Phương Pháp Tạo Hạt Khô Và Dập Thẳng Để Điều Chế Viên Nén

--- Bài mới hơn ---

  • Các Bước Của Quá Trình Tạo Hạt Ướt
  • Phương Pháp Yoga Kể Chuyện
  • Y Học Cổ Truyền Hà Nội
  • Chữa Béo Phì Đơn Giản Bằng Phương Pháp Y Học Cổ Truyền
  • Chữa Lao Xương Khớp Hiệu Quả Theo Phương Pháp Y Học Cổ Truyền.
  • Phương pháp tạo hạt khô có ưu điểm là tránh được tác động của ẩm và nhiệt đối với viên, do đó được dùng cho các viên chứa dược chất không bền với ẩm và nhiệt (aspirin. vitamin c, ampicilin…). Tạo hạt khô cũng tiết kiệm được mặt bằng và thời gian hơn tạo hạt ẩm. Hạn chế của phương pháp tạo hạt khô là: Dược chất phải có khả năng trơn chảy và liên kết nhất định và khó phân phối đồng đều vào từng viên (do hiện tượng phân lớp có thể xảy ra khi trộn bột kép và dập viên). Ngoài ra, hiệu suất tạo hạt không cao và viên khó đảm bảo độ bền cơ học.

    • Trộn bột kép: Chủ yếu là trộn bột dược chất với bột tá dược dính khô, tá dược rã. Tiến hành trộn và kiểm tra như với phương pháp xát hạt ướt.
    • Dập viên to – tạo hạt : Bột được dập thành viên to (có đường kính khoảng 1,5 – 2 cm). Sau đó phá vỡ viên to để tạo hạt. Rây chọn lấy hạt có kích thước quy định. Loại hạt bé chưa đạt kích thước quy định tiêp tục đưa dập viên to để tạo hạt lại. Như vậy, hiệu suất tạo hạt không cao và việc dập viên to có thể phải lặp đi lặp lại nhiều lần.

    Để khắc phục nhược điểm này, hiện nay người ta tạo hạt khô bằng phương pháp cán ép: Bột kép được cán ép thành tấm mỏng (dày khoảng 1 mm) giữa hai trục lăn. Sau đó xát võ tấm mỏng qua rây để tạo hạt. Hạt thu được theo phương pháp này gọi là hạt compact.

      Dập viên: Sau khi có hạt khô, tiến hành dập viên có khối lượng quy định như với phương pháp tạo hạt ướt.

      Phương pháp dập thẳng:

    Dập thẳng (direct compssion) là phương pháp dập viên không qua công đoạn tạo hạt. Do đó tiết kiệm được mặt bằng sản xuất và thời gian, đồng thời tránh được tác động của ẩm và nhiệt tới dược chất. Viên dập thẳng thường dễ rã, rã nhanh nhưng độ bền cơ học không cao và chênh lệch hàm lượng dược chất giữa các viên trong một lô mẻ sản xuất nhiều khi là khá lớn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Chỉ Tiêu Môi Trường Nước
  • Các Xét Nghiệm Hóa Sinh Của Tuyến Tụy Và Thay Đổi Sinh Hóa Trong Một Số Bệnh Của Tụy
  • Phương Pháp Xét Nghiệm Western Blot
  • Cách Chơi Wefinex Để Kiếm Lợi Nhuận Từ Sàn Giao Dịch Winsbo
  • Điều Trị Da Bằng Phương Pháp Vi Kim Có Tốt Không ?
  • Lựa Chọn Phương Pháp Tạo Hạt Ướt Để Điều Chế Viên Nén

    --- Bài mới hơn ---

  • Xét Nghiệm Pcr Có Những Ưu
  • Bạn Biết Gì Về Những Ứng Dụng Của Xét Nghiệm Pcr Trong Y Học?
  • Quá Trình Xử Lý Dữ Liệu
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Phân Tích Đa Thức Thành Nhân Tử Trong Giải Toán Ở Thcs
  • Chuyên Đề: Một Số Phương Pháp Phân Tích Đa Thức Thành Nhân Tử
  • Là phương pháp thông dụng nhất hiện nay do có nhiều ưu điểm như: Dễ đảm bảo độ bền cơ học của viên, dược chất dễ phân phối vào từng viên (do đó dễ đảm bảo sự đồng nhất về khối lượng viên và về hàm lượng dược chất). Quy trình và thiết bị đơn giản, dễ thực hiện.

    Viên nén thường là hỗn hợp của nhiều bột đơn. KTTP bột ảnh hưởng đến độ trơn chảy, đến tỷ trọng biểu kiến, đến khả năng chịu nén, đến mức độ trộn đều của khối bột. Với dược chất ít tan, KTTP còn ảnh hưởng trực tiếp đến SKD của viên. Do đó trước khi trộn bột kép cần chú ý đến việc phân chia nguyên liệu đến mức độ quy định. Khi trộn bột kép cần áp dụng kỹ thuật trộn đồng lượng để đảm bảo dược chất được phân phối đồng đều trong viên, đặc biệt với các viên nén chứa hàm lượng dược chất thấp. Khi lượng dược chất trong viên nhỏ có thể người ta không trộn bột kép mà hòa dược chất vào tá dược dính lỏng để xát hạt (nếu dược chất tan được) hoặc bao từng lớp lên hạt trước khi dập viên.

    Thời gian trộn bột kép ảnh hưởng đến độ đồng nhất của khối bột. do đó ảnh hưởng đến SKD của viên. Vì vậy cần được nghiên cứu xác định cụ thể cho từng công thức dập viên. Có trường hợp thời gian trộn kéo dài quá, dược chất lại có xu hướng tách lớp.

    Loại máy nghiền trộn và lực trộn có ảnh hưởng đến tính chất của viên nén về sau. Thí dụ: Nghiên mạnh có thể làm chuyển dạng kết tinh và thay đối độ tan của cafein. mebendazol….

    Mục đích của việc tạo hạt là tránh hiện tượng phân lớp của khối bột trong quá trình dập viên, cải thiện độ chảy của bột dập viên, tăng cường khả năng liên kết của bột làm cho viên dễ đảm bảo độ chắc và giảm hiện tượng dính cối chày khi dập viên.

    Để dễ dập viên, hạt phải dễ chảy và chịu nén tốt. Muốn vậy, hạt phải đáp ứng một.sô yêu cầu sau:

    • Có hình dạng thích hợp: Tốt nhất là hình cầu. Hạt hình cầu có ma sát nhỏ, dễ chảy, khi nén dễ liên kết thành viên.
    • Có kích thước thích hợp: Kích thước hạt ảnh hưởng đến độ trơn chảy và tỷ trọng hạt. Hạt có kích thước phân bố đều đặn thì dễ chảy và do đó dễ đảm bảo sự đồng nhất về khối lượng viên. Thông thường kích thước hạt thay đổi từ 0,5 – 2mm theo đường kính viên (viên càng bé thì nên xát hạt càng nhỏ và ngược lại).

    Tạo hạt ướt có thể thực hiện bằng cách xát hạt qua rây hoặc bằng thiết bị tầng sôi.

    • Tạo khối ẩm: Thêm tá dược dính lỏng vào khối bột, trộn cho đến lúc tá dược thấm đều vào khối bột, tạo ra sự liên kết các tiểu phân bột vừa đủ để tạo hạt. Để tá dược dễ thấm vào khối bột, nên dùng tá dược nóng, nhất là với những tá dược có độ nhớt cao như dịch thể gelatin, hồ tinh bột. Lượng tá dược và thời gian trộn quyết định đến khả năng liên kết của hạt. Thông thường phải qua thực nghiệm để xác định các thông số cụ thể cho từng công thức.
    • Xát hạt: Khôi ẩm sau khi trộn đều, để ổn định trong một khoảng thời gian nhất định rồi xát qua cỡ rây quy định. Kiểu rây xát hạt và cách xát ảnh hưởng đến hình dạng và mức độ liên kết của hạt. Nếu khối ẩm quá âm mà lực xát hạt lại lớn thì khi xát dễ tạo thành các sợi dài. Để thu được hạt có hình dạng gần với hình cầu, tốt nhất là xát hạt qua rây đục lỗ với lực xát hạt vừa phải.

    Với dược chất khó tạo hạt hoặc hạt có màu. có thể xát hạt hai lần để thu được hạt đạt yêu cầu và có màu sắc đồng nhất.

      Sấy hạt: Hạt sau khi xát, tán thành lớp mỏng và sấy ở nhiệt độ quy định. Trước khi sấy, có thể để thoáng gió cho hạt se mặt, sau đó đưa vào buồng sấy và nâng nhiệt độ từ từ cho hạt dễ khô đều. Trong quá trình sấy, thỉnh*thoảng đảo hạt, tách các cục vón và kiểm tra nhiệt độ sấy.

    Hạt thường được sấy cho đến độ ẩm từ 1 – 7% tùy từng loại dược chất. Độ ẩm hạt ảnh hưởng đến độ trơn chảy của hạt và mức độ liên kết tiêu phản khi dập viên, còn nhiệt độ sấy hạt ảnh hưởng đến độ ổn định hóa học của dược chất.

    – Sửa hạt: Hạt sau khi sấy xong, phải xát lại nhẹ nhàng qua cỡ rây quy định để phá vỡ các cục vón, tạo ra được khối hạt có kích thước đồng nhất hơn.

    Để hạn chế tác động của ẩm và nhiệt, tiết kiệm mặt bằng sản xuất, hiện nay trong sản xuất công nghiệp, người ta thường tạo hạt bằng thiết bị tầng sôi

    Nguyên tắc hoạt động của thiết bị tạo hạt tầng sôi (Fluidized – bed granulator) là: Hỗn hợp bột được “treo” lơ lửng trong dòng không khí nóng nhờ áp suất khí. Người ta phun tá dược dính lỏng thành giọt nhỏ vào bột.

    Các tiểu phân bột đã thấm ẩm sẽ dính với nhau tạo thành hạt. Hạt được sấy khô và lấy khỏi máy. Hạt thu được theo phương pháp này có hình dạng gần với hình cầu, trơn chảy tốt hơn hạt xát qua rây. Tuy nhiên, nhược điểm của tạo hạt tầng sôi là dược chất khó phân tán đều trong hạt và phiền phức khi phải vệ sinh máy.

    Hạt sau khi sấy đến độ ẩm quy định, đưa trộn thêm tá dược trơn, tá dược rã ngoài rồi dập thành viên. Có nhiều loại máy dập viên khác nhau hoạt động theo nguyên tắc: Nén hỗn hợp bột hoặc hạt giữa hai chày trong một cối (buồng nén) cố định.

    Chu kỳ dập viên trong máy tâm sai có thể chia thành 3 bước

    • Nạp nguyên liệu: Khi nạp nguyên liệu, dung tích buồng nén phải ở mức lớn nhất. Do đó, chày dưới phải ở vị trí thấp nhất, chày trên phải ở vị trí cao nhất phù hợp với dung tích buồng nén đã chọn. Phễu ở vị trí trung tâm và nạp đầy nguyên liệu vào buồng nén.
    • Nén (dập viên):

    Phễu dịch xa khỏi trung tâm, chày dưới đứng yên, chày trên tiến dần xuống vị trí thấp nhất để đạt lực nén tôi đa. Các tiểu phân được nén sát lại với nhau hình thành viên nén.

      Giải nén (đẩy viên ra khỏi cối): Sau khi nén xong, chày trên giải nén tiến về vị trí trước khi nén. Đồng thời chày dưới tiến dần lên vị trí cao nhất (ngang với mặt bằng cối) để đẩy viên ra khỏi cối. Phễu tiến về vị trí trung tâm để gạt viên ra khỏi mâm máy và tiếp tục nạp nguyên liệu cho chu kỳ sau.

    Khi chưa nén, các tiểu phân xếp xa nhau, giữa chúng là các khoảng trống chứa đầy không khí. Dưới tác động của lực nén, các tiểu phân dịch lại gần nhau, khoảng trống liên tiểu phân thu hẹp. không khí thoát ra ngoài.

    Khi nén đến một lực nén tới hạn, các tiêu phân xếp xít nhau đến một mức độ nhất định và giữa chúng sinh ra lực liên kết như: Lực hút Van der Wall, lực liên kết hóa trị, liên kết hydro,… Lực liên kết này giúp cho viên nén hình thành. Khoảng trống liên tiểu phân biến thành các vi mao quản, giúp cho việc kéo nước vào lòng viên làm cho viên rã ra khi dùng.

