Tối Ưu Hóa Quá Trình Tách Chiết Flavonoid Từ Chè Dây Cao Bằng

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Định Giá Cổ Phiếu Theo Phương Pháp Pe, Fcff Và Fcfe
  • Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Diền Thuần Vốn Chủ ( Fcfe
  • Kỹ Thuật Nhân Giống Bằng Hình Thức Chiết, Ghép Và Giâm Cành
  • Nhân Giống Hoa Hồng: Hướng Dẫn Cách Chiết, Ghép Và Giâm
  • Hướng Dẫn Trồng, Chiết, Giâm Và Ghép Cành, Rễ Bonsai
  • Bài viết được trích từ tài liệu ” Tối ưu hóa quá trình tách chiết flavonoid từ chè dây Cao Bằng ” của Trường ĐH Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên

    Mục đích nghiên cứu là khảo sát đơn yếu tố nồng độ dung môi ethanol, thời gian, nhiệt độ, tỉ lệ nguyên liệu/dung môi chiết, ảnh hưởng tới quá trình tách chiết flavonoid từ chè dây cho kết quả tương ứng; 70%; 90 phút; 80 độ C; 1/15 (w/v). Trên cơ sở khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện chiết tách, chúng tôi nhận thấy nồng độ dung môi, thời gian chiết, nhiệt độ chiết là những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến quá trình chiết tách.

    Bằng phương pháp quy hoạch thực nghiệm Box-Behnken đã tìm được điều kiện tối ưu hóa quá trình chiết tách chè dây sử dụng ethanol 69,72%, thời gian tách chiết 92,75 phút, nhiệt độ tách chiết 79,88 độ C, hàm lượng flavonoid là 17,53%. Kết quả thực nghiệm cho kết quả có độ tương thích cao với mô hình.

    Vài nét về cây chè dây

    Chè dây là loại thảo dược quý trong điều trị các vấn đề về tiêu hóa đã được nêu trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (2004). Các nghiên cứu đã xác định thành phần hóa học chính của cây chè dây là flavonoid, tanin, đường, caroten, sterol và acid hữu cơ. Trong đó nhóm flavonoid rất được quan tâm nghiên cứu. Flavonoid từ chè dây có tác dụng chống viêm, giảm đau, giảm acid dịch vị, làm liền vết loét và có tác dụng diệt xoắn khuẩn Helicobacter pylori gây ra bệnh viêm loét dạ dày, hành tá tràng.

    Chè dây có nhiều công dụng hữu ích nên đã có rất nhiều các công ty sản xuất dược phẩm nghiên cứu bào chế các chế phẩm dược chứa thành phần flavonoid chè dây. Chính vì thế, việc tách chiết các flavonoid trong chè dây có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

    Việc tách chiết flavonoid chịu ảnh hưởng nhiều bởi dung môi, điều kiện chiết và điều kiện địa lí. Vì vậy mục đích của nghiên cứu này là nhằm tối ưu hóa quá trình tách chiết flavonoid tổng số từ chè dây Cao Bằng.

    Vật liệu nghiên cứu

    Chè dây tươi (Ampelopsis cantoniensis Planch) được thu mua tại xã Yên Sơn, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng.

    Nguyên liệu được rửa sạch, sau đó đem đi sấy ở nhiệt độ 60 độ C đến độ ẩm dưới 10%. Tiến hành bảo quản trong túi PE đặt trong hộp nhựa kín, lưu trữ ở nhiệt độ phòng, tránh ánh sáng và ẩm.

    Dung môi: dùng dung môi ethanol của Merck – Đức (dạng tinh khiết)

    Bố trí thí nghiệm:

    Flvonoid được chiết từ cây chè dây bằng dung môi ethanol 60, 70, 80%. Nhiệt độ chiết là 70, 80, 90 độ C trong các khoảng thời gian 60, 90,120 phút với tỉ lệ dung môi lần lượt là 10:1, 15:1, 20:1 (v/w)

    Sau khi tiến hành khảo sát các đơn nhân tố chúng tôi lựa chọn 3 yếu tố là các yếu tổ ảnh hưởng lớn nhất đến hàm lượng flavonoid tổng số trong cao chè dây, để đánh giá khả năng ảnh hưởng của chúng, chúng tôi sử dụng phương pháp bề mặt chỉ tiêu theo thiết kế thí nghiệm của Box- Behnken với 3 yếu tố, 3 cấp độ.

    Phương pháp phân tích

    Xác định hàm lượng flavonoid tổng số bằng phương pháp cân

    Cân chính xác 2g bột chè dây chiết trong bình Soxhlet bằng este dầu hỏa để loại clorophyl (trong 2h). Sau đó lấy túi chè dây ra để ở nhiệt độ phòng cho bay hết dung môi rồi chiết kiệt flavonoid bằng ethanol 70%, cất thu hồi ethanol, còn dịch chiết nước, để nguội loại bỏ tanin bằng thuộc da hoặc dung dịch gelatin 3% cho tới khi không còn xuất hiện kết tủa. Chiết lấy kiệt flavonoid bằng ethylacetat, bốc hơi dung môi rồi sấy cặn tới khối lượng không đổi, đem cân.

    Hàm lượng flavonoid tổng số trong mẫu thử được tính theo công thức: X(%) = b/a x 100%

    X là % khối lượng flavonoid tổng số

    b là khối lượng cặn thu được (g)

    a là khối lượng mẫu đem phân tích khô tuyệt đối (g)

    Ảnh hưởng của nồng độ ethanol

    Kết quả bảng 1 cho thấy chiết ở nồng độ ethanol khác nhau sẽ được hàm lượng flavonoid khác nhau và hàm lượng tăng lên khi chiết ở nồng độ ethanol từ 60% đến 70%. Flavonoid cao nhất ở nồng độ ethanol 70% tương ứng với hàm lượng 15,55%, tiếp tục tăng nồng độ ethanol lên 80% thì hàm lượng flavonoid lại giảm

    Phùng Thị Vinh (1995), khi nghiên cứu thành phần hoá học và tác dụng sinh học của chè dây Ampelopsis cantoniensis Planch nhận thấy, nồng độ ethanol 70% cho hàm lượng flavonoid cao nhất. Vì vậy nồng độ ethanol thích hợp để thực hiện quá trình chiết flavonoid trong chè dây là 70%

    Ảnh hưởng của thời gian chiết

    Từ kết quả của bảng 2 cho thấy hàm lượng flavonoid tăng theo thời gian chiết. Thời gian chiết từ 60 phút đến 90 phút, hàm lượng flavonoid tăng cao từ 15,88% lên 16,35%, tiếp tục tăng thời gian chiết lên 120p hàm lượng flavonoid chỉ tăng 0,03%.

    Chiết ở thời gian là 120 phút cho kết quả cao hơn khi chiết ở 90 phút. Tuy nhiên xử lí số liệu hàm lượng flavonoid của 2 công thức trên không có ý nghĩa thống kê. Vì vậy chúng tôi chọn thời gian chiết thích hợp là 90 phút để tiết kiệm thời gian, chi phí cho quá trình chiết.

    Ảnh hưởng của nhiệt độ chiết

    Qua bảng 3 cho thấy hàm lượng flavonoid trong dịch chiết tăng nhanh ở khoảng nhiệt độ từ 70 đến 80 độ C, hàm lượng tăng cao từ 16,77% đến 17,26%. Tuy nhiên, khi tiếp tục tăng nhiệt độ lên 90 độ C thì hàm lượng flavonoid có xu hướng giảm

    Hàm lượng flavonoid thu được cao nhất ở 80 độ C. Theo Spigno và đồng tác giả (2007), nhiệt độ trích ly tác động đến khả năng hòa tan, tốc độ truyền khối và sự ổn định của các hợp chất polyphenol. Phạm Thanh Kỳ (năm 1995) dưới một giới hạn nhất định, nhiệt độ cao nâng cao hiệu quả trích ly do tăng cường mưc độ khuếch tán và độ hòa tan các chất phân tích trong dung môi. Vượt qua giới hạn nhất định đó nhiệt độ trích ly cao sẽ làm giảm hàm lượng polyphenol. Vì vậy, nhiệt độ chiết thích hợp cho quá trình chiết là 80 độ C.

    Ảnh hưởng của tỉ lệ nguyên liệu/dung môi

    Qua bảng 4 cho thấy hàm lượng flavonoid trong dịch chiết tăng lên khi tỉ lệ nguyên liệu/dung môi tăng. Từ tỉ lệ 1/10 đến 1/15, hàm lượng flavonoid tăng nhanh nhưng tỉ lệ từ 1/15 đến 1/20 thì hàm lượng flvonoid lại tăng chậm. Đạt hàm lượng flavonoid cao nhất là 17,55% ở tỉ lệ nguyên liệu/dung môi 1/20. Tuy nhiên hàm lượng flavonoid ở công thức tỉ lệ 1/15 và 1/20 sự sai khác không có ý nghĩa thống kê. Vì vậy chúng tôi chọn tỉ lệ nguyên liệu/dung môi thích hợp là 1/15 để tiết kiệm dung môi.

    Tối ưu hóa quá trình tách chiết

    Trên cơ sở khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện chiết tách, chúng tôi nhận thấy nồng độ dung môi, thời gian chiết, nhiệt độ chiết là những yếu tô ảnh hưởng mạnh đến quá trình chiết tách. Chúng tôi sử dụng phương pháp bề mặt chỉ tiêu theo thiết kế thí nghiệm của Box- Behnken với ba biến ba cấp độ

    Điều kiện tách chiết thích hợp để thu được hàm lượng flavonoid được xác định như sau:

    Nồng độ ethanol 70%, thời gian chiết 90p, nhiệt độ 80 độ C, tỉ lệ nguyên liệu/dung môi 1/15 (w/v). Chúng tôi sử dụng phương pháp bề mặt chỉ tiêu theo thiết kế thí nghiệm của Box- Beknken với ba biến ba cấp độ cho phương án tốt nhất được dự đoán nồng độ ethanol 69,72%, thời gian tách chiết 92,76 phút, nhiệt độ tách chiết 79,88 độ C khi đó hàm lượng flavonoid tổng số đạt 17,53%. Kết quả kiểm tra bằng thực nghiệm có độ tương thích cao. Kết quả của chúng tôi đã tìm được điều kiện tối ưu để tách chiết flavonoid trong chè dây cho hàm lượng cao nhất.

    Để biết thêm nhiều những nghiên cứu khoa học về cây chè dây bạn đọc có thể truy cập Traday.org

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chủ Trại Gà Đẻ Ở Việt Nam Khẳng Định: ‘không Xài Fipronil Để Trừ Mạt Như Nông Dân Hà Lan’
  • Tiêu Chuẩn Việt Nam Tcvn 8319:2010 Về Rau Quả
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Chiết Xuất Curcumin
  • Nghiên Cứu Khả Năng Thủy Phân Lá Chè Xanh Bằng Enzyme Và Ứng Dụng Để Chiết Tách Polyphenol
  • Tài Liệu Các Phương Pháp Chiết Xuất Hợp Chất Thiên Nhiên
  • Các Phương Pháp Tách Chiết Axit Nucleic

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Chiết Cành Cây Ăn Quả
  • Giáo Án Sinh Học 11
  • Máy Chiết Rót Đẳng Áp Là Gì? Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động
  • Máy Chiết Rót Định Lượng Chiết Dung Dịch Chuẩn Xác, Nhanh Chóng
  • Phương Pháp Tách Chiết Rna Tổng Số Và Mrna
  • DNA có kích thước lớn, mọi việc chiết tách cần phải tránh mọi tác nhân cơ học, hoá học tới phân tử DNA này.

    Việc tách DNA từ tế bào vi khuẩn được chia làm bốn bước cơ bản

    Nuôi cấy và thu sinh khối

    Tùy từng loại vi khuẩn mà người nghiên cứu chuẩn bị môi trường và điều kiện nuôi cấy khác nhau như nhiệt độ, độ pH, và điều kiện dinh dưỡng thích hợp cho sự phát triển của vi khuẩn.

    Tách tế bào ra khỏi dịch nuôi cấy bằng cách ly tâm và làm sạch tế bào. Thông thường khoảng 1.000ml dịch nuôi cấy li tâm và thu lấy khoảng 10ml cặn vi khuẩn.

    Phá vỡ màng tế bào và giải phóng các thành phần bên trong

    Axít nucleic được giải phóng ra khỏi màng tế bào bằng phương pháp hóa học và sinh học để thu dịch chiết tế bào.

    Enzyme lysozyme là một enzyme có trong lòng trắng trứng hoặc phage T4, có khả năng phá vỡ thành phần trùng hợp của thành tế bào. EDTA (TrilonB) tạo phức với Mg dạng hòa tan và làm vỡ thành tế bào. Đồng thời EDTA ngăn không cho enzyme trong tế bào phân hủy DNA. Người ta còn có thể phá vỡ màng tế bào và giải phóng DNA ra khỏi liên kết histon bằng chất tẩy rửa SDS (Sodium Derecyl Sylfat) hoặc enzyme protease.

    Các chất phá vỡ màng này làm li giải màng, tách rời các phần tử lipit và gây ra sự gẫy màng tế bào.

