Top 3 # Phương Pháp Thuyết Minh Về Danh Lam Thắng Cảnh Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Soạn Bài Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh

Soạn bài Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh

I. Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh

1. Bài viết cung cấp cho người đọc:

+ Lịch sử hình thành của hồ Hoàn Kiếm (ban đầu là một nhánh sông Hồng)

+ Hồ với nhiều tên gọi khác nhau trải qua chiều dài lịch sử.

+ Lịch sử và kiến trúc của đền Ngọc Sơn

+ Bên cạnh đó là những danh lam thắng cảnh như Đài Nghiên, Tháp Rùa, Tháp Bút.

2. Muốn viết bài về danh lam thắng cảnh cần:

+ Sự quan sát và trải nghiệm thực tiễn

+ Tìm hiểu kiến thức thông qua sách vở, lịch sử, tích truyện dân gian, truyền thống văn hóa của vùng đất được thuyết minh.

→ Kết hợp hai nguồn kiến thức trên để bài viết sinh động, chân thực, có chiều sâu.

3. Muốn có kiến thức về danh lam thắng cảnh:

– Đến trực tiếp tham quan, tìm hiểu, nghe hướng dẫn viên thuyết minh, tự quan sát, ghi chép tỉ mỉ

– Khảo sát, tìm hiểu thông tin từ những người sống lâu năm ở gần danh lam thắng cảnh đó.

4. Bố cục của bài viết về Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn không bố cục thành ba phần thông thường mà:

+ Giới thiệu về đền hồ, đền và kết thúc bằng sự liên hệ những danh lam khác.

+ Phần giới thiệu đền Ngọc Sơn trình bày không theo trình tự nhất định: Tháp Rùa → đền → các công trình địa danh bên ngoài khác.

5. Phương pháp thuyết minh ở đây: phân tích, liệt kê.

II. Luyện tập Bài 1 (trang 35 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Bố cục bài giới thiệu hồ Hoàn Kiếm:

– Mở bài: Giới thiệu chung về hai thắng cảnh hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn.

– Thân bài:

+ Giới thiệu về hồ Hoàn Kiếm

+ Giới thiệu đền Ngọc Sơn

– Kết bài: Giới thiệu về các danh lam thắng cảnh xung quanh hồ.

Bài 2 (trang 35 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

– Có thể sắp xếp lại trình tự giới thiệu về bài viết như sau:

+ Giới thiệu chung về hai thắng cảnh hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn

+ Giới thiệu hồ Hoàn Kiếm:

+ Diện tích của hồ

+ Đặc điểm màu nước của hồ

+ Lịch sử của hồ

+ Cảnh vật xung quanh hồ

– Giới thiệu đền Ngọc Sơn:

+ Vị trí của đền Ngọc Sơn

+ Lịch sử hình thành đền Ngọc Sơn

+ Quang cảnh của đền

– Giới thiệu về Tháp Rùa:

+ Vị trí Tháp Rùa

+ Lịch sử hình thành Tháp Rùa

+ Quang cảnh đặc sắc xung quanh Tháp Rùa

Câu Bài 3 (trang 35 sgk Ngữ Văn 8 tập 2):

Khi viết lại bố cục bài này, chọn các chi tiết tiêu biểu làm nổi bật giá trị lịch sử văn hóa của di tích, thắng cảnh:

– Chi tiết về lịch sử hình thành hồ:

+ Là một đoạn cũ của dòng sông Hồng, hồ có đến vài nghìn tuổi.

+ Trước đó có tên là hồ Lục Thủy

+ Thế kỉ XV có tên Hoàn Kiếm, gắn với sự tích trả gươm thần.

+ Cuối cùng gọi tên hồ là Thủy Quân

– Chi tiết về lịch sử hình thành đền Ngọc Sơn

+ Từng là Điếu Đài- nơi vua tới câu cá

+ Thời chúa Trịnh Giang lập cung Khánh Thụy ở đảo Ngọc làm nơi hóng gió.

+ Đền có ba nếp

– Chi tiết về lịch sử hình thành Tháp Rùa:

+ Từ thờ Phật chuyển thành nơi thờ thánh Văn Xương và Đức Thánh Trần

+ Nguyễn Siêu sửa sang lại và tạc lên thân tháp chữ Tả Thanh Thiên

– Cảnh hiện nay:

+ Bờ Hồ là nơi dạo chơi, hội họp, lễ Tết hằng năm.

Bài 4 (trang 35 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

– Câu thơ nước ngoài gọi Hồ Gươm là chiếc lẵng hoa xinh đẹp giữa lòng Hà Nội được đưa vào phần đầu tiên của đoạn văn giới thiệu Hồ Gươm.

