Phương Pháp Volume Spread Analysis (Vsa) Là Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Vsa (Volume Spread Analysis) Là Gì Và Các Mẫu Hình Cơ Bản
  • Đừng Tự Hại Mình Với Phương Pháp Vi Kim Tảo Biển
  • Vi Kim Tảo Biển Là Gì? Có An Toàn Không? Quy Trình Thực Hiện?
  • Lịch Sử Phương Pháp Wyckoff
  • Tổng Quan Về Phương Pháp Wyckoff
  • VSA – Volume Spad Analysis là một phương pháp giao dịch ít được biết đến nhưng được đánh giá khá cao. Những cụm từ được sử dụng như “No Demand Bar” (tạm dịch: thanh nến không có lực cầu) hay “Stopping Volume” (tạm dịch: khối lượng nghỉ) có vẻ rất xa lạ. Vậy thật ra VSA có quá cao siêu và khó tiếp cận?

    Đừng lo lắng, bài viết này Bitcoin Vietnam News sẽ tổng hợp và hướng dẫn bạn cách phân tích phân tích giá và khối lượng VSA – Volume Spad Analysis với những thuật ngữ đơn giản và phổ biến nhất, sử dụng VSA một cách trực quan ngay trên biểu đồ nến để xác định xu hướng giá.

    Phương pháp Volume Spad Analysis (VSA) là gì?

    VSA là viết tắt của 3 từ Volume – Spad – Analysis, là phương pháp phân tích khối lượng giao dịch để dự đoán giá của tài sản trên thị trường. Hiểu đơn giản, phân tích giá và khối lượng VSA là sử dụng hình dạng của nến trên đồ thị giúp bạn biết được khối lượng cung và khối lượng cầu như thế nào, từ đó dự đoán xu hướng của giá dựa vào cung – cầu tài sản.

    Cụ thể, những yếu tố mà nó phân tích bao gồm:

    • Khối lượng giao dịch – Volume
    • Phạm vi giá (khoảng cách giữa mức giá cao và thấp nhất, thể hiện độ cao của thân nến) – Range/Spad
    • Giá đóng cửa (giá đóng cửa gần với mức giá cao nhất hay thấp nhất của nến) – Closing Price

    Vậy ai là người đã phát triển phương pháp VSA này?

    Có ba cái tên cần nhắc đến đó là: Jesse Livermore, Richard Wyckoff, Tom Williams.

    • Jesse Livermore đã từng đề cập đến một lý thuyết dựa trên những hành vi thao túng thị trường, ông cũng đã ứng dụng nó trong sự nghiệp giao dịch của mình. Tuy nhiên, ông không đưa ra được một phương pháp cụ thể, ông là một huyền thoại về trading chứ không phải là một nhà đào tạo.
    • Khác với Jesse Livermore, Richard Wyckoff hào hứng hơn với việc đào tạo. Để tìm ra một phương pháp hoạt động trên thị trường, ông đã phỏng vấn hàng loạt các trader, bao gồm cả Livermore. Sau đó ông đã đề xuất một ý tưởng “hợp nhất” nhằm giải thích các giai đoạn của thị trường bao gồm tích lũy, tăng trưởng, phân phối, và suy giảm.
    • Cả Livermore và Wyckoff đều không sử dụng cụm từ “Volume Spad Analysis”, cho đến khi Tom Williams phát triển phương pháp dựa trên ý tưởng của Wyckoff và đặt cái tên này cho nó. Tom là người có công giới thiệu rộng rãi phương pháp này ra công chúng.

    Lý do mà VSA được đánh giá cao?

    Ý tưởng cơ bản đó là chúng ta chỉ có thể kiếm được lợi nhuận từ thị trường khi hiểu được những gì mà các trader chuyên nghiệp đang làm và đã là những tay chuyên nghiệp thì họ không chơi nhỏ – “They play big”.

    Do đó, một khi họ nhảy vào thị trường họ sẽ để lại những dấu chân, cụ thể đó chính là volume và để theo dấu những “big guys” này thì nhìn hành động giá không là không đủ, cần phải có sự kết hợp của volume.

    Dựa trên những yếu tố này, trader có thể hiểu được giai đoạn hiện tại của thị trường. Theo như ông Wyckoff, có 4 giai đoạn đó là:

    1. Tích lũy (thành viên chuyên nghiệp của thị trường mua với giá bán buôn trong điều kiện bán bạn vượt mức);
    2. Mark-Up (biến động tăng);
    3. Phân phối (những thành viên chuyên nghiệp của thị trường bán với giá bán lẻ trong điều kiện mua quá mức);
    4. Mark-Down (biến động giảm).

    VSA có hoạt động trên mọi loại thị trường?

    VSA là phương pháp dùng giá và khối lượng để truy dấu những hành động của những tay chuyên nghiệp, do đó, về cơ bản để VSA hoạt động chúng ta cần có 02 điều kiện:

    • Thứ nhất, thị trường mà bạn tham gia phải có những tay chơi chuyên nghiệp (cái này crypto có thừa).
    • Thứ hai, bạn cần phải có nguồn dữ liệu đáng tin cậy.

    Hầu hết các thị trường tài chính như cổ phiếu, tương lai, hay ngoại hối, tiền mã hóa có vẻ thỏa mãn hai điều kiện này.

    Tuy nhiên, đối với thị trường Forex, phương pháp VSA tương đối khó vận dụng. Lý do là thị trường Forex được phân cấp, không giống như thị trường chứng khoán. Do đó, khối lượng thực tế không có sẵn. Tuy nhiên, bạn có thể phân tích thị trường bằng cách nhìn vào khối lượng quan sát được trong mỗi cột.

    Do vậy, để sử dụng VSA trong Forex, đòi hỏi những kỹ năng nhiều hơn bình thường.

    Cách phân tích giá và khối lượng VSA

    Mặc dù có rất nhiều khái niệm được sử dụng khi phân tích VSA trong giao dịch, nhưng để đơn giản, chúng tôi chỉ hướng dẫn bạn cách phân tích VSA hai dạng nến phổ biến và được sử dụng nhiều nhất: nến No Demand (Không có khối lượng mua) và nến No Selling Pressure (không có áp lực bán).

    Nến No Demand trong xu hướng tăng

    Khi thị trường đang trong xu hướng tăng giá, nó bắt buộc phải đi kèm với sự tăng lên của khối lượng giao dịch mua. Nếu khối lượng mua tài sản không tăng lên, chắc chắn xu hướng tăng sẽ không thể tiếp tục kéo dài.

    Những nến No Demand xuất hiện trong xu hướng tăng giá là những tín hiệu cho bạn thấy khối lượng mua không tăng lên, và xu hướng tăng sắp kết thúc. Nến No Demand có hình dạng như sau:

    • Mức giá đóng cửa cao hơn phiên trước
    • Khối lượng giao dịch thấp hơn hai phiên gần đây
    • Phạm vi giá hẹp (độ cao thân nến ngắn)

    Nến No Selling Pressure trong xu hướng giảm

    Một thị trường đang trong xu hướng tiêu cực sẽ kéo theo việc có nhiều người muốn bán tài sản, và đó là nguyên nhân khiến mức giá giảm. Vì thế, nếu thị trường có tín hiệu giảm giá, nhưng khối lượng giao dịch bán tăng lên, bạn có thể tin rằng xu hướng giảm sẽ nhanh chóng kết thúc.

    Trong xu hướng giảm, nếu bạn tìm thấy các thanh nến No Selling Pressure, đây chính là tín hiệu cho thấy xu hướng giảm sắp kết thúc. Hình dạng nến như sau:

    • Mức giá đóng cửa thấp hơn so với phiên liền trước
    • Khối lượng giao dịch thấp hơn hai phiên gần đây
    • Phạm vi biến động giá hẹp

    Kiểm định xu hướng tăng với Nến No Demand

    • Trong thời điểm đầu tiên (1), xu hướng giảm đang diễn ra, với nến nằm dưới đường EMA.
    • Các nến tăng (2) xuất hiện liên tiếp, cho thấy dấu hiệu về xu hướng Tăng. Câu hỏi đặt ra là xu hướng tăng có bền vững và mạnh mẽ hay không?
    • Với phân tích VSA có thể thấy 3 nến tăng này là nến No Demand, thể hiện khối lượng mua trên thị trường rất yếu. Dù có xu hướng tăng nhưng giá sẽ nhanh chóng giảm xuống. Chính vì thế, bạn có thể chuẩn bị mở mộtshort trade khi đà tăng kết thúc.

    Kiểm định xu hướng giảm với Nến No Selling Pressure

    • Thời điểm (1), thị trường đang trong xu hướng tăng.
    • Thời điểm (2), tín hiệu giảm xuất hiện, nhưng với hình dạng các nến No Selling Pressure. Đây là tín hiệu cho thấy thị trường không có khối lượng giao dịch bán, nên xu hướng giảm không bền vững và sẽ nhanh chóng kết thúc. Bạn có thể chuẩn bị cho một giao dịch Tăng nay khi đà giảm kết thúc và giá tăng trở lại trên thị trường.

    Mô hình nến và hình dạng các nến có thể cho bạn biết vô số thông tin về thị trường để dự đoán xu hướng giá. Cũng dựa trên thông tin từ mô hình nến, phương pháp phân tích giá và khối lượng VSA – Volume Spad Analysis với khối lượng mua – bán tài sản trên thị trường sẽ cho bạn những tín hiệu dự đoán cực kỳ đáng tin cậy về chuyển động của giá.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Vốn Cổ Phần (Equity Method) Là Gì? Ví Dụ Về Phương Pháp Vốn Cổ Phần
  • Kế Toán Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Doanh Liên Kết Theo Phương Pháp Vốn Chủ Sở Hữu ⋆ Kế Toán Ytho
  • Phạm Vi Áp Dụng Phương Pháp Vốn Chủ Sở Hữu
  • Phương Pháp Dạy Học Và Kĩ Thuật Dạy Học
  • Tính Điện Trở Qua Phương Pháp Vẽ Lại Mạch Điện Cực Hay
  • Phương Pháp Vsa (Volume Spread Analysis) Là Gì Và Các Mẫu Hình Cơ Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Đừng Tự Hại Mình Với Phương Pháp Vi Kim Tảo Biển
  • Vi Kim Tảo Biển Là Gì? Có An Toàn Không? Quy Trình Thực Hiện?
  • Lịch Sử Phương Pháp Wyckoff
  • Tổng Quan Về Phương Pháp Wyckoff
  • 6 Cách Chơi Wefinex Winsbo
    1. Phân tích theo phương pháp VSA (Volume Spad Analysis) là gì?
    2. Phân tích VSA
    3. Selling Climax là gì?
    4. Stopping Volume là gì?
    5. Cách thức giao dịch sử dụng Selling Climax và Stopping Volume

    Trước tiên, hãy tìm hiểu sự hình thành xu hướng tăng (Từ xu hướng giảm chuyển sang xu hướng tăng)

    Giá cả trên thị trường trải qua 4 giai đoạn. Đó là:

    • Giai đoạn A. Dừng xu hướng giảm giá trước đó.
    • Giai đoạn B. Xây dựng nền giá – Tích lũy (Accumulation)
    • Giai đoạn C. Kiểm tra xác nhận xu hướng (kiểm tra nguồn cung sau khi tích lũy ở vùng giá thấp)
    • Giai đoạn D. Xu hướng tăng vượt khỏi ngưỡng kháng cự.

    Nào tiếp theo chúng ta sẽ cùng phân biệt sự khác nhau giữa các loại khối lượng

    • Khối lượng trung bình
    • Khối lượng dưới mức trung bình
    • Khối lượng cao
    • Khối lượng cực cao

    Và thế là chúng ta có tất cả bốn loại khối lượng. Tiếp tục tìm hiểu chúng trên biểu đồ.

    Khối lượng luôn chuyển động theo một vòng lặp

    Quy tắc: Bạn có thể hình dung cấu trúc của khối lượng giống như đỉnh núi vậy. Như vậy thì sẽ có thể hình dung nhanh chóng thế nào là đỉnh của khối lượng giao dịch. Các đỉnh khối lượng có những đặc trưng như sau:

    Gia tăng khối lượng – Đỉnh (Điểm cao nhất)- Giảm sút khối lượng

    Mức khối lượng cao và cực cao: mức khối lượng cao chính là mức khối lượng bằng với mức đỉnh khối lượng trước đó. Mức khối lượng cực cao chính là mức khối lượng cao nhất trong giai đoạn xem xét, cao hơn mức đỉnh khối lượng trước đó.

