Yoga Thải Độc Shank Prakshalana

--- Bài mới hơn ---

  • Thử Ngay Lộ Trình Thải Độc Cơ Thể Bằng Nước Muối Và Tập Yoga
  • 3 Bài Tập Thở Trong Yoga Giúp Giảm Cân Nhanh
  • Hướng Dẫn Tập Yoga Tại Nhà Đúng Cách Cho Người Mới Bắt Đầu !
  • Hướng Dẫn Tự Tập Yoga Tại Nhà Đúng Cách Qua 11 Bài Tập Cơ Bản Nhất
  • Hướng Dẫn Cách Để Tập Yoga Tại Nhà ?
  • Dấu hiệu nào cho thấy phải thải độc cơ thể ngay

    Quá trình tích tụ độc tố là không ngừng và tàn phá sức khỏe của bạn mỗi ngày. Bạn phải thật chú ý cơ thể mình thì mới nhận ra điều đó. Nếu để quá lâu thì có thể khi phát hiện ra thì bạn đã bị mắc một bệnh nguy hiểm nào đó. Các dấu hiệu như mệt mỏi, chóng mặt, xanh xao… Ngay khi cảm nhận cơ thể có vấn đề lạ, bạn nên kiểm tra sức khỏe ngay. Tốt nhất là bạn nên dùng giải pháp Yoga thải độc cơ thể thường xuyên để tránh những dấu hiệu này.

    Trong Yoga có những bài tập chuyên biệt dùng để thanh lọc và thải độc cơ thể. Các bài tập này cung cấp nhiều oxy cho máu để thu nhặt các chất độc trong máu, giải phóng chất độc trong phổi trong quá trình hít thở sâu…

    Ngoài ra, các động tác Yoga thải độc cơ thể còn giúp cho gan thận hoạt động tốt hơn, nâng cao hiệu suất để làm tốt chức năng đào thải độc tố của mình. Như vậy cơ thể sẽ giải phóng những chất cặn bã nhanh hơn.

    Đặc biệt, nhiều bài tập yoga thải độc chú trọng vào tác dụng thanh lọc đường ruột. Sự thanh lọc đường ruột giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì sức khỏe. Đường ruột càng sạch thì cơ thể càng khỏe mạnh.

    Thải độc cơ thể bằng phương pháp Yoga như thế nào

    Yoga thải độc cơ thể có nhiều loại khác nhau, trong đó liệu pháp Shank Prakshalana là nổi tiếng nhất và phù hợp với hầu hết mọi người. Thanh lọc bằng phương pháp này mất khoảng 1 tiếng và 24 giờ ăn uống nhẹ theo chỉ định.

    Tập Yoga giúp cơ thể thải độc là việc bạn nên duy trì lâu dài. Nhưng việc thanh lọc cơ thể nằng phương pháp Shank Prakshalana thì 1 năm chỉ cần thanh lọc 2 lần là đủ. Sau 1 lần thanh lọc – súc ruột Shank Prakshalana, bạn sẽ cảm nhận ngay sự thay đổi như cơ thể nhẹ nhõm hơn, ngủ ngon giấc, da dẻ tươi tắn hơn.

    Cách thực hiện liệu pháp Yoga thải độc – thanh lọc cơ thể

    Cách thực hiện không khó, đó là Uống nước muối ấm kết hợp tập xen kẽ 4 động tác Shank Prakshalana. Quy cách như sau:

    • Uống 1 lý nước muối ấm
    • Tập 4 động tác Shank Prakshalana (4 lần bên trái, 4 lần bên phải)
    • Lặp lại 2 bước trên 4-6 lần

    1: Hướng dẫn pha nước muối ấm để thanh lọc cơ thể

    Pha theo tỷ lệ 1 lít nước sôi ấm với 1 thìa cà phê đầy muối. Nếu pha mặn quá nước sẽ thẩm thấu qua ruột và đi ra ngoài bằng đường tiểu. Có thể pha thêm 1/2 thìa cafe muối magie (magie sunfat mua tại hiệu thuốc – giúp tăng nhuận tràng) vào lít nước đầu tiên.

    Nên để sẵn nước sôi ấm, uống đến đâu pha đến đó để nước muối không bị nguội.

    2: Hướng dẫn tập 4 động tác Shank Prakshalana

    Sau khi uống 1 lý nước muối ấm, hãy tập 4 động tác sau mỗi bên 4 lần:

    Động tác 1

    Đứng thẳng, hai chân cách bằng vai. Hai bàn tay đan nhau, ngửa lòng bàn tay lên. Lưng thẳng, hít thở nhẹ nhàng. Kéo dài thân, nghiêng mình qua trái, rồi quay thẳng, lại nghiêng mình sang phải.

    Tác dụng: Tác động vào dạ dày và tá tràng, giúp mở cơ thắt môn vị, đưa nước qua dạ dày vào ruột non.

    Tác dụng: Đẩy nước đi qua ruột non.

    Tác dụng: Thúc đẩy nước xuống phần dưới của ruột non.

    Tác dụng: Thúc đẩy nước xuống phần dưới của ruột non.

    • Uống đến lượt thứ 4 và tập 4 động tác trên lần thứ 4, cơ thể sẽ có nhu cầu đi “thải” độc ra ngoài.
    • Nếu sau lần thứ 4 bạn chưa muốn đi vệ sinh, hãy thực hiện thêm 2 lượt nữa.
    • Nếu sau lượt thứ 6 bạn vẫn chưa muốn đi vệ sinh, có lẽ vì nước và chất thải đã bị kẹt ở khúc ruột gấp nào đó. Hãy nằm thư giãn một chút trong tư thế xác chết, tay xoa bụng theo chiều kim đồng hồ. Thông thường đến bước này chắc chắn bạn sẽ muốn “thải độc” ngay bây giờ.
    • Không ăn uống gì trong nửa giờ liền sau đó và cũng không nên để bụng trống hơn 1 tiếng đồng hồ.
    • Nên ăn cháo nhuyễn với muối sau khi thanh lọc là tốt nhất. Có thể ăn các loại rau củ nấu nhừ.
    • Tuyệt đối không dùng các loại rau trái tươi, các loại gia vị cay chua (như tiêu, ớt, chanh…) và sữa.
    • 24 giờ sau mới được ăn như chế độ bình thường, nhưng càng ít thịt càng tốt.
    • Sau khi thanh lọc, đợi ăn xong mới được uống nước, và cũng không dược uống rượu trong vòng 24 giờ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thanh Lọc Cơ Thể Trong 1 Ngày Bằng Phương Pháp Yoga Shank Prakshalana (P2)
  • Yoga Shank Prakshalana Thanh Lọc Cơ Thể Trong 1 Ngày
  • Thanh Lọc Cơ Thể Trong 1 Ngày Bằng Phương Pháp Yoga Shank Prakshalana (P1)
  • Cách Định Giá Cổ Phiếu Công Ty & Bài Tập Định Giá Cổ Phiếu
  • Cách Đối Diện Với Dữ Liệu Bị Thiếu Missing Values Khi Phân Tích Dữ Liệu
  • Thanh Lọc Cơ Thể Trong 1 Ngày Bằng Phương Pháp Yoga Shank Prakshalana (P2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Yoga Thải Độc Shank Prakshalana
  • Thử Ngay Lộ Trình Thải Độc Cơ Thể Bằng Nước Muối Và Tập Yoga
  • 3 Bài Tập Thở Trong Yoga Giúp Giảm Cân Nhanh
  • Hướng Dẫn Tập Yoga Tại Nhà Đúng Cách Cho Người Mới Bắt Đầu !
  • Hướng Dẫn Tự Tập Yoga Tại Nhà Đúng Cách Qua 11 Bài Tập Cơ Bản Nhất
  • Để bắt đầu, hãy nhớ bạn đã chuẩn bị đầy đủ nước và vật dụng cần thiết, đồng thời ghi nhớ chuỗi 4 động tác yoga ép nước xuống ruột.

    Quy trình súc ruột được tạm chia làm 3 kỳ. Kỳ 1: uống nước – tập yoga – uống nước – tập yoga. Kỳ 2, sau khi lượng nước đã được đưa xuống ruột nhiều hơn, thứ tự các hoạt động là: uống nước – tập yoga – đi tiêu – uống nước – tập yoga – đi tiêu. Kỳ 3: uống nước – đi tiêu – uống nước – đi tiêu, vì bạn sẽ không còn thời gian tập yoga nữa.

    Chúng ta bắt đầu với việc uống 1 cốc nước lớn, sau đó xen kẽ mỗi “set” 4 động tác yoga với 1 cốc nước. Sau cốc nước thứ 4 và set bài thứ 4, có thể bạn đã muốn vào toilet do đã có tác dụng nhuận tràng. Hãy cứ đi tiêu sau mỗi 1 cốc nước và 1 set động tác yoga.

    – Nếu đến cốc thứ 4 bạn vẫn chưa muốn đi vệ sinh, hãy cứ tiếp tục uống 2 cốc nước và tập set yoga xen kẽ.

    – Sau 6 cốc nước, nếu bạn vẫn chưa muốn đi tiêu thì hãy nghỉ ngơi 1 lúc. Một số người mắc sai lầm rằng sau 6 cốc nước mà vẫn chưa đi toilet thì lại tiếp tục uống thêm và tập thêm. Hoàn toàn không phải. Cách làm này có thể khiến bạn nôn ra nước và đây không phải là cách chúng ta làm sạch đường tiêu hóa.

    Trong trường hợp uống 6 cốc nước vẫn không muốn đi tiêu, phải làm thế nào?

    Nguyên nhân của việc này đó là do chất thải và nước kẹt tại các gấp khúc. Bạn chỉ cần làm theo các bước sau:

    (Ảnh: intheloop.com.sg)

    – Đầu tiên, bạn nằm ngửa, tay chân dang thoải mái, thả lỏng cơ thể.

    – Sau đótập động tác chồng ngược. Bạn có thể dựa chân vào tường để giữ thăng bằng tốt hơn, hoặc thêm gối ở phần lưng dưới để hỗ trợ nâng thân nếu lực tay yếu.

    (Ảnh: gapsaustralia.com.au)

    – Nhẹ nhàng xoa bụng theo chiều kim đồng hồ – chiều nhu động của ruột già: đứng thoải mái, hơi cúi người về phía trước, các ngón tay đặt tại vùng chậu phải, nhẹ nhàng đưa tay xoa bóp vùng bụng theo chiều kim đồng hồ.

    Nếu sau khi bạn thực hiện các cách trên mà chất thải vẫn “ngoan cố” không chịu ra, bạn có thể sử dụng dung dịch thụt. Sau khi bơm dung dịch, hãy nằm nghiêng sang bên trái. Thường đến bước này thì chắc chắn bạn sẽ cần vào toilet mà không gặp bất cứ trở ngại nào nữa.

    Sau khi đi tiêu được lần đầu tiên, tiếp tục uống nước muối ấm, tập set bài tập yoga và tiếp tục đi vệ sinh. Cứ như vậy cho đến khi đi tiêu ra nước sạch trong là đạt yêu cầu. Với 1 số trường hợp, nước sẽ có thể hơi có màu vàng do dịch mật từ túi mật. Nếu bạn tiếp tục uống sẽ khiến tiếp tục đi tiêu, điều này không gây hại cho cơ thể nhưng cũng không cần thiết. Cho dù chất thải tồn đọng trong ruột già có cứng như thế nào đi nữa thì cũng chỉ sau 12-14 cốc nước là bạn sẽ hoàn toàn đẩy được hết chất thải ra khỏi ruột.

    Giai đoạn 2 – Các bước dinh dưỡng sau khi súc ruột

    Sau khi ngừng súc ruột, bạn phải đưa cơ thể về trạng thái cân bằng. Hãy nhấp nửa cốc nước tinh khiết trên đầu lưỡi. Trong các giờ tiếp theo, nếu bạn có đi tiêu thêm 2-3 lần thì cũng chỉ là do nước trong ruột chưa được đẩy ra hết, đó là điều bình thường.

    (Ảnh: theflirtyguide.blogspot.com)

    Nửa giờ sau, bạn có thể ăn bữa đầu tiên, cách 30 phút lại ăn thêm 1 ít, tuyệt đối không được để bụng rỗng. Món ăn phù hợp nhất là cháo rau củ quả loãng nấu nhừ, không bỏ muối. Gạo sẽ giúp hấp thụ số muối còn lại trong đường tiêu hóa.

    Vì cả ngày bạn sẽ tránh các hoạt động thể chất nên bữa ăn cần bao gồm ngũ cốc, rau luộc và hầm. Loại bỏ hoàn toàn các món nhiều protein như thịt, cá, phô mai, đậu. Cũng không ăn các loại rau trái tươi, các loại gia vị cay, chua như tiêu, ớt, chanh… Tuyệt đối không uống sữa hoặc thức uống có cồn, có ga.

    Sang ngày tiếp theo, bạn có thể quay trở về ăn uống như trước đây nhưng lượng protein tăng dần dần. Điều kiện tốt nhất là ăn rau luộc, đậu phụ luộc và củ quả hầm trong 3-4 ngày sau khi thực hiện thanh lọc bằng Shank Prakshalana (trong thời gian này, không nên ăn các loại nấm khô).

