong đó, mỗi phần tử được thu thập thông tin để làm cơ sở cho việc nghiên cứu. Thông thường thì trong nghiên cứu marketing, phần tử là con người hoặc có thể là cửa hàng, doanh nghiệp.

    Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định cỡ mẫu nghiên cứu như mục tiêu, nội dung, phạm vi nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu,… Tuy nhiên, những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến việc xác định cỡ mẫu là:

    • Sự phong phú của tổng thể nghiên cứu: tổng thể nghiên cứu càng lớn, thường cần chọn mẫu càng lớn.
    • Độ tin cậy muốn đạt được. Mẫu càng lớn thì độ tin cậy càng cao.
    • Sai số cho phép

    Việc lấy mẫu trong nghiên cứu trong marketing được thực hiện bởi những lý do sau:

    • Người thu thập thông tin bị giới hạn về mặt thời gian. Do đó, không thể thực hiện được số lượng người quá lớn trong thời gian bị hạn chế.
    • Vấn đề chi phí là một quan trọng khi mà một nghiên cứu thị trường thường cần một chi phí khá lớn. Việc điều tra trên một mẫu hợp lý sẽ giúp cho nghiên cứu tối ưu được về mặt chi phí, đồng thời vẫn đảm bảo thu thập đầy đủ thông tin thích hợp.
    • Trong một số trường hợp, việc điều tra tổng thể không thể tăng thêm độ chính xác cho nghiên cứu mà lại khiến tốn kém chi phí và mất thời gian.

    Chọn mẫu thuận tiện

    Trong phương pháp này, người nghiên cứu chọn ra các đon vị lấy mẫu dựa vào “sụ thuận tiện” hay “tính dễ tiếp cận”. Với phương pháp chọn mẫu thuận tiện, nhà nghiên cứu rất khó xác định tính đại diện của mẫu.

    Sự lựa chọn các đơn vị mẫu mang tính chủ quan của người nghiên cứu, do đó, phương pháp này ít được sử dụng rộng rãi.

    Chọn mẫu phán đoán

    Những đơn vị của mẫu được lựa chọn bởi nhà nghiên cứu nghĩ có thể thỏa mãn một tiêu chuẩn nào đó.

    Sự lựa chọn mẫu mang tính chủ quan, nên cũng ít được sử dụng.

    Chọn mẫu tỷ lệ

    Đây là phương pháp chọn mẫu mà trong đó nhà nghiên cứu đảm bảo mẫu được lựa chọn có tỷ lệ tương ứng theo các tham số quan trọng như tuổi, nghề nghiệp, giới tính.

    Các phần tử cũng được lựa chọn theo chủ ý của nhà nghiên cứu, mang tính chủ quan.

    Chọn mẫu tích lũy nhanh

    Những phần tử ban đầu được lựa chọn bằng phương pháp xác suất, nhưng những phần tử bổ sung tiếp đó được cung cấp bởi các đơn vị lấy mẫu ban đầu (nhờ giới thiệu).

    3.2-Chọn mẫu xác suất

    Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản

    Chọn mẫu ngẫu nhiên là phương pháp chọn mẫu với đúng như tên gọi của nó, hoàn toàn ngẫu nhiên. Do đó, mỗi đơn vị lấy mẫu đều có cơ hội hiện diện trong mẫu bằng nhau.

    Chọn mẫu ngẫu nhiên có hai loại: chọn mẫu ngẫu nhiên có sự thay thế hoặc không có sự thay thế. Trong lấy mẫu ngẫu nhiên có sự thay thế, các phần tử được chọn mẫu luôn được thay thế trước khi thực hiện sự lựa chọn kế tiếp.

    Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là sự đơn giản và dễ thực hiện.

    Tuy nhiên, nhược điểm chết người của phương pháp này mẫu có thể sai lệch, không mang tính đại diện, do đó kém chính xác.

    Chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống

    Chọn mẫu có hệ thống với sự bắt đầu ngẫu nhiên là một phương pháp chọn mẫu được tiến hành bằng cách lấy từng đơn vị thứ k từ một tổng thể nghiên cứu có thứ tự.

    Đơn vị đầu tiên được chọn một cách ngẫu nhiên, k là khoảng cách lấy mẫu.

    Ví dụ: chọn k là 3. Đơn vị đầu tiên có số thứ tự là 2, tương tự, các đơn vị được chọn tiếp theo có số thứ tự là 5, 8, 11,…

    Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng

    Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng là chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản từ từng nhóm tương đồng.

    Ưu điểm của phương pháp này là tăng mức độ chính xác của việc đánh giá các đặc điểm của tổng thể nghiên cứu, thực hiện thuận tiện và mẫu khá toàn diện.

    Chọn mẫu theo cụm

    Chọn mẫu theo cụm là phương pháp chọn mẫu được tiến hành bằng cách lấy những nhóm riêng biệt hoặc những cụm của đơn vị nhỏ hơn.

    Các cụm được chọn ngẫu nhiên với sự khởi đầu ngẫu nhiên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Chọn Mẫu Phi Ngẫu Nhiên
  • Chi Tiết Bài Học Lấy Mẫu Ngẫu Nhiên Đơn Giản
  • 5 Bí Quyết Chọn Rèm Cửa Phù Hợp Với Ngôi Nhà
  • Tư Vấn Cách Chọn Mẫu Cửa 4 Cánh Cho Ngôi Nhà Bạn
  • Cách Chọn Đèn Chùm Phòng Bếp
  • Sơ Lược Về Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Cách Tiếp Cận

    --- Bài mới hơn ---

  • . Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Giáo Trình Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học, Pgs. Ts. Nguyễn Bảo Vệ Và Ths. Nguyễn Huy Tài, Trường Đại Học Cần Thơ (Đhct
  • Chương 2 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
  • Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục
  • Hướng Dẫn Làm Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục Chất Lượng
  • Ví dụ: Trong một loạt bài báo của Thanh niên với tiêu đề “Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện chấn động về lịch sử” đã công bố những phát hiện mới về lịch sử Việt Nam trong một số công trình nghiên cứu của thiền sư Lê Mạnh Thát. Trong khi chờ đợi một cuộc tranh luận trực tiếp giữa Hội khoa học lịch sử với Thiền sư, thì có nhiều nhà sử học có ý kiến rằng việc Thiền sư tiếp cận với vấn đề ban đầu nghiêng nhiều theo phương pháp nghiên cứu của Phật giáo chứ không lấy PPNC lịch sử là chủ đạo nên đã dẫn đến những kết luận mang tính ngộ nhận, họ lấy dẫn chứng là Thiền sư đã không dùng các phát hiện về khảo cổ học để đối chứng mà đơn thuần chỉ là sử dụng phương pháp nghiên cứu thư tịch.

    (ii). Các bước tiến hành (quy trình): Khi đã tìm ra hướng tiếp cận, chúng ta bắt đầu cần giải quyết vấn đề theo từng bước một, tức là làm việc gì trước, việc gì sau để đảm bảo quy trình nghiên cứu chặt chẽ.