    Khối lượng giảm giá được đánh đầu màu đỏ và cho thấy giá đang giảm. Ngược lại, khối lượng tăng giá được đánh dấu màu xanh và cho thấy hoạt động tăng giá. Nếu khối lượng cầu lớn hơn khối lượng cung thì tổng khối lượng tăng giá.

    2. Phân tích theo phương pháp VSA (Volume Spad Analysis) là gì?

    Trong phân tích VSA, chúng ta cần tập trung vào một vài yếu tố chính khi phân tích biểu đồ, đó là:

    • Sự chuyển động của giá (Price Action)
    • Khối lượng giao dịch (Volume)
    • Mối quan hệ giữa Giá và Khối lượng (Đồng bộ hoặc Phân kỳ)
    • Thời gian cần thiết cho các giai đoạn Tích lũy/Phân phối trước khi mở ra một xu hướng mới

    Các thành phần của phương pháp phân tích VSA:

    1. Volume: Khối lượng giao dịch
    2. The Close: Mức giá đóng cửa của một cây nến. Giá đóng cho chúng ta biết Điểm cân bằng vào cuối 1 giai đoạn

    Chuyển động tăng giá trong tương quan với khối lượng:

    1. Nếu Khối lượng thấp: cho thấy Big Player không có hứng thú với sự tăng giá
    2. Nếu Khối lượng quá lớn (hơn mức trung bình): Big Player đang bán ra cho các nhà giao dịch nhỏ mua vào

    Giai đoạn A: Dừng xu hướng giảm giá trước đó (dấu hiệu của sức mạnh – thị trường bắt đầu hấp thụ lực cung)

    Một lần nữa chúng ta nhắc lại xu hướng giá tăng kết hợp với phân tích theo khối lượng

    • Dòng tiền lớn không có hứng thú với sự tăng giá – Khối lượng thấp.
    • Dòng tiền lớn đang bán vào cho những nhà đầu tư nhỏ lẻ – Khối lượng cao hơn.
    • Khối lượng cực lớn – cái bẫy kinh điển của các cá mập tạo ra

    Bây giờ chúng ta đã tìm thấy hai quy tắc quan trọng sử dụng trong phân tích VSA

    • Quy tắc số 1 – “Sự yếu đi” xuất hiện trên một nến tăng. Lực cung khi xuất hiện, nó sẽ xuất hiện tại một nến tăng giá.
    • Quy tắc số 2 – “Sức mạnh” xuất hiện trên một nến giảm . Lực cầu khi xuất hiện, nó sẽ xuất hiện tại một nến giảm.

    Một số phân tích VSA cho thấy sự kết thúc của xu hướng giảm thường đi kèm với các dấu hiệu. đó là

    1. Selling Climax
    2. Stopping Volume
    3. Kết thúc một thị trường giảm (End of falling market)

    Và bây giờ chúng ta sẽ đề cập đến ba dấu hiệu này

    4. Selling Climax là gì?

    Selling Climax là một khái niệm nhằm nói về sự kết thúc hay sắp kết thúc của một xu hướng giảm. Lực bán tháo mạnh trong tâm lý hoảng loạn của đám động tạo ra các cây nến với spad dài và khối lượng cũng tăng cao, hành động này có thể diễn ra trong một hoặc vài ngày mà sau đó bị hấp thụ bởi LỰC CẦU từ các Các Big player khi họ bắt đầu mua vào

    Các đặc điểm nhận biết một Selling Climax:

    • Xu hướng trước đó phải rõ ràng (trường hợp này ý nói là Xu hướng giảm hiện tại đã xảy ra một thời gian rồi)
    • Xu hướng giảm được tăng tốc với các cây nến đỏ thân dài ra với giá đóng cửa ở giữa cây hoặc cao hơn mức thấp nhất
    • Khối lượng phải rất lớn
    • Hiện tượng này thường xảy ra ở nhiều cây nến (chứ ít khi là 1 cây nến)
    • Sau Selling Climax thì phải được Test trước khi vào lệnh

    Xem ảnh bên dưới (chính là tấm ảnh đã phân tích ở trên) thì cây nến số 3 chính là hiện tượng Selling Climax

    Kịch bản 2: Nói rõ về việc tiếp tục xu hướng giảm sau khi diễn ra Selling Climax

    Kịch bản 1: Xu hướng đảo chiều sau khi xuất hiện Selling Climax

    Cách vào lệnh Buy sau khi Việc Test thành công

    1. Tìm Selling Climax
    2. Sau đó chờ Test lại vùng giá thấp thành công (với khối lượng thấp và các cây nến hẹp)
    3. Tìm bất kỳ mô hình nến đảo chiều (như Engufing, Outside bar, Pin bar)
    4. Đặt lệnh Mua ở trên nến đó
    5. Đặt Stoploss ở dưới cây nến đó

    5. Stopping Volume

    Stopping Volume là gì?

    • Để dừng việc giá tiếp tục đi xuống lại và CẦU phải vượt CUNG
    • Khối lượng lớn chính là từ các Big Players xuất hiện và tham gia chặn ko để thị trường giảm hơn nữa
    • Điều đang xảy ra là áp lực bán thị trường đã trở nên rất lớn vào thời điểm này, đến mức ngay cả Big Players cũng không đủ sức để ngăn thị trường giảm ngay trong một phiên được, mà nó phải mất hai hoặc ba phiên để có thể kiềm hãm được đà giảm

    Đặc điểm của Stopping Volume

    • Cầu vượt cung
    • Xảy ra sau một xu hướng giảm rõ ràng
    • Khối lượng ngày càng tăng đáng kể
    • Nến đóng cửa ở giữa hoặc cao hơn mức thấp nhất, và có bóng dưới
    • Thường xảy ra ở nhiều hơn một cây nến

    Nếu khối lượng cao đó đại diện cho bên BÁN thì làm sao SPREAD – thân nến lại có thể hẹp như vậy được? Chỉ có hai kịch bản có thể xảy ra cho việc một thanh nến hẹp đi kèm khối lượng rất lớn.

    1. Có một vùng Trading Range ở phía bên trái vùng giá hiện tại, và Big Players đang chuẩn bị để hấp thụ lực mua (tức là BÁN) từ các trader tại khu vực quanh vùng hỗ trợ đó.

    Kịch bản 2: Xu hướng tiếp tục sau STOPPING VOLUME

    Chủ đề này sẽ được đề cập trong bài viết riêng tiếp theo

    Kịch bản 1: Xu hướng đảo chiều sau khi thấy STOPPING VOLUME

    Sau khi thấy Stopping Volume, nếu “việc Test – Kiểm tra” thành công, chúng ta có thể mong đợi giá sẽ tăng cao lên, đặc biệt là nếu việc Test đi kèm volume thấp và thân nến hẹp tại khu vực xảy ra Khối lượng cao trước đó. Đây là một tín hiệu MUA mạnh .

    Vào lệnh Buy sau khi việc TEST thành công

    1. Chờ giá quay lại Test khu vực xảy ra Stopping Volume với Khối lượng thấp + các cây nến hẹp
    2. Thời điểm để vào lệnh mua là khi chúng ta thấy bắt đầu xu hướng đi lên. Bất kỳ mô hình nến đảo chiều nào (như Engulfing, Outside bar, Pin bar). Điều này cho chúng ta thấy rằng không có người bán hoặc không có Cung nữa (No sellers or No Supply)
    3. Mua ngay trên cây nến đó
    4. Đặt Stoploss dưới cây nến đó

    VnRebates tổng hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Volume Spread Analysis (Vsa) Là Gì?
  • Phương Pháp Vốn Cổ Phần (Equity Method) Là Gì? Ví Dụ Về Phương Pháp Vốn Cổ Phần
  • Kế Toán Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Doanh Liên Kết Theo Phương Pháp Vốn Chủ Sở Hữu ⋆ Kế Toán Ytho
  • Phạm Vi Áp Dụng Phương Pháp Vốn Chủ Sở Hữu
  • Phương Pháp Dạy Học Và Kĩ Thuật Dạy Học
  • Volume Spread Analysis (Vsa) – Phân Tích Về Giá Và Khối Lượng – Phần 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Phân Tích Khối Lượng Giao Dịch Vsa Từ Biểu Đồ Nến
  • Lăn Kim, Phi Kim Và Vi Kim Là Gì ? Nên Dùng Lăn Kim, Phi Kim Hay Vi Kim?
  • Tổng Hợp Từ A Đến Z Về Vi Kim Sinh Học 2021
  • Tổng Quan Phương Pháp Phân Tích Của Wyckoff – Wyckoff Analysis — Steemit
  • Cách Giao Dịch Sàn Wefinex Tỷ Lệ Chiến Thắng 90%
  • Theo dòng lịch sử của phân tích kĩ thuật thì có rất nhiều trường phái tiếp cận phân tích kĩ thuật như phương pháp đếm sóng của Elliot, phương pháp dựa vào các môn khoa học như toán, địa lý, thiên văn của Gann, phương pháp phân tích dựa vào giá và khối lượng – VSA, trường phái của Dow, trường phái Harminic,… Hôm nay Đầu Tư Phát Đạt sẽ giới thiệu cho các bạn một phương pháp xuất hiện từ những năm 30 của thế kì 20 đó là VSA của Richard Wyckoff.

    • Đầu tiên là quá trình tích lũy:

    Trong giai đoạn này các BBs cố gắng mua càng nhiều cổ phiếu càng tốt ở mức giá thấp.

    Giá biến động rất ít trong ngày, không bao giờ tăng mạnh, gây ra chán nản và mất kiên nhẫn cho số ít nhà đầu tư nhỏ lẻ nào cũng đang nắm giữ cổ phiếu. Giá luôn được các BBs điều chỉnh đi ngang trong 1 kênh giá, mà giá không thể breakout khỏi kháng cự hay hỗ trợ.

    Tuy nhiên đôi khi BBs muốn gom nốt cổ phiếu của những nhà đầu tư vẫn còn ngoan cố cầm hàng trong giai đoạn này. Các BBs sẽ đánh cho giá giảm gãy kháng cự trong vài phiên để những nhà đầu tư nhỏ lẻ cầm hàng yếu tim trở nên hoảng loạn và bát ra bớt cổ phiếu vào tay BBs. Sau khi các BBs gom được hàng thì giá lại được đẩy trở lại kênh giá ban đầu.

    Khối lượng và giá ở giai đoạn này đều thấp nếu so với các giai đoạn khác. Thanh khoản sẽ thấp khi giá gần đường hỗ trợ và tăng nếu giá gặp kháng cự (BBs đẩy giá không cho giá giảm gãy kháng cự).

    Hầu hết nhà đầu tư nhỏ lẻ thường không quan tâm tới cổ phiếu đang bị gom hàng ở lúc này vì giá cổ phiếu ở giai đoạn này biến động với biên độ nhỏ, rất thất thường khó mà kiếm được lợi nhuận.

    Quá trình tích lũy đôi khi không chỉ diễn ra riêng lẻ với 1 cổ phiếu mà có thể trong cả 1 giai đoạn của thị trường chung. Nhưng các dấu hiệu giá và thanh khoản cũng tương tự như với chúng tôi đã nêu trên.

    • Thứ hai là quá trình Đẩy giá:

    Khi các BBs đã gom đủ cổ phiếu và cung cổ phiếu đã cạn kiệt thì các BBs bắt đầu quá trình đẩy giá, đánh lên nhằm mục tiêu thu lợi nhuận.

    Ở quá trình này thì cả giá và khối lượng đều tăng mạnh trong nhiều phiên, gây ra sự chú ý cho nhiều nhà đầu tư trên thị trường.

    Các phiên giá xanh, giá tím diễn ra thường xuyên hơn tạo sự hưng phấn tột độ cho các nhỏ lẻ tha hồ mua vào. Và tất nhiên bên bán ra chính là các BBs đã gom hàng từ trước.

    Lúc này các kháng cự của giá không có ý nghĩa gì nhiều vì giá giờ đây được quyết định hầu hết bởi các BBs và sự hưng phấn của tất cả mọi người.

    Đôi khi trong quá trình tăng vẫn sẽ có những đợt giá giảm vài phiên để tạo điều kiện cho những người muốn lên chuyến tàu nhưng muốn mua khi giá đỏ, giá điều chỉnh.

