Tiêu Chuẩn Và Quy Chuẩn Kỹ Thuật

--- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Red Peel Và The Ordinary
  • Sự Khác Nhau Giữa Retinol Và Tretinoin
  • So Sánh Redmi K30 Và Redmi Note 8 Pro
  • So Sánh Các Dòng Robot Hút Bụi Ecovacs Chính Hãng
  • So Sánh Robot Hút Bụi Cao Cấp Ecovacs T5 Hero Vs T8 Aivi
  • TIÊU CHUẨN QUỐC GIA VÀ QUY CHUẨN KỸ THUẬT

    – Khái niệm: Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này.

    – Nội dung: Quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý

    – Đối tượng: Sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường, các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế-xã hội.

    – Hệ thống tiêu chuẩn tại Việt Nam.

    + Tiêu chuẩn quốc gia: TCVN

    + Tiêu chuẩn cơ sở: TCCS

    – Xây dựng và công bố

    + TCVN: Các Bộ quản lý chuyên ngành tổ chức xây dựng dự thảo TCVN cho lĩnh vực thuộc ngành mình phụ trách được phân công quản lý, trình Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm xét để công bố áp dụng.

    +TCCS: Các tổ chức sản xuất, kinh doanh tổ chức xây dựng, công bố để áp dụng trong phạm vi tổ chức mình.

    – Hiệu lực: Tiêu chuẩn được xây dựng, công bố để tự nguyện áp dụng trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

    – Khái niệm: Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế-xã hội phải tuân thủ để đảm bảo an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác.

    – Nội dung: Quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý.

    – Đối tượng: Sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường, các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế-xã hội.

    – Phân loại: Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật ở Việt Nam.

    + Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: QCVN.

    + Quy chuẩn kỹ thuật địa phương: QCĐP.

    – Xây dựng, ban hành.

    + QCVN do các Bộ quản lý chuyên ngành tổ chức xây dựng, ban hành để áp dụng cho các lĩnh vực được phân công quản lý sau khi tham khảo ý kiến của Bộ Khoa học và Công nghệ.

    + QCĐP do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức xây dựng, ban hành để áp dụng trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý của mình.

    – Hiệu lực: Quy chuẩn kỹ thuật được xây dựng, ban hành để bắt buộc áp dụng.

    TCVN do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.

    Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam giữ bản quyền TCVN.

    * So sánh giữa tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật

    – Giống nhau: Cùng đề cập đến nội dung về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý; cùng đối tượng quản lý.

    + Về mục đích: Tiêu chuẩn được dùng để phân loại đánh giá nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của đối tượng. Quy chuẩn kỹ thuật quy định mức giới hạn kỹ thuật mà đối tượng phải tuân thủ để đảm bảo an toàn, sức khoẻ, môi trường, quyền lợi người tiêu dùng, an ninh và lợi ích quốc gia.

    + Về hiệu lực: Tiêu chuẩn công bố để tự nguyện áp dụng, còn quy chuẩn kỹ thuật ban hành để bắt buộc áp dụng.

    TCVN bao gồm tiêu chuẩn cơ bản, tiêu chuẩn thuật ngữ, tiêu chuẩn yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn phương pháp thử và lấy mẫu, tiêu chuẩn ghi nhãn, bao gói, vận chuyển và bảo quản; thuộc các lĩnh vực như cơ khí, luyện kim, giao thông vận tải, xây dựng, hóa chất, dầu khí, khoáng sản, nông nghiệp, thực phẩm, hàng tiêu dùng, môi trường, an toàn, điện, điện tử, công nghệ thông tin…

    Tính đến hết tháng 12/2015, có 8.625 Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) đã được Bộ KHCN công bố, sử dụng rộng rãi trong các hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh. Hiện tại mức độ hài hòa của hệ thống TCVN đối với các tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực đạt trên 45%, mục tiêu đến năm 2022 là 60% nhằm đảm bảo cho vị trí của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam tại thị trường trong nước và trên thị trường quốc tế, đóng góp vào mục tiêu đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới.

    Hệ thống TCVN thường xuyên được điều chỉnh và sửa đổi trên cơ sở soát xét các TCVN hiện hành và xây dựng mới TCVN nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn yêu cầu quản lý nhà nước và nhu cầu của doanh nghiệp, thúc đẩy thương mại phù hợp với thông lệ của quốc tế.

    Quá trình xây dựng TCVN được đảm bảo theo nguyên tắc đồng thuận, phù hợp với nguyên tắc của hoạt động tiêu chuẩn hoá quốc tế cũng như quy định của Hiệp định WTO, TBT. Với 120 Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia (TCVN/TC) và 56 Tiểu ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia (TCVN/TC/SC), Tổng cục TCĐLCL đã tập hợp hơn 1.000 nhà khoa học, giáo sư, tiến sỹ, chuyên gia đầu ngành tham gia vào quá trình xây dựng hệ thống TCVN.

    Trên cơ sở đề nghị của các Bộ, ngành và các đơn vị, tổ chức, Tổng cục TCĐLCL dự thảo Kế hoạch xây dựng TCVN hằng năm trình Lãnh đạo Bộ KHCN ban hành nhằm triển khai xây dựng các TCVN cụ thể cho các lĩnh vực.

    Mẫu bìa Tiêu chuẩn Quốc gia Việt Nam (TCVN):

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Tcvn Và Qcvn
  • (Đánh Giá) Top 5+ Quạt Cây, Quạt Đứng Tốt Nhất Hiện Nay 2022
  • Bảng Giá Quạt Treo Tường: Senko, Asia, Midea, Kdk, Lifan
  • Đối Tượng, Phương Pháp Và Chức Năng Của Kinh Tế Chính Trị Mác
  • Nên Chọn Card Màn Hình Nvidia Quadro Hay Gtx Để Render Đồ Hoạ?
  • Phương Pháp Chuẩn Độ Bằng Nitrit

    --- Bài mới hơn ---

  • Lợi Ích Của Kỹ Thuật Pomodoro
  • Làm Việc Hiệu Quả Cùng Phương Pháp Pomodoro Hiệu Quả — Ngáo Content
  • Chìa Khóa Rèn Luyện Sự Tập Trung Cao Độ
  • Làm Chủ Thời Gian Với Phương Pháp Pomodoro – Apmp
  • Phương Pháp Pomodoro: Tập Trung Làm Việc, Học Tập Hiệu Quả
  • PHỤ LỤC 10.4

    Chuẩn độ bằng nitrit là phương pháp định lượng thể tích, trong đó dung dịch chuẩn độ là dung dịch natri nitrit.

    Phương pháp này được dùng chủ yếu để định lượng các chế phẩm có chứa nhóm amin thơm bậc nhất hoặc những chế phẩm khác mà qua biến đổi hóa học chuyển được thành hợp chất có nhóm amin thơm bậc nhất.

    Cách tiến hành

    Cân chính xác một lượng chế phẩm tương ứng với khoảng 0,002 phân tử gam hoạt chất (hoặc theo chỉ dẫn trong chuyên luận riêng) hòa tan trong 20 ml acid hydrocloric (TT), và 50 ml nước. Cho thêm 2 g kali bromid (TT), làm lạnh trong nước đá rồi chuẩn độ bằng dung dịch natri nitrit 0,1 M (CĐ) (phải để đầu nhỏ dung dịch chuẩn độ của buret ngập dưới mặt dung dịch cần chuẩn độ). Trong quá trình chuẩn độ phải lắc bình liên tục, nhẹ nhàng sao cho không tạo ra dòng xoáy không khí trong dung dịch (tốt nhất là dùng máy khuấy từ). Nhỏ dung dịch chuẩn độ với tốc độ lúc đầu chừng 2 ml trong một phút, đến trước điểm tương đương khoảng 1 ml thì nhỏ từng 0,1 ml một và để yên ít

    nhất 1 min sau mỗi lần thêm dung dịch.

    Điểm kết thúc được xác định bằng phương pháp đo điện (theo hướng dẫn trong các Phụ lục 10.1, Phương pháp chuẩn độ đo ampe hoặc Phụ lục 10.2, Phương pháp chuẩn độ đo điện thế) hoặc bằng chỉ thị màu thích hợp.

    4.5

    /

    5

    (

    2

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Giải Nhanh Bài Tập Phương Trình Oxi Hóa – Khử – Du Học & Lao Động
  • 3 Dạng Bài Tập Cân Bằng Phản Ứng Oxi Hóa Khử Cơ Bản Nhất
  • Lí Thuyết Về Phản Ứng Oxi Hoá
  • Tìm Hiểu Về Phép Đo Điện Thế Oxy Hóa Khử (Orp)
  • Xử Lý Nước Thải Bằng Phương Pháp Hóa Học Đơn Giản Nhất
  • Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học
  • Vốn Chủ Sở Hữu (Equity) Là Gì? Cách Xem Equity Trên Báo Cáo Tài Chính
  • Vốn Chủ Sở Hữu Là Gì? Gợi Ý Cách Tính Vốn Chủ Sở Hữu
  • Hoàn Thiện Phương Pháp Kế Toán
  • Vốn Chủ Sở Hữu Là Gì, Cách Tính Như Thế Nào?
  • Để các em học sinh có được kết quả học tập tốt, có được những kiến thức cơ bản, cốt lõi, có được tư duy sáng tạo, có đạo đức và nhân cách tốt đòi hỏi người giáo viên phải có khả năng và phương pháp dạy học hiệu quả. chúng tôi xin giới thiệu đến các thầy, cô giáo bài viết phương pháp và kỹ thuật dạy học. chúng tôi cũng rất mong nhận được sự phản hồi và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo, các nhà nhiên cứu về vấn đề phương pháp và kỹ thật dạy học nhằm mục đích có được nhưng phương pháp ưu việt, giúp cho giáo viên tham khảo để có được những phương pháp giảng dạy hiệu quả, phù hợp nhất.

    CHUYÊN ĐỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

    Các phương pháp đã và đang thường sử dụng. ( các phương pháp dạy học được GV linh hoạt trong các môn học giúp học sinh học tập một cách thoải mái, tự tin và hiệu quả, phát huy được năng lực học tập của các em, giúp các em được học và học được.)

    1/ Phương pháp vấn đáp, đàm thoại sử dụng nhiều trong các môn tập đọc, kể chuyện, Lịch sử, Địa lí…

    2/ phương pháp thực hành( làm mẫu- huấn luyện): Phương pháp này là phương pháp được sử dụng nhiều trong các môn học thể dục, Thủ công, Kĩ thuật.

