Top 17 # Phương Pháp Trị Liệu Reiki / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Tìm Hiểu Về Phương Pháp Trị Liệu Tinh Thần Reiki / 2023

Reiki – phương pháp trị liệu có nguồn gốc từ Nhật đã có từ rất lâu và được rất nhiều người áp dụng. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn còn gây nhiều tranh cãi và chưa có bằng chứng khoa học để chứng minh tính hiệu quả

Reiki là gì?

Reiki là một phương pháp trị liệu được phát triển vào năm 1922 bởi một Phật Mikao Usui. Phương pháp này nhằm làm giảm căng thẳng, mệt mỏi, giúp cơ thể thư giãn theo một cách hoàn toàn tự nhiên.

Từ “Reiki” có nghĩa là “luồng không khí bí ẩn, dấu hiệu kỳ diệu”. Trong tiếng Nhật, “rei” có nghĩa là vũ trụ, còn “ki” có nghĩa là năng lượng. Chính vì vậy, yếu tố chính của phương pháp này là luồng năng lượng xung quanh cơ thể.

Theo những nhà trị liệu Reiki, năng lượng có thể bị tù đọng ở những nơi mà cơ thể bị chấn thương về mặt thể chất lẫn cảm xúc. Cải thiện luồng năng lượng này sẽ giúp thư giãn, giảm đau, vết thương mau lành hơn và giảm các triệu chứng của nhiều bệnh khác.

Người ta cho rằng, Mikao Usui đã dạy Reiki cho khoảng 2.000 người trong suốt cuộc đời mình. Phương pháp trị liệu này lan truyền đến Hawaii, Mỹ vào những năm 1940. Sau đó nó được lan truyền đến châu Âu vào những năm 1980.

Reiki hoạt động như thế nào?

Như đã nói ở trên, Reiki tập trung vào nguồn năng lượng bên trong cơ thể. Nó hướng đến việc điều hoà nguồn năng lượng này để khôi phục sự cân bằng trong cơ thể. Việc điều hoà được thực hiện thông qua áp lực (các động tác tập luyện), chuyển động và hơi thở.

Khi thực hiện Reiki, chuyên gia sẽ đặt tay lên trước cơ thể người được điều trị. Họ sẽ cố gắng truyền một nguồn năng lượng mạnh mẽ. Người được trị liệu vẫn mặc nguyên quần áo. Thời gian của các buổi trị liệu phụ thuộc vào chuyên gia trị liệu. Một số mất 15 phút, một số có thể mất đến cả 1 tiếng đồng hồ.

Người được trị liệu sẽ cảm thấy như thế nào?

Mỗi người có một trải nghiệm khác nhau nhưng thông thường người được trị liệu sẽ cảm thấy thư giãn rất sâu. Một số người cảm nhận một ánh sáng rực rỡ hoặc năng lượng di chuyển trong cơ thể hoặc xung quanh. Một vài người khác lại thấy nhìn thấy, hoặc cảm thấy họ đang nổi lên trên cơ thể của chính mình.

Khi người truyền cảm thấy một điểm năng lượng bị tắc nghẽn, họ sẽ dành nhiều thời gian để giải tỏa sự tắc nghẽn này. Ban đầu người được trị liệu cảm thấy nặng nề. Nhưng sau họ cảm nhận dòng năng lượng chảy suốt và được giải phóng.

Reiki là phương pháp trị liệu không bị phụ thuộc vào khả năng học tập, trí tuệ hay bị giới hạn bởi trình độ phát triển. Bất kì ai cũng có thể áp dụng phương pháp trị liệu này. Tuy các nhà khoa học vẫn chưa chứng minh hay lý giải được tác dụng thật sự của Reiki nhưng hiện tại, rất nhiều người các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Anh, Úc… áp dụng phương pháp này. Ngoài ra, nó còn hay được kết hợp với các phương pháp trị liệu tinh thần khác.

Tiếp Thị Gia Đình

Trị Liệu Bằng Reiki Thực Hiện Như Thế Nào? / 2023

Người thầy sử dụng Reiki có thể chữa bệnh bằng đôi tay theo cách trực tiếp hoặc ở khoảng cách xa (ở bất cứ nơi đâu). Điều đó có nghĩa là, có thể sử dụng Reiki bằng cách đặt tay trực tiếp lên cơ thể người bệnh hoặc đặt ở khoảng cách 5 hoặc 10 cm trên bề mặt da, hoặc thậm chí nếu là một bậc Thầy về Reiki thì họ có thể chữa trị ở một khoảng cách rất xa. Chú ý từ ngữ “bằng tay”, từ này có nghĩa là đôi tay năng lượng tiếp xúc trực tiếp với người bệnh hoặc có thể đặt ở một khoảng cách thích hợp nào đó. Còn một điều thú vị nữa là mọi vật đều có thể tiếp nhận được năng lượng Reiki khi chúng được kết nối với nguồn năng lượng này: động vật, thực vật, rau của quả thậm trí là những chất khoáng. Trong buổi trị liệu bằng Reiki người ta vẫn mặc quần áo bình thường chỉ có một yêu cầu là bộ quần áo đó đem lại sự thoải mái và dễ chịu cho người mặc. Tính chất riêng tư, cá nhân của người được trị liệu luôn luôn được tôn trọng. Để có sự thư giãn tốt người bệnh thường chọn tư thế nằm, tuy nhiên nếu họ muốn ngồi hoặc đứng thì cũng không có ảnh hưởng gì miễn là thấy thoải mái. Có 7 vị trí cơ bản mà thầy chữa có thể sử dụng là nơi đặt tay trong quá trình điều trị. 7 vị trí này chính là 7 luân xa dọc theo cơ thể từ đầu cho đến bụng, những luân xa này là những điểm rất đặc biệt và được sử dụng phổ biến ở các nước Phương đông (Yoga Ấn độ) trong việc trị liệu bằng năng lượng từ xa sưa. Việc dùng năng lượng Reiki để chữa bệnh dựa vào nguyên lý cơ bản là năng lượng này sẽ lưu chuyển tới nơi mà nó cần phải tới, việc sử dụng cố định ở một vị trí nào đó đều không thuận theo tự nhiên. Các điểm luân xa chỉ là một khía cạnh của quá trình trị liệu bằng Reiki mà thôi, nó không phải là nguyên tắc mà bạn bắt buộc phải làm theo.