    (Còn tiếp: Phần 2)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Vẽ Hình Chiếu Thứ 3 Siêu Nhanh Trong Autocad
  • Chuẩn Mực Số 7: Kế Toán Các Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Kết
  • Phương Pháp Vấn Đáp(Đàm Thoại)
  • Dạy Học Bằng Phương Pháp Vấn Đáp, Đàm Thoại
  • Những Phương Pháp Uốn Ống Phổ Biến Hiện Nay
  • Hướng Dẫn Cách Phân Tích Khối Lượng Giao Dịch Vsa Từ Biểu Đồ Nến

    --- Bài mới hơn ---

  • Lăn Kim, Phi Kim Và Vi Kim Là Gì ? Nên Dùng Lăn Kim, Phi Kim Hay Vi Kim?
  • Tổng Hợp Từ A Đến Z Về Vi Kim Sinh Học 2021
  • Tổng Quan Phương Pháp Phân Tích Của Wyckoff – Wyckoff Analysis — Steemit
  • Cách Giao Dịch Sàn Wefinex Tỷ Lệ Chiến Thắng 90%
  • Western Blot Và Một Số Lưu Ý
  • phân tích khối lượng giao dịch VSA với những thuật ngữ đơn giản và phổ biến nhất, sử dụng VSA một cách trực quan ngay trên biểu đồ nến để xác định xu hướng giá.

    Phân Tích Khối Lượng Giao Dịch VSA Là Gì?

    VSA là viết tắt của 3 từ Volume – Spad – Analysis, là phương pháp phân tích khối lượng giao dịch để dự đoán giá của tài sản trên thị trường. Hiểu đơn giản, phân tích khối lượng giao dịch VSA là sử dụng hình dạng của nến trên đồ thị giúp bạn biết được khối lượng cung và khối lượng cầu như thế nào, từ đó dự đoán xu hướng của giá dựa vào cung – cầu tài sản.

    Chính vì sử dụng biểu đồ nến, nên khi phân tích khối lượng giao dịch VSA bạn nên đặc biệt chú ý đến những yếu tố sau:

    • Khối lượng giao dịch
    • Phạm vi giá (khoảng cách giữa mức giá cao và thấp nhất, thể hiện độ cao của thân nến)
    • Giá đóng cửa (giá đóng cửa gần với mức giá cao nhất hay thấp nhất của nến)

    Phân tích khối lượng giao dịch VSA cho bạn những tín hiệu cực kỳ chính xác về xu hướng, bởi nó sử dụng thông tin từ khối lượng mua và bán tài sản trên thị trường – những yếu tố quyết định trực tiếp đến sự tăng/giảm của giá.

    Khi có nhiều người tham gia mua – bán một tài sản, khối lượng giao dịch tài sản đó sẽ cao, ngược lại, khi khối lượng giao dịch thấp nghĩa là có rất ít người tham gia vào thị trường.

    Bởi vì sử dụng hình dạng nến để phân tích khối lượng mua – bán tài sản và dự đoán xu hướng giá, bạn nên phương pháp phân tích khối lượng giao dịch VSA với các thị trường sôi động như ngoại hối, tiền tệ, vàng… để phương pháp này phát huy hiệu quả tốt nhất.

    Cách Phân Tích Khối Lượng Giao Dịch VSA Trên Biểu Đồ Nến Olymp Trade

    Mặc dù có rất nhiều khái niệm được sử dụng khi phân tích VSA trong giao dịch, nhưng để đơn giản, chúng tôi chỉ hướng dẫn bạn cách phân tích VSA hai dạng nến phổ biến và được sử dụng nhiều nhất: nến No Demand (Không có khối lượng mua) và nến No Selling Pressure (không có áp lực bán).

    Nến No Demand Trong Xu Hướng Tăng

    Khi thị trường đang trong xu hướng tăng giá, nó bắt buộc phải đi kèm với sự tăng lên của khối lượng giao dịch mua. Nếu khối lượng mua tài sản không tăng lên, chắc chắn xu hướng tăng sẽ không thể tiếp tục kéo dài.

    • Mức giá đóng cửa cao hơn phiên trước
    • Khối lượng giao dịch thấp hơn hai phiên gần đây
    • Phạm vi giá hẹp (độ cao thân nến ngắn)

    Nến No Selling Pressure Trong Xu Hướng Giảm

    Những nến No Demand xuất hiện trong xu hướng tăng giá là những tín hiệu cho bạn thấy khối lượng mua không tăng lên, và xu hướng tăng sắp kết thúc. Nến No Demand có hình dạng như sau:

    Một thị trường đang trong xu hướng tiêu cực sẽ kéo theo việc có nhiều người muốn bán tài sản, và đó là nguyên nhân khiến mức giá giảm. Vì thế, nếu thị trường có tín hiệu giảm giá, nhưng khối lượng giao dịch bán tăng lên, bạn có thể tin rằng xu hướng giảm sẽ nhanh chóng kết thúc.

    • Mức giá đóng cửa thấp hơn so với phiên liền trước
    • Khối lượng giao dịch thấp hơn hai phiên gần đây
    • Phạm vi biến động giá hẹp

    Ví Dụ Về Cách Sử Dụng Phân Tích Khối Lượng Giao Dịch VSA

    Kiểm Định Xu hướng Tăng Với Nến No Demand

    Các nến tăng (2) xuất hiện liên tiếp, cho thấy dấu hiệu về xu hướng Tăng. Câu hỏi đặt ra là xu hướng tăng có bền vững và mạnh mẽ hay không?

    Với phân tích VSA có thể thấy 3 nến tăng này là nến No Demand, thể hiện khối lượng mua trên thị trường rất yếu. Dù có xu hướng tăng nhưng giá sẽ nhanh chóng giảm xuống. Chính vì thế, bạn có thể chuẩn bị mở một lệnh Giảm ngay khi đà tăng kết thúc.

    Kiểm Định Xu Hướng Giảm Với Nến No Selling Pressure

    Thời điểm (2), tín hiệu giảm xuất hiện, nhưng với hình dạng các nến No Selling Pressure. Đây là tín hiệu cho thấy thị trường không có khối lượng giao dịch bán, nên xu hướng giảm không bền vững và sẽ nhanh chóng kết thúc. Bạn có thể chuẩn bị cho một giao dịch Tăng nay khi đà giảm kết thúc và giá tăng trở lại trên thị trường.

    Kết Luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Volume Spread Analysis (Vsa) – Phân Tích Về Giá Và Khối Lượng – Phần 1
  • Cách Vẽ Hình Chiếu Thứ 3 Siêu Nhanh Trong Autocad
  • Chuẩn Mực Số 7: Kế Toán Các Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Kết
  • Phương Pháp Vấn Đáp(Đàm Thoại)
  • Dạy Học Bằng Phương Pháp Vấn Đáp, Đàm Thoại
  • Phương Pháp Và Phương Pháp Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Là Gì, Có Hiệu Quả Không?
  • Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Bao Nhiêu Tiền & Cắt Ở Đâu?
  • Cắt Trĩ Bằng Phương Pháp Hcpt Là Gì Và Ở Đâu An Toàn Nhất
  • Hplc Là Gì ? Khái Niệm, Nguyên Tắc, Phân Loại & Phạm Vi Ứng Dụng
  • Phương Pháp Sắc Ký Lỏng Hiệu Năng Cao (Hplc)
  • 1. Phương pháp

    Theo nghĩa thông thường phương pháp (tiếng Hy Lạp, phương pháp – methodos) là cách thức, thủ đoạn mà chủ thể sử dụng để đạt một mục đích nhất định. Thí dụ để hỏi quả trên cây, người ta có thể dùng nhiều cách: Trèo lên để bứt, dùng gậy để khều, hoặc dùng dao để chặt; muốn qua sông người ta có thể dùng nhiều cách: bơi bằng phao, hoặc dùng thuyền, hoặc dùng bè v.v. Ngay trong việc bơi cũng có nhiều cách như bơi ếch, bơi bướm, bơi sải v.v. Đó là những phương pháp hoạt động thực tiễn. Trong quá trình nhận thức cũng có nhiều cách để đi đến kết quả cần thiết. Thí dụ, để tính toán tổng các số chẵn có hai chữ số: 12 + 14 + 16 + ….+ 98, ta có ba cách: một là cộng lần lượt từ số thứ nhất đến số cuối cùng.

    Hai là có thể nhóm thành từng cặp có giá trị bằng nhau rồi nhân với số lượng các cặp bằng nhau đó: 12 + 98 = 110;

    ………………

    Có 22 cặp số mà tổng bằng 110 vậy tổng dãy số trên là: 22 X 110 = 2420.

    Cách thứ ba: ta có nhận xét nếu cộng tổng hai dãy số trên theo thứ tự tăng dần và giảm dần như sau:

    12+14+16+……. + 96 + 98

    110 + 110 + 110 + …+ 110+ 110. Có 44 số hạng bằng 110 trong tổng này, nên ta có thể tính dễ dàng bằng: 110 X 44 = 4840.

    Nếu định nghĩa một cách khái quát, khoa học và chặt chẽ thì phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện một mục đích nhất định.

    Định nghĩa nêu trên vừa nói lên được một cách khái quát hình thức thể hiện của phương pháp vừa nói lên được nguồn gốc và vai trò của phương pháp.

    Một vấn đề đặt ra là những nguyên tắc đó được con người rút ra như thế nào, từ đâu, và bản chất của nó là gì? Trả lời vấn đề này có một số quan điểm khác nhau.

    Nguồn gốc và bản chất của phương pháp

    Có một số quan niệm khác nhau về nguồn gốc và bản chất của phương pháp.

    Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm cho phương pháp là nhũng nguyên tắc do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức và hoạt động thực tiễn. Như vậy, theo quan niệm này, phương pháp là phạm trù thuần tuý chủ quan, không phụ thuộc vào đối tượng nhận thức và đối tượng tác động thực tế của con người. Thoạt nhìn, chúng ta thấy quan niệm này có vẻ hợp lý. Nhưng xem xét tỷ mỷ hơn chúng ta thấy con người không thể tuỳ tiện đặt ra những cách thức cho hoạt động của mình được. Thí dụ, khi bơi, chúng ta không thể hoạt động một cách tuỳ tiện, mà phải phối hợp cử động chân, tay một cách nhịp nhàng mới bơi được. Neu không phối hợp tay, chân một cách nhịp nhàng, người bơi sẽ không tạo ra một lực nâng tổng họp lớn hơn trọng lượng cơ thể, người đó thì sẽ bị chìm. Một thí dụ khác, khi chèo thuyền phải khua mái chèo theo một tư thế nhất định thuyền mới chạy đúng hướng được, nếu ìchông thuyền sẽ đứng tại chỗ mà không tiến lên phía trước như mong muốn. Như vậy hoạt động của con người không thể tuỳ tiện theo ý muốn chủ quan được, mà bị quy định bởi tính tất yếu bên ngoài, phụ thuộc vào đối tượng mà con người tác động.

    Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: phương pháp dù là những nguyên tắc do con người đặt ra và dùng để điều chỉnh hoạt động của mình nhằm đạt mục đích nhất định, nhưng không được đặt ra một cách hoàn toàn chủ quan, tuỳ tiện, cũng không phải là những nguyên tắc có sẵn bất biến trong tự nhiên. Phương pháp phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và đối tượng tác động, phụ thuộc vào mục đích đặt ra của chủ thể. Đối tượng tác động và mục đích của con người không phải do con người tạo ra theo ý nuốn chủ quan thuần tuý của mình. Muốn tiếp cận đối tượng và giải quyết nhiệm vụ đặt ra, chủ thể phải nghiên cún đối tượng và mục đích cần đạt tới một cách khách quan. Nghĩa là phải vạch rõ đối tượng có tính chất gì, các yếu tố cấu thành nên đối tượng, giới hạn tồn tại của đối tượng là gì, v.v. Từ đó chủ thể nhận thức rõ những quy luật tồn tại và biến đổi của đối tượng. Chỉ trên cơ sở đó và sau đó chủ thể mới xác định được phải nghiên cún và hành động như thế nào và cần phải sử dụng những phương tiện, công cụ và biện pháp gì cho thích hợp, cũng như cần phải kết họp các yếu tố đã cho theo một trình tự như thế nào cho họp lý để đạt được mục đích. Như vậy phương pháp mà con người dựa vào đe hoạt động, phải tuân theo một lôgic nhất định, tuỳ thuộc vào lôgic của đối tượng. Rõ ràng phương pháp bắt nguồn từ hiện thực khách quan, phản ánh nhũng quy luật khách quan của đối tượng nghiên cứu chứ không phải là những nguyên tắc được đặt ra một cách tùy tiện, theo ý muốn chủ quan của chủ thể (con người). Nhưng phương pháp phải do hoạt động có ý thức, có mục đích của chủ thể mới hình thành được. Hoạt động có ý thức ở đây không phải là ý thức thuần tuý tưởng tượng ra các nguyên tắc, không dựa vào hiện thực khách quan, mà là quá trình ý thức con người phản ánh hiện thực khách quan, rút ra những mối liên hệ bản chất của đối tượng, căn cứ vào đó để điều chỉnh hoạt động của mình phù hợp với quy luật vận động của đối tượng. Do vậy cũng có thể nói phương pháp là sản phẩm của hoạt động có ý thức của con người, là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người.