    Làm sạch DNA từ dịch chiết tế bào

    Loại bỏ các thành phần không mong muốn như protein, lipit và các thành phần khác bằng kết tủa phân đoạn. Mẫu được lắc mạnh trong hệ dung môi phenol-chloroform để biến tính, kết tủa protein và giải phóng axít nucleic vào dung dịch lỏng. Protein bị biến tính sẽ tách ra khỏi pha nước có chứa DNA sẽ được tách ra nhờ ly tâm. Dịch nổi gồm axit nucleic và nước được hút ra và tiếp tục phân hủy RNA bằng enzyme RNase. Sau đó, tách DNA và nước để thực hiện bước phân tích tiếp theo.

    Thu hồi DNA dạng đặc

    Mục đích của bước này là thu DNA dạng cô đặc, nhằm bảo vệ chúng khỏi sự phân hủy của enzyme. Có 2 phương pháp kết tủa

    Kết tủa DNA trong etanol với sự có mặt Na+ nồng độ cao, nhiệt độ thấp, tỷ lệ giữa etanol và mẫu phân tích là 3:1.

    Kết tủa trong izopropanol, tỷ lệ giữa rượu và mẫu là 1:1. Với phương pháp này không cần sự có mặt của muối và loại được DNA có phân tử lượng thấp. Ly tâm cao tốc và thu nhận DNA dạng cô đặc.

    Trong cả hai phương pháp, DNA thu được sẽ rửa trong etanol-70% để loại izopropanol và muối để thu được DNA tinh khiết.

    Việc tách DNA plasmid ra khỏi DNA nhiễm sắc thể là rất khó khăn. Tuy nhiên người ta có thể dựa vào sự khác nhau lý hóa giữa hai loại DNA như: kích thước, hình thái, cấu trúc của chúng.

    Về nguyên tắc được tiến hành theo 3 bước sau

    Bước 1

    Sau khi thu hồi và làm sạch các tế bào có chứa plasmid, người ta xử lý trong hỗn hợp SDS, EDTA hoặc NaOH làm DNA sợi đôi biến tính thành DNA sợi đơn nằm cạnh nhau.

    Bước 2

    Xử lý hỗn hợp trên trong môi trường đệm (NaCH3COO+CH3COOH) để kết tủa protein và SDS dạng tập hợp.

    Bước 3

    Đưa về môi trường trung tính, DNA sợi đơn được hồi tính trở lại. Còn DNA (NST) do dài nên hồi tính chậm và kết tủa cùng SDS. Tách DNA plasmid bằng cách kết tủa trong etanol hoặc izopropanol, sau đó ly tâm tách được plasmid tinh sạch.

    Ngoài vi khuẩn, DNA của virus, của tế bào thực vât, động vật cũng có thể tiến hành tách để phục vụ cho công nghệ di truyền. Các giai đoạn làm sạch tương tự như trên. Chỉ có giai đoạn nuôi cấy và phá vỡ màng tế bào thì khác, tuy nhiên, tùy từng loại tế bào mà có những cách xử lý sao cho thích hợp.

    Tách RNA tổng số

    RNA được tiến hành chiết tách gồm các bước cơ bản tương tự như DNA (bao gồm phá vỡ màng tế bào, loại protein, tủa RNA) nhưng ở đây ta dùng enzyme desoxyribonuclease (DNase) để phân huỷ DNA. Do RNA kém bền và dể bị phân huỷ bởi enzyme ribonuclease (RNase) có nhiều ở khắp nơi, hoạt tính cao lại bền với nhiệt (trên 90°C), vì vậy, điều kiện thao tác để chiết tách phải được tiến hành trong môi trường vô cùng nghiêm ngặt. Phương pháp chung để tách RNA tổng số được tiến hành như sau

    Tế bào được nghiền với chất tẩy rửa SDS, sarcocyl nồng độ cao, nitơ lỏng để biến tính protein. Đồng thời mẫu cũng được nghiền với chất khử (2-mercaptoethanol) để ức chế RNase. Nước sử dụng cũng được xử lý với DEPC (Diethylpyrocarbonat) cũng để loại bỏ RNase.

    Các protein, DNA được loại bỏ qua xử lý mẫu với hỗn hợp dung môi Trizol (phenol pH=4, guanidinium thiocyanate, glycerol, sodium acetate), khi ly tâm, ta tách được RNA trong pha nước. DNA ở pH=4 bị hấp phụ vào pha dưới cùng với phenol, protein biến tính nằm giữa hai pha cũng bị loại cùng với DNA cùng với pha phenol. RNA trong pha nước được hút ra sau đó tủa bằng izopropanol để -20°C, li tâm và rửa lại bàng ethalnol 79%, thu hồi RNA tinh khiết, bảo quản lạnh để làm các thí nghiệm tiếp theo. Chất lượng của RNA tổng số được đánh giá sơ bộ qua điện di trên gel agarose.

    Tách từng loại RNA khác nhau

    Dựa vào kích thước trọng lượng phân tử, người ta có thể tiến hành sắc kí, điện di hoặc ly tâm để tách từng loại RNA. Phương pháp tách mRNA

    Do kích thước bé lại chiếm lượng nhỏ (1÷5%) RNA tổng số, có cấu trúc đa dạng nên không thể tách bằng phương pháp trên.

    Nhờ đặc điểm mRNA có đuôi polyA, do đó, người ta tách mRNA ra khỏi mẫu bằng phương pháp sắc ký ái lực oligodt-xenlulose.

    Ngày nay trên thị trường có loại viên bi từ, trên bề mặt có gắn oligodt. Sau khi mRNA bám trên bề mặt các viên bi từ, thông qua liên kết bổ sung với oligodt, các viên bi này thu nhận và đem ly tâm ta thu được mRNA tinh khiết.

    Lưu ý rằng, để tách mRNA, người ta đi từ tế bào biệt hoá, lượng mRNA nhiều và đây cũng là con đường nghiên cứu cấu trúc gen mã hoá. Ngày nay người ta đã tổng hợp được ngân hàng mRNA.

    Ngày nay, người ta có thể thu nhận gen để thực hiện kỹ thuật di truyền bằng ba phương pháp

    Tách các đoạn DNA từ bộ gen

    Đây là phương pháp sử dụng rộng rãi ngay từ buổi đầu tiên của sự phát triển kỹ thuật DNA tái tổ hợp. Toàn bộ phân tử DNA của một sinh vật được cắt nhỏ thành những đoạn có kích thước 1,5÷2kb bằng restriction enzyme (RE). Điện di hoặc sắc kí để tách đoạn DNA tinh khiết, sau đó gắn vào vector chuyển gen, tạo plasmid DNA tái tổ hợp.

    Nhược điểm là tốn nhiều công sức và thời gian nhưng ngày nay người ta vẫn sử dụng để tạo ngân hàng DNA bộ gen (genonic DNA libraries).

    Sự tổng hợp gen bằng phương pháp hoá học

    Năm 1969, gen nhân tạo đầu tiên được tổng hợp do nhóm nghiên cứu Khorama, đó là gen mã hoá tổng hợp tRNA vận chuyển amino axit (alamin) ở nấm men gồm 77 cặp nucleotide. Gen đầu tiên không được biểu hiện vì không có các trình tự điều hoà.

    Về sau, chính nhóm này đã tổng hợp được gen có hoạt tính: đó là gen mã hóa cho chất ức chế tRNA vận chuyển tyrosine ở E. Coli, có chiều dài khoảng 200 cặp nucleotide.

    Vào năm 1977, K. Itakura và Boyer đã tổng hợp được gen mã hóa sinh tổng hợp hormone somatostatin của động vật có vú được biểu hiện ở E. Coli. và từ đó, nòi E. Coli mang gen tổng hợp hóa học được tạo ra. Sau này, người ta tổng hợp hóa học gen mã hóa hormone tăng trưởng của người dàì 584pb.

    Phương pháp tổng hợp hóa học gen cũng được sử dụng để tạo ra nòi vi khuẩn tổng hợp insulin, một loại hormone chữa bệnh tiểu đường cho người. Gen insuline được tổng hợp từ hơn 40 đoạn oligonucleotide khác nhau, sau đó, được nối lại nhờ enzyme lygase để tạo ra hai chuỗi polynucleotide dài 271 và 286bp mã hóa, tổng polypeptide A có 21 aminoaxit, polypeptide B có 30 aminoaxit.

    Qua các kết quả thu được, các nhà khoa học đã khẳng định rằng: muốn tổng hợp được gen bằng phương pháp hoá học cần phải biết trình tự của axit amin ở protein mà gen đó chịu trách nhiệm tổng hợp.

    Sinh tổng hợp gen từ mRNA

    Tổng hợp cDNA từ mRNA nhờ kỹ thuật của Gubler và Hoffman với sự có mặt của enzyme phiên mã ngược (Rever transcriptase – Hình dưới). Sau đó, cDNA (complementary) gắn vào plasmid và biến nạp vào vi khuẩn để tạo dòng cDNA. Phương pháp này được trình bày ở Chương 6 (thiết lập thư viện cDNA).

    Ưu điểm là: Gen thu nhận bằng phương pháp này đã loại bỏ được những trình tự không mã hoá. Bằng con đường này, người ta đã tạo dòng gen mã hoá tổng hợp globine của người, động vật và chim, protein thủy tinh thể mắt bò, ovalbumine (protein lòng trắng trứng) và fibroin tơ tằm.

    Vào năm 1992 các nhà khoa học Mỹ đã tạo được dòng cDNA của 2.375 gen của bộ não người. Phương pháp tổng hợp gen từ mRNA ngày càng được phát triển, nó kết hợp với các phương pháp khác của sinh học phân tử và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Cương Chiết Pha Rắn Và Ứng Dụng Của Chiết Pha Rắn
  • Kỹ Thuật Vi Chiết Pha Rắn Spe Solid Phase Extraction Hãng Supelco
  • Ứng Dụng Của Phenol / Chloroform Trong Tách Chiết Dna, Rna
  • Nghiên Cứu Chiết Tách Polyphenol Từ Cây Điều Để Làm Chất Kháng Oxi Hóa
  • Phương Pháp Chiết Pha Rắn
  • Phương Pháp Tách Chiết Adn Từ Xương Người

    --- Bài mới hơn ---

  • Tách Chiết Và Tinh Sạch Dna Bằng Hạt Từ Tính
  • Một Lượng Cồn Nhất Định Qua Hệ Thống Hồi Lưu Để Lấy Hết Các Chất Cần Thiết
  • Phân Lập Chất Độc Bằng Phương Pháp Chiết
  • Chọn Dung Môi Thích Hợp Để Chiết Chất Độc Khỏi Mẫu,
  • Định Nghĩa Và Các Tiêu Chuẩn Kiểm Nghiệm Cao Thuốc Theo Tiêu Chuẩn Dđvn Iv
  • Như bất kỳ một bước khởi đầu bất kỳ của các loại tách chiết ADN, việc khử trùng mẫu được thực hiện để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm mẫu chéo. Bề mặt của mẫu xương cần được xử lý ban đầu bằng thuốc tẩy và nước cất. Ngoài ra tất cả các dụng cụ sử dụng phải được khử trùng bằng nồi hấp nhiệt. Đối với các dụng cụ lớn hơn mà không thể hấp khử trùng dùng thuốc tẩy và cồn làm sạch bề mặt mà mẫu tiếp xúc. Pipet và các dụng cụ xử lý mẫu cần thao tác trong tủ hút sạch.

    Phương pháp tách chiết ADN từ xương người

    Trước đây, phương pháp tách chiết phổ biến nhất đó là nghiền mẫu cơ học. Các mẫu xương sau khi được làm sạch bằng thuốc tẩy và nước cất. Bề mặt ngoài của xương được mài sạch. Các mẫu xương sau đó được nghiền thành bột. Tiếp đến là các quy trình kiểm tra bằng máy để trả về kết quả xét nghiệm. Tuy nhiên, phương pháp này hiện nay không còn được áp dụng rộng rãi. Bởi tốn khá nhiều thời gian và công sức. Bên cạnh đó dễ xảy ra trường hợp có lẫn ADN khác vào.

    Tại ADN Center, chúng tôi cung cấp hệ thống máy móc hiện đại nhất hỗ trợ việc lấy ADN từ xương người với công nghệ nghiền mẫu trực tiếp trên máy.

    Lịch sử hình thành:

    Nhờ hệ hống máy móc tiên tiến, khi đưa mẫu xương người vào. Máy sẽ có quá trình tách triết tự động. Giảm thiểu những bước bên ngoài cũng nhưng khả năng có ADN khác bị nhiễm vào. Từ đó giúp tăng độ chính xác.