    (iii). Các thao tác cụ thể: Việc nắm được quy trình nghiên cứu mới chỉ cho chúng ta biết là bước một chúng ta làm gì, bước hai chúng ta làm gì…nhưng lại không nói cho chúng ta biết là chúng ta sẽ làm như thế nào. Chính vì vậy, chúng ta phải thực hiện các thao tác cụ thể để giải quyết công việc của từng bước. Mà muốn thực hiện được các thao tác này thì chúng ta buộc phải có các kỹ thuật nghiên cứu cụ thê, công cụ nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng các công cụ nghiên cứu. Chính việc sử dụng nhuần nhuyễn các công cụ nghiên cứu sẽ là một trong các nhân tố chính quyết định tính hiệu quả của một công trình nghiên cứu và nó cũng là nhân tố chính nâng cao năng lực của chúng ta. Ví dụ trong nghiên cứu Marketing, chúng ta cần sử dụng nhuần nhuyễn các công cụ như là Bảng câu hỏi, Bảng khảo sát (thu thập thông tin); Thống kê và Phần mềm phân tích thống kê (phân tích và sử lý thông tin)…

    Các vấn đề từ (i), (ii) và (iii) sẽ giúp chúng ta tiếp cận với vấn đề đúng hướng, tìm ra những bước giải quyết cụ thể và cách thức giải quyết từng vấn đề hiệu quả. Điều này cũng hàm ý là chúng ta sẽ tiếp cận với thông tin đúng, thu thập thông tin đúng, phân tích thông tin đúng và diễn giải thông tin đúng. Như vậy bản chất của vấn đề sẽ được bộc lộ.

    3. Hướng tiếp cận với PPNCKH:

    Trong thực tế hiện nay, sinh viên KKT chúng ta ít có cơ hội được tiếp xúc với PPNCKH nói chung mà đặc biệt là các phương pháp thuộc về chuyên ngành nghiên cứu cụ thể của khoa học kinh tế như là nghiên cứu Marketing, nghiên cứu Quản lý, nghiên cứu Kinh tế học….

    Một số trường đã đưa môn học PPNCKH vào giảng dạy nhưng với số tín chỉ ít ỏi (45 tín chỉ) nên đã không mang lại tác dụng nhiều. Chúng ta cần thấy rằng phương pháp nghiên cứu không đơn thuần là việc giải quyết vấn đề theo từng bước quy trình nào mà còn là thao tác cụ thể để giải quyết từng bước. Muốn thực hiện được các thao tác thì một điều hết sức quan trọng là chúng ta phải có các công cụ và kỹ thuật sử dụng công cụ để giải quyết vấn đề. Ví dụ trong Nghiên cứu khoa học xã hội, những công cụ như Bảng câu hỏi định tính (phỏng vấn sâu và phỏng vấn nhóm), Bảng câu hỏi định lượng, thống kê, phần mềm SPSS là một chùm công cụ đi kèm không thể thiếu trong phương pháp nghiên cứu định lượng có kết hợp với định tính. Việc dạy phương pháp mà không dạy kèm công cụ giống như việc một người lính ra trận, đã được học về cách thức chiến đấu nhưng không có vũ khí sắc bén hoặc không có võ nghệ cao cường.

    (i). Tìm hiểu về phương pháp thông qua sách viết về PPNCKH nói chung và NCKH chuyên ngành. Trên thực tế hầu hết những quyển sách này đều viết với phong cách kinh điển, rất khó hiểu với những người chưa có kinh nghiệm nghiên cứu. Điều đó là khó cho việc tự học. Do vậy việc kết hợp đọc và hỏi những thầy cô giáo có kinh nghiệm nghiên cứu là điều hết sức cần thiết. Điều quan trọng hơn nữa là chúng ta kết hợp việc đọc sách và tìm hiểu những phương pháp này đã được ứng dụng cụ thể trong các đề tài như thế nào. Nó hàm ý rằng việc đọc một số đề tài nghiên cứu hoàn chỉnh sẽ làm sáng tỏ về PPNC. Chúng ta cũng có thể tham gia các buổi hội thảo tiếp theo trong chuỗi hội thảo này để tìm hiểu kỹ hơn về PPNC để từ đó có cách nghiên cứu vấn đề đúng đắn.

    (ii). Thực hiện một đề tài nghiên cứu. Đây là vấn đề tối quan trọng. Đầu tiên bạn cần hỏi thầy cô xem là đề tài nghiên cứu này có thực tế không và có phù hợp với khả năng không. Nếu được thì bắt đầu bắt tay nghiên cứu. Bạn có thể thực hiện (i) và (ii) song song. Chỉ khi thực hiện một đề tài nghiên cứu cụ thể thì bạn mới thấm sâu được phương pháp và nâng cao được năng lực bản thân.

    (iii) Hãy chú ý tới việc rèn luyện các công cụ cụ thể. Chúng tôi nhận thấy rằng việc không biết cách sử dụng các công cụ và áp dụng nó vào từng bước cụ thể chính là điểm yếu nhất trong nghiên cứu của sinh viên. Việc hiểu các công cụ này ở mức độ trung bình cũng nguy hiểm không kém gì việc không biết cách sử dụng các công cụ này. Muốn giỏi các công cụ đòi hỏi sự rèn luyện không ngừng và hầu như chỉ có thể giỏi nó thông qua công việc nghiên cứu thực tế hoặc được giảng dạy chi tiết.

    Ngoài ra:

    (iv) Hãy coi việc NCKH là một cách thức quan trọng để nâng cao mạnh mẽ năng lực của bản thân. Và khi có năng lực, bạn sẽ tự tin, tự tin trong học tập và trong công việc thực tế; giải quyết các công việc thực tế nhanh, đúng và hiệu quả.

    (v) Tư duy và lòng kiên trì là những điều kiện không thể thiếu cho nhà nghiên cứu. Cả tư duy và lòng kiên trì, nếu biết cách vẫn có thể nâng cao chúng lên được để phục vụ cho công việc nghiên cứu, phục vụ cho năng lực.

    (vi) Dám làm và biết cách làm. Ở đây lại xuất hiện sự phân biệt giữa liều lĩnh và chấp nhận rủi ro. Liều lĩnh và chấp nhận rủi ro có một điểm chung là dám làm (ví dụ: dám bắt tay vào thực hiện nghiên cứu một đề tài cụ thể). Nhưng điểm khác nhau cơ bản giữa chúng là ở chỗ, trong khi “liều lĩnh” là cách thức giải quyết công việc chỉ dựa trên ý chí chủ quan, làm theo ý thích mà không có phương pháp cụ thể (xác suất thu thập được thông tin đúng và phân tích thông tin đúng để ra quyết định đúng là rất thấp), chịu nhiều tác động ngược chiều ở những biến cố ngẫu nhiên. Còn “chấp nhận rủi ro” là cách thức giải quyết công việc có ý chí và có phương pháp (xác suất thu thập thông tin đúng và phân tích thông tin đúng để ra quyết định đúng là rất cao), và chỉ chịu rủi ro ở những biến cố ngẫu nhiên không thể kiểm soát.

    (vii) Hãy bắt đầu từ những thay đổi nhỏ. Những sự thay đổi nhỏ, từ từ và liên tục sẽ tạo ra những thay đổi lớn và hiệu quả. Đừng bắt đầu sự thay đổi bằng những cách thức đột ngột, bằng những quả đấm thép. Đó chính là nội dung của triết lý Kaizen trong quản lý của Nhật mà bạn nên áp dụng trong bước đầu tiếp xúc với NCKH.