    Khi giải nén, các tiêu phân sinh ra phản lực đàn hồi. Với tiểu phân biến dạng dẻo, phản lực đàn hồi nhỏ hơn lực liên kết và viên vẫn giữ được độ bền cơ học sau khi nén. Với tiểu phân biến dạng đàn hồi, phản lực đàn hồi lớn có thể phá vỡ từng phần cấu trúc của viên. Lớp tiểu phân ở bề mặt viên bị nén nhiều nhất, khi giải nén sẽ có phản lực đàn hồi lớn nhất, làm cho viên dễ bị bong mặt.

    Khi dập viên, nếu lực nén lớn quá có thể làm cho tiểu phân bị biến dạng, gây vỡ ảnh hưởng đến độ tan và tốc độ hòa tan ban đầu của dược chất, do đó mà ảnh hưởng đến SKD của viên. Hơn nữa, hiện tượng quá nén sẽ làm giảm hệ thống vi mao quản trong viên, làm cho viên khó rã giải phóng dược chất. Vì vậy, khi dập viên cần xác định lực nén tối ưu cho từng loại dược chất và từng công thức dập viên.

    Trong quá trình dập viên, lực nén phân bố không đồng đều trong lòng viên nén (Hình 10.4). Việc phân bố này phụ thuộc nhiều vào tá dược trơn và kiểu máy dập viên.

    Trong sản xuất lớn, người ta dùng máy quay tròn nhiều chày đẽ dập viên, ở máy quay tròn viên được nén từ từ nhiều lần, lực nén được phân bố trong lòng viên đồng đều hơn ở máy tâm sai, do đó viên ít bị bong mặt, sứt cạnh hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tính Tần Số Hoán Vị Gen
  • Phương Pháp Xử Lý Số Liệu
  • Top 7 Methods To Fix Computer Won’t Wake Up From Sleep Or Hibernate After Windows 10 Update
  • Các Phương Pháp Xác Định Cod, Bod, Do
  • Hội Chứng Prader Willi Là Gì? Nguyên Nhân Và Phương Pháp Điều Trị
  • Phương Pháp Tạo Hạt: Tạo Hạt Khô Và Tạo Hạt Ướt Trong Sản Xuất Thuốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Mẫu Phiếu Xuất Kho Và Cách Lập Theo Thông Tư 133
  • Hướng Dẫn Cách Viết Phiếu Xuất Kho Theo Quy Định 2022
  • Công Nghiệp Xi Măng Với Tiết Kiệm Năng Lượng
  • Xi Măng Việt Nam Với Công Nghệ 4.0
  • Big Data: Những Vấn Đề, Giải Pháp & Thách Thức
  • Việc tạo hạt: tạo hạt khô hoặc tạo hạt ướt giúp tăng sự trơn chảy cho khối bột, tăng khả năng chịu nén và nhiều vai trò khác nữa.

    Phương pháp tạo hạt khô trong sản xuất dược phẩm:

    Sơ đồ quy trình của phương pháp tạo hạt khô được biểu diễn trong hình sau:

    Khác với phương pháp dập thẳng, phương pháp tạo hạt khô sẽ có thêm bước tạo các hạt chứa dược chất. Việc tạo hạt giúp tăng sự trơn chảy cho khối bột, tăng khả năng chịu nén và nhiều vai trò khác nữa. 

    Có 2 cách tạo hạt khô như trên hình bên trên, cách 1 là dập viên to sau đó đập vỡ. Cách 2 là ép bánh sau đó nghiền. Theo như quan sát tại Việt Nam, phương pháp dập viên to rồi đập vỡ chủ yếu áp dụng ở quy mô thử nghiệm (labs) vì phương pháp áp dụng tốt với lượng mẫu nhỏ. Cách 2 là cán (ép bánh) sau đó nghiền được áp dụng nhiều trên quy mô pilot và công nghiệp, vì trên quy mô công nghiệp có máy cán tạo hạt khô, cũng như việc vận hành máy cán tạo hạt sẽ dễ dàng và tạo ra hạt có kích thước đều hơn.

    Phương pháp tạo hạt ướt trong sản xuất dược phẩm:

    Sơ đồ quy trình của phương pháp tạo hạt ướt được biểu diễn trong hình sau:

    Tạo hạt ướt là phương pháp cuối cùng áp dụng nếu như 2 phương pháp sản xuất dập thẳng và tạo hạt khô không hiệu quả. Vì dược chất sẽ bị tiếp xúc với nhiệt và ẩm.

    Lưu ý: Lượng nước cần nhào là bao nhiêu, thời gian nhào, tốc độ nhào, nhiệt độ sấy, thời gian sấy là bao nhiêu thì đều cần phải khảo sát cụ thể.

     

     Cập nhật các thông tin và bài viết mới nhất tại page Pharma Labs:

    https://www.facebook.com/pharmalabs.rd

     Và kênh Youtube:

    https://www.youtube.com/c/PharmaLabs

    Chia sẻ:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dập Thẳng Trong Sản Xuất Viên Nén
  • Công Nghệ Bào Chế Một Số Dạng Thuốc
  • Giáo Trình Quan Trắc Môi Trường Chọn Lọc
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 12026:2018 Về Chất Lượng Nước
  • 07 Phương Pháp Giao Dịch Wefinex Hiệu Quả Win 95%
  • Mục Đích Và Phương Pháp Tạo Hạt Khô Trong Sản Xuất Thuốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Quy Trình Xét Nghiệm Chẩn Đoán – Covid Reference
  • Phương Pháp Phân Tích Dữ Liệu Của Trung Tâm Phân Tích Dữ Liệu Thông Minh Tại Ấn Độ
  • Y Học Cổ Truyền: Các Phương Pháp Điều Trị Chính
  • Phương Pháp Doctor100 Với Cột Sống, Xương, Khớp
  • Con Mè Nheo Lười Học, Áp Dụng Ngay Phương Pháp Giáo Dục Sớm Của Nhật Sau
  • Mục đích tạo hạt

    • Nhằm tăng khả năng chịu nén cho khối bột để thu được viên có hình thức đẹp, kết cấu thích hợp.
    • Phương pháp tạo hạt nhằm tăng độ trơn chảy, đảm bảo độ đồng đều phân liều cho chế phẩm thuốc.
    • Giúp giảm hiện tượng dính chày cối
    • Việc tạo ra các hạt có kích thước to đều giúp tránh hiện tương phân lớp trong quá trình dập viên và tạo hỗn hợp bột đồng nhất
    • Tăng liên kết giữa các tiểu phân giúp đảm bảo độ chắc của viên.
    • Điều chỉnh tỷ trọng các dạng thuốc rắn
    • Làm giảm phát bụi trong quá trình sản xuất.

    Ưu điểm của phương pháp tạo hạt khô

    • Quá trình tạo hạt khô không sử dụng nhiệt và ẩm nên tránh được tác động của nhiệt và ẩm lên độ ổn định của dược chất, do đó có thể dùng để tạo hạt cho các dược chất kém bền với hai yếu tố này, ví dụ như các kháng sinh, vitamin, aspirin, …
    • So với phương pháp tạo hạt ướt, tạo hạt khô tiết kiệm được diện tích mặt bằng, ít công đoạn hơn nên tiết kiệm thời gian hơn.

    Nhược điểm của phương pháp tạo hạt khô

    • Dược chất muốn tạo hạt khô thì cần phải trơn chảy tốt và khả năng chịu nén tốt, hoặc cần tá dược độn trơn chảy tốt với tỉ lệ tương đối lớn
    • Dễ xảy ra hiện tượng tách lớp, dược chất khó được phân phối đều
    • Chất lượng hạt (hình thức, độ bền cơ học) kém hơn phương pháp tạo hạt ướt.
    • Tính ổn định trong quy trình sản xuất cũng kém hơn tạo hạt ướt.
    • Dễ phát bụi trong quá trình tạo hạt.
    • Hiệu suất tạo hạt không cao.

    Cơ chế tạo hạt khô

    Gồm có 4 cơ chế như sau:

    • Các tiểu phân được tái sắp xếp lại vị trí trong khối bột.
    • Biến dạng các tiểu phân theo ba kiểu biến dạng: đàn hồi, dẻo và gãy vỡ dẫn đến làm thay đổi bề mặt các tiểu phân rắn và các liên kết được hình thành.
    • Hình thành các mẩu, mảnh tiểu phân liên kết
    • Tạo liên kết giữa các tiểu phân

    Trong phương pháp tạo hạt khô, liên kết tiểu phân hình thành nhờ các lực liên kết sau:

    • Thứ nhất liên kết tiểu phân hình thành nhờ lực kết dính và đồng kết dính trong màng film lỏng bất động. Đây cũng là cơ chế liên kết chính trong tạo hạt khô. Khi tác động một lực nén ép lên bề mặt khối bột thì lượng ẩm trong khối bột sẽ có xu hướng di chuyển ra ngoài bề mặt và tạo liên kết hydro. Nếu lượng ẩm này đủ lớn thì nó sẽ hình thành một lớp màng mỏng và không di động làm cho khoảng cách giữa các tiểu phân sẽ giảm đi đồng thời diện tích tiếp xúc giữa các tiểu phân cũng tăng lên và tạo điều kiện cho sự liên kết. Trong phương pháp tạo hạt khô, lực nén ép được sử dụng trong giai đoạn cán ép tạo tấm hay là dập viên to. Như vậy chính lực nén này đã góp phần hình thành màng phim lỏng và kết tính các tiểu phân lại với nhau.
    • Thứ hai là sự hình thành cầu nối rắn khi làm chảy lỏng một phần nguyên liệu: Phương pháp tạo hạt khô sử dụng áp lực nén cao có thể làm chảy lỏng các thành phần dược chất hay tá dược có nhiệt độ nóng chảy thấp và làm cho các tiểu phân kết dính lại với nhau. Khi giải nén, các thành phần nóng chảy sẽ kết tinh trở lại đồng thời hình thành liên kết giữa các tiểu phân.
    • Thứ ba là lực hấp dẫn trong các tiểu phân rắn trong đó chủ yếu là lực liên kết phân tử Van der Waals và lực tĩnh điện. Lực Van der Waals lớn gấp 4 lần lực tĩnh điện. Khi quá trình nén ép khối bột xảy ra thì khoảng cách giữa các tiểu phân giảm đi làm độ lớn của các lực hấp dẫn này tăng lên. Đặc biệt khi lực hấp dẫn Van der Waals tăng lên thì lực liên kết giữa các tiểu phân cũng tăng lên.
    • Thứ tư là liên kết theo cơ chế lồng cơ học: Liên kết lồng cơ học được hiểu là trạng thái kết dính xuất hiện chỉ khi các tiểu phân tá dược dính thâm nhập vào các khe hở, các khoảng không giữa các tiểu phân khôi bột làm kết dính bề mặt các tiểu phân trong khối bột theo cơ chế khóa cơ học tương tự như cơ chế ổ khóa-chìa khóa.

    Quy trình tạo hạt khô

    Nghiền, xay, rây, cân

    Mục đích nghiền, xay là để làm nhỏ tiểu phân đến kích thước mong muốn với các dược chất có kích thước tiểu phân lớn

    Mục đích rây nhằm phân đoạn kích thước tiểu phân, loại các tiểu phân lớn do đó làm giảm hiện tượng tách lớp.

    Cân dược chất và tá dược cần đảm bảo lượng cân chính xác với sai số do cân không quá ±5% (nếu dược chất và tá dược có khối lượng nhỏ thì không được có sai số).

    Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hạt tạo thành:

    • Kích thước tiểu phân ảnh hưởng lớn đến độ trơn chảy, tỉ trọng biểu kiến, khả năng chịu nén và độ đồng nhất của khối bột. Nếu tiểu phân quá mịn thì sẽ làm tăng liên kết liên bề mặt tiểu phân làm cho khối bột trơn chảy kém. Kích thước tiểu phân lớn sẽ làm ảnh hưởng đến sinh khả dụng (thường làm giảm của các thuốc dạng rắn của dược chất ít tan. Do đó cần phải lựa chọn kích thước tiểu phân phù hợp
    • Phân bố kích thước tiểu phân: các tiểu phân kích thước không đều nhau thì trong quá trình tạo hạt dễ xảy ra hiện tượng tách lớp, do đó cần kiểm soát phân bố kích thước tiểu phân hẹp để hạn chế hiện tượng này.