– Cũng có thể đặt câu thơ nước ngoài đó ở cuối đoạn giới thiệu về Hồ Gươm trước khi chuyển sang đoạn giới thiệu về đền Ngọc Sơn.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Cách Làm Bài Văn Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh

Muốn giới thiệu một danh lam thắng cảnh, ta phải đến tận nơi thăm thú để nhận diện cảnh sắc thiên nhiên; phải hỏi han những người bản địa hoặc có hiểu biết về danh lam thắng cảnh ấy, lại còn phải tra cứu sách vở, nhất là khi viết về di tích lịch sử.

Bài thuyết minh cũng có ba phần, trong đó tự sự, miêu tả và biểu cảm là những yếu tố chủ đạo.

Côn Sơn – di tích và danh thắng

Núi Kỳ Lân, tức Côn Sơn dân gian quen gọi là núi Hun, cao gần 200 mét, dài trên 1km, gần địa phận trang Chu Ca xưa, sau thuộc xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn thời Trần, thời Lê đổi thành Phượng Nhỡn, nay là xã Cộng Hoà, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Núi có hình con sư tử khổng lồ, sau những năm tháng viễn du, về đây dừng chân, nhìn về phương đông mà suy nghĩ.

Bắc Côn Sơn giáp núi Ngũ Nhạc, cao 238 mét, trên đỉnh có miếu thờ thần núi gọi là “Ngũ Nhạc linh từ. Tây tiếp nối với núi U Bò và một thung lũng xanh tươi những luỹ tre, ẩn hiện những mái nhà tranh đây đó. Cách xa 5km là Kiếp Bạc, nơi Trần Hưng Đạo đóng đại bản doanh trong thời kì kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông và nơi ông sống những năm tháng đất nước thanh bình. Nam có xóm Tiên Sơn và một bãi giễ thanh hao mênh mông, mịn màng. Tương truyền khi Trần Nguyên Đán về đây, ông trồng thông, bà trồng giễ tức lá bãi giễ này. Xa hơn là thung lũng núi Phượng Hoàng nơi Chu Văn An – một nhà giáo mẫu mực thời Trần lui triều dựng nhà dạy học. Đông là chùa Côn Sơn, hồ Bán Nguyệt, hồ Côn Sơn – xa hơn là Chi Ngại, cố hương của Nguyễn Phi Khanh. Từ đỉnh cao của Côn Sơn nhìn về đông bắc l0km tại Thanh Mai có một quả núi hình hoa sen quanh năm cỏ cây tươi tốt, đây chính là núi Bái Vọng, nơi để di hài của Phi Khanh, người cha muôn vàn kính yêu của Nguyễn Trãi.

Đỉnh Côn Sơn là một khu đất bằng phẳng, tục gọi là Bàn Cờ Tiên. Ở đây có di tích nền một kiến trúc cổ, hình chữ công (I). Từ đây có thể nhìn được toàn cảnh Côn Sơn và vùng núi kế cận. Từ chùa lên Bàn Cờ Tiên có bậc đá xếp từ nhiều thế ki trước, nay đã được khôi phục gồm trên 600 bậc.

Rừng Côn Sơn thông mã vĩ mọc bạt ngàn, có cây tuổi vài thế kỉ. Ngoài thông là trúc, nứa, sim, mua, mẫu đơn. Xưa còn có mai. Mỗi năm khi mùa xuân đến, Côn Sơn khoác trên mình tấm áo hoa tươi thắm.

Suối Côn Sơn chảy rì rào quanh năm suốt tháng. Bên suối có hai tảng đá sỏi kết lớn tương đối bằng phẳng, gọi là Thạch Bàn. Thạch Bàn lớn (28,5x6m) gọi là “Hòn đá năm gian”. Đây là di tích thường được nhắc đến trong thơ văn cổ. Tương truyền Nguyễn Trãi thường ngồi đây ngắm cảnh, làm thơ và suy tư việc nước. Suối xưa có cầu Thấu Ngọc được các sử gia và thi nhân ca ngợi như một công trình tuyệt mĩ.

Sáu thế kỉ trước, Côn Sơn như cảnh thần tiên qua ngòi bút của Phi Khanh trong ‘Thanh Hư động kí’ viết năm 1834: “Khói đầu non, ráng ngoài đáo, gấm vóc phô bày. Hoa dọc suối, cỏ ven rừng, biếc hồng phấp phới. Bóng mát để nghỉ, chỗ vắng để ngồi, mùi thơm để ngửi, sắc đẹp để xem. Phàm những hình ảnh trong mát, tiếng suối reo xa vời mà hư không, sâu thẳm mà yên lặng, hợp với tai mắt và tâm hồn người ta ở đây đều có đủ cả…”. Với Nguyền Trãi, Côn Sơn hữu tình và tha thiết:

” Côn Sơn có suối, nước chảy rì rầm, ta lấy làm đàn cầm.

Côn Sơn cỏ đá, mưa xối, rêu xanh đậm, ta lấy làm chiếu thảm.

Trong núi có thông, muộn dặm rờn rờn biếc một vùng, ta tha hồ nghỉ ngơi ở trong

Trong rừng có trúc, ngàn mẫu, in biếc lục, tư tha hồ ngân nga bên gốc…”.