    Liên hệ với chúng tôi để được ứng dụng phương pháp tách chiết ADN từ xương người hiện đại nhất:

    PHÒNG THÍ NGHIỆM TRỌNG ĐIỂM CÔNG NGHỆ GEN – VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC

    • Địa chỉ: Tầng 4, Toà nhà A10, Số 18 Hoàng Quốc Việt, Quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội
    • Thu mẫu: Lầu 5, toà nhà CIC số 305 đường 3/2, Phường 10, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh

    Liên hệ để được nhận tư vấn từ chuyên gia: 086.55.11.589

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiết Xuất Alcaloid Mã Tiền
  • Các Dung Môi Hay Dùng Để Chiết Xuất
  • Nội Dung Của Phương Pháp Triết Trừ
  • Cách Tính Chiết Khấu Dòng Tiền Dưới Góc Nhìn Của Nđt Giá Trị Monish Panbrai
  • Định Giá Doanh Nghiệp Theo Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Tiền
  • Phương Pháp Phân Tích Sắc Ký Và Chiết Tách

    --- Bài mới hơn ---

  • Chiết Tự Chữ Hán Là Gì? Cách Nhớ Chữ Hán Theo Chiết Tự Siêu Nhanh! ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Tách Cành Lan
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 8973:2011 (En 12821 : 2009) Về Thực Phẩm
  • So Sánh Phương Pháp Giâm Cành Chiết Cành Và Ghép Cành
  • Cách Giâm Cành Để Nhân Giống Cây Hoa Hồng Tại Nhà
  • Phương pháp phân tích sắc ký và chiết tách – Phạm Luận

    Đi cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, việc nghiên cứu chuyên sâu về hóa học cũng ngày càng được coi trọng và thu hút được đông đảo các nghiên cứu sinh. Tuy nhiên, ở Việt Nam các giáo trình và tài liệu chuyên sâu về Hóa học còn tương đối hạn chế. Với nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu và quá trình tu nghiệp ở các nước phát triển, chúng tôi Phạm Luận đã biên soạn và xuất bản cuốn sách “Phương pháp phân tích sắc ký và chiết tách” – Cuốn tài liệu được đánh giá rất cao trong lĩnh vực Hóa học.

    Sắc ký và tách chiết là các kỹ thuật tách và xác định các chất trong Hóa học phân tích hiện đại, nó bao gồm sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), điện di mao quản hiệu năng cao (HPCE), sắc ký khí (GC) và các kỹ thuật chiết lỏng – lỏng (LLEx), chiết pha rắn (SPE). Các kỹ thuật sắc ký và tách chiết này là một phần quan trọng của Hóa học phân tích hiện đại, đặc biệt là trong phân tích lượng nhỏ và lượng vết các chất. Sắc ký lỏng hiệu năng cao, sắc ký khí, điện di mao quản là những kỹ thuật tách và xác định đồng thời các chất trong một hỗn hợp mẫu.

    Trong khoảng 20 năm qua, HPLC, HPCE, GC và các kỹ thuật chiết tách đã và đang được phát triển rất nhanh và ứng dụng đạt hiệu quả cao trong việc tách, phân tích định tính và định lượng các chất khác nhau từ vô cơ đến hữu cơ, mà sắc ký cổ điển không đáp ứng được, như độ nhạy cao, tốc độ phân tích cao, cần ít mẫu, tách và xác định đồng thời được nhiều chất trong một hỗn hợp mẫu. Ngày nay, tổ hợp cả sắc ký khí (GC), sắc ký lỏng áp suất cao (HPLC), điện di mao quản hiệu năng cao (HPCE) đã cho phép chúng ta giải quyết được nhiều vấn đề thực tế của phân tích. Nhất là trong khoảng 15 năm trở lại đây, sự phát triển và ứng dụng của kỹ thuật phân tích HPLC, GC và HPCE đã đi vào mọi lĩnh vực của Hoá học phân tích, từ đa lượng đến vi lượng, cũng như điều chế.

    Ở nước ta, kỹ thuật phân tích GC, HPLC và HPCE cũng đã và đang được nghiên cứu và phát triển cũng như ứng dụng trong một số lĩnh vực khác nhau của nghiên cứu khoa học và sản xuất. Một số viện nghiên cứu khoa học, trường đại học, trung tâm đã có các hệ thống trang bị về kỹ thuật phân tích GC, HPLC và HPCE hoặc do nước ta tự đầu tư, hoặc được sự viện trợ của nước ngoài theo các chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo. Song hiện nay còn rất nhiều cán bộ chưa được đào tạo học tập một cách có hệ thống, họ muốn tìm hiểu và học tập cũng như sử dụng kỹ thuật phân tích GC, HPLC hay HPCE cho công việc của mình, nhưng lại bị hạn chế về ngoại ngữ hoặc không có điều kiện ra nước ngoài tu nghiệp. Các tài liệu về kỹ thuật này lại quá hiếm, chưa có bằng tiếng Việt, mà chủ yếu là bằng tiếng Anh, Đức, Pháp và Nga. Đây là một thực tế khó khăn cho việc ứng dụng và phát triển kỹ thuật GC, HPLC và HPCE hiện nay ở nước ta. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi Phạm Luận đã biên soạn cuốn sách cơ sở “Phương pháp phân tích sắc ký và chiết tách” để góp phần phục vụ công tác đào tạo sinh viên đại học, thạc sỹ, tiến sỹ về chuyên ngành Hoá phân tích và đáp ứng một phần nào nhu cầu của nhiều cán bộ đang muốn tìm hiểu về kỹ thuật phân tích GC, HPLC, HPCE và các kỹ thuật chiết tách trong phân tích, cũng như một số bạn đọc cần tìm hiểu và học hỏi về các kỹ thuật phân tích này. Nội dung cuốn sách gồm những chương chính:

    1. Sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC);

    2. Điện di mao quản hiệu năng cao (HPCE);

    3. Sắc ký khí (GC);

    4. Các kỹ thuật chiết tách (LLEx, SPE, GCEx).

    Đây được coi là cuốn sách tiếng Việt đầu tiên về phân tích sắc ký và chiết tách. chúng tôi mời quý độc giả đón đọc.

    Đôi nét về tác giả

    GS.TS Phạm Luận là một nhà khoa học rất có uy tín trong lĩnh vực Hóa học phân tích. Trải qua các giai đoạn đào tạo cơ bản tại Khoa Hóa học trường Đại học Tổng hợp cũng như đào tạo chuyên sâu tại trường Đại học Tổng hợp Leipzig, ông đã đạt học vị Tiến sĩ Khoa học – Bậc học vị được trân trọng nhất tại CHDC Đức trước kia cũng như CHLB Đức hiện nay. Song song với quá trình đào tạo, ông say mê với công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học cũng như ứng dụng kiến thức và kinh nghiệm để đóng góp vào công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước như là Cố vấn chuyên môn của Viện 69 (Viện nghiên cứu Khoa học bảo vệ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh), của Cục Môi trường và của Viện Kiểm nghiệm An toàn thực phẩm quốc gia. Ông đã được phong học hàm Giáo sư tại CHDC Đức (năm 1987) và tại Hà Lan (năm 1989).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Các Phương Pháp Chiết Xuất Tinh Dầu Đơn Giản Tại Nhà
  • Ứng Dụng Phương Pháp Sắc Ký Lớp Mỏng Hiệu Năng Cao (Hptlc) Xác Định Tân Dược Trộn Lẫn Trong Chế Phẩm Đông Dược
  • Hệ Thống Chiết Xuất Siêu Âm * Envitechcorp
  • Khai Thác Và Bảo Quản Siêu Âm
  • Chiết Xuất Bằng Phương Pháp Co 2 Siêu Tới Hạn
  • Phương Pháp Tách Chiết Rna Tổng Số Và Mrna

    --- Bài mới hơn ---

  • Thiết Bị Chiết Xuất Co2 Siêu Tới Hạn * Envitechcorp
  • Chiết Xuất Bằng Phương Pháp Co 2 Siêu Tới Hạn
  • Khai Thác Và Bảo Quản Siêu Âm
  • Hệ Thống Chiết Xuất Siêu Âm * Envitechcorp
  • Ứng Dụng Phương Pháp Sắc Ký Lớp Mỏng Hiệu Năng Cao (Hptlc) Xác Định Tân Dược Trộn Lẫn Trong Chế Phẩm Đông Dược
  • Cách đây ít ngày, HappyVet có chia sẻ về quy trình tách chiết DNA, bài viết này chúng ta sẽ tiếp tục đi tìm hiểu về phương pháp tách chiết RNA tổng số và mRNA để mọi người cùng hiểu và ứng dụng vào thí nghiệm phân tử, di truyền, sinh học một cách tốt nhất.

    Phương pháp tách chiết RNA

    Kỹ thuật tách chiết RNA là một trong những quy trình phức tạp với nhiều phương pháp, thủ thuật khác nhau. Mặc dù vậy nhưng kết quả thu được đảm bảo được chất lượng cao và sử dụng được nhiều kỹ thuật phân tích.

    Để thu nhận được RNA tinh sạch, bạn cần phải loại bỏ hoàn toàn những thành phần tạp chất, nhất là protein. Tách chiết dựa trên nguyên tắc hòa tan khác nhau của các phân tử khác nhau trong hai pha không hòa tan.

    Quy trình tách chiết RNA tổng số

    Cũng giống với DNA, RNA được tiến hành tách chiết theo các bước cơ bản bao gồm: Phá vỡ màng tế bào, loại bỏ protein và tủa RNA. Quy trình tách chiết được diễn ra như sau:

    – Biến tính protein bằng việc nghiền tế bào với chất tẩy rửa SDS, sarcocyl nồng độ cao, nitơ lỏng. Đồng thời, mẫu cũng được nghiền với chất khử 2-mercaptoethanol nhằm ức chế RNase. Nước sử dụng trong quá trình tách chiết cũng cần được xử lý bằng DEPC (Diethylpyrocarbonat) để loại bỏ RNase.

    – Các protein, DNA được loại bỏ qua xử lý mẫu với hỗn hợp dung môi Trizol, sau đó ly tâm ta tách được RNA trong pha nước. DNA ở độ pH – 4 sẽ bị hấp thụ vào pha dưới cùng với Phenol, protein sẽ biến tính và nằm giữa hai pha sẽ bị loại bỏ cùng DNA và Phenol.

    – Lúc này, RNA trong pha nước sẽ được hút ra sau đỏ tủa bằng izopropanol để -20°C, tiến hành ly tâm và rửa lại bằng ethalnol 79%. Cuối cùng, thu hồi RNA tinh khiết và bảo quản lạnh ở -70 o C để làm thí nghiệm tiếp theo.

    Quy trình tách chiết RNA khác nhau

    Tùy vào kích thước trọng lượng phân tử mà bạn có thể tiến hành sắc kí, điện di hoặc ly tâm để tách từng loại RNA khác nhau. Kỹ thuật tách chiết RNA được diễn ra như sau:

    mRNA có đuôi polyA nên bạn tiến hành tác RNA ra khỏi mẫu bằng phương pháp sắc ký ái lực oligodt-xenlulose. Bạn có thể sử dụng viên bi từ, trên bề mặt có gắn oligodt sẽ liên kết với mRNA và giúp chúng bám trên bề mặt bi. Lúc này, các viên bi sẽ thu nhận và đem ly tâm ra thu được mRNA tinh khiết.

    Kit tách chiết RNA

    Những phương pháp tách chiết trên có tính ứng dụng cao tuy nhiên quy trình làm thủ công, tốn thời gian và tốn công sức và khó tự động hóa. Chính vì thế mà các bộ kit ra đời để tối ưu những nhược điểm trên.

    Hiện nay, hầu hết các phòng thí nghiệm đều sử dụng kit ly trích axit nucleic taco ™ trong phương pháp tách chiết RNA. Ưu điểm của bộ kit này là mẫu nhỏ nhưng thu được sản phẩm RNA là rất lớn. Kit được thiết kế đặc biệt để sử dụng với hệ thống ly trích axit nucleic tự động taco ™, dễ dàng sử dụng.

    Đây là công cụ thuận tiện, nhanh chóng và tách chiết RNA tổng số từ các mẫu, loại bỏ các chất ức chế, thu được RNA tinh sạch phục vụ cho các quá trình nghiên cứu.

    Ngoài các bộ kit tách chiết, HappyVet còn cung cấp thêm các loại kit iiPCR Pockit, kit Real time PCR,…. phục vụ công tác chẩn đoán bệnh trên thú y, thủy sản và nghiên cứu.