    Thiết bị nghiền hay dùng trong qui mô phòng thí nghiệm chày cối, còn trong công nghiệp sử dụng máy nghiền bi, máy nghiền búa, …

    Trộn bột kép

    Thành phần bột đem trộn gồm có bột dược chất, tá dược dính khô, tá dược độn, tá dược rã và một phần tá dược trơn. Quá trình trộn bột kép để dược chất phân tán đều tạo thành khối bột đồng nhất có vai trò rất quan trọng, đặc biệt với các thuốc chứa hàm lượng dược chất thấp. Đầu tiên tiến hành trộn hỗ dược chất, tá dược độn, dính và tá dược rã. Cách trộn tùy thuộc vào hàm lượng dược chất trong chế phẩm thuốc. Trường hợp hàm lượng dược chất lớn hơn 10% thì ta có thể trộn dược chất và tá dược trong một bước với tốc độ và thời gian phù hợp. Trong trường hợp hàm lượng dược chất từ 2-10%, quá trình trộn cần tối thiểu 2 bước: trộn dược chất với một phần tá dược để tạo hỗn hợp có tỉ lệ trên 10% sau đó trộn với lượng tá dược còn lại. Còn nếu như hàm lượng dược chất từ 0,1-2%, trộn theo nguyên tắc đồng lượng để đảm bảo dược chất được phân phối đồng đều. Trường hợp dược chất có hàm lượng nhỏ hơn 0,1% thì thực hiện trộn rắn lỏng, tức là hòa tan dược chất vào dung môi dễ bay hơi thích hợp rồi trộn với hỗn hợp bột sau đó sấy đến khô thu được khối bột đồng nhất. Sau đó mới trộn tá dược trơn trong thời gian ngắn khoảng 3-5 phút. Khác với phương pháp tạo hạt ướt, trong giai đoạn trộn bột kép của tạo hạt khô cần có tá dược trơn để khối bột có khả năng trơn chảy tốt, có thể chảy đều qua phễu đến thiết bị cán ép hay dập viên ở giai đoạn sau đó để đảm bảo độ đồng đều viên sau này.

    Cần kiểm soát độ đồng nhất của khối bột do khối bột có đồng nhất thì hạt và viên tạo ra mới đồng đều khối lượng, hàm lượng và màu sắc (nếu như có chất màu). Các yếu tố ảnh hưởng đến độ đồng nhất khối bột:

    • Kích thước tiểu phân quá lớn hay tiểu phân quá mịn, phân bố kích thước tiểu phân không đều có thể dẫn đến khối bột không đồng nhất.
    • Thời gian trộn bột kép: cần xác định thời gian trộn thích hợp. Nếu thời gian trộn quá dài thì khối bột có xu hướng tách lớp trong khi nếu trộn chưa đủ thời gian thì dược chất chưa phân tán đều.
    • Thiết bị trộn, tốc độ và lực trộn có thể ảnh hưởng đến chất lượng chế phẩm sau này. Nếu tốc độ trộn quá cao, các tiểu phân sẽ chỉ bám vào thành thiết bị mà không chuyển động hỗn loạn hay nếu tốc độ trộn quá thấp sẽ không tạo ra được sự xáo trộn dẫn đến khối bột không đồng nhất. Các thiết bị trộn hay sử dụng như thiết bị trộn hình chóp đối xứng, kiểu chữ V, thiết bị trộn lập phương, … trong phòng thí nghiệm với qui mô nhỏ có thể sử dụng chày cối.

    Nén ép kết tập tiểu phân

    Có thể nén ép tiểu phân theo một trong hai phương pháp: cán ép tạo tấm và dập kép (dập tạo thỏi).

    Cán ép tạo tấm

    • Nguyên tắc hoạt động của thiết bị cán ép tạo tấm: hỗn hợp bột được đưa vào thùng chứa có thiết bị khuấy trộn liên tục để hạn chế hiện tượng tách hệ thống trục ngang, trục dọc, khối bột được di chuyển đến hệ thống hai trục cán quay ngược chiều và được ép thành dạng tấm. Tấm bột sau ép sẽ rơi xuống thiết bị xát lắc ở dưới để tạo hạt. Hạt tạo ra đến kích thước nhất định sẽ qua được lưới rây và rơi xuống thùng chứa. Các hạt lớn tiếp tục được làm nhỏ tiếp. Trong thùng đựng phía dưới, bột mịn sẽ được sàng ra rồi được đưa quay trở lại thùng chứa. Hạt tạo ra theo phương pháp cán ép tạo tấm được gọi là hạt compact. Các khoảng không trong hạt gần như không có do lực ép tạo tấm lớn.
    • Các thông số cần kiểm soát bao gồm tốc độ xoay của trục ngang, trục dọc, tốc độ quay của hai trục cán ép, khoảng cách giữa hai trục cán, tốc độ quay của cách xát lắc, kích thước mắt rây, …

    Phương pháp dập kép:

    • Nguyên tắc: Thay vì tạo tấm như phương pháp trên, khối bột sẽ được dập thành viên to sau đó các viên này được phá vỡ tạo ra các hạt nhỏ hơn. Tiếp đó chọn hạt có kích thước mong muốn bằng cỡ rây thích hợp. Các hạt bé chưa đủ kích thước được đưa đến bước đầu tiên để dập thành viên to
    • So với phương pháp cán ép tạo tấm thì dập tạo thỏi có nhược điểm là hiệu suất tạo hạt không cao, cần thùng chứa sản phẩm trung gian, tốn diện tích mặt bằng, tốn năng lượng và thời gian hơn, gây ồn và phát bụi gây ô nhiễm nhiều hơn. Do đó ngày nay người ta ít dùng phương pháp này trong sản xuất công nghiệp hơn cán ép tạo tấm.

    Trộn tá dược rã ngoài và tá dược trơn

    Nên trộn hai loại tá dược này riêng rẽ do tá dược rã ngoài cần thời gian trộn lâu hơn, kỹ hơn so với tá dược trơn, Ngược lại tá dược trơn chỉ nên trộn khoảng 3 phút, đủ để bao phủ bề mặt hạt giúp giảm ma sát và tăng khả năng trơn chảy cho hạt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Công Cụ Xử Lí Số Liệu Trong Nckh
  • Ngủ 2 Tiếng Một Ngày Với Phương Pháp Ngủ Đa Pha
  • Luyện Ngủ Theo Phương Pháp Của Dr. Ferber
  • Cách Cai Bú Đêm Và Giúp Bé Ngủ Thẳng Giấc
  • Ptn Hóa Kỹ Thuật Môi Trường
  • Dập Thẳng Trong Sản Xuất Viên Nén

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Tạo Hạt: Tạo Hạt Khô Và Tạo Hạt Ướt Trong Sản Xuất Thuốc
  • Mẫu Phiếu Xuất Kho Và Cách Lập Theo Thông Tư 133
  • Hướng Dẫn Cách Viết Phiếu Xuất Kho Theo Quy Định 2022
  • Công Nghiệp Xi Măng Với Tiết Kiệm Năng Lượng
  • Xi Măng Việt Nam Với Công Nghệ 4.0
  • Viên nén là dạng bào chế rắn được sử dụng rộng rãi nhất và cần đáp ứng một số yêu cầu về đặc tính vật lý như độ cứng, độ rã, độ bền và đồng đều khối lượng, hàm lượng. Để đáp ứng đặc điểm của viên nén phù hợp với các thành phần đã chọn, các nhà sản xuất có thể sử dụng ba công nghệ dập viên khác nhau như dập thẳng (dập viên trực tiếp), xát hạt khô và xát hạt ướt.

    ĐẠI CƯƠNG VỀ DẬP THẲNG

    Hầu hết các dược chất cần phối trộn với tá dược để xát hạt trước khi dập viên. Ngày nay, trong công nghiệp dược, có nhiều nhà sản xuất bào chế sẵn các tá dược đa năng cùng sự ra đời của các thiết bị dập viên hiện đại giúp có thể dập viên trực tiếp, chỉ cần trộn đều hỗn hợp ở trạng thái khô và nén viên mà không cần xát hạt hay điều chỉnh các đặc tính vật lý.

    Ngày nay, dập trực tiếp được hiểu là phương pháp dập viên không qua giai đoạn xát hạt. Dập viên trực tiếp là quy trình dập viên đơn giản, dễ kiểm soát và ít tốn kém nhất. Dập trực tiếp chỉ gồm hai bước chính là trộn khô và dập viên.

    Phương pháp xát hạt ướt có thêm 4 bước khác như: trộn ướt, xát hạt, sấy khô, rây sửa hạt. Mỗi bước đó không chỉ đòi hỏi phải có thêm các thiết bị, máy móc, không gian, nhân lực, chi phí mà còn có nguy cơ nhiễm chéo và gây hao hụt sản phẩm…

    QUY TRÌNH DẬP THẲNG

    1. Quy trình đơn giản giúp tiết kiệm chi phí đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất và tiết kiệm nhân lực cũng như thời gian sản xuất.
    2. Tiết kiệm chi phí nghiên cứu sản phẩm, thẩm định máy móc, quy trình sản xuất và chi phí kiểm nghiệm.
    3. Tăng tính đồng nhất giữa các lô vì quy trình sản xuất gồm ít bước hơn.
    4. Hạn chế nhiễm chéo và hao hụt sản phẩm.
    5. Tốc độ phóng thích dược chất ít thay đổi theo thời gian bảo quản.
    6. Tăng độ ổn định cho sản phẩm.
    7. Ít gây hư hỏng dược chất, áp dụng được cho cả các hoạt chất dễ bị phá hủy bởi nhiệt và ẩm hay nhạy cảm với dung môi.

    NHƯỢC ĐIỂM DẬP THẲNG

    1. Phạm vi ứng dụng hạn chế, khó áp dụng viên có hàm lượng dược chất quá cao hay quá thấp.
    2. Tá dược mắc tiền hơn và phải đáp ứng một số yêu cầu kỹ thuật.

    VẤN ĐỀ KỸ THUẬT CẦN LƯU Ý

    Mặc dù có rất nhiều ưu điểm nhưng công nghệ dập thẳng chưa được ứng dụng rộng rãi do cần lưu ý các yếu tố kỹ thuật như:

    • Dược chất dập thẳng có thể là dạng kết tinh tinh thể lớn (Vitamin C, NaCl, KMnO4), dạng hình thể nhất định (aspirin) hoặc dạng xát hạt sẵn.
    • Kích thước hạt 100-600 µm sẽ cho viên có độ cứng tốt.
    • Dược chất dập thẳng cần có độ trơn chảy, tính chịu nén, tính kết dính tốt. Khi bản thân dược chất không thể dập trực tiếp cần thêm tá dược để độn hoặc cải thiện tính dính, rã, trơn chảy, tính chịu nén của khối bột (dược chất và tá dược).
    • Dược chất được nghiền mịn giúp sự trộn đều dễ dàng hơn, đảm bảo dược chất được phân bố đồng đều trong khối bột ở giai đoạn trộn khô (đặc biệt với viên có hàm lượng thấp) và tăng tốc độ hòa tan cũng như sinh khả dụng của thuốc.
    • Tá dược dùng trong phương pháp dập thẳng phải là loại tá dược đa chức năng, ít nhất phải bao gồm chức năng chính là độn, dính, rã, một số tá dược dập thẳng có thêm chức năng trơn. Ví dụ các tá dược với tính dính, trơn chảy cao như dicalciphosphat,  Avicel và các dẫn chất cellulose, dẫn chất của tinh bột, lactose phun sấy, maltose kết tinh…
    • Tá dược có tỷ trọng và kích thước gần với dược chất để ngăn ngừa hiện tượng tách lớp của dược chất ở các giai đoạn sau khi trộn dẫn đến không đồng đều hàm lượng
    • Tá dược màu không tan dạng siêu mịn thường được chọn vì giúp phối trộn đồng đều hơn
    • Lượng tá dược trơn sử dụng và thời gian trộn cần được xác định cụ thể:
      • Ít tá dược trơn làm viên có sai số hàm lượng, khối lượng
      • Nhiều tá dược trơn làm viên có khuynh hướng mềm
      • Nên trộn trong 3-5 phút sau khi đã trộn tất cả các thành phần khác

    Ngày nay, dập viên trực tiếp đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp dược và đang trở thành xu hướng của công nghiệp dược hiện đại yêu cầu các NSX tối ưu và hiện đại hóa hóa quy trình sản xuất.