(Trích tài liệu của Hội đổng nghiên cứu lịch sử tỉnh Hải Dương,)

Núi Bà Đen

Người ta bảo núi Bà Đen là một thắng cảnh của miền sơn cước Tây Ninh, thật không phải quá đáng!

Những buổi bình minh, mặt trời còn bẽn lẽn núp sau sườn núi, phong cảnh nhuộm những màu sắc đẹp lạ lùng. Hòn núi từ màu xám xịt đổi ra màu tím sẫm; từ màu tím sẫm đổi ra màu hồng; rồi từ màu hồng lần lần đổi ra màu vàng nhạt. Cho đến lúc mặt trời chễm chệ ngự trị trên chòm mây, ngọn núi mới trở lại màu xanh biếc thường ngày của nó.

Ngoài cảnh rừng sâu và núi cao, núi Bà Đen còn chứa bao nhiêu là kì quan và di tích: nào gót chân Phật trên thạch bàn; nào suối vàng, hang gió, nào điện, đảnh cổ kính, uy nghi. Đâu đâu cũng có thơ đề, phú vịnh của khách thập phương vãng lai.

Nhưng phần đông khách thập phương đến viếng núi, không phải vì hâm mộ thắng cảnh danh lam, mà chính vì họ kính phục uy linh của đức Bà Đen. Tục truyền, ngày xưa, khi chúa Nguyền Ánh còn bôn đào vì Tây Sơn đánh đuổi, một hôm phải dừng chân lánh nạn trên núi. Đức Bà hiển linh cho chúa nằm mộng, chỉ con dường cho chúa thoát thân. Vì nhớ ơn ấy, sau khi phục quốc, chúa liền sắc phong cho Bà chức “Linh Sơn thánh mẫu”.

Thẩm Thệ Hà

Thác Vàng, Thác Bạc trên non Yên

Có du khách đã nói: “Đến với Yên Tử là đi về cõi Phật”. Non Yên là Yên Tử, miền đất linh thiêng của Đại Việt, ở về phía đông bắc của nước ta, thuộc tỉnh Quảng Ninh.

Yên Tử gắn liền bao huyền tích huyền thoại về An Kỳ Sinh, về Trần Nhân Tông. Đến Yên Tử, du khách sẽ được thăm thú hàng trăm con suối, con thác, thảo am, chùa chiền, những rừng tùng, những rừng trúc,… Cảnh lâm tuyền như vẫy mời, như níu giữ. Chùa Giải Oan, chùa Hoa Yên, chùa Một Mái, chùa Bảo Sái, chùa Vân Tiêu,… và chót vót là chùa Đồng, mở ra một thế giới kì thú như đi dần về cõi Phật.

Bạn đã được soi mình vào thác Ngự Dội chưa? Bạn đã được trầm ngâm lắng nghe và ngắm nhìn Thác Vàng lúc bình minh, Thác Bạc lúc chiều tà chưa?

Thác Ngự Dội nước trong lành, cát sỏi trắng phau mang bao hương rừng hoa núi, là nơi vua Trần Nhân Tông hơn 700 năm về trước, ngày ngày ra tắm mát trước khi về am Thiền Định cầu kinh.

Con đường đèo, đường núi từ Thác Vàng đến Thác Bạc, từ tây sang đông, du khách phải leo đèo, lội suối, len lỏi qua nhiều rừng tùng, rừng trúc, mất gần trọn một ngày. Chỉ một hai nắm cơm vừng, một chai nước lọc hay nước suối, thế mà ai cũng cảm thấy thư thái, thênh thênh.

Hãy ôm lấy một cây lão tùng mà lắng tai nghe đàn chim rừng thánh thót hót hoà điệu với thác dội ầm ầm, tiếng suối tuôn róc rách. Từ vách núi cao hàng mấy chục mét, hàng trăm mét, Thác Vàng tuôn lấp lánh. Nước như từ trời cao trút xuống ầm ầm quanh năm. Có đoạn thác uốn cong như một tấm lụa mỡ gà khổng lồ căng lên dưới ánh nắng, cứ nhấp nha nhấp nhánh. Trúc và tùng khép tán, rì rầm lao xao. Đứng dưới chân thác nhìn lên, ta chỉ thấy ánh mặt trời xanh trên ngọn tháp. Bọt nước tung mù mịt trong ánh mạt trời xiên ngang, Thác Vàng mờ ảo, lung linh trong bảy sắc cầu vồng làm mê hồn du khách. Nước suối Vàng chảy về suối Tiên ở chùa Giải Oan.

Một chén tà sương pha bằng nước Thác Vàng, mấy đọt măng trúc nấu bằng nước suối Tiên, đã mấy ai được một lần thưởng thức? Cái ngọt thơm của hương rừng hoa núi chốn non Yên ấy làm cho ta ngất ngây, và mới cảm thấy ý vị sâu xa của thu lâm tuyền mà cổ nhàn mến trọng.