    CLB NCKH Khoa kinh tế ĐHQG TPHCM

    – © Saga, www.saga.vn

    http://www.saga.vn/view.aspx?id=11657

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Sinh Yếu Kém Môn Vật Lí Thpt
  • Phương Pháp Dạy Học Sinh Yếu Môn Toán Lớp 5
  • Góc Nhìn Giáo Dục: Cách Dạy Học Ngày Xưa
  • Phương Pháp Dạy Học Mới Webquest
  • Chuyên Đề Ứng Dụng Phương Pháp Dạy Học Vnen Vao Phân Môn Tập Đọc
  • Top 6 Phương Pháp Nghiên Cứu Thị Trường Cơ Bản. Ocd.vn

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Của Tâm Lý Học Tư Pháp
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Văn Hoá Học
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Văn Bản
  • Thực Trạng Sử Dụng Dịch Vụ Ví Điện Tử Tại Tp. Huế
  • Người Việt Đang Dùng Ví Điện Tử Để Thanh Toán Gì?
  • Có rất nhiều cách thức để tiến hành nghiên cứu thị trường, trong đó doanh nghiệp thường lựa chọn một hoặc nhiều hơn một trong năm phương pháp cơ bản sau: điều tra-khảo sát, phỏng vấn nhóm, phỏng vấn sâu, quan sát hành vi và thử nghiệm. Phương pháp nghiên cứu thị trường doanh nghiệp sử dụng dựa trên loại dữ liệu doanh nghiệp cần và khoản chi phí sẵn sàng bỏ ra.

    Phương pháp nghiên cứu thị trường bằng Điều tra, khảo sát (Surveys)

    Phương pháp này sử dụng bảng hỏi ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề, bạn có thể phân tích được nhóm khách hàng mẫu đại diễn cho thị trường mục tiêu của mình. Mẫu càng lớn thì mức độ chính xác của kết quả điều tra càng cao.

    Phỏng vấn trực tiếp (In-person surveys) sử dụng tablet hoặc smartphone. Công nghệ mới cũng cho phép khảo sát trực tiếp sử dụng bảng hỏi trên tablet, kết nối với phần mềm quản lý khảo sát trên server, cung cấp thêm các tính năng như check-in địa điểm (nhờ GPS của tablet), chụp ảnh địa điểm hoặc người trả lời (để xác thực), xác nhận thời gian thực, kiểm soát lộ trình di chuyển của khảo sát viên. Từ đó, CAPI giúp đảm bảo tính chân thực của khảo sát tốt hơn so với các phương thức bảng hỏi giấy truyền thống. Phương thức này cũng tiết kiệm được khâu nhập liệu và hạn chế được sai số.

    Khảo sát qua điện thoại (Telephone surveys) là phương pháp ít tốn kém hơn khảo sát trực tiếp nhưng lại tốn kém hơn gửi thư. Tuy nhiên, do người dân thường phản ứng tiêu cực trước hình thức tiếp thị từ xa, việc thuyết phục mọi người tham gia vào một cuộc phỏng vấn qua điện thoại ngày càng trở nên khó khăn. Tỉ lệ phản hồi theo phương pháp này này chỉ đạt 50-60% mà thôi.

    Khảo sát qua thư (Mail surveys) là cách thức chỉ cần một chút đầu tư là bạn đã có được lượng khán giả lớn. Cách nghiên cứu thị trường này rẻ hơn rất nhiều so với hai cách làm trên, nhưng chỉ thu được phản hồi của khán giả từ 3% đến 15%. Dù là lượng phản hồi thấp, khảo sát qua thư từ là một sự lựa chọn ít tốn kém cho các doanh nghiệp nhỏ.

    Khảo sát trực tuyến (Online surveys) thường mang lại tỷ lệ phản hồi khó dự đoán và kết quả không đáng tin cậy, bởi vì bạn không thể kiểm soát các thông tin phản hồi. Tuy nhiên, đây là phương pháp khảo sát thị trường đơn giản, ít tốn kém để có thể thu thập những bằng chứng và những ý kiến, sự ưu tiên của khách hàng.

    Ngày nay, một số công cụ có thể hỗ trợ việc thúc đẩy người trả lời bằng cách top-up tiền vào tài khoản mobile của họ, như một phần quà cám ơn, sau khi họ đã hoàn thành bảng hỏi. Tuy nhiên, dù thế nào, khảo sát online chỉ phù hợp với những bảng hỏi đơn giản hoặc phải có sự tác động trực tiếp vào người trả lời.

    Phương pháp nghiên cứu thị trường bằng Phỏng vấn nhóm (Focus Groups)

    Phương pháp nghiên cứu thị trường bằng Phỏng vấn sâu (Personal Interviews)

    Cũng giống như nhóm tập trung, phỏng vấn sâu sẽ bao gồm các câu hỏi mở, không có cấu trúc nhất định. Phương pháp này thường kéo dài trong vòng một tiếng và thường được ghi âm lại.

    Phỏng vấn nhóm và phỏng vấn sâu thường mang lại những số liệu khả quan hơn là các bảng khảo sát, điều tra. Tuy nhiên, kết quả của phương pháp này có thể không đáng tin cậy bởi nó không đại diện cho một số lượng lớn khách hàng tiềm năng. Phỏng vấn nhóm hay phỏng vấn sâu giúp doanh nghiệp có được cái nhìn sâu sắc về thái độ của khách hàng và đây cũng là những phương pháp nghiên cứu thị trường tuyệt vời giúp bạn giải mã những vấn đề lien quan tới việc phát triển sản phẩm và dịch vụ mới.

    Phương pháp nghiên cứu thị trường bằng Quan sát hành vi (Observation)

    Những phản hồi cá nhân trong bảng khảo sát và phỏng vấn nhóm đôi khi không đồng nhất với những hành vi thực sự của mọi người. Khi quan sát hành động của khách hàng bằng cách ghi hình lúc họ đang ở trong cửa hàng, ở nơi làm việc hay cơ quan, ở nhà, bạn có thể quan sát họ mua và sử dụng sản phẩm như thế nào. Điều này sẽ giúp bạn vẽ nên được bức tranh tin cậy về hành vi mua sắm và thói quen sử dụng của khách hàng.

    Sự phát triển của công nghệ cho phép các doanh nghiêp có thể dễ dàng quan sát hành vi của khách hàng nhờ camera, cảm biến, thậm chí qua wifi, từ đó quan sát hành vi khách hàng tốt hơn, như biết được sự quan tâm của họ, thời gian dừng ở từng địa điểm, vẽ được bản đồ nhiệt, điểm dừng chân cuối cùng trước khi mua sắm một loại dịch vụ…

    Phương pháp nghiên cứu thị trường bằng Thử nghiệm (Field trials)

    Đưa những sản phẩm mới vào một vài cửa hàng được chọn lựa để thử phản ứng của khách hàng trong các điều kiện bán hàng thực tế có thể giúp bạn hoàn thiện sản phẩm, điều chỉnh lại giá cả hay cải tiến chất lượng. Các doanh nghiệp nhỏ nên cố gắng xây dựng mối quan hệ với các chủ cửa hàng bán lẻ địa phương và các trang web mua sắm để có thể thử nghiệm sản phẩm của mình trên thị trường.

    Theo dõi hành vi sử dụng Internet, mạng xã hội, wifi, Big Data

    Đây là phương pháp nghiên cứu thị trường mới đang ngày càng chiếm ưu thế do có khả năng nghiên cứu được hành vi chi tiết, thói quen, sở thích của số đông khách hàng trên Internet hoặc thông qua công nghệ. Sự hỗ trợ của Big Data và các công cụ theo dõi ngày càng hiện đại và tinh vi, hầu như các hành vi của người tiêu dùng đều được bộc lộ trên Internet hoặc các mạng xã hội mà họ tham gia.

    Nguồn: http://www.allbusiness.com/marketing/market-research/1287-1.html

    Cập nhật: Công ty Tư vấn Quản lý OCD.