    Vừa rồi là những kiến thức tổng quan về phương pháp tách chiết RNA mà HappyVet chia sẻ để bạn đọc tham khảo. Nếu bạn đang có nhu cầu tìm hiểu và sử dụng Kit tách chiết DNA/ RNA hãy liên hệ ngay số HOTLINE 0983.600.953 để được tư vấn và báo giá chi tiết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy Chiết Rót Định Lượng Chiết Dung Dịch Chuẩn Xác, Nhanh Chóng
  • Máy Chiết Rót Đẳng Áp Là Gì? Cấu Tạo Và Nguyên Lý Hoạt Động
  • Giáo Án Sinh Học 11
  • Cách Chiết Cành Cây Ăn Quả
  • Các Phương Pháp Tách Chiết Axit Nucleic
  • Chiết Tách Dầu Từ Hạt Thanh Long Bằng Phương Pháp Enzyme

    --- Bài mới hơn ---

  • Trứng Gà Nhiễm Thuốc Trừ Sâu Được Bán Ở 15 Nước Châu Âu Và Hong Kong
  • Châu Âu Rúng Động Về Vụ Bê Bối “trứng Bẩn”
  • Nguyên Tắc Chung Để Chiết Xuất Hợp Chất Flavonoid: Chiết Kiệt Flavonoid
  • Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Tiền Fcff
  • Hướng Dẫn Cách Chiết Cành Cây Sứ Đạt Tỉ Lệ Thành Công Cao
  • Bài báo khoa học

    Chiết tách dầu từ hạt thanh long bằng phương pháp enzyme

    Nghiên cứu này cho thấy có thể tận dụng nguồn phụ phẩm phế thải của công nghệ sản xuất nước ép từ trái Thanh long để chiết tách dầu hạt Thanh long, một sản phẩm dầu thực vật mới, chất lượng cao, giàu các hợp chất chống oxy hóa (flavonoic và tocopherol). Enzyme Viscozyme L. (hỗn hợp các enzyme Xylanase, Cellulase Hemicellulase) cho hiệu suất chiết tách dầu hạt Thanh long cao hơn so với các enzyme Protease và Cellulase. Các thông số kỹ thuật cũng được nghiên cứu tối ưu hóa bao gồm: pH dịch trích 5,1 với tỉ lệ nước bổ sung là 3/1, hàm lượng enzyme sử dụng 0,54%, thời gian và nhiệt độ thủy phân là 5 giờ và 37 o C. Hiệu suất chiết tách cao nhất đạt được là 88,67%. Công nghệ này có thể chuyển giao cho sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm mới có giá trị dinh dưỡng cao, đồng thời góp phần giải quyết bã thải gây ô nhiễm môi trường, nâng cao giá trị kinh tế cho cây Thanh long.

    Từ khóa: Dầu hạt Thanh long, enzyme Viscozyme L.

    Thanh long (Hylocereus spp.) là loại trái cây đặc sản, có giá trị xuất khẩu cao vì sự hấp dẫn về hình dáng, màu sắc, hương vị và dinh dưỡng. Quả Thanh long chứa nhiều các chất khoáng, có thành phần dinh dưỡng phong phú, vị ngọt thanh, có tác dụng mát gan, bổ sung chất xơ và rất thích hợp cho những người ăn kiêng. Thanh long thường được dùng để làm món ăn tráng miệng và nước giải khác như các loại trái cây khác. Hiện nay rất nhiều cơ sở chế biến nước ép Thanh long tại 2 tỉnh Bình Thuận và Tiền Giang.

    Trong quả Thanh long phần thịt chiếm khoảng 66,2-67,4%, phần vỏ chiếm khoảng 24,5-25,2% và hạt chiếm khoảng 7,9-8,6% , đặc biệt dầu hạt Thanh long rất nhiều axit linoleic (49,6-50,1%) và axit oleic (21,6-23,8%) , ngăn chặn sự hình thành các gốc tự do gây ung thư.

    Mục tiêu của nghiên cứu là chiết tách dầu từ hạt Thanh long bằng phương pháp enzyme, tạo ra sản phẩm dầu ăn mới có chất lượng dinh dưỡng tốt trên thị trường, làm đa dạng hóa sản phẩm dầu ăn.

    2.VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    Vật liệu được sử dụng trong nghiên cứu là bã nhầy (phụ phẩm của công nghệ chế biến nước ép thanh long) của trái Thanh long ruột trắng (Hylocereus undulatus) được trồng tại Bình Thuận của Công ty trách nhiệm hữu hạn Rồng Xanh. Mẫu sau

    khi thu nhận được chứa trong bao nilon và bảo quản trong thùng xốp. Enzyme: Các enzyme thương mại của hãng Novozymes (Đan Mạch).

    2.2.Phương pháp nghiên cứu

    Thí nghiệm tối ưu hóa được bố trí theo phương pháp bề mặt đáp ứng (Respone Surface Methodology) kiểu Box-Bhenken (thí nghiệm yếu tố), sử dụng phần mềm JMP 10.0 để xử lý số liệu.

    Phương pháp phân tích: Đánh giá chất lượng nguyên liệu hạt Thanh long và sản phẩm dầu hạt Thanh long bằng các phương pháp phân tích theo TCVN, AOCS, FAO, AOAC.

    Phương pháp xử lý thống kê: Phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) được sử dụng để kiểm định sự khác nhau giữa các giá trị trung bình (mức ý nghĩa a = 0,05) và kiểm định LSD được sử dụng với sự hỗ trợ của phần mềm thống kê JMP 10.0

    Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp nghiên cứu công nghệ sản xuất dầu Thanh long thủy phân bằng enzyme.

    + Nghiên cứu chiết tách và thu hồi hạt từ phụ phẩm: Bã sau khi ép lấy dịch từ trái Thanh long của Công ty trách nhiệm hữu hạn Rồng Xanh được chứa trong bao nilon, bảo quản trong thùng xốp và vận chuyển về phòng thí nghiệm ngay trong ngày. Tiến hành thử nghiệm xử lý bằng nhiệt và bổ sung enzyme Viscozyme L. Sau khi xử lý, tiến hành rửa nhiều lần bằng nước lạnh để thu hồi hạt. Hạt được phơi khô (đến độ ẩm 7-8%) và bảo quản trong túi nilon kín.

    + Nghiên cứu lựa chọn enzyme: Khảo sát 3 loại enzym khác nhau (enzyme Protease, enzyme Cellulase, enzyme Vicozyme L.), các enzyme khảo sát ở 2 yếu tố: pH và nhiệt độ (trong đó pH thực hiện ở 4 mức, nhiệt độ ở 3 mức khác nhau). Thí nghiệm được bố trí theo kiểu đầy đủ, 2 yếu tố, mỗi nghiệm thức 3 lần lặp lại.

    + Nghiên cứu các thông số kỹ thuật ảnh hưởng đến hiệu suất trích ly dầu của hạt Thanh long: Khảo sát 3 thông số kỹ thuật ảnh hưởng đến quá trình chiết tách: tỉ lệ nước bổ sung (W/S), tỉ lệ enzyme bổ sung (E/S), thời gian trích ly theo phương pháp quy hoạch cổ điển (thí nghiệm ngẫu nhiên 1 yếu tố). Các thông số thí nghiệm được khảo sát độc lập. Trong đó mỗi một thông số sẽ được khảo sát lần lượt tại các mức khác nhau, các thông số khác sẽ được cố định tại một giá trị được lựa chọn.

    + Tối ưu hóa quá trình thủy phân dầu

    hạt Thanh long bằng phương pháp enzyme: Dựa vào kết quả của các thí nghiệm trước, lựa chọn 3 thông số công nghệ có ảnh hưởng nhiều đến hiệu suất trích ly để tiến hành thí nghiệm tối ưu hóa. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp bề mặt đáp ứng (Respone Surface Methodology) kiểu Box-Bhenken, sử dụng phần mềm JMP 10.0 để xử lý số liệu

    3.1.Nghiên cứu tách và thu hồi hạt Thanh long

    Phần thịt trái Thanh long chứa nhiều những carbohydrate dạng keo (cellulose, hemicellulose và các polymer saccharide). Sau khi ép trái lấy dịch, lớp keo này bao quanh hạt thanh long và là thành phần gây cản trở cho các quá trình chế biến dầu về sau. Từ cơ sở trên đề tài đã chọn loại enzym Viscozyme L. là hỗn hợp enzym thủy phân hemicellulose, cellulose, xylanose theo khuyến cáo của nhà sản xuất để tách hạt ra khỏi bã nhầy. Khả năng tách hạt Thanh long khỏi bã nhầy sau khi gia nhiệt và bổ sung enzyme để qua đêm được đánh giá theo thang điểm sau:

    (+): Tách một phần hạt, hạt chưa sạch còn nhiều nhầy, khó rửa.

    (++): Tách một phần hạt, hạt còn ít nhầy, dễ rửa.

    (+++): Tách hoàn toàn, dễ rửa, hạt sạch.

    Kết quả đánh giá khả năng tách hạt Thanh long khỏi bã nhầy được trình bày tại Bảng 1 cho thấy, khi xử lý bằng enzym Viscozyme L. với hàm lượng 0,04% ở nhiệt độ 40 o C hạt dễ rửa, việc loại bỏ phần dịch nhầy nhanh, hạt sạch, không lẫn nhầy, hiệu quả tách hạt cao và có sự khác biệt có ý nghĩa hơn khi xử lý ở các điều kiện khác.

    Bảng 1. Khả năng tách hạt khỏi bã ở hàm lượng enzym và nhiệt độ khác nhau

    Biểu đồ 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ, pH đến hiệu suất trích ly của enzyme Protease

    Biểu đồ 2. Ảnh hưởng của nhiệt độ, pH đến hiệu suất trích ly của enzyme Cellulase

    Biểu đồ 3. Ảnh hưởng của nhiệt độ, pH đến hiệu suất trích ly của enzyme Viscozyme L

    3.2 Nghiên cứu công nghệ sản dầu hạt Thanh long bằng phương pháp enzyme

    Nghiên cứu lựa chọn enzyme:

    Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH và nhiệt độ đến hiệu suất trích ly dầu hạt thanh long của enzyme Protease được trình bày ở Biểu đồ 1.

    Kết quả cho thấy khi pH của dịch trích lớn hơn 6,5 thì hiệu suất trích ly có xu hướng giảm ở các nhiệt độ khác nhau và nhiệt độ tăng cũng làm giảm hiệu suất trích ly. Hiệu suất trích ly đạt được cao nhất là 84,47% ở pH 6 và nhiệt độ 50 oC. Điều này chứng tỏ rằng khi tăng nhiệt độ và pH thì hoạt động của enzym bị ức chế, làm cho hoạt lực thủy phân của enzym giảm. Vì vậy, đối với enzym protease ở nhiệt độ 50 o C và pH = 6 với hiệu suất trích ly dầu cao nhất.

    Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH và nhiệt độ đến hiệu suất trích ly dầu hạt Thanh long của enzyme Cellulase được trình bày ở Biểu đồ 2.

    Kết quả cho thấy, ở khoảng nhiệt độ 40 oC và ở pH từ 5 – 5,5 thì hiệu suất trích ly dầu thấp nhất chỉ khoảng 69,51%. Do đó, ở nhiệt độ và pH này thì không phù hợp cho enzym hoạt động tối ưu trong quá trình thủy phân hỗn hợp dịch thanh long. Khi ở khoảng nhiệt độ 50 – 60 o C và pH 5,5- 6,0 thì hiệu suất trích ly dầu của enzym cellulase đạt cao nhất từ 81,23 – 82,91%, không có sự khác biệt về mặt thống kê. Còn khi tăng pH lên 6,5 thì sẽ kìm hãm hoạt động của enzym cellulase làm cho hiệu suất trích ly dầu có xu hướng giảm dần.

    Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH và nhiệt độ đến hiệu suất trích ly dầu hạt thanh long của enzyme Viscozyme L được trình bày ở biểu đồ 3.

    Kết quả thí nghiệm cho thấy ở nhiệt độ 60 oC hiệu suất trích ly dầu là thấp nhất (74,29-78,14%). Ở nhiệt độ 40 o C và pH từ 4,5 – 5 thì hiệu suất trích ly dầu cao nhất (88,37 – 88,66%). Điều này cho thấy rõ khi tiến hành thí nghiệm trong khoảng nhiệt độ và pH này thì phù hợp cho enzym Viscozyme L có khả năng phá vỡ màng tế bào, giúp cho các túi dầu tách ra khỏi màng một cách dễ dàng hơn. Khi nhiệt độ và pH càng tăng thì hoạt lực của enzym Viscozyme L càng giảm và làm cho quá trình thủy phân hỗn hợp dịch thanh long càng giảm. Do đó, khả năng giải phóng các túi dầu càng khó khăn hơn nên hiệu suất trích ly dầu có xu hướng giảm.

    Qua kết quả khảo sát, với 3 loại enzyme khác nhau (Enzyme Protease, Cellulase, Viscozyme L) ở các khoảng nhiệt độ và pH khác nhau theo khuyến cáo của nhà sản xuất, hiệu suất trích ly dầu của enzyme Viscozyme L (88,66%) cao nhất, so với enzyme Protease (84,87%) và enzyme Cellulase (82,94%). Vì vậy, chọn enzyme Viscozyme L ở nhiệt độ 40 o C và pH = 5 được lựa chọn để trích ly dầu cho hiệu quả kinh tế cao hơn.