Càng lên cao, tưởng như Phật cho ta sức khỏe để lội suối leo đèo. Thác Bạc đã hiện ra phía trước lúc mặt trời đã ngả bóng. Qua Am Diêm là ta đến Thác Bạc. Tiếng chim gõ kiến, tiếng gà rừng, tiếng chim đại bàng đất… đồng thanh cất lên như hoan hỉ chào mừng.

Vẻ đẹp của Thác Bạc là dòng nước như một chiếc đuôi rồng rủ xuống, êm đềm và huyền ảo, không rền vang như tiếng Thác Vàng. Nơi chân thác, nước tạo thành một chiếc hồ tuyệt đẹp. Có đủ dáng hình đá nằm trong lòng hồ nước trong vắt, có thể nhìn thấy tận đáy. Những con cá nhỏ óng ánh như chiếc kim tung tăng bơi lượn. Chân Thác Bạc có nhiều cây tùng cổ thụ vài trăm tuổi, trải qua nhiều sương tuyết mà vẫn biếc xanh, đứng trầm mặc soi bóng xuống lòng hồ. Gần Thác Bạc là Am Diêm, Am Hoa, Am Dược; am nào cũng rêu phong lờ mờ, với bao kì tích cổ sự như ru hồn du khách vào cõi mộng.

Lê Phan Quỳnh

Du lịch sóng nước miệt vườn Tiên Giang

Với đặc trưng là một vùng sinh thái sông nước, miệt vườn, Tiền Giang đã tạo nên một điểm thu hút du lịch rất hấp dẫn với các cù lao cây trái xanh tươi, các khu dân cư giữa các hệ thống kênh rạch chằng chịt, mênh mông sông nước.

Dựa trên những thế mạnh sinh thái, ngành du lịch Tiền Giang đã đầu tư khai thác nhiều tuyến du lịch đặc sắc. Đến đây, khách du lịch được hít thở không khí thiên nhiên khoáng đạt, hoà mình vào cuộc sống bình dị của cư dân đôi bờ sông Tiền Giang. Hãy vui vẻ chan hoà các trò chơi dân gian như câu cá, chèo thuyền, bơi lội, tăm mát. Hãy nhấm nháp, hãy thướng thức các đặc sản miệt vườn, và trải hồn mình với những bản đờn ca tài tử đậm chất Nam Bộ.

Đặc biệt ấn tượng với du khách là các phiên chợ nổi tấp nập ghe xuồng to nhỏ đủ kiểu. Ghe xuồng nào cũng chất đầy các sản vật miền sông nước và nếp sống thương hồ của người dân miền Tây Nam Bộ.

Tìm hiểu cuộc sống, sinh hoạt, phương thức làm vườn, làng nghề, truyền thống của bà con cô bác nơi đây, cũng là một điều vô cùng thú vị đối với khách thập phương gần xa.

Văn hoá miệt vườn Tiền Giang là một nét đặc sắc của văn hoá Việt Nam, của tâm hồn Việt Nam. Dòng kênh, hoa trái miệt vườn, bông lúa hạt gạo, tôm cá… là hồn quê Tiền Giang, mảnh đất thân yêu của quê hương xứ sở.

Du lịch Vàm Sát bằng thuyền buồm

Vàm Sát nằm trong rừng ngập mặn Cần Giờ thuộc địa phận Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày nay, Vàm Sát đã trở thành khu du lịch hấp dẫn. Du khách đến Vàm Sát bằng thuyền buồm, một cuộc du lịch hấp dẫn và vô cùng kì thú.

Từ bến Bạch Đằng, vào sáng sớm, du khách sẽ bắt đầu chuyến hành trình trên con thuyền có hai cột buồm nâu mang tên Đông Dương chạy dọc theo sông Sài Gòn đến Lòng Tàu, rồi xuôi Soài Rạp đến Vàm Sát.

Vàm Sát thời chống Mỹ là căn cứ địa của các chiến sĩ đặc công nước Giải phóng quân anh hùng. Hàng trăm tàu chiến giặc đã bị đánh chìm, hàng nghìn lính Mỹ, lính nguỵ đã bị tiêu diệt.

Vàm Sát giờ đây đón du khách bằng một màu xanh bát ngát bao la của những cánh rừng bần, rừng dước ngập mặn hoang dã. Ngạc nhiên và thú vị vô cùng, du khách sẽ được ngắm nhìn hàng trăm, hàng nghìn con dơi ngủ ngày treo mình trên các vòm lá xanh. Lúc mặt trời sắp lặn, đàn dơi ríu rít, chiu chít gọi nhau bay đi tìm mồi. Con vật lành, cánh xanh biếc, bụng trắng phau, vút bay như những con thoi trên mặt nước.