Trong những buổi trị liệu bằng Reiki thì cảm giác của người được trị liệu là khác nhau giữa các cá nhân và khác nhau giữa những buổi trị liệu. Việc trị liệu phải thật sự trong trạng thái hết sức thư giãn, người được chữa trị thường sẽ rơi vào cảm giác bị cuốn đi bởi năng lượng của tình thương. Những trạng thái thường xuất hiện kèm theo trong buổi trị liệu là mơ mộng, cảm giác phiêu bồng, tình cảm ấm áp, tê tê giật giật nhưng thông thường thì sẽ có cảm giác bình yên và an lạc. Thỉnh thoảng, nếu như việc chữa trị đến được đến tầng sâu của tâm thức thì có thể sẽ thấy người bệnh chảy nước mắt, đây không phải là người được trị liệu đang khóc mà đây chính là biểu hiện của cảm xúc đau đớn vốn đang tiềm ẩn ở trong tâm hồn đão được cởi bỏ và trong quá trình hàn gắn. Những hiện tượng này sẽ đi kèm theo nó là cảm giác an lành và sau đó là cảm thấy nguồn năng lượng của sự an lạc, thoải mái ngày càng tăng lên, cơ thể sẽ ngày càng thấy thoải mái, dễ chịu. Đôi khi những kết quả trị liệu của Reiki thật rõ ràng và với một số người thì có vẻ như là không có gì xảy ra. Tin tưởng và kiên trì là điều quan trọng cần phải làm. Việc trị liệu nhiều khi sẽ không diễn ra theo đúng như những gì người bệnh mong muốn và hi vọng. Những vị trí trên cơ thể bị đau yếu hoặc những lời than phiền của người bệnh là những manh mối tốt để tìm ra nguyên nhân của các rối loạn đang bị ẩn dấu trong tâm trí và/hoặc cảm xúc. Muốn chữa trị tận gốc thì ta phải chữa từ nguyên nhân. Việc chữa trị bằng Reiki có thể thực hiện với bất kì khoảng cách không gian địa lý nào.Chúng ta cần sắp xếp được thời gian thuận tiện cho cả thầy chữa và người bệnh, mặc dù các bậc thầy Reiki có thể trị liệu ở bất kì ở đâu vào bất kì thời điểm nào, đây chính là điểm vô cùng thú vị và hấp dẫn của phương pháp này.

Một Số Phương Pháp Trị Liệu Cho Trẻ Tự Kỷ / 2023

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÀNH VI (Applied Behavior Analysis or ABA)

Vào những nămcuối thập niên 60 và 70, Tiến Sỹ Ole Ivar Lovaas (1927-2010), một chuyên gia tâm lý thuộc trường phái Skinner, là người đầu tiên khởi xướng phương pháp phân tích và trị liệu hành vi (ABA/DTT) cho chứng tự kỷ tại Đại Học UCLA (University of California, Los Angeles).

1) Dạy kỹ năng (teaching skills): Chú trọng đến những kỹ năng cần đạt được của trẻ tự kỷ bằng cách phân chia hay soạn thảo những kỹ năng đó thành nhiều đoạn nhỏ hay bài học ngắn để giảng dạy. Ví dụ, để dạy trẻ tự kỷ về nói và ngôn ngữ, các chuyên viên ABA thường tiến hành những bước sau:

Dạy trẻ ngồi yên, mắt nhìn thẳng.

Dạy trẻ biết phân biệt âm giọng, sử dụng từ ngữ để liên tưởng đến vật thể.

Dạy trẻ biết dùng hình ảnh đúng với vật thể.

Dạy trẻ biết bắt chước những động tác của người lớn.

Dạy trẻ biết nối kết từ ngữ thành những câu đơn giản như “con muốn ăn cơm”.

2) Loại bỏ những hành vi không thích hợp (eliminating interfering behaviors): Mục đích của ABA là loại bỏ những hành vi có tác động tiêu cực, ngăn trở sự học tập, gây khó khăn trong giao tiếp xã hội của trẻ tự kỷ ở nhà trường và ở những môi trường sinh hoạt khác, chẳng hạn trẻ tự kỷ chỉ thích, chơi một mình, không chăm chú, không hợp tác, chống đối, lên cơn, trốn chạy, hay những hành động tự kích (self-stimulated) như thích nhìn đèn điện, xoay vần vật thể, nhún mình v.v…

Trong những buổi học đầu tiên, các chuyên viên ABA ứng dụng phương pháp phân đoạn, lặp đi, lặp lại, đơn giản và rõ ràng(Discrete Trial Training or DTT) bằng cách soạn thảo những câu hỏi cho công việc đòi hỏi trẻ phải thực hiện hay trả lời. Ví dụ, người giảng dạy ra lệnh cho trẻ vừa bằng lời, vừa bằng dấu hiệu (Discriminative Stimulus or SD) như vỗ tay, sờ trán, sờ tai. Nếu trẻ chưa trả lời vì phân vân hay rối trí, người giảng dạy cầm tay trẻ, giúp trẻ thực hiện những động tác nầy. Dần dần, khi trẻ quen với hiệu lịnh và thực hiện được những đòi hỏi đơn giản trên, sự nhắc nhở sẽ giảm đi và sự đòi hỏi khác sẽ được thêm vào như vừa vỗ tay, vừa dậm chân, sờ mũi, trán, tay. Sau mỗi hành động trẻ thực hiện được, chuyên viên hướng dẫn sẽ ngợi khen bằng lời nói hay tưởng thưởng trẻ bằng bánh kẹo hay những gì trẻ thích, cho giải lao trong chốc lát rồi đưa trẻ trở về lại với những động tác đã được huấn luyện. Theo thời gian, sự đòi hỏi hay công việc trẻ phải thực hiện sẽ gia tăng nhiều hơn và thời gian giải lao có thể kéo dài để tránh tình trạng căng thẳng cho trẻ.