    Phương pháp làm cho hoạt động củả con người phù họp với quy luật khách quan của đối tượng, nhờ vậy mới nhận thức và cải tạo được đối tượng. Do vậy phương pháp là một trong những yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại đối với hoạt động của con người. Nếu với những điều kiện khách quan nhất định như nhau, phương pháp đúng đắn thì kết quả đạt được càng cao và ngược lại phương pháp không phù hợp có thể không đưa đến kết quả như mong muốn, hoặc hiệu quả công việc không cao. Bê-cơn, một nhà triết học Anh thế kỷ XVIII nói: phương pháp như ngọn đèn soi đường đi cho khách lữ hành trong đêm tối. Hêghen – một nhà triết học lỗi lạc của Đức thế kỷ XVIII – XIX cho phương pháp gắn liền với đối tượng và phụ thuộc vào đối tượng, phương pháp là “linh hồn” của đối tượng. Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin rất coi trọng phương pháp, nhất là phương pháp hoạt động thực tiễn cách mạng, phương pháp vận động quần chúng. Chính phương pháp làm cho hoạt động của con người mang tính tự giác, có mục đích và có tính sáng tạo. Đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta, việc vạch ra mục tiêu phương hướng cách mạng đúng là yếu tố quan trọng cho thành công của cuộc cách mạng. Tuy nhiên nếu không có phương pháp hoạt động cách mạng đúng đắn, thì với những điều kiện vật chất nhất định sẽ không thể đưa cách mạrig tiến lên đế đạt được mục tiêu đã định. Vậy phương pháp là một nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của việc thực hiện mục tiêu hoạt động của con người.

    Căn cứ vào nội dung, phạm vi ứng dụng và mức độ phổ biến người ta phân chia phương pháp ra làm nhiều loại khác nhau như:

    – Phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn.

    – Phương pháp riêng

    – Phương pháp chung

    – Phương pháp chung nhất (hay phương pháp phổ biến)

    Phương pháp riêng chỉ áp dụng cho từng bộ mổn khoa học, cho một đối tượng riêng, cụ thể. Thí dụ: phương pháp phân loại thực vật, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp chứng minh trong toán học v.v.

    Phương pháp chung được áp dụng cho nhiều môn khoa học khác nhau, hoặc cho các đối tượng thuộc các lĩnh vực khác nhau như: phương pháp quan sát, phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình hoá, phương pháp hệ thống cấu trúc, v.v.

    Phương pháp chung nhất (hay còn gọi là phương pháp phổ biến) áp dụng cho mọi lĩnh vực khoa học và hoạt động thực tiễn. Đó là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử như: phương pháp kết hợp phân tích và tổng họp, phương pháp kết hợp lôgic và lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá v.v.

    Trong phương pháp nhận thức khoa học lại có thể chia một cách tương đối ra thành nhóm các phương pháp thu nhận tri thức ở trình độ kinh nghiệm và nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học.

    Nhóm các phương pháp thu nhận tri thức ở cấp độ kinh nghiệm như:

    Phương pháp quan sát, là phương pháp nghiên cứu để xác định các thuộc tính, các quan hệ của sự vật hiện tượng riêng lẻ của thế giới xung quanh trong điều kiện tự nhiên vốn có của nó. Thí dụ: Quan sát các hiện tượng thời tiết như: diễn biến thời tiết trước, trong và sau khi bão, mưa, lốc xoáy; quan sát, sự biến đổi cây cối trong năm; quan sát sự sinh trưởng của cây. Qua quan sát, con người thấy được các đặc điếm của sự vật và các mối liên hệ giữa đặc điểm này với các đặc điểm khác.

    Phương pháp thí nghiệm, là phương pháp nghiên cứu các sự vật, hiện tượng bằng cách sử dụng các phương tiện vật chất để can thiệp vào trạng thái tự nhiên của chúng, tạo ra những điều kiện đặc biệt (có tính chất nhân tạo), tách chúng thành các bộ phận và kết họp chúng lại, sản sinh chúng dưới dạng thuần khiết. Thí dụ: lai ghép cây, lai tạo các giống động vật, sinh sản vô tính, thí nghiệm để xác định độ chịu lực của vật liệu, thí nghiệm một phương pháp sản xuất mới, một công nghệ mới. Ngày nay thí nghiệm được sử dụng rộng rãi cả trong khoa học tự nhiên, trong kỹ thuật và trong xã hội. Thí nghiệm như một dạng cơ bản của hoạt động thực tiễn, giữ vai trò là cơ sở của nhận thức khoa học và tiêu chuẩn để kiểm tra tính chân lý của nhận thức khoa học.

    Nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học gồm những phương pháp sau:

    Phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp: Phân tích là quá trình phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ phận để đi sâu nhận thức các bộ phận đó. Tổng họp là quá trình liên kết thống nhất các bộ phận đã được phân tích lại nhằm nhận thức cái toàn bộ. Nhận thức phải kết họp cả quá trình phân tích và tổng họp. Không có phân tích thì không thể tổng hợp được và ngược lại không tổng họp thì phân tích chỉ đưa lại hình ảnh rời rạc về sự vật, không thể có được hình ảnh toàn diện về sự vật.

    Phương pháp kết hợp quy nạp và diễn dịch: quy nạp là phương pháp đi từ tri thức về cái riêng đến tri thức về cái chung, từ tri thức về cái ít chung đến ứi thức về cái chung hơn. Diễn dịch là phương pháp đi từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái riêng, từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái ít chung hơn. Quá trình nhận thức phải có sự kết họp giữa phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch mới phản ánh được đầy đủ những đặc tính của sự vật cũng như phát huy được tính tích cực chủ động của hoạt động chủ quan của chủ thể nhận thức.

    Phương pháp lịch sử và lôgic

    Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải phản ánh trong tư duy quá trình lịch sử cụ thể của sự vật với những chi tiết của nó, phải nắm lấy sự vận động lịch sử trong toàn bộ tính phong phú của đối tượng, phải theo dõi mọi bước đi của đối tượng theo trình tự thời gian.

    Phương pháp lôgic vạch ra bản chất, tính tất yếu, tính quy luật của sự vật dưới hình thức lý luận trừu tượng và khái quát. Phương pháp lôgic có nhiệm vụ dựng lại lôgic khách quan của sự vật.

    Quá trình nhận thức phải kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic mới phản ánh đúng và đầy đủ được sự vận động phát triển của sự vật. Nếu nhận thức chỉ dựa vào phương pháp lịch sử tách rời phương pháp lôgic thì nhận thức không thể phản ánh được bản chất của các sự kiện lịch sử. Các sự kiện lịch sử hiện ra trước con neười như một bức tranh rất nhiều màu sắc, nhiều đường nét chằng chịt, nhưng còn lộn xộn, chưa theo trật tự có tính tất yếu. Ngược lại nếu nhận thức chỉ dựa vào phương pháp lôgic tách rời phương pháp lịch sử thì hình ảnh về sự vật chỉ là một bức tranh không có màu sắc, thiếu đường nét, khô khan nghèo nàn và đon điệu, một bức tranh méo mó về sự vật. Phương pháp lịch sử và lôgic phải kết hợp chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, giúp cho con người không những nhận thức được những mối liên hệ bản chất của sự vật, mà cả những biểu hiện đa dạng của các mối liên hệ đó trong những điều kiện lịch sử khác nhau. Như vậy kết họp phương pháp lịch sử và lôgic giúp con người phản ánh sự vật đầy đủ, sâu sắc và đúng đắn.

    Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể

    Cái cụ thể là phạm trù chỉ những sự vật, hiện tượng nhất định của thế giới khách quan. Phản ánh cái cụ thể khách quan trong nhận thức dưới hai hình thức: Thứ nhất, cái cụ thể cảm tính – điểm bắt đầu của nhận thức, hình ảnh cảm tính về cái cụ thể khách quan; thứ hai, cái cụ thể trong tư duy- kết quả của tư duy lý luận, của nhận thức khoa học, phản ánh cái cụ thể khách quan bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật.

    Cái trừu tượng là một trong những yếu tố, một trong những vòng khâu của quá trình nhận thức. Cái trừu tượng trong tư duy là kết quả của sự trừu tượng hoá một mặt, một mối liên hệ nào đó trong tổng thể phong phú các mối liên hệ của sự vật. Do vậy trừu tượng là một mặt, một biểu hiện của cái cụ thể trong tư duy, là bậc thang của nhận thức cái cụ thể.

    Nhận thức về một đối tượng nhất định gồm hai giai đoạn (hay hai quá trình) quan hệ chặt chẽ với nhau: Một là đi từ cái cụ thể cảm tính đến cái trừu tượng, hình thành cái trừu tượng trong tư duy. Hai là đi từ trừu tượng đến cụ thể, hình thành cái cụ thể trong tư duy. Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể là phương pháp nhận thức khoa học quan trọng, nhờ đó mà tư duy quán triệt được cái cụ thể cảm tính ban đầu và tái tạo nó với tư cách là một cái cụ thể trong tư duy. Đây là phương pháp cơ bản được Mác sử dụng trong Tư bản. Tuy nhiên đây không phải là phương pháp duy nhất và cũng không phải là Mác sử dụng một cách tách rời với các phương pháp khác trong Tư bản.

    Như vậy chúng ta thấy có nhiều phương pháp nhận thức khoa học khác nhau, có quan hệ biện chúng với nhau. Sự phân biệt các loại phương pháp chỉ mang ý nghĩa tương đối, tuỳ theo góc độ và tiêu chuẩn phân loại khác nhau. Trong hệ thống các phương pháp, mỗi phương pháp đều có vị trí nhất định. Tùy từng đối tượng và điều kiện lịch sử khác nhau mà chủ thể hoạt động có thể lựa chọn phương pháp nào đó là phương pháp chủ yếu, nhưng đồng thời kết họp với các phương pháp khác. Không nên coi mọi phương pháp đều ngang bằng nhau, có thế thay thế cho nhau một cách tùy tiện, hoặc một phương pháp nào đó luôn là quan trọng nhất có thể bao trùm, thay thế cho mọi phương pháp khác. Không nên tuyệt đối hoá phương pháp này, hạ thấp phương pháp kia. Trên thực tế, hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn thường phải sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp mới nhanh chóng đạt được mục đích.

    2. Phương pháp luận Khái niệm phương pháp luận

    Trên thực tế, để giải quyết một công việc đã định người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau. Trong các phương pháp đó có phương pháp thích hợp đưa lại hiệu quả cao, cũng có phương pháp không thích họp, đưa lại hiệu quả thấp. Làm thế nào để chọn được một phương pháp thích họp nhất trong số rất nhiều phương pháp có thế sử dụng? Trả lời cho vấn đề này làm nảy sinh nhu cầu tri thức về phương pháp. Từ nhu cầu tri thức về phương pháp đưa đến sự ra đời khoa học và lý luận về phương pháp. Đó chính là phưo’ng pháp luận. Vậy ta có thể nói phương pháp luận là lý luận về phương pháp (hay khoa học về phương pháp).

    Phương pháp luận giải quyết những vấn đề như: Phương pháp là gì? bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp là thế nào? cách phân loại phương pháp như thế nào? vai trò của phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn như thế nào? phương pháp thích hợp nhất là phương nào V.V.? Mục đích của những vấn đề lý luận trên là xác định được những quan điểm, nguyên tắc cơ bản nhất để trên cơ sở của những nguyên tắc đó con người có thể lựa chọn được những phương pháp hoạt động thực tiễn và nhận thức thích họp. Từ đó ta có thể định nghĩa phương pháp luận một cách rõ ràng hơn như sau:

    Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát rút ra từ một lý thuyết hoặc một hệ thống lý luận nhất định, để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng một cách họp lý, đưa lại hiệu quả tối đa. Thí dụ phương pháp luận toán học, xuất phát từ việc nghiên cún các lý thuyết toán học để đề xuất được những nguyên tắc chung chỉ đạo quá trình xác định và áp dụng các phương pháp toán học V.V.; phương pháp luận kinh tế học có nhiệm vụ nghiên cứu các lý thuyết kinh tế, để rút ra những quan điểm, nguyên tắc cơ bản như: quan điểm về hiệu quả; quan điểm về tiến bộ xã hội; quan điểm về phát triển bền vững v.v. làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp kinh tế cụ thể như: phương pháp điều tra chọn mẫu; phương pháp phân tích các hoạt động kinh tế, phương pháp thống kê v.v. Việc lựa chọn một phương pháp kinh tế cụ thể nào đó phải xuất phát từ các nguyên tắc phương pháp luận chung đó.