Sóng vỗ vào mạn thuyền lao xao. Con thuyền buồm len lỏi trong một hệ thống kênh rạch quanh co, len lỏi giữa màu xanh của rừng bần, rừng đước. Bức tranh thiên nhiên như đưa du khách vào cõi thần tiên thơ mộng. Gió mát rượi, lòng nhẹ thênh thênh. Một, hai, ba… đảo khỉ hiện ra, khác nào Hoa Quả Sơn mà Tây du kí đã nói tới.

Ngày tàn. Những đàn cò trắng, hàng nghìn hàng vạn con, nối đuôi nhau, xếp hàng chấp chới bay. Có du khách khẽ thốt lên: “Cò ơi ! Bay về đâu, hỡi cò?” Con cò hiền lành đáng yêu lạ! Vàm Sát thanh binh đáng yêu lạ!..

Thác Đa trong màn sương mai

Thác Đa nằm bên sườn núi Tản Viên, thuộc huyện Ba Vì, cách Thủ đô Hà Nội 60km.

Thác Đa nổi tiếng với Thác Ông, Thác Bà. Những ngôi nhà sàn xinh xắn Inằm nép dưới tán cây là nơi nghỉ đêm của du khách. Nhiều lối mòn được sắp đặt tự nhiên trong rừng tạo cho Thác Đa vẻ thơ mộng.

Theo đường mòn lên đỉnh thác, bạn sẽ được chiêm ngưỡng những đoá hoa lan rừng bám trên vách đá, những bụi chuối đơm hoa đỏ rực bên suối.

Càng lên cao, mây như vờn quanh bản, đồng ruộng và bán làng của người Mường hiện lên đẹp như một bức tranh.

Cái thú đến du ngoạn Thác Đa là nhấm nháp rượu cần với thịt nướng và thưởng thức điệu múa của dân tộc Mường xung quanh đống lửa trại.

chúng tôi

Thuyết Minh Về Phương Pháp Học Văn Hay Nhất.

Đề bài: Thuyết minh về phương pháp học văn.

Bài văn mẫu

Ngữ văn – tên gọi hiện hành của môn văn trong nhà trương phổ thông hiện nay, là bộ môn đang gặp phải sự lo ngại trước tình trạng đa phần học sinh chán nản, không yêu thích. Tại sao lại có hiện tượng như vậy? Phải chăng việc học văn không hứng thú là do chương trình quá nặng, phương pháp của thầy cô chưa đáp ứng được hay bởi sự phát triển quá nhanh chóng của xã hội khiến học văn không còn cần thiết? Dù là lý do gì thì trước hết vẫn xuất phát từ người học. Người học chưa tự yêu thích hoặc chưa coi học văn có ý nghĩa giá trị quan trọng không chỉ trong nhà trường mà còn ngoài cuộc sống. Bởi vậy, phương pháp học văn sẽ là khâu trọng yếu giúp học tốt môn này. Và phương pháp học văn theo lối tư duy sau đây sẽ gợi ý giúp các bạn.

Nhắc tới học tập theo phương pháp tư duy, nhiều người nghĩ nó phù hợp với lối học của các môn tự nhiên hơn. Nhưng không phải, đây là kinh nghiệm học tập phù hợp với tất cả các bộ môn khoa học. Riêng với môn văn hiện nay, là một môn rất quan trọng, nhiều bạn học sinh quan tâm vì đó là môn sẽ có mặt trong tất cả các kỳ thi. Bởi vậy việc học, làm văn theo lối tư duy rất cần thiết, đáp ứng được nhu cầu cho cả đối tượng học sinh yêu thích môn văn và học sinh chỉ học văn theo đáp ứng bộ môn.

Vậy học văn, làm văn theo lối tư duy là như thế nào? Là cách học theo hệ thống logic rõ ràng, mạch lạc vừa giúp ghi nhớ kiến thức vừa giúp suy luận. Môn văn là bộ môn khoa học xã hội, khối lượng kiến thức khá nhiều, việc học theo lối tư duy vô cùng phù hợp, giúp người học văn không cần phải “học thuộc lòng” như nhiều người vẫn nghĩ mà vẫn ghi nhớ và đảm bảo được kiến thức của bộ môn này.

Đầu tiên, sử dụng tư duy để xây dựng hệ thống kiến thức cho nội dung bài học. Hiện nay kiến thức môn văn chia làm hai phần là đọc hiểu và tạo lập văn bản. Kiến thức của phần đọc hiểu bao gồm kiến thức tiếng Việt và làm văn. Hầu hết là các khái niệm, các tính chất, đặc điểm đã có sẵn. Vậy chỉ cần phân loại, hệ thống. Ví dụ như phần Tiếng Việt có thể chia thành các đơn vị kiến thức về phong cách ngôn ngữ chức năng, các biện pháp tu từ,… Còn Làm văn, có các thao tác lập luận, các phương thức biểu đạt,…