Vào năm 1987, Lovaas và đồng sự có viết báo cáo về kết quả nghiên cứu của phương pháp phân tích, ứng dụng trị liệu hành vi, gọi là ABA của 38 trẻ tự kỷ bao gồm các trẻ nhỏ hơn 40 tháng tuổi (3 tuổi 4 tháng) nếu trẻ chưa nói được. Nhỏ hơn 46 tháng (3 tuổi 10 tháng) nếu trẻ nói được, nhưng thường lặp đi, lặp lại như vẹt.

Các em được chia làm 2 nhóm:

Trước khi sự trị liệu bắt đầu, 38 trẻ tự kỷ trong 2 nhóm được đo lường hay trắc nghiệm về khả năng trí tuệ và thích ứng với đời sống (pre-test). 2 năm sau, chương trình trị liệu chấm dứt, 38 trẻ trong 2 nhóm được đo lường hay trắc nghiệm lại (post-test).

Kết quả đạt được : 47% hay 9 trong số 19 trẻ tự kỷ thuộc nhóm được nhiều thời gian trị liệu, có khả năng trí tuệ tiến bộ đến mức bình thường, có thể theo học ở các lớp dành cho trẻ không bị khuyết tật và không cần đến sự can thiệp của chương trình giáo dục đặc biệt ở nhà trường. Ngược lại, chỉ có 1 trong 19 đứa trẻ thuộc nhóm được ít thời gian trị liệu, 10 tiếng một tuần, đạt được khả năng trí tuệ trung bình. Như vậy số lượng 10 tiếng trị liệu trong 1 tuần thật sự không đủ để giúp trẻ tự kỷ tiến bộ đến mức trung bình. Theo Lovaas và đồng sự, trẻ tự kỷ phải cần số lượng 40 tiếng trị liệu trong 1 tuần mới có thể đạt được khả năng trí tuệ của một đứa trẻ bình thường. Nói cách khác, số lượng 40 tiếng 1 tuần, theo nghiên cứu của Lovaas, là điều kiện để trẻ tự kỷ đạt được những mục tiêu sau:

Lồng vào những mục đích trên là sự rèn luyện những kỹ năng, kiến thức căn bản để chuẩn bị vào trường như trao dồi từ vựng, phân biệt hình thể, mầu sắc, số đếm, mẫu tự, cũng như khả năng xử dụng ngôn từ có chủ đích.

Ở giai đoạn đầu của ABA, các chuyên viên ABA thường huấn luyện phụ huynh những căn bản cần thiết để họ giúp đỡ thêm cho trẻ ở gia đình và khuyến khích phụ huynh trở thành những thành viên thuộc nhóm trị liệu. Vào những giai đoạn sau, chương trình trị liệu nhắm vào sự diễn đạt ngôn ngữ có tính trừu tượng, dạy trẻ biết học bằng sự quan sát, bắt chước và biết bày tỏ xúc cảm một cách thích hợp.

Trọng tâm của ABA chính là sự ứng dụng phương pháp giảng dạy được soạn thảo riêng và phân đoạn đơn giản, rõ ràng, có tính lặp đi, lặp lại, gọi là ABA/DTT.

PHƯƠNG PHÁP DISCRETE TRIAL TRAINING ( DTT)

Phương pháp nầy có thể ứng dụng ở nhà , ở trung tâm ở trường , hoặc ở một địa điểm yên tịnh nào đó, tùy vào điều kiện, giờ giấc sinh hoạt của gia đình và nhu cầu của trẻ tự kỷ.

1) Giảng viên phải thu hút sự chú ý của trẻ.

3) Giảng viên phải nhắc nhở nếu trẻ chưa thực hiện đúng với hiệu lịnh. Sự nhắc nhở của giảng viên có thể :

b) bằng sự phụ giúp cử động thân mình, chân tay của trẻ

d) bằng sự di chuyển vật thể gần với vị trí của trẻ.

Sự nhắc nhở sẽ giảm dần và không còn được ứng dụng khi trẻ dần quen và thực hiện những yêu cầu đúng theo hiệu lịnh của chuyên viên.

4) Giảng viên phải tạo cơ hội cho trẻ trả lời hay thực hiện đúng theo hiệu lịnh để gây cho trẻ sự hứng thú và sự tự tin để tiếp tục học tập.

5) Giảng viên chủ động về sự khen thưởng mỗi khi trẻ trả lời hay thực hiện đúng theo hiệu lịnh. Sự khen thưởng thường xuyên sẽ tạo nên sự phấn khởi, thúc đẩy trẻ hợp tác tích cực hơn trong quá trình học tập. Những câu trả lời sai thường được lờ đi, nhưng sẽ được lặp lại nhiều hơn trong những lần giảng dạy kế tiếp cho đến khi trẻ hiểu và trả lời một cách chính xác.

6) Giảng viên thâu thập dữ kiện về số lần trả lời hay thực hiện đúng, sai của trẻ để tổng kết, đo lường mức độ tiến bộ của trẻ về kỹ năng nào đó.