    Sự ra đời của các dạng hoạt chất dập thẳng đã phối trộn sẵn tá dược đã giúp việc dập thẳng trở nên đơn giản hơn bao giờ hết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Nghệ Bào Chế Một Số Dạng Thuốc
  • Giáo Trình Quan Trắc Môi Trường Chọn Lọc
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 12026:2018 Về Chất Lượng Nước
  • 07 Phương Pháp Giao Dịch Wefinex Hiệu Quả Win 95%
  • Phương Pháp Đỉnh Cao Bất Bại Trong Trade
  • Phương Pháp Chà Xát Của Cốc Đại Phong

    --- Bài mới hơn ---

  • 4 Bước Xoa Bóp Tim Ngoài Lồng Ngực Ai Cũng Phải Biết
  • Hướng Dẫn Hô Hấp Nhân Tạo Và Xoa Bóp Tim Cho Người Bị Nạn Trên Tàu
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Giải Rubik 3×3 Bằng Cfop
  • 14 Điều Thú Vị Về Khối Rubik
  • Bài Điều Kiện Môn Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt Ở Tiểu Học
  • Cốc Đại Phong từ thuở nhỏ học đêm ngày để dự bị cho cuộc thi của triều đình, vì học quá ông bị đuối sức.Tới tuổi trung tuần, sức khỏe của ông càng ngày càng giảm.Mặc dù chưa tới 40 tuổi, mắt ông đã mờ, hay bị chóng mặt, đau lưng và đau chân.Lúc đó thân sinh của ông quyết định dạy cho ông phương pháp chà xát mà phương pháp này đã truyền từ đời này sang đời khác.Ông tập chỉ chừng nữa năm, các bệnh đều biến mất, sức khỏe dần phục hồi.

    Từ đó đến hơn 30 năm sau ông vẫn tập đều, đến năm 78 tuổi, tai và mắt ông vẫn còn thính và tin tường.Để phổ biến cho thế hệ sau, ông đã hệ thống hóa phương pháp tập và thay vì giữ bí mật, ông đã cho phổ biến tập “phép thoa bóp dưỡng sinh”.Quyển sách nhỏ này khi in ra đã bán chạy hơn 3 triệu cuốn.Đây là phương pháp chà xát tốt làm cho kinh mạch lưu thông.

    Phép tắm khô: Mục đích của phương pháp này là làm cho máu chạy đều, kinh lạc thông nhau, làm các khớp xương dẻo chúng tôi khi tập các động tác này, người tập sẽ thấy thân thể khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn.

    a. Phương pháp: Phép này cốt chà nóng bàn tay

    -Trước hết bàn tay phải nắm lấy lưng bàn tay trái và chà xát thật mạnh 10 lần.

    -Sau đó lấy bàn tay trái nắm lây lưng bàn tay phải và chà xát thật mạnh 10 lần.

    -Theo y học Đông Phương, bàn tay là nơi cuối của đường huyệt thủ thái dương nối với đầu và đường huyệt thủ thái âm bắt đầu từ ngực, vì thế chà xát bàn tay là phép tắm khô.Phép này làm cho khí huyết lưu thông, làm cho ngón tay mềm mại và các kinh huyệt thông nhau, phép này cũng giúp sức cho các phép sau

    -Bàn tay phải nắm chặt phía bụng cánh tay trái, rồi xoa mạnh từ cổ tay tới bả vai, rồi từ bả vai xoa mạnh vào phía lưng tay trái xuống lưng bàn tay, xoa 10 lần.

    -Sau đó đổi tay,lấy tay trái xoa bụng tay phải tới bả vai và phía lưng tay phải, xoa 10 lần.

    -Phép chà xát vào cánh tay làm thông các huyệt đạo vùng tay, giúp ngừa bệnh tê thấp và các bệnh khác ở vùng cánh tay và bả vai.

    -Áp hai lòng bàn tay vào trán,kéo lòng bàn tay chà xát xuống gò má, rồi từ gò má tay luôn ra phía sau gáy rồi vuốt lên đỉnh đầu, rồi lại vuốt xuống trán, làm như vậy 10 lần.

    – Sau đó để bàn tay sao cho ngón cái chếch ra ngoài còn bốn ngón kia chạm nơi chân tóc trước trán, chà đi chà lại nơi chân tóc, chà 20 lần.Rồi chà ngược lên đỉnh đầu (Ngón cái ở phía màng tang) sau đó vuốt ra sau gáy ở vùng cổ, chà 10 lần

    -Chà xát đầu làm cho hạ huyết áp(Nếu ai bị bệnh tăng huyết áp thì chà đầu 10 lần đến 70 lần).Đầu là nơi hội tụ của dương khí, chà xát đầu làm tăng dương khí vì thế máu chạy đều.

    – Nắm lòng hai bàn tay lại,ngón cái ở ngoài, lấy hai ngón cái chà vào mi mắt 10 lần.

    – Đặt 2 ngón cái ở hai màng tang, day hai ngón cái theo chiều kim đồng hồ 10 lần, rồi day ngược chiều kim đồng hồ 10 lần.

    – Rồi thay tay, dùng ngón trỏ và ngón cái của bàn tay trái bóp nhẹ phía cuối mũi 10 lần, cùng lúc bàn tay phải xoa từ gáy xuống cổ 10 lần.

    -Theo y học Đông Phương, mắt liên hệ tới ngũ tạng, vì thế vùng thận bị đau mắt sẽ lờ đờ.Phép chà xát này sẽ giúp khí huyết dễ dàng chạy ở vùng mắt, làm cho mắt không bị nhăn nheo ở tuổi già và ngừa được bệnh cận thị.Ở vùng màng tang có nhiều mao quản huyết, xoa bóp ở vùng này sẽ chống được lạnh, làm bớt nhức đầu và chóng mặt.

    -Hai bàn tay nắm lỏng, ngón cái ở ngoài. Hơi cong ngón cái lại,chà lên xuống theo sống mũi 10 lần.

    -Chà sống mũi làm giảm nhạy cảm của phổi khi gặp khí lạnh, cách này cũng giảm được ho và ngừa được lạnh.

    -Lấy bàn tay phải để trên ngực về phía phải, các ngón tay hướng xuống đất, chà mạnh và chéo xuống thấp phía trái, chà 10 lần.

    -Xong lấy bàn tay trái để bên ngực phía trái, các ngón tay hướng xuống đất, chà mạnh và chéo xuống phía phải, chà 10 lần.

    -Phép chà mạnh ở ngực làm cho máu ở phổi chạy thông nhau.Vì vùng ngực là nơi của tim và phổi, chà xát ngực sẽ làm giảm suyễn, giúp cho tim và phổi mạnh mẽ.

    -Để hai bàn tay nơi chân phải gần háng, cả hai tay đều chà mạnh từ đùi tới cổ chân.Xong lại chà lên ngược lại.Mỗi lần chà lên và xuống là một lần, chà 10 lần. Sau đó đổi chân , cũng chà 10 lần.

    -Ở chân có những đường kinh huyệt chạy qua, vì thế chà xát chân làm các khớp xương dẻo đi, cùng làm các bắp thịt rắn chắc và tránh được các bệnh đau chân.

    -Cả hai bàn tay đều áp mạnh vào hai đầu gối.

    -Chà xát hai đầu gối theo chiều kim đồng hồ 10 lần, sau đó chà ngược chiều kim đồng hô 10 lần.

    -Ở đầu gối có nhiều sợi gân và mạch máu chạy qua, vì thế chà xát đầu gối làm giảm ấm lạnh và độ căng thẳng, xoa đầu gối cũng làm xương và bắp thịt mạnh mẻ, cũng làm giảm tê thấp.

    (Bài sưu tầm từ một tờ báo rất lâu (hơn 10 năm), không nhớ được tên ,ghi lại để dành tập)

    Còn đây là bài sưu tầm được trên internet :

    3- Xoa bóp từ ngón chân ngược lên đùi, từ đùi xuống bàn chân, mỗi bên 30 lần.

    4- Xoa bóp từ đầu ngón tay ngược lên gốc cánh tay, rồi từ gốc cánh tay xuống bàn tay, mỗi bên 30 lần.

    5- Day ấn huyệt hợp cốc (giữa đầu trên xương bàn tay 1, 2 phía mu tay) 5 lần mỗi bên.

    6- Nhắm mắt, xát nhẹ từ trong ra ngoài đuôi mắt 20 lần.

    7- Mở to mắt nhìn thẳng phía trước vào một điểm nào đó, sau đó đảo mắt 360 độ theo chiều từ phải sang trái 20 lần. Nhìn thẳng một lúc, sau đó lại đảo mắt 360 độ theo chiều ngược lại (làm tinh mắt, chống mỏi mắt).

    8- Dùng hai ngón tay cái xát dọc hai bên sống mũi 20 lần , vừa xát vừa hít vào thở ra theo chiều lên xuống (tác dụng chống sổ mũi, hắt hơi, cảm)

    9- Dùng lòng bàn tay xoa đều toàn bộ khuôn mặt 20 lần.

    10- Dùng hai lòng bàn tay bịt chặt hai lỗ tai, các ngón tay 2, 3, 4 gõ đều vào xương chấm sau gáy 20 lần (tác dụng chống ù tai, nghe không rõ)

    11- Dùng 10 đầu ngón tay làm lược chải tóc từ trước ra sau 20 lần (chống rụng tóc, làm đen tóc)

    12- Dùng đầu lưỡi rê dọc các chân răng hàm trên, hàm dưới, bên trong, bên ngoài 20 lần.

    13- Dùng răng hàm dưới gõ lên răng hàm trên 20 lần

    14- Tự súc trong miệng, cho đến khi đầy nước bọt trong miệng, chia làm 3 lần nuốt xuống dạ dày (giúp cho hệ tiêu hoá tốt, chống no hơi)

    15- Lấy lòng bàn tay phải xát chéo từ dưới bụng lên ngực trái 30

    lần. Lòng bàn tay trái xát chéo từ bụng lên ngực phải 30 lần.

    16- Dùng lòng bàn tay phải xát vòng quanh bụng theo chiều kim đồng hồ lấy rốn làm tâm 30 lần, sau đó lòng bàn tay trái xát theo chiều ngược lại 30 lần (tác dụng chống no hơi, chống táo bón)

    17- Ngồi thẳng lưng, áp sát hai lòng bàn tay vào hai bên cột sống thắt lưng, xát lên xát xuống 30 lần (tốt cho thận, chống đau lưng)

    18- Ngồi thở ra hết rồi hít vào từ từ cho bụng phình hết cỡ, cứ vậy 20 lần.

    BS. LÊ HỒNG TÂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Phương Pháp Xoa Bóp Bấm Huyệt Hỗ Trợ Chữa Cận Thị
  • 5 Phương Pháp Xoa Bóp Bấm Huyệt Chữa Đau Thần Kinh Tọa
  • 7 Phương Pháp Xét Nghiệm Máu, Đàn Ông Cần Biết
  • Phương Pháp Xét Nghiệm Máu Vdrl Dùng Kiểm Tra Bệnh Gì?
  • Xác Định Có Thai Bằng Phương Pháp Xét Nghiệm Máu
  • Máy Tạo Hạt Khô Dòng Dh

    --- Bài mới hơn ---

  • Ưu Và Nhược Điểm Của 3 Phương Pháp Chế Biến Cà Phê Nhân Thông Dụng Nhất Hiện Nay
  • Bệnh Viện 199 Được Phép Xét Nghiệm Covid
  • Bệnh Viện Vĩnh Đức Triển Khai Xét Nghiệm Covid
  • Việt Nam Cán Mốc 1 Triệu Xét Nghiệm Covid
  • Đà Nẵng Có 4 Cơ Sở Đầu Tiên Thực Hiện Xét Nghiệm Covid
  • Chi tiết

    Tổng quan

    – Tầm quan trọng của công nghệ tạo hạt bột với vai trò là một trong những nhánh quan trọng nhất của quy trình xử lý hạt bột đã ngày một trở nên rõ ràng hơn khi nhu cầu bảo vệ môi trường và tăng cường tự động hóa quá trình sản xuất tăng lên . ” Các sản phẩm hạt bột hòa ” đã trở thành xu hướng tất yếu của công nghệ bột hậu xử lý trên thế giới .Tiến hành gia tăng cường độ xử lý tạo hạt đối với các sản phẩm dạng bột . Tầm quan trọng của quy trình tạo hạt được tóm gọn trong các phương diện sau .