Đối với tạo lập văn bản, chủ yếu kiến thức là ở các tác phẩm văn học. Ở nội dung này chú ý đến hai phần là kiến thức chung về tác giả, tác phẩm và kiến thức trọng tâm trong tác phẩm. Chẳng hạn như muốn hệ thống kiến thức về tác giả, để tạo nên cái nhìn tổng quát, so sánh, chúng ta chỉ cần tổng hợp trên hai phương diện là vị trí và đặc điểm sáng tác của tác giả đó. Ví dụ về tác giả Phạm Ngũ Lão (ở bài thơ Tỏ lòng), vị trí của ông là một vị danh tướng tài giỏi của nhà Trần, cũng là một nhà thơ của dân tộc; đặc điểm nổi bật trong sáng tác của ông là lòng yêu nước, mang âm hưởng hào hùng, đậm chất hào khí Đông A. Tương tự các tác giả khác cũng làm như vậy. Còn đối với kiến thức trọng tâm ở mỗi tác phẩm, cần hệ thống theo ý. Việc tạo ý sẽ giúp chúng ta nhìn thấy bao quát toàn bộ nội dung vừa là căn cứ để ghi nhớ và suy luận. Chẳng hạn ở bài Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi, có hai nội dung lớn là vẻ đẹp bức tranh thiên nhiên cuộc sống và vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi. Trong vẻ đẹp bức tranh thiên nhiên có thể hệ thống ba ý là: Bút pháp nghệ thuật: miêu tả, cảm nhận qua hình ảnh, màu sắc, âm thanh, trạng thái, vị trí; Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên: sống động, rực rỡ, căng tràn, bao quát và rất gần gũi, đậm chất làng quê; Vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ: tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên. Cách hệ thống đơn giản mà vẫn giúp học sinh móc nối, liên kết các kiến thức.

Tuy nhiên, cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau khi học văn theo cách này. Đó là phải đảm bảo các kiến thức hệ thống phải chuẩn xác. Thứ hai, Khi xác lập đơn vị kiến thức cần hệ thống, phải lựa chọn từ khóa, sao cho ngắn gọn, súc tích mà vẫn thể hiện được đầy đủ nội dung tinh thần của tác phẩm. Thứ ba, cách ghi chép, trình bày phải khoa học, dễ nhớ thì nội dung hệ thống mới phát huy tác dụng. Chúng ta có thể sử dụng bảng biểu, sơ đồ tư duy, các hình vẽ,… để thể hiện cách hệ thống. Chẳng hạn hệ thống về tất cả các tác giả văn học có thể dùng bảng biểu gồm: tên tác giả, tác phẩm, vị trí của tác giả, đặc điểm sáng tác. Sau đó sắp xếp theo thứ tự, chúng ta sẽ có một bảng hệ thống tất cả các tác giả, chỉ cần gạch chân những từ khóa đối với mỗi tác giả, sẽ rất dễ nhớ và thậm chí so sánh cũng không khó. Hay sơ đồ tư duy là một trong những cách trình bày hỗ trợ rất tích cực trong phương pháp học văn theo lối tư duy. Từ những kiến thức tác phẩm văn học đã được hệ thống theo cách trình bày thông thường, thay vào đó là sơ đồ tư duy với nhiều màu sắc và các cách kí hiệu sẽ dễ dàng giúp cho người học văn nhớ được kiến thức. Việc tự vẽ sơ đồ tư duy cũng sẽ tạo hứng thú cho việc học văn và ghi nhớ một cách không nhàm chán những kiến thức dài của môn học này.

Có thể thấy, việc học văn theo tư duy không hề phức tạp. Cách làm chỉ giúp người học nhận ra tính chất khoa học của bộ môn. Ngoài việc chiếm lĩnh được, kiến thức khi được trình bày theo hệ thống logic sẽ giúp người học tự khai thác khả năng suy luận. Thậm chí khi nhìn vào hệ thống đó, có thể tập học cách diễn giải mà không cần phải có đầy đủ, chi tiết. Việc hệ thống kiến thức theo tư duy cũng sẽ giúp người học văn hình thành cách viết văn theo lối tư duy. Khi có kiến thức trong tay, theo một hệ thống nhất định sẽ rèn cho người viết văn không còn ngẫu hứng, tùy tiện. Trước khi viết bài cũng cần phải có sự tính toán, sắp xếp và khai thác kiến thức sao cho phù hợp, đúng và trúng vấn đề nhất.