Cũng như nhiều phương pháp trị liệu tự kỷ khác, ABA/DTT có lắm kẻ khen, người chê. Điều nầy chứng tỏ rằng ABA/DTT chưa phải là phương pháp duy nhất, hữu hiệu nhất dành cho trẻ tự kỷ. Có khi sự ứng dụng hay áp đặt quá nhiều giờ ABA/DTT sẽ khiến trẻ xuống sức, mệt mỏi, chán chường, trở nên cáu kỉnh, chống đối bất thường với mọi người chung quanh. Một đứa trẻ bị ép buộc, thúc đẩy học tập ngoài khả năng của mình có thể trở nên hung hăng và tìm cách trốn chạy khỏi lớp học là chuyện rất thường tình. Bị động trong những tình huống đó, phụ huynh chỉ còn cách thay đổi giờ giấc, giảm thiểu giờ học hay tìm một phương pháp trị liệu khác thích hợp hơn cho con em mình.

Thái độ chống đối, bất hợp tác (noncompliance or uncooperative behavior) như lên cơn, nằm vạ thường xảy ra ở giai đoạn đầu, khi trẻ còn xa lạ với ABA/DTT. Trẻ tự kỷ có thể hiểu rằng sự chống đối, bất hợp tác là cách giúp chúng thoát khỏi sự đòi hỏi phải thực hiện một công việc nào đó của giảng viên. Dần dần, không sớm thì muộn, trẻ biết sẽ được khen thưởng nếu hợp tác, thực hiện công việc theo lời hay động tác của giảng viên. Tuy nhiên, nếu sự chống đối, bất hợp tác xảy ra vào những giai đoạn sau thì điều nầy chứng tỏ rằng chương trình giảng dạy cần phải được xem xét lại để có những bổ xung hay cải biến thích hợp hơn. Đó chính là vai trò của những chuyên viên tư vấn hay những chuyên viên có nhiều kinh nghiệm về giáo dục trẻ tự kỷ phải suy nghĩ và tham gia cùng với phụ huynh để soạn thảo những kế hoạch nhằm giải quyết vấn đề nầy.

PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU VỀ NÓI/NGÔN NGỮ

Sự truyền đạt ngôn ngữ là hành vi người ta dùng âm giọng hay tiếng nói để thu hút sự chú ý của người khác. Không phải bất cứ sự truyền đạt ngôn ngữ nào cũng có chủ đích. Một đứa trẻ tự kỷ đứng chơi một mình và nói vào khoảng không một cách lặp đi, lặp lại như “kẹo, kẹo, kẹo, kẹo” là không có chủ đích. Ngược lại, nếu trẻ đó lại gần, nhìn chúng ta và nói, “kẹo, ăn kẹo” thì đó chính là sự truyền đạt ngôn ngữ có chủ đích và lôi cuốn được sự chú ý của chúng ta.

Biết chờ đến lượt mình trong đối thoại,

biết nhìn người đối thoại,

biết không thay đổi hay chuyển đề tài đột ngột,

biết khoảng cách đứng, ngồi đối diện giữa trẻ và người khác một cách thích hợp,

biết nhận hiểu những ý nghĩ và phản ứng của người khác khi nói hay xúc phạm điều gì đó,

biết theo đúng nề nếp căn bản của xã hội.

Phương Pháp Truyền Đạt Ngôn Ngữ Không Dùng Lời (Augmentative and Alternative or ACC)

Tiến Sỹ Matt Tincani, chuyên gia ABA và là giáo sư giảng dạy trong chương trình giáo dục đặc biệt ở Đại Học Temple, Philadelphia, Pennsylvania, gợi ý rằng chừng 50% trẻ tự kỷ không thể dùng lời có chủ đích trong vấn đề truyền đạt ngôn ngữ. Tuy nhiên, bằng sự giảng dạy, ứng dụng phương pháp truyền đạt ngôn ngữ không dùng lời (AAC), trẻ tự kỷ có thể xử dụng ngôn ngữ một cách có ý nghĩa hơn.

Những phương pháp truyền đạt ngôn ngữ không dùng lời :

Mục đích chính của AAC là giúp đỡ trẻ tự kỷ học nói qua hình ảnh, dấu hiệu và trợ cụ, nhất là giúp đỡ trẻ tự kỷ có khó khăn về vận động môi, miệng lưỡi (oral-motor apraxia).

HỆ THỐNG TRAO ĐỔI NGÔN NGỮ BẰNG HÌNH ẢNH (Picture Exchange Communication System or PECS)

Những năm gần đây, hệ thống trao đổi sự truyền đạt ngôn ngữ bằng hình ảnh thay lời nói đã không ngừng cải biến để giúp trẻ tự kỷ phát triển khả năng truyền đạt về ngôn ngữ.

Hệ thống PECS được chủ xướng và phát động bởi Tiến Sỹ Andy Boudy và Lori A. Frost.Những chuyên gia về ngôn ngữ nầy cho rằng trẻ tự kỷ thường có lối suy nghĩ qua hình ảnh và vì vậy, trẻ tự kỷ có khả năng học bằng mắt hơn bằng tai nghe.

Hệ thống truyền đạt ngôn ngữ (PECS) ứng dụng những phương pháp ABA/DTT của Lovaas để dạy trẻ biết trao đổi hình ảnh cho những điều chúng muốn bày tỏ, nhưng không thể dùng lời. Ví dụ, trẻ đưa hình có ly nước cho người lớn với ý thay lời rằng trẻ đang khát nước.