    1- Chất lượng của các loại nguyên liệu bột bị giảm xuống , phải loại bỏ các tạp chất sau khi xay xong , sau đó tiến hành tạo hạt với các vật liệu chất lượng cao .

    2- Nhân tố môi trường , bao gồm cả xử lý và sử dụng các hạt nguyên liệu thô trong việc thu gôm bột bụi , để tránh gây ô nhiễm môi trường từ bột bụi và khói .

    3- Nâng cao năng lực tự động hóa sản xuất , yêu cầu việc nạp nguyên liệu phải có tính lưu động tốt .

    4- Xu hướng phát triển của ngành thực phẩm hiện đại là thực phẩm ăn liền và tiện lợi .

    5- Giảm ô nhiễm bụi và tăng cường điều kiện vận hành

    6- Đáp ứng các yêu cầu về quy trình sản xuất , như bề mặt ngày trở nên xốp và đặc trưng hơn , giúp tăng cường chuyển hóa nhiệt .

    7- Tăng cường các tính chất vật lý của sản phẩm ( như độ lỏng , độ thông khí , mật độ dày ) và tránh các hiện tượng xấu của các hiện tượng tách biệt , tạo xung , tích tụ , bắc cầu ….. xuất hiện trong các bước quy trình sau đó ( sấy khô , sàng , đo lường ) và ứng dụng của quy trình ( đo lường , nguyên liệu….) , giúp cải thiện vẻ bề ngoài và mức độ lỏng , thuận tiện lưu trữ và vận chuyển , kiểm soát tính tan , các bề mặt đặc trưng và xốp …. Tạo điều kiện để đẩy mạnh sản xuất và ứng dụng tự động hóa quy trình cũng như cải thiện các thao tác giới hạn .

    8- Sự phát triển của ngành nông nghiệp cũng cần sử dụng đến các loại phân bón chất lượng cao , duy trì và kiểm soát là những yêu cầu thiết yếu trong việc nâng cao chất lượng phân bón , đồng thời , loại phân bón không phải dạng hạt cũng gây bất tiện cho các máy móc tự động hóa chăm bón , rất dễ dẫn đến hiện tượng bị bón cục

    Máy tạo hạt khô dòng DH thừa hưởng công nghệ quay sấy để nén vật liệu dạng bột với độ ẩm ≤5% thành các viên tròn , sau đó được đưa vào quy trình phá vỡ cho ra các hạt và sàng lọc để tìm ra những hạt đạt yêu cầu sử dụng . Máy tạo hình hạt ép quay sấy phụ thuộc chủ yếu vào sức ép từ bên ngoài ép vật liệu thông qua khoảng trống giữa hai vòng quay để nén vật liệu thành các lớp hạt . Trong suốt quá trình ép vòng quay , mật độ vật liệu thực tế có thể tăng từ 1.5~3 lần tùy theo yêu cầu lực ép hạt cụ thể .

    Khách hàng viếng thăm xưởng của FUYI

    Nguyên lý hoạt động

    – Nguyên liệu được đưa vào ống phễu theo số lượng nhất định và máy cán lợi dụng cặp cuộn cán có lỗ , cả 2 đều giữ 1 khoảng cách khe hở nhất định và xoay ngược cùng 1 tốc độ với nhau . Trong đó , 1 nhóm trục con lăn nằm trong khung khung máy không đông đậy , 1 nhóm trục con lăn khác thì di chuyển trên khung ray , dựa trên áp lực xi lanh để có thể sát lại với nhau . Bề mặt của con lăn có những quy luật để có thể mà tạo ra các hình dạng khác nhau , những lỗ to nhỏ cùng kích thước và hinh máng sóng , máng sóng đối chuẩn . Khi 2 vòng quay song song thẳng hàng với nhau , nguyên liệu bột sẽ được liên tục đưa vào khoảng trống giữa 2 vòng quay theo trọng lực và lực ép cưỡng bức . Với sự xoay chuyển liên tục của các con lăn , không gian chiếm dụng của vật liệu dần dần bị thu nhỏ nén lại , và đạt đến lực ép tối đa , do lực nén khiến cho khoảng cách giữa các hạt thu gần lại , các hạt do tác động của lực Van der Waals nên bề mặt của năng lượng tự do hoặc các tác dụng khác có thể liên kết với nhau . Sau đó áp lực từ từ giảm dần , khối ép do lực đàn hồi phục hồi , trọng lượng riêng của nó ra khỏi lỗ và bắt đầu nghiền hạt , sàn lọc . Các thành phẩm dạng bột đạt tiêu chuẩn sẽ được cân đo và đóng gói . Riêng các thành phẩm không đạt tiêu chuẩn sẽ được trộn tái chế với nguyên liệu mới trong quá trình tạo hạt tiếp theo

    Những video về các thiết bị sản xuất của công ty

    – Sản xuất tạo hạt kali http://v.youku.com/v_show/id_XMzc2NDc4NTEy.html

    – Sản xuất tạo hạt kali clorua http://v.youku.com/v_show/id_XMzc2MTEyMzY0.html

    – Sản xuất tạo hạt phân bón hỗn hợp http://v.youku.com/v_show/id_XMzc2MDgzMDky.html

    – Sản xuất tạo hạt ammonium sulfate http://v.youku.com/v_show/id_XMzYwNzM2NDQw.html

    – Máy tạo hạt khô机: http://v.youku.com/v_show/id_XMzI5NjYzOTM2.html

    – Sản xuất tạo hạt phân bón kali场: http://v.youku.com/v_show/id_XMzI5MzU3OTg0.html

    đặc tính

    ◆- không cần bất kỳ chất phụ gia , bột khô được kết thành hạt trực tiếp

    ◆- Độ bền của hạt có thể điều chỉnh , thông qua điều chỉnh áp lưc của con lăn chúng ta có thể kiểm soát được độ bền của thành phẩm

    ◆- quá trình vận hành luân phiên góp phần duy trì hoạt động sản xuất liên tục và nâng cao chất lượng của sản phẩm

    ◆- Vật liệu được nén bằng áp lực cơ khí mà không cần bất kỳ chất phụ gia nào , như vậy có thể bảo đảm được độ tinh khiết của sản phẩm .

    ◆- Bột khô được kết thành hạt trực tiếp mà không cần phải qua quá trình theo dõi sấy khô . Vì vậy , quá trình sản xuất dễ dàng chuyển đổi và hội tụ .

    ◆- Độ bền của các hạt tạo thành cao hơn so với các phương pháp tạo hạt khác . Đặc biệt cần thiết trong việc gia tăng tính cân đối cho các sản phẩm .

    ◆- Có thể thích ứng với nhiều loại vật liệu , độ bền của hạt phụ thuộc vào các loại vật liệu khác nhau .

    ◆- kết cấu chắc chắn , bảo trì dễ dàng , vận hành đơn giản , quá trình tạo hạt ngắn , tiêu thụ năng lượng thấp , hiệu quả cao , tỷ lệ thất bại thấp

    ◆- Có thể kiểm soát ô nhiễm môi trường , giám bớt chi phí đóng gói và độ lãng phí bột , gia tăng năng lực vận chuyển sản phẩm .

    ◆- Thiết bị tiếp nhận nguyên liệu thông qua kiểm soát điều chỉnh tầng số , khả năng tự động hóa cao , một người có thể kiểm soát được nhiều máy , các tính năng về giảm bớt cường độ lao động và duy trì khả năng vận hành liên tục trong thời gian dài .

    ◆- Các thành phần truyền tải chính sử dụng vật liệu hợp kim chất lượng cao . Thép không rỉ , titan , crom và các hợp kim khác có tác dụng cải thiện rất nhiều khả năng chống chịu mài mòn , chống ăn mòn , khả năng chịu nhiệt độ cao và chịu áp lực . Chính vì vậy loại máy này có tuổi thọ rất cao . – Các loại phân bón : kali sun phát ( SOP) , kali clorua , Kali đỏ của Nga , phân bón NPK , amoni clorua , kali nitrat , amoni phốt phát mono ( MAP ) , diamoni phốt phát ( DAP),amoni sun phát , amoni bicacbonat , phân bò kết hợp với lưu huỳnh , axit ẩm ,…

    – Các loại bột : oxit kẽm , Bentonite , các loại quặng , đá phốt phát , nhôm florua canxi Hypochlorite , calcium chloride , calcium phốt phát , cryolit , TSP , SSP , chất chống oxy hóa , kali cacbonat , các chất phụ gia cao su , bột kim loại , chất độn , phụ gia thức ăn , silica , các chất sử dụng trong dược phẩm , chất phụ gia sản xuất thép , oxit chì , chất nóng chảy , đất sét , bụi thép , than chì , carbon đen , thạch cao FGD …

    Cacbon rắn 1

    Cacbon rắn 2

    Than chì

    Than đen 1

    Than đen 2

    Phân bón nito và kali

    phân bón hỗn hợp

    Phân bón hỗn hợp 2 dưỡng chất

    canxi cacbonat

    Sepiolite

    Phân bón trộn

    Chất lựa khoáng

    Thạch cao khử lưu huỳnh

    Thể dược phẩm trung gian

    Các sản phẩm hóa chất

    Hệ thống động lực tiên tiến : Sử dụng máy giảm tốc chuyên dụng có 2 trục cỡ lớn và khớp nối drum gear , để bảo vệ cuộn cán và trục chịu lực tránh khỏi hư hại hiệu quả hơn , nâng cao hiệu quả truyền tải , nâng cao sản lượng của sản phẩm hiệu quả hơn .

    Tối ưu hóa cấu trúc khung máy : Khung máy mới được thiết kế dựa trên sự tính toán tối ưu của cơ khí học , được đặt ở vị trí kết cấu mở rộng của con lăn để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân viên vận hành và làm việc , khiến cho khách hàng 100% tin cậy về độ an toàn của máy hơn , dễ dàng bảo trì .

    Cuộn cán hợp kim bền và hiệu quả cao : Trục cán chính được rèn từ thép hợp kim chất lượng cao , có thể sử dụng trong các điều kiện vật chất phức tạp . Trong thiết kế lớp chịu hao mòn của bề mặt của cuộn , chúng tôi dựa trên lý luận tiếp xúc Hertz và lý luận thuần đàn hồi , nắm bắt được độ sâu của quy luật và tác dụng lớn nhất của máy móc , tổ hợp lớp chống nứt 1 cách thật khoa học , lớp chống quá tải , lớp vật liệu chịu hao mòn , và kết hợp với độ cứng , cải tiến công nghệ xử lý nhiệt , nâng cao trình độ của tính năng chống nứt và chịu hao mòn của bề mặt cuộn cán . Qua nhiều lần thí nghiệm và so sánh , chúng tôi đã cải tiến được kỹ thuật cho các bộ phận khác ( vd như là thiết bị nạp nguyên liệu ) , sau đó định hình hoa văn cho bề mặt cuộn cán , kéo vật liệu vào góc để thêm cân bằng và ổn định hơn , đồng thời có thể loại bỏ hiệu quả tác dụng trục quay của cuộn cán , khiến cho hoạt động của thiết bị ổn định hơn .

    Thiết bị nạp nguyên liệu hoàn toàn mới : Thiết kế mới của thiết bị nạp nguyên liệu có lắp đặt cả van điều chỉnh , có thể tiện lợi cho việc điều khiển trực tuyến . Thiết kế thêm các buồng mở rộng không khí , khiến cho các vật liệu nằm bên trong luồng không khí được thải ra suôn sẻ , và cải thiện tình hình tắc nghẽn vật liệu giữa các cuộn cán , việc cải tiến thiết bị nạp nguyên liệu cũng trực tiếp dẫn tới việc cải tiến hoa văn của bề mặt cuộn cán .