Lợi ích của việc học theo lối tư duy không chỉ phù hợp và có hiệu quả đối với môn văn. Nhưng với đặc thù là một môn xã hội, khối lượng kiến thức nhiều, đa dạng, phương pháp học này rất bổ ích và có lợi cho học sinh. Nếu bạn chỉ là học sinh trung bình khá, cách học này giúp bạn không bị hổng kiến thức, còn nếu bạn là học sinh giỏi sẽ là cơ hội để bạn phát huy năng lực cảm thụ, phân tích, suy luận trong văn chương. Trong khuôn khổ của một bài viết ngắn, việc trình bày, giới thiệu về phương pháp này vẫn còn rất sơ lược. Tuy nhiên sẽ phần nào giúp các bạn học tốt và yêu thích môn văn hơn.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

viet-bai-lam-van-so-4-lop-10.jsp

Các Phương Pháp Thuyết Minh Và Các Nội Dung Cần Thuyết Minh

Phương pháp chung

Nghiệp vụ hướng dẫn viên được biết có thể coi đây là một hệ thống các cách thức và biện pháp nghiệp vụ hướng dẫn tham quan du lịch mà hướng dẫn viên sử dụng nhằm mục đích giúp cho khách được quan sát , xem xét các đối tượng tham quan , được chọn lựa và được hiểu biết về các đối tượng này qua lời thuyết minh của hướng dẫn viên .Hướng dẫn viên phải giúp khách xác định vị trí quan sát đối tượng tham quan một cách khoa học , hợp lý trên phương tiện di chuyển .Trên đường đi bộ hay tại điểm dừng tham quan mà khách đã rời khỏi phương tiện .Hướng dẫn viên phải căn cứ vào thời tiết , loại hình phương tiện …mà chọn lựa vị trí quan sát đối tượng tham quan cho khách một cách nhanh chóng , chính xác , thuận lợi và an toàn .

Miêu tả và kể chuyện , tái hiện những sự kiện , huyền thoại

Phương pháp này là cách giới thiệu theo trình tự nội dung của các sự kiện , địa danh , điểm du lịch và gắn với việc miêu tả từ toàn cục tới chi tiết đối tượng tham quan mà khách đang xem xét .hướng dẫn viên vừa kể theo trình tự thời gian , không gian các nội dung vừa tái hiện lại lịch sử của vùng đất , công trình hay lễ hội qua lời tái hiện của hướng dẫn viên ..Hướng dẫn viên có thể chọn lựa các tục ngữ , ca dao , truyền thuyết trong kho tàng văn học dân gian phong phú và đồ sộ để đưa vào lời kể cho tăng sức cuốn hút mà vẫn giúp khách thư giãn khi tham quan.

Nghiệp vụ hướng dẫn viên được biết Phương pháp kể chuyện phải tùy vào hoàn cảnh và bám sát vào nội dung cần thuyết minh – không được tào lao, không kể chuyện phím, chuyện mơ hồ, bịa đặt. Cần lưu ý không được kể chuyện mặn, phương pháp thuyết minh bằng phương pháp này tuy dễ nhưng rất khó vì đòi hỏi lệ thuộc vào cái duyên của người hướng dẫn, chuyện kể không nhàm chán nhưng khiến khách suy nghĩ, chuyện mặn nhưng không mặn, đó mới là hay.

Hướng dẫn tham quan trên phương tiện vận chuyển

Hướng dẫn tham quan trên phương tiện di chuyển khách du lịch , hoặc là hướng dẫn bổ trợ cho chuyến tham quan mà điểm đến là các đối tượng tham quan được chọn lựa khi khách rời phương tiện , hoặc là đoàn khách sử dụng phương tiện di chuyển để tham quan là chủ yếu .Chọn vị trí hoặc đứng trên phương tiện sao cho thích hợp với việc có thể chỉ dẫn cho khách đối tượng tham quan đang hiện dần trước mắt , có thể quan sát được khách , đánh giá mức độ chú ý của họ trên phương tiện tham quan , có thể thuyết minh dễ dàng .

Hướng dẫn tham quan trên mặt đất

Nghiệp vụ hướng dẫn viên được biết Phần lớn các chuyến tham quan du lịch du lịch được thực hiện trên mặt đất ở những điểm du lịch đã lựa chọn có đối tượng tham quan đáp ứng mục đích , nhu cầu của khách du lịch . Phương pháp hướng dẫn tham quan du lịch chủ yếu dựa trên các phương pháp chung đã nêu . Trên phương tiện vận chuyển khách tham quan , hướng dẫn tranh thủ giới thiệu một cách khái quát về nơi tham quan với các loại đối tượng tham quan đang tồn tại . Khi đến điểm tham quan , hướng dẫn viên cần tập hợp khách lại và giới thiệu khái quát vừa nhằm giúp khách du lịch có sự hình dung về điểm tham quan .Trong thực tế , hướng dẫn tham quan du lịch trên mặt đất , tại các điểm tham quan diễn ra phổ biến nhất và cũng đòi hỏi nghiệp vụ , tri thức của hướng dẫn viên rất cao . Hướng dẫn du lịch trưởng thành nhanh hơn khi tổ chức hoạt động hướng dẫn cho khách tham quan theo loại hình này .