    Dịch vụ nghiên cứu thị trường

    Vai trò quan trọng của nghiên cứu thị trường

    6 bước nghiên cứu thị trường

    Xây dựng kế hoạch khảo sát thị trường hiệu quả

    Làm thế nào để đánh giá sự hài lòng của khách hàng 01

    Đánh giá sự hài lòng của khách hàng 02

    8 phương pháp nghiên cứu định tính

    --- Bài cũ hơn ---

  • List Các Phương Pháp Nghiên Cứu Thực Tiễn
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Sinh Thái Học Vi Sinh Vật
  • Khoa Học Sáng Tạo Và Phương Pháp Luận Sáng Tạo
  • “phương Pháp Luận Sáng Tạo” Là Gì?
  • Giới Thiệu Phương Pháp Nghiên Cứu Sự Kiện
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1: Lý Luận Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Lịch Sử Logic Học
  • Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Đối Tượng Và Phương Pháp Của Môn Lịch Sử Các Học Thuyết Kinh Tế
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Luận Văn Phân Tích Hoạt Động Kinh Doanh
  • Các Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Sơ Cấp Nghiên Cứu Marketing
  • Published on

    Phương pháp nghiên cứu trong kinh tế

    1. 1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BÁO CÁO MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ ĐỀ CƯƠNG ĐỂ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DOANH THU KINH DOANH TRÊN MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY CỦA SINH VIÊN Ở CẦN THƠ. GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. NGUYỄN HỮU TÂM
    2. 2. TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BÁO CÁO MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ ĐỀ CƯƠNG ĐỂ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DOANH THU KINH DOANH TRÊN MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY CỦA SINH VIÊN Ở CẦN THƠ. GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. NGUYỄN HỮU TÂM NHÓM THỰC HIỆN: 1. Lê Thị Trúc Ly 1154010036 100% 2. Phan Thị Mỹ Hà 1154010016 100% 3. Châu Văn Linh 1154010035 100% 4. Phan Thanh Boal 1154010004 100% 5. Nguyễn Thị Diễm Kiều 1154010031 100%
    3. 3. 1. Lí do chọn đề tài: Tại Việt Nam Internet đang được sử dụng không chỉ với mục đích giải trí mà còn được giới trẻ tận dụng như một công cụ kinh doanh và kiếm tiền hiệu quả. Đó là kinh doanh trên mạng. Vốn ít, không tốn chi phí cho thuê mặt bằng và đóng thuế trong khi đó lại có thể chủ động về thời gian, bán hàng online (qua mạng) đang trở thành việc làm thêm hấp dẫn nhiều bạn trẻ, đặc biệt là các bạn sinh viên. Thêm vào đó, sinh viên thường có những ý tưởng sáng tạo các sản phẩm độc đáo, trưng bày trên gian hàng của mình hoặc kinh doanh các mặt hàng theo các dịp lễ tết, theo mùa vụ nên đôi khi mở một cửa hàng là không cần thiết. Kinh doanh online là lối ra tốt nhất và là xu hướng tất yếu. Trên các trang mua bán online ta có thể dễ dàng nhận thấy mặt hàng được các bạn sinh viên kinh doanh chủ yếu là các sản phẩm thời trang như: quần áo, giày dép, túi xách, mỹ phẩm…và các đồ hand-made độc, lạ. Lý giải điều này theo như các bạn sinh viên nhận định là vì khách hàng đang có xu hướng Online để tìm mua các sản phẩm này ngày càng nhiều, vừa tiết kiệm thời gian và công sức đi lại. Đồng thời các website mua bán online hỗ trợ khá tốt việc thanh toán và thể hiện tốt hình ảnh và nội dung sản phẩm. Trước đây, khái niệm kinh doanh trực tuyến hay Marketing Online khá mới lạ đối với hầu hết đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng một vài năm trở lại đây, bức tranh Thương Mại Điện Tử có những bước khởi sắc rõ rệt và phát triển như vũ bão. Với tình hình kinh doanh dày đặt như hiện nay của các bạn sinh viên thì việc đảm bảo cho doanh thu tăng trưởng nhanh chóng là một trong những yếu tố khá quan trọng để giúp loại hình kinh doanh này có thể tồn tại, trụ vững, phát triển và mang lại nguồn thu nhập khác cho sinh viên ở Cần Thơ hiện nay. Cũng vì lí do đó nhóm chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu kinh doanh trên mạng xã hội hi ện nay của sinh viên ở Cần Thơ” 2. Mục tiêu nghiên cứu: 2.1 Mục tiêu chung: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu của việc kinh doanh trên mạng hiện nay của Sinh viên ở địa bàn Cần Thơ và tìm ra các biện pháp giúp sinh viên Cần Thơ đạt được doanh thu cao hơn. 2.2 Mục tiêu cụ thể:
    4. 4. – Tìm hiểu thực trạng về tình hình kinh doanh trên mạng hiện nay của Sinh viên ở địa bàn Cần Thơ. – Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu của việc kinh doanh trên mạng hiện nay của Sinh viên ở địa bàn Cần Thơ. – Đề ra các biện pháp giúp sinh viên Cần Thơ đạt được doanh thu cao hơn. 3. Kiểm định gi ả thuyết và câu hỏi nghiên cứu: 3.1 Kiểm định giả thuyết: – Giá cả hàng hóa ảnh hưởng không nhiều đến doanh thu kinh doanh trên mạng hiện nay của Sinh viên ở địa bàn Cần Thơ. – Chất lượng hóa ảnh hưởng không nhiều đến doanh thu kinh doanh trên mạng hiện nay của Sinh viên ở địa bàn Cần Thơ. – Số lượng sinh viên kinh doanh trên mạng ở Cần Thơ hiện nay không nhiều. 3.2 Câu hỏi nghiên cứu: – Giá cả hàng hóa ảnh hưởng như thế nào đến doanh thu kinh doanh trên mạng hiện nay của Sinh viên ở địa bàn Cần Thơ? – Chất lượng ảnh hưởng như thế nào đến doanh thu kinh doanh trên mạng hiện nay của Sinh viên ở địa bàn Cần Thơ? – Số lượng sinh viên kinh doanh trên mạng ở Cần Thơ hiện nay ra sao? 4. Phạm vi nghiên cứu: 4.1 Phạm vi về không gian: – Đề tài được thực hiện ở Cần Thơ. 4.2 Phạm vi về thời gian: – Số liệu sử dụng trong đề tài là là số liệu năm 2013 và 2014. – Đề tài được thực hiện từ ngày 22/02/2014 đến ngày 22/08/2014. 4.3 Phạm vi về nội dung:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Tài Liệu Trong Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự 2021
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Dân Sự Và Áp Dụng Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự 2021 Với Các Văn Bản Hướng Dẫn
  • Sách Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Dân Sự
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Dân Sự Sách Giá Rẻ Uy Tín Tại Tp.hcm
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Dữ Liệu Sơ Cấp, Thứ Cấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Sơ Cấp Và Dữ Liệu Thứ Cấp
  • Đôi Chút Về Quy Nạp Và Suy Diễn
  • Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Tính Kịp Thời Của Báo Cáo Tài Chính
  • Các Phương Pháp Phân Tích Báo Cáo Tài Chính Cần Nắm Rõ
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Của Kinh Tế Chính Trị Mác
  • Published on

    Phương pháp nghiên cứu dữ liệu sơ cấp, thứ cấp – SPSS

    Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp, dữ liệu thứ cấp trong nghiên cứu Marketing