    4/ Phương pháp quan sát: Đây là phương pháp đặc trưng trong các môn TN-XH; Khoa, Sử; Địa. Các em quan sát các sự vật, hiện tượng thực tế, tranh ảnh, băng hình…

    5/ Phương pháp trực quan: ( dùng kênh hình, mô hình, vật thât) là phương pháp đặc trưng trong các môn Lịch sử. Toán ….

    6/ Phương pháp động não: Dùng nhiều trong các môn học.

    7/ Phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm: Là phương pháp tích cực hóa các hoạt động của người học, giáo viên tổ chức các hoạt động thông qua hoạt động học. Mọi học sinh cùng được tham gia hoạt động, các em bộc lộ được mính và có cơ hội phát triển.

    8/ Phương pháp dạy học qua trải nghiệm: Đây là phương pháp dạy học có tính thực tế cao, giúp cho các em thông qua việc làm cụ thể để tìm tòi khám phá kiến thức. Gv đưa ra tình huống; hoặc trò chơi; hoặc hỏi về những kinh nghiệm sống…., sau đó Gv cùng HS phân tích, chia sẻ, so sánh, xử lí hoặc hồi tưởng… Gv đặt câu hỏi dẫn dắt đên nội dung bài học. Phương pháp dạy học này GV nêu câu hỏi dẫn dắt, học sinh rút ra kết luận.

    9/ Phương pháp dạy học theo hợp đồng: Đây là phương pháp dạy học mà HS làm việc theo một gói các nhiệm vụ trong thời gian nhất định.

    10/ Trò chơi.

    CÁC KĨ THUẬT DẠY HỌC 1/Kĩ thuật các mảnh ghép:

    Là kĩ thuật tổ chức hoạt động hợp tác:

    Ví dụ: Khi dạy bài câu đơn – câu ghép.

    Thế nào là câu đơn, cho ví dụ và phân tích thành phần câu?

    Thế nào là câu phức, cho ví dụ và phân tích thành phần câu?

    Thế nào là câu ghép, cho ví dụ và phân tích thành phần câu?

    Câu đơn và câu ghép khác nhau như thế nào? Cho ví dụ minh họa.

    2/ Kĩ thuật khăn trải bàn:

    Từng HS ghi ý kiến của mình sau đó trao đổi , tổng hợp và thống nhất chung một ý kiến và ghi vào ô giữa.

    Nhóm 1,2 : Làm thí nghiệm chứng minh không khí có 2 thành phần chính là khí ô xi duy trì sự cháy và khí ni-tơ không duy trì duy trì sự cháy.

    Nhóm 3, 4: Làm thí nghiệm chứng minh không khí có hơi nước.

    Nhóm 5;6 : Làm thí nghiệm chứng minh không khí có chứa bụi, vi khuẩn…

    Qua các thí nghiệm của các nhóm chứng tỏ không khí chứa ôxi, ni tơ, hơi nước, bụi, vi khuẩn…

    4/ Kĩ thuật xoay ổ bi:

    – Xếp 2 vòng tròn (trong và ngoài): Số lẻ đứng vòng trong, số chẵn đứng vòng ngoài.

    – Vòng trong đứng yên vị trí, vòng ngoài xoay lần lượt từng số (đối diện từng cặp trong ngoài).

    – 1 nhóm lên trình bày, các nhóm đều treo bảng dò theo, nếu tùy ý thì đánh dâu (P)

    – Sẽ lấy được ý chung nhất (là những ý các nhóm trùng nhau)

    6/ Mạng ý nghĩa:

    – Dùng dạy Tập đọc.

    – Dùng dạy Tập làm văn.

    Nhìn vào ma trận, ta có thể thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu của các nhóm PPDH với việc thực hiện mục tiêu, đặc biệt là sự hạn chế của PP thuyết trình đối với việc thực hiện các mục tiêu quan trọng của phát triển nhân cách.

    Một kết quả nghiên cứu khác cũng cho thấy sự hạn chế của các PP dùng lời nói và đồng thời khuyến khích tổ chức các hoạt động tự lập của học sinh phối hợp các PP nhằm huy động đồng thời nhiều giác quan của học sinh tham gia vào quá trình tri giác các đối tượng lĩnh hội.

    2. Lựa chọn các PPDH tương thích với nội dung học tập

    Giữa nội dung và PPDH có mối quan hệ tác động lẫn nhau, trong nhiều trường hợp quy định lẫn nhau. Ở bình diện kĩ thuật dạy học, PPDH cần tương thích với nội dung dạy học. Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất định.

    3. Lựa chọn PPDH cần chú ý đến hứng thú, thói quen của học sinh, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên

    a. Cần chuẩn đoán nhu cầu, hứng thú của học sinh khi lựa chọn các PPDH.

    Đối với việc trình bày thông tin cần ưu tiên lựa chọn các PP sử dụng phương tiện nghe nhìn, sử dụng truyền thông đa phương tiện càng tốt.

    Đối với các hoạt động chế biến thông tin cần tổ chức các hoạt động tự phát hiện, phối hợp với làm việc theo nhóm, phát huy càng tối đa tính tích cực, sáng tạo của học sinh càng tốt.

    b. Chú ý thay đổi PPDH và hình thức tổ chức dạy học tránh nhàm chán, gây hứng thú cho học sinh. Cần thay đổi PPDH sau 15, 20 phút.

    c. Ưu tiên lựa chọn các PPDH mà học sinh, giáo viên đã thành thạo.

    Với các PPDH có ưu điểm tương đương, cần ưu tiên lựa chọn PPDH mà GV và HS đã thành thạo, bởi thực hiện dễ dàng hơn.

    Không vì tiêu chí này mà quay trở lại vớ PP truyền thụ một chiều. Hiện nay, rất cần thiết phải cho GV và HS trở nên quen thuộc với các kĩ thuật dạy học mới có hiệu quả cao trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục. Để nâng cao tay nghề cần:

    Nghiên cứu các vấn đề đổi mới PPDH qua sách, vở, giáo trình, tạp chí chuyên môn, các lớp tập huấn…

    Rút kinh nghiệm các giờ dạy của bản than kết hợp với tiến hành dự giờ, trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp…

    4. Lựa chọn PPDH phù hợp với điều kiện dạy học

    a. Ở đây đề cập đến PPDH diễn ra trong mối quan hệ với các điều kiện vật chất, đặc biệt là thiết bị dạy học (TBDH). Đương nhiên là cần phải lựa chọn PPDH phù hợp với điều kiện của nhà trường, của phòng thí nghiệm, của tình trạng đang có.

    b. Trong khuôn khổ điều kiện cho phép, cần chọn thứ tự ưu tiên khả năng tốt nhất.

    c. Các TBDH hiện đại không luôn đồng nghĩa với các TBDH đắt tiền. Tính hiện đại của TBDH thể hiện ở việc sử dụng các thiết bị sao cho đạt yêu cầu cao nhất trong việc thực hiện các mục tiêu dạy học, thể hiện rõ tư tưởng sư phạm hiện đại.

    LỰA CHỌN CÁCH DẠY THÍCH HỢP

    Thiết kế phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá

    chúng tôi Đặng Thành Hưng

    Tạp chí giáo dục số 102 (chuyên đề), quý IV/2004, trang 10.

    Thiết kế phương pháp dạy học (PPDH) là chức năng và công việc chuyên môn của giáo viên (GV). Nhưng GV phải dựa vào lí luận phương pháp và những quy tắc kĩ thuật nhất định để thiết kế mới đạt hiệu quả cao, mặc dù đương nhiên phải vận dụng kinh nghiệm nghề nghiệp cá nhân nữa. Vấn đề thiết kế hay lựa chọn PPDH cho đến nay chưa được làm rõ, nên GV gặp nhiều khó khăn trong việc đổi mới PPDH dạy học của mình. Chúng tôi không tán thành quan niệm cho rằng để đổi mới PPDH, GV phải biết lựa chọn PPDH phù hợp, theo những yêu cầu nào đó. Điều này không chính xác, hơn nữa còn gây lạc hướng và hiểu sai nhiệm vụ.

    Nếu đã có sẵn những PPDH mới để lựa chọn, thì GV không cần phải đổi mới, mà chỉ việc áp dụng mẫu có sẵn mà mình thích hoặc thấy phù hợp, còn đổi mới PPDH là việc của ai đó. Mặt khác, những PPDH mới này tư dưng ở đâu mà ra, nếu không phải do chính giáo viên tạo ra ? Chúng tôi xin bàn về thiết kế PPDH, do GV thực hiện, sau đó dựa vào chính thiết kế mới của mình mà tạo ra PPDH và tiến hành trong thực tiễn giảng dạy, giáo dục của mình, chứ không phải PPDH của người khác.

    II.1. Thiết kế bài học và phân tích thiết kế đó

    Kĩ thuật thiết kế bài học là việc phức tạp. Qua thiết kế này, GV đã xác định và thiết kế mục tiêu, nội dung học tập, các hoạt động của người học, các nguồn lực và phương tiện, môi trường học tập. Đây là chỗ dựa chủ yếu để thiết kế PPDH nhưng chưa đủ để thiết kế thành công.

    II.2. Lựa chọn kiểu PPDH và thiết kế phương án kết hợp các kiểu đã chọn

    Dựa vào thiết kế bài học và nhận thức lí luận của mình về các kiểu PPDH (tức là phương pháp luận cụ thể), GV lựa chọn các kiểu PPDH và thiết kế trình tự, cách thức kết hợp chúng với nhau trong phạm vi bài học đó và có thể trong cả chuỗi bài học kế tiếp nhau. Điều này có nghĩa là: kiểu PPDH phải được tổ chức thống nhất với từng loại họat động của người học, theo các phương án thiết kế chính thức và dự phòng.

    Ví dụ: đối với loại hoạt động phát hiện-tìm tòi của người học, có thể chọn kiểu PPDH kiến tạo-tìm tòi kết hợp với kiểu khuyến khích-tham gia trong 1 hoạt động. Nếu dự cảm thấy có thể chưa thành công thì GV nên dự phòng phương án khác, chẳng hạn kiểu PPDH làm mẫu-tái tạo kết hợp với kiểu kiến tạo-tìm tòi,… Trong những loại hoạt động khác cũng thực hiện những bước tương tự.

    Kết luận

    Tóm lại, để đổi mới PPDH theo quan điểm thiết kế cần nhấn mạnh những phương hướng sau đây:

    GV là chủ thể trực tiếp đổi mới PPDH, không ai làm thay được, và điều đó diễn ra tại bài học, môn học, lớp học, trường học, trong quá trình dạy học.

    Đổi mới PPDH trải qua quá trình lựa chọn đúng và sáng tạo kiểu PPDH đã được mô tả lí luận trong khoa học giáo dục, xác định đúng và tối ưu những mô hình tâm lí (KN) của kiểu PPDH đã chọn – tức là đúng khả năng sư phạm của mình và đặc điểm của lớp học, người học.