    Bảng 3. Ảnh hưởng của tỉ lệ enzym bổ sung (%) đến hiệu suất trích ly

    Bảng 4. Ảnh hưởng của thời gian trích ly đến hiệu suất trích ly dầu hạt Thanh long

    Bảng 5. Kết quả tối ưu hóa các thông số công nghệ của quá trình thủy phân bằng enzyme

    3.3.Nghiên cứu ảnh hưởng các thông số kỹ thuật đến hiệu suất trích ly dầu từ hạt Thanh long

    Ảnh hưởng của tỉ lệ nước bổ sung (W/S):

    Kết quả khảo sát ảnh hưởng của tỉ lệ nước bổ sung so với lượng hạt (W/S) đến hiệu suất trích ly dầu hạt thanh long được trình bày ở Bảng 2 cho thấy, khi lượng nước bổ sung vào theo tỉ lệ từ 2/1 đến 4/1 thì hiệu suất trích ly dầu tăng lên từ 76,68% đến 89,23%. Sau đó tiếp tục tăng lượng nước thì hiệu suất lại có xu hướng giảm xuống. Tỉ lệ nước với cơ chất 3/1 cho hiệu suất trích ly cao (88,45%) và không có khác biệt có ý nghĩa so với tỉ lệ 4/1, lượng nước sử dụng ít, thuận lợi cho những công đoạn xử lý tiếp theo. Do đó, được lựa chọn để tiến hành thí nghiệm cho các nghiên cứu tiếp theo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phễu Chiết Thủy Tinh Dùng Để Làm Gì Và Cách Sử Dụng Phễu Chiết
  • Công Nghệ Chiết Xuất Tinh Dầu Ấn Độ
  • Tối Ưu Phương Pháp Phân Tích Dầu Mỡ Bằng Thiết Bị Chiết Tách Pha Rắn Tự Động Đồng Loạt Spe
  • Xác Định Các Chất Chiết Được Trong Dược Liệu
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Mít
  • Nguyên Tắc Chung Để Chiết Xuất Hợp Chất Flavonoid: Chiết Kiệt Flavonoid

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Tiền Fcff
  • Hướng Dẫn Cách Chiết Cành Cây Sứ Đạt Tỉ Lệ Thành Công Cao
  • Kỹ Thuật Chiết Ghép Cây
  • Cách Chiết Ghép Mai Vàng
  • Gelatin Là Gì? Bột Gelatin Có Phải Là Bột Rau Câu?
  • . Trạng thái của hợp chất

    Flavonoid được phân lập dưới dạng

    – genin/glycosid : hầu hết flavon(ol), flavanon, chalcon

    – chủ yếu genin : flavanonol, catechin, leuco – anthrocyanidin, biflavonoid

    – chủ yếu là glycosid : anthocyanidin

    dạng glycosid thường khó kết tinh.

    dạng genin thường kết tinh, điểm chảy cao.

    biflavonoid thường bền, điểm chảy cao.

    – flavanon(ol), DHC : không màu- catechin, LAC : không màu

    – flavon, isoflavon : không màu ® vàng nhạt

    – flavonol : vàng nhạt ® vàng

    – chalcon, auron : vàng ® đỏ cam

    – anthocyanidin : vàng cam, đỏ, tím …(tùy pH)

    – dạng glycosid :

    Phản ứng định tính

    Phản ứng với kiềm (KOH, NaOH)

    1.1. Với kiềm đặc-nóngPhá vỡ cấu trúc (® phloroglucinol)

    dùng để xác định cấu trúc flavonoid

    1.2. Với kiềm loãngFlavonoid tăng màu (tạo phenolat, Δ’ có Δ liên hợp)

    Tham khảo các bảng màu chuẩn ® cấu trúc flavonoid

    Với d.dịch FeCl3 loãngFlavonoid + FeCl3 ® phức xanh (nâu, lá, đen).

    – để sơ bộ nhận định số lượng nhóm OH / phân tử.

    – càng nhiều OH (đ.biệt là o-di-OH): màu càng đậm

    – các dẫn chất 3′,4′,5′ tri-OH : tạo màu xanh đen

    . Với dd. acetat chì : Tạo phức tủa có màu- dd. acetat chì kiềm : ® tủa vàng nhạt đến sậm với hầu hết các flavonoid (và cả các polyphenol)

    – dd. acetat chì trung tính: ® tủa vàng nhạt đến sậm với các flavonoid có ortho-di-OH phenol.

    Màu tủa thay đổi tùy số lượng và vị trí các nhóm thế.

    . Với dung dịch AlCl3 / ROH- Là thuốc thử tăng màu (shift reagent), dùng để khảo sát

    cấu trúc flavonoid bằng quang phổ UV.

    – dựa vào Δλmax, ® số lượng & vị trí các nhóm -OH / khung.

    Chú ý : Thuốc thử này chỉ quan sát rõ dưới UV 365 nm.Dưới ánh sáng thường: không thấy rõ sự th.đổi

    Định lượng flavonoid

    Nguyên tắc chung- chiết kiệt flavonoid, loại tối đa tạp chất

    – chọn phương pháp định lượng thích hợp tùy theo

    đối tượng chiết xuất (genin hay glycosid),

    yêu cầu (F toàn phần hay 1 chất cụ thể)…

    copy ghi nguồn : daihocduochanoi.com

    Link bài viết tại : Đại cương về flavonoid

    --- Bài cũ hơn ---

  • Châu Âu Rúng Động Về Vụ Bê Bối “trứng Bẩn”
  • Trứng Gà Nhiễm Thuốc Trừ Sâu Được Bán Ở 15 Nước Châu Âu Và Hong Kong
  • Chiết Tách Dầu Từ Hạt Thanh Long Bằng Phương Pháp Enzyme
  • Phễu Chiết Thủy Tinh Dùng Để Làm Gì Và Cách Sử Dụng Phễu Chiết
  • Công Nghệ Chiết Xuất Tinh Dầu Ấn Độ
  • Tách Chiết Tinh Sạch Protein/enzyme

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Chiết Xuất Flavonoid Và Các Chất Phytochemical Khác
  • Định Giá Chiết Khấu Dòng Tiền Fcff
  • Fcfe Và Fcff Là Gì? Cách Tính Toán Và Sự Dụng Trong Định Giá Chiết Khấu Dòng Tiền
  • Định Giá Cổ Phiếu – Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Tiền
  • Kỹ Thuật Nhân Giống Cây Cảnh Bằng Hình Thức Chiết, Ghép Và Giâm Cành
  • Qua nhiều năm, việc gia tăng sử dụng vi sinh vật như là một nguồn cung cấp protein, đặc biệt là các enzyme, đã cải thiện đáng kể hiệu quả sản xuất và sản phẩm được tạo ra nhiều hơn. Phần lớn enzyme sử dụng trong công nghiệp là các protein ngoại bào từ các cơ thể như Aspergillus sp. và Bacillus sp., bao gồm: α-amylase, β-glucanase, cellulase, dextranase, protease và glucoamylase. Nhiều loại trong số này vẫn còn được sản xuất từ các chủng gốc tự nhiên của vi sinh vật. Tuy nhiên, trong sản xuất protein/enzyme để sử dụng trong các lĩnh vực chẩn đoán lâm sàng và cho các ứng dụng trị liệu, công nghệ protein/enzyme và công nghệ DNA tái tổ hợp đã thể hiện một vai trò ngày càng quan trọng. Công nghệ DNA tái tổ hợp, ngoài việc cho phép cải thiện hiệu suất lớn lao, nó cũng cho phép chuyển các vật liệu di truyền từ động vật vào vi khuẩn vật chủ. Trong phương thức này, các protein chỉ có một lượng nhỏ từ mô động vật bây giờ có thể được sản xuất trong một lượng gần như vô hạn từ các vi khuẩn sinh trưởng dễ dàng. Một ví dụ điển hình là hormone sinh trưởng của người; chất này được sản xuất mỗi lần với một lượng nhỏ từ tuyến yên, trước khi nó được thừa nhận hiện diện một rủi ro tiềm tàng đối với bệnh nhân từ sự nhiễm bẩn prion là yếu tố được ám chỉ trong hội chứng Creutzfeld-Jacob. Hormone sinh trưởng người bây giờ được sản xuất với một lượng lớn hơn rất nhiều từ vi khuẩn E. coli và nó hoàn toàn sạch không bị nhiễm prion không mong muốn.

    Các enzyme hoặc protein được sản xuất bằng vi sinh vật có thể ở nội bào, ở khoang gian bào hoặc tiết vào môi trường nuôi cấy. Đối với các enzyme ngoại bào, mức độ tinh sạch cần thiết thường là tối thiểu, khi sản phẩm cuối cùng được dùng trong công nghiệp và không cần độ tinh sạch cao. Các quá trình quy mô lớn như thế có thể cho sản lượng sản phẩm protein lên đến hàng tấn.

    Trong thiết kế quy trình tinh sạch ở quy mô lớn thì số lượng các bước, và sự thu hồi sản phẩm ở mỗi bước đã ảnh hưởng quan trọng lên hiệu suất toàn bộ (overall yield) của sản phẩm, như trình bày ở hình 6.7. Sự thu hồi đặc trưng của một bước sắc ký là trong khoảng 80% và 90%, vì sự tinh sạch phức tạp đòi hỏi nhiều bước do đó sản lượng toàn bộ nhiều khi chỉ bằng 10% của nguyên liệu khởi đầu. Điều này không thành vấn đề ở trường hợp tinh sạch quy mô phòng thí nghiệm, nhưng nếu tinh sạch ở quy mô lớn thì đó là vấn đề rất quan trọng cần quan tâm để tối ưu toàn bộ quá trình từ hệ thống biểu hiện hoặc sự lên men đến bước tinh sạch cuối cùng, để giảm thiểu số bước tinh sạch được yêu cầu.

    1. Thu hồi protein/enzyme

    Sự thu hồi và tinh sạch các protein/enzyme cũng quan trọng như các giai đoạn lên men xét theo góc độ kinh tế của quá trình sản xuất. Thách thức chính trong các bước thu hồi là giảm thiểu sự mất hoạt tính của protein/enzyme. Trong phần sẽ trình bày các bước thu hồi và tinh sạch truyền thống cho protein/enzyme.

    1.1. Thu hồi các protein/enzyme ngoại bào

    Các protein/enzyme ngoại bào tương đối dễ thu hồi và tinh sạch. Tế bào và nồng độ của dung dịch hoạt động được loại bỏ một cách đơn giản, và có thể cung cấp trực tiếp protein/enzyme thô thích hợp cho một số ứng dụng.

    Dung dịch protein/enzyme tương đối sạch có thể thu được bằng cách cho các nuôi cấy sinh trưởng trên môi trường đơn giản có thành phần xác định. Các bước thu hồi và tinh sạch giống như các bước đã dùng cho protein/enzyme nội bào sau khi phá vỡ tế bào.

    1.2. Thu hồi các protein/enzyme nội bào

    Để tách chiết các protein/enzyme nội bào của các nguồn động-thực vật, mô phải được phá vỡ để giải phóng chúng.

    1.2.1. Phá vỡ tế bào

    a. Nguyên lý chung

    Các chất tẩy hoặc tác nhân hoạt động bề mặt được dùng để tách enzyme đang liên kết với màng.

    Làm khô mô là phương pháp thuận lợi để ổn định và phá vỡ tế bào động vật và thực vật. Phương pháp đông khô không thích hợp để phá vỡ mô nhưng tránh được sự đứt gãy protein, mặc dù nó vô cùng đắt trong sản xuất quy ở mô lớn. Mô có thể được làm khô trong điều kiện chân không hoặc trong không khí, hoặc kết tủa bằng dung môi trộn với nước. Sau đó, thu dịch chiết enzyme từ các nguyên liệu khô bằng cách hydrate hóa trở lại nguyên liệu trong một dung dịch đệm thích hợp. Phương pháp đông lạnh đơn giản cũng có tác dụng phá vỡ một ít mô, mặc dù đây là phương pháp không thích hợp cho việc tăng quy mô sản xuất.

    Một số nguyên liệu động-thực vật cần có quá trình đồng hóa, sao cho mô được phá thành những mảnh nhỏ và trộn lẫn với nhau, sau đó sử dụng phương pháp cơ học để phá vỡ tế bào. Một khi enzyme được hòa tan, các vỏ tế bào chết được loại bỏ dễ dàng bằng phương pháp lọc. Ly tâm tốc độ thấp cũng có thể được sử dụng. Ở một số mô có sự hiện diện của chất béo, việc loại bỏ lớp chất béo bằng ly tâm gặp nhiều khó khăn. Các chất béo chỉ được loại bỏ dễ dàng bằng tách chiết dung môi; kết tủa acetone là phương thức thích hợp để tách protein ra khỏi các nguyên liệu lipid. Một phương thức khác là các dung môi trộn nước như hexane, cũng có thể được sử dụng.

    Phá vỡ các tế bào vi sinh vật thường gặp nhiều khó khăn hơn các tế bào động vật và thực vật. Các tế bào vi sinh vật thường dai hơn và có kích thước nhỏ (khoảng 0,2-10 μm), thường phải có phương pháp phá vỡ đặc biệt. Nhiều enzyme từ nấm men và các vi khuẩn Gram âm có thể được chiết bằng cách dùng các dung môi không trộn nước, như toluen hoặc chloroform, có thể phá vỡ màng tế bào và giải phóng enzyme. Các dung môi hòa tan nước, như ethanol và 2-propanol, được dùng để tách chiết enzyme từ khoảng gian bào, nhưng sử dụng các dung môi này đòi hỏi mức độ an toàn cao trong sản xuất ở quy mô lớn. Các chất tẩy thích hợp có thể được dùng để tách chiết các phân tử enzyme nhỏ (trọng lượng phân tử dưới 70.000).

    Trong một số trường hợp enzyme ổn định ở giá trị pH cao, có thể sử dụng dung dịch kiềm để phân giải các tế bào vi khuẩn. Thành tế bào vi khuẩn được phân giải bằng lysozyme, tuy nhiên giá thành của enzyme này là rất cao. Tương tự, nấm men có thể được phân giải bằng β-glucanase. Hiện tượng tự phân giải có thể xuất hiện trong nấm men, nhưng cần có thời gian dài vì thế sẽ gây khó khăn khi điều chỉnh hoặc tối ưu quá trình lên men.