Vài chuyên gia tự kỷ cho rằng PECS chỉ có hiệu quả đối với trẻ tự kỷ chưa biết xử dụng ngôn từ có chủ đích hay khả năng ngôn ngữ đang ở mức độ phát triển chậm, hoặc trẻ chưa thể nói được. Nhiều phụ huynh không muốn con mình học tập theo phương pháp nầy. Họ sợ trẻ sẽ trở nên lười nói, chỉ muốn xử dụng hình ảnh hay nhấn nút để truyền đạt ý muốn. Điều nầy chưa hẳn đúng, bởi vì PESC chỉ là một trong những phương pháp khởi đầu mà thôi.

Hệ thống ứng dụng kỹ thuật dạng thấp là những trợ cụ không thuộc điện tử, như bảng đối thoại bảng thời khóa biểu sách đàm thoại, sách có nhiều hình ảnh về thú vật, thức ăn, trái cây, địa danh, và những vật dụng rẻ tiền có thể tự làm được.

Hệ thống ứng dụng kỹ thuật dạng cao là những trợ cụ điện tử. Bằng những trợ cụ nầy, trẻ tự kỷ có thể bấm nút hay chạm tay vào màn hình để vừa nghe, vừa thấy hình ảnh. Ví dụ, khi trẻ bấm hình có ly sữa, trợ cụ điện tử sẽ có lời phát ra: “Làm ơn, tôi muốn uống sữa. Cảm ơn.”

Ngày nay, IPAD là một trợ cụ cao cấp, rất thông dụng, được nhiều trường học và trung tâm trị liệu tự kỷ xử dụng trong chương trình giảng dạy về nói/ngôn ngữ (AAC program).

Phương Pháp Ứng Dụng Hành Vi Bằng Lời (Verbal Behavior)

Phương pháp nầy là một nhánh tẻ của ABA/DTT do Tiến Sỹ Lovaas đề xướng năm xưa. Ở Hoa Kỳ, vào những năm gần đây, phương pháp nầy trở nên rất thịnh hành. Dựa vào triết thuyết của B.F. Skinner, phương pháp ứng dụng hành vi bằng lời có những trọng điểm như sau:

PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP BẰNG SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ XÃ HỘI (Relationship Developmental Intervention or RDI)

Ở Hoa Kỳ, phương pháp nầy tương đối mới và đang thu hút được nhiều sự chú ý của phụ huynh. Tiến Sỹ Steven Gutstein, một chuyên gia tâm lý và về tự kỷ, đã thành lập và cổ động phương pháp trị liệu nầy ở mạng chúng tôi Tiến Sỹ Gutstein cho rằng kỹ năng giao tiếp xã hội của trẻ tự kỷ thay đổi qua từng giai đoạn, và vì vậy, phụ huynh hay giáo viên phải biết làm gì để giúp đỡ trẻ phát triển về mặt giao tiếp xã hội trong từng giai đoạn đó. Ưu điểm của phương pháp nầy chính là sự thẩm định có thang bậc (scales) cho trẻ tự kỷ để soạn thảo những mục tiêu về mặt giao tiếp xã hội, nhất là đo lường được sự tiến bộ của trẻ trong những phiên bản về chương trình giáo dục cá nhân (IEP) ở nhà trường. Hiện chưa có những nghiên cứu về tính hiệu quả của phương pháp nầy, chỉ biết rằng lý thuyết của Gutstein có thể ứng dụng bên ngoài lớp học bởi các phụ huynh và các chuyên gia đa ngành.

PHƯƠNG PHÁP NGỒI SÀN (FLOORTIME)

Ở Hoa Kỳ, Stanley Greenspan (1941-2010) và Serena Weider, hai chuyên gia về tâm thần học, là những người có công soạn thảo và ứng dụng phương pháp nầy. Mục đích của phương pháp ngồi sàn là tạo nên sự hứng khởi, động lực cho trẻ tự kỷ trong vấn đề trao đổi ngôn ngữ. Thay vì trẻ ngồi xuống ghế học tập theo người lớn qua ABA, phương pháp ngồi sàn đòi hỏi người lớn phải gia nhập cuộc chơi với trẻ trên sàn, gọi là vòng tròn đối thoại (cirles of communication).

Trong sự ứng dụng phương pháp ngồi sàn hay ngồi dưới đất nầy, nếu trẻ hỏi và thực hiện điều gì đó thì người lớn sẽ trả lời và làm theo trẻ trong không khí thỏa mái, cùng nhau chơi đùa rất tự nhiên.

Hiện chưa có những nghiên cứu nào cho thấy phương pháp ngồi sàn có thành quả tốt hơn những phương pháp khác. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia tự kỷ cho rằng ABA/DTT thúc đẩy trẻ tự kỷ tiến bộ nhanh hơn, hữu hiệu hơn phương pháp ngồi sàn.

TEACH đã và đang được ứng dụng trong các dịch vụ dành cho tự kỷ ở North Carolina và ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở Nhật Bản. TEACCH có tính cá nhân, đặt nặng nhu cầu cá biệt của từng trẻ tự kỷ, cho phép giảng viên và phụ huynh cùng nhau soạn thảo những mục tiêu trẻ cần phải đạt được. Mô hình nổi bật của TEACCH là các lớp học riêng biệt, cô lập, nằm trong một khuôn khổ có tổ chức và nề nếp (self-contained classroom).

Các chuyên gia TEACCH cho rằng trẻ tự kỷ thâu thập thông tin hiệu quả bằng mắt chứ không bằng tai nghe. Vì vậy, chuyên gia TEACCH thường dùng hình ảnh để hướng dẫn trẻ tự kỷ sinh hoạt đúng theo thời khóa biểu để tạo nên thói quen về mặt sinh hoạt, học tập, cũng như biểu hiện những hành vi thích hợp và tích cực. Ví dụ, họ dạy trẻ biết để quần áo, các hộp đựng thức ăn trưa ở đâu khi bước vào lớp học bằng cách dựa theo hình ảnh chỉ dẫn, dạy trẻ biết lấy bài tập ở đâu và để đâu khi chúng làm xong, và kế tiếp sẽ làm gì dựa vào thời khóa biểu có hình ảnh đi kèm.