    Cải thiện KN đã có nhưng chưa hiệu quả, học và bổ sung cho mình những KN còn thiếu nhưng cần phải có để thực hiện kiểu PPDH mà mình chưa quen sử dụng hoặc chưa có đủ nhận thức lí luận.

    Thay đổi thói quen không phù hợp trong suy nghĩ và hành động dạy học, nhờ thường xuyên chú ý áp dụng nhận thức lí luận về đổi mới dạy học và những phương pháp luận dạy học hiện đại.

    Phát triển những mô hình KN mới của PPDH theo những kiểu PPDH mà mình đã trải nghiệm thành công nhiều lần. Đó chính là sáng tạo PPDH mới ở hình thái KN và kĩ thuật, đồng thời là sự phát triển giá trị, kinh nghiệm nghề nghiệp, nâng cao tay nghề. GV thực hiện việc này qua suy nghĩ tìm tòi và trao đổi với đồng nghiệp hàng ngày, học hỏi lẫn nhau.

    Phát triển những phương tiện, học liệu và công cụ phù hợp nhất với mình và phong cách của lớp, với nội dung và tính chất môn học và tổ chức chúng có hiệu quả nhằm thực hiện những kiểu và mô hình PPDH mà mình đã chọn, đã phát triển và đã có kinh nghiệm sử dụng thành công.

    Trước khi tiến hành dạy học và thực hiện PPDH, cần phải thiết kế nó cùng với thiết kế bài học, trong đó cố gắng đưa những đóng góp và sáng tạo của riêng mình cũng như sáng kiến của đồng nghiệp vào thiết kế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Hiện Đại Trong Bài 11 Lịch Sử 10
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Môn Địa Lý
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Bai Giang Pp Doi Moi Theo Day Hoc Tich Cuc Ppt
  • Các Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Phương Pháp Và Kỹ Thuật Trong Brainstorming

    --- Bài mới hơn ---

  • Brainstorming Là Gì? 5 Bước Để Brainstorming Hiệu Quả
  • 789Bet Là Gì ? Giới Thiệu Roulette (Rou Lắc) Trên Nhà Cái 789
  • Hướng Dẫn Đăng Nhập 12Bet Chính Chủ 2022 Trong 1 Giây
  • Hướng Dẫn Thiết Kế Website Bằng Bootstrap Từ A
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Khi nhìn xung quanh có bao giờ bạn thấy có những người luôn luôn tìm được những ý tưởng tuyệt vời mà bạn thì không? Và từ đó bạn chấp nhận rằng khả năng sáng tạo của mình là bị giới hạn so với họ, hay là khả năng tìm kiếm ý tưởng là một thứ của trời cho được ban phát không đồng đều? Nhưng nếu ngay cả như vậy thì có giải pháp nào khắc phục và phát huy hết khả năng của mỗi người không? Đó chính là lúc bạn cần đến kỹ thuật Brainstorming.

    Vậy kỹ thuật Brainstoming là gì?

    Đơn giản đây là phương pháp giúp cho não của bạn hoạt động một cách hiệu quả và sáng tạo nhất. Brainstorming không chỉ dành riêng cho những họa sĩ bậc thầy hay những nhà thiết kế đồ họa lâu năm mà còn có thể được sử dụng bởi tất cả mọi đối tượng, những người cần tới sự sáng tạo, tìm kiếm cái mới cho dù họ là họa sĩ, kỹ sư hay một chuyên gia kinh tế.

    Điều gì tạo nên sự khác biệt giữa một nhà thiết kế và số còn lại? Đó chính là sự độc đáo trong ý tưởng và cách thể hiện. Vậy làm cách nào để có những ý tưởng thật sự độc đáo? Hãy ví dụ có 100 nhà thiết kế nghĩ ra đuợc 100 ý tưởng khác nhau, và nếu ý tưởng của bạn không thể nào vượt qua ranh giới của 100 ý tưởng này thì chắc chắn rằng cho dù ý tưởng của bạn có hay tới mức nào thì cũng chỉ là một sự sao chép. Nhưng hãy hình dung nếu bạn có thể đưa ra được 101 ý tưởng, điều này có nghĩa chắc chắn bạn đã tạo ra được một điều gì đó hoàn toàn mới mẻ. Bạn đã đạt được 1 sự khác biệt so với những người còn lại, nhưng nếu bạn đã có 1 ý tưởng mới rồi, vậy chuyện gì sẽ xảy ra nếu bạn có thể nghĩ ra tới 110 ý tưởng. Khi đó bạn sẽ có rất nhiều cơ hội để có thể so sánh và lựa chọn ra ý tưởng nào là tối ưu nhất để có thể ứng dụng vào thực tế.

    Câu hỏi ở đây là: vậy số ý tưởng đưa ra bao nhiêu là đủ? bạn có thể thỏa mãn chỉ với một ý tưởng mới, nhưng cứ thử nghĩ nếu ta phát triển thêm từ nó thì kết quả đạt được sẽ hiệu quả hơn biết chừng nào. Vậy câu trả lời cho câu hỏi trên là giới hạn của số ý tưởng đưa ra chính là tất cả những ý tưởng mà bạn còn có thể nghĩ ra và phát triển được. Hãy bỏ qua những giới hạn và bắt bộ nào hoạt động hết khả năng, khi đó bạn sẽ thật sự bị bất ngờ bở khả năng sáng tạo của chính mình.

    Đôi lúc chúng ta suy nghĩ thường đi theo một lối cố định nào đó, ví dụ những một đứa bé xây dựng những ngôi nhà đồ chơi, thì theo logic luôn luôn ây từ sàn cho tới nóc. Vậy bây giờ nếu ta đảo ngược toàn bộ tiến trình xây dựng lại hay thậm chí sắp xếp một cách ngẫu nhiên thì sao? Đã bao giờ bạn dọn dẹp lại những đồ đạc mà bạn nghĩ đã được sắp xếp một cách ngăn nắp và phát hiện ra những thứ mà bạn đã bỏ nhiều công sức để tìm tại một chỗ khác? Đó chính là suy nghĩ theo một mô hình có sẵn rằng đồ vật đó không thể được tìm thấy tại nơi mình đã sắp xếp. Cũng như vậy, ý tưởng luôn nằm ở nơi bạn hoàn toàn không ngờ tới, cách hiệu quả nhất để tìm kiếm là hãy lục tung tất cả lên, phá vỡ sự ngăn nắp trong suy nghĩ của bạn, bày bữa tất cả chúng ra trên mặt đất để có thể nhìn ngắm ở nhiều góc độ, kết hợp nhiều thứ với nhau,… Tới đây bạn có thể sẽ thắc mắc, làm sao có thể bày tất cả ý tưởng của mình ra như đồ vật trong một căn phòng?

    Vậy Brainstorming ngoài việc đưa ra thật nhiều ý tưởng, nó còn giúp ta được gì nữa không?

    Brainstorming giúp ta phân tích kỹ vấn đề, tự xem xét tất cả vấn đề có thể xảy ra khi trong khi ta liên tục đặt ra những câu hỏi: Nếu vậy, giả sử như …

    Ví dụ: bạn sẽ nhìn thấy rất rõ được chức năng của từng bộ phận trong căn nhà của bạn nếu liên tục đặt ra những câu hỏi nếu như không có nó thì sẽ như thế nào? hay giả sử nó để vào chỗ khác thì có ảnh hưởng ko? tổng thể sẽ ra sao nếu nó có hình dạng khác với hình dạng chuẩn? … Hay khi đặt câu hỏi nếu đang làm mà mất đi một bộ phận của nhà thì sẽ lấy gì để thay thế?… Những câu hỏi như vậy sẽ giúp bạn hình dung và đưa ra giải pháp xử lý tình huống bất ngờ một cách sáng suốt nhất. Đưa ra nhiều tham số để lựa chọn, bạn sẽ dễ dàng để lựa chọn được cách tối ưu nhất. Như khi bạn chỉ có 2 màu sơn để sơn một căn phòng cho thích hợp, bạn sẽ phải buộc hài lòng với một trong hai, nhưng khi có trong tay tới 20 màu sơn thì bạn hoàn toàn lựa chọn màu sắc nào là thích hợp với tính cách bản thân mình nhất. Bạn chỉ có thể có được kết quả tốt nhất khi bạn có được ý tưởng tốt nhất.

    Brainstorming có những phương pháp và kỹ thuật nào?

    Khi bắt đầu brainstorming, bạn hãy chú ý đến những kỹ thuật:

    1. Quan sát những điều mới mẻ

    Khi đứng trước một đồ vật là lùng, câu hỏi đầu tiên của bạn sẽ là chính xác đây là cái gì? nó có công dụng gì và dùng ra sao? chính sự phán đoán khi không biết rõ sẽ dẫn tới những ý tưởng thú vị, ngay cả khi những phán toán đó hoàn toàn không đúng với thực tế. Đã bao giờ bạn nghĩ một cây antena có kiểu dạng lạ là một cây cột thu lôi hay chưa? Hay mỗi ngày khi đi về nhà bạn đều đi đúng một con đường duy nhất, nhìn cùng một cảnh vật nên lâu ngày sẽ chẳng buồn ngó đến cảnh vật xung quanh. Hãy thử một lần khám phá một con đường mới về nhà mà bạn chưa từng đi, khi đó bạn thấy bạn sẽ phải chú ý đến cảnh vật xung anh nhiều hơn. Du lịch, gặp gỡ những người bạn mới đều là những cách để khám phá và tích lũy những ý tưởng mới để có thể sử dụng khi cần thiết.