    Hệ thống thủy áp an toàn và đơn giản : Trong thiết kế của hệ thống thủy áp , chúng tôi không chỉ lấy vấn đề này để suy xét làm nguồn động cơ , và càng làm cho hệ thống này có thêm chức năng bảo vệ thiết bị . Thiết kế nhiều tính năng tự động bảo vệ , hệ thống thủy áp sau khi được tối ưu hóa thì khiến cho khả năng thích nghi của con lăn trở nên tốt hơn , có khả năng bài trừ các mảnh sắt gây ra sự cố , bảo vệ an toàn hoạt động của thiết bị . mô đun hóa , tích hợp thiết kế của hệ thống thủy áp để loại bỏ các bước phức tạp , các đường ống dư thừa , bề mặt diện tích bị chiếm giảm đi , làm cho thiết bị trở nên gọn gàng , có tính thẩm mỹ và hiệu quả cao hơn .

    Hệ thống kiểm soát trực tuyến thông minh : Các hoạt động của máy cuộn cán được điều khiển kỹ thuật trực tuyến , rất tiện lợi , thiết lập trực quan các tham số hoạt động của thiết bị , kiểm tra trực tuyến , kiểm soát các trạng thái vận hành của thiết bị , cung cấp cho các nhân viên kiểm soát các thông tin chuẩn xác nhất . Dưới sự giúp đỡ của nó , hoạt động của máy tạo hạt cuộn cán của chúng tôi càng thêm ổn định .

    Hệ thống nghiền hạt hiệu quả cao : Máy nghiền này được chia ra 2 cấp độ và bao gồm 3 buồng nghiền : cấp độ thứ 1 gồm 1 phòng nghiền , chủ yếu là nghiền những vật liệu sơ bộ từ máy cán thành những hạt lớn ; Cấp độ thứ 2 bao gồm 2 buồng nghiền , nhiệm vụ chủ yếu là lấy những hạt lớn được nghiền ra từ cấp độ 1 để tiến hành bước tiếp theo và nghiền ra các hạt vật liệu nhỏ đạt chuẩn . Để có thể nghiền 2 lần các vật liệu đã cán , và vì có đến 3 buồng nghiền cho nên diện tích nghiền được tăng lên đáng kể , tăng hiệu quả khi nghiền và tỷ lệ sản phẩm đạt chuẩn cao .

    Hệ thống sàng lọc ưu việt : loại máy này sở hữu hệ thống run nhỏ , tiếng ồn rất nhỏ , có ưu điểm đối với các yêu cầu hỗ trợ cường độ thấp , và sự kết hợp của chuyển động tròn , ưu điểm chuyển động hình ê líp hoặc chuyển động thẳng được lặp đi lặp lại , và có đặt thiết bị vệ sinh bề mặt lọc , cho nên máy này có sản lượng khá lớn , hiệu quả sàng lọc cao , năng lượng tiêu thụ thấp , lắp ráp linh hoạt , đổi đồ lọc tiện lợi .

    Cấu trúc của máy đơn

    1、Máy dự bị nạp nguyên liệu : được trang bị phễu cơ rung tiếp nguyên liệu được điều khiển tự động và rung tjep theo thời gian cố định

    2、Máy định lượng nạp nguyên liệu : thông qua việc điều chỉnh tốc độ tầng số góp phần đảm bảo tính chính xác trong việc nạp nguyên liệu

    3、 Phễu ép nguyên liệu : sử dụng động cơ biến tần , côn xoắn , dao khuấy răng cưa và nón phễu tiếp nguyên liệu với cửa sổ tương tự như miệng tiếp nguyên liệu . Chức năng của nó là để tiếp tục khử khí và thực hiện ép nguyên liệu đưa vào

    4、Máy cán : có thiết kế bao gồm đế trái và đế phải được cố định chịu lực , cấu trúc khung , hai con lăn làm bằng hợp kim thép , hai xilanh dầu thủy lực , trạm bơm tương tự như là bề mặt răng cứng dùng để giảm tốc độ và động cơ dẫn động chính

    5、Máy nghiền và tạo hạt : nó bao gồm các hộp được cắt ra , trục chính và lưỡi cắt xoay đặc biệt . Trục chính được dẫn động ở tốc độ cao bằng động cơ để phá vỡ các cấu trúc vật liệu và tạo nó thành viên

    6、Máy sàn lọc luân chuyển : khi mà vật liệu được đưa vào trục lăn xong , độ nghiêng và sự chuyển động của trục lăn sẽ khiến cho các vật liệu đạt chuẩn được sàn lọc ra bởi tấm lưới sàn lọc của con lăn hình trụ ( sàn lọc phía dưới sản phẩm ) , những vật liệu không đạt chuẩn sẽ được lọc ra theo đầu cuối của trục lăn ( sàn lọc phía trên sản phẩm )

    7、vòng xoắn hồi nguyên liệu : chuyển những nguyên liệu bột không đạt chuẩn từ quá trình phân loại sàng lọc bằng công nghệ rung và trở lại khoan tiếp nhiên liệu

    8、Máy nâng pít-tông : sử dụng cấu trúc lắp ráp với xích tải từ thấp lên cao nhằm để vận chuyển nguyên liệu

    9、Ngăn điều khiển : nó bao gồm các thành phần về điện như hộp điều khiển điện , điều khiển chuyển đổi tần số , ampe kế , đồng hồ đo điện áp , ánh sáng , nút chuyển mạch và chuyển đổi điện áp , … tất cả các thiết bị điện được điều khiển và vận hành 1 cách tập trung .

    Hình trên là thành phẩm

    dạng hạt

    thông số kỹ thuật

    Lưu ý : sản lượng tấm cán ra , sản phẩm thành phẩm chỉ là để tham khảo và sản lượng thật tế được dựa trên đặc tính vật liệu mà các xưởng sử dụng , kỹ thuật và cách vận hành .

    Quy trình công nghệ thiết kế – Xưởng lắp ráp sản xuất

    Các thiết kế của quy trình bộ thiết bị đơn điển hình thích hợp với quy trình của thiết bị dưới mẫu DH650

    Nhiều trường hợp quá trình

    Tóm tắt quy trình của dự án quy trình chế biến

    Lấy máy tạo hạt DH850 làm ví dụ trong việc sản xuất hạt kali sunfat ( sản lượng hạt lớn 300.000 tấn / năm )

    1、Nạp nguyên liệu , đi qua cân lưu lượng băng tải , cân lưu lượng xoắn ốc , cân không trọng lượng và các thiết bị phối vật liệu được dựa trên các tỉ lệ khác nhau của vật liệu để dây chuyền sản xuất tiến hành nạp nguyên liệu .

    2、Đưa vật liệu đi vào dây chuyền sản xuất theo 1 tỉ lệ nhất định , được đưa vào bằng băng tải hoặc các thiết bị truyền tải khác để đi vào máy sấy trục làm nóng sẵn , tiến hành các bước đầu của việc sấy khô , sau đó đi vào các công đoạn tiếp theo .

    3、Những vật liệu sau khi đi qua công đoạn sấy đầu tiên ( đạt đủ yêu cầu về độ ẩm khi đi vào máy cuộn cán khô ) , đi qua tấm nạo , máy nâng và khác thiết bị truyền tải khác để đi vào máy cuộn cán khô DH850 để tiến hành cán .

    4、Sau khi tiến hành cán , các vật liệu bắt đầu có sự thay đổi về hình dạng , lúc này vật liệu thông qua máy nạo , máy nâng và các thiết bị truyền tải khác để truyền tới công đoạn tiếp theo — Sàng lọc kiểu run , vật liệu sau khi đi vào công đoạn lọc rung này , sẽ đưa các bột bụi đi qua tấm nạo , sau đó sẽ lại đưa về mày cuộn cán khô DH850 để tiến hành đợt cán mới , đồng thời sẽ đưa các vật liệu cán thành công đi vào công đoạn tiếp theo .

    5、Những vật liệu hình dẹp đi ra từ công đoạn sàng rung sẽ được đi vào máy nghiền va đập để tiến hành nghiền .

    6、Những vật liệu sau khi nghiền xong sẽ được đưa qua máy nạo , máy nâng hoặc các loại máy truyền tải khác để truyền đến công đoạn tiếp theo — Sàng lọc xoay cấp độ thô , tiến hành những bước đầu sàng lọc trong công đoạn này , sàng lọc ra những vật liệu có kích thước thích hợp cho công đoạn tiếp theo , đống thời những vật liệu có thể tích kích thước lớn sẽ được đưa về máy nạo để tái nghiền lần 2 .

    7、Những vật liệu có kích thước thích hợp trong những bước đầu sàng lọc xoay sẽ đi qua tấm nạo để vào sàng lọc xoay cấp độ nhuyễn , sau khi đi qua công đoạn này , những hạt vật liệu quá nhỏ sẽ được lọc ra hết , và những hạt siêu nhỏ đó sẽ được đưa về tấm nạo để trả về máy cuộn cán khô DH850 tiếp tục cán thêm lần nữa .

    8、Lúc này , thể tích kích thước của các vật liệu đã rất phù hợp yêu cầu của chúng ta , thông qua băng tải , máy nâng và các máy khác để đi vào máy đánh bóng , tiến hành đánh bóng bề mặt của các hạt vật liệu .

    9、Những hạt vật liệu sau khi được đánh bóng ( được trộn giữa các bột rơi ra từ đánh bóng ) , đi vào công đoạn sàng cuối cùng — Lọc mịn , sau khi đi qua công đoạn lọc mịn , những hạt vật liệu được tạo ra chính là những hạt phân bóng kali mà chúng ta cần , đồng thời những bột bụi được thải ra từ công đoạn lọc mịn sẽ được gửi về máy DH850 để tiếp tục cán lại thêm lần nữa .

    10、Những hạt vật liệu đi ra từ công đoạn lọc mịn chính là những sản phẩm cuối cùng , lúc này những sản phẩm này cần phải đi vào máy đóng gói để tiến hành đóng gói và khâu bao .

    11、phân bón kali sau khi đóng gói xong sẽ đi vào công đoạn cuối cùng –Người máy tự động xếp chồng , thông qua loại người máy này , các bao vật liệu sẽ được xếp chồng gọn gàng từng bao trên khay đỡ , sau đó sẽ được xe xúc vào kho .

    Những miêu tả bên trên là 1 bộ quy trình của dây chuyền sản xuất hạt phân bón kali , hệ thống kiểm soát của bộ quy trình này được kết nối lại với nhau , hệ thống tổng kiểm soát và vận hành đều được điều kiển bởi buồng kiểm soát trung ương , hệ thống kiểm soát do máy kiểm soát lập trình ( PLC ) tiến hành kiểm soát toàn bộ , đồng thời phải tiến hành điều chỉnh động thái cho máy biến áp trong các trình tự làm việc bắt buộc , cuối cùng sẽ khiến cho cả bộ dây chuyền sản xuất sẽ đạt được hiệu quả sản xuất tốt nhất .

    thiết bị outgoing

    thiết bị outgoing

    Máy tạo hạt cuộn cán khô loại mới dòng DH được xem là thiết bị đơn trọng tâm của dây chuyền sản xuất tạo hạt , phần điều khiển được chia thành 2 phần : Bộ phận khởi động hoặc tắt động lực của máy và phần điều khiển vòng kín . Hiện nay trên thị trường hầu hết các máy tạo hạt vẫn còn sử dụng các phương pháp kiểm soát ban đầu , điều đó có nghĩa là , nhân viên phải dựa trên tình huống thật tế của vật liệu , luôn luôn phải chú ý đến sự thay đổi của dòng điện và phải tự tay đi điều chỉnh máy nạp nguyên liệu và tốc độ của máy cán , từ đó mới duy trì được trạng thái cân bằng của quá trình vận hành máy tạo hạt . Và công ty TNHH cơ khí kỹ thuật FUYI Giang Tô chúng tôi sau nhiều năm kinh nghiệm trong việc sản xuất và tiếp nhận các phản hồi sau khi sử dụng của khách hàng để nghiên cứu và phát triển ra một loại phương thức kiểm soát mới , máy định lượng nạp nguyên liệu và máy chủ cuộn cán được điều khiển bởi máy biến tần , hình thành 1 hệ thống điều khiển vòng kín giữa 2 bộ đó , hệ thống điều khiển tạo hạt như thế này sẽ biết tự giám sát và thông quá máy biến tấn PID của nó để kiểm soát máy định lượng nạp nguyên liệu và tốc độ quay của máy cuộn cán , để 2 máy này luôn luôn giữ được vị trí tốt nhất và cân bằng trạng thái hoạt động , khiến cho dòng điện hoạt động của máy cuộn cán duy trì ổn định từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc , đồng thời máy nạp liệu cưỡng chế còn có thể điều chỉnh được tốc độ quay bất cứ lúc nào , từ đó khiến cho máy tạo hạt cuộn cán từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc cũng nằm trong trạng thái tốt nhất . Đồng thời trong hệ thống này còn có thiết lập chế độ điều khiển thủ công và phương thức điều khiển tự động , có thể chuyển đỗi lẫn nhau , từ đó đạt đến hiệu quả điều khiển linh hoạt và tiện lợi nhất .