– Trẻ thực hiện công việc chính xác hơn Trẻ có thời gian chấn chỉnh, tập trung hơn

– Trẻ phụ thuộc vào giảng viên nhiều hơn Trẻ có tính độc lập hơn

– Trẻ giải quyết vấn đề từ ngoài vào trong Trẻ giải quyết vấn đề từ trong ra ngoài

PHƯƠNG PHÁP THAY ĐỔI NHỮNG HÀNH VI “ĐẶC BIỆT” (Pivotal Response Training or PRT)

PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP (ECLECTICISM)

Nhiều chuyên gia tự kỷ giải thích đơn giản rằng chương trình giảng dạy/trị liệu tổng hợp (Electicism) chỉ là sự trộn lẫn một chút phương pháp TEACCH của Eric Schopler, một chút ABA của Lovaas, một chút phương pháp ngồi sàn của Greenspan, và một chút phương pháp trị liệu cảm giác của Jean Ayres …

PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU VẬN ĐỘNG (Physical and Occupational Therapies)

Sự trị liệu vận động về vật lý (physical therapy) thường được thực hiện qua chương trình thể dục thích nghi (adaptive physical education) ở nhà trường, ở các trung tâm trị liệu dưới sự hướng dẫn của giáo viên chuyên về thể dục đặc biệt hoặc các chuyên viên có bằng cấp chuyên môn để giúp trẻ vận động những cơ bắp lớn (physical therapy) như dạy trẻ chạy, nhảy, kết hợp vận động chân tay, đi đứng cân bằng. Còn sự trị liệu vận động nhỏ hay tinh vi (occupational therapy) ở nhà trường, ở nhà hay ở trung tâm điều trị chủ yếu là dạy trẻ biết cầm kéo cắt, cầm bút vẽ, viết, có những kỹ năng tự chăm sóc mình (self-help) như biết ăn, biết mặc, biết đánh răng, đi vệ sinh, biết cách học và biết cách chơi cùng chúng bạn. Ngoài ra, các chuyên viên vận động tinh vi (occupational therapists) có thể ứng dụng phương pháp trị liệu về cảm giác (sensory integration therapy) để dạy trẻ biết nhận hiểu và điều chỉnh những tác động thuộc về cảm giác.

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU HÒA CẢM GIÁC (Sensory Integration or SI)

Ở Hoa Kỳ, chuyên gia về vận động tinh và tâm lý cho trẻ chậm phát triển, Tiến Sỹ Jean Ayres (1920-1989), biệt danh A. Jean Ayes thuộc Đại Học UCLA, là chuyên gia đầu tiên đúc kết cụm từ rối loạn về sự kết hợp cảm xúc (sensory integration dysfunction) vào những năm 60. Bà viết nhiều đề tài về phương diện nầy và khá nổi tiếng qua cuốn sách Sensory Integration and the Child.

Tiến Sỹ Ayes cho rằng trẻ bị chậm phát triển, kể cả tự kỷ, thường bị rối loạn về sự nhận hiểu cảm giác từ ngửi, nghe, thấy, sờ chạm, cũng như phản ứng hay di chuyển theo tác động của cảm giác.

Thiếu phản ứng : Chậm hay không phản ứng đối với những tiếng động lớn, tiếng nói, ánh sáng rực rỡ, hay không lộ rõ sự đau đớn khi ngã té hoặc tự gây thương tích cho chính mình.

Phản ứng mạnh : Bịt tai và la hét khi nghe những tiếng động bình thường hay bị sờ chạm.

Hành vi tự kích thích để tìm cảm giác : Chơi với những ngón tay xòe ra trước mặt, nhìn đèn điện, vật thể nào đó không chớp mắt, lắc đầu, lắc mình, quay vòng vòng v.v …

PHƯƠNG PHÁP DẠY KỸ NĂNG GIAO TIẾP XÃ HỘI (Social Skill Training)

Phương pháp dạy kỹ năng giao tiếp qua những câu chuyện ngắn về xã hội (social stories), có hình ảnh và đối thoại, thường được các chuyên viên tâm lý, chuyên viên về hành vi, ngôn ngữ, giáo viên, phụ giáo, phụ huynh áp dụng trong giờ chơi ở trường, trong lớp học, ở nhà qua những trò chơi, sinh hoạt để giúp trẻ tự kỷ trao dồi kỹ năng giao tiếp xã hội và kết bạn.

Phương pháp kể chuyện social stories do Carol Gray giám đốc trung tâm chuyên nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp xã hội ở Grand Rapids, Michigan, Hoa Kỳ, khởi xướng vào năm 1991.

– Liệu phương pháp giảng dạy/trị liệu do phụ huynh lựa chọn có đầy đủ dữ kiện để chứng minh một cách khoa học về tính hiệu quả hay chỉ đơn thuần là những ý kiến chủ quan, tự tăng bốc để trục lợi của các chuyên gia đề xướng chương trình hay phương pháp giảng dạy đó?

– Liệu chương trình hay phương pháp do phụ huynh lựa chọn có thích hợp và nằm trong kế hoạch giáo dục/trị liệu dài lâu cho con em khuyết tật hay không?

Nhìn chung,, các phương pháp chỉ nên xem là một kỹ thuật nằm trong một Hệ thống can thiệp nhiều mặt ở các môi trường : Gia đình – Nhà trường và Xã hội dưới sự phối hợp của 3 vai trò là ; Phụ huynh – Giáo viên đặc biệt và Chuyên viên . Không chỉ giao việc can thiệp cho một vai trò riêng lẻ nào.