    Tổng kết Thanh lọc cơ thể thường xuyên giúp trẻ đẹp hơn. (Ảnh: wonderwoman.intoday.in)

    Dưới nhiều yếu tố khác nhau, như căng thẳng thần kinh, chế độ dinh dưỡng không hợp lý, ô nhiễm môi trường… vi sinh đường ruột sẽ phản ứng tạo ra các bệnh lý khác nhau với các mức độ khác nhau. Ruột bị tích đọng chất độc sẽ khiến chúng ta bị lão hóa, sạm da, tóc bạc, da dẻ kém đàn hồi, tích tụ mỡ thừa, khó hấp thu chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe. Rửa sạch đường ruột bằng Shank Prakshalana là cách bạn thanh lọc khối lượng lớn các chất độc hại tích tụ trong cơ thể, khiến hệ tiêu hóa của bạn về gần với trạng thái trong sạch như của trẻ sơ sinh, làm trẻ hóa cơ thể bạn một cách an toàn và hiệu quả.

    Bài: Trà Ly

    Thanh lọc cơ thể trong 1 ngày bằng phương pháp yoga Shank Prakshalana (P1)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Yoga Shank Prakshalana Thanh Lọc Cơ Thể Trong 1 Ngày
  • Thanh Lọc Cơ Thể Trong 1 Ngày Bằng Phương Pháp Yoga Shank Prakshalana (P1)
  • Cách Định Giá Cổ Phiếu Công Ty & Bài Tập Định Giá Cổ Phiếu
  • Cách Đối Diện Với Dữ Liệu Bị Thiếu Missing Values Khi Phân Tích Dữ Liệu
  • Chuẩn Bị Dữ Liệu Và Xử Lí Dữ Liệu
  • Thanh Lọc Cơ Thể Trong 1 Ngày Bằng Phương Pháp Yoga Shank Prakshalana (P1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Yoga Shank Prakshalana Thanh Lọc Cơ Thể Trong 1 Ngày
  • Thanh Lọc Cơ Thể Trong 1 Ngày Bằng Phương Pháp Yoga Shank Prakshalana (P2)
  • Yoga Thải Độc Shank Prakshalana
  • Thử Ngay Lộ Trình Thải Độc Cơ Thể Bằng Nước Muối Và Tập Yoga
  • 3 Bài Tập Thở Trong Yoga Giúp Giảm Cân Nhanh
  • Yoga trị liệu có rất nhiều các phương pháp thanh lọc cơ thể khác nhau, trong đó có Shank Prakshalana là cách phù hợp với số đông. Bạn chỉ cần mất khoảng 1 tiếng đồng hồ để súc ruột, sau đó áp dụng ăn uống nhẹ trong 24 giờ tiếp theo. Theo các chuyên gia về sức khỏe và các yogi, Shank Prakshalana giúp đẩy mọi chất bẩn tích tụ lâu ngày trong ruột già, gây nên các bệnh về đường ruột, lão hóa, chân tay sưng nhức… Sau 1 lần súc ruột, bạn đã có thể cảm nhận cơ thể nhẹ nhõm hơn, ngủ ngon giấc, da dẻ tươi tắn.Thực hiện đều đặn phương pháp này sẽ cải thiện sức khỏe của hệ tiêu hóa, gan, giảm rất nhiều bệnh tật, tươi trẻ và khỏe đẹp hơn.Với những người thành thị – tiếp xúc với quá nhiều các chất hóa học trong thực phẩm và môi trường sống luôn khiến cơ thể nhiễm nhiều chất độc hại – thì việc thường xuyên thanh lọc cơ thể luôn được đề cao và khuyến khích thực hiện.

    Hãy ghi nhớ rằng bất kỳ phương pháp trị liệu nào cũng cần được thực hiện chính xác và bạn phải được sự đồng ý của bác sĩ theo dõi sức khỏe.

    Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu quy trình thực hiện thanh lọc Shank Prakshalana, đồng thời tìm hiểu những gì bạn cần chuẩn bị khi áp dụng phương pháp này.

    – Bạn sẽ uống nước muối, sau đó tập chuỗi 4 động tác Yoga để tăng quá trình ưu trương qua đường ruột. Việc súc ruột này được thực hiện cho đến khi bạn đại tiện ra chất lỏng trong suốt, đây là dấu hiệu cho thấy bộ máy tiêu hóa – đặc biệt là đường ruột – được làm sạch tối đa.

    – Một năm có thể thực hiện thanh lọc bằng Shank Prakshalana 2 lần. Tốt nhất là khoảng 4 lần/năm, thực hiện vào lúc chuyển mùa.

    – Chọn ngày nghỉ, tránh lao động nặng nhọc, thích hợp nhất là bắt đầu vào sáng chủ nhật. Áp dụng tốt nhất khi bụng bạn còn rỗng. Sau khi vệ sinh vào buổi sáng là có thể bắt tay thực hiện.

    – 1-2 ngày trước đó tránh ăn thịt và các món khó tiêu hóa. Khuyến khích ăn cháo và rau luộc.

    Nước muối ấm: nồng độ tối ưu là 1 muỗng cà phê muối (5gram) cho 1 lít nước ấm. Nên chuẩn bị sẵn nước ấm, uống tới đâu pha thêm tới đó để tránh nước muối bị nguội dần. Nếu có điều kiện thì tốt nhất hãy pha thêm ½ muỗng cà phê muối magie (Magie sunfat – có bán tại các hiệu thuốc) vào lít nước đầu tiên. Muối magie giúp tăng nhuận tràng, giúp cho việc súc ruột diễn ra tốt hơn. Ngoài ra có thể thêm ¼ trái chanh cho mỗi lít nước. Sử dụng cốc cao khoảng 13cm, đường kính khoảng 7cm.

    Nước muối ấm là công cụ hỗ trợ tối đa cho quy trình thanh lọc cơ thể Shank Prakshalana (Ảnh: another-reality.in)

    Kem dưỡng ẩm tốt và khăn mềm đặt sẵn trong toilet. Trong mỗi lần đi vệ sinh, sau khi rửa sạch, bạn có thể dùng khăn thấm kem lau nhẹ quanh hậu môn, bởi muối ưu trương có thể gây kích ứng nhẹ tại khu vực này.

    Lưu ý

    Chống chỉ định với bệnh nhân cấp tính và mãn tính đường tiêu hóa, bệnh đường mật, tắc ruột, chảy máu đường ruột, chảy máu dạ dày, phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, mang thai và tăng đông máu.

    Động tác Yoga Shank Prakshalana

    – Shank Prakshalana chỉ có 4 động tác đơn giản, bạn nên tập trước cho nhuần nhuyễn để không bị kéo dài thời gian súc ruột.

    – Mỗi động tác thực hiện 8-16 lần cho mỗi bên. 4 động tác là 1 bài tập, được tập liền mạch không ngắt quãng giữa chừng.

    (Ảnh: wildyogi.info)

    Đứng thẳng, hai chân cách bằng vai. Hai bàn tay đan nhau, ngửa lòng bàn tay lên. Thẳng lưng, hít thở bình thường. Kéo dài thân, thực hiện động tác nghiêng mình qua trái, rồi quay thẳng, lại nghiêng sang phải.

    Tập động tác theo thứ tự b-a-b-c. (Ảnh: jalanetipot.com)

    Đây là động tác tác động vào dạ dày và tá tràng, giúp mở cơ thắt môn vị, đưa nước qua dạ dày vào ruột non.

    Đứng thẳng, duỗi thẳng tay ngang vai. Xoay thân trên về bên phải, cuốn tay phải vào sau thắt lưng và tay trái đặt lên vai phải. Lặp lại tương tự về phía bên kia. Đầu xoay nhìn về phía sau. Cố định hông và chân.

    Tập động tác theo thứ tự b-a-c. (Ảnh: wildyogi.info)

    Động tác này xoắn tối đa ở bụng, có tác dụng đẩy nước đi qua ruột non.

    Nằm úp xuống sàn, tay để bên cạnh ngực, chỉ có ngón chân và bàn tay chạm đất, 2 chân cách bằng vai (khoảng 30cm). Nhấn tay trên sàn nhà, nâng cao đầu, vai và ngực. Xoay vai, duỗi thẳng cánh tay và hơi uốn cong, nhìn qua vai đến gót chân trái. Lặp lại ở phía bên kia.

    Tập động tác theo thứ tự a-b-c-d. (Ảnh: jalanetipot.com)

    Kỹ thuật này thúc đẩy nước xuống phần dưới của ruột non.

    Ngồi xổm, 2 chân cách nhau 30cm, 2 gót đặt hơi ngoài đùi chứ không dưới mông, 2 tay đặt trên đầu gối. Xoay thân sang bên phải, đầu gối phải nâng lên, đầu gối trái chạm đất. Quay đầu về phía sau. Xoay ngược lại với bên kia.

    Đây là động tác ép nước xuống ruột già, kết thúc quá trình đi của nước. (Ảnh: jalanetipot.com)

    Để bắt đầu, hãy nhớ bạn đã chuẩn bị đầy đủ nước và vật dụng cần thiết, chọn ngày thực hiện, ăn uống giảm protein và các chất khó tiêu trong các ngày trước đó và đặc biệt phải ghi nhớ chuỗi 4 động tác Shank Prakshalana trên.

    Bài: Trà Ly

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Định Giá Cổ Phiếu Công Ty & Bài Tập Định Giá Cổ Phiếu
  • Cách Đối Diện Với Dữ Liệu Bị Thiếu Missing Values Khi Phân Tích Dữ Liệu
  • Chuẩn Bị Dữ Liệu Và Xử Lí Dữ Liệu
  • Chương 2: Các Vấn Đề Tiền Xử Lý Dữ Liệu
  • Chi Tiết Bài Học Tiền Xử Lý Dữ Liệu Trong Lĩnh Vực Học Máy (Phần 3)
  • Yoga Shank Prakshalana Thanh Lọc Cơ Thể Trong 1 Ngày

    --- Bài mới hơn ---

  • Thanh Lọc Cơ Thể Trong 1 Ngày Bằng Phương Pháp Yoga Shank Prakshalana (P2)
  • Yoga Thải Độc Shank Prakshalana
  • Thử Ngay Lộ Trình Thải Độc Cơ Thể Bằng Nước Muối Và Tập Yoga
  • 3 Bài Tập Thở Trong Yoga Giúp Giảm Cân Nhanh
  • Hướng Dẫn Tập Yoga Tại Nhà Đúng Cách Cho Người Mới Bắt Đầu !
  • Yoga trị liệu có nhiều các phương pháp thanh lọc cơ thể khác nhau, trong đó có Shank Prakshalana là cách phù hợp với số đông. Bạn chỉ cần mất khoảng 1 tiếng đồng hồ để súc ruột, sau đó áp dụng ăn uống nhẹ trong 24 giờ tiếp theo. Sau 1 lần súc ruột, bạn đã có thể cảm nhận cơ thể nhẹ nhõm hơn, ngủ ngon giấc, da dẻ tươi tắn hơn. Ngày nay, khi con người đang phải tiếp xúc với quá nhiều chất hóa học trong thực phẩm và môi trường sống thì việc thường xuyên thanh lọc cơ thể luôn được đề cao và khuyến khích thực hiện.

    Tuy nhiên, phương pháp này chống chỉ định với bệnh nhân cấp và mạn tính đường tiêu hóa, bệnh đường mật, tắc ruột, chảy máu đường ruột, chảy máu dạ dày, phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, mang thai và tăng đông máu. Quy trình thực hiện:

    – Uống nước muối ấm, sau đó tập 4 động tác yoga để tăng quá trình ưu trương qua đường ruột. Việc súc ruột này được thực hiện cho đến khi bạn đại tiện ra chất lỏng trong suốt – dấu hiệu cho thấy bộ máy tiêu hóa được làm sạch tối đa.

    – Pha nước muối ấm: pha nước muối ấm với tỷ lệ 1 thìa cafe muối với 1 lít nước ấm. Nên chuẩn bị sẵn nước ấm, uống tới đâu pha thêm tới đó, tránh để nước muối bị nguội dần. Có thể pha thêm 1/2 thìa cafe muối magie (magie sunfat mua tại hiệu thuốc – giúp tăng nhuận tràng) vào lít nước đầu tiên.

    – Nên thực hiện thanh lọc cơ thể 1 năm 2 lần, thực hiện vào lúc chuyển mùa.

    Chọn ngày nghỉ, tránh lao động nặng nhọc. Khoảng 1-2 ngày trước đó nên tránh ăn thịt và các món khó tiêu hóa.

    Các động tác yoga Shank Prakshalana cần thực hiện:

    Shank Prakshalana chỉ có 4 động tác đơn giản, bạn nên tập trước cho nhuần nhuyễn để không kéo dài thời gian súc ruột. Mỗi động tác thực hiện 8-16 lần cho mỗi bên. 4 động tác là 1 bài tập, thực hiện liền mạch, không nghỉ giữa chừng.

    Động tác 1: Đứng thẳng, hai chân cách bằng vai. Hai bàn tay đan nhau, ngửa lòng bàn tay lên. Lưng thẳng, hít thở nhẹ nhàng. Kéo dài thân, nghiêng mình qua trái, rồi quay thẳng, lại nghiêng mình sang phải.