    Hình ảnh từ xưởngHệ thống điều khiển nhiều máy ( tủ điện thông thường , các loại máy IPC , PLC và các hệ thống DCS lớn ) Lợi dụng kỹ thuật máy tính và phần cứng điều khiển công nghiệp và cấu hình phần mềm của từng thiết bị để đạt được một mức độ cao của tự động hóa sản xuất và thông minh . Có thể đảm bảo về mặt ổn định trình tự sản xuất , tiến hành an toàn , tiến hành tập trung giám sát quá trình sản xuất , hoạt động và quản lý , nâng cao hiệu quả sản xuất toàn diện , ổn định chất lượng sản phẩm và trình độ quản lý .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thiết Kế Thí Nghiệm Xử Lý Số Liệu Môi Trường
  • Dịch Vụ Xử Lý Spss, Amos, Smartpls
  • How To Load Test Mongodb With Jmeter
  • 7 Classical Assumptions Of Ordinary Least Squares (Ols) Linear Regression
  • Chỉnh Sửa Số Liệu Stata Biến Công Cụ
  • Kiểm Nghiệm Viên Nén Paracetamol Và Clorpheniramin

    --- Bài mới hơn ---

  • Chia Sẻ Cách Để Dễ Trúng Lô Đề P.4
  • Tỷ Lệ Rủi Ro Và Lợi Nhuận
  • Wacc Là Gì? Cách Tính Wacc Đầy Đủ Nhất (+ File Excel Mẫu)
  • Đo Lường Rủi Ro Hệ Thống Trên Thị Trường Tài Chính Việt Nam
  • Rèn Luyện Tính Cẩn Thận Khi Làm Toán
  • Là viên nén chứa paracetamol và clorpheniramin.

    Chế phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng phải đáp ứng các yêu cầu trong chuyên luận “Thuốc viên nén” (Phụ lục 1.20) theo dược điển Việt Nam IV và các yêu cầu sau đây:

    Hàm lượng paracetamol,

    C 8H 9NO 2, từ 90,0 đến 110,0% so với hàm lượng ghi trên nhãn.

    Hàm lượng Clorpheniramin maleat,

    Viên nén mầu đồng đều.

    1. Trong phần định lượng paracetamol, thời gian lưu của pic chính trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải tương ứng với thời gian lưu của pic paracetamol trên sắc ký đồ của dung dịch chuẩn.
    2. Trong phần định lượng clorpheniramin maleat, thời gian lưu của pic chính trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải tương ứng với thời gian lưu của pic clorpheniramin maleat trên sắc ký đồ của dung dịch chuẩn.

    Độ hoà tan ( phụ lục 11.4)

    Thiết bị : Kiểu cánh khuấy.

    Môi trường hoà tan: 900 ml nước

    Tốc độ quay: 50 vòng/ phút.

    Thời gian: 45 phút

    Cách tiến hành: Lấy một phần dung dịch môi trường sau khi hoà tan, lọc, bỏ dịch lọc đầu. Pha loãng dịch lọc bằng dung dịch natri hydroxyd 0,1 M để được dung dịch có nồng độ paracetamol khoảng 7,5 mg/ ml. Đo độ hấp thụ (Phụ lục 4.1) của dung dịch thu được ở bước sóng cực đại 257 nm, mầu trắng là dung dịch natri hydroxyd 0,1 M. Tính hàm lượng paracetamol hoà tan theo A (1%,1 cm). Lấy 715 là giá trị A (1%, 1 cm) của paracetamol ở bước sóng 257 nm.

    Yêu cầu: Không được dưới 75 % lượng paracetamol, C 8H 9NO 2, so với lượng ghi trên nhãn được hòa tan trong 45 phút.

    Định lượng paracetamol

    Tiến hành bằng phương pháp sắc ký lỏng (Phụ lục 5.3).

    Pha động: Nước – methanol – acid acetic băng (79 : 20 : 1), điều chỉnh tỉ lệ nếu cần.

    Dung dịch chuẩn: Cân chính xác khoảng 50 mg paracetamol đối chiếu vào bình định mức 100 ml, thêm 4 ml methanol (TT), lắc cho tan hoàn toàn, pha loãng với dung dịch acid phosphoric 1% (TT) đến định mức, trộn đều.

    Dung dịch thử: Cân 20 viên, tính khối lượng trung bình viên và nghiền thành bột mịn. Cân chính xác một lượng bột viên tương ứng với khoảng 100 mg paracetamol vào bình định mức 50 ml, thêm khoảng 7,5 ml methanol (TT), siêu âm cho bột phân tán hoàn toàn, thêm 0,5 ml acid phosphoric (TT), pha loãng với nước đến định mức, trộn đều. Hút chính xác 25,0 ml dịch lọc cho vào bình định mức 100 ml, pha loãng với nước đến định mức, trộn đều.

    Điều kiện sắc ký:

    Cột thép không gỉ (15 cm x 4,6 mm) được nhồi pha tĩnh B (octylsilyl silica gel, hạt 5 -10 mm).

    Detector quang phổ tử ngoại đặt ở bước sóng 280 nm.

    Tốc độ dòng: 1 ml/phút.

    Thể tích tiêm: 10 ml.

    Cách tiến hành:

    Kiểm tra tính thích hợp của hệ thống sắc ký: Tiến hành sắc ký với dung dịch chuẩn, hệ số đối xứng của pic paracetamol không được lớn hơn 2,0 và độ lệch chuẩn tương đối của các diện tích đáp ứng từ 6 lần tiêm lặp lại không quá 2,0%.

    Tiến hành sắc ký lần lượt với dung dịch chuẩn và dung dịch thử.

    Tính hàm lượng paracetamol, C 8H 9NO 2 , có trong viên dựa vào diện tích pic trên săc ký đồ thu được từ dung dịch thử, dung dịch chuẩn và hàm lượng C 8H 9NO 2 của paracetamol chuẩn.

    Định lượng clorpheniramin maleat

    Tiến hành phương pháp sắc ký lỏng (Phụ lục 5.3).

    Pha động: Hỗn hợp methanol – nước (60 : 40) có chứa 0,34 g kali dihydrophosphat (TT); 0,3 g triethylamin hydroclorid (TT); 0,15 g natri laurylsulfat (TT) và 0,1ml acid phosphoric (TT) trong mỗi 100 ml dung dịch, điều chỉnh tỉ lệ nếu cần.

    Dung dịch chuẩn: Cân chính xác và hòa tan vào nước một lượng clorpheniramin maleat chuẩn để thu được dung dịch có nồng độ khoảng 0,8 mg/ml. Tiếp tục pha loãng dung dịch này bằng dung dịch acid phosphoric 0,1% (TT) để thu được dung dịch có nồng độ khoảng 8 µg/ml.

    Dung dịch thử: Cân 20 viên, tính khối lượng trung bình viên và nghiền thành bột mịn. Cân chính xác một lượng bột viên tương ứng với khoảng 2 mg clorpheniramin maleat vào bình định mức 250 ml, thêm 25 ml methanol (TT), siêu âm cho bột phân tán hoàn toàn, thêm 1 ml acid phosphoric (TT), pha loãng với nước vừa đủ đến vạch, trộn đều.

    Điều kiện sắc ký:

    Cột thép không gỉ (15 cm x 4,6 mm) được nhồi pha tĩnh silica liên kết với các nhóm phenyl (hạt 5 -10 mm).

    Detector quang phổ tử ngoại đặt ở bước sóng 214 nm.

    Tốc độ dòng: 2 ml/phút.

    Thể tích tiêm: 10 ml.

    Kiểm tra tính thích hợp của hệ thống sắc ký: Tiến hành sắc ký với dung dịch chuẩn, hệ số đối xứng của pic clorpheniramin maleat không được lớn hơn 2,0 và độ lệch chuẩn tương đối của các diện tích đáp ứng từ lần tiêm lặp lại không quá 2,0%.

    Tiến hành sắc ký lần lượt với dung dịch chuẩn và dung dịch thử.

    Tính hàm lượng clorpheniramin maleat, C 16H 19ClN 2.C 4H 4O 4 ,có trong viên dựa vào diện tích pic trên săc ký đồ thu được từ dung dịch thử, dung dịch chuẩn và hàm lượng C 16H 19ClN 2.C 4H 4O 4 của clorpheniramin maleat chuẩn.

    Độ đồng đều hàm lượng clorpheniramin maleat

    Chế phẩm có lượng clorpheniramin maleat dưới 2 mg trong 1 viên phải đạt yêu cầu về “đồng đều hàm lượng” đối với clorpheniramin maleat (Phụ lục 11.2).

    Tiến hành phương pháp sắc ký lỏng (Phụ lục 5.3)

    Pha động, điều kiện sắc ký tiến hành như mô tả trong mục “Định lượng clorpheniramin maleat “.

    Dung dịch thử: Lấy 1 viên nghiền thành bột mịn rồi chuyển vào bình định mức 250 ml, thêm 25 ml methanol (TT), siêu âm cho bột phân tán hoàn toàn, thêm 1 ml acid phosphoric (TT), pha loãng với nước vừa đủ đến vạch, trộn đều.

    Dung dịch chuẩn: Tiến hành như mô tả trong mục “Định lượng clorpheniramin maleat”. Pha loãng (nếu cần) để có được nồng độ clorpheniramin maleat tương ứng với nồng độ clorpheniramin maleat trong dung dịch thử.

    Tính hàm lượng clorpheniramin maleat, C 16H 19ClN 2.C 4H 4O 4 , trong một viên dựa vào diện tích pic trên sắc ký đồ thu được từ dung dịch thử, dung dịch chuẩn và hàm lượng C 16H 19ClN 2.C 4H 4O 4 của clorpheniramin maleat chuẩn.

    Hàm lượng clorpheniramin maleat,C 16H 19ClN 2.C 4H 4O 4 ,có trong viên chế phẩm được tính từ kết quả trung bình của 10 viên.

    Trong bao bì kín ở nhiệt độ từ 15-30 o C.

    Thuốc giảm đau, kháng histamin.

    Hàm lượng thường dùng

    500 mg paracetamol; 4 mg hoặc 2 mg clorpheniramin maleat.

    copy ghi nguồn : daihocduochanoi.com

    link tại : KIỂM NGHIỆM VIÊN NÉN PARACETAMOL VÀ CLORPHENIRAMIN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tính Phần Trăm (%) Dễ Dàng Và Chính Xác Nhất 2022
  • Độ Ph Là Gì? Cách Tính Độ Ph & Độ Ph Của Một Số Dụng Dịch
  • Bật Mí Cách Tính Lãi Suất Ngân Hàng Cực Kì Đơn Giản Và Chính Xác
  • Xác Định Vitamin C Bằng Phương Pháp Chuẩn Độ Iốt
  • Oee Là Gì ? Khái Niệm Cơ Bản Về Oee
  • Các Phương Pháp Tạo Hạt Trong Sản Xuất Dược Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Có 4 Đơn Vị Của Bộ Y Tế Hỗ Trợ Hà Nội Xét Nghiệm Covid
  • Các Phương Pháp Sản Xuất Cồn Khô
  • Các Phương Pháp Sản Xuất Cồn Khô
  • Cách Viết Phiếu Xuất Kho Hàng Hóa
  • Cong Nghe San Xuat Xi Mang Lo Quay Kho
  • Trong công nghệ sản xuất dược phẩm các dạng thuốc ở thể rắn, tạo hạt là một giai đoạn quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến đặc tính của dạng thuốc đó. Ngoài ra bản thân dạng hạt cũng có thể được sử dụng như một dạng thuốc, được sử dụng bằng cách thêm nước pha thành hỗn dịch hoặc dung dịch (bọt sủi) uống trực tiếp.