    Phân biệt phương pháp luận và phương pháp

    Phương pháp và phương pháp luận không đồng nhất với nhau, tuy có quan hệ chặt chẽ với nhau. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là nhũng quan điểm, những nguyên tắc xuất phát để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp một cách đúng đắn, còn phương pháp là những nguyên tắc cụ thể để chủ thể dựa vào đó điều chỉnh cách thức hoạt động cho thích họp với một đối tượng cụ thể. Phương pháp luận là những nguyên tắc được rút ra từ một lý thuyết mang tính chất thuần tuý lý luận, chưa gắn với một đối tượng cụ thể nào. Mỗi hệ thống lý luận (thậm chí mỗi lý thuyết) đều bao hàm một nội dung phương pháp luận nhất định. Còn phương pháp là những nguyên tắc nhận thức và hoạt động thực tiễn được rút ra từ tri thức về các đối tượng cụ thể. Phương pháp luận nghiên cứu phương pháp nhưng không nhằm ‘mục đích xác định một phương pháp cụ thể nào, mà nhằm rút ra những quan điểm, nguyên tắc xuất phát, làm cơ sở cho việc xác định và áp dụng phương pháp, còn phương pháp là những nguyên tắc do kết quả nghiên cứu đối tượng, những nguyên tắc quy định các thủ đoạn cụ thể để tiếp cận đối tượng và cải tạo các đối tượng cụ thể.

    Tuy nhiên phương pháp và phương pháp luận lại thống nhất với nhau ở chỗ phương pháp và phương pháp luận đều phản ánh nhũng mối liên hệ tất nhiên của hiện thực khách quan, chính vì vậy nó mới là cơ sở cho hoạt động của con người. Phương pháp luận là cơ sở lý luận cho việc xác định các phương pháp cụ thể, còn phương pháp phải xuất phát từ quan điểm, nguyên tắc của phương pháp luận để xác định các cách thức hoạt động phù hợp với một đối tượng nhất định.

    Phân loại phương pháp luận

    Phương pháp luận có các cấp độ khác nhau.

    Phương pháp luận môn học là cấp độ hẹp nhất, trong đó các quan điểm, các nguyên tắc được rút ra từ một lý thuyết khoa học chuyên ngành, phản ánh quy luật của một lĩnh vực cụ thể. Những nguyên tắc đó chỉ là cơ sở để xác định các phương pháp của một môn học nhất định nào đó.

    Phương pháp luận chung có cấp độ rộng hơn phương pháp luận môn học, đó là những quan điểm, nguyên tắc được rút ra từ những lý thuyết khoa học phản ánh quy luật chung của một số môn học, hoặc một số lĩnh vực của hiện thực khách quan. Những ngiịyên tắc chung này làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp chung cho một số môn học hoặc một số lĩnh vực nào đó, Thí dụ phương pháp luận chung của các môn khoa học xã hội, hay phương pháp luận chung của các môn khoa học tự nhiên v.v.

    Phương pháp luận chung nhất (hay phương pháp luận phổ biến) có cấp độ rộng nhất, đó là những quan điểm, nguyên tắc chung nhất được rút ra từ những lý thuyết khoa học có cấp độ khái quát cao nhất, làm cơ sở cho việc xác định phương pháp chung cho nhận thức và hoạt động thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực. Có thể nói, phương pháp luận chung nhất được rút ra từ lý luận triết học, trong đó phép biện chứng là một trong những bộ phận quan ứọng nhất của lý luận triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Đánh Giá Thành Tích Công Việc Mà Các Nhà Quản Lý Nhất Định Phải Biết!
  • Các Phương Pháp Đánh Giá Công Việc
  • 7 Phương Pháp Đánh Giá Nhân Viên Hiệu Quả Nhất Cho Doanh Nghiệp
  • 3 Phương Pháp Giảng Dạy Mới Có Thể Giúp Đổi Mới Giáo Dục
  • 7 Cách Thai Giáo Cho Thai Nhi Thông Minh Ngay Từ Trong Bụng Mẹ
  • Phương Pháp Scrum Vs Phương Pháp Agile

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Dự Án Agile – Apmp
  • Phương Pháp Quản Lý Linh Hoạt (Agile) Và Chứng Chỉ Quốc Tế Pmi
  • Phân Tích Abc Trong Quản Lý Tồn Kho Mà Bạn Cần Phải Nắm Được
  • Phân Tích Abc Trong Supply Chain – Hoangthanghq55
  • Một Số Vấn Đề Về Mô Hình Hạch Toán Chi Phí Theo Hoạt Động (Activity
  • Những người mới biết đến Agile thường không hiểu rằng có nhiều loại phương pháp Agile khác nhau. Một trong những quy trình Agile phổ biến nhất là phương pháp Scrum.

    Nhiều doanh nghiệp nhận thấy rằng quy trình kinh doanh truyền thống không còn hiệu quả nữa vì ngày càng có nhiều thay đổi như là nhu cầu khách hàng, yêu cầu dự án hay các công việc hỗ trợ khác…khiến họ không nắm bắt kịp xu hướng

    Và nhiều quản lý dự án, quản lý sản phẩm và các nhóm phát triển phần mềm đang chuyển từ phương pháp truyền thống Waterfall sang phương pháp Agile.

    Phương pháp Agile

    Phương pháp Agile được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 2011 trong “Agile Manifesto” được tổng hợp tại Utah. Agile Manifesto phác thảo 12 nguyên tắc quan trọng, bao gồm thông tin liên lạc (communication), hợp tác (collaboration), tầm quan trọng của phần mềm, cởi mở để thay đổi.

    Các phương pháp Agile cơ bản đặt cùng nhau như một giải pháp phá vỡ cạm bẫy được kết hợp với mô hình Thác nước (Waterfall). Là một khuôn khổ quản lý linh hoạt hơn, Agile cho phép các nhóm vượt qua mô hình tuần tự truyền thống và hoàn thành nhiều việc hơn (work done) trong một khoảng thời gian ngắn hơn.

    Nhóm Agile không nhận ra là có nhiều loại khác nhau của phương pháp Agile, một trong số đó và phổ biến nhất là Scrum.

    Phương pháp Scrum

    Hầu hết các nhóm chuyển từ Agile sang sử dụng Scrum vì nó đơn giản và linh hoạt. Định nghĩa trên trang Scrum chúng tôi “Scrum là duy nhất bởi vì nó giới thiệu ý tưởng về “kiểm soát quá trình thực nghiệm”. Vì Scrum sử dụng những tiến bộ thực tế của dự án – không phải là một dự đoán tốt nhất hoặc dự báo không rõ ràng – để lập kế hoạch và tiến độ phát hành”

    Phương pháp Scrum khác với các phương pháp khác?

    – Scrum có 3 vai trò: Product Owner, Team members, Scrum Master.

    – Dự án chia thành các giai đoạn gọi là Sprint, mỗi Sprint kéo dài từ 1-3 tuần

    – Lợi ích của Scrum là điều chỉnh hướng đi của dự án dựa vào các công việc đã hoàn thành chứ không dựa trên suy đoán hay dự đoán

    Quản lí dự án Scrum là gì?

    Scrum là một trong những phương pháp quản lý dự án linh hoạt – Agile hoặc framework được sử dụng chủ yếu cho các dự án phát triển phần mềm với mục tiêu cung cấp phần mềm mới mỗi 2-4 tuần. Nó là một trong các phương pháp được ảnh hưởng bởi Agile Manifesto, bao gồm một tập hợp các giá trị và nguyên tắc hướng dẫn làm thế nào để phát triển phần mềm chất lượng cao nhanh hơn, hiệu quả hơn.

    Ai sử dụng phương pháp Agile Scrum?

    Scrum được những nhà phát triển phần mềm sử dụng rộng rãi. Thực tế nó là phương pháp Agile phổ biến nhất, có khoảng 72% đội ngũ phần mềm sử dụng Scrum hoặc Scrum hybrid. Tuy nhiên, Scrum đã lan rộng đến các chức năng kinh doanh khác bao gồm IT và Marketing trong đó đặc biệt là Digital Marketing, khi phải phát triển những dự án mơ hồ và phức tạp. Đội ngũ lãnh đạo cũng dựa vào thực tiễn quản lý Agile của họ về Scrum, thường kết hợp với Lean và Kanban (phân nhóm quản lý dự án Agile).

    Phương pháp Scrum mang lại lợi ích gì?

    • Năng suất cao hơn
    • Sản phẩm có chất lượng tốt hơn
    • Giảm thời gian chờ ra thị trường
    • Hoạt động nhóm tốt hơn
    • Nhân viên hạnh phúc hơn

    Các thành phần của phát triển Srcum Agile là gì?

    Phương pháp Scrum được xác định bởi vai trò của nhóm, events, công cụ, và các quy tắc..

    Nhóm phát triển (Nhóm Scrum)

    Nhóm phát triển thường có 7 +/- 2 thành viên và không có nhóm trưởng để giao nhiệm vụ hoặc quyết định giải quyết vấn đề nào. Nhóm như một đơn vị độc lập quyết định đề cập và giải quyết vấn đề như thế nào. Mỗi thành viên của nhóm Scrum là một phần không thể thiếu trong việc đưa ra các giải pháp và dự kiến sẽ thực hiện một sản phẩm từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành.

    Có 3 nguyên tắc chính trong Nhóm Scrum:

    Product Owner

    ScrumMaster

    ScrumMaster là người lãnh đạo tôi tớ cho Product Owner, Nhóm phát triển và Tổ chức, không có thẩm quyền trong nhóm nhưng khá nhiều người hỗ trợ, ScrumMaster đảm bảo rằng Nhóm luôn tôn trọng lý thuyết, practices và quy tắc Scrum. ScrumMaster bảo vệ Nhóm bằng cách làm bất cứ điều gì có thể để giúp Nhóm cho ra năng suất ở mức cao nhất. Điều này có thể bao gồm việc loại bỏ những trở ngại, tổ chức các cuộc họp và giúp các Product Owner chuẩn bị backlog.

    Nhóm phát triển 

    Nhóm phát triển là nhóm tự tổ chức, liên chức năng được trang bị tất cả các kĩ năng để sản xuất ra phần tăng trưởng chuyển giao được, phần mềm chạy được khi hoàn thành mỗi sprint. Scrum mở rộng định nghĩa của thuật ngữ “phát triển” vượt ra ngoài hoạt động lập trình để bao gồm bất cứ ai tham gia vào việc tạo ra các phần mềm chạy được. Không có chức danh trong Nhóm phát triển và không có ai, kể cả các ScrumMaster, nói với Nhóm phát triển phải làm như thế nào để biến các hạng mục product backlog thành các gói phần mềm hoàn chỉnh có thể chuyển giao được

    Họp Scrum

    Sprint

    Là một khung thời gian mà công việc cụ thể được hoàn thành và sẵn sàng thực hiện để đánh giá. Sprint thường kéo dài từ 2-4 tuần nhưng có thể ngắn như một tuần.

    Họp lên kế hoạch Sprint

    Là sự kiện có khung thời gian để xác định hạng mục product backlog sẽ được lựa chọn và làm sao để công việc đạt hiệu quả

    Họp Scrum hằng ngày

    Là buổi hội thoại ngắn (dưới 15 phút) để các thành viên theo kịp tiến độ nhanh chóng và minh bạch từ cuối buổi họp trước, lên kế hoạch cho buổi họp tiếp theo và giải quyết bất cứ trở ngại nào ngăn cản tiến độ

    Họp sơ kết Sprint

    Họp cải tiến Sprint

    Là buổi họp nhóm cuối cùng trong Sprint để xác định cái nào đã lảm tốt, cái gì chưa tốt và làm sao để Nhóm cải tiến trong Sprint tiếp theo. Nhóm phát triển và Scrum Master tham dự buổi họp quan trọng này giúp tập trung vào kết quả tổng kết và xác định chiến lược cho gia đoạn cải tiến kế tiếp

    Scrum Artifacts

    Product Backlog

    Là tài liệu quan trọng nhất vạch ra từng yêu cầu cho hệ thống, dự án hoặc sản phẩm. Product backlog có thể được dùng như một danh sách công việc phải làm bao gồm các hạng mục công trình, mỗi cái đều mang lại giá trị kinh doanh và được Product Owner định nghĩa

    Sprint Backlog

    Là danh sách cụ thể những hạng mục lấy từ product backlog phải được hoàn thành trong Sprint

    Phần tăng trưởng

    Là tổng hợp của tất cả các hạng mục product backlog đã được hoàn thành từ khi phát hành phần mềm mới nhất. Tùy thuộc vào Product Owner  quyết định khi nào phần tăng trưởng được phát hành, trách nhiệm của Nhóm là đảm bảo mọi thứ bao gồm phần tăng trưởng đã sẵn sàng được phát hành, đây cũng được gọi là Phần mềm hoàn chỉnh có thể chuyển giao được (PSI).