    Tác dụng: Tác động vào dạ dày và tá tràng, giúp mở cơ thắt môn vị, đưa nước qua dạ dày vào ruột non.

    Động tác 2: Đứng thẳng, duỗi thẳng tay qua vai. Xoay thân trên về bên phải, cuốn tay phải vào sau thắt lưng và tay trái đặt lên vai phải. Lặp lại tương tự về phía bên kia. Đầu xoay nhìn về phía sau. Cố định hông và chân.

    Tác dụng: Đẩy nước đi qua ruột non.

    Động tác 3: Nằm úp xuống sàn, tay để bên cạnh ngực, chỉ có ngón chân và bàn tay chạm đất, 2 chân cách bằng vai (30 cm). Nhấn tay trên sàn nhà, nâng cao đầu, vai và ngực. Xoay vai, duỗi thẳng cánh tay và hơi uống cong, nhìn qua vai đến gót chân trái. Lặp lại ở phía bên kia.

    Tác dụng: Thúc đẩy nước xuống phần dưới của ruột non.

    Động tác 4: Ngồi xổm, 2 chân cách nhau 30 cm, 2 gót chân đặt hơi ngoài đùi chứ không dưới mông, 2 tay đặt trên đầu gối. Xoay thân sang bên phải, đầu gối phải nâng lên, đầu gối trái chạm đất. Quay đầu về phía sau, xoay ngược lại với bên kia.

    Các bước thực hiện thanh lọc cơ thể:

    Bước 1: Đẩy chất độc hại ra khỏi cơ thể

    Bắt đầu uống 1 cốc nước lớn rồi thực hiện 4 động tác yoga, sau đó lại uống 1 cốc nước lớn và thực hiện 4 động tác yoga… Sau cốc nước thứ 4 và thực hiện 4 động tác yoga lần thứ 4, có thể cơ thể bạn đã có nhu cầu “thải” các chất cặn bã dư thừa.

    Nếu đến cốc nước thứ 4 mà bạn vẫn chưa muốn đi vệ sinh, hãy cứ tiếp tục uống 2 cốc nước và tập 4 động tác yoga xen kẽ. Sau 6 cốc nước, nếu bạn vẫn chưa muốn đi vệ sinh thì hãy nghỉ ngơi 1 lúc. Một số người mắc sai lầm rằng sau 6 cốc nước mà vẫn chưa đi thì lại tiếp tục uống thêm và tập thêm. Cách làm này có thể khiến bạn nôn ra nước và đây không phải là cách chúng ta làm sạch đường tiêu hóa.

    Trong trường hợp uống 6 cốc nước vẫn không muốn đi vệ sinh, có thể chất thải và nước đã bị kẹt tại các gấp khúc trong ruột. Lúc này, bạn cần thực hiện các động tác:

    – Nằm ngửa, tay chân dang thoải mái, thả lỏng cơ thể;

    – Nhẹ nhàng xoa bụng theo chiều kim đồng hồ, chiều nhu động của ruột già.

    Nếu sau khi thực hiện các cách trên mà chất thải vẫn không chịu ra, bạn nên sử dụng dung dịch thụt. Sau khi bơm dung dịch, hãy nằm nghiêng sang bên trái. Thông thường, đến bước này, cơ thể bạn chắc chắn sẽ cần vào toilet để “thải độc”.

    Sau khi đi toilet lần đầu tiên, tiếp tục uống nước muối ấm, tập các động tác yoga và tiếp tục đi toilet. Cứ thực hiện như vậy cho đến khi đi toilet ra nước sạch trong là đạt yêu cầu. Một vài trường hợp, nước thải có màu vàng do dịch mật từ túi mật. Nếu bạn vẫn tiếp tục uống nước mối ấm và tập yoga sẽ tiếp tục đi toilet, điều này không gây hại cho cơ thể nhưng cũng không cần thiết.

    Bước 2: Nạp

    dinh dưỡng sau khi súc ruột

    Sau khi ngừng súc ruột, hãy nhấp nhẹ nhàng nửa cốc nước lọc. Nửa giờ sau, bạn có thể ăn bữa đầu tiên, cách 30 phút lại ăn thêm 1 ít, tuyệt đối không được để bụng rỗng. Món ăn phù hợp nhất lúc này là cháo rau củ quả loãng nấu nhừ, không bỏ muối. Tinh bột sẽ giúp hấp thụ số muối còn lại trong đường tiêu hóa.

    Trong ngày thải độc, bạn nên ăn các loại ngũ cốc, rau luộc và hầm, tránh hoàn toàn các món nhiều protein như thịt, cá, phô mai, đậu, rau quả tươi, nấm khô, gia vị cay, chua, không uống sữa hoặc nước uống có cồn, ga…

    Ngày tiếp theo, bạn có thể quay trở về ăn uống như trước đây nhưng lượng protein tăng dần dần. Tốt nhất là nên ăn rau luộc, đậu phụ luộc, và củ quả hầm trong 3-4 ngày sau khi thực hiện thanh lọc bằng Shank Prakshalana.

    Vân Anh H+ (Tổng hợp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thanh Lọc Cơ Thể Trong 1 Ngày Bằng Phương Pháp Yoga Shank Prakshalana (P1)
  • Cách Định Giá Cổ Phiếu Công Ty & Bài Tập Định Giá Cổ Phiếu
  • Cách Đối Diện Với Dữ Liệu Bị Thiếu Missing Values Khi Phân Tích Dữ Liệu
  • Chuẩn Bị Dữ Liệu Và Xử Lí Dữ Liệu
  • Chương 2: Các Vấn Đề Tiền Xử Lý Dữ Liệu
  • Yoga Thải Độc Shank Prakshalana – Thanh Lọc Cơ Thể

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Bài Tập Yoga Giảm Cân Tại Nhà Dễ Áp Dụng Và Hiệu Quả Nhất
  • Chia Sẻ Kinh Nghiệm Tự Tập Yoga Tại Nhà Khi Bạn Không Thể Tham Gia Các Lớp Học Yoga • Purna
  • Tổng Hợp 4 Bài Tập Yoga Cơ Bản Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Hướng Dẫn Tập Thở Cơ Bụng Đúng
  • 6 Tư Thế Yoga Tốt Nhất Cho Nam Giới
  • Vốn dĩ con người có khả năng tự hấp thủ những chất dinh dưỡng, những gì độc hại không tương thích với cơ thể thì cơ thể sẽ có cơ thể tự đào thải. Thế nhưng trong cuộc sống hiện đại, khi đồ ăn, đồ uống và cả không khi lẫn những thói quen không tốt, khiến chất độc hại có thể tích tụ trong cơ thể tự bao giờ. Cơ thể quen dần với chất độc và không xử ý hết các chất ấy được. Hậu quả vô cùng nghiêm trọng khi sức đề kháng giảm dần, bệnh tật xuất hiện, nhất là các bệnh ung thư tai quái. Chúng tôi nghiêm túc khuyên bạn rằng, bạn cần thường xuyên thanh lọc cơ thể mình để bảo vệ sức khỏe. Yoga thải độc cơ thể là chọn lựa rất tuyệt vời nhưng có lẽ bạn lại chưa nghĩ đến.

    Dấu hiệu nào cho thấy phải thải độc cơ thể ngay

    Quá trình tích tụ độc tố là không ngừng và tàn phá sức khỏe của bạn mỗi ngày. Bạn phải thật chú ý cơ thể mình thì mới nhận ra điều đó. Nếu để quá lâu thì có thể khi phát hiện ra thì bạn đã bị mắc một bệnh nguy hiểm nào đó. Các dấu hiệu như mệt mỏi, chóng mặt, xanh xao… Ngay khi cảm nhận cơ thể có vấn đề lạ, bạn nên kiểm tra sức khỏe ngay. Tốt nhất là bạn nên dùng giải pháp Yoga thải độc cơ thể thường xuyên để tránh những dấu hiệu này.

    Yoga thải độc cơ thể như thế nào?

    Trong Yoga có những bài tập chuyên biệt dùng để thanh lọc và thải độc cơ thể. Các bài tập này cung cấp nhiều oxy cho máu để thu nhặt các chất độc trong máu, giải phóng chất độc trong phổi trong quá trình hít thở sâu…

    Ngoài ra, các động tác Yoga thải độc cơ thể còn giúp cho gan thận hoạt động tốt hơn, nâng cao hiệu suất để làm tốt chức năng đào thải độc tố của mình. Như vậy cơ thể sẽ giải phóng những chất cặn bã nhanh hơn.

    Đặc biệt, nhiều bài tập yoga thải độc chú trọng vào tác dụng thanh lọc đường ruột. Sự thanh lọc đường ruột giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì sức khỏe. Đường ruột càng sạch thì cơ thể càng khỏe mạnh.

    Thải độc cơ thể bằng phương pháp Yoga như thế nào

    Yoga thải độc cơ thể có nhiều loại khác nhau, trong đó liệu pháp Shank Prakshalana là nổi tiếng nhất và phù hợp với hầu hết mọi người. Thanh lọc bằng phương pháp này mất khoảng 1 tiếng và 24 giờ ăn uống nhẹ theo chỉ định.

    Tập Yoga giúp cơ thể thải độc là việc bạn nên duy trì lâu dài. Nhưng việc thanh lọc cơ thể nằng phương pháp Shank Prakshalana thì 1 năm chỉ cần thanh lọc 2 lần là đủ. Sau 1 lần thanh lọc – súc ruột Shank Prakshalana, bạn sẽ cảm nhận ngay sự thay đổi như cơ thể nhẹ nhõm hơn, ngủ ngon giấc, da dẻ tươi tắn hơn.

    Phương pháp Shank Prakshalana chống chỉ định đổi với bệnh nhân cấp và mãn tính đường tiêu hóa, bệnh đường mật, tắc ruột, chảy máu đường ruột, chảy máu dạ dày, phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, mang thai và tăng đông máu.

    Cách thực hiện liệu pháp Yoga thải độc – thanh lọc cơ thể

    Cách thực hiện không khó, đó là Uống nước muối ấm kết hợp tập xen kẽ 4 động tác Shank Prakshalana. Quy cách như sau:

    • Uống 1 lý nước muối ấm
    • Tập 4 động tác Shank Prakshalana (4 lần bên trái, 4 lần bên phải)
    • Lặp lại 2 bước trên 4-6 lần

    1: Hướng dẫn pha nước muối ấm để thanh lọc cơ thể

    Pha theo tỷ lệ 1 lít nước sôi ấm với 1 thìa cà phê đầy muối. Nếu pha mặn quá nước sẽ thẩm thấu qua ruột và đi ra ngoài bằng đường tiểu. Có thể pha thêm 1/2 thìa cafe muối magie (magie sunfat mua tại hiệu thuốc – giúp tăng nhuận tràng) vào lít nước đầu tiên.

    Nên để sẵn nước sôi ấm, uống đến đâu pha đến đó để nước muối không bị nguội.

    2: Hướng dẫn tập 4 động tác Shank Prakshalana

    Sau khi uống 1 lý nước muối ấm, hãy tập 4 động tác sau mỗi bên 4 lần:

    Động tác 1

    Đứng thẳng, hai chân cách bằng vai. Hai bàn tay đan nhau, ngửa lòng bàn tay lên. Lưng thẳng, hít thở nhẹ nhàng. Kéo dài thân, nghiêng mình qua trái, rồi quay thẳng, lại nghiêng mình sang phải.

    Tác dụng: Tác động vào dạ dày và tá tràng, giúp mở cơ thắt môn vị, đưa nước qua dạ dày vào ruột non.

    Động tác 2

    Đứng thẳng, duỗi thẳng tay qua vai. Xoay thân trên về bên phải, cuốn tay phải vào sau thắt lưng và tay trái đặt lên vai phải. Lặp lại tương tự về phía bên kia. Đầu xoay nhìn về phía sau. Cố định hông và chân.

    Tác dụng: Đẩy nước đi qua ruột non.

    Động tác 3

    Nằm úp xuống sàn, tay để bên cạnh ngực, chỉ có ngón chân và bàn tay chạm đất, 2 chân cách bằng vai (30 cm). Nhấn tay trên sàn nhà, nâng cao đầu, vai và ngực. Xoay vai, duỗi thẳng cánh tay và hơi uống cong, nhìn qua vai đến gót chân trái. Lặp lại ở phía bên kia.

    Tác dụng: Thúc đẩy nước xuống phần dưới của ruột non.

    Động tác 4:

    Ngồi xổm, 2 chân cách nhau 30 cm, 2 gót chân đặt hơi ngoài đùi chứ không dưới mông, 2 tay đặt trên đầu gối. Xoay thân sang bên phải, đầu gối phải nâng lên, đầu gối trái chạm đất. Quay đầu về phía sau, xoay ngược lại với bên kia.

    Tác dụng: Thúc đẩy nước xuống phần dưới của ruột non.