    Các tế bào vi sinh vật có thể được phá vỡ dễ dàng hơn bằng các phương thức vật lý. Siêu âm là kỹ thuật thích hợp và rất hiệu quả ở quy mô phòng thí nghiệm, nhưng khó ứng dụng ở quy mô sản xuất lớn. Phá vỡ tế bào bằng cách dùng áp suất cao để đẩy nguyên liệu (dịch huyền phù tế bào dưới dạng bột nhão được làm đông ở -20oC) qua các lỗ hẹp của máy nén thì tế bào sẽ bị phá vỡ do sự thay đổi pha và thay đổi thể tích cũng như do lực cắt của các tinh thể đá. Phương pháp này có thể sử dụng để phá vỡ các tế bào nuôi cấy ở quy mô lớn 100-1000 L/giờ. Nhiều loại tế bào có thể bị phá vỡ bằng khuấy (rung) nhanh hoặc trộn lẫn với các hạt thuỷ tinh nhỏ hoặc các hạt gốm (ceramic). Ở quy mô phòng thí nghiệm, phương thức này rất thích hợp. Ở quy mô sản xuất lớn người ta sử dụng phương pháp nghiền bằng quả cầu thép. Tỷ lệ và hiệu suất giải phóng enzyme phụ thuộc vào vận tốc lắc và kích thước của các loại hạt cũng như đường kính của thiết bị. Với cùng một thể tích hạt thì sử dụng một lượng lớn các hạt nhỏ sẽ hiệu quả hơn một lượng tương đối nhỏ các hạt lớn, vì nó làm tăng sự va chạm giữa các hạt và các tế bào.

    Có ba phương pháp chính để giải phóng các protein nội bào khỏi vi sinh vật đó là phương pháp enzyme, hóa học và vật lý. Tuy nhiên, không phải tất cả các kỹ thuật có sẵn là thích hợp để sử dụng trên quy mô lớn. Ở quy mô lớn, người ta thường gặp khó khăn trong việc thiết kế công suất cần thiết cho thể tích lớn và loại bỏ nhiệt được sinh ra trong quá trình phá vỡ tế bào.

    b. Các phương pháp enzyme

    Lysozyme, một enzyme được sản xuất thương mại từ lòng trắng trứng gà, thủy phân các liên kết β-1,4-glycosidic trong mucopeptide12 của thành tế bào vi khuẩn. Các vi khuẩn Gram dương phụ thuộc vào mucopeptide của thành tế bào để trở nên rắn chắc dễ bị tổn thương nhất, nhưng sự đứt gãy cuối cùng của thành tế bào phụ thuộc vào hiệu quả thẩm thấu của đệm dịch huyền phù một khi thành tế bào bị cắt gãy. Khi phân giải của vi khuẩn Gram âm, ít khi người ta sử dụng một mình lysozyme, mà thường bổ sung thêm EDTA để tạo chelatevới các ion kim loại sẽ dễ dàng làm tan tế bào (lysis). Mặc dù quá trình thao tác đơn giản và nhẹ nhàng, nhưng kỹ thuật này không được sử dụng cho việc tách chiết ở quy mô lớn các enzyme của vi khuẩn, có lẽ do giá thành tương đối cao của lysoyme và khả năng đưa vào các tác nhân gây nhiễm bẩn. Chỉ có trường hợp người ta dùng lysozyme ở quy mô lớn là để giải phóng aryl acylamidase Pseudomonas fluorescens.

    c. Các phương pháp hóa học để phân giải tế bào

    + Xử lý kiềm

    Xử lý bằng kiềm đã được sử dụng thành công trong tách chiết ở quy mô nhỏ và lớn các protein vi khuẩn. Ví dụ, enzyme trị liệu, L-asparaginase, có thể được giải phóng khỏi Erwinia chrysanthemi bằng cách ủ tế bào ở pH 11.0-12.5 trong 20 phút. Thành công của phương pháp này là nhờ vào khả năng ổn định của sản phẩm mong muốn. Giá trị pH cao có thể làm bất hoạt protease.

    + Chất tẩy rửa

    Các chất tẩy, hoặc ion ví dụ như sodium lauryl sulphate hay còn gọi là sodium dodecyl sulfate, sodium cholate (anion) và cetyl trimethyl ammonium bromide (cation) hoặc không phải ion như Trixton X-100 hoặc X-450, hoặc Tween, được dùng để phân giải tế bào, thường có phối hợp với lysozyme. Các chất tẩy ion có hoạt tính mạnh hơn các chất tẩy không phải ion, và có thể dẫn đến sự biến tính của nhiều protein. Sự hiện diện của các chất tẩy cũng có thể ảnh hưởng đến các bước tinh sạch tiếp theo, đặc biệt kết tủa muối. Điều

    12 Mucopeptide: dị polymer đại phân tử chứa hai loại đường amin và một số amino acid. Mucopeptide được thấy gắn liền với thành tế bào của prokaryote. này có thể được khắc phục bằng cách sử dụng phương pháp sắc ký trao đổi ion hoặc siêu lọc.

    d. Các phương pháp vật lý để phân giải tế bào

    + Shock thẩm thấu

    Shock thẩm thấu có thể được dùng để giải phóng enzyme và protein khỏi khoảng gian bào của đa số vi khuẩn Gram âm. Phương pháp này bao gồm rửa tế bào trong dung dịch đệm để làm sạch chúng khỏi môi trường dinh dưỡng, và sau đó tạo dịch huyền phù trong sucrose 20% được dùng làm đệm. Sau khi cho phép cân bằng, tế bào được thu hoạch và tái huyền phù nhanh trong nước ở khoảng 4oC. Chỉ khoảng 4-8% protein tổng số của vi khuẩn được giải phóng bởi shock thẩm thấu, và nếu enzyme mong muốn được định vị trong vùng gian bào, thì nó có thể sản xuất gấp 14-20 lần và rất tinh sạch so với các kỹ thuật tách chiết khác. Ưu điểm chính của shock thẩm thấu là tăng một lượng lớn trong thể tích xảy ra.

    + Nghiền

    Trước đây kỹ thuật này có nhiều hạn chế khi nghiền hỗn hợp nhão của tế bào trong cối với bột gây xướt, như là bông thuỷ tinh, alumina hoặc đất tảo cát (kieselguhr). Sau đó, người ta đã phát triển bằng cách sử dụng các máy nghiền ẩm. Một sản phẩm đặc trưng, Dynomill (WA Bachofen, Switzerland) có thể được dùng để giải phóng protein khỏi rất nhiều loài vi sinh vật khác nhau. Nó bao gồm một cái buồng chứa các hạt thủy tinh và đa số được cố định và các đĩa khuấy quay tròn. Dịch huyền phù tế bào được bơm vào buồng, và khuấy nhanh đủ để phá vỡ thậm chí cả các tế bào vi khuẩn dai nhất. Buồng phân hủy phải được làm lạnh để loại bỏ sự sinh nhiệt. Một mô hình quy mô phòng thí nghiệm, với buồng 600 mL có thể thực hiện tới 5 kg vi khuẩn trên một giờ, và các mô hình ở quy mô sản xuất là thích hợp với buồng có thể tích lên tới 250 lít.

    Nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tế bào bị phá vỡ, như là kích thước và nồng độ của các hạt thủy tinh, loại, nồng độ và tuổi của tế bào, tiền xử lý hoá chất, tốc độ khuấy, tốc độ dòng chảy qua buồng, nhiệt độ, và sự sắp xếp của các đĩa khuấy, và những yếu tố này đã được khảo sát ở nấm men và vi khuẩn.

    + Trượt rắn

    Phương pháp phá vỡ tế bào bằng trượt rắn đã được dùng khá lâu ở quy mô nhỏ. Nguyên tắc của phương pháp này là đẩy nguyên liệu tế bào đã đông lạnh qua một lỗ hẹp ở một áp suất cao và một nhiệt độ thoát ra ngoài khoảng –20oC. Phương pháp này ít được sử dụng ở quy mô công nghiệp, do nó không thể áp dụng một lượng lớn nguyên liệu để phá vỡ tế bào.

    + Trượt lỏng

    Trượt lỏng là nguyên tắc chọn lựa để phá vỡ các tế bào vi sinh vật ở quy mô lớn, được ứng dụng rộng rãi trên thế giới trong cả hai các quá trình công nghiệp và nghiên cứu. Phương pháp này đặc biệt thuận lợi cho phá vỡ vi khuẩn và nấm men.

    Tương tự như phương pháp trượt rắn, các tế bào trong dịch huyền phù được chuyển qua một lỗ được dưới một áp suất cao. Trường hợp ở ở quy mô nhỏ hơn, người ta sử dụng thiết bị French Press. Ở quy mô lớn thường dùng thiết bị đồng hoá (homogenizer) là loại được phát triển để tạo thể sữa trong công nghiệp bơ sữa. Nhiệt độ tăng lên ít nhất 10oC trong một rãnh đơn là thường xảy ra vì thế cần phải làm lạnh dịch huyền phù tế bào trước khi đồng hóa. Thiết bị đồng hóa trượt lỏng thường được hoạt động ở độ ẩm tế bào khoảng 20%.

    Trong trường hợp quy mô lớn thì thiết bị đồng hóa Manton-Gaulin (APV Ltd. Crawley, UK) được sử dụng rông rãi nhất. Nó bao gồm một máy bơm kiểu piston có một van thoát hơi được hạn chế, có thể điều chỉnh áp suất hoạt động cần thiết, tới 95 MPa. Thiết bị đồng hóa Manton-Gaulin (Hình 6.8) loại nhỏ nhất, 15-8TA, có thể đưa nguyên liệu vào khoảng 50 lít/giờ ở áp suất 55 MPa. Một phiên bản lớn hơn, loại MC-4, có thể đưa nguyên liệu vào 300 lít/giờ cũng ở áp suất 55 MPa.

    Tốc độ phá vỡ tế bào và giải phóng protein phụ thuộc vào một số nhân tố như: loại tế bào, điều kiện lên men, nồng độ và tiền xử lý (chẳng hạn đông lạnh, vì các tế bào vi sinh vật thường dễ vỡ hơn nhiều nếu chúng được làm lạnh trước)… Người ta cũng nhận thấy rằng sự hiện diện của các thể vùi13 giúp cho các tế bào E. coli dễ dàng bị phá vỡ hơn.

    1.2.2. Phân lập các enzyme hòa tan

    Phương thức quan trọng để phân tách enzyme hòa tan nhanh và hiệu quả sau khi phá vỡ tế bào là làm lạnh, dùng dung dịch đệm thích hợp, và có sự hiện diện của các tác nhân bảo vệ enzyme như mercapthoethanol (cần thiết để ổn định một số dung dịch enzyme).

    Thường các nhân tố ức chế protein phải được bổ sung để làm giảm ảnh hưởng phá huỷ của protease. Các enzyme hòa tan có thể được thu thập bằng phương pháp lọc qua màng hoặc bằng cách ly tâm. Phương pháp sau tương đối dễ thực hiện ở quy mô phòng thí nghiệm với các lực ly tâm tốc độ cao. Các lực g cao như thế không thể đạt được ở các thiết bị quy mô sản xuất lớn. Các máy ly tâm lớn thường được cấu tạo từ các hợp kim titanium đắt tiền để chịu đựng các lực g cao, nhưng mặc dù thế chỉ có thể thu được các lực g không cao lắm mà thôi. Để khắc phục điều này, các chất kết tủa nucleoprotein và protein, như polyethyleneimine, được bổ sung vào các chất đồng hóa tế bào để kết bông các nguyên liệu không mong muốn và giảm thời gian lắng xuống nhanh hơn.

    Sử dụng phương pháp lọc như dùng đất diatomit (diatomaceous earth), có thể là biện pháp thích hợp để thu được các enzyme hòa tan và phát triển dễ dàng ở quy mô lớn. Các phương thức bổ sung được sử dụng để tăng tốc độ lọc. Thông thường một vài tác nhân kết tủa có thể được cùng sử dụng để giảm các bước tiếp theo của quá trình. Các phương tiện lọc trợ giúp có thể được dùng để thu thập các tế bào hoàn chỉnh và cung cấp một kỹ thuật phá vỡ tế bào mà không dựa vào các thiết bị đồng hóa cơ học. Ví dụ: các tế bào trong hỗn hợp lọc có thể được phân giải hóa học, enzyme hoặc phương thức vật lý bằng cách khuấy nhờ khả năng gây xướt tế bào của diatomit. Các enzyme hòa tan được giải phóng có thể được thu thập thuận lợi bằng phương pháp lọc đơn giản.

    Siêu lọc là công nghệ rất toàn diện, dễ dàng cho quy mô lớn và, với sự chọn lựa chính xác độ xốp của màng các enzyme có thể được thu thập một cách chọn lọc theo phạm vi trọng lượng phân tử của chúng. Đĩa và khung, và các sợi rỗng (hollow fibres) được sử dụng trong một thời gian dài. Các màng ceramic hiện nay trở nên phổ biến hơn do đặc điểm dễ làm sạch và dễ khử trùng của chúng, vì chúng có thể chịu được nhiệt độ cao dưới các điều kiện chất tẩy và độ kiềm cao.