    Mối liên hệ của Srum với quản lý dự án Agile?

    Scrum là một tiểu nhóm Agile:

    • Agile là một bộ các giá trị và nguyên tắc mô tả sự tương tác và các hoạt động nhóm hằng ngày. Bản thân Agile không nguyên tắc hay cụ thể.

    Mặc dù được sử dụng để phát triển phần mềm linh hoạt, Agile Scrum đã trở thành framework thuận lợi nhất để quản lý dự án nói chung và đôi khi được gọi đơn giản là quản lý dự án Scrum hoặc phát triển phần mềm Scrum.

    Scrum là gì?

    Scrum là một cách để quản lý dự án, thường là phát triển phần mềm. Phát triển phần mềm Scrum thường được coi là một phương pháp luận. Nhưng thay vì xem Scrum là phương pháp luận, hãy xem nó như là framework để quản lý một quá trình.

    Nhóm phát triển Scrum chịu trách nhiệm cung cấp đầy đủ mô tả chi tiết thực hiện một dự án vì họ là người hiểu rõ nhất nên giải quyết vấn đề như thế nào.

    Nhóm Scrum có hai đặc điểm cực kì quan trọng là: tự tổ chức (self-organizing) và liên chức năng (cross-functional). Trong nhóm Scrum tự tổ chức sẽ không có trưởng nhóm hay người đưa ra quyết định phải làm gì và giải quyết vấn đề nào, vì đó là những vấn đề được quyết định bởi cả nhóm.

    Và trong nhóm liên chức năng Scrum, mọi người đều phải hiểu rõ công việc từ khi lên ý tưởng cho đến khi thực hiện.

    Trong agile development, nhóm Scrum được hỗ trợ bởi hai vai trò cụ thể. Đầu tiên là Scrum Master được xem như là một huấn luyện viên, giúp các thành viên trong nhóm sử dụng các quy trình Scrum thuần thục nhất.

    Vị trí còn lại là Product Owner (PO) có vai trò đại diện doanh nghiệp, khách hàng hay người dùng và hướng dẫn nhóm xây dựng sản phẩm

    Ai nên học Agile Scrum?

    Khóa học này có thể dành cho tất cả mọi người, bất kỳ ai giữ vai trò hỗ trợ về hiệu suất, hiệu quả, và cải tiến liên tục của nhóm Team Leader hay người chịu trách nhiệm về việc sử dụng và/hoặc giới thiệu Scrum trong một dự án hoặc doanh nghiệp

    Khóa học phù hợp cho tất cả thành viên làm phần mềm. Vai trò cụ thể phù hợp bao gồm các product managers và product analysts, Quản lý dự án, Team Leader, Kiến trúc sư, Software Developer, Software Tester, CIO và CTO

    Các công cụ Agile Scrum (Artifacts) tuy rất đơn giản nhưng hỗ trợ công việc rất hiệu quả. Chúng bao gồm Product backlog, Sprint Backlog và Product Increment.

    1. Product backlog

    Đây là danh sách ưu tiên các tính năng (feature) hoặc đầu ra khác của dự án, có thể hiểu như là danh sách yêu cầu (requirement) duy nhất của dự án. Product Backlog rất linh hoạt, nó liên tục thay đổi để xác định sản phẩm nào hữu ích hay mang tính cạnh tranh. Nó chứa các mô tả về tất cả các tính năng, chức năng, cải tiến, các hạng mục mong muốn, vv

    Các hạng mục Product Backlog được tạo nên trong quá trình lập kế hoạch phát hành (Release Planning). Sau đó họ được cập nhật trong buổi họp lên kế hoạch Sprint (Sprint Planning) hoặc  Backlog Groomings. Các hạng mục ưu tiên hàng đầu được chọn sẽ được phát triển trong Sprint và được xem xét trong buổi họp Sprint Review.

    Công cụ Agile Scrum này do Product Owner chịu trách nhiệm sắp xếp độ ưu tiên cho từng hạng mục (Product Backlog Item) trong  Product Backlog dựa trên các giá trị do Product Owner định nghĩa (thường là giá trị thương mại – business value). Các hạng mục ưu tiên hàng đầu thì rõ ràng hơn và có nhiều thông tin chi tiết hơn.

    2. Sprint backlog

    Loại công cụ Agile Scrum thứ hai là một loạt danh sách các hạng mục Product Backlog được chọn cho một Sprint; là kết quả dự đoán bởi Nhóm Scrum sau buổi họp lên kế hoạch (Sprint Planning); là những chức năng nào sẽ có mặt trong Incerment tiếp theo và các công việc cần thiết để cung cấp các chức năng đó.

    Với sự kết hợp của Product Owner, nhóm Scrum sẽ phân tích các yêu cầu theo độ ưu tiên từ cao xuống thấp để hiện thực hóa các hạng mục trong Product Backlog dưới dạng danh sách công việc (TO-DO list).

    Nhóm Scrum luôn phải cập nhật Sprint Backlog trong suốt một Sprint, có thể sử dụng biểu đồ Burndown Chart hay Task Board để dễ dàng nhìn thấy tình trạng hiện tại của công việc như “to do”, “in progress” hay “Done”

    3. Product Increment

    Là phần tăng trưởng mới phải sử dụng được và đáp ứng Định nghĩa của Done (DoD) của Nhóm Scrum vào cuối mỗi Sprint. Phần tăng trưởng này phải bao gồm mã đã được kiểm tra kỹ lưỡng, được xây dựng thành một file và sử dụng được trong tập tin trợ giúp (Help files) hoặc tài liệu hướng dẫn sử dụng.

    Nếu tất cả mọi thứ hoạt động tốt và Nhóm phát triển đã ước tính tốt, phần tăng trưởng bao gồm tất cả các hạng mục đã được lên kế hoạch trong Backlog Sprint sẽ được thử nghiệm và lưu thành tài liệu.

    Ban biên tập: Ecci

    5

    /

    5

    (

    1

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Nhân Giống Cây Điều Bằng Phương Pháp Ghép Non Nối Ngọn
  • Cải Tạo Giống Cây Ăn Quả Bằng Phương Pháp Ghép Cành
  • Vận Dụng Phương Pháp Luận Biện Chứng Duy Vật Để Nâng Cao Năng Lực Tư Duy Cho Sinh Viên
  • 6 Nguyên Tắc Vàng Dạy Tiếng Anh Cho Trẻ Em Bạn Cần Ghi Nhớ
  • Phương Pháp Phản Xạ 2S
  • Phương Pháp Scrum Vs Phương Pháp Kanban

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Quản Lý Dự Án Agile
  • Các Mô Hình Xác Định Chi Phí Logistics Đối Với Doanh Nghiệp
  • Phân Tích Abc Và Xyz Mang Lại Hiệu Quả Như Thế Nào Trong Quản Lý Hàng Tồn Kho
  • Activity Based Costing Là Gì? Phương Pháp Tính Abc?
  • Bài Tập Và Đáp Án Phương Pháp Abc
  • Scrum và Kanban là hai từ thường được sử dụng thay thế cho nhau hoặc được mọi người hiểu sai nó là cặp từ đồng nghĩa. Trong thực tế, hai phương pháp Scrum và Kanban là khác nhau và thường được kết hợp với nhau Scrumkanban. Hiểu được những sự khác biệt của hai phương pháp sẽ giúp bạn chọn được phương pháp tốt nhất và phù hợp nhất cho công ty của bạn. Như vậy, Ecci vietnam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn.

    Khái niệm cần nắm

    Về cơ bản, phương pháp Scrum là bộ khung làm việc (framework) giúp các công ty, tổ chức chia nhỏ công việc thành những phần nhỏ hơn, để quản lý dễ dàng hơn và đượchoàn thành bởi một nhóm liên chức năng (cross-function) trong một khoảng thời gian quy định (còn gọi là sprint trong 2-4 tuần).

    Nhóm Scrum thường sử dụng Bảng Scrum để theo dõi công việc của từng thành viên trong nhóm (dòng chảy công việc – flow of work). Mỗi nhiệm vụ (task) được chia thành các đoạn nhỏ gọi là “stories”, mỗi stories chuyển giao trong Bảng gọi là “backlog” (những việc phải làm), trở thành “work-in-progess” (việc đang triển khai)

    Đó là một quy trình phát triển phần mềm theo mô hình linh hoạt (agile), cung cấp rất nhiều phương pháp luận, quy trình và các thực nghiệm để cho việc phát triển phần mềm trở nên nhanh chóng và dễ dàng. Với nguyên tắc chính là chia nhỏ phần mềm cần sản xuất ra thành các phần nhỏ để phát triển (gọi là Sprint. Sprint phải độc lập và release được), lấy ý kiến khách hàng (Product Owner) và thay đổi cho phù hợp ngay trong quá trình phát triển để đảm bảo sản phẩm release đáp ứng những gì khách hàng mong muốn.

    Mô hình Scrum vận hành dựa trên đặc tính tư nhiên của người phát triển nên rất dễ hiểu, dễ áp dụng, tạo nên tính tương tác cao giữa những thành viên trong nhóm thay vì chịu sự áp đặt từ bên ngoài.

    Ưu điểm của mô hình Scrum là gì?

    – Thời gian hoàn thành dự án linh hoạt, không bị cố định từ đầu

    – Thời gian tạo ra sản phẩm dựa vào mô hình Scrum nhanh, tốc độ phát triển nhanh, tiết kiệm thời gian

    – Phân phối sản phẩm mềm dẻo: nội dung sản phẩm chuyển giao được xác định linh hoạt theo môi trường sử dụng thực tế.

    – Mỗi thành viên phụ trách một “sprint” nên hiệu quả công việc cao hơn, năng suất cao hơn và tính chính xác cao hơn

    – Khách hàng tham gia vào quá trình phát triển phần mềm để đảm bảo sản phẩm đầu ra đáp ứng đúng nhu cầu phát triển.

    – Kiểm soát quá trình thực nghiệm vì nhóm Scrum có thể điều chỉnh và sửa chữa các practice bằng cách sử dụng hướng dẫn thực tế nhất từ các thử nghiệm và báo lỗi

    – Các bugs (lỗi) và các vấn đề trong mô hình Scrum được phát hiện sớm hơn rất nhiều so với các phương pháp truyền thống

    – Chất lượng sản phẩm tốt và giảm rủi ro sản xuất, chi phí thấp. Khả năng trao đổi giữa khách hàng và nhà phát triển, giữa những thành viên trong đội được đặt lên mức cao.

    Mô hình Agile Scrum mang lại lợi ích gì?

    Agile Scrum đang ngày trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rải bởi những nhà phát triển phần mềm. Vậy vì những lợi ích gì mà mô hình Agile Scrum lại được ưa chuộng như vậy?

    Cải thiện chất lượng phần mềm

    Framewrok của Scrum giúp nhóm phát triển Scrum nhận phản hồi liên tục và nhanh chóng điều chỉnh để đảm bảo chất lượng phần mềm cao nhất, đồng thời đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường luôn thay đổi. Bằng cách áp dụng các nguyên tắc nghiệm ngặt trong mô hình Scrum, nhóm phát triển Scrum có thể đưa ra thị trường các sản phẩm có chất lượng tốt nhất.

    Rút ngắn thời gian phát hành phần mềm

    Scrum đã được chứng minh là cung cấp sản phẩm đến tay khách hàng cuối cùng nhanh hơn 30%-40% so với phương pháp truyền thống. Vì mô hình Scrum làm việc với nguyên tắc chính là chia nhỏ phần mềm cần sản xuất ra thành các phần nhỏ để phát triển gọi là Sprint. Mỗi Sprint thường mất 2- 4 tuần để hoàn thành.

    Nâng cao tinh thần đồng đội

    Mô hình Scrum áp dụng cách thức tự quản và tự tổ chức (self-managing & self-organizing ), với mục đích các thành viên trong nhóm Scrum có thể vui vẻ làm việc cùng nhau, khơi dậy sự sáng tạo, chủ động trong họ. Cách thức tự quản lí cũng cho phép mọi thành viên trong nhóm Scrum đều có thể ra quyết định. Trong nhóm Scrum sẽ không có nhóm trưởng mà chỉ có Scrum Master, là người giúp nhóm vượt qua các trở ngại và che chắn cho nhóm khỏi những ảnh hưởng từ nội bộ hay bên ngoài.