    2. Hãy nhìn lại thật kỹ những thứ bình thường mà bạn nhìn thấy hàng ngày.

    Một vết loang trên bàn gỗ trên bàn làm việc, đã bao giờ bạn nhìn kỹ nó thật gần để tìm hiểu nó là do trà, café hay thứ gì để lại… Nhìn kỹ những bảng hiệu, con người trên đoạn đường đi về hàng ngày, bạn sẽ nhật thấy những điều vô cùng ngạc nhiên mà bình thường bạn bỏ qua hay nghĩ là không cần thiết. Hãy tìm cách suy nghĩ phát triển những điều mình thấy, ví dụ như nhìn thấy một ngã tư, bạn hãy hình dung nếu có đèn tín hiệu giao thông thì sẽ thế nào? nếu không có thì sao hay thậm chí giải sử có một vòng xoay thì giao thông và cảnh vật sẽ thế nào? Cuối cùng, hãy quan sát thật kỹ những thành phần cấu tạo nên thứ bạn đang nhìn. Có trong tay một hộp quà, hãy khoan vội mở nó ra để lấy thứ bên trong, hãy quan sát thật kỹ tới hộp đựng, giấy gói, nơ, hoa văn trên giấy, kết dính ra sao? …

    3. Kết hợp nhiều ý tưởng để tạo ra ý tưởng mới

    Đây là một bước vô cùng quan trọng trong việc tìm kiếm những ý tưởng mới. Giả sử ta có một cây đèn và một chiếc đồng hồ trong tay, nếu kết hợp chúng lại thì sẽ như thế nào? một cây đèn có gắn đồng hồ? một chiếc đèn hẹn giờ bật tắt? một chiếc đồng hồ dạ quang? hay đồng hồ sử dụng năng lượng ánh sáng? một chiếc đồng hồ du lịch có thể phát sáng để soi đường? Kết hợp hai hay nhiều thứ khác nhau lại với nhau theo chức năng, hình dạng, cấu tạo và bạn sẽ bất ngờ với những ý tưởng mới nghe có thể là vô lý những hoàn toàn có thể là bước bắt đầu cho một sản phẩm đột phá.

    4. Đặt ý tưởng trong những điều kiện khác thường và đối nghịch:

    Cố gắng khai thác sự đối nghịch với ý tưởng đang có sẽ giúp ta có 2 ý tưởng hoàn toàn khách nhau. Ví dụ như tại sai phải xây một ngôi nhà đầy góc cạnh mà không xây một ngôi nhà tròn? hay tại sao phải lắp ráp một máy tính có kích thước lớn mà không lắp ráp một máy tính thật nhỏ gọn, tiết kiệm diện tích?

    Bên cạnh đó hãy đặt ý tưởng vào trong những điều kiện khác thường,. Ví dụ một chiếc máy tính thu nhỏ hết cỡ thì sẽ như thế nào? Có thể xách tay? có thể bỏ túi áo? hay thậm chí có thể ghép dưới da?, một chiếc bánh nếu phóng thật lớn trông nó sẽ ra sao?

    5. Cuối cùng là phải biết đặt ra những giới hạn và luật lệ khi Brainstorming.

    Đến đây bạn đã nắm bắt được cơ bản của kỹ thuật Brainstorming. Ý tưởng sáng là thứ đóng vai trò quyết định trong bất cứ lĩnh vực nào và giới hạn của bộ não bạn là vô cùng. Hãy kết hợp và sử dụng Brainstorming đúng lúc để khai thác nó một cách hiệu quả nhất. Tập thành thói quen thúc đẩy não làm việc hết sức khi cần ý tưởng.

    Hãy nhớ rằng một ý tưởng tốt là bước đầu tiên để có một tác phẩm hoàn hảo.

    Theo chienluocmarketing

    --- Bài cũ hơn ---

  • Brainstorming Là Gì ? Phương Pháp Sử Dụng Brainstorm Nhóm
  • 18 Món Ăn Dặm Blw Đúng Phương Pháp Cho Bé Từ 6
  • Phương Pháp Ăn Dặm Blw Là Gì
  • Hướng Dẫn Cách Cho Bé 6 Tháng Ăn Dặm Theo Phương Pháp Blw Hiệu Quả
  • Price Action Là Gì? Cách Giao Dịch Với Price Action Toàn Tập
  • Các Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Bai Giang Pp Doi Moi Theo Day Hoc Tich Cuc Ppt
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Trong Môn Địa Lý
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Hiện Đại Trong Bài 11 Lịch Sử 10
  • Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học
  • Một Số Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học
  • Việc sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học khác nhau không chỉ làm tăng chất lượng đào tạo mà còn làm tăng hiệu quả đào tạo trong việc đạt các mục tiêu đào tạo đề ra.

    Theo Tim Wenling (Planing for effective training – A guide to curriculum development, FAO-UN,1993), đã qui các phương pháp và kỹ thuật dạy học vào tám phương pháp dạy học phổ biến nhất đó là:

    1/ Phương pháp diễn giảng (thuyết trình):

    Diễn giải là phương pháp dạy học thông dụng nhất, nhưng không phải lúc nào cũng là hiệu quả nhất. Giảng viên dùng lời nói cùng với các phương tiện kỹ thuật thông tin, nghe nhìn như: Bảng – phấn, văn bản in, overhead transparencies, video/film, máy tính, để diễn giảng cho người học nghe, phát hiện và hiểu các khái niệm, hiện tượng, qui luật, nguyên lý của các quá trình.

    – Ưu điểm của phương pháp diễn giảng:

    + Chủ động trong tiến trình đào tạo: tập trung vào chủ điểm, kiểm soát được nội dung và thứ tự thông tin truyền đạt trong thời gian định trước;

    + Truyền đạt được khối lượng lớn kiến thức trong một thời gian gới hạn;

    + Phù hợp với số đông người học, thiếu trường lớp, thiếu phương tiện.

    ng pháp này. Tạo điều kiện để các nhóm tự đánh giá lẫn nhau hoặc cả lớp cùng đánhgiá. 3.6.Các cách thành lập nhóm Có nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học. Bảng sau đây trình bày 10 cách theo tiêu chí khác nhau. + Ưu điểm - Nhược điểm Tiêu chí Cách thực hiện - Ưu, nhược điểm 1. Các nhóm gồm những người tự nguyện, chung mối quan tâm + Đối với HS đây là cách dễ chịu nhất để thành lập nhóm, đảm bảo công việc thành công nhanh nhất. - Dễ tạo sự tách biệt giữa các nhóm trong lớp, vì vậy cách tạo nhóm như thế này không nên là khả năng duy nhất. 2. Các nhóm ngẫu nhiên Bằng cách đếm số, phát thẻ, gắp tăm, sắp xếp theo màu sắc... + Các nhóm luôn luôn mới sẻ đảm bảo là tất cả các HS đều có thể học tập chung nhóm với tất cả HS khác. - Nguy cơ có trục trặc sẽ tăng cao, HS phải sớm làm quen với việc đó để thấy rằng cách lập nhóm như vậy là bình thường 3. Nhóm ghép hình Xé nhỏ một bức tranh trong các tờ tài liệu xử lí, HS được phát các mẫu xé nhỏ, những HS ghép thành bức tranh hoặc tờ tài liệu đó sẽ tạo thành nhóm. + Cách tạo lập nhóm kiểu vui chơi, không gây ra sự đối địch - Cần một chi phí để chuẩn bị và cần nhiều thời gian hơn để tạo lập nhóm. 4. Các nhóm với đặc điểm chung Ví dụ: Tất cả những học sinh cùng sinh ra trong mùa đông, mùa xuân, mùa hè, mùa thu sẽ tạo thành nhóm. + Tạo lập nhóm một cách độc đáo, tạo nhiều niềm vui cho HS có thể biết nhau rõ hơn. - Cách làm này mất đi tính độc đáo nếu được sử dụng thường xuyên. 5. Các nhóm cố định trong một thời gian dài Các nhóm duy trì trong một số tuần hoặc một số tháng, các nhóm này thậm chí có thể được đặt tên riêng. + Cách làm này đã được chứng tỏ tốt trong những nhóm học tập có nhiều vấn đề. - Sau khi quen nhau một thời gian dài thì việc áp dụng các nhóm mới sẽ khó khăn. 6. Nhóm HS khá để hỗ trợ HS yếu Những HS khá giỏi trong lớp cùng luyện tập với các HS yếu hơn và đảm nhận nhiệm vụ của người hướng dẫn. + Tất cả đều được lợi. Những HS giỏi đảm nhận trách nhiệm, những HS yếu được giúp đỡ. - Ngoài việc mất nhiều thời gian thì chỉ có một nhược điểm, trừ phi những HS giỏi hướng dẫn sai. 7. Phân chia theo năng lực học tập khác nhau Những HS yếu hơn sẽ xử lý các bài tập cơ bản, những HS đặc biệt giỏi sẽ nhận thêm những bài tập bổ sung. + HS có thể tự xác định mục đích của mình. Ví dụ ai bị điểm kém trong môn toán thì có thể tập trung vào một ít bài tập. - Cách làm này dẫn đến kết quả là nhóm học tập cảm thấy bị chia thành những HS thông minh và những HS kém. 8. Phân chia theo các dạng học tập Được áp dụng thường xuyên khi học tập theo tình huống, những HS thích học tập với hình ảnh, âm thanh hoặc biểu tượng sẽ nhận được những bài tập tương ứng. + HS sẽ biết các em thuộc dạng học tập như thế nào? - HS chỉ học những gì mình thích và bỏ qua những nội dung khác. 9. Nhóm với các bài tập khác nhau Ví dụ, trong khuôn khổ một dự án, một số HS sẽ khảo sát một xí nghiệp, một số khác khảo sát một cơ sở chăm sóc xã hội... + Tạo điều kiện học tập theo kinh nghiệm đối với những gì đặc biệt quan tâm. - Thường chỉ có thể áp dụng trong khuôn khổ một dự án lớn. 10. Phân chia HS nam và nữ - Nếu bị lạm dụng sẽ dẫn đến mất bình đẳng nam nữ. 4. DẠY HỌC TRỰC QUAN 4.1.Bản chất Dạy học trực quan (hay còn gọi là trình bày trực quan) là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới, khi ôn tập, củng cố, hệ thống hóa, và kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. PPDH trực quan thể hiện dưới hai hình thức minh họa và trình bày: - Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họa như bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng... - Trình bày thường gắn liền với việc trình bày thí nghiệm, những thiết bị kỹ thuật, chiếu đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video. Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực khách quan được lựa chon cẩn thận về mặt sư phạm. Nó là cơ sở, là điểm xuất phát cho quá trình nhận thức - học tập của HS, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn. Thông qua sự trình bày của GV mà HS không chỉ lĩnh hội dễ dàng tri thức mà còn giúp họ học tập được những theo tác mẫu của GV, từ đó hình thành kĩ năng, kĩ xảo... 4.2.Quy trình thực hiện - GV treo những đồ dùng trực quan có tính chất minh họa hoặc giới thiệu về các vật dụng thí nghiệm, các thiết bị kỹ thuật...Nêu yêu cầu định hướng cho sự quan sát của HS. - GV trình bày các nội dung trong lược đồ, so đồ, bản đồ...tiến hành làm thì nghiệm, trình chiều các thiết bị kỹ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh.... - Gv yêu cầu một hoặc một số HS trình bày lại, giải thích nội dung sơ đồ, biểu đồ, trình bày những gì thu nhận được qua thí nghiệm hoặc qua những phương tiện kỹ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh. - Từ những chi tiết, thông tin HS thu được từ phương tiện trực quan, GV nêu câu hỏi yêu cầu HS rút ra kết luận khái quát về vấn đề mà phương tiện trực quan chuyển tải. 4.3. Ưu điểm Nguyên tắc trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học nhằm tạo cho HS những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật. Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất kiến thức, là phương tiện có hiệu lực để hình thành các khái niệm, giúp HS nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội. Ví dụ, khi nghiên cứu bức tranh "Hình vẽ trên vách hang", HS không chỉ có biểu tượng về săn bắn là công việc thường xuyên và hàng đầu của thị tộc, mà còn hiểu: nhờ chế tạo cung tên, con người đã chuyển hẳn hình thức săn bắt sang săn bắn, có hiệu quả kinh tế cao hơn. Điều đó giúp HS biết sự thay đổi trong đời sống vật chất của con người thời nguyên thủy luôn gắn chặt với tiến bộ kỹ thuật chế tác công cụ của họ. Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp HS nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịnh sử. Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan. Vì vậy, cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm lịch sử, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của HS. 4.4.Nhược điểm Phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian, GV cần tính toán kĩ để phù hợp với thời lượng đã quy định. Nếu sử dụng đồ dùng trực quan, không khéo làm phân tán chú ý của HS, HS không lĩnh hội được những nội dung chính của bài học. Khi sử dụng đồ dùng trực quan, đặc biệt khi quan sát tranh ảnh, các phim điện ảnh, phim video nếu GV không định hướng cho HS quan sát sẽ dẫn đến tình trạng HS sa đà vào những chi tiết nhỏ lẻ không quan trọng. 4.5. Một số lưu ý Khi sử dụng đồ dùng trực quan dạy học cần chú ý các nguyên tắc sau: - Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dục của bài học để lựa chọn đồ dùng trực quan tương ứng thích hợp. Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống đồ dùng trực quan phong phú, phù hợp với từng loại bài học - Có PP thích hợp đối với việc sử dụng mỗi loại đồ dùng trực quan. - Phải đảm bảo sự quan sát đầy đủ đồ dùng trực quan của HS. - Phát huy tính tích cực của HS khi sử dụng đồ dùng trực quan - Đảm bảo kết hợp lời nói việc trình bày các đồ dùng trực quan, đồng thời rèn luyện khả năng thực hành của HS khi xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan (đắp sa bàn, vẽ bản đồ, tường thuật trên bản đồ, đồ thị, bảng niên biểu...Trước khi sử dụng chúng cần chuẩn bị thật kĩ. (nắm chắc nội dung, ý nghĩa của từng loại phục vụ cho nội dung nào của giờ học...). Trong khi giảng cần xác định đúng thời điểm để đưa đồ dùng trực quan. - Loại đồ dùng trực quan cỡ nhỏ được sử dụng riêng cho từng học sinh trong giờ học, trong việc tự học ở nhà, GV phải hướng dẫn HS sử dụng tốt loại đồ dùng trực quan này: quan sát kĩ, tìm hiểu sâu sắc nội dung, hoàn thành các bài tập, tập vẽ bản đồ, chứ không phải "can" theo sách. Trong dạy học một số môn như Lịch sử, Địa lí, Sinh học, Âm nhạc, Công nghệ, Mĩ thuật...ở trường phổ thông, việc kết hợp chặt chẽ giữa lời nói sinh động với sử dụng đồ dùng trực quan là một trong những điều quan trọng nhất để thực hiện nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. Sử dụng các đồ dùng trực quan cần theo một quy trình hợp lí để có thể khai thác tối đa kiến thức từ các đồ dùng trực quan. Cần chuẩn bị câu hỏi/hệ thống câu hỏi dẫn dắt HS quan sát và tự khai thác kiến thức. 5. DẠY HỌC VÀ LUYỆN TẬP THỰC HÀNH 5.1. Bản chất Luyện tập và thực hành nhằm củng cố, bổ sung, làm vững chắc thêm các kiến thức lí thuyết. Trong luyện tập, người ta nhấn mạnh tới việc lặp lại với mục đích học thuộc những "đoạn thông tin": đoạn văn, thơ, bài hát, kí hiệu, quy tắc, định lí, công thức, ... đã học và làm cho việc sử dụng kĩ năng được thực hiện một cách tự động, thành thục. trong thực hành, người ta không chỉ nhấn mạnh vào việc học thuộc mà cong nhằm áp dụng hay sử dụng một cách thông minh các trí thức để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau. Vì thế, trong dạy học, bên cạnh việc cho HS luyện tập một số chi tiết cụ thể, GV cũng cần lưu ý cho HS thực hành phát triển kĩ năng. 5.2.Quy trình thực hiện Bước 1: Xác định tài liệu cho luyện tập và thực hành Bước này bao gồm việc tập trung chú ý của HS về kỹ năng cụ thể hoặc những sự kiện cần luyện tập hoặc thực hành. Bước 2:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Phù Hợp, Hiệu Quả Trong Nhà Trường Thcs (Tài Liệu Tham Khảo)
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh
  • Chuyen De Ve Lai Mach Dien Và Tính Giá Trị Điện Trở
  • Tập Huấn Văn:phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Mtt: Phương Pháp, Công Cụ Và Kỹ Thuật