    Lưu ý khi thực hiện Yoga thải độc, thanh lọc cơ thể

    • Uống đến lượt thứ 4 và tập 4 động tác trên lần thứ 4, cơ thể sẽ có nhu cầu đi “thải” độc ra ngoài.
    • Nếu sau lần thứ 4 bạn chưa muốn đi vệ sinh, hãy thực hiện thêm 2 lượt nữa.
    • Nếu sau lượt thứ 6 bạn vẫn chưa muốn đi vệ sinh, có lẽ vì nước và chất thải đã bị kẹt ở khúc ruột gấp nào đó. Hãy nằm thư giãn một chút trong tư thế xác chết, tay xoa bụng theo chiều kim đồng hồ. Thông thường đến bước này chắc chắn bạn sẽ muốn “thải độc” ngay bây giờ.
    • Không ăn uống gì trong nửa giờ liền sau đó và cũng không nên để bụng trống hơn 1 tiếng đồng hồ.
    • Nên ăn cháo nhuyễn với muối sau khi thanh lọc là tốt nhất. Có thể ăn các loại rau củ nấu nhừ.
    • Tuyệt đối không dùng các loại rau trái tươi, các loại gia vị cay chua (như tiêu, ớt, chanh…) và sữa.
    • 24 giờ sau mới được ăn như chế độ bình thường, nhưng càng ít thịt càng tốt.
    • Sau khi thanh lọc, đợi ăn xong mới được uống nước, và cũng không dược uống rượu trong vòng 24 giờ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiền Xử Lý Dữ Liệu Với Python
  • Tiền Xử Lý Dữ Liệu (Horse Colic Dataset)
  • Sự Nguy Hại Của Excel, Phân Tích Dữ Liệu Thủ Công Và Các Biện Pháp Giải Quyết Vấn Đề
  • Data Cleaning – Làm Sạch Dữ Liệu: Xử Lý Missing Values (P1)
  • Các Bước Phân Tích Dữ Liệu Bạn Nên Biết
  • Phương Pháp Và Phương Pháp Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Là Gì, Có Hiệu Quả Không?
  • Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Bao Nhiêu Tiền & Cắt Ở Đâu?
  • Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Là Gì Và Ở Đâu An Toàn Nhất
  • Hplc Là Gì ? Khái Niệm, Nguyên Tắc, Phân Loại & Phạm Vi Ứng Dụng
  • Phương Pháp Sắc Ký Lỏng Hiệu Năng Cao (Hplc)
  • 1. Phương pháp

    Theo nghĩa thông thường phương pháp (tiếng Hy Lạp, phương pháp – methodos) là cách thức, thủ đoạn mà chủ thể sử dụng để đạt một mục đích nhất định. Thí dụ để hỏi quả trên cây, người ta có thể dùng nhiều cách: Trèo lên để bứt, dùng gậy để khều, hoặc dùng dao để chặt; muốn qua sông người ta có thể dùng nhiều cách: bơi bằng phao, hoặc dùng thuyền, hoặc dùng bè v.v. Ngay trong việc bơi cũng có nhiều cách như bơi ếch, bơi bướm, bơi sải v.v. Đó là những phương pháp hoạt động thực tiễn. Trong quá trình nhận thức cũng có nhiều cách để đi đến kết quả cần thiết. Thí dụ, để tính toán tổng các số chẵn có hai chữ số: 12 + 14 + 16 + ….+ 98, ta có ba cách: một là cộng lần lượt từ số thứ nhất đến số cuối cùng.

    Hai là có thể nhóm thành từng cặp có giá trị bằng nhau rồi nhân với số lượng các cặp bằng nhau đó: 12 + 98 = 110;

    ………………

    Có 22 cặp số mà tổng bằng 110 vậy tổng dãy số trên là: 22 X 110 = 2420.

    Cách thứ ba: ta có nhận xét nếu cộng tổng hai dãy số trên theo thứ tự tăng dần và giảm dần như sau:

    12+14+16+……. + 96 + 98

    110 + 110 + 110 + …+ 110+ 110. Có 44 số hạng bằng 110 trong tổng này, nên ta có thể tính dễ dàng bằng: 110 X 44 = 4840.

    Nếu định nghĩa một cách khái quát, khoa học và chặt chẽ thì phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện một mục đích nhất định.

    Định nghĩa nêu trên vừa nói lên được một cách khái quát hình thức thể hiện của phương pháp vừa nói lên được nguồn gốc và vai trò của phương pháp.

    Một vấn đề đặt ra là những nguyên tắc đó được con người rút ra như thế nào, từ đâu, và bản chất của nó là gì? Trả lời vấn đề này có một số quan điểm khác nhau.

    Nguồn gốc và bản chất của phương pháp

    Có một số quan niệm khác nhau về nguồn gốc và bản chất của phương pháp.

    Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm cho phương pháp là nhũng nguyên tắc do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức và hoạt động thực tiễn. Như vậy, theo quan niệm này, phương pháp là phạm trù thuần tuý chủ quan, không phụ thuộc vào đối tượng nhận thức và đối tượng tác động thực tế của con người. Thoạt nhìn, chúng ta thấy quan niệm này có vẻ hợp lý. Nhưng xem xét tỷ mỷ hơn chúng ta thấy con người không thể tuỳ tiện đặt ra những cách thức cho hoạt động của mình được. Thí dụ, khi bơi, chúng ta không thể hoạt động một cách tuỳ tiện, mà phải phối hợp cử động chân, tay một cách nhịp nhàng mới bơi được. Neu không phối hợp tay, chân một cách nhịp nhàng, người bơi sẽ không tạo ra một lực nâng tổng họp lớn hơn trọng lượng cơ thể, người đó thì sẽ bị chìm. Một thí dụ khác, khi chèo thuyền phải khua mái chèo theo một tư thế nhất định thuyền mới chạy đúng hướng được, nếu ìchông thuyền sẽ đứng tại chỗ mà không tiến lên phía trước như mong muốn. Như vậy hoạt động của con người không thể tuỳ tiện theo ý muốn chủ quan được, mà bị quy định bởi tính tất yếu bên ngoài, phụ thuộc vào đối tượng mà con người tác động.

    Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: phương pháp dù là những nguyên tắc do con người đặt ra và dùng để điều chỉnh hoạt động của mình nhằm đạt mục đích nhất định, nhưng không được đặt ra một cách hoàn toàn chủ quan, tuỳ tiện, cũng không phải là những nguyên tắc có sẵn bất biến trong tự nhiên. Phương pháp phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và đối tượng tác động, phụ thuộc vào mục đích đặt ra của chủ thể. Đối tượng tác động và mục đích của con người không phải do con người tạo ra theo ý nuốn chủ quan thuần tuý của mình. Muốn tiếp cận đối tượng và giải quyết nhiệm vụ đặt ra, chủ thể phải nghiên cún đối tượng và mục đích cần đạt tới một cách khách quan. Nghĩa là phải vạch rõ đối tượng có tính chất gì, các yếu tố cấu thành nên đối tượng, giới hạn tồn tại của đối tượng là gì, v.v. Từ đó chủ thể nhận thức rõ những quy luật tồn tại và biến đổi của đối tượng. Chỉ trên cơ sở đó và sau đó chủ thể mới xác định được phải nghiên cún và hành động như thế nào và cần phải sử dụng những phương tiện, công cụ và biện pháp gì cho thích hợp, cũng như cần phải kết họp các yếu tố đã cho theo một trình tự như thế nào cho họp lý để đạt được mục đích. Như vậy phương pháp mà con người dựa vào đe hoạt động, phải tuân theo một lôgic nhất định, tuỳ thuộc vào lôgic của đối tượng. Rõ ràng phương pháp bắt nguồn từ hiện thực khách quan, phản ánh nhũng quy luật khách quan của đối tượng nghiên cứu chứ không phải là những nguyên tắc được đặt ra một cách tùy tiện, theo ý muốn chủ quan của chủ thể (con người). Nhưng phương pháp phải do hoạt động có ý thức, có mục đích của chủ thể mới hình thành được. Hoạt động có ý thức ở đây không phải là ý thức thuần tuý tưởng tượng ra các nguyên tắc, không dựa vào hiện thực khách quan, mà là quá trình ý thức con người phản ánh hiện thực khách quan, rút ra những mối liên hệ bản chất của đối tượng, căn cứ vào đó để điều chỉnh hoạt động của mình phù hợp với quy luật vận động của đối tượng. Do vậy cũng có thể nói phương pháp là sản phẩm của hoạt động có ý thức của con người, là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người.

    Phương pháp làm cho hoạt động củả con người phù họp với quy luật khách quan của đối tượng, nhờ vậy mới nhận thức và cải tạo được đối tượng. Do vậy phương pháp là một trong những yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại đối với hoạt động của con người. Nếu với những điều kiện khách quan nhất định như nhau, phương pháp đúng đắn thì kết quả đạt được càng cao và ngược lại phương pháp không phù hợp có thể không đưa đến kết quả như mong muốn, hoặc hiệu quả công việc không cao. Bê-cơn, một nhà triết học Anh thế kỷ XVIII nói: phương pháp như ngọn đèn soi đường đi cho khách lữ hành trong đêm tối. Hêghen – một nhà triết học lỗi lạc của Đức thế kỷ XVIII – XIX cho phương pháp gắn liền với đối tượng và phụ thuộc vào đối tượng, phương pháp là “linh hồn” của đối tượng. Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin rất coi trọng phương pháp, nhất là phương pháp hoạt động thực tiễn cách mạng, phương pháp vận động quần chúng. Chính phương pháp làm cho hoạt động của con người mang tính tự giác, có mục đích và có tính sáng tạo. Đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta, việc vạch ra mục tiêu phương hướng cách mạng đúng là yếu tố quan trọng cho thành công của cuộc cách mạng. Tuy nhiên nếu không có phương pháp hoạt động cách mạng đúng đắn, thì với những điều kiện vật chất nhất định sẽ không thể đưa cách mạrig tiến lên đế đạt được mục tiêu đã định. Vậy phương pháp là một nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của việc thực hiện mục tiêu hoạt động của con người.

    Căn cứ vào nội dung, phạm vi ứng dụng và mức độ phổ biến người ta phân chia phương pháp ra làm nhiều loại khác nhau như:

    – Phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn.

    – Phương pháp riêng

    – Phương pháp chung

    – Phương pháp chung nhất (hay phương pháp phổ biến)

    Phương pháp riêng chỉ áp dụng cho từng bộ mổn khoa học, cho một đối tượng riêng, cụ thể. Thí dụ: phương pháp phân loại thực vật, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp chứng minh trong toán học v.v.

    Phương pháp chung được áp dụng cho nhiều môn khoa học khác nhau, hoặc cho các đối tượng thuộc các lĩnh vực khác nhau như: phương pháp quan sát, phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình hoá, phương pháp hệ thống cấu trúc, v.v.

    Phương pháp chung nhất (hay còn gọi là phương pháp phổ biến) áp dụng cho mọi lĩnh vực khoa học và hoạt động thực tiễn. Đó là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử như: phương pháp kết hợp phân tích và tổng họp, phương pháp kết hợp lôgic và lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá v.v.

    Trong phương pháp nhận thức khoa học lại có thể chia một cách tương đối ra thành nhóm các phương pháp thu nhận tri thức ở trình độ kinh nghiệm và nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học.

    Nhóm các phương pháp thu nhận tri thức ở cấp độ kinh nghiệm như:

    Phương pháp quan sát, là phương pháp nghiên cứu để xác định các thuộc tính, các quan hệ của sự vật hiện tượng riêng lẻ của thế giới xung quanh trong điều kiện tự nhiên vốn có của nó. Thí dụ: Quan sát các hiện tượng thời tiết như: diễn biến thời tiết trước, trong và sau khi bão, mưa, lốc xoáy; quan sát, sự biến đổi cây cối trong năm; quan sát sự sinh trưởng của cây. Qua quan sát, con người thấy được các đặc điếm của sự vật và các mối liên hệ giữa đặc điểm này với các đặc điểm khác.

    Phương pháp thí nghiệm, là phương pháp nghiên cứu các sự vật, hiện tượng bằng cách sử dụng các phương tiện vật chất để can thiệp vào trạng thái tự nhiên của chúng, tạo ra những điều kiện đặc biệt (có tính chất nhân tạo), tách chúng thành các bộ phận và kết họp chúng lại, sản sinh chúng dưới dạng thuần khiết. Thí dụ: lai ghép cây, lai tạo các giống động vật, sinh sản vô tính, thí nghiệm để xác định độ chịu lực của vật liệu, thí nghiệm một phương pháp sản xuất mới, một công nghệ mới. Ngày nay thí nghiệm được sử dụng rộng rãi cả trong khoa học tự nhiên, trong kỹ thuật và trong xã hội. Thí nghiệm như một dạng cơ bản của hoạt động thực tiễn, giữ vai trò là cơ sở của nhận thức khoa học và tiêu chuẩn để kiểm tra tính chân lý của nhận thức khoa học.

    Nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học gồm những phương pháp sau:

    Phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp: Phân tích là quá trình phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ phận để đi sâu nhận thức các bộ phận đó. Tổng họp là quá trình liên kết thống nhất các bộ phận đã được phân tích lại nhằm nhận thức cái toàn bộ. Nhận thức phải kết họp cả quá trình phân tích và tổng họp. Không có phân tích thì không thể tổng hợp được và ngược lại không tổng họp thì phân tích chỉ đưa lại hình ảnh rời rạc về sự vật, không thể có được hình ảnh toàn diện về sự vật.