Comments

Chiropractic Là Gì? Phương Pháp Nắn Chỉnh, Trị Liệu Thần Kinh Cột Sống / 2023

Theo thống kê số liệu năm 2018 tại Mỹ, có đến hơn 50 triệu người đang điều trị bằng phương pháp trị liệu thần kinh cột sống Chiropractic và đây được đánh giá là phương pháp chữa trị các bệnh xương khớp phổ biến, an toàn nhất hiện nay. 95% người bệnh đã chữa trị bằng Chiropractic khẳng định nó thực sự đem lại hiệu quả tích cực và 89% trong số đó đã giới thiệu Chiropractic cho gia đình và bạn bè của họ.

1. Chiropractic là gì?

Chiropractic là phương pháp nắn chỉnh, trị liệu thần kinh cột sống có lịch sử hơn 125 năm tại Mỹ (năm 1895) và Bác sỹ Daniel David Palmer được coi như là ông tổ của ngành khoa học này. Cho đến nay, Chiropractic đã trở nên vô cùng phổ biến trên thế giới, có mặt tại hơn 70 quốc gia với hơn 80.000 trung tâm Chiropractic. Tuy nhiên, tại Việt Nam, Chiropractic vẫn còn khá mới mẻ, chưa được nhiều người biết đến và hiểu đúng về phương pháp chữa trị này.

Chiropractic được đánh giá là phương pháp trị liệu hiệu quả nhất hiện nay

Chiropractic là phương pháp điều trị mà bác sĩ sẽ sử dụng các kỹ thuật bằng tay hoặc dụng cụ, máy móc chuyên dụng để tiến hành nắn chỉnh những sai lệch của hệ thống xương khớp và hệ thần kinh, khôi phục chức năng và kích thích khả năng tự chữa lành của cơ thể. Đây là phương pháp điều trị được đưa ra đầu tiên trước các giải pháp nội khoa (có dùng thuốc) để điều trị các vấn đề về cột sống, cơ xương khớp hiệu quả nhất. Chiropractic giúp bệnh nhân duy trì sức khỏe tối ưu trong khi có thể tránh được việc phải sử dụng thuốc hoặc phẫu thuật một cách không cần thiết.

Thao tác – sử dụng tay để tác dụng lực lên các cơ, xương, khớp và cột sống.

Sử dụng các động tác đẩy nhanh và ngắn, dần dần di chuyển các khớp của bệnh nhân vào đúng vị trí.

Dùng động tác kéo hoặc kéo căng cơ bắp theo các hướng khác nhau để giải phóng sự chèn ép.

Bác sĩ Larson thực hiện tác động nắn chỉnh các sai lệch cột sống.

2. Nguyên lý chữa bệnh của phương pháp Chiropractic

Hệ thần kinh bao gồm nhiều dây thần kinh xuất phát từ não, kéo dài xuống đốt sống dưới cổ, rồi kết thúc ở phần xương cùng. Theo đó, nếu như cấu trúc các đốt xương cột sống bị sai lệch vị trí sẽ tác động trực tiếp lên những dây thần kinh đi ngang qua nó, dẫn đến phát sinh nhiều chứng bệnh khác nhau và là nguyên nhân chính của những cơn đau nhức dai dẳng.

Dựa vào nguyên lý nói trên, các bác sĩ chuyên khoa Thần kinh Cột sống sẽ nắn chỉnh các đốt sống vào đúng vị trí, từ đó làm giảm cơn đau nhanh chóng, giúp cơ thể khôi phục mà không cần phải dùng đến thuốc.

Các chức năng trong cơ thể người đều chịu ảnh hưởng bởi sự điều khiển của hệ thần kinh trung ương

3. Nắn chỉnh cột sống Chiropractic có an toàn ko?

Đối với những người chưa từng điều trị bằng Chiropractic thường sẽ khá lo lắng và thắc mắc không biết rằng nó có an toàn không? Phương pháp nắn chỉnh, trị liệu thần kinh cột sống Chiropractic là một trong những liệu pháp an toàn nhất hiện nay để điều trị các vấn đề về cơ xương khớp. Tuy nhiên, nó phải được thực hiện bởi những bác sĩ được đào tạo chuyên ngành bài bản, có kinh nghiệm lâm sàng thực tế. Điều trị bằng Chiropractic thường không gây đau đớn, nhưng có thể ở một số người sẽ gặp cảm giác hơi khó chịu. Hãy nói ngay với bác sĩ nếu như bạn cảm thấy bị đau trong quá trình điều trị. Ngoài ra, một số người cũng sẽ gặp những tác dụng phụ sau buổi điều trị như: đau nhức cơ, đau đầu, cứng và đau ở vùng được điều trị. Nếu gặp phải những tác dụng phụ này, bạn cũng không nên quá lo lắng vì chúng sẽ biến mất trong vòng một vài ngày.

Đặc biệt, phương pháp nắn chỉnh, trị liệu thần kinh cột sống Chiropractic an toàn phù hợp với nhiều lứa tuổi, ngay cả với bệnh nhân là người già và trẻ em.

không nên dùng phương pháp Chiropractic nếu bạn gặp phải một trong những vấn đề sau đây:

4. Chiropractic điều trị những bệnh nào?

Phương pháp trị liệu thần kinh cột sống Chiropractic thường áp dụng để điều trị hiệu quả các bệnh lý về cơ, xương, khớp & thần kinh cột sống như:

* Đau cột sống thắt lưng * Đau thần kinh tọa * Thoái hóa đốt sống lưng * Thoát vị đĩa đệm đốt sống lưng * Thoát vị đĩa đệm cổ * Thoái hóa đốt sống cổ * Cong vẹo cột sống * Đau mỏi vai, cổ, gáy * Đau đầu, đau nửa đầu * Các chấn thương do tai nạn hoặc thể thao

5. Trị liệu thần kinh cột sống Chiropractic ở đâu tại Hà Nội?

Trong cuộc sống ai cũng sẽ có vài lần bị đau lưng, đau vai, đau đầu, đau các khớp… Tuy nhiên, nếu như bạn đã phải chịu đựng những cơn đau này trong một thời gian dài, hoặc cơn đau có xu hướng ngày càng tăng về mức độ, gây ảnh hưởng đến cuộc sống, khiến bạn không thể thực hiện các hoạt động hàng ngày một cách bình thường, thì đó chính là lúc bạn cần phải nhanh chóng đến gặp ngay bác sĩ.