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Bằng Mục Tiêu (Mbo)
  • Mbo Là Gì? Khám Phá Cách Nhà Quản Trị Quản Lý Doanh Nghiệp
  • 5 Kỹ Thuật Nlp Giúp Thay Đổi Cuộc Sống Của Bạn
  • Sơ Lược Về Lập Trình Ngôn Ngữ Tư Duy (Nlp)
  • Những Điều Cần Biết Về Phương Pháp Xét Nghiệm Nipt Và Chọc Ối
  • MTT có nghĩa là gì? MTT là viết tắt của Phương pháp, công cụ và kỹ thuật. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Phương pháp, công cụ và kỹ thuật, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Phương pháp, công cụ và kỹ thuật trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của MTT được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài MTT, Phương pháp, công cụ và kỹ thuật có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    MTT = Phương pháp, công cụ và kỹ thuật

    Tìm kiếm định nghĩa chung của MTT? MTT có nghĩa là Phương pháp, công cụ và kỹ thuật. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của MTT trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của MTT bằng tiếng Anh: Phương pháp, công cụ và kỹ thuật. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, MTT được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Phương pháp, công cụ và kỹ thuật. Trang này là tất cả về từ viết tắt của MTT và ý nghĩa của nó là Phương pháp, công cụ và kỹ thuật. Xin lưu ý rằng Phương pháp, công cụ và kỹ thuật không phải là ý nghĩa duy chỉ của MTT. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của MTT, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của MTT từng cái một.

    Ý nghĩa khác của MTT

    Bên cạnh Phương pháp, công cụ và kỹ thuật, MTT có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của MTT, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Phương pháp, công cụ và kỹ thuật bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Phương pháp, công cụ và kỹ thuật bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuốc Đặt Clomezol Giá Bao Nhiêu? Có Tác Dụng Gì? Mua Ở Đâu?
  • Thuốc Đặt Clomezol Có Công Dụng Gì? Cách Dùng Như Thế Nào?
  • Bí Kíp Trị Nám Tàn Nhang Bằng Phương Pháp Mezosure Tại Doctor Mezo
  • Siêu Căng Bóng Da Mặt Bằng Phương Pháp Mulgwang
  • Cấy Mulgwang Là Gì? Có Tốt Không? Giá Bao Nhiêu? [Tổng Hợp A
  • Các Phương Pháp In Ấn Kỹ Thuật Trên Vải Lụa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bạn Đã Biết Gì Về Phương Pháp In Chuyển Nhiệt Và In Lưới?
  • Học Cách Làm Chả Lụa Ngon, Giòn Dai, Không Hàn The
  • Những Phương Pháp Giúp Chả Lụa Tự Làm Trở Nên Dai Ngon Hơn
  • Dây Chuyền Máy Làm Giò Chả
  • Phương Pháp Lặp Giải Hệ Phương Tuyến Tính Số Chiếu Lớn
  • Ngày nay việc in ấn trên các chất liệu vải được áp dụng khá phổ biến, cùng với đó là các công nghệ in được áp dụng nhằm tạo ra các sản phẩm đẹp, chất lượng cao với giá thành hợp lý. Chúng tôi giới thiệu đến độc giả ba trong số các công nghệ in hiện đại hiện nay được áp dụng để in trên các chất liệu vải: Phương pháp in lụa, Phương pháp in chuyển nhiệt và phương pháp in kỹ thuật số.

    Hình ảnh xưởng in vải tại Công ty In Đức Nam

    phương pháp in ấn trên vải lụa

    1. Phương pháp in lụa: là một dạng trong kỹ thuật in lưới. Để họa tiết cần in có độ tinh xảo cao hơn, lưới được dùng là loại vải lụa nên còn được gọi là in lụa.

    Ưu điểm: chi phí thấp, in số lượng nhiều, có thể in trên nhiều loại chất liệu khác nhau, chủ động về màu sắc.

    Khuyết điểm: bản in chấp nhận được, độ nét tạm, mất nhiều thời gian để chuẩn bị.

    2. Phương pháp in chuyển nhiệt: Ứng dụng rộng rãi trong các công việc của ngành in như : ép áo, ép Gạch men, ép nhũ vi tính, ép keo, ép Cườm đá ….Dùng trong các ngành in thủ công như in lụa, in nhiệt hay kết cường áo, ép nhủ lên giấy vải, da, nhựa… Mực nhiệt sẽ thấm trực tiếp vào từng sợi vải nên độ bền màu cao, màu sắc trung thực, hình ảnh rõ nét.

    Ưu điểm:

    – In các tấm hình, hoa văn, hoạ tiết có màu sắc phức tạp …lên vải, sản phẩm một cách dễ dàng như in trên giấy in ảnh.

    – Ủi trực tiếp lên vải, không bị phai màu khi giặt (ngay cả khi giặt với thuôc tẩy).

    – Vốn đầu tư nhỏ, sử dụng dễ dàng, không đòi hỏi trình độ, tiết kiệm chi phí và thời gian cho quá trình in ấn.

    Khuyết điểm: chỉ in đẹp trên các màu vải sáng (trắng, hồng phấn, xanh da trời…), đôi khi hình bị bể mặt khi kéo giãn áo quá mức, yêu cầu in bằng file gốc, không thể canh chỉnh màu sắc, số lượng ít, giá thành cao.