    Gia tăng tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI)

    Giảm thời gian sản xuất là lí do chính yếu nhất giúp các dự án Scrum đạt được ROI cao hơn. Bởi vì doanh thu và các mục tiêu khác đến sớm hơn, nên tổng lợi nhuận cao hơn theo thời gian. Đây là một nguyên lý cơ bản của giá trị hiện tại thuần (NPV)

    Tăng mức độ hài lòng của khách hành

    Nhóm Scrum cam kết sản xuất ra các sản phẩm hoặc dịch vụ có thể khiến khách hàng hài lòng. Sở dĩ như vậy vì nhóm Scrum xem khách hàng là đối tác và giữ khách hàng tham gia vào dự án; thành phần tham gia dự án Scrum còn có Product Owner là người hiểu rõ các yêu cầu (requirements) của dự án và nhu cầu của khách hàng; thời gian cung cấp sản phẩm nhanh hơn

    Mô hình Scrum giúp giảm thiểu rủi ro thất bại hoàn toàn khi mất một số tiền đầu tư khổng lồ và thời gian dài để triển khai dự án mà không thu lại được ROI. Vì như đã trình bày, Scrum làm việc theo từng giai đoạn, từng Sprint, nên nhóm dự án có thể thực hiện từng bước, sau đó rút kinh nghiệm hoặc tiếp tục phát huy các ưu điểm của Sprint trước để cải thiện hơn sản phẩm trong Sprint sau tránh gây thất thoát quá lớn trong suốt dự án.

    Phương pháp Kanban là gì?

    Kanban cũng là một công cụ được sử dụng để giúp các công ty tổ chức đạt hiệu quả cao trong công việc. Kanban là công cụ kiểm soát sản xuất, dùng nhiều màu sắc để chỉ định nguyên liệu và các công đoạn khác nhau.

    Giống như phương pháp Scrum, Kanban cũng dùng Bảng Kanban và chia công việc thành những phần nhỏ. Trong khi phương pháp Scrum giới hạn thời gian cho phép để hoàn thành một công việc cụ thể (sprint) thì Kanban giới hạn số lượng công việc cho phép trong một điều kiện nhất định (bao gồm nhiều task trên một thẻ Kanban và trên To do list – chỉ định rõ phải nhận bộ phận, chi tiết hay nguyên liệu nào từ trạm trước nó với số lượng bao nhiêu)

    Scrum và Kanban khác nhau ở điểm gì?

    • Cả hai phương pháp Scrum và Kanban đều chia nhỏ các task lớn và phức tạp thành những đoạn nhỏ và hoàn thành theo một quy trình nhất định.
    • Cả hai phương pháp thúc đẩy cải tiến liên tục, tối ưu hóa công việc và quá trình.
    • Cả hai phương pháp đều tập trung vào dòng chảy công việc để khuyến khích các thành viên tham gia vào quy trình

    Phương pháp Scrum là giải pháp tốt nhất cho sản phấm và phát triển dự án. Kanban là giải pháp tốt nhất để hỗ trợ sản xuất. Sự khác nhau giữa phương pháp Scrum và Kanban là triết lý đằng sau và các ứng dụng thực tế của Scrum và Kanban. Có rất nhiều lí do khác nhau tuy nhiên có 3 điểm khác biệt lớn như sau:

    1. Lập kế hoạch, sự lặp lại

    Phương pháp Scrum đề cao tầm quan trọng về lịch trình. Các nhóm Scrum sẽ được cung cấp một danh sách ưu tiên của các task cần được hoàn thành, hoàn chỉnh chức năng và sẵn sàng chuyển giao (shippable) cho khách hàng. Các nhóm phải quyết định nhận task nào mà họ nhận thấy có thể được hoàn tất trong vòng một sprint.

    Nhóm Kanban không có khung thời gian (time box) hay quy trình lặp đi lặp lại. Sự cải tiến liên tục ​​sẽ diễn ra liên tục trong suốt quá trình hoàn thành sản phẩm. Sự giới hạn trong dòng chảy công việc sẽ được điều chỉnh ở nhóm hay trong tổ chức dựa trên phương pháp Kanban cho đến khi đạt được sự tối ưu của các điều kiện và điểm giới hạn đến để giữ cho dòng chảy công việc đều đặn và hiệu quả

    2. Vai trò và trách nhiệm

    Trong một nhóm Scrum, có ít nhất ba bên được phép chỉ định xử lý công việc: PO, Scrum Master và nhóm phát triển. Mỗi bên bị ràng buộc bởi về trách nhiệm riêng biệt và họ phải làm việc cùng nhau để đạt được một sự cân bằng giữa yêu cầu và sản phẩm cuối. Nhóm Scrum bắt buộc là nhóm liên chức năng, hay nói cách khác nhóm Scrum phải có tất cả các nguồn lực cần thiết để hoàn thành công việc.

    Với phương pháp Kanban, không có quy định nào về vai trò. Có thể hiểu là một người sẽ đảm nhận vai trò như người quản lý dự án hoặc giám sát, đặc biệt là đối với các dự án Kanban có quy mô lớn và phức tạp thì không có bất cứ quy định về các vai trò. Một nhóm Kanban không nhất thiết phải là nhóm liên cá nhân như phương pháp Scrum.

    Bất kỳ hoặc tất cả các nhóm đều có thể tham gia dự án. Do đó, một nhóm chuyên gia hay một một riêng biệt đều có thể làm việc trên các khía cạnh khác nhau của dự án Kanban tương tự từ cùng một bảng Kanban.

    Trên một bảng Scrum, các cột được dán nhãn để phản ánh các giai đoạn của dòng chảy công việc. Các task lần lượt theo thứ tự, làm tất cả mọi việc mỗi sprint trong một vài tuần (khoảng thời gian thông thường cho sprint) và chuyển chúng sang trạng thái hoàn thành (cột Done) và cuối cùng sẽ xử lý hết những sprint còn ở trạng thái chờ

    Trên một bảng Kanban, các cột tương tự được dán nhãn để hiển thị trạng thái flow of work. Tuy nhiên khác biệt ở chỗ có sự giới hạn về số lượng tối đa cho phép của mỗi cột tại bất kỳ thời điểm nào và hạn chế khả năng thực thi mỗi task.

    Vì mỗi cột có một số giới hạn khác nhau và không yêu cầu thời gian (như sprint), nên không có lý do để lặp lại quy trình như phương pháp Scrum. Tiến trình sẽ tiếp tục chạy với những task mới được bổ sung khi cần thiết và được đánh giá lại nếu cần.

    Phương pháp nào tốt hơn?

    Đây là một câu hỏi khó và không ai có thể trả lời câu hỏi này ngoài doanh nghiệp của bạn. Tùy vào nhu cầu, điều kiện và chiến lược riêng của từng doanh nghiệp để lựa chọn cho mình phương pháp Scrum hay Kanban.

    Ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể thử phương pháp Scrum-Kanban – kết hợp của phương pháp Scrum và Kanban. Scrumban được giới thiệu như một quy trình đơn giản để quản lý những dự án phức tạp. Hiện nay Scrumban được áp dụng tốt nhất khi phát triển website, phát triển phần mềm hoặc maintenance.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Phát Triển Phần Mềm: Truyền Thống Và Agile
  • Kanban Calendar: Phương Pháp Quản Lý Công Việc Đơn Giản Nhất
  • Quản Lý Trong Doanh Nghiệp Theo Phương Pháp Agile
  • Agile Là Gì Và Cách Xây Dựng Nhóm Agile Development Thành Công
  • Hướng Dẫn Từng Bước Triển Khai Agile Marketing
  • Phương Pháp Lịch Sử Và Phương Pháp Lô

    --- Bài mới hơn ---

  • Viện Nghiên Cứu Sức Khỏe Cộng Đồng
  • Khoa Học Sáng Tạo Và Phương Pháp Luận Sáng Tạo :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu Sơ Cấp Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • 6 Phương Pháp Nghiên Cứu Thị Trường Cho Người Mới Kinh Doanh
  • Hướng Dẫn Nghiên Cứu Thị Trường
  • (TGAG)- Phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gic là hai phương pháp chuyên ngành nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng. Kết quả và chất lượng mỗi công trình nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng phụ thuộc rất nhiều vào việc kết hợp chặt chẽ hai phương pháp này.

    Phương pháp lịch sử là phương pháp xem xét và trình bày quá trình phát triển của các sự kiện lịch sử, phong trào cách mạng theo một trình tự liên tục, trong mối liên hệ tác động lẫn nhau của chúng. Yêu cầu đối với phương pháp lịch sử là đảm bảo tính liên tục về thời gian của các sự kiện, phong trào; làm rõ điều kiện, đặc điểm phát sinh, phát triển và biểu hiện của chúng; làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của chúng với các sự kiện, phong trào khác.

    Trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ, phương pháp lịch sử dùng để xem xét, trình bày quá trình phát triển của Đảng theo trình tự liên tục về thời gian: Thời kỳ vận động thành lập Đảng (1920 – 1930); Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945); Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954); Thời kỳ chống đế quốc Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954 – 1975); Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước (1975 – 1986); Thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện (1986 – 1996); Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (1996 đến nay). Khi trình bày các sự kiện lịch sử, chúng ta phải chọn các sự kiện, phong trào hoạt động tiêu biểu, điển hình gắn với từng thời kỳ lịch sử. Đồng thời, phải đặt quá trình phát triển của Đảng bộ địa phương với các Đảng bộ địa phương lân cận và Đảng bộ cấp trên. Từ đó, chúng ta sẽ thấy trong quá trình hình thành, phát triển và lãnh đạo của các Đảng bộ có sự liên hệ và tác động lẫn nhau trong suốt quá trình cách mạng để cùng thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Vận dụng đúng phương pháp lịch sử giúp chúng ta khôi phục sự thật lịch sử một cách chân thực, khách quan.

    Phương pháp lịch sử có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng riêng lẻ phương pháp lịch sử thì công trình nghiên cứu, biên soạn sẽ rơi vào tình trạng chất đống sự kiện, không khái quát, đúc kết, chỉ ra được những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm; cần phải kết hợp phương pháp lô-gic.

    Phương pháp lô-gic là phương pháp sử dụng các luận điểm khoa học nhằm xem xét, nghiên cứu, khái quát, lý giải các sự kiện lịch sử. Từ đó, đánh giá, rút ra kết luận, chỉ ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của lịch sử.

    Để đảm bảo vận dụng phương pháp lô-gic trong công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ, đòi hỏi người viết phải đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế, khuyết điểm của Đảng bộ địa phương lãnh đạo phong trào cách mạng; nêu đúng mức đóng góp của Đảng bộ và Nhân dân địa phương đối với phong trào cách mạng của Đảng bộ cấp trên và cả nước.

    Phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gic có mối liên hệ với nhau. Bởi vì, khi phân tích các sự kiện lịch sử cụ thể là cơ sở để khái quát, rút ra bản chất, quy luật vận động của lịch sử. Muốn nắm được bản chất, quy luật vận động của lịch sử phải luôn bám sát sự kiện lịch sử cụ thể, dẫn ra các sự kiện lịch sử để chứng minh. Trong công tác nghiên cứu, biên soạn chúng ta không thể tách rời hai phương pháp này. Nếu thiếu lô-gic thì phương pháp lịch sử sẽ mù quáng. Nếu không nghiên cứu lịch sử thì phương pháp lô-gic sẽ rỗng tuếch mất đối tượng.

    Ví dụ trong quá trình nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, để nắm bản chất, quy luật vận động của lịch sử trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đòi hỏi người viết phải vận dụng kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gic. Khi trình bày các quan điểm, đường lối, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và phong trào cách mạng của quần chúng cần bám sát diễn biến cụ thể của lịch sử, nghiên cứu các sự kiện cụ thể nhằm thực hiện quan điểm, đường lối đó, phải đánh giá thành tựu, hạn chế, khuyết điểm, rút ra bản chất, quy luật vận động của lịch sử. Qua việc nghiên cứu, biên soạn các sự kiện cụ thể chúng ta sẽ thấy cuộc kháng chiến của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng là cuộc chiến tranh chính nghĩa, là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, dân là gốc của cách mạng…

    Phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gic đều có ý nghĩa và vai trò quan trọng. Tùy theo nội dung, yêu cầu cụ thể của vấn đề nghiên cứu, biên soạn mà xác định phương pháp lịch sử hoặc phương pháp lô-gic là chủ yếu.

    Ví dụ cùng nguồn tài liệu về cuộc kháng chiến thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mục đích của công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng để dựng lại những quan điểm, đường lối của Đảng; phong trào cách mạng của quần chúng nhằm thực hiện quan điểm, đường lối đó trong từng thời kỳ cần vận dụng phương pháp lịch sử là chủ yếu. Mục đích của việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng muốn phân tích, khái quát lý luận, tìm ra quy luật qua cuộc hai kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của Nhân dân ta thì sử dụng phương pháp lô-gic là chính.

    Trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng phải luôn vận dụng cả hai phương pháp lịch sử và lô-gic nhằm bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Việc vận dụng đúng hai phương pháp này góp phần làm nên chất lượng của công trình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Viện Khoa Học Quân Sự
  • Nghiên Cứu Sản Phẩm Là Làm Gì? Cách Nghiên Cứu Sản Phẩm
  • Nghiên Cứu Sản Phẩm Hoạt Động Sư Phạm
  • Các Nhà Khoa Học Đã Phát Hiện Ra Cách Thức Tế Bào Ung Thư Lẩn Trốn Trong Cơ Thể
  • Nghiên Cứu Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Rủi Ro Tín Dụng Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Phương Pháp Montessori Và Phương Pháp Reggio Emilia

    --- Bài mới hơn ---

  • Áp Dụng Phương Pháp Montessori Trong Gia Đình Theo 4 Nguyên Tắc
  • Top 5 Trường Mầm Non Áp Dụng Phương Pháp Montessori Tại Tp.hcm
  • Phương Pháp Montessori Trong Gia Đình, Tác Giả Sagara Atsuko
  • Sách Phương Pháp Montessori Trong Gia Đình
  • Hướng Dẫn Thực Hành Dạy Con Theo Phương Pháp Montessori Tại Nhà
  • Là hai trong số các nhà tiên phong vĩ đại nhất trong lĩnh vực giáo dục đều đến từ Ý, Maria Montessori và Loris Malaguzzi đều phát triển các phương pháp sư phạm hiện vẫn được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay. Maria Montessori đã xây dựng phương pháp giáo dục Montessori, và Loris Malaguzzi chính là người đã tạo ra phương pháp giáo dục Reggio Emilia.

    Montessori và Reggio Emilia cùng có một số điểm giao thoa trong những nguyên lý của họ, nhưng họ cũng có những khái niệm bổ sung cho những nguyên lý khác. Khi kết hợp với nhau, chúng mang lại trải nghiệm giáo dục nâng cao đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng người học.

    Những điểm tương đồng

    Hai phương pháp giáo dục Montessori và Reggio Emilia đều là những nguyên lý mang tính chất kiến tạo, nghĩa là trẻ tự hình thành kiến thức thông qua sự tương tác của chúng với thế giới xung quanh. Đứa trẻ sẽ được coi như là đang sở hữu ham muốn học hỏi bẩm sinh.

    Lựa chọn học thuật là trọng tâm của cả hai triết lý này. Đứa trẻ luôn có tiếng nói ở một mức độ nào đó đối với những gì nó học hỏi và cách chúng tiếp thu điều đó.

    Tôn trọng trẻ là một khái niệm không thể thiếu đối với cả hai phương pháp giáo dục. Trẻ được xem như một cá nhân và được đối xử như thể những suy nghĩ, quan điểm và mong muốn của chúng đều là quan trọng.

    Có một số điểm khác biệt chính giữa Phương pháp Montessori và phương pháp Reggio Emilia. Tuy nhiên, chính những điểm khác biệt đó khiến những triết lý này khi được hòa trộn lại phát huy tác dụng rất hữu hiệu. Việc sử dụng tài liệu, việc làm việc cá nhân hay làm việc theo đội nhóm, và vai trò của nghệ thuật là những điểm tương phản giữa hai phương pháp giáo dục này.

    SỰ KHÁC BIỆT CHÍNH GIỮA PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI VÀ PHƯƠNG PHÁP REGGIO EMILIA Việc sử dụng tài liệu

    Phương pháp giáo dục Montessori sử dụng những tài liệu rất riêng biệt do chính Tiến sĩ Maria Montessori sáng kiến. Các tài liệu này được trình bày theo trình tự đã định trước, và chúng được giới thiệu dựa trên sự sẵn sàng của từng cá nhân. Những đứa trẻ hoàn thành mỗi công việc theo một quy trình cụ thể.

    Phương pháp Reggio Emilia cung cấp sự đa dạng hơn về cả chính các tài liệu lẫn cách thức chúng được sử dụng. Trẻ luân chuyển qua các trung tâm để làm việc với các tài liệu này. Reggio là một triết lý dựa trên phương pháp học thông qua vui chơi và trẻ có thể tự do khám phá và sử dụng các tài liệu dựa trên sự tò mò của chúng.

    Trong một trường học kết hợp cả hai phương pháp giáo dục Montessori và Reggio Emilia, một giáo viên có thể đặt các tài liệu Montessori tại các trung tâm theo phong cách Reggio. Tùy thuộc vào nhu cầu của người học, giáo viên có thể chọn trình bày quy trình làm việc Montessori hoặc đơn giản là để học sinh khám phá.

    Học cá nhân và học theo nhóm

    Triết lý Montessori tập trung nhiều hơn vào việc học hỏi cá nhân. Các bài học thường được trình bày một đối một và không bắt buộc phải làm việc cùng nhau. Mặt khác, việc giảng dạy theo dự án (project-based learning) mang tính cộng tác chính là trọng tâm của Reggio Emilia.

    Vai trò của Nghệ thuật trong Phương pháp Montessori và Phương pháp Reggio Emilia

    Maria Montessori không xây dựng chương trình giảng dạy về nghệ thuật, nhưng bạn sẽ thấy nghệ thuật trong các trường học theo phương pháp Montessori. Nghệ thuật trong một trường học theo phương pháp Montessori thuần túy được giảng dạy riêng biệt, theo cách dựa trên kỹ năng. Trẻ em có thể học pha màu hoặc học làm đồ gốm.

    Trong lớp học theo phương pháp Reggio Emilia, nghệ thuật được sử dụng như một công cụ để học hỏi nhiều môn học khác nhau. Nó được tích hợp vào chương trình giảng dạy và cung cấp cho trẻ một phương tiện diễn đạt. Học sinh có thể trình bày vòng đời của ếch thông qua các mô hình đất sét, hoặc các em có thể tìm hiểu về hệ thống mạch của thực vật bằng cách in hình chiếc lá bằng sơn.

    Nhược điểm của việc chỉ dạy nghệ thuật dựa trên kỹ năng đó là không có cơ hội để sử dụng những khả năng đó cho một mục đích chắc chắn. Nhược điểm của việc khám phá thuần túy là những kỹ năng mà khi trẻ ngồi vào bàn còn hạn chế. Một trường học kết hợp cả hai phương pháp cung cấp đủ sự hướng dẫn trực tiếp để cung cấp cho sinh viên các công cụ cần thiết để tự thể hiện bản thân và cho phép nghệ thuật tạo điều kiện tốt nhất cho việc học tập của họ.

    Phương pháp Montessori và phương pháp Reggio Emilia có nhiều điểm chung. Sự tương đồng của hai phương pháp này làm cho chúng có thể được trộn lẫn với nhau. Tuy nhiên, chính sự khác biệt của hai phương pháp này đã làm cho việc kết hợp chúng trở nên hiệu quả. Sự tổng hòa của hai triết lý này tạo nên một phương pháp giáo dục phát triển toàn diện một cách tốt nhất cho trẻ.

    So sánh Phương pháp Montessori và Phương pháp Reggio Emilia

    Biên dịch: Hoàng Bá Cao

    Nguồn: MONTESSORI METHOD AND REGGIO EMILIA APPROACH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Montessori Trong Dạy Tiếng Anh Trẻ Em
  • Hướng Tới Áp Dụng Linh Hoạt Phương Pháp Giảng Dạy Montessori
  • 9 Nguyên Tắc Cần Nhớ Khi Dạy Trẻ Với Phương Pháp Montessori
  • Top 5 Trường Mầm Non Áp Dụng Phương Pháp Giảng Dạy Montessori Tại
  • Phương Pháp Montessori Ngày Nay
  • Phương Pháp, Phương Pháp Luận Và Vai Trò Của Phương Pháp Luận Triết Học Mác Lênin

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 10
  • Steam Là Gì? Hiểu Đúng Về Phương Pháp Giáo Dục Steam
  • Aac Là File Gì? Cách Mở, Chỉnh Sửa Và Chuyển Đổi File Aac
  • Nội Dung Và Ý Nghĩa Phương Pháp Phỏng Vấn Và Phương Pháp Ankét
  • Phương Pháp Phân Tích Abc Trong Quản Lý Tồn Kho
  • Thứ năm – 15/12/2016 07:51

    ThS. Trần Thiên Tú

    Phó Trưởng khoa LL M-LN, TT HCM

    `

    Ngoài chức năng thế giới quan, phương pháp luận là một trong hai chức năng cơ bản nhất của triết học, nó định hướng cho con người xác định, lựa chọn, sử dụng phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn một cách hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay, do chưa nghiên cứu sâu, có nhiều người vẫn hiểu chưa đúng và chưa phân biệt giữa phương pháp luận với phương pháp luận triết học; ngoài ra, họ còn đồng nhất phương pháp với phương pháp luận, phương pháp luận với phương pháp hệ, phương pháp luận với phương pháp luận triết học. Việc nhầm lẫn này sẽ đánh giá không đúng vị trí, vai trò của triết học trong cuộc sống cũng như hạ thấp chức năng của triết học.

    Hiểu đúng về phương pháp luận nói chung và phương pháp luận triết học nói riêng sẽ có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là đối với hoạt động dạy và học lý luận. Trong giảng dạy lý luận, đặc biệt là triết học, giảng viên sẽ phải chú trọng nhiều hơn đến phần ý nghĩa phương pháp luận; trong quá trình học tập, học viên sẽ hiểu sâu phần này hơn; trong hoạt động thực tiễn, con người sẽ biết vận dụng sáng tạo, triệt để hơn lý luận vào thực tế. Tất cả những điều này sẽ giúp con người hiệu quả hơn trong hoạt động cải tạo tự nhiên và xã hội.

    Với tầm quan trọng như trên, con người phải được trang bị lý luận về phương pháp luận, đặc biệt là phương pháp luận triết học. Để hiểu đúng về phương pháp luận, chúng ta phải hiểu về khái niệm phương pháp, phương pháp luận, phương pháp hệ; các cấp độ của phương pháp và phương pháp luận; vai trò của phương pháp luận triết học.

    1. Phương pháp, phương pháp hệ, phương pháp luận

    a. Phương pháp (methos): Có các cách hiểu về phương pháp như sau:

    Theo phạm vi ảnh hưởng, có thể phân phương pháp thành các cấp độ sau:

    Phương pháp riêng (ngành): là các phương pháp chỉ sử dụng trong các ngành riêng biệt. Mỗi khoa học đều có các phương pháp đặc thù, chỉ sử dụng riêng trong ngành mình, không thể sử dụng cho ngành khác; ví dụ: ẩn dụ, thậm xưng, … trong văn học; log, tích phân, … trong toán học.

    Phương pháp chung: là các phương pháp có thể được áp dụng trong nhiều ngành khác nhau; ví dụ: quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, xác suất thống kê, …

    Phương pháp chung nhất: là các phương pháp có thể sử dụng cho tất cả các ngành khoa học, đó là phương pháp của triết học.

    b. Phương pháp hệ (Methodica): là nhóm các phương pháp được sử dụng phối hợp trong một lĩnh vực khoa học hay một đề tài cụ thể; là hệ thống các thủ thuật hoặc biện pháp để thực hiện có tuần tự, có hiệu quả một công trình nghiên cứu khoa học. Sử dụng phối hợp các phương pháp là cách tốt nhất phát huy các điểm mạnh và khắc phục điểm yếu của từng phương pháp. Đồng thời chúng hỗ trợ, bổ sung, kiểm tra lẫn nhau trong quá trình nghiên cứu và để khẳng định tính xác thực của các luận điểm khoa học. Như vậy, thì phương pháp hệ thống nhất với nghĩa thứ 2 của “phương pháp” và được sử dụng trong nghiên cứu khoa học.

    c. Phương pháp luận (Methodology): hiện nay, có nhiều cách hiểu gần giống nhau về phương pháp luận. Có ba cách hiểu phổ biến nhất:

    Những tin mới hơn Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 8 Kỹ Năng Học Tập Hiệu Quả Cần Ghi Vào Bộ Nhớ
  • Phương Pháp Học Tập Thông Minh Và Hiệu Quả
  • Thuyết Trình Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả
  • Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Học Phần Ngôn Ngữ Lập Trình
  • Đề Tài: Nghiên Cứu Thay Đổi Phương Pháp Học Tập Của Sinh Viên
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100