    Phương pháp kết hợp quy nạp và diễn dịch: quy nạp là phương pháp đi từ tri thức về cái riêng đến tri thức về cái chung, từ tri thức về cái ít chung đến ứi thức về cái chung hơn. Diễn dịch là phương pháp đi từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái riêng, từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái ít chung hơn. Quá trình nhận thức phải có sự kết họp giữa phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch mới phản ánh được đầy đủ những đặc tính của sự vật cũng như phát huy được tính tích cực chủ động của hoạt động chủ quan của chủ thể nhận thức.

    Phương pháp lịch sử và lôgic

    Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải phản ánh trong tư duy quá trình lịch sử cụ thể của sự vật với những chi tiết của nó, phải nắm lấy sự vận động lịch sử trong toàn bộ tính phong phú của đối tượng, phải theo dõi mọi bước đi của đối tượng theo trình tự thời gian.

    Phương pháp lôgic vạch ra bản chất, tính tất yếu, tính quy luật của sự vật dưới hình thức lý luận trừu tượng và khái quát. Phương pháp lôgic có nhiệm vụ dựng lại lôgic khách quan của sự vật.

    Quá trình nhận thức phải kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic mới phản ánh đúng và đầy đủ được sự vận động phát triển của sự vật. Nếu nhận thức chỉ dựa vào phương pháp lịch sử tách rời phương pháp lôgic thì nhận thức không thể phản ánh được bản chất của các sự kiện lịch sử. Các sự kiện lịch sử hiện ra trước con neười như một bức tranh rất nhiều màu sắc, nhiều đường nét chằng chịt, nhưng còn lộn xộn, chưa theo trật tự có tính tất yếu. Ngược lại nếu nhận thức chỉ dựa vào phương pháp lôgic tách rời phương pháp lịch sử thì hình ảnh về sự vật chỉ là một bức tranh không có màu sắc, thiếu đường nét, khô khan nghèo nàn và đon điệu, một bức tranh méo mó về sự vật. Phương pháp lịch sử và lôgic phải kết hợp chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, giúp cho con người không những nhận thức được những mối liên hệ bản chất của sự vật, mà cả những biểu hiện đa dạng của các mối liên hệ đó trong những điều kiện lịch sử khác nhau. Như vậy kết họp phương pháp lịch sử và lôgic giúp con người phản ánh sự vật đầy đủ, sâu sắc và đúng đắn.

    Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể

    Cái cụ thể là phạm trù chỉ những sự vật, hiện tượng nhất định của thế giới khách quan. Phản ánh cái cụ thể khách quan trong nhận thức dưới hai hình thức: Thứ nhất, cái cụ thể cảm tính – điểm bắt đầu của nhận thức, hình ảnh cảm tính về cái cụ thể khách quan; thứ hai, cái cụ thể trong tư duy- kết quả của tư duy lý luận, của nhận thức khoa học, phản ánh cái cụ thể khách quan bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật.

    Cái trừu tượng là một trong những yếu tố, một trong những vòng khâu của quá trình nhận thức. Cái trừu tượng trong tư duy là kết quả của sự trừu tượng hoá một mặt, một mối liên hệ nào đó trong tổng thể phong phú các mối liên hệ của sự vật. Do vậy trừu tượng là một mặt, một biểu hiện của cái cụ thể trong tư duy, là bậc thang của nhận thức cái cụ thể.

    Nhận thức về một đối tượng nhất định gồm hai giai đoạn (hay hai quá trình) quan hệ chặt chẽ với nhau: Một là đi từ cái cụ thể cảm tính đến cái trừu tượng, hình thành cái trừu tượng trong tư duy. Hai là đi từ trừu tượng đến cụ thể, hình thành cái cụ thể trong tư duy. Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể là phương pháp nhận thức khoa học quan trọng, nhờ đó mà tư duy quán triệt được cái cụ thể cảm tính ban đầu và tái tạo nó với tư cách là một cái cụ thể trong tư duy. Đây là phương pháp cơ bản được Mác sử dụng trong Tư bản. Tuy nhiên đây không phải là phương pháp duy nhất và cũng không phải là Mác sử dụng một cách tách rời với các phương pháp khác trong Tư bản.

    Như vậy chúng ta thấy có nhiều phương pháp nhận thức khoa học khác nhau, có quan hệ biện chúng với nhau. Sự phân biệt các loại phương pháp chỉ mang ý nghĩa tương đối, tuỳ theo góc độ và tiêu chuẩn phân loại khác nhau. Trong hệ thống các phương pháp, mỗi phương pháp đều có vị trí nhất định. Tùy từng đối tượng và điều kiện lịch sử khác nhau mà chủ thể hoạt động có thể lựa chọn phương pháp nào đó là phương pháp chủ yếu, nhưng đồng thời kết họp với các phương pháp khác. Không nên coi mọi phương pháp đều ngang bằng nhau, có thế thay thế cho nhau một cách tùy tiện, hoặc một phương pháp nào đó luôn là quan trọng nhất có thể bao trùm, thay thế cho mọi phương pháp khác. Không nên tuyệt đối hoá phương pháp này, hạ thấp phương pháp kia. Trên thực tế, hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn thường phải sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp mới nhanh chóng đạt được mục đích.

    2. Phương pháp luận Khái niệm phương pháp luận

    Trên thực tế, để giải quyết một công việc đã định người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau. Trong các phương pháp đó có phương pháp thích hợp đưa lại hiệu quả cao, cũng có phương pháp không thích họp, đưa lại hiệu quả thấp. Làm thế nào để chọn được một phương pháp thích họp nhất trong số rất nhiều phương pháp có thế sử dụng? Trả lời cho vấn đề này làm nảy sinh nhu cầu tri thức về phương pháp. Từ nhu cầu tri thức về phương pháp đưa đến sự ra đời khoa học và lý luận về phương pháp. Đó chính là phưo’ng pháp luận. Vậy ta có thể nói phương pháp luận là lý luận về phương pháp (hay khoa học về phương pháp).

    Phương pháp luận giải quyết những vấn đề như: Phương pháp là gì? bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp là thế nào? cách phân loại phương pháp như thế nào? vai trò của phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn như thế nào? phương pháp thích hợp nhất là phương nào V.V.? Mục đích của những vấn đề lý luận trên là xác định được những quan điểm, nguyên tắc cơ bản nhất để trên cơ sở của những nguyên tắc đó con người có thể lựa chọn được những phương pháp hoạt động thực tiễn và nhận thức thích họp. Từ đó ta có thể định nghĩa phương pháp luận một cách rõ ràng hơn như sau:

    Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát rút ra từ một lý thuyết hoặc một hệ thống lý luận nhất định, để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng một cách họp lý, đưa lại hiệu quả tối đa. Thí dụ phương pháp luận toán học, xuất phát từ việc nghiên cún các lý thuyết toán học để đề xuất được những nguyên tắc chung chỉ đạo quá trình xác định và áp dụng các phương pháp toán học V.V.; phương pháp luận kinh tế học có nhiệm vụ nghiên cứu các lý thuyết kinh tế, để rút ra những quan điểm, nguyên tắc cơ bản như: quan điểm về hiệu quả; quan điểm về tiến bộ xã hội; quan điểm về phát triển bền vững v.v. làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp kinh tế cụ thể như: phương pháp điều tra chọn mẫu; phương pháp phân tích các hoạt động kinh tế, phương pháp thống kê v.v. Việc lựa chọn một phương pháp kinh tế cụ thể nào đó phải xuất phát từ các nguyên tắc phương pháp luận chung đó.

    Phân biệt phương pháp luận và phương pháp

    Phương pháp và phương pháp luận không đồng nhất với nhau, tuy có quan hệ chặt chẽ với nhau. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là nhũng quan điểm, những nguyên tắc xuất phát để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp một cách đúng đắn, còn phương pháp là những nguyên tắc cụ thể để chủ thể dựa vào đó điều chỉnh cách thức hoạt động cho thích họp với một đối tượng cụ thể. Phương pháp luận là những nguyên tắc được rút ra từ một lý thuyết mang tính chất thuần tuý lý luận, chưa gắn với một đối tượng cụ thể nào. Mỗi hệ thống lý luận (thậm chí mỗi lý thuyết) đều bao hàm một nội dung phương pháp luận nhất định. Còn phương pháp là những nguyên tắc nhận thức và hoạt động thực tiễn được rút ra từ tri thức về các đối tượng cụ thể. Phương pháp luận nghiên cứu phương pháp nhưng không nhằm ‘mục đích xác định một phương pháp cụ thể nào, mà nhằm rút ra những quan điểm, nguyên tắc xuất phát, làm cơ sở cho việc xác định và áp dụng phương pháp, còn phương pháp là những nguyên tắc do kết quả nghiên cứu đối tượng, những nguyên tắc quy định các thủ đoạn cụ thể để tiếp cận đối tượng và cải tạo các đối tượng cụ thể.

    Tuy nhiên phương pháp và phương pháp luận lại thống nhất với nhau ở chỗ phương pháp và phương pháp luận đều phản ánh nhũng mối liên hệ tất nhiên của hiện thực khách quan, chính vì vậy nó mới là cơ sở cho hoạt động của con người. Phương pháp luận là cơ sở lý luận cho việc xác định các phương pháp cụ thể, còn phương pháp phải xuất phát từ quan điểm, nguyên tắc của phương pháp luận để xác định các cách thức hoạt động phù hợp với một đối tượng nhất định.

    Phân loại phương pháp luận

    Phương pháp luận có các cấp độ khác nhau.

    Phương pháp luận môn học là cấp độ hẹp nhất, trong đó các quan điểm, các nguyên tắc được rút ra từ một lý thuyết khoa học chuyên ngành, phản ánh quy luật của một lĩnh vực cụ thể. Những nguyên tắc đó chỉ là cơ sở để xác định các phương pháp của một môn học nhất định nào đó.

    Phương pháp luận chung có cấp độ rộng hơn phương pháp luận môn học, đó là những quan điểm, nguyên tắc được rút ra từ những lý thuyết khoa học phản ánh quy luật chung của một số môn học, hoặc một số lĩnh vực của hiện thực khách quan. Những ngiịyên tắc chung này làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp chung cho một số môn học hoặc một số lĩnh vực nào đó, Thí dụ phương pháp luận chung của các môn khoa học xã hội, hay phương pháp luận chung của các môn khoa học tự nhiên v.v.

    Phương pháp luận chung nhất (hay phương pháp luận phổ biến) có cấp độ rộng nhất, đó là những quan điểm, nguyên tắc chung nhất được rút ra từ những lý thuyết khoa học có cấp độ khái quát cao nhất, làm cơ sở cho việc xác định phương pháp chung cho nhận thức và hoạt động thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực. Có thể nói, phương pháp luận chung nhất được rút ra từ lý luận triết học, trong đó phép biện chứng là một trong những bộ phận quan ứọng nhất của lý luận triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Đánh Giá Thành Tích Công Việc Mà Các Nhà Quản Lý Nhất Định Phải Biết!
  • Các Phương Pháp Đánh Giá Công Việc
  • 7 Phương Pháp Đánh Giá Nhân Viên Hiệu Quả Nhất Cho Doanh Nghiệp
  • 3 Phương Pháp Giảng Dạy Mới Có Thể Giúp Đổi Mới Giáo Dục
  • 7 Cách Thai Giáo Cho Thai Nhi Thông Minh Ngay Từ Trong Bụng Mẹ
  • Phương Pháp Scrum Vs Phương Pháp Agile

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Dự Án Agile – Apmp
  • Phương Pháp Quản Lý Linh Hoạt (Agile) Và Chứng Chỉ Quốc Tế Pmi
  • Phân Tích Abc Trong Quản Lý Tồn Kho Mà Bạn Cần Phải Nắm Được
  • Phân Tích Abc Trong Supply Chain – Hoangthanghq55
  • Một Số Vấn Đề Về Mô Hình Hạch Toán Chi Phí Theo Hoạt Động (Activity
  • Những người mới biết đến Agile thường không hiểu rằng có nhiều loại phương pháp Agile khác nhau. Một trong những quy trình Agile phổ biến nhất là phương pháp Scrum.

    Nhiều doanh nghiệp nhận thấy rằng quy trình kinh doanh truyền thống không còn hiệu quả nữa vì ngày càng có nhiều thay đổi như là nhu cầu khách hàng, yêu cầu dự án hay các công việc hỗ trợ khác…khiến họ không nắm bắt kịp xu hướng

    Và nhiều quản lý dự án, quản lý sản phẩm và các nhóm phát triển phần mềm đang chuyển từ phương pháp truyền thống Waterfall sang phương pháp Agile.

    Phương pháp Agile

    Phương pháp Agile được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 2011 trong “Agile Manifesto” được tổng hợp tại Utah. Agile Manifesto phác thảo 12 nguyên tắc quan trọng, bao gồm thông tin liên lạc (communication), hợp tác (collaboration), tầm quan trọng của phần mềm, cởi mở để thay đổi.

    Các phương pháp Agile cơ bản đặt cùng nhau như một giải pháp phá vỡ cạm bẫy được kết hợp với mô hình Thác nước (Waterfall). Là một khuôn khổ quản lý linh hoạt hơn, Agile cho phép các nhóm vượt qua mô hình tuần tự truyền thống và hoàn thành nhiều việc hơn (work done) trong một khoảng thời gian ngắn hơn.