    Thường thì dung dịch enzyme hòa tan không yêu cầu xử lý thêm nữa ngoại trừ nồng độ, hoặc dưới áp suất giảm hoặc bằng phương pháp lọc màng, để sản xuất một dung dịch protein được cô đặc (10-50% chất rắn). Các chất ổn định như ammonium sulphate có thể được bổ sung nếu cần thiết. Các tá dược như lactose, dextrin cũng có thể được bổ sung với vai trò là các chất ổn định enzyme.

    2. Tinh sạch bước đầu

    Tinh sạch enzyme là một bước rất cần thiết, tuy nhiên thường chỉ thực hiện đối với những enzyme có giá trị ứng dụng cao. Quy mô của quá trình tinh sạch sẽ quyết định sự chọn lựa kỹ thuật phân tách, vì một số kỹ thuật gặp nhiều khó khăn khi tiến hành trên quy mô lớn. Môi trường phân tách giống nhau thường được sử dụng trong các kỹ thuật khác nhau, nghĩa là sắc ký trao đổi ion được thực hành tốt nhất khi tách rửa dần dần từ cột ở quy mô nhỏ hơn, và bằng sự hấp phụ/tách rửa từng mẻ ở quy mô lớn hơn.

    2.1. Loại bỏ các mảnh vỡ của tế bào

    Sau khi phá vỡ tế bào, bước đầu tiên trong quá trình tinh sạch enzyme nội bào là loại bỏ các mảnh vỡ tế bào. Sự phân tách các vật rắn khỏi chất lỏng là hoạt động cơ bản rất quan trọng trong phân lập enzyme, và thường được tiến hành bằng phương pháp ly tâm hoặc lọc. Nhiều quy trình có bổ sung một lượng nhỏ DNase ở giai đoạn này, để phá vỡ thêm các chuỗi DNA có thể làm cho dịch chiết trở thành dạng sệt (gelatinous).

    2.2. Ly tâm mẻ

    Ly tâm mẻ thích hợp với các dung tích ly tâm trong khoảng từ nhỏ hơn 1 mL đến một vài lít, và có khả năng sử dụng một lực ly tâm tương đối lớn lên tới 100.000 × g (hằng số hấp dẫn). Tuy nhiên, để loại bỏ các tế bào vi khuẩn, mảnh vỡ tế bào và các kết tủa protein, thì lực ly tâm đạt tới 20.000 × g là thích hợp. Nhiều thiết bị ly tâm loại này, thích hợp cho các quá trình tách chiết ở quy mô trung bình.

    2.3. Ly tâm dòng chảy liên tục

    Do thể tích lớn của chất lỏng cần phải được thao tác bằng tay ở thời điểm bắt đầu của quá trình tinh sạch enzyme ở quy mô lớn, người ta thường dùng phương pháp ly tâm dòng chảy liên tục để loại bỏ các chất dạng hạt. Có ba loại ly tâm chính là thích hợp hơn cả là: ly tâm thùng rổng (hollow bowl), ly tâm thùng có nhiều buồng (multi-chamber) hoặc đĩa (dics), và ly tâm thúng (basket).

    – Ly tâm thùng rổng có một rotor hình ống cung cấp một đường chảy dài cho dịch chiết được bơm vào trong đáy và chảy lên qua thùng. Chất lắng bị bắn vào thành của thùng, và dịch chiết được gạn sẽ chuyển lên để ra khỏi thùng vào trong bình thu. Khi ly tâm tiếp tục, đường kính thực tế của thùng giảm xuống, vì thế nó làm giảm đường lắng xuống và lực ly tâm có thể được áp dụng. Tốc độ dòng chảy phải được xác định theo kinh nghiệm vì nó rất khác nhau giữa các loại dịch chiết, nhưng tốc độ dòng chảy thích hợp cho các máy lớn là khoảng 60 lít/giờ.

    – Ly tâm đĩa cung cấp các phương thức lý tưởng để gạn lọc các dịch chiết thô, và trong nhiều trường hợp chất lắng xuống có thể chảy ra ngoài mà không làm gián đoạn quá trình ly tâm. Thùng chứa một series đĩa xung quanh một hình nón ở giữa. Khi dịch chiết đi vào, chất hạt bị bắn ra ngoài, chạm vào các đĩa hình nón và chất lắng tập trung trên thành của thùng. Phương pháp này cung cấp một đường chảy không đổi, vì thế hiệu suất ly tâm ít bị hao hụt. Nhược điểm của kiểu ly tâm này là có hao hụt một ít sản phẩm trong suốt quá trình chảy ra ngoài. Ly tâm đĩa có thể đạt tới một lực ly tâm RCF (rotational centrifugal force) khoảng 8.000 × g và có sức chứa lên đến 20 kg chất lắng.

    – Ly tâm thúng được thiết kế để hoạt động ở các lực ly tâm thấp hơn nhiều, có thể chỉ 1.000 rpm, về cơ bản đó là các bộ lọc ly tâm. Thùng được đục thủng lỗ và thường được lót bằng vải lọc. Ứng dụng chính của ly tâm này là để thu thập các hạt nguyên liệu lớn; trong phạm vi tinh sạch enzyme thì đó là các nguyên liệu trao đổi ion được dùng cho hấp phụ theo mẻ của protein mong muốn.

    2.4. Lọc bằng màng

    Lọc là một phương pháp khác để gạn các dịch chiết tế bào. Tuy nhiên, dịch nuôi cấy vi sinh vật và các dịch chiết có khuynh hướng trở thành dạng sệt tự nhiên thường khó khăn khi lọc bằng các phương pháp truyền thống, trừ khi diện tích màng lọc được sử dụng là rất lớn.

    Có thể khắc phục điều này bằng cách dùng phương pháp lọc dòng chảy ngang (cross-flow) hoặc tiếp tuyến (tangential). Trong phương pháp này dịch chiết chảy ở góc phải theo hướng lọc, và sử dụng tốc độ dòng chảy cao có khuynh hướng giảm sự tắc nghẽn bằng các hoạt động tự làm sạch. Chẳng hạn để thu hồi ở quy mô lớn L-asparaginase từ Erwinia chrysanthemi người ta sử dụng một màng lọc có diện tích 1 m2 dùng để thu hoạch tế bào từ 100 lít của chất lỏng nuôi cấy trong 2,5 giờ lúc đó nồng độ các chất rắn ở phần được giữ lại trên màng tăng lên từ 0,55%-22% trọng lượng khô. Sau đó, một màng giống như thế được dùng để gạn lọc dịch chiết thu được bằng phân giải kiềm các vi khuẩn này. Các số liệu này đã chỉ ra rằng để thu hoach tế bào từ 500 lít nuôi cấy trong 2,5 giờ đòi hỏi màng 7,5 m2, và chi phí cho quá trình này ít hơn so với phương pháp ly tâm.

    Do các giới hạn của ly tâm quy mô lớn nên hai kỹ thuật thường được phối hợp để đảm bảo rằng dịch chiết là thật sự sạch cho bước sắc ký tiếp theo.

    3. Hệ thống phân chia hai pha nước

    Một phương pháp khác với ly tâm và lọc là phương pháp phân tách hai pha nước (aqueous two-phase separation). Các hệ thống hai pha nước đặc trưng được tạo ra bằng cách trộn các dung dịch polyethylene glycol (PEG) và dextran hoặc PEG và các loại muối như potassium phosphate hoặc ammonium sulphate để tạo thành hai pha riêng biệt. Các protein và mảnh vỡ tế bào có khả năng hòa tan khác nhau giữa hai pha, vì thế kỹ thuật này có thể được dùng cho cả hai trường hợp: phân tách protein khỏi mảnh vỡ tế bào và phân chia của các enzyme trong suốt quá trình tinh sạch protein. Sự phân chia chính xác của một protein tùy thuộc vào các thông số như trọng lượng phân tử và điện tích của chúng, nồng độ và trọng lượng phân tử của các polymer, nhiệt độ, pH và lực ion của hỗn hợp và sự hiện diện của các muối đa trị như phosphate hoặc sulfate. Các điều kiện tối ưu cần thiết cho một protein đặc biệt được tìm thấy theo kinh nghiệm. Mặc dù, các điều kiện cần thiết để đạt được sự phân chia vừa ý thường có thể được định nghĩa chính xác, cơ chế của sự phân chia hai pha hiện nay chưa được hiểu đầy đủ.

    Các pha có thể phân chia trong một thùng lắng, nhưng để phân chia nhanh và hiệu quả hơn có thể sử dụng phối hợp với phương pháp ly tâm. Vì phân chia các chất lỏng có mật độ khác nhau dễ dàng hơn phân chia các chất rắn ra khỏi các chất lỏng trên quy mô lớn, nên phương thức này có thể được dùng để hỗ trợ cho quá trình tinh sạch enzyme ở quy mô lớn. Mặc dù giá thành khá thấp của hệ thống PEG/muối đã làm cho nó trở nên thích hợp hơn cho việc sử dụng ở quy mô lớn, nhưng hệ thống PEG/dextran (dextran có giá thành khá cao) phân chia hiệu quả hơn cũng là một phương pháp kinh tế nếu so sánh với các phương pháp tinh sạch khác. Sử dụng hệ thống phân chia hai pha nước không bị hạn chế đối với các nguyên liệu có nguồn gốc vi sinh vật, và phương pháp này được dùng thành công để phân lập các nguyên liệu khỏi cả hai nguồn thực vật và động vật, bao gồm cả α-L-antitrypsin của người được biểu hiện trong sữa chuyển gen. Trong trường hợp này độ tinh sạch khởi đầu tương đối cao của protein, tức là sau khi phân chia hai pha đơn thì protein mong muốn được tinh sạch tới 73%.

    Sự phân chia hai pha nước có thể được thích nghi để cung cấp sự phân chia đặc trưng sinh học bằng cách gắn các phối tử vào polymer để thay đổi sự phân chia của protein. Tất cả các polymer tạo pha có thể có các phối tử được gắn đồng hóa trị vào chúng, và một phạm vi rộng của các phối tử như thế đã được quan sát. Do liên kết hóa học đơn giản của chúng, các chất nhuộm phản ứng được sử dụng thường xuyên như các phối tử. Ngoài các thuốc nhuộm phản ứng, một số phối tử khác cũng đã được khảo sát. Những phối tử này bao gồm các cofactor, như pyridine nucleotide được sử dụng thành công trong phân chia ái lực các dehydrogenase.

    Ở quy mô quy trình lớn, sự tinh sạch ái lực đã được sử dụng cho tinh sạch formate dehydrogenase khỏi 10 kg nấm men Candida bodinii, bằng cách dùng thuốc nhuộm triazine, Procion Red HE-3B, được bất động trên PEG.

    Mặc dù phân chia hai pha nước là phương pháp có thể phát triển dễ dàng ở quy mô lớn để sản xuất, nhưng hình như nó không thường xuyên được dùng để tinh sạch ở quy mô công nghiệp.

    4. Các phương pháp kết tủa

    Thông thường cần tiến hành giai đoạn kết tủa mẻ đầu tiên để làm giảm thể tích tổng số của dung dịch enzyme. Các enzyme có thể được kết tủa đơn giản, tuần tự hoặc phối hợp, với ammonium sulphate, sodium sulphate, polyethyleneimine và polyallylamine, hoặc các dung môi hữu cơ như là isopropanol, ethanol và acetone.

    Streptomycin sulphate, plyethyleneimine và các polyamine khác có thể kết tủa các chất có tính chất acid như nucleic acid và các nucleoprotein. Ammonium sulphate và các dung môi hữu cơ có thể kết tủa một cách chọn lọc enzyme mong muốn với hoạt tính thu hồi từ 80-90%..

    Kết tủa đơn giản cũng có thể giúp loại bỏ protease. Lợi ích chính của bước này là làm giảm thể tích hoạt động tổng số, thường bằng một thừa số của 20. Do đó sẽ giảm một cách ý nghĩa thể tích của nhựa trao đổi ion. Thay đổi pH và nhiệt độ cũng có thể tạo ra kết tủa chọn lọc và loại bỏ các protein enzyme không mong muốn.

    Sự phân chia chất lỏng-chất lỏng bằng polyethylene glycol, dextran hoặc polyamines có thể tạo ra các pha phân tách chất lỏng trong đó các protein/enzyme mong muốn có thể được tập trung lại. Xử lý kiểu này cho phép thu hồi lại các polymers để sử dụng. Các phương pháp này được ứng dụng dễ dàng đối với toàn bộ dịch nuôi cấy có protein/enzyme hòa tan (enzyme ngoại bào).

    4.1. Kết tủa bằng ammonium

    Xử lý muối các protein đã được dùng trong nhiều năm, và đạt được cả hai mục đích tinh sạch và cô đặc. Loại muối được sử dụng phổ biến nhất là ammonium sulfate, do khả năng hòa tan của nó, không có độc tính cho hầu hết các enzyme, và giá thành thấp.