    3. Phương pháo in Kỹ thuật số: Công nghệ in kỹ thuật số hiện đại KORNIT lần đầu xuất hiện tại Việt Nam. Máy KORNIT là máy công nghiệp đầu tiên có thể in trực tiếp lên quần áo, không qua giai đoạn trung gian nào. Máy KORNIT có thể in cùng một lúc với tốc độ nhanh, chất lượng tốt, màu sắc đẹp (có thể lên đến 630 điểm ảnh), không phải qua công đoạn làm khuôn. Máy in KORNIT sử dụng hệ thống mực độc quyền của chính hãng, không gây ảnh hưởng sức khỏe người sử dụng sản phẩm và thân thiện với môi trường. Đặc biệt hệ thống mực trên máy tự động pha màu và cho ra hình ảnh in có độ chính xác cao, không như các công nghệ in khác.

    Ưu điểm: nhanh chóng, độ chính xác cao hơn (630 điểm ảnh). Sản phẩm in trên vải có độ bền, màu sắc trung thực, in được trên mọi chất liệu vải & màu của vả,i đặc biệt hiệu quả cao khi in trên vải màu trắng.

    Khuyết điểm: chi phí đầu tư lớn, phải dùng mực chuyên dụng, in số lượng ít (25-40 áo/giờ), yêu cầu in bằng file gốc (file có độ nét cao), giá thành cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • In Lụa Trên Vải Là Gì? Vì Sao Đây Là Phương Pháp Phổ Biến Nhất?
  • Phương Pháp Phổ Hồng Ngoại (Phổ Ir)
  • Phương Pháp Chọn Tips Cá Cược Bóng Đá Hiệu Quả
  • Tạo Đường Thông Cửa Chủ Trong Gan Qua Tĩnh Mạch Cảnh Trong (Tips)
  • 5 Công Thức Làm Nước Gà
  • Phương Pháp Giảng Dạy Kỹ Thuật Phát Triển Sức Mạnh Tốc Độ Trong Môn Nhảy Xa Kiểu Ngồi

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Các Kĩ Năng Giao Tiếp
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Giảm Tỉ Lệ Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học
  • Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Lý Luận Chính Trị Cho Cán Bộ Lãnh Đạo, Quản Lý Cấp Tỉnh
  • Phương Pháp Giảng Dạy Tại Trường Đh Công Nghiệp Thực Phẩm Tphcm
  • Môn Học: Phương Pháp Giảng Dạy Lý Thuyết 2
  • Cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    đề tài sàng kiiến kinh nghiệm

    I – sơ yều lý lịch

    – Họ và tên : trần thị huế

    – Ngày thàng năm sinh : 20 / 10 / 1971

    – Năm vào nghành : 1997

    – Chức vụ và đơn vị công tác : Giáo viên

    Trờng THCS Cao Viên – Thanh Oai -Hà Nội

    – Trình độ chuyên môn : Đại học S phạm Thể dục

    – Hệ đào tạo : Tại chức

    – Bộ môn giảng dạy : Thể dục ( Giáo dục thể chất )

    – Ngoại ngữ :

    – Trình độ chính trị :

    – Sơ cấp : Qua lớp sơ cấp

    – Trung cấp :

    – Đại học :

    – Sau đại học :

    – Khen thởng (ghi hình thức cao nhất ) :

    Chiến sỹ thi đua ( Giáo viên giỏi cấp Cơ sở ).

    II – nội dung của đề tài

    1. Tên đề tài :

    ” Phơng pháp giảng dạy kỹ thuật phát triển sức mạnh tốc

    độ trong môn nhảy xa kiểu ngồi ”

    2. Lý do chọn đề tài :

    Sức khoẻ là vốn quý nhất mà tạo hoá ban tặng cho con ngời. Có sức khoẻ

    tốt là yếu tố quan trọng, là điều kiện, là nền tảng để con ngời dễ đạt đợc những

    thành quả cao trong cuộc sống, trong công tác và học tập .

    Tôi thấy: Giáo dục thể chất cho thanh thiếu niên là một bộ phận cơ bản

    trong hệ thống giáo dục, là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của

    Đảng .

    ” Giáo dục thể chất để bảo vệ và tăng cờng sức khoẻ góp phần đào tạo con

    ngời phát triển toàn diện, có sức khoẻ dồi dào, có thể chất cờng tráng trong học

    sinh.

    Giáo dục cho các em nâng cao về t tởng đạo đức, lý tởng cao đẹp, dũng khí

    kiên cờng, có lối sống vui tơi lành mạnh , ở lứa tuổi các em thcs đây là một

    điều kiện cơ sở làm nền tảng cho sự phát triển sau này .

    Các em đợc làm quen , xây dựng các kỹ năng vận động, kỹ xảo vận động,

    từ đó phát triển các phẩm chất vận động. Giúp các em vận dụng một cách linh

    hoạt trong cuộc sống cũng nh học tập và lao động .

    Môn học phát triển sức mạnh tốc độ cũng là một yêu cầu cần thiết và cũng

    là nhu cầu của con ngời muốn chinh phục đỉnh cao. Rèn luyện sức mạnh tốc độ

    giúp các em có đợc sự nhanh nhạy, linh hoạt trong cuộc sống.

    Xây dựng sức mạnh tốc độ trong nhảy xa là một trong những môn cơ bản

    của TDTT, đồng thời cũng là môn học chính của các em trong trờng phổ thông.

    Xuất phát từ mục tiêu giảng dạy, giúp cho các em hiểu đợc và nắm vững

    các yêu cầu kỹ thuật cơ bản của động tác, tích cực hoá hoạt động của học sinh d-

    ới sự hớng dẫn của Giáo viên, Học sinh tự giác, chủ động, tìm tòi phát hiện kiến

    2

    thức và có ý thức vận dụng , sáng tạo những kiến thức, kỹ năng thu nhận đợc vào

    thực tế .

    Tuy nhiên qua nhiều năm giảng dạy bộ môn thể dục tại trờng THCS Cao

    Viên tôi thấy rằng quá trình dạy học kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi phần lớn học

    sinh thực hiện động tác mà không hiểu kỹ thuật. Qua nghiên cứu từ những kinh

    nghiệm giảng dạy bộ môn, tôi mạnh dạn đa ra ý kiến của mình về phơng pháp

    dạy học” kỹ thuật nhảy xa kiểu ngồi ”. Việc thực hiện phơng pháp này sẽ tác

    động tích cực đến chất lợng học tập của học sinh, tạo đợc hứng thú, say mê học

    tập môn thể dục cũng nh các môn TDTT khác.

    Từ những lý do trên tôi đã quyết định chọn ”Phơng pháp giảng dạy phát

    triển sức mạnh tốc độ trong môn nhảy xa kiểu ngồi ” làm đề tài sáng kiến kinh

    nghiệm cho mình .

    3. Phạm vi thực hiện đề tài :

    Phát triển sức mạnh tốc độ cho học sinh phổ thông là phơng pháp tập huấn

    cho nhiều năm gần đây . Nó luôn đợc coi trọng, đợc lồng ghép trong các giờ học

    tạo điều kiện cho học sinh phát triển tốt năng lực của mình .

    Trong năm học 2009 – 2010 bản thân tôi thấy mình học hỏi đợc nhiều kinh

    nghiệm và áp dụng đợc nhiều biện pháp tối u trong giảng dạy . Do vậy tôi đã

    quyết định tiến hành thực hiện đề tài : ” Phơng pháp giảng dạy phát triển sức

    mạnh tốc độ trong môn nhảy xa kiểu ngồi ” ngay từ đầu tháng 9 năm 2010 đến

    cuối tháng 11 năm 2010 đối với học sinh khối lơp 9 cụ thể là học sinh lớp 9E Tr-

    ờng THCS Cao Viên – Thanh Oai – Hà Nội , tôi đang trực tiếp giảng dạy .

    Mục đích chính thực hiện đề tài giúp cho học sinh hiểu rõ hơn về kỹ thuật

    nhảy xa kiểu ngồi từ đó tạo ra hứng thú học tập cho học sinh , nhằm nâng cao

    hiệu quả giờ học thể dục .

    4. Nội dung thực hiện đề tài :

    Đổi mới phơng pháp dạy học là áp dụng những phơng pháp hình thức dạy

    học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động ,sáng tạo của học sinh . Ngời thầy

    phải lấy học sinh làm trung tâm tổ chức học sinh hoạt động tích cực, tìm tòi

    khám phá ra tri thức mới. Trong việc dạy học theo phơng pháp đổi mới ngời giáo

    3

    viên đóng vai trò là ngời hớng dẫn học sinh hoạt động độc lập thì việc học mới

    đạt hiệu quả cao.

    Thể dục là môn học vận động, yếu tố kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng,

    có thực hiện đúng kỹ thuật mối đạt hiệu quả cao trong việc rèn luyện thân thể,

    mới đạt thành tích cao trong tập luyện TDTT .

    Vì vậy đòi hỏi ngời giáo viên phải không ngừng nghiên cứu, tìm tòi, học

    hỏi những phơng pháp mới phù hợp với học sinh . Trong đó yếu tố quan trọng đó

    là phải gây đợc hứng thú tập luyện cho học sinh bằng cách làm cho giờ học thật

    sinh động , phong phú , sôi nổi . Đó là cơ sở để tôi nghiên cứu và áp dụng phơng

    pháp giảng dạy kỹ thuật ” nhảy xa kiểu ngồi ” cho các em .

    III -quá trình thực hiện đề tài

    1. Khảo sát thực tế :

    Xuất phát từ thực tế của nhà trờng cũng nh tình trạng của học sinh hiện

    nay điều kiện phát triển tâm sinh lý đặc biệt ở lứa tuổi này còn rất hiếu động, hệ

    xơng cơ đang phát triển,hoạt động TDTT còn hạn chế. Điều kiện cơ sở vật chất,

    sân tập thiếu thốn nên trong quá trình giảng dạy kỹ thuật ”Nhảy xa kiểu ngồi” tôi

    nhận thấy học sinh thực hiện còn cha đúng kỹ thuật động tác , hiệu quả trong tập

    luyện cha cao nhận thức tập luyện của các em cha tích cực, cha nhiệt tình, dẫn

    đến khả năng phát triển và hình thành kỹ năng động táccho các em cũng rất

    khó .

    * Tình hình thực tế khi cha áp dụng phơng pháp của đề tài :

    Giảng dạy bộ môn thể dục trong Nhà trờng phổ thông là môn học rất quan

    trọng, giúp các em phát triển về thể chất, tăng cờng thể lực học sinh ,giúp học

    sinh có sức khoẻ để học tập, lao động. Đặc biệt để phát triển phẩm chất thể

    lực,sức mạnh tốc độ trong nhảy xa,xây dựng cho các em có thái độ học tập đúng

    kỹ thuật từng giai đoạn của nhảy xa kiểu ngồi.

    Nhng với điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn sân tập không đảm bảo

    dẫn đến thành tích của học sinh không cao .

    * Số liệu điều tra trớc khi thực hiện đề tài .