    Nhóm Agile không nhận ra là có nhiều loại khác nhau của phương pháp Agile, một trong số đó và phổ biến nhất là Scrum.

    Phương pháp Scrum

    Hầu hết các nhóm chuyển từ Agile sang sử dụng Scrum vì nó đơn giản và linh hoạt. Định nghĩa trên trang Scrum chúng tôi “Scrum là duy nhất bởi vì nó giới thiệu ý tưởng về “kiểm soát quá trình thực nghiệm”. Vì Scrum sử dụng những tiến bộ thực tế của dự án – không phải là một dự đoán tốt nhất hoặc dự báo không rõ ràng – để lập kế hoạch và tiến độ phát hành”

    Phương pháp Scrum khác với các phương pháp khác?

    – Scrum có 3 vai trò: Product Owner, Team members, Scrum Master.

    – Dự án chia thành các giai đoạn gọi là Sprint, mỗi Sprint kéo dài từ 1-3 tuần

    – Lợi ích của Scrum là điều chỉnh hướng đi của dự án dựa vào các công việc đã hoàn thành chứ không dựa trên suy đoán hay dự đoán

    Quản lí dự án Scrum là gì?

    Scrum là một trong những phương pháp quản lý dự án linh hoạt – Agile hoặc framework được sử dụng chủ yếu cho các dự án phát triển phần mềm với mục tiêu cung cấp phần mềm mới mỗi 2-4 tuần. Nó là một trong các phương pháp được ảnh hưởng bởi Agile Manifesto, bao gồm một tập hợp các giá trị và nguyên tắc hướng dẫn làm thế nào để phát triển phần mềm chất lượng cao nhanh hơn, hiệu quả hơn.

    Ai sử dụng phương pháp Agile Scrum?

    Scrum được những nhà phát triển phần mềm sử dụng rộng rãi. Thực tế nó là phương pháp Agile phổ biến nhất, có khoảng 72% đội ngũ phần mềm sử dụng Scrum hoặc Scrum hybrid. Tuy nhiên, Scrum đã lan rộng đến các chức năng kinh doanh khác bao gồm IT và Marketing trong đó đặc biệt là Digital Marketing, khi phải phát triển những dự án mơ hồ và phức tạp. Đội ngũ lãnh đạo cũng dựa vào thực tiễn quản lý Agile của họ về Scrum, thường kết hợp với Lean và Kanban (phân nhóm quản lý dự án Agile).

    Phương pháp Scrum mang lại lợi ích gì?

    • Năng suất cao hơn
    • Sản phẩm có chất lượng tốt hơn
    • Giảm thời gian chờ ra thị trường
    • Hoạt động nhóm tốt hơn
    • Nhân viên hạnh phúc hơn

    Các thành phần của phát triển Srcum Agile là gì?

    Phương pháp Scrum được xác định bởi vai trò của nhóm, events, công cụ, và các quy tắc..

    Nhóm phát triển (Nhóm Scrum)

    Nhóm phát triển thường có 7 +/- 2 thành viên và không có nhóm trưởng để giao nhiệm vụ hoặc quyết định giải quyết vấn đề nào. Nhóm như một đơn vị độc lập quyết định đề cập và giải quyết vấn đề như thế nào. Mỗi thành viên của nhóm Scrum là một phần không thể thiếu trong việc đưa ra các giải pháp và dự kiến sẽ thực hiện một sản phẩm từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành.

    Có 3 nguyên tắc chính trong Nhóm Scrum:

    Product Owner

    ScrumMaster

    ScrumMaster là người lãnh đạo tôi tớ cho Product Owner, Nhóm phát triển và Tổ chức, không có thẩm quyền trong nhóm nhưng khá nhiều người hỗ trợ, ScrumMaster đảm bảo rằng Nhóm luôn tôn trọng lý thuyết, practices và quy tắc Scrum. ScrumMaster bảo vệ Nhóm bằng cách làm bất cứ điều gì có thể để giúp Nhóm cho ra năng suất ở mức cao nhất. Điều này có thể bao gồm việc loại bỏ những trở ngại, tổ chức các cuộc họp và giúp các Product Owner chuẩn bị backlog.

    Nhóm phát triển 

    Nhóm phát triển là nhóm tự tổ chức, liên chức năng được trang bị tất cả các kĩ năng để sản xuất ra phần tăng trưởng chuyển giao được, phần mềm chạy được khi hoàn thành mỗi sprint. Scrum mở rộng định nghĩa của thuật ngữ “phát triển” vượt ra ngoài hoạt động lập trình để bao gồm bất cứ ai tham gia vào việc tạo ra các phần mềm chạy được. Không có chức danh trong Nhóm phát triển và không có ai, kể cả các ScrumMaster, nói với Nhóm phát triển phải làm như thế nào để biến các hạng mục product backlog thành các gói phần mềm hoàn chỉnh có thể chuyển giao được

    Họp Scrum

    Sprint

    Là một khung thời gian mà công việc cụ thể được hoàn thành và sẵn sàng thực hiện để đánh giá. Sprint thường kéo dài từ 2-4 tuần nhưng có thể ngắn như một tuần.

    Họp lên kế hoạch Sprint

    Là sự kiện có khung thời gian để xác định hạng mục product backlog sẽ được lựa chọn và làm sao để công việc đạt hiệu quả

    Họp Scrum hằng ngày

    Là buổi hội thoại ngắn (dưới 15 phút) để các thành viên theo kịp tiến độ nhanh chóng và minh bạch từ cuối buổi họp trước, lên kế hoạch cho buổi họp tiếp theo và giải quyết bất cứ trở ngại nào ngăn cản tiến độ

    Họp sơ kết Sprint

    Họp cải tiến Sprint

    Là buổi họp nhóm cuối cùng trong Sprint để xác định cái nào đã lảm tốt, cái gì chưa tốt và làm sao để Nhóm cải tiến trong Sprint tiếp theo. Nhóm phát triển và Scrum Master tham dự buổi họp quan trọng này giúp tập trung vào kết quả tổng kết và xác định chiến lược cho gia đoạn cải tiến kế tiếp

    Scrum Artifacts

    Product Backlog

    Là tài liệu quan trọng nhất vạch ra từng yêu cầu cho hệ thống, dự án hoặc sản phẩm. Product backlog có thể được dùng như một danh sách công việc phải làm bao gồm các hạng mục công trình, mỗi cái đều mang lại giá trị kinh doanh và được Product Owner định nghĩa

    Sprint Backlog

    Là danh sách cụ thể những hạng mục lấy từ product backlog phải được hoàn thành trong Sprint

    Phần tăng trưởng

    Là tổng hợp của tất cả các hạng mục product backlog đã được hoàn thành từ khi phát hành phần mềm mới nhất. Tùy thuộc vào Product Owner  quyết định khi nào phần tăng trưởng được phát hành, trách nhiệm của Nhóm là đảm bảo mọi thứ bao gồm phần tăng trưởng đã sẵn sàng được phát hành, đây cũng được gọi là Phần mềm hoàn chỉnh có thể chuyển giao được (PSI).

    Mối liên hệ của Srum với quản lý dự án Agile?

    Scrum là một tiểu nhóm Agile:

    • Agile là một bộ các giá trị và nguyên tắc mô tả sự tương tác và các hoạt động nhóm hằng ngày. Bản thân Agile không nguyên tắc hay cụ thể.

    Mặc dù được sử dụng để phát triển phần mềm linh hoạt, Agile Scrum đã trở thành framework thuận lợi nhất để quản lý dự án nói chung và đôi khi được gọi đơn giản là quản lý dự án Scrum hoặc phát triển phần mềm Scrum.

    Scrum là gì?

    Scrum là một cách để quản lý dự án, thường là phát triển phần mềm. Phát triển phần mềm Scrum thường được coi là một phương pháp luận. Nhưng thay vì xem Scrum là phương pháp luận, hãy xem nó như là framework để quản lý một quá trình.

    Nhóm phát triển Scrum chịu trách nhiệm cung cấp đầy đủ mô tả chi tiết thực hiện một dự án vì họ là người hiểu rõ nhất nên giải quyết vấn đề như thế nào.

    Nhóm Scrum có hai đặc điểm cực kì quan trọng là: tự tổ chức (self-organizing) và liên chức năng (cross-functional). Trong nhóm Scrum tự tổ chức sẽ không có trưởng nhóm hay người đưa ra quyết định phải làm gì và giải quyết vấn đề nào, vì đó là những vấn đề được quyết định bởi cả nhóm.

    Và trong nhóm liên chức năng Scrum, mọi người đều phải hiểu rõ công việc từ khi lên ý tưởng cho đến khi thực hiện.

    Trong agile development, nhóm Scrum được hỗ trợ bởi hai vai trò cụ thể. Đầu tiên là Scrum Master được xem như là một huấn luyện viên, giúp các thành viên trong nhóm sử dụng các quy trình Scrum thuần thục nhất.

    Vị trí còn lại là Product Owner (PO) có vai trò đại diện doanh nghiệp, khách hàng hay người dùng và hướng dẫn nhóm xây dựng sản phẩm

    Ai nên học Agile Scrum?

    Khóa học này có thể dành cho tất cả mọi người, bất kỳ ai giữ vai trò hỗ trợ về hiệu suất, hiệu quả, và cải tiến liên tục của nhóm Team Leader hay người chịu trách nhiệm về việc sử dụng và/hoặc giới thiệu Scrum trong một dự án hoặc doanh nghiệp

    Khóa học phù hợp cho tất cả thành viên làm phần mềm. Vai trò cụ thể phù hợp bao gồm các product managers và product analysts, Quản lý dự án, Team Leader, Kiến trúc sư, Software Developer, Software Tester, CIO và CTO

    Các công cụ Agile Scrum (Artifacts) tuy rất đơn giản nhưng hỗ trợ công việc rất hiệu quả. Chúng bao gồm Product backlog, Sprint Backlog và Product Increment.

    1. Product backlog

    Đây là danh sách ưu tiên các tính năng (feature) hoặc đầu ra khác của dự án, có thể hiểu như là danh sách yêu cầu (requirement) duy nhất của dự án. Product Backlog rất linh hoạt, nó liên tục thay đổi để xác định sản phẩm nào hữu ích hay mang tính cạnh tranh. Nó chứa các mô tả về tất cả các tính năng, chức năng, cải tiến, các hạng mục mong muốn, vv

    Các hạng mục Product Backlog được tạo nên trong quá trình lập kế hoạch phát hành (Release Planning). Sau đó họ được cập nhật trong buổi họp lên kế hoạch Sprint (Sprint Planning) hoặc  Backlog Groomings. Các hạng mục ưu tiên hàng đầu được chọn sẽ được phát triển trong Sprint và được xem xét trong buổi họp Sprint Review.

    Công cụ Agile Scrum này do Product Owner chịu trách nhiệm sắp xếp độ ưu tiên cho từng hạng mục (Product Backlog Item) trong  Product Backlog dựa trên các giá trị do Product Owner định nghĩa (thường là giá trị thương mại – business value). Các hạng mục ưu tiên hàng đầu thì rõ ràng hơn và có nhiều thông tin chi tiết hơn.

    2. Sprint backlog

    Loại công cụ Agile Scrum thứ hai là một loạt danh sách các hạng mục Product Backlog được chọn cho một Sprint; là kết quả dự đoán bởi Nhóm Scrum sau buổi họp lên kế hoạch (Sprint Planning); là những chức năng nào sẽ có mặt trong Incerment tiếp theo và các công việc cần thiết để cung cấp các chức năng đó.

    Với sự kết hợp của Product Owner, nhóm Scrum sẽ phân tích các yêu cầu theo độ ưu tiên từ cao xuống thấp để hiện thực hóa các hạng mục trong Product Backlog dưới dạng danh sách công việc (TO-DO list).

    Nhóm Scrum luôn phải cập nhật Sprint Backlog trong suốt một Sprint, có thể sử dụng biểu đồ Burndown Chart hay Task Board để dễ dàng nhìn thấy tình trạng hiện tại của công việc như “to do”, “in progress” hay “Done”

    3. Product Increment

    Là phần tăng trưởng mới phải sử dụng được và đáp ứng Định nghĩa của Done (DoD) của Nhóm Scrum vào cuối mỗi Sprint. Phần tăng trưởng này phải bao gồm mã đã được kiểm tra kỹ lưỡng, được xây dựng thành một file và sử dụng được trong tập tin trợ giúp (Help files) hoặc tài liệu hướng dẫn sử dụng.

    Nếu tất cả mọi thứ hoạt động tốt và Nhóm phát triển đã ước tính tốt, phần tăng trưởng bao gồm tất cả các hạng mục đã được lên kế hoạch trong Backlog Sprint sẽ được thử nghiệm và lưu thành tài liệu.