    Kết tủa protein bằng muối phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: pH, nhiệt độ, nồng độ protein, và loại muối được sử dụng. Nồng độ protein là thông số đặc biệt quan trọng khi tăng quy mô, bởi vì hầu hết sự tinh sạch ở quy mô lớn được tiến hành ở các nồng độ protein cao hơn sự tinh sạch ở quy mô phòng thí nghiệm. Điều này có thể ảnh hưởng sâu sắc lên nồng độ của muối cần thiết để kết tủa protein mong muốn.

    4.2. Kết tủa bằng các dung môi hữu cơ

    Việc bổ sung các dung môi hữu cơ vào các dung dịch nước làm giảm khả năng hòa tan của protein do giảm hằng số điện môi của môi trường. Các dung môi hữu cơ khác nhau được dùng để kết tủa protein, kết tủa bằng ethanol, acetone, và propan-2-ol đang là quan trọng nhất. Bởi vì các protein bị biến tính bằng các dung môi hữu cơ nên cần thiết làm việc ở nhiệt độ dưới 0oC.

    Do bản chất dễ cháy của các dung môi hữu cơ nên cần phải sử dụng thiết bị chịu lửa, và giá thành cao, liên kết với một sự chọn lọc thấp, các dung môi hữu cơ thường không được dùng trong tinh sạch enzyme ở quy mô lớn. Ngoại trừ trường hợp xử lý máu (blood processing field), trong đó kết tủa ethanol là phương pháp chính để tinh sạch albumin; và trên thực tế phương pháp này đang được phát triển trong một hệ thống được điều khiển tự động bằng computer.

    4.3. Kết tủa bằng các polymer trọng lượng phân tử cao

    Các chất kết tủa hữu cơ khác có thể được dùng để phân đoạn các protein là các polymer hòa tan nước như PEG. Chất này có ưu điểm là không có độc tính, không dễ cháy và không gây biến tính các protein. Nó được dùng chủ yếu trong lĩnh vực xử lý máu.

    4.4. Kết tủa bằng nhiệt

    Khi protein đủ mạnh khó bị biến tính, thì xử lý nhiệt có thể cung cấp một mức độ tinh sạch cao được xem như một bước đầu tiên. Trong quy mô lớn, ví dụ: 55% protein không mong muốn được loại bỏ trong một bước riêng rẽ bằng cách làm nóng dịch chiết E. coli mang protein A của Staphylococcus tái tổ hợp ở 80oC trong 10 phút. Nếu protein tái tổ hợp được tinh sạch khỏi một cơ thể ưa nhiệt thì kết quả của xử lý nhiệt đầu tiên có thể là hiệu quả hơn nhiều: khi dịch chiết E. coli chứa malate dehydrogenase tái tổ hợp Thermus aquaticus được làm nóng tới 80oC trong 20 phút enzyme trong thể nổi là khoảng 90% thuần nhất.

    5. Các phương pháp sắc ký

    Thuật ngữ sắc ký để chỉ các kỹ thuật phân tích và điều chế cho phép tách biệt các hợp phần khác nhau của một hỗn hợp. Phép phân tích sắc ký dựa vào sự di chuyển khác nhau trong một pha động của các chất hòa tan đã được gắn trên một pha tĩnh ở trạng thái rắn. Người ta thường chọn các chất có khả năng kết gắn được với các chất (hòa tan) định phân tách làm pha tĩnh. Tương tác giữa chất hòa tan và pha tĩnh có thể là tương tác hấp phụ, tương tác ion (trao đổi ion), tương tác kỵ nước, tương tác kiểu rây phân tử hoặc tương tác đặc hiệu sinh học.

    Tinh sạch protein bằng phương pháp sắc ký là một thực hành chuẩn ở phòng thí nghiệm trong nhiều năm. Để tinh sạch các sản phẩm có thể tích nhỏ/giá trị cao, các protein trị liệu hoặc chẩn đoán đặc hiệu, thì phương pháp sắc ký là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất. Sắc ký chỉ là phương pháp với khả năng chọn lọc được yêu cầu để tinh sạch một protein riêng rẽ khỏi hỗn hợp phức tạp của các protein tới một sự tinh sạch cuối cùng lớn hơn 95%.

    Các kỹ thuật phân tách bằng sắc ký được sử dụng phổ biến, bao gồm trao đổi ion, tương tác kỵ nước, ngăn chận kích thước, ái lực và ái lực giả (sắc ký với phối tử là thuốc nhuộm). Bước làm sạch thêm có thể được thực hiện bằng cách dùng sắc ký ngăn chận kích thước. Tuy nhiên, kỹ thuật này khó thực hiện ở quy mô lớn, và thường không cần thiết phải tinh sạch enzyme tới 99%. Nếu cần mức độ tinh sạch lớn hơn 95% có thể tiến hành sắc ký hấp phụ/khử hấp phụ thêm một lần nữa sẽ giúp thu được enzyme tinh sạch hơn. Các kỹ thuật tinh sạch như thế không làm tăng hoạt tính của enzyme, đây là một yếu tố phải được xem xét khi kết tủa enzyme có độ tinh khiết cao.

    Các kết tủa enzyme tinh sạch cao nói chung được đông khô để bảo quản và vận chuyển. Các tác nhân bảo vệ lạnh đông polyhydroxy (cryoprotectants), các dung dịch đệm, các chất khử và các chất kháng khuẩn có thể được bổ sung nếu cần thiết.

     

    Theo nhập môn công nghệ sinh học của

     

    Nguyễn Hoàng Lộc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiết Xuất Dược Liệu Là Gì? Quy Trình Chiết Xuất Dược Liệu?
  • Định Giá Cổ Phiếu
  • Chiết Cành Là Gì? Cách Chiết Cành Mau Ra Rễ
  • Chiết Xuất Tinh Dầu Như Thế Nào?
  • Kỹ Thuật Chiết Xuất “Xanh” – Nền Tảng Tạo Ra Các Hợp Chất Thiên Nhiên Chất Lượng Cao
  • Cách Chiết Xuất Flavonoid Và Các Chất Phytochemical Khác

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Giá Chiết Khấu Dòng Tiền Fcff
  • Fcfe Và Fcff Là Gì? Cách Tính Toán Và Sự Dụng Trong Định Giá Chiết Khấu Dòng Tiền
  • Định Giá Cổ Phiếu – Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Tiền
  • Kỹ Thuật Nhân Giống Cây Cảnh Bằng Hình Thức Chiết, Ghép Và Giâm Cành
  • Phụ Gia Gelatin, Phương Pháp Sản Xuất Và Ứng Dụng Trong Thực Phẩm
  • Flavonoid là một nhóm các chất phytochemical, có giá trị như các hợp chất quan trọng trong dinh dưỡng và y học. Như các chất chuyển hóa thực vật, họ được biết là có lợi cho sức khỏe bằng hành động như chống oxy hóa và trưng bày các tác dụng chống viêm. Do các hiệu ứng mang lại lợi ích sức khỏe, flavonoid được sử dụng trong sản xuất nutraceutical, dược phẩm, dược phẩm và thẩm Mỹ. Các phân tử flavonoid được tìm thấy trong nhiều loại trái cây, rau, ngũ cốc, rễ, thân cây, lá, Hoa, và vỏ cây.

    Để xử lý flavonoid như bổ sung dinh dưỡng, dược phẩm hoặc là thành phần hoạt động trong thực phẩm hoặc Mỹ phẩm, flavonoid phải được phát hành từ ma trận tế bào thực vật. Do đó một phương pháp khai thác mạnh mẽ, hiệu quả và đáng tin cậy là bắt buộc. Khai thác bằng siêu âm là một kỹ thuật cách ly không nhiệt, được sử dụng trong R&D và công nghiệp để tạo ra chất lượng cao flavonoid chiết xuất. Là một phương pháp chiết xuất không nhiệt, chiết xuất siêu âm ngăn cản sự phân hủy nhiệt của các hợp chất nhạy cảm với nhiệt. Hơn nữa, sonication được biết đến là một phương pháp tăng cường quá trình, kết quả là hiệu quả rất cao và tỷ lệ chiết xuất, xử lý nhanh chóng và hoạt động an toàn. Vắt siêu âm có thể được chạy với nhiều lựa chọn dung môi, bao gồm nước, ethanol, methanol, hỗn hợp ethanol nước, glycerine, dầu thực vật, heptane, hexane, isopropanol vv.

    Hielscher siêu âm là đối tác lâu dài có kinh nghiệm của bạn cho các quá trình khai thác thực vật từ quy mô nhỏ đến lớn. Bao gồm đầy đủ các hệ thống siêu âm từ cầm tay và phòng thí nghiệm đứng gắn với bộ xử lý siêu âm công nghiệp đầy đủ để điều trị nội tuyến khối lượng rất lớn, Hielscher Ultrasonics có thể cung cấp cho bạn thiết bị siêu âm tối ưu cho quá trình của bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tách Chiết Tinh Sạch Protein/enzyme
  • Chiết Xuất Dược Liệu Là Gì? Quy Trình Chiết Xuất Dược Liệu?
  • Định Giá Cổ Phiếu
  • Chiết Cành Là Gì? Cách Chiết Cành Mau Ra Rễ
  • Chiết Xuất Tinh Dầu Như Thế Nào?
  • Chi Tiết Kỹ Thuật Tách Chiết Axit

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Giá Doanh Nghiệp Theo Phương Pháp Chiết Khấu Dòng Lợi Nhuận Thặng Dư
  • Phần I: Những Lợi Ích Khi Sử Dụng Chiết Pha Rắn Trong Chuẩn Bị Mẫu.
  • So Sánh Cà Phê Lạnh (Cold Brew) Và Cà Phê Truyền Thống
  • Phương Pháp Hòa Tan Trong Chiết Xuất Hoạt Chất Trong Dược Liệu
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 7066
  • Kỹ thuật tách chiết lỏng – lỏng là một phương pháp trong đó hợp chất được lấy ra từ dung môi A sang dung môi B với điều kiện 2 dung môi này không bị trộn lẫn. Phương pháp tách chiết lỏng – lỏng phổ biến là sử dụng bộ chiết tách. Một chiết tách axit-bazơ được xem là một loại chiết tách lỏng – lỏng. Đặc trưng của nó là các mức độ hòa tan khác nhau trong nước và dung môi hữu cơ. Dung môi hữu cơ có thể là chất lỏng không hòa tan trong nước có thể kể đến như ether, ethyl ecetate hoặc dichloromethane.

    Chiết tách axit-bazơ chủ yếu dùng để tách các hợp chất hữu cơ ra khỏi nhau dựa trên các tính chất axit-bazơ của chúng. Phương pháp này dựa vào giả thiết rằng hầu hết các hợp chất hữu cơ có thể hòa tan trong các dung môi hữu cơ tốt hơn trong nước. Tuy nhiên, nếu hợp chất hữu cơ đó tạo ra ion, nó sẽ trở nên dễ hòa tan trong nước hơn trong dung môi hữu cơ. Các hợp chất này có thể dễ dàng chuyển thành ion bằng cách thêm vào một proton (một H+ ion), làm cho hợp chất này trở thành một ion dương, hoặc bằng cách loại bỏ một proton, làm cho hợp chất này trở thành ion âm.

    Ngược lại, chúng ta có thể có một hỗn hợp gồm một hợp chất axit hữu cơ và một hợp chất trung tính. Trong trường hợp đó, chúng ta sẽ thêm vào một bazơ vô cơ trước để lấy đi một proton khỏi hợp chất axit. Bazơ vô cơ này có thể là natri hydroxide hoặc natri bicacbonat. Trong hình vẽ, được ký hiệu là Na+B.

    Lưu ý: các cụm từ “axit mạnh”, “axit yếu” có ý nghĩa tương đối trong trường hợp các hợp chất hữu cơ. Thỉnh thoảng, cụm từ “axit mạnh” ám chỉ một hợp chất bị ion hóa hoàn toàn trong dung dịch, thế nên nó tự động từ bỏ một ion H+ và hình thành một hợp chất ion. Axit clohydric (Hydrochloric – HCl), trong nước là một ví dụ điển hình. Nhưng ở đây, không axit nào tự động ion hóa cả và chúng vẫn như cũ khi ở trong dung dịch, chỉ một lượng nhỏ phân tử tạo thành H+ và anion. Trong trường hợp này, cụm từ trên chỉ dùng để so sánh một nhóm các hợp chất axit (gọi là các axit carboxylic) với một nhóm các hợp chất axit khác (gọi là các phenol). Các axit carboxylic có vẻ như đễ cho đi proton hơn các phenol nên các axit carboxylic được tạm gọi là “mạnh” và các phenol được tạm gọi là “yếu”.

    ” Acid-Base Extraction ” – Chris P. Schaller. ” Liquid – liquid extraction ” – Kyle Finchsigmate ” Aldrich modified convertible liquid-liquid continuous extractor ” – Sigma Aldrich.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Cây Hồng Xiêm Chiết Cành Nhanh Ra Quả
  • Nhân Giống Hoa Hồng Bằng Phương Pháp Chiết Cành
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cành Hoa Hồng
  • Bai Giang Chiet Lpe Lai Thi Thu Trang Truong Dai Hoc Y Thai Binh
  • Các Phương Pháp Chiết Xuất Và Công Nghệ Chiết Hiện Nay
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×