    1. 1. 28 CHƯƠNG BA 3CÁC PHƯƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU TRONG NGHIÊN CỨU MARKETING NỘI DUNG CHÍNH Nội dung chính của chương này đề cập đến: – Các yêu cầu khi xác định dữ liệu – Các cách phân loại dữ liệu – Thế nào là dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp – Các loại dữ liệu thứ cấp và tiêu chuẩn đánh giá các dữ liệu thứ cấp – Các phương pháp định tính thu thập dữ liệu sơ cấp – Các phương pháp định lượng thu thập dữ liệu sơ cấp
    2. 2. 29 XÁC ĐỊNH DỮ LIỆU Sau khi xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, bước tiếp theo trong tiến trình nghiên cứu là xác định loại dữ liệu nào cần thu thập và quyết định xem có thể thu thập các dữ liệu đó bằng phương pháp nào. Các yêu cầu của việc xác định dữ liệu: Các dữ liệu thu thập phải được xác định rõ ràng xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu. Khi xác định dữ liệu, cần tuân thủ các yêu cầu sau: – Những thông tin chứa đựng trong dữ liệu phải phù hợp và đủ làm rõ mục tiêu nghiên cứu. – Dữ liệu phải xác thực trên hai phương diện: * Giá trị: dữ liệu phải lượng định được những vấn đề mà cuộc nghiên cứu cần lượng định. * Độ tin cậy: nghĩa là nếu lập lại cùng một phương pháp phải sinh ra cùng một kết quả. – Dữ liệu thu thập phải đảm bảo nhanh và chi phí thu thập có thể chấp nhận được. Đây là 3 yêu cầu tối thiểu cần thiết để thông tin thu thập được đầy đủ và tin cậy giúp cho nhà quản trị có đủ cơ sở chắc chắn khi ra quyết định, đồng thời là căn cứ xác đáng để người nghiên cứu hình thành kế hoạch thu thập dữ liệu thích hợp. Phân loại dữ liệu: Để giúp người nghiên cứu chọn lựa được đúng những dữ liệu thích hợp với mục tiêu dữ liệu cần thiết phải phân biệt 3 loại dữ liệu cơ bản. Phân loại dữ liệu theo đặc tính của dữ liệu: Theo cách phân loại này có 5 loại dữ liệu: Sự kiện: Bao gồm những sự lượng định hoặc đo lường về những gì thực sự đã hoặc đang tồn tại. Sự kiện có thể hữu hình hoặc vô hình. Sự kiện hữu hình là những sự kiện có thể lượng định được. Ví dụ khi ta nói doanh nghiệp VMC bán được 1500 xe, hơn năm 1994 là 300 xe, thì đó là một sự kiện hữu hình. Nhưng sự kiện có thể vô hình, có nghĩa là khó hoặc không thể định lượng được. Ý thích của khách hàng về một kiểu sản phẩm là một sự kiện vô hình và rất khó định lượng. Việc định lượng một cách chính xác sự kiện chỉ là lý tưởng. Trên thực tế, hầu hết các vấn đề mang tính chất là bán sự kiện (quasi-fact), đó là những gì gần như sự kiện, gần như sự thật. Nhiều sự kiện chỉ dựa trên ước định hay trên những “mẫu” có độ tin cậy tương đối. Sự kiện có thể phân loại thành: – Sự kiện dân số học: đó là những dữ kiện được sử dụng trong marketing, mô tả các đặc điểm nhân khẩu của dân cư hay khách hàng … Ví dụ: thu nhập hàng năm của hộ gia đình, số thành viên gia đình, tuổi tác, giới tính của họ… – Sự kiện xã hội học: bao gồm các dữ liệu về tầng lớp xã hội của khách hàng (thượng lưu, trung lưu, hay tầng lớp bình dân…), tôn giáo,… – Sự kiên tâm lý: thể hiện nhận thức, động cơ hay lối sống của một cá nhân cá nhân hay của một nhóm người.
    3. 3. 30 – Sự kiện thái độ: phản ánh cách cư xử của con người trong việc lựa chọn mua hàng, nó mô tả hành vi và trạng thái ứng xử trước một sự lựa chọn về sản phẩm hay dịch vụ. Kiến thức: Kiến thức – đó là loại dữ liệu phản ánh sự hiểu biết của người tiêu dùng và ý thức của họ về nhãn hiệu hàng hóa, thị trường, người bán. Ví dụ, khi quyết định mua một gói bột giặt trong số các nhãn hiệu Omo, Tide,… người tiêu dùng cần có sự hiểu biết nhất định về công dụng, về cách thức sử dụng bột giặt nói chung, ngoài ra phải biết được sự khác biệt giữa các loại bột giặt về tính năng tác dụng, những điểm đặc thù hình hành nên một nhãn hiệu để phân biệt với các loại khác … để từ đó chọn đúng thứ bột giặt thích hợp nhất với yêu cầu của mình. Dư luận: Nhiều khi người tiêu dùng lựa chọn mua sản phẩm hay dịch vụ không chỉ dựa vào kiến thức của mình về sản phẩm, dịch vụ đó mà còn dựa vào (hay chỉ dựa vào) dư luận. Dư luận phản ánh sự cảm nhận của quần chúng về điều gì đó, thường là sự cảm nhận chung về một loại nhãn hiệu hay các tác dụng tốt hoặc tác dụng không mong muốn của sản phẩm, biểu tượng của sản phẩm và doanh nghiệp … Hình thức tiềm tàng của dư luận có khuynh hướng hình thành thái độ (attitude), là sự thiên kiến về tinh thần, hay hành động ở mức độ nào đó. Ví dụ: người mua có ý định sẵn trong đầu là không mua sản phẩm của người bán mà họ đến xem đầu tiên, mà chỉ để đọ giá hoặc tìm hiểu thêm. Một dạng khác của định kiến là ý niệm (images) của khách hàng: nhiều người cùng có một hình tượng giống nhau về một doanh nghiệp hay một nhãn hiệu nào đó. Hầu hết người tiêu dùng Việt Nam đều nhìn nhận xe máy của hãng HONDA là bền và đẹp. Định kiến rất có ý nghĩa trong nghiên cứu marketing vì nó ảnh hưởng đến cách cư xử, thái độ của nhiều người một cách dai dẳng trong quá trình mua – bán. Ý định: Ý định là suy nghĩ sắp sẵn trong đầu về hành động sẽ thực hiện trong tương lai, là thái độ xử sự sắp tới của đối tượng. Ý định và mức độ thay đổi ý định về một hành vi tiêu dùng là những thông tin then chốt trong nghiên cứu marketing. Ví dụ nếu hãng VMEP, qua số liệu điều tra cho biết là có 10% gia đình có ý định mua xe máy mới trong vòng 2 năm tới, khác với số liệu báo cáo năm trước là 7% thì hãng này sẽ phải điều chỉnh lại kế hoạch sản xuất. Động cơ: Động cơ là lực nội sinh khiến con người cư xử theo một cách nào đó. Những người làm marketing sẵn sàng trả giá cao để có dữ liệu về động cơ thúc đẩy tiêu dùng món hàng mà họ đưa ra. Những động cơ trực tiếp thì nói chung là rõ ràng, dễ nói ra. Nhưng những nguyên nhân cơ bản sâu xa của thái độ cư xử thì rất khó bộc lộ. Vì thế để nghiên cứu động cơ thúc đẩy, người ta phải sử dụng một số kỹ thuật phức tạp hơn (chẳng hạn là phương pháp thử nghiệm) hoặc bằng phương pháp gián tiếp mà người đọc sẽ được giới thiệu trong phần thiết kế bảng câu hỏi. Phân loại dữ liệu theo chức năng của dữ liệu: – Dữ liệu phản ánh tác nhân: đây là loại dữ liệu phản ảnh nguyên nhân dẫn đến một hành vi tiêu dùng. Ví dụ, doanh nghiệp VMEP cần biết yếu tố nào là nguyên nhân chính dẫn người tiêu dùng đến quyết định mua một chiếc xe máy nhãn hiệu ANGEL-80 trong số các yếu tố: giá rẻ, hình thức mua trả góp, chất lượng của xe, hay thu nhập của người tiêu dùng. Kết quả của việc nghiên cứu các dữ liệu này sẽ giúp cho doanh nghiệp lựa chọn đúng các quyết sách kinh doanh của mình.