    Ban biên tập: Ecci

    5

    /

    5

    (

    1

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Nhân Giống Cây Điều Bằng Phương Pháp Ghép Non Nối Ngọn
  • Cải Tạo Giống Cây Ăn Quả Bằng Phương Pháp Ghép Cành
  • Vận Dụng Phương Pháp Luận Biện Chứng Duy Vật Để Nâng Cao Năng Lực Tư Duy Cho Sinh Viên
  • 6 Nguyên Tắc Vàng Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Em Bạn Cần Ghi Nhớ
  • Phương Pháp Phản Xạ 2S
  • Phương Pháp Scrum Vs Phương Pháp Kanban

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Quản Lý Dự Án Agile
  • Các Mô Hình Xác Định Chi Phí Logistics Đối Với Doanh Nghiệp
  • Phân Tích Abc Và Xyz Mang Lại Hiệu Quả Như Thế Nào Trong Quản Lý Hàng Tồn Kho
  • Activity Based Costing Là Gì? Phương Pháp Tính Abc?
  • Bài Tập Và Đáp Án Phương Pháp Abc
  • Scrum và Kanban là hai từ thường được sử dụng thay thế cho nhau hoặc được mọi người hiểu sai nó là cặp từ đồng nghĩa. Trong thực tế, hai phương pháp Scrum và Kanban là khác nhau và thường được kết hợp với nhau Scrumkanban. Hiểu được những sự khác biệt của hai phương pháp sẽ giúp bạn chọn được phương pháp tốt nhất và phù hợp nhất cho công ty của bạn. Như vậy, Ecci vietnam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn.

    Khái niệm cần nắm

    Về cơ bản, phương pháp Scrum là bộ khung làm việc (framework) giúp các công ty, tổ chức chia nhỏ công việc thành những phần nhỏ hơn, để quản lý dễ dàng hơn và đượchoàn thành bởi một nhóm liên chức năng (cross-function) trong một khoảng thời gian quy định (còn gọi là sprint trong 2-4 tuần).

    Nhóm Scrum thường sử dụng Bảng Scrum để theo dõi công việc của từng thành viên trong nhóm (dòng chảy công việc – flow of work). Mỗi nhiệm vụ (task) được chia thành các đoạn nhỏ gọi là “stories”, mỗi stories chuyển giao trong Bảng gọi là “backlog” (những việc phải làm), trở thành “work-in-progess” (việc đang triển khai)

    Đó là một quy trình phát triển phần mềm theo mô hình linh hoạt (agile), cung cấp rất nhiều phương pháp luận, quy trình và các thực nghiệm để cho việc phát triển phần mềm trở nên nhanh chóng và dễ dàng. Với nguyên tắc chính là chia nhỏ phần mềm cần sản xuất ra thành các phần nhỏ để phát triển (gọi là Sprint. Sprint phải độc lập và release được), lấy ý kiến khách hàng (Product Owner) và thay đổi cho phù hợp ngay trong quá trình phát triển để đảm bảo sản phẩm release đáp ứng những gì khách hàng mong muốn.

    Mô hình Scrum vận hành dựa trên đặc tính tư nhiên của người phát triển nên rất dễ hiểu, dễ áp dụng, tạo nên tính tương tác cao giữa những thành viên trong nhóm thay vì chịu sự áp đặt từ bên ngoài.

    Ưu điểm của mô hình Scrum là gì?

    – Thời gian hoàn thành dự án linh hoạt, không bị cố định từ đầu

    – Thời gian tạo ra sản phẩm dựa vào mô hình Scrum nhanh, tốc độ phát triển nhanh, tiết kiệm thời gian

    – Phân phối sản phẩm mềm dẻo: nội dung sản phẩm chuyển giao được xác định linh hoạt theo môi trường sử dụng thực tế.

    – Mỗi thành viên phụ trách một “sprint” nên hiệu quả công việc cao hơn, năng suất cao hơn và tính chính xác cao hơn

    – Khách hàng tham gia vào quá trình phát triển phần mềm để đảm bảo sản phẩm đầu ra đáp ứng đúng nhu cầu phát triển.

    – Kiểm soát quá trình thực nghiệm vì nhóm Scrum có thể điều chỉnh và sửa chữa các practice bằng cách sử dụng hướng dẫn thực tế nhất từ các thử nghiệm và báo lỗi

    – Các bugs (lỗi) và các vấn đề trong mô hình Scrum được phát hiện sớm hơn rất nhiều so với các phương pháp truyền thống

    – Chất lượng sản phẩm tốt và giảm rủi ro sản xuất, chi phí thấp. Khả năng trao đổi giữa khách hàng và nhà phát triển, giữa những thành viên trong đội được đặt lên mức cao.

    Mô hình Agile Scrum mang lại lợi ích gì?

    Agile Scrum đang ngày trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rải bởi những nhà phát triển phần mềm. Vậy vì những lợi ích gì mà mô hình Agile Scrum lại được ưa chuộng như vậy?

    Cải thiện chất lượng phần mềm

    Framewrok của Scrum giúp nhóm phát triển Scrum nhận phản hồi liên tục và nhanh chóng điều chỉnh để đảm bảo chất lượng phần mềm cao nhất, đồng thời đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường luôn thay đổi. Bằng cách áp dụng các nguyên tắc nghiệm ngặt trong mô hình Scrum, nhóm phát triển Scrum có thể đưa ra thị trường các sản phẩm có chất lượng tốt nhất.

    Rút ngắn thời gian phát hành phần mềm

    Scrum đã được chứng minh là cung cấp sản phẩm đến tay khách hàng cuối cùng nhanh hơn 30%-40% so với phương pháp truyền thống. Vì mô hình Scrum làm việc với nguyên tắc chính là chia nhỏ phần mềm cần sản xuất ra thành các phần nhỏ để phát triển gọi là Sprint. Mỗi Sprint thường mất 2- 4 tuần để hoàn thành.

    Nâng cao tinh thần đồng đội

    Mô hình Scrum áp dụng cách thức tự quản và tự tổ chức (self-managing & self-organizing ), với mục đích các thành viên trong nhóm Scrum có thể vui vẻ làm việc cùng nhau, khơi dậy sự sáng tạo, chủ động trong họ. Cách thức tự quản lí cũng cho phép mọi thành viên trong nhóm Scrum đều có thể ra quyết định. Trong nhóm Scrum sẽ không có nhóm trưởng mà chỉ có Scrum Master, là người giúp nhóm vượt qua các trở ngại và che chắn cho nhóm khỏi những ảnh hưởng từ nội bộ hay bên ngoài.

    Gia tăng tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI)

    Giảm thời gian sản xuất là lí do chính yếu nhất giúp các dự án Scrum đạt được ROI cao hơn. Bởi vì doanh thu và các mục tiêu khác đến sớm hơn, nên tổng lợi nhuận cao hơn theo thời gian. Đây là một nguyên lý cơ bản của giá trị hiện tại thuần (NPV)

    Tăng mức độ hài lòng của khách hành

    Nhóm Scrum cam kết sản xuất ra các sản phẩm hoặc dịch vụ có thể khiến khách hàng hài lòng. Sở dĩ như vậy vì nhóm Scrum xem khách hàng là đối tác và giữ khách hàng tham gia vào dự án; thành phần tham gia dự án Scrum còn có Product Owner là người hiểu rõ các yêu cầu (requirements) của dự án và nhu cầu của khách hàng; thời gian cung cấp sản phẩm nhanh hơn

    Mô hình Scrum giúp giảm thiểu rủi ro thất bại hoàn toàn khi mất một số tiền đầu tư khổng lồ và thời gian dài để triển khai dự án mà không thu lại được ROI. Vì như đã trình bày, Scrum làm việc theo từng giai đoạn, từng Sprint, nên nhóm dự án có thể thực hiện từng bước, sau đó rút kinh nghiệm hoặc tiếp tục phát huy các ưu điểm của Sprint trước để cải thiện hơn sản phẩm trong Sprint sau tránh gây thất thoát quá lớn trong suốt dự án.

    Phương pháp Kanban là gì?

    Kanban cũng là một công cụ được sử dụng để giúp các công ty tổ chức đạt hiệu quả cao trong công việc. Kanban là công cụ kiểm soát sản xuất, dùng nhiều màu sắc để chỉ định nguyên liệu và các công đoạn khác nhau.

    Giống như phương pháp Scrum, Kanban cũng dùng Bảng Kanban và chia công việc thành những phần nhỏ. Trong khi phương pháp Scrum giới hạn thời gian cho phép để hoàn thành một công việc cụ thể (sprint) thì Kanban giới hạn số lượng công việc cho phép trong một điều kiện nhất định (bao gồm nhiều task trên một thẻ Kanban và trên To do list – chỉ định rõ phải nhận bộ phận, chi tiết hay nguyên liệu nào từ trạm trước nó với số lượng bao nhiêu)

    Scrum và Kanban khác nhau ở điểm gì?

    • Cả hai phương pháp Scrum và Kanban đều chia nhỏ các task lớn và phức tạp thành những đoạn nhỏ và hoàn thành theo một quy trình nhất định.
    • Cả hai phương pháp thúc đẩy cải tiến liên tục, tối ưu hóa công việc và quá trình.
    • Cả hai phương pháp đều tập trung vào dòng chảy công việc để khuyến khích các thành viên tham gia vào quy trình

    Phương pháp Scrum là giải pháp tốt nhất cho sản phấm và phát triển dự án. Kanban là giải pháp tốt nhất để hỗ trợ sản xuất. Sự khác nhau giữa phương pháp Scrum và Kanban là triết lý đằng sau và các ứng dụng thực tế của Scrum và Kanban. Có rất nhiều lí do khác nhau tuy nhiên có 3 điểm khác biệt lớn như sau:

    1. Lập kế hoạch, sự lặp lại

    Phương pháp Scrum đề cao tầm quan trọng về lịch trình. Các nhóm Scrum sẽ được cung cấp một danh sách ưu tiên của các task cần được hoàn thành, hoàn chỉnh chức năng và sẵn sàng chuyển giao (shippable) cho khách hàng. Các nhóm phải quyết định nhận task nào mà họ nhận thấy có thể được hoàn tất trong vòng một sprint.

    Nhóm Kanban không có khung thời gian (time box) hay quy trình lặp đi lặp lại. Sự cải tiến liên tục ​​sẽ diễn ra liên tục trong suốt quá trình hoàn thành sản phẩm. Sự giới hạn trong dòng chảy công việc sẽ được điều chỉnh ở nhóm hay trong tổ chức dựa trên phương pháp Kanban cho đến khi đạt được sự tối ưu của các điều kiện và điểm giới hạn đến để giữ cho dòng chảy công việc đều đặn và hiệu quả

    2. Vai trò và trách nhiệm

    Trong một nhóm Scrum, có ít nhất ba bên được phép chỉ định xử lý công việc: PO, Scrum Master và nhóm phát triển. Mỗi bên bị ràng buộc bởi về trách nhiệm riêng biệt và họ phải làm việc cùng nhau để đạt được một sự cân bằng giữa yêu cầu và sản phẩm cuối. Nhóm Scrum bắt buộc là nhóm liên chức năng, hay nói cách khác nhóm Scrum phải có tất cả các nguồn lực cần thiết để hoàn thành công việc.

    Với phương pháp Kanban, không có quy định nào về vai trò. Có thể hiểu là một người sẽ đảm nhận vai trò như người quản lý dự án hoặc giám sát, đặc biệt là đối với các dự án Kanban có quy mô lớn và phức tạp thì không có bất cứ quy định về các vai trò. Một nhóm Kanban không nhất thiết phải là nhóm liên cá nhân như phương pháp Scrum.

    Bất kỳ hoặc tất cả các nhóm đều có thể tham gia dự án. Do đó, một nhóm chuyên gia hay một một riêng biệt đều có thể làm việc trên các khía cạnh khác nhau của dự án Kanban tương tự từ cùng một bảng Kanban.

    Trên một bảng Scrum, các cột được dán nhãn để phản ánh các giai đoạn của dòng chảy công việc. Các task lần lượt theo thứ tự, làm tất cả mọi việc mỗi sprint trong một vài tuần (khoảng thời gian thông thường cho sprint) và chuyển chúng sang trạng thái hoàn thành (cột Done) và cuối cùng sẽ xử lý hết những sprint còn ở trạng thái chờ

    Trên một bảng Kanban, các cột tương tự được dán nhãn để hiển thị trạng thái flow of work. Tuy nhiên khác biệt ở chỗ có sự giới hạn về số lượng tối đa cho phép của mỗi cột tại bất kỳ thời điểm nào và hạn chế khả năng thực thi mỗi task.

    Vì mỗi cột có một số giới hạn khác nhau và không yêu cầu thời gian (như sprint), nên không có lý do để lặp lại quy trình như phương pháp Scrum. Tiến trình sẽ tiếp tục chạy với những task mới được bổ sung khi cần thiết và được đánh giá lại nếu cần.

    Phương pháp nào tốt hơn?

    Đây là một câu hỏi khó và không ai có thể trả lời câu hỏi này ngoài doanh nghiệp của bạn. Tùy vào nhu cầu, điều kiện và chiến lược riêng của từng doanh nghiệp để lựa chọn cho mình phương pháp Scrum hay Kanban.

    Ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể thử phương pháp Scrum-Kanban – kết hợp của phương pháp Scrum và Kanban. Scrumban được giới thiệu như một quy trình đơn giản để quản lý những dự án phức tạp. Hiện nay Scrumban được áp dụng tốt nhất khi phát triển website, phát triển phần mềm hoặc maintenance.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Phát Triển Phần Mềm: Truyền Thống Và Agile
  • Kanban Calendar: Phương Pháp Quản Lý Công Việc Đơn Giản Nhất
  • Quản Lý Trong Doanh Nghiệp Theo Phương Pháp Agile
  • Agile Là Gì Và Cách Xây Dựng Nhóm Agile Development Thành Công
  • Hướng Dẫn Từng Bước Triển Khai Agile Marketing
  • Phương Pháp Lịch Sử Và Phương Pháp Lô

    --- Bài mới hơn ---

  • Viện Nghiên Cứu Sức Khỏe Cộng Đồng
  • Khoa Học Sáng Tạo Và Phương Pháp Luận Sáng Tạo :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Sơ Cấp Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • 6 Phương Pháp Nghiên Cứu Thị Trường Cho Người Mới Kinh Doanh
  • Hướng Dẫn Nghiên Cứu Thị Trường
  • (TGAG)- Phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gic là hai phương pháp chuyên ngành nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng. Kết quả và chất lượng mỗi công trình nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng phụ thuộc rất nhiều vào việc kết hợp chặt chẽ hai phương pháp này.

    Phương pháp lịch sử là phương pháp xem xét và trình bày quá trình phát triển của các sự kiện lịch sử, phong trào cách mạng theo một trình tự liên tục, trong mối liên hệ tác động lẫn nhau của chúng. Yêu cầu đối với phương pháp lịch sử là đảm bảo tính liên tục về thời gian của các sự kiện, phong trào; làm rõ điều kiện, đặc điểm phát sinh, phát triển và biểu hiện của chúng; làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của chúng với các sự kiện, phong trào khác.

    Trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ, phương pháp lịch sử dùng để xem xét, trình bày quá trình phát triển của Đảng theo trình tự liên tục về thời gian: Thời kỳ vận động thành lập Đảng (1920 – 1930); Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945); Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954); Thời kỳ chống đế quốc Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954 – 1975); Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước (1975 – 1986); Thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện (1986 – 1996); Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (1996 đến nay). Khi trình bày các sự kiện lịch sử, chúng ta phải chọn các sự kiện, phong trào hoạt động tiêu biểu, điển hình gắn với từng thời kỳ lịch sử. Đồng thời, phải đặt quá trình phát triển của Đảng bộ địa phương với các Đảng bộ địa phương lân cận và Đảng bộ cấp trên. Từ đó, chúng ta sẽ thấy trong quá trình hình thành, phát triển và lãnh đạo của các Đảng bộ có sự liên hệ và tác động lẫn nhau trong suốt quá trình cách mạng để cùng thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Vận dụng đúng phương pháp lịch sử giúp chúng ta khôi phục sự thật lịch sử một cách chân thực, khách quan.

    Phương pháp lịch sử có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng riêng lẻ phương pháp lịch sử thì công trình nghiên cứu, biên soạn sẽ rơi vào tình trạng chất đống sự kiện, không khái quát, đúc kết, chỉ ra được những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm; cần phải kết hợp phương pháp lô-gic.

    Phương pháp lô-gic là phương pháp sử dụng các luận điểm khoa học nhằm xem xét, nghiên cứu, khái quát, lý giải các sự kiện lịch sử. Từ đó, đánh giá, rút ra kết luận, chỉ ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của lịch sử.

    Để đảm bảo vận dụng phương pháp lô-gic trong công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ, đòi hỏi người viết phải đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế, khuyết điểm của Đảng bộ địa phương lãnh đạo phong trào cách mạng; nêu đúng mức đóng góp của Đảng bộ và Nhân dân địa phương đối với phong trào cách mạng của Đảng bộ cấp trên và cả nước.

    Phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gic có mối liên hệ với nhau. Bởi vì, khi phân tích các sự kiện lịch sử cụ thể là cơ sở để khái quát, rút ra bản chất, quy luật vận động của lịch sử. Muốn nắm được bản chất, quy luật vận động của lịch sử phải luôn bám sát sự kiện lịch sử cụ thể, dẫn ra các sự kiện lịch sử để chứng minh. Trong công tác nghiên cứu, biên soạn chúng ta không thể tách rời hai phương pháp này. Nếu thiếu lô-gic thì phương pháp lịch sử sẽ mù quáng. Nếu không nghiên cứu lịch sử thì phương pháp lô-gic sẽ rỗng tuếch mất đối tượng.

    Ví dụ trong quá trình nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, để nắm bản chất, quy luật vận động của lịch sử trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đòi hỏi người viết phải vận dụng kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gic. Khi trình bày các quan điểm, đường lối, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và phong trào cách mạng của quần chúng cần bám sát diễn biến cụ thể của lịch sử, nghiên cứu các sự kiện cụ thể nhằm thực hiện quan điểm, đường lối đó, phải đánh giá thành tựu, hạn chế, khuyết điểm, rút ra bản chất, quy luật vận động của lịch sử. Qua việc nghiên cứu, biên soạn các sự kiện cụ thể chúng ta sẽ thấy cuộc kháng chiến của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng là cuộc chiến tranh chính nghĩa, là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, dân là gốc của cách mạng…

    Phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gic đều có ý nghĩa và vai trò quan trọng. Tùy theo nội dung, yêu cầu cụ thể của vấn đề nghiên cứu, biên soạn mà xác định phương pháp lịch sử hoặc phương pháp lô-gic là chủ yếu.

    Ví dụ cùng nguồn tài liệu về cuộc kháng chiến thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mục đích của công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng để dựng lại những quan điểm, đường lối của Đảng; phong trào cách mạng của quần chúng nhằm thực hiện quan điểm, đường lối đó trong từng thời kỳ cần vận dụng phương pháp lịch sử là chủ yếu. Mục đích của việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng muốn phân tích, khái quát lý luận, tìm ra quy luật qua cuộc hai kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của Nhân dân ta thì sử dụng phương pháp lô-gic là chính.

    Trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng phải luôn vận dụng cả hai phương pháp lịch sử và lô-gic nhằm bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Việc vận dụng đúng hai phương pháp này góp phần làm nên chất lượng của công trình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Viện Khoa Học Quân Sự
  • Nghiên Cứu Sản Phẩm Là Làm Gì? Cách Nghiên Cứu Sản Phẩm
  • Nghiên Cứu Sản Phẩm Hoạt Động Sư Phạm
  • Các Nhà Khoa Học Đã Phát Hiện Ra Cách Thức Tế Bào Ung Thư Lẩn Trốn Trong Cơ Thể
  • Nghiên Cứu Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Phương Pháp Montessori Và Phương Pháp Reggio Emilia

    --- Bài mới hơn ---

  • Áp Dụng Phương Pháp Montessori Trong Gia Đình Theo 4 Nguyên Tắc
  • Top 5 Trường Mầm Non Áp Dụng Phương Pháp Montessori Tại Tp.hcm
  • Phương Pháp Montessori Trong Gia Đình, Tác Giả Sagara Atsuko
  • Sách Phương Pháp Montessori Trong Gia Đình
  • Hướng Dẫn Thực Hành Dạy Con Theo Phương Pháp Montessori Tại Nhà
  • Là hai trong số các nhà tiên phong vĩ đại nhất trong lĩnh vực giáo dục đều đến từ Ý, Maria Montessori và Loris Malaguzzi đều phát triển các phương pháp sư phạm hiện vẫn được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay. Maria Montessori đã xây dựng phương pháp giáo dục Montessori, và Loris Malaguzzi chính là người đã tạo ra phương pháp giáo dục Reggio Emilia.

    Montessori và Reggio Emilia cùng có một số điểm giao thoa trong những nguyên lý của họ, nhưng họ cũng có những khái niệm bổ sung cho những nguyên lý khác. Khi kết hợp với nhau, chúng mang lại trải nghiệm giáo dục nâng cao đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng người học.

    Những điểm tương đồng

    Hai phương pháp giáo dục Montessori và Reggio Emilia đều là những nguyên lý mang tính chất kiến tạo, nghĩa là trẻ tự hình thành kiến thức thông qua sự tương tác của chúng với thế giới xung quanh. Đứa trẻ sẽ được coi như là đang sở hữu ham muốn học hỏi bẩm sinh.

    Lựa chọn học thuật là trọng tâm của cả hai triết lý này. Đứa trẻ luôn có tiếng nói ở một mức độ nào đó đối với những gì nó học hỏi và cách chúng tiếp thu điều đó.

    Tôn trọng trẻ là một khái niệm không thể thiếu đối với cả hai phương pháp giáo dục. Trẻ được xem như một cá nhân và được đối xử như thể những suy nghĩ, quan điểm và mong muốn của chúng đều là quan trọng.

    Có một số điểm khác biệt chính giữa Phương pháp Montessori và phương pháp Reggio Emilia. Tuy nhiên, chính những điểm khác biệt đó khiến những triết lý này khi được hòa trộn lại phát huy tác dụng rất hữu hiệu. Việc sử dụng tài liệu, việc làm việc cá nhân hay làm việc theo đội nhóm, và vai trò của nghệ thuật là những điểm tương phản giữa hai phương pháp giáo dục này.

    SỰ KHÁC BIỆT CHÍNH GIỮA PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI VÀ PHƯƠNG PHÁP REGGIO EMILIA Việc sử dụng tài liệu

    Phương pháp giáo dục Montessori sử dụng những tài liệu rất riêng biệt do chính Tiến sĩ Maria Montessori sáng kiến. Các tài liệu này được trình bày theo trình tự đã định trước, và chúng được giới thiệu dựa trên sự sẵn sàng của từng cá nhân. Những đứa trẻ hoàn thành mỗi công việc theo một quy trình cụ thể.

    Phương pháp Reggio Emilia cung cấp sự đa dạng hơn về cả chính các tài liệu lẫn cách thức chúng được sử dụng. Trẻ luân chuyển qua các trung tâm để làm việc với các tài liệu này. Reggio là một triết lý dựa trên phương pháp học thông qua vui chơi và trẻ có thể tự do khám phá và sử dụng các tài liệu dựa trên sự tò mò của chúng.

    Trong một trường học kết hợp cả hai phương pháp giáo dục Montessori và Reggio Emilia, một giáo viên có thể đặt các tài liệu Montessori tại các trung tâm theo phong cách Reggio. Tùy thuộc vào nhu cầu của người học, giáo viên có thể chọn trình bày quy trình làm việc Montessori hoặc đơn giản là để học sinh khám phá.

    Học cá nhân và học theo nhóm

    Triết lý Montessori tập trung nhiều hơn vào việc học hỏi cá nhân. Các bài học thường được trình bày một đối một và không bắt buộc phải làm việc cùng nhau. Mặt khác, việc giảng dạy theo dự án (project-based learning) mang tính cộng tác chính là trọng tâm của Reggio Emilia.

    Vai trò của Nghệ thuật trong Phương pháp Montessori và Phương pháp Reggio Emilia

    Maria Montessori không xây dựng chương trình giảng dạy về nghệ thuật, nhưng bạn sẽ thấy nghệ thuật trong các trường học theo phương pháp Montessori. Nghệ thuật trong một trường học theo phương pháp Montessori thuần túy được giảng dạy riêng biệt, theo cách dựa trên kỹ năng. Trẻ em có thể học pha màu hoặc học làm đồ gốm.

    Trong lớp học theo phương pháp Reggio Emilia, nghệ thuật được sử dụng như một công cụ để học hỏi nhiều môn học khác nhau. Nó được tích hợp vào chương trình giảng dạy và cung cấp cho trẻ một phương tiện diễn đạt. Học sinh có thể trình bày vòng đời của ếch thông qua các mô hình đất sét, hoặc các em có thể tìm hiểu về hệ thống mạch của thực vật bằng cách in hình chiếc lá bằng sơn.

    Nhược điểm của việc chỉ dạy nghệ thuật dựa trên kỹ năng đó là không có cơ hội để sử dụng những khả năng đó cho một mục đích chắc chắn. Nhược điểm của việc khám phá thuần túy là những kỹ năng mà khi trẻ ngồi vào bàn còn hạn chế. Một trường học kết hợp cả hai phương pháp cung cấp đủ sự hướng dẫn trực tiếp để cung cấp cho sinh viên các công cụ cần thiết để tự thể hiện bản thân và cho phép nghệ thuật tạo điều kiện tốt nhất cho việc học tập của họ.

    Phương pháp Montessori và phương pháp Reggio Emilia có nhiều điểm chung. Sự tương đồng của hai phương pháp này làm cho chúng có thể được trộn lẫn với nhau. Tuy nhiên, chính sự khác biệt của hai phương pháp này đã làm cho việc kết hợp chúng trở nên hiệu quả. Sự tổng hòa của hai triết lý này tạo nên một phương pháp giáo dục phát triển toàn diện một cách tốt nhất cho trẻ.

    So sánh Phương pháp Montessori và Phương pháp Reggio Emilia

    Biên dịch: Hoàng Bá Cao

    Nguồn: MONTESSORI METHOD AND REGGIO EMILIA APPROACH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Montessori Trong Dạy Tiếng Anh Trẻ Em
  • Hướng Tới Áp Dụng Linh Hoạt Phương Pháp Giảng Dạy Montessori
  • 9 Nguyên Tắc Cần Nhớ Khi Dạy Trẻ Với Phương Pháp Montessori
  • Top 5 Trường Mầm Non Áp Dụng Phương Pháp Giảng Dạy Montessori Tại
  • Phương Pháp Montessori Ngày Nay
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×