    4

    Trớc khi thực hiện kế hoạch tập luyện môn nhảy xa và xây dựng tố chất

    sức mạnh tốc độ cho các em.Tôi đã tiến hành kiểm tra thành tích nhảy xa của lớp

    9E với sĩ số là 40 em, trong đó nữ có 20 em và nam có 20 em.

    Kết quả đạt đợc nh sau :

    Nữ

    320cm – không có em nào.

    250cm – 300cm – có 7 em.

    200cm – 240cm – có 10 em.

    160cm – 190cm – có 3 em.

    Nam

    450cm – không – có em nào.

    400cm – 420cm – có 3 em .

    350cm – 390cm – có 5 em.

    300cm – 340cm – có 10 em.

    250cm – 280cm – có 2 em.

    * Nguyên nhân thành tích đạt thấp là do nhận thức về kỹ thuật của học

    sinh cha đúng, còn mắc phải nhiều sai sót nh .

    + Giai đoạn chạy đà: Chạy đà không chính xác, tốc độ không cao, không

    tạo đợc t thế chuẩn bị giậm nhảy. Đo đà không chính xác, bớc dài quá hoặc ngắn

    quá làm nhỡ đà.

    + Giai đoạn giậm nhảy: Giậm nhảy cha mạnh, không hết và bị lao.

    + Giai đoạn trên không: Thiếu thời kỳ bớc bộ, thu chân giậm sớm, gập

    thân ngời về trớc quá nhiều dẫn đến mất thăng bằng:

    + Giai doạn tiếp đất : Không với dợc cẳng chân rơi xuống đất bị ngã ra

    sau, hoặc lao về trớc, cha hạ thấp dợc trọng tâm .

    2. Những biện pháp thực hiện đề tài :

    Từ những nguyên nhân và kết quả trên cho thấy sức mạnh là khả năng

    khắc phục lực cản bên ngoài hoặc chống lại lực cản nhờ sự lỗ lực của cơ bắp .

    Trong hoạt động khắc phục lực cản là lực chống lại chuyển động, trong

    hoạt động nhợng bộ, lực cản là lực tác động theo hớng chuyển động .

    Cơ bắp có thể phát huy sức mạnh trong những trờng hợp sau :

    – Giảm độ dài của cơ ( chế độ khắc phục )

    – Không thay đổi độ dài của cơ ( chế độ tĩnh lực )

    – Tăng độ dài của cơ ( chế độ nhợng bộ )

    Các bài tập ở đây mang khuynh hớng mạnh tốc độ và hạn chế sức mạnh tĩnh.

    5

    Nhảy xa là môn điền kinh phát triển tố chất sức mạnh của chân,sự lỗ lực

    của co duỗi cơ đùi và cẳng chân kết hợp với đà nó đợc thể hiện qua sức mạnh tốc

    độ .

    Trong thực tế, môn nhảy xa để đa cơ thể bay theo một quỹ đạo nhất định,

    đợc tính theo công thức :

    Vo sin 2

    S =

    g

    a: là gia tố rơi tự do 9,8 m/s

    Vo: là tốc độ bay ban đầu

    : là góc độ bay

    S: là độ bay xa của vật thể

    Trần Thị huế

    ý kiến nhận xét đánh giá và xếp loại

    của Hội đồng khoa học cơ sở

    Chủ tịch Hội đồng

    ( Ký tên đóng dấu)

    11

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bai 6_Phuong Phap Giang Day Nhay Xa
  • Phương Pháp Giảng Dạy Kỹ Thuật Nhảy Xa “kiểu Ngồi”
  • Skkn Một Số Cách Cải Tiến Dạy Kĩ Năng Nghe Môn Tiếng Anh Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Kỹ Năng Nghe Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Trung Học
  • Phương Pháp Giảng Dạy Tiếng Nhật Hiệu Quả Tại Sofl
  • Chương 5. Phương Pháp Chuẩn Độ Kết Tủa

    --- Bài mới hơn ---

  • Fst 7 Là Gì ? Phương Pháp Bắt Những Bó Cơ Khó Tính Nhất Cũng Phải To
  • Fst 7 Là Gì? Phương Pháp Tăng Cơ Bắp Dành Cho Những Pro Thể Hình
  • 3 Phương Pháp Giảm Cân Nhanh, Bền Vững Đúng Trong Mọi Trường Hợp
  • 10 Phương Pháp Giảm Cân Không Cần Ăn Kiêng
  • Kinh Nghiệm Dạy Trẻ Theo Phương Pháp Glenn Doman
  • Published on

    1. 1. CHƯƠNG VII PHƯƠNG PHÁP CHUẨN ĐỘ KẾT TỦA
    2. 2. OÂN LAÏI MOÄT SOÁ TÍNH CHAÁT VEÀ KEÁT TUÛA Moät vaøi hôïp chaát ñöôïc cho laø hôïp chaát khoâng tan nhöng thöïc teá chuùng tan raát ít khoaûng 0,1g/100g H2O. Dung dòch baõo hoøa cuûa PbCrO4 khi ñaït traïng thaùi caân baèng ñöôïc moâ taû baèng phöông trình sau: PbCrO4 (s) Pb2+ (aq) + CrO4 2- (aq) T=
    3. 4. Trong moät lít dung dòch coù bao nhieâu g/L AgCl ? AgCl (s) Ag+ (aq) + Cl- (aq) T = Noàng ñoä ban ñaàu (M) Ñoä tan (M) Caân baèng(M) 0.00 +s 0.00 +s s s T = s2 s = Ksp√ s = 1.3 x 10-5 = 1.3 x 10-5 M Ñoä tan cuûa AgCl = 1.3 x 10-5 mol AgCl 1 L soln 143.35 g AgCl 1 mol AgCl x = 1.9 x 10-3 g/L T = 1.6 x 10-10 16.6
    4. 6. AÛnh höôûng cuûa ion chung ñeán ñoä tan Söï hieän dieän cuûa moät ion chung seõ laøm giaûm ñoä hoøa tan cuûa moät muoái Tính ñoä hoøa tan cuûa AgBr trong a. Nöôùc nguyeân chaát. b. dung dòch 0,001M NaBr. AgBr (s) Ag+ (aq) + Br- (aq) T = 7.7 x 10-13 s2 = T s = 8.8 x 10-7 NaBr (s) Na+ (aq) + Br- (aq) = s theo phaûn öùng : 3Zn2+ + 2K42↓ + 6K+
    5. 10. 3. PHÖÔNG PHAÙP ÑO BAÏC Giaû söû tieán haønh chuaån ñoä V0 ml dung dòch chöùa ion halogenur X− (Cl− , Br− , I− hay SCN− ) coù noàng ñoä C0(mol/l) baèng dung dòch AgNO3 coù noàng ñoä C (mol/l). Goïi V laø theå tích AgNO3 cho vaøo taïi moãi thôøi ñieåm cuûa quaù trình chuaån ñoä. F: möùc ñoä ion X- ñaõ ñöôïc chuaån ñoä 00VC CV F =
    6. 13. Ví duï : Veõ ñöôøng chuaån ñoä 50 ml dung dòch NaCl 0,1M baèng dung dòch AgNO3 0,1M. Bieát raèng TAgCl = 1,0.10−10 Phaûn öùng chuaån ñoä: Ag+ + Cl- = AgCl ↓ Taïi ñieåm töông ñöông theå tích AgNO3 baèng: ml x VV AgNODTD 50 1,0 1,050 3 ===
    7. 14. V F Coâng thöùc tính pCl pCl pAg GHI CHUÙ 0 0 pX = −lgC0 1,00 9,00 5 0,1 1,09 8,91 25 0,5 1,48 8,52 45 0,9 2,28 7,72 49,5 0,99 3,30 6,70 49,95 0,999 4,30 5,70 SS% = – 0,1% 50 1 5,00 5,00 Ñieåm töông ñöông 50,05 1,001 5,70 4,30 SS% = + 0,1% 50,5 1,01 6,70 3,30 75 1,5 7,79 2,21 100 2 8,70 1,30 VV VCCV pX + − −= 0 00 lg AgXpTpX 2 1 = VV CVVC pTpX AgX + − += 0 00 lg
    8. 15. Sai soá chuaån ñoä 100. VC VCCV % 00 00− =SS Taïi ñieåm töông ñöông AgXpTpX 2 1 = *Neáu keát thuùc ôû pX < pXTÑ : * Keát thuùc chuaån ñoä tröôùc ñieåm töông ñöông (dö dung dòch NaX ). Pheùp chuaån ñoä maéc sai soá thieáu SS% < 0 vaø ñöôïc kyù hieäu − X SS% 100. VC VCCV % 00 00− =− X SS
    9. 16. .100 VC ).10V(V % 00 pX 0 − + −=− X SS .100 CC ).10C(C % 0 pX 0 − + −=− X SS
    10. 18. Ví duï : Chuaån ñoä 100ml dung dòch NaI 0,1M baèng dung dòch AgNO3 coù cuøng noàng ñoä. a) Tính sai soá cuûa pheùp chuaån ñoä treân neáu keát thuùc chuaån ñoä ôû pAg = 11,7. b) Ñeå sai soá chuaån ñoä khoâng vöôït quaù 0,2% thì phaûi keát thuùc chuaån ñoä trong khoaûng pI baèng bao nhieâu ? Cho bieát : TAgI = 10−16
    11. 19. 4. CAÙC PHÖÔNG PHAÙP XAÙC ÑÒNH ÑIEÅM CUOÁI TRONG PHÖÔNG PHAÙP ÑO BAÏC a. Phöông phaùp Mohr Nguyeân taéc cuûa phöông phaùp laø theâm vaøo dung dòch chuaån ñoä moät ion coù khaû naêng taïo vôùi ion Ag+ moät keát tuûa coù maøu ñaäm ôû gaàn ñieåm töông ñöông. Mohr ñeà nghò duøng ion CrO4 2- laøm chæ thò Ag+ + CrO4 2- = Ag2CrO4 ↓ (ñoû gaïch) T(Ag2CrO4)= 10- 11,95
    12. 20. Quaù trình chuaån ñoä ion halogenur X− theo phöông phaùp Mohr xaûy ra nhö sau : Ag+ + X− = AgX↓ Khi vöøa dö moät gioït ion Ag+ thì : 2Ag+ + CrO4 2- = Ag2CrO4 ↓ (ñoû gaïch) Khi thaáy hoãn hôïp chuyeån töø maøu vaøng sang maøu hôi ñoû cuûa keát tuûa Ag2CrO4 thì ngöøng chuaån ñoä.
    13. 21. A Precipitation Titration An unknown concentration of chloride ion is being titrated … … with silver nitrate solution. The indicator is orange dichromate ion; white AgCl pcipitates. When the chloride has reacted completely … … the next drop of Ag+ solution produces brick-red silver dichromate.
    14. 22. Phöông phaùp Mohr ñöôïc duøng ñeå ñònh löôïng ion Cl− , Br − nhöng khoâng duøng ñeå ñònh phaân ion I− , SCN− vì keát tuûa AgI vaø AgSCN haáp phuï maïnh ion do ñoù seõ quan saùt thaáy söï chuyeån maøu tröôùc ñieåm töông ñöông raát xa, pheùp chuaån ñoä maéc sai soá lôùn. Phöông phaùp Mohr caàn tieán haønh trong moâi tröôøng coù pH = 6,5 ÷ 8,5 vì − Trong moâi tröôøng acid thì noàng ñoä ion giaûm ñi nhieàu do tham gia phaûn öùng: H+ + CrO4 2- = HCrO4 – Do ñoù seõ quan saùt söï chuyeån maøu ôû sau vaø xa ñieåm töông ñöông (sai soá lôùn). − Ngöôïc laïi, trong moâi tröôøng kieàm maïnh seõ xaûy ra phaûn öùng : 2Ag+ + 2OH− = 2AgOH ↓ 2AgOH = Ag O (ñen) + H O
    15. 23. b. Phöông phaùp Fajans Nguyeân taéc cuûa phöông phaùp naøy laø döïa treân khaû naêng thay ñoåi maøu saéc cuûa moät loaïi chæ thò đaëc bieät khi haáp phuï leân beà maët keát tuûa tích ñieän. Loaïi chæ thò naøy goïi laø chæ thò haáp phuï. Chæ thò haáp phuï laø caùc acid hoaëc baz höõu cô yeáu HInd = H+ + Ind− Hay IndOH = Ind+ + OH− Khaûo saùt quaù trình chuaån ñoä dung dòch Cl− baèng dung dòch AgNO3 vôùi chæ thò haáp phuï acid HInd : Ag+ + Cl− = AgCl Tröôùc ñieåm töông ñöông taïo heä keo aâm AgCl/NaCl { }++− − xNaNaxnnClmAgCl ])(,)[(
    16. 24. Sau ñieåm töông ñöông taïo heä keo döông AgCl/AgNO3 { }−−+ − 33 ])(,)[( xNONOxnnAgmAgCl Do taùc duïng phaân cöïc cuûa ion taïo theá Ag+ leân anion Ind− neân caáu truùc ñieän töû cuûa anion chæ thò bò thay ñoåi, daãn ñeán söï thay ñoåi maøu saéc chæ thò.
    17. 25. Caùc chæ thò haáp phuï thöôøng duøng laø : − Fluorescein : laø moät acid yeáu ( = 10−8 ) neân phaûi chuaån ñoä trong moâi tröôøng kieàm ñeå chæ thò phaân ly maïnh thì môùi thaáy roõ maøu. pH moâi tröôøng khoâng ñöôïc quaù 10 ñeå traùnh xaûy ra phaûn öùng : 2Ag+ + 2OH− = Ag2O ↓ (ñen) + H2O toát nhaát laø chuaån ñoä ôû pH = 6,5 ÷10. Fluorescein duøng trong chuaån ñoä caùc ion Cl− , Br− , I− . ÔÛ ñieåm töông ñöông dung dòch seõ chuyeån töø maøu luïc (coù aùnh huyønh quang) sang maøu ñoû hoàng. − EÙosin : Duøng ñeå chuaån ñoä caùc ion Br− , I− , SCN− ôû pH = 2 ÷ 10. ÔÛ ÑTÑ dung dòch chuyeån töø maøu luïc sang ñoû thaåm.
    18. 26. C. Phöông phaùp Volhard Nguyeân taéc : Döïa vaøo phaûn öùng chuaån ñoä ion Ag+ baèng ion SCN− vôùi ion Fe3+ laøm chæ thò : Ag+ + SCN− = AgSCN ↓ (traéng) Khi ñoù dö 1 gioït SCN− thì xuaát hieän maøu ñoû maùu cuûa phöùc Fe(SCN)2+ : Fe3+ + SCN− = FeSCN2+ Cho moät löôïng dö, chính xaùc dung dòch AgNO3 vaøo dung dòch X− (Cl− , Br− , I− ) : Ag+ + X− = AgX ↓ chuaån ñoä Ag+ dö baèng dung dòch chuaån SCN− vôùi Fe3+ laøm chæ thò nhö treân : Ag+ + SCN− = AgSCN ↓ Ngöøng chuaån ñoä khi thaáy maøu cuûa dung dòch chuyeån sang maøu hoàng.
    19. 27. Löu yù : Phöông phaùp naøy caàn thöïc hieän trong moâi tröôøng acid ñeå traùnh söï thuûy phaân cuûa ion Fe3+ (thöôøng duøng HNO3 noàng ñoä lôùn hôn 0,3M) − Khi xaùc ñònh I− baèng phöông phaùp naøy caàn cho AgNO3 dö tröôùc ñeå keát tuûa heát I− roài môùi theâm chæ thò Fe3+ ñeå traùnh phaûn öùng : 2Fe3+ + 2I− = 2Fe2+ + I2 − Khi xaùc ñònh Cl− baèng phöông phaùp naøy ôû ñieåm cuoái cuûa quaù trình chuaån ñoä seõ xaûy ra phaûn öùng :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Fibonacci Là Gì? Cách Sử Dụng Dãy Fibonacci Để Chốt Lời Chủ Động
  • Dãy Số Fibonacci Là Gì? Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Hiệu Quả
  • Phương Pháp Dạy Bé Học Toán Finger Math: Thông Minh & Đơn Giản
  • Học Toán Theo Phương Pháp Finger Math
  • Fifo Là Gì? Tìm Hiểu Khái Niệm Cùng Một Số Kiến Thức Về Fifo
  • Phương Pháp Ngâm Trong Kỹ Thuật Bào Chế