Mặc dù vậy, Việt Mỹ vẫn khuyên bạn tốt nhất nên đi khám ngay khi gặp bất kỳ các triệu chứng nào như đau đầu, đau ở cổ, lưng, hông, bị tê cứng… Đa số bệnh nhân không nhận thấy rằng việc điều trị thần kinh cột sống là cần thiết cho đến khi vấn đề trở nên thực sự nghiêm trọng.

Tại Hà Nội có nhiều phòng khám chữa các bệnh về cơ, xương, khớp, tuy nhiên để tìm được một địa chỉ chuyên về Chiropractic với bác sĩ có chuyên môn giỏi, máy móc trang thiết bị hiện đại thì không phải là điều dễ dàng.

Phòng khám Thần kinh cột sống Việt Mỹ là một trong số ít những phòng khám tại Hà Nội đạt tiêu chuẩn quốc tế, được cấp giấy phép hoạt động với đội ngũ bác sĩ chuyên môn cao trong nước và Bác sỹ đến từ các nước có nền y học phát triển trên thế giới như Mỹ, Châu Âu.

Với đội ngũ bác sĩ chuyên khoa Thần kinh cột sống giàu kinh nghiệm, các chuyên viên vật lý trị liệu giỏi chuyên môn, được đào tạo bài bản, kết hợp với trang thiết bị, công nghệ tiên tiến, phòng khám Việt Mỹ tự hào đem đến cho các bệnh nhân xương khớp những liệu trình chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe tốt nhất mà không cần dùng thuốc hay phẫu thuật. Mục tiêu của chúng tôi là mang đến cho người dân Việt Nam một liệu trình trị bệnh tốt nhất, duy trì sức khỏe ổn định lâu dài.

Phòng khám Thần kinh cột sống Việt Mỹ với đội ngũ bác sĩ, kỹ thuật viên có chuyên môn cao

6. Quy trình điều trị bằng phương pháp Chiropractic tại phòng khám Việt Mỹ

Trước khi tiến hành điều trị, bác sĩ Chiropractic tại Việt Mỹ sẽ yêu cầu người bệnh cung cấp những thông tin về tình hình sức khỏe hiện tại cũng như tiền sử bệnh, thăm khám để tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ gây ra bệnh và từ đó đưa ra liệu trình điều trị phù hợp nhất cho từng bệnh nhân. Trong quá trình chẩn đoán, để có kết luận chính xác hơn, bệnh nhân có thể cần phải chụp thêm X-quang hoặc cộng hưởng từ.

Sau khi đánh giá kỹ lưỡng, tùy vào nguyên nhân và tình trạng bệnh, các bác sĩ Phòng khám Việt Mỹ sẽ kết hợp trị liệu thần kinh cột sống với vật lý trị liệu giúp giảm nhanh cơn đau và tránh nguy cơ cơn đau tái phát. Ngoài ra, các thiết bị máy móc hiện đại như hệ thống giảm áp cột sống DTS, máy chiếu laser thế hệ 4, sóng xung kích Shockwave, điện xung, siêu âm trị liệu sẽ giúp tối đa hóa hiệu quả và rút ngắn thời gian chữa trị, giúp người bệnh nhanh chóng hồi phục khả năng vận động.

Tiến sĩ Bác sĩ Larson sử dụng máy móc thiết bị hiện đại tại Phòng khám Việt Mỹ

Toàn bộ kế hoạch điều trị sẽ được các bác sĩ của Việt Mỹ tư vấn kỹ càng với bệnh nhân trước khi bắt đầu liệu trình chữa trị thực tế.

Một trong những lý do quan trọng nhất mà bệnh nhân luôn tin tưởng ở phương pháp điều trị Chiropractic tại Việt Mỹ, đó là chúng tôi hoàn toàn không sử dụng thuốc, đặc biệt là những loại thuốc giảm đau, kháng viêm, và không phẫu thuật. Do đó sẽ hạn chế được tối đa tác dụng phụ lên các cơ quan nội tạng như dạ dày, gan, thận cũng như các rủi ro có thể gặp phải trong và sau quá trình phẫu thuật.

Nếu bạn đang gặp phải các vấn đề về xương khớp hay có bất kỳ thắc mắc gì khác hãy liên hệ ngay với Phòng khám Việt Mỹ theo số hotline 097 184 8800 hoặc 024 6027 9800 để được tư vấn và thăm khám hoàn toàn MIỄN PHÍ bởi chúng tôi chuyên khoa Trị liệu thần kinh cột sống Larson Matthew Golden đến từ Hoa Kì đã có hơn 20 năm kinh nghiệp về Chiropractic tại các phòng khám thần kinh cột sống trên toàn thế giới.

Phòng khám Thần kinh – Cột sống Việt Mỹ

Hotline: (024) 6027 9800 – 097 184 8800 Website: https://cotsongvietmy.vn/ Facebook: https://www.facebook.com/cotsongvietmy/ Địa chỉ: Tầng 5 – Số 257 Giải Phóng – Đống Đa – Hà Nội