    4. 4. 31 – Dữ liệu phản ánh kết quả: việc thu thập các dữ liệu để đánh giá kết quả của các giải pháp marketing (như là nguyên nhân) để từ đó tìm ra mối quan hệ nhân quả trong hoạt động marketing là rất quan trọng. Trong ví dụ trên, việc phân tích các dữ liệu về số lượng xe, doanh thu bán ở từng cửa hàng …là những minh họa cho các dữ liệu kết quả – Dữ liệu mô tả tình huống: là loại dữ liệu dùng để nghiên cứu những đặc điểm riêng biệt hay phần tiêu biểu của đối tượng nghiên cứu, làm cơ sở đề ra các quyết định marketing phù hợp với từng nhóm đối tượng. Ví dụ: đặc điểm cá nhân hay gia đình có thể ảnh hưởng đến hành động mua sắm của họ, vì thế những đặc điểm khác nhau đó cần được khảo sát để có kết luận đúng về mối quan hệ nhân quả. – Dữ liệu làm rõ nguồn thông tin: bao gồm các dữ liệu về tên người phỏng vấn, tên và địa chỉ của chủ thể hay vị trí thu thập dữ liệu. Phân loại dữ liệu theo địa điểm thu thập dữ liệu Theo cách phân loại này, địa điểm thu thập dữ liệu bao gồm: – Nơi sinh sống của đối tượng (nhà ở). – Nơi đối tượng làm việc. – Trên đường phố hay trong lúc di chuyển. Nếu đối tượng của nghiên cứu marketing là những người tiêu dùng thì thu thập dữ liệu tại nơi mua sắm, là nơi có mật độ người tiêu dùng cao, là hết sức tiện lợi. Ngày càng có nhiều cơ sở nghiên cứu chọn đối tượng ngẫu nhiên tại những nơi mua bán hàng hóa để tiến hành phỏng vấn cá nhân. Phân loại dữ liệu theo nguồn thu thập dữ liệu Dữ liệu trong nghiên cứu marketing có thể thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, và sau đây là các nguồn dữ liệu chính: Dữ liệu thứ cấp Dữ liệu thứ cấp là loại dữ liệu được sưu tập sẵn, đã công bố nên dễ thu thập, ít tốn thời gian, tiền bạc trong quá trình thu thập. Dữ liệu sơ cấp Các dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu, có thể là người tiêu dùng, nhóm người tiêu dùng… Nó còn được gọi là các dữ liệu gốc, chưa được xử lý. Vì vậy, các dữ liệu sơ cấp giúp người nghiên cứu đi sâu vào đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu động cơ của khách hàng, phát hiện các quan hệ trong đối tượng nghiên cứu. Dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp nên độ chính xác khá cao, đảm bảo tính cập nhật nhưng lại mất thời gian và tốn kém chi phí để thu thập. Dữ liệu sơ cấp có thể thu thập từ việc quan sát, ghi chép hoặc tiếp xúc trực tiếp với đối tượng điều tra; cũng có thể sử dụng các phương pháp thử nghiệm để thu thập dữ liệu sơ cấp. Trong các chương sau, chúng ta sẽ bàn sâu hơn về cách thức cũng như thiết kế các phương tiện để thu thập loại dữ liệu này. Dữ liệu thu thập từ các cuộc thử nghiệm Để thu thập dữ liệu, đặc biệt trong những trường hợp cần kiểm chứng các quan hệ nhân quả, hoặc cân nhắc giữa các phương án để ra quyết định, người nghiên cứu có thể dùng phương pháp thử nghiệm để thu thập dữ liệu.
    5. 12. 39 Phỏng vấn nhóm cố định: Nhóm cố định bao gồm một số đối tượng không đổi, định kỳ trả lời các bảng câu hỏi (người tiêu dùng, hộ gia đình, doanh nghiệp…). Tùy theo mục tiêu phỏng vấn, có thể duy trì nhóm cố định trong một tuần, một tháng, một năm hay nhiều hơn. Hình thức phỏng vấn nhóm cố định: phỏng vấn cá nhân các thành viên trong nhóm, phỏng vấn bằng điện thoại hay thư tín. Ưu điểm của phương pháp phỏng vấn nhóm cố định: – Chi phí rẻ: do lặp lại nhiều lần một bảng câu hỏi theo một mẫu điều tra lập sẵn. – Giúp tiến hành phân tích lâu dài các phản ứng, tác phong tiêu dùng của một người, một hộ gia đình hay doanh nghiệp, do đó dễ tìm ra tính quy luật trong tiêu dùng, nguyên nhân thay đổi sự lựa chọn (nhãn hiệu, chủng loại hàng hóa,người bán…) Hạn chế của phương pháp này là: – Cấu tạo mẫu nghiên cứu: việc chọn mẫu dù thận trọng đến đâu cũng không chắc chắn mọi đối tượng tham gia cuộc phỏng vấn đều trả lời, vì thế tỷ lệ trả lời thấp (dưới 50% số đối tượng phỏng vấn) – Biến động cơ cấu nhóm: hàng năm cơ cấu nhóm cố định có thể thay đổi về số người tiêu dùng hay doanh nghiệp tham gia trong nhóm do một số người hết hứng thú tham dự phỏng vấn, số khác chuyển chỗ ở, lập gia đình,…một số doanh nghiệp ngừng hoạt động, phá sản hay chuyển hướng kinh doanh sang lĩnh vực khác. – Sự lặp lại một bảng câu hỏi định kỳ thường gây nên sự nhàm chán cho người trả lời, có thể trả lời chiếu lệ, thiếu suy nghĩ kỹ làm sai lệch kết quả. Phỏng vấn bằng điện thoại: Đây là phương pháp thu thập dữ liệu được tiến hành bằng cách bố trí một nhóm người phỏng vấn tập trung phỏng vấn khách hàng với nhiều máy điện thoại kết nối với tổng đài để dễ kiểm tra người phỏng vấn. Yêu cầu đối với người phỏng vấn là phải cảm nhận đối tượng phỏng vấn trong một khung cảnh mà anh ta không nhìn thấy. Phương pháp này được áp dụng khi số đông người được hỏi có máy điện thoại; và khi cuộc điều tra đòi hỏi phải có một mẫu nghiên cứu phân bố rộng trên các vùng địa lý thì phương pháp điều tra bằng điện thoại là tiện lợi nhất. Phỏng vấn bằng điện thoại có những ưu điểm: – Có thể hỏi nhiều người trong một thời gian ngắn, có thể gọi lại để phối kiểm, bổ sung. – Đỡ đi lại di chuyển xa. – Không trực diện trước người hỏi, giúp người trả lời tự tin hơn. – Dễ chọn mẫu: khối lượng lấy mẫu lớn, rải rác khắp các điểm trên một không gian lớn. – Chỉ đạo và kiểm tra các cuộc phỏng vấn thuận lợi. – Tỷ lệ trả lời khá cao. Hạn chế của phương pháp này là: – Người phỏng vấn không thấy người trả lời, nên thiếu mối giao cảm thông qua thái độ cử chỉ của người trả lời. – Phỏng vấn bị giới hạn bởi những điều nghe được, thiếu hẳn tư liệu trực quan.