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Chiết Xuất Curcumin Từ Nghệ
  • Phương Pháp Chiết Pha Rắn
  • Nghiên Cứu Chiết Tách Polyphenol Từ Cây Điều Để Làm Chất Kháng Oxi Hóa
  • Ứng Dụng Của Phenol / Chloroform Trong Tách Chiết Dna, Rna
  • Kỹ Thuật Vi Chiết Pha Rắn Spe Solid Phase Extraction Hãng Supelco
  • Ngâm là phương pháp cho dược liệu đã chia nhỏ tới độ mịn thích hợp, tiếp xúc với dung môi trong một thời gian nhất định, sau đó ép, lắng lọc thu lấy dịch chiết.

    Tùy theo nhiệt độ chiết xuất, ngâm được chia thành các phương pháp: Ngâm lạnh. hầm. hãm. sắc. Phương pháp ngâm được tiến hành một lần với toàn bộ lượng dung môi hoặc ngâm nhiều lần với từng phân đoạn dung môi.

    Quá trình ngâm nhiều lần, mỗi lần dùng một phần của toàn lượng dung môi, cho hiệu suất chiết cao hơn. Áp dụng định luật phản bố của Nerst trong chiết xuất nhiều lần. rõ ràng nhận thấy mỗi phân đoạn dịch chiết đều đạt tới cân bằng với cùng một hệ số phân bố K. nhưng do dược liệu sau mỗi lần chiết được tiếp xúc với dung môi mới. lượng chất tan đi vào các phân đoạn tăng lên. Tổng thể tích các phân đoạn dịch chiết sẽ cho lượng chất tan chiết được lớn hơn nhiều so với quá trình chiết một lần bằng toàn bộ lượng dung môi.

    Trong ngâm nhiều lần phân đoạn dung môi lượng dung môi các lần sau dùng ít hơn các lần trước, số lần ngâm và thời gian ngâm tùy thuộc dược liệu và dung môi.

    Là ngâm dược liệu đã chia nhỏ với dung môi trong một bình kín, ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ sôi của dung môi. Nhưng cao hơn nhiệt độ phòng và giữ ở nhiệt độ đó trong một thời gian quy định, thỉnh thoảng có khuấy trộn.

    Nhiệt độ hầm thường 50 – 60°c, thời gian kéo dài hàng giờ. Phương pháp hầm thường được dùng với các dược liệu có hoạt chất ít tan ở nhiệt độ thường, dễ phân hủy ở nhiệt độ cao, cần áp dụng khi dung môi có độ nhớt cao như dầu thực vật.

    Dụng cụ để hầm có thể dùng nồi nhiệt cách thủy hoặc các thiết bị nhiệt đảm bảo nhiệt độ hầm theo yêu cầu. Nếu dung môi bay hơi cần có bộ phận ngưng tụ.

    Phương pháp hâm được áp dụng cho dược liệu có cấu tạo thực vật mỏng manh như hoa, lá…, có hoạt chất dễ tan trong thời gian ngắn ở nhiệt độ cao.

    Dụng cụ hâm có thể được bọc cách nhiệt để tránh làm giảm nhanh nhiệt độ của dung môi trong quá trình chiết xuất.

    Phương pháp hâm có ưu điểm là đơn giản, thời gian tiếp xúc với nhiệt ngắn, các dược liệu có hoạt chất dễ hòa tan… nên phần lớn hoạt chất được chiết xuất và dịch chiết ít tạp chất.

    Phương pháp hâm thường dùng dung môi nước để điều chế thuốc nước uống, dịch chiết làm chất dẫn cho các dạng thuốc lỏng.

    Là đun sôi đều và nhẹ nhàng được liệu với dung môi trong một thời gian quy định sau đó gạn lấy dịch chiết.

    Thời gian sắc thường từ 30 phút đến hàng giờ. Phương pháp này thường dùng dung môi nước để chiết xuất các dược liệu rắn chắc như vỏ, rễ, gỗ. hạt… và

    có hoạt chất không bị phân hủy ở nhiệt độ cao, thường áp dụng điều chế thuốc uống và cao thuốc.

    Nhiều công trình nghiên cứu đã cải tiến phương pháp ngâm như với thiết bị khuấy tốc độ cao, dùng siêu âm để tăng cường tốc độ hòa tan, khuếch tán hoạt chất trong quá trình chiết xuất, nhằm nâng cao hiệu suất chiết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Chiết Nước Hoa Sang Lọ Nhỏ Đơn Giản Tại Nhà
  • Bật Mí Cách Để Các Lọ Nước Hoa Chiết Ra Đời
  • Cách Chiết Nước Hoa Ra Chai Nhỏ Đơn Giản
  • Phương Pháp Ngấm Kiệt Là Gì? Ứng Dụng Trong Chiết Xuất Dược Liệu
  • Các Phương Pháp Ngấm Kiệt Cải Tiến
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×