    1. Vai trò của tạo hạt

    – Tạo hạt là một quá trình kết tập các tiểu phân nhỏ với nhau tạo thành các hạt lớn hơn, trong các hạt đó vẫn phân biệt được các tiểu phân ban đầu. Định nghĩa này phù hợp với khái niệm hạt trong dược phẩm, về mặt sinh dược học yêu cầu các hạt phải rã được để giải phóng các tiểu phân ban đầu và nhanh chóng hòa tan giải phóng dược chất.

    – Tạo hạt chủ yếu là một giai đoạn trung gian trong quá trình sản xuất thuốc phân liều dạng rắn, đặc biệt là thuốc viên nén hoặc viên nang. Quá trình tạo hạt còn được ứng dụng tạo hạt cho dang pellet và để bao vi nang nhằm mục đích bào chế dạng thuốc giải phóng có kiểm soát.

    – Kỹ thuật tạo hạt có thể chia thành hai phương pháp: phương pháp tạo hạt ướt và phương pháp tạo hạt khô. Cả hai phương pháp này đều được sử dụng trong sản phẩm dược phẩm, tuy nhiên phương pháp tạo hạt ướt được sử dụng nhiều hơn.

    2. Các phương pháp tạo hạt

    2.1 Tạo hạt khô

    Trong phương pháp tại hạt khô, các tiểu phân bột được kết tập lại do được nén bởi áp lực cao (tất cả các hạt vật chất đều có thể kết tập lại khi được nén với áp lực lớn do lực liên kết xuất hiện tại các bề mặt chất rắn tiếp xúc trực tiếp ở một khoảng cách nhất định). Dưới áp lực lớn diện tích tiếp xúc giữa các bề mặt tăng và ở khoảng cách gần, vì vậy nhìn chung làm tăng lực liên kết.

    Tạo hạt khô không sử dụng nhiệt và ẩm, do vậy nó được ứng dụng cho các thuốc không bền với nhiệt và ẩm (aspirin, viên sủi bọt kháng sinh…). So với phương pháp tạo hạt ướt thì tạo hạt khô ít phổ biến hơn do có một số nhược điểm về chất lương của hạt, về tính lặp lại của quá trình và phát bụi trong sản xuất.

    2.2.1 Trộn hỗn hợp

    Dược chất và tá dược được trộn tạo thành hỗn hợp đồng nhất bằng các kỹ thuật khác nhau trước khi được nén, ép tạo khối kết tập giữa các tiểu phân.

    2.1.2 Nén, ép tạo kết tập tiểu phân.

    2.1.3 Cán tạo hạt

    2.2 Tạo hạt ướt

    Tạo hạt ướt là quá trình tạo hạt bằng cách nhào trộn hỗn hợp bột với một chất lỏng, thường là dung dịch tá dược dính trong nước hoặc nước (khi tá dược dính đã được trộn trong hỗn hợp bột).

    * Cơ chế tạo hạt ướt dựa trên hai lý thuyết thuộc hai nhóm:

    – Lý thuyết về cơ chế tạo liên kết giữa các tiểu phân trong hạt.

    – Lý thuyết về cơ chế lớn lên của các nhân cơ bản.

    * Cơ chế liên kết tiểu phân:

    – Trong quá trình tạo hạt, các tiểu phân ban đầu kết hợp lại với nhau do giữa chúng hình thành các liên kết. Các liên kết này cần đủ mạnh để các hạt đủ vững, không bị vỡ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mục Đích Và Quy Trình Tạo Hạt Ướt Trong Sản Xuất Thuốc
  • Bg Ky Thuat Bao Che Vien Nen
  • Phân Dạng Và Phương Pháp Tính Tần Số Hoán Vị Gen Các Bài Toán Hoán Vị Gen Thường Gặp Trong Kì Thi Học Sinh Giỏi Và Đại Học, Cao Đẳng
  • Phương Pháp Giải Các Bài Tập Di Truyền Hoán Vị Cơ Bản
  • Phương Pháp Thu Thập Số Liệu Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Các Phương Pháp Sản Xuất Cồn Khô

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Sản Xuất Cồn Khô
  • Cách Viết Phiếu Xuất Kho Hàng Hóa
  • Cong Nghe San Xuat Xi Mang Lo Quay Kho
  • Chuong 2 Tổ Chức Dữ Liệu Trong Httt Kế Toán
  • Tổng Quan Về Hệ Thống Thông Tin
  • Các phương pháp sản xuất cồn khô

    Hiện nay có nhiều phương pháp điều chếcồn khô, công ty hóa chất Việt Mỹ chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn phương pháp hiệu quả và phổ biến nhất: Điều chế Cồn khô có sử dụng Calci acetat bão hoà và phương pháp điều chế cồn khô có sử dụng acid béo và kiềm, Phương pháp điều chế cồn khô có sử dụng dẫn xuất Cellulose với một lớp ngăn chặn sự hydrat hóa và cuối cùng là Phương pháp điều chế cồn khô có sử dung nhiên liệu vô cơ

    Cồn khô được sử dụng rất rộng rãi trong các nhà hàng, khách sạn hay trong gia đình bởi giá thành của cồn khô khá rẻ, chi phí ban đầu thấp hơn nhiều các loại sản phẩm tạo nhiệt khác, đặc biệt cồn khô sử dụng còn an toàn và linh động không gây cháy nổ như các loại bình ga mini.

    1, Phương pháp điều chế cồn khô có sử dụng Calci acetat bão hoà

    Khi trộn Calci acetat bão hòa trong dung môi nước với rượu thì sẽ tạo thành cồn khô dưới dạng keo Calci acetat. Kết quả trên có thể được giải thích bằng “phương pháp thay dung môi”: Khi thông số trạng thái thay đổi làm cho hóa thế cấu tử tồn tại trong môi trường phân tán trở nên lớn hơn ở trạng thái cân bằng, do đó xu hướng của quá trình sẽ diễn ra theo chiều chuyển về trạng thái cân bằng, tức là pha mới được tạo ra. Trong phương pháp này dung môi được thay thế, tức là thay đổi thành phần môi trường. Do vậy, Calci acetat bão hòa trong môi trường nước, nhưng nó trở thành quá bão hoà trong môi trường rượu – nước (Calci acetat không tan trong rượu) nên quá trình ngưng tụ sẽ xảy ra. Trong phương pháp này cồn khô được điều chế từ 75 ml rượu Etylic (

    Etanol)và 10 ml Calci acetat bão hoà (được điều chế từ 3g Calci acetat và 10ml nước)17 tương ứng với tỷ lệ 7,5:1. Và từ 40ml Etanol và 10 ml Calci acetat bão hoà.

    2, Phương pháp điều chế cồn khô có sử dụng acid béo và kiềm

    Trong thành phần của nhiên liệu cồn khô dạng gel này cũng có thể được trộn vào một số chất mà vẫn không có ảnh hưởng bất lợi đến tính chất của sản phẩm. Các chất đó có thể là: thuốc nhuộm (như Phenolphtalein, Rose Bengal) dùng để chỉ thị hoặc để gia tăng giá trị thẩm mỹ cho sản phẩm; những chất dùng để tạo màu ngọn lửa như muối Natri và muối Kali của Nitrat và Clorat, cũng như các muối của Li, Bo, Cu…Những thành phần này chỉ được sử dụng với một lượng nhỏ, thường thì sử dụng không vượt quá 1% khối lượng và thích hợp nhất là 0,5%.

    3, Phương pháp điều chế cồn khô có sử dụng dẫn xuất Cellulose với một lớp ngăn chặn sự hydrat hóa.

    Ở vùng pH của dung dịch nhỏ, chính các nhóm ion được ion hoá gây tác dụng qua lại làm cho mạch phân tử có phần bị co lại, nên độ nhớt cũng giảm. Khi tăng pH của dung dịch thì mạch phân tử của các chất cao phân tử điện li giãn ra do sự ion hoá tăng lên, nên độ nhớt của dung dịch cũng tăng lên. Do đó khi trộn lẫn các thành phần nước, cồn, Hydroxypropyl methyl cellulose được thực hiện bằng cách hạ thấp độ pH của hỗn hợp. Sau đó độ pH của hỗn hợp được tăng lên làm tăng độ nhớt và cồn được chuyển sang dạng gel.

    (1): Trước tiên trộn 200 ml cồn với 50 ml nước.

    (2): Sau đó 10g Methocel J75 MS được thêm vào, thu được dung dịch sệt có chứa nước.

    (3): Đỗ dung dịch sệt này vào vật chứa có chứa sẵn một lượng chất kiềm đủ để tăng pH đến 8 hoặc trên 8 (lượngNatri hydroxid sử dụng là từ 2 đến 4 gram). Sự tạo gel sẽ lập tức xảy ra.

    4, Phương pháp điều chế cồn khô có sử dung nhiên liệu vô cơ

    4.1 – Cho 72g Silic dioxid và 1,2g Calci hydroxid vào 2 874g Etanol và khuấy nhanh khoảng 1,5 phút. + Sau đó thêm vào 54g

    Hydroxypropyl cellulose và trộn đều.

    Hỗn hợp này sẽ đông đặc dần cho đến khi giống như một khối gel đồng nhất (khoảng 1,5 giờ).

    4.2 – Cho 6g Silic dioxid, 6g Titan dioxid và 0,1g Calci hydroxid vào 2898g

    + Sau đó thêm vào 90g Hydroxypropyl cellulose và trộn đều.

    4.3 – Cho 6g Silic dioxid, 6g Nhôm oxid vào 1 026g Etanol.

    + Cho vào 84g Metylhydroxybutyl và trộn khoảng 10 phút (với vận tốc

    + Sau đó thêm vào 374g nước.

    + Sau 20 phút cho vào thêm 1 504g Etanol sẽ thu được khối gel đồng nhất.

    Để có cồn 100% ta phải tìm cách loại nước khỏi dung dịch cồn. Trên thị trường hiện có bán loại cồn nồng độ 90%. Để tách được nước thì đơn giản nhất là dùng phương pháp hóa học với các hóa chất sẵn có. Cách đơn giản nhất là dùng muối đồng sulfat khan (tinh thể màu trắng) để hấp thụ nước có trong cồn. Tiến hành loại nước nhiều lần để loại bỏ nước trong cồn triệt để.

    Xét về nguyên lý cấu tạo,cồn khô được làm từ rượu Etylic và các phụ gia khác. Nếu làm đúng như công thức này, cồn khô thực sự là một thứ chất đốt hữu hiệu và an toàn. Nhưng hiện nay vì mục đích kinh tế mà một số người bất chấp tới sức khỏe của người tiêu dùng trộn rượu Metylic vào để sản xuất cồn khô, do giá thành của rượu Metylic rẻ hơn rất nhiều so với rượu Etylic, và chủ yếu là cồn khô không nhãn mác, không rõ nguồn gốc xuất xứ. Vì khi đốt lên, metylic sẽ bị cháy ít nhiều, làm giảm nguy cơ độc hại với cơ thể. Phần không cháy hết bị bốc hơi mới là tác nhân chính gây hại cho cơ thể.

    QUÝ KHÁCH MUỐN TÌM HIỂU QUY TRÌNH VÀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT TRỰC TIẾP VUI LÒNG LIÊN HỆ:

    💯 Chúng tôi luôn cam kết 100% về chất lượng, hàng chuẩn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Có 4 Đơn Vị Của Bộ Y Tế Hỗ Trợ Hà Nội Xét Nghiệm Covid
  • Các Phương Pháp Tạo Hạt Trong Sản Xuất Dược Phẩm
  • Mục Đích Và Quy Trình Tạo Hạt Ướt Trong Sản Xuất Thuốc
  • Bg Ky Thuat Bao Che Vien Nen
  • Phân Dạng Và Phương Pháp Tính Tần Số Hoán Vị Gen Các Bài Toán Hoán Vị Gen Thường Gặp Trong Kì Thi Học Sinh Giỏi Và Đại Học, Cao Đẳng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×