Phần lớn, hướng dẫn tham quan trên mặt đất rất khó thực hiện khi áp dụng tại các điểm tham quan lớn, vì khó tập trung khách và ồn. Chỉ thực hiện khi tham quan tại bảo tàng hay các điểm phạm vi hẹp. Ngày nay, loại hình hướng dẫn này do hướng dẫn địa phương đảm nhiệm nhiều, hướng dẫn đoàn không còn thực hiện.

Hướng dẫn tham quan bằng đi bộ

Tham quan bằng đi bộ là loại hình tham quan mà khách du lịch cùng với hướng dẫn viên không sử dụng phương tiện di chuyển tại điểm du lịch khi di chuyển, quan sát các đối tượng tham quan và nghe thuyết minh. Khách du lịch cùng hướng dẫn viên đi bộ để thực hiện.

Các phương pháp thuyết minh

Phương pháp nổi bật trọng tâm, trọng điểm

Làm nổi bật điểm đặc trưng và sự khác biệt của cảnh quan, sự kiện này với cảnh quan, sự kiện khác (phân tích các yếu tố khí hậu, địa lý, văn hóa hay nhân vật lịch sử,…) Nêu bật những đặc điểm riêng mà nơi khác không có (phương pháp so sánh). Tất cả việc làm nổi bật này đều nhằm vào mục đích: tạo hứng thú cho du khách.

Phương pháp phân đoạn

Thực hiện đối với những cảnh quan có quy mô lớn ( Đại nội , phố cổ Hội An ) , hoặc các sự kiện được diễn tiến trình tự theo thời gian ( quá trình Nam Tiến , mở và dựng nước theo các thời đại ) .

Phương pháp tức cảnh , sinh tình

Thể hiện tình cảm hứng thú về một phong cảnh đẹp hay về một sự việc xã hội .

Phương pháp hỏi đáp

Nghiệp vụ hướng dẫn viên được biết Khách hỏi – hướng dẫn trả lời: Tránh trả lời tràn lan, quên mất nội dung chính đang truyền đạt cho cả đoàn, không được tránh né, từ chối.

Hướng dẫn đặt vấn đề – khách cùng trả lời: Để thực hiện hình thức này đạt hiệu quả cao và gây hứng thú cho du khách, người hướng dẫn viên phải chuẩn bị trước – với những cách đặt vấn đề tạo sự hào hứng, đừng dễ quá cũng đừng khó quá, những câu hỏi đặt ra khách có thể trả lời được

Hướng dẫn tự hỏi – tự trả lời :Đây là dạng khá đặc biệt , trong đó người hướng dẫn viên phải mượn lời của một nhân vật thứ ba và tạo dựng tiết tấu câu chuyện thật thú vị và hấp dẫn. Thường là dạng một câu chuyện không gắn với hoạt động đời thường.

Phương pháp kết hợp giữa hư và thực

Kết hợp giữa truyền thuyết, truyện ngụ ngôn, truyện dân gian ,….Với ý nghĩa thực, giá trị đạo đức xã hội thực của câu chuyện . Hư là thần thoại, là truyền thuyết, giá trị đạo đức dân gian. Thực là ứng xử, giao tiếp xã hội . Nguyên tắc chính khi sử dụng phương pháp này là : lấy thực làm chủ đạo.

Phương pháp lấp lửng – tạo ra những nỗi nhớ dai dẳng

Hướng dẫn viên kết thúc lấp lửng có chủ đích về một câu chuyện .Nghệ thuật chuyển tiết câu chuyện sang một đề tài mới , hấp dẫn hơn và lý thú hơn .

Phương pháp so sánh – lấy cái quen thuộc để so sánh với điều mới lạ

So sánh những cái tương tự trong đời thường với điều mới lạ đang diễn ra trước mắt : so sánh sự khác nhau và những điểm nổi bật về một giai đoạn lịch sử , một triều đại .

Phương pháp “lời nói dối vô hại”

Nghiệp vụ hướng dẫn viên được biết Phương pháp “lời nói dối vô hại” là phương pháp thuyết minh khó, đòi hỏi người hướng dẫn viên có nét duyên của riêng bản thân. Xét về mức độ khó, đây là phương pháp thuộc về kỹ năng của từng người.

Phương pháp vẽ mắt cho rồng

Là phương pháp khó đòi hỏi sự kết hợp của nhiều kỹ năng. Phương pháp này chia làm 8 phương pháp, kết hợp nhiều nguồn tư liệu và các nghiệp vụ hay tố chất sẵn có của hướng dẫn viên. Sử dụng từ ngữ khái quát, độc đáo nhất để làm nổi bật một hay nhiều điểm đặc trưng của một vùng đất , một cộng đồng dân cư tạo ấn tượng thật sự cho du khách .

Phương pháp minh họa

Phương pháp dùng mẫu vật thuyết minh cho bài thuyết minh. Tuy nhiên phương pháp rất dễ gây hiệu quả ngược – rất dễ gây hiểu nhầm cho du khách. Phương pháp này chỉ dùng cho từng trường hợp cụ thể.