    6. 15. 42 – Lỗi thời: là biến số không rõ rệt. Lỗi thời là thay đổi dần phản ứng của người tiêu dùng qua thời gian, hoặc sự thay đổi về nhận thức do tích lũy kiến thức và kinh nghiệm qua thời gian thử nghiệm. Ví dụ: sự thay đổi thái độ mua bán, thay đổi cách sinh hoạt…. – Bỏ ngang: đó là trường hợp một hay nhiều đơn vị bỏ cuộc trong cuộc thử nghiệm làm cho kết quả thử nghiệm không tính được vì không biết đơn vị bỏ cuộc có cùng một thái độ ứng xử và cho kết quả giống như các đơn vị còn lại không? – Hiệu ứng thử nghiệm: trong qúa trình thử nghiệm, một đối tượng ý thức mình đang chịu thử nghiệm sẽ xúc động, trả lời lệch lạc, hoặc có thái độ không thật… – Công cụ đo lường: sự sai lệch do sử dụng công cụ đo lường trong cuộc thử nghiệm (ví dụ: do thiết bị bảng câu hỏi thiếu hợp lý, bố trí hệ thống quan sát không phù hợp). – Chọn mẫu lệch: là sai lầm xảy ra khi đơn vị thử nghiệm đã được lựa chọn không đại diện cho tổng thể muốn điều tra. Cách ghi chú thử nghiệm bằng ký hiệu: – Ký hiệu X chỉ tác động của một thử nghiệm nào đó vào một nhóm nào đó. X là biến số độc lập. – Ký hiệu O đề cập đến sự quan trắc, đánh giá hay đo lường biến số phụ thuộc theo đơn vị thử nghiệm. Nếu có hơn một lần định lượng thì ký hiệu lần lượt là O1, O2, O3,… – Ký hiệu R chỉ việc đưa ra một cách bất kỳ (ngẫu nhiên, không lựa chọn) một đơn vị (đối tượng) nào đó để tiến hành thử nghiệm. Các mô hình thử nghiệm: – Mô hình thử nghiệm một nhóm: Trong mô hình này, những đơn vị được rút ra để thử nghiệm không được chọn một cách ngẫu nhiên mà dựa trên một số căn cứ khác. Đối với những thử nghiệm này, các biến số nguyên nhân được bộc lộ trước rồ sau đó chúng mới được đo lường sự ảnh hưởng. * Mô hình một nhóm thử nghiệm đo lường sau (posttest) X O1 * Mô hình thử nghiệm một nhóm đo lường trước và sau (p & posttest): mô hình này chỉ khác mô hình một nhóm thử nghiệm đo lường sau là các đối tượng được nghiên cứu trước khi tiến hành thử nghiệm phải thực hiện đo lường. O1 X O2 * Mô hình chuỗi thời gian (time -series): Mô hình chuỗi thời gian là sự mở rộng của mô hình thử nghiệm trước và sau. Chúng cung cấp những kết quả của các lần đo lường liên tục và các kiểu thử nghiệm giống nhau ở các địa điểm khác nhau cùng một thời gian. O1 O2 O3 O4 X O5 O6 O7 O8 Các mô hình thử nghiệm một nhóm có cách làm đơn giản, ít tốn kém chi phí, nhưng do các đối tượng thử nghiệm được lựa chọn có chủ ý hoặc tình nguyện nên kết quả khó đảm bảo tính đại diện cũng như độ tin cậy. Loại mô hình thử nghiệm này được sử dụng để tìm hiểu các biến số nguyên nhân, nhưng lại không kiểm soát được các yếu tố tác động khác, và không có cơ sở để kiểm chứng tác động này (so với nhóm đối tượng khác).
    7. 16. 43 – Mô hình thử nghiệm có kiểm chứng: trong dạng mô hình này, người ta đưa thêm vào một nhóm kiểm chứng (không đưa vào tác động thử nghiệm), và đối tượng thử nghiệm được lựa chọn một cách ngẫu nhiên. Có các loại mô hình chủ yếu sau: * Mô hình kiểm chứng đo lường sau (posttest): Trong mô hình này các nhóm đối tượng đưa vào thử nghiệm không có đo lường trước khi tiến hành thử nghiệm. Mô hình R X O1 (nhóm thử nghiệm) R O2 (nhóm kiểm chứng) Mô hình này đơn giản, ít tốn kém thời gian và chi phí thử nghiệm, thường được áp dụng khá rộng rãi trong nghiên cứu marketing. * Mô hình một nhóm kiểm chứng đo lường trước và sau (p & posttest): Trong mô hình này, các nhóm kiểm chứng và nhóm thử nghiệm được đo lường trước khi tiến hành đưa tác động vào nhóm thử nghiệm. Mô hình R O1 X O3 (nhóm thử nghiệm) R O2 O4 (nhóm kiểm chứng) * Mô hình 4 nhóm Solomon: Trong mô hình này người nghiên cứu sử dụng thêm hai nhóm đối tượng (một kiểm chứng và một thử nghiệm) nhưng không tiến hành đo lường trước, vào trong mô hình một nhóm kiểm chứng đo lường sau. Thực chất đây là sự kết hợp của mô hình một nhóm kiểm chứng đo lường sau và mô hình một nhóm kiểm chứng đo lường trước và sau. Mô hình R O1 X O3 (nhóm thử nghiệm 1) R O2 O4 (nhóm kiểm chứng 1) R X O5 (nhóm thử nghiệm 2) R O6 (nhóm kiểm chứng 2) Mô hình này còn được gọi là “mô hình thử nghiệm được kiểm nghiệm một cách lý tưởng” vì trong mô hình, hầu hết nguyên nhân đưa đến sai lầm đều đã được điều chỉnh để đạt giá trị nội nghiệm cao. Được xem là mô hình lý tưởng nhưng nó lại không được dùng nhiều trong nghiên cứu marketing vì phí tổn cao và khó thực hiện. Người nghiên cứu thường bị ràng buộc về tài chính và thời gian. Dù giá trị thông tin cao đến đâu, người nghiên cứu cũng khó bị thuyết phục vì một phương án và mô hình tốn kém như vậy. Tuy nhiên, mô hình này giúp ta hiểu rõ về nguyên nhân gây sai lầm trong thử nghiệm để thấy được phương hướng và nắm được phương cách khắc phục, làm chủ được quá trình thử nghiệm. – Sự mở rộng các mô hình thử nghiệm: * Mô hình ngẫu nhiên hóa hoàn toàn: Mô hình ngẫu nhiên hóa hoàn toàn là mô hình thử nghiệm đơn giản nhất trong các mô hình mở rộng (các đối tượng thử nghiệm lớn hơn hai) và là phương thức thường được dùng khi người nghiên cứu muốn tìm hiệu ứng của một biến số độc lập. Người nghiên cứu giả định rằng không có khác biệt nào giữa các đơn vị thử nghiệm, và từ đó tất cả đơn vị thử nghiệm được xem như nhau và phân chia bất kỳ theo nhóm thử nghiệm.
    8. 17. Ví dụ: giả sử ta muốn bán một sản phẩm mà không biết giá nào hiệu quả nhất. Ta thử nghiệm 3 giá khác nhau: cao – trung bình – thấp, và ghi chép số bán cho mỗi bậc giá. Để thực hiện quá trình thử nghiệm này, các đơn vị thử nghiệm (gian hàng) được xếp theo ba biến số xử lý, phản ánh bậc giá khác nhau. Chúng ta dùng các ký hiệu: n – số gian hàng ở mỗi bậc xử lý (mức giá). xni – số đo của biến số phụ thuộc (số lượng hàng bán được) ở n đơn vị thử nghiệm (cửa hàng) sau khi đã thực hiện xử lý bậc i (mức giá i). Trong ví dụ trên, đó là số lượng hàng bán được ở n gian hàng theo mức giá i. x số trung bình cho tất cả đơn vị thử nghiệm theo bậc xử lý i (số trung bình hàng bán được ở mỗi gian hàng bán theo mức giá i) Mức giá Số gian hàng Giá cao Giá trung bình Giá thấp Tổng số n Trung bình xử lý Xn1 X1 Xn2 X2 Xn3 X3 X * Mô hình ngẫu nhiên có phân tầng (khối): Mô hình ngẫu nhiên có phân tầng là sự mở rộng hơn mô hình ngẫu nhiên hóa hoàn toàn. Trong mô hình này, có tính đến các yếu tố ngoại lai đơn lẻ có ảnh hưởng đến hiệu ứng của các đơn vị thử nghiệm. Nên người nghiên cứu sẽ tách các yếu tố ngoại lai đó bằng cách “ngăn” tác dụng của nó. Ở ví dụ trên, nếu lập luận rằng tính chất của các cửa hàng (cửa hàng bách hóa, cửa hàng giảm giá, cửa hàng chuyên mãi) có ảnh hưởng đến doanh số bán ra ngoài yếu tố giá cả, thì người nghiên cứu có thể loại bỏ tác động này bằng cách sử dụng mô hình ngẫu nhiên phân tầng như sau: Mức giá Cao Trung bình Thấp 5 1 7 3 6 8 Gian hàng thứ 9 2 4 Trung bình theo cột Giá bán trung bình theo mức giá cao 1x Giá bán trung bình theo mức giá trung bình 1x Giá bán trung bình theo mức giá thấp 3x * Mô hình hình vuông latinh: Mô hình hình vuông latinh có cơ sở vững chắc hơn mô hình ngẫu nhiên hóa phân tầng, mô hình này kiểm soát hoặc ngăn chặn tác dụng của hai yếu tố ngoại lai. Mô hình có tên như vậy vì cách sắp xếp bảng trình bày là một hình vuông. Mô hình này đòi hỏi cách xây dựng phức tạp và việc thực hiện có thể rất tốn kém. Thời gian thử nghiệm Cửa hàng 3/9-16/9 23/9-7/10 14/10-23/10 A 1 2 3 B 4 3 1 C 3 4 2 D 2 1 4 44
    9. 19. 46 Dữ liệu thứ cấp có vai trò quan trọng trong nghiên cứu marketing không chỉ vì các dữ liệu thứ cấp có thể giúp có ngay các thong tin để giải quyết nhanh chóng vấn đề trong một số trường hợp, nó còn giúp xác định hoặc làm rõ vấn đề và hình thành các giả thiết nghiên cứu, làm cơ sở để hoạch định thu thập dữ liệu sơ cấp. Tuy nhiên khi sử dụng dữ liệu thứ cấp phải đánh giá giá trị của nó theo các tiêu chuẩn như tính cụ thể, tính chính xác, tính thời sự và mục đích thu thập của dữ liệu thứ cấp đó. Có hai nguồn cung cấp dữ liệu thứ cấp là nguồn dữ liệu thứ cấp bên trong và nguồn dữ liệu thứ cấp bên ngoài doanh nghiệp. Dữ liệu nghiệp bên trong có thể là báo cáo về doanh thu bán hàng, chi phí bán hàng và các chi phí khác, hồ sơ khách hàng…Dữ liệu thứ cấp bên ngoài là các tài liệu đã được xuất bản có được từ các nghiệp đoàn, chính phủ, chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội thương mại, các tổ chức chuyên môn, các ấn phẩm thương mại, các tổ chức nghiên cứu Marketing chuyên nghiệp… Dữ liệu sơ cấp có thể được thu thập bằng các phương pháp nghiên cứu khác nhau. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và hạn chế nhất định, do vậy phù hợp với những dự án nghiên cứu nhất định. Các phương pháp nghiên cứu bao gồm: Nghiên cứu định tính, quan sát, phỏng vấn và thử nghiệm. Các nghiên cứu định tính bao gồm phỏng vấn nhóm, phỏng vấn chuyên sâu và kỹ thuật hiện hình. Phương pháp quan sát có thể được thực hiện bằng con người hoặc thiết bị. Các phương pháp phỏng vấn bao gồm phỏng vấn cá nhân trực tiếp, phỏng vấn nhóm cố định, phỏng vấn bằng điện thoại, phỏng vấn bằng thư tín. Phương pháp thử nghiệm có thể được thực trong phòng thí nghiệm hoặc thực hiện tại hiện trường. Khi thực hiện các cuộc thử nghiệm chúng ta có thể phải chịu sai lệch trong kết quả do các nguyên nhân: lịch sử, lỗi thời, bỏ ngang, hiệu ứng thử nghiệm, công cụ đo lường hoặc lấy mẫu. Do vậy, việc tổ chức một cuộc thử nghiệm cần phải chuẩn bị tốt, lường trước những sai lầm có thể xảy ra và có hướng khắc phục. CÂU HỎI 1. Các yêu cầu khi xác định dữ liệu. Để đạt các yêu cầu đó, người làm công tác marketing phải làm gì ? 2. Các tiêu thức phân loại và phân loại dữ liệu. 3. Những lý do nào cho thấy vai trò quan trọng của việc sử dụng dữ liệu thứ cấp trong nghiên cứu marketing? 4. Các loại dữ liệu thứ cấp bên trong? 5. Hãy tìm hiểu và cho biết một số nguồn dữ liệu thứ cấp hiện nay là rất hữu ích để các doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu marketing? 6. Một quan điểm cho rằng: ” lợi ích duy nhất của nghiên cứu định tính trong nghiên cứu marketing là giúp xác lập vấn đề nghiên cứu khi nhà nghiên cứu chưa có ý niệm cách thiết lập vấn đề”. Bạn nghĩ sao về quan điểm này. 7. Những ưu điểm và hạn chế của phỏng vấn nhóm trong nghiên cứu định tính? 8. Khi nào thì sử dụng phỏng vấn chuyên sâu là thích hợp hơn phỏng vấn nhóm tập trung? 9. Nêu một vài kỹ thuật hiện hình được áp dụng trong nghiên cứu marketing? 10. Trong trường hợp nào sử dụng phương pháp quan là thích hợp? 11. Trường bạn muốn biết số sinh viên đến thư viện mỗi ngày, nam hay nữ đến thư viện nhiều hơn, loại sách, báo, tạp chí mà họ mượn. Bạn hãy khuyên phương pháp thu thập dữ liệu nào nên được sử dụng trong trường hợp này?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Phổ Biến Nhất Hiện Nay
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Định Lượng Cho Luận Văn
  • Hướng Dẫn Cách Làm Bài Tiểu Luận Chi Tiết Nhất Từ A Đến Z
  • Các Viết Báo Cáo Một Báo Cáo Khoa Học
  • Meresci: Phương Pháp Nghiên Cứu Tài Liệu Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Tin tức online tv