Top #10 ❤️ So Sánh Đặc Điểm Của Gió Mậu Dịch Và Gió Tây Ôn Đới Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Đặc Điểm Về ” Gió Mùa” Ở Việt Nam

Giải Thích Cơ Chế Gió Mùa. So Sánh Gió Mùa Các Khu Vực Gió Mùa Trên Lục Địa Á

Nguyên Nhân Dẫn Đến Sự Hình Thành Gió Mùa Là:

Trình Bày Hoạt Động, Nguyên Nhân Hình Thành Tính Chất Và Các Khu Vực Chịu Ảnh Hưởng Của Gió Mùa Trên Trái Đất Câu Hỏi 1323605

Nguyên Nhân Và Cách Chữa Trị Bệnh Hôi Nách Ở Trẻ Em

Bệnh Hôi Nách: Nguyên Nhân, Tác Hại, Cách Chữa Trị Và Cách Phòng Tránh

– Vị trí địa lý: Do tiếp giáp với biển trên suốt 3000km ranh giới phía Đông và phía Nam đã khiến cho các luồng gió mùa thổi đến nước ta, dù xuất phát từ lục địa hay hải dương, mùa đông hay mùa hạ, đều phải trải qua một đoạn đường dài trên biển. Chỉ riêng trường hợp lưỡi áp cao cực đới đầu mùa và luồng hướng Tây của gió mùa mùa hạ mới tràn tới hướng lục địa mà thôi.

– Dòng biển trong vịnh Bắc bộ và vùng biển Đông: Mùa đông, gió hướng Bắc ổn định đã làm xuất hiện một dòng biển hướng từ Bắc xuống Nam mang theo nước lạnh từ các vùng vĩ độ cao vào vịnh Bắc bộ và ảnh hưởng đến vùng biển Trung bộ. Tuy nhiên do sự khác biệt giữa nhiệt dung giữa nước và không khí, nên trong nửa đầu mùa đông, nhiệt độ nước biển cao hơn nhiệt độ không khí. Kết quả, biển đã làm cho không khí gió mùa Đông Bắc vào nửa cuối mùa đông bị ẩm ướt tới mức gần bảo hoà, là nguyên nhân tạo nên mây mù dày đặc và mưa phùn ở Bắc bộ.

– Địa hình: Đối với các hệ thống phía bắc, những địa hình núi hướng theo Tây Bắc – Đông Nam thường có tác dụng ngăn frônt và biến nó thành một dải frônt tỉnh. Còn đối với gió mùa mùa hạ cũng những dãy núi hướng Tây Bắc – Đông Nam đã phát huy hiệu ứng feonh mạnh mẽ, hình thành gió tây khô nóng. Địa hình Bắc bộ đã tạo ra áp thấp địa phương, là tâm hút gió làm lệch hướng gió Tây Nam thành gió Đông Nam thổi vào đồng bằng Bắc bộ, tạo nên chế độ thời tiết đặc trưng ở lãnh thổ phía Bắc.

Các kiểu thời tiết do gió mùa gây nên ở nước ta.

Do sự tác động giữa gió mùa và Tín phong làm cho thời tiết của nước ta có nhiều biến động. Ở miền bắc thường có những giai đoạn lạnh thường xen kẽ với những quãng ngày nóng ấm, nhưng về mùa hạ đem lại thời tiết nóng ẩm và mưa nhiều. Tình trạng không thuần nhất về bản chất của gió mùa làm xuất hiện những nhiễu động trong cơ chế hoàn lưu. Những nhiễu động này có quy mô và tính chất rất khác nhau, đó là:

– Frônt cực đới: Nhiễu động mạnh mẽ nhất trong mùa đông, hàng năm có khoảng 15 – 20 đợt frônt tràn tới khu vực nước ta. Tuy nhiên frônt thường yếu, không gây ra những biến đổi quan trọng về điều kiện nhiệt ẩm.

– Hội tụ nội chí tuyến: là dạng nhiễu động đặc trung của gió mùa mùa hạ, đặc điểm là tịnh tiến từ phía nam lên phía bắc và tan đi ở vĩ độ ngoài chí tuyến. Hội tụ thường đem lại mưa lớn, đó là nguyên nhân của hiện tượng mưa ngâu ở miền bắc.

– Bão: Là dạng nhiễu động mạnh mẽ nhất trong cơ chế gió mùa, có ý nghĩa quan trọng về mặt thời tiết. Bão thường gây mưa lớn và làm biến động đến lượng mưa của nước ta trong năm

– Rãnh nhiệt đới: là một dạng nhiễu động yếu trong tầng đối lưu trên cao, cùng với frônt cực đới, đây là nhân tố gây mưa có hệ thống trong mùa đông ở nước ta.

– Vị trí địa lý: Do tiếp giáp với biển trên suốt 3000km ranh giới phía Đông và phía Nam đã khiến cho các luồng gió mùa thổi đến nước ta, dù xuất phát từ lục địa hay hải dương, mùa đông hay mùa hạ, đều phải trải qua một đoạn đường dài trên biển. Chỉ riêng trường hợp lưỡi áp cao cực đới đầu mùa và luồng hướng Tây của gió mùa mùa hạ mới tràn tới hướng lục địa mà thôi.

– Dòng biển trong vịnh Bắc bộ và vùng biển Đông: Mùa đông, gió hướng Bắc ổn định đã làm xuất hiện một dòng biển hướng từ Bắc xuống Nam mang theo nước lạnh từ các vùng vĩ độ cao vào vịnh Bắc bộ và ảnh hưởng đến vùng biển Trung bộ. Tuy nhiên do sự khác biệt giữa nhiệt dung giữa nước và không khí, nên trong nửa đầu mùa đông, nhiệt độ nước biển cao hơn nhiệt độ không khí. Kết quả, biển đã làm cho không khí gió mùa Đông Bắc vào nửa cuối mùa đông bị ẩm ướt tới mức gần bảo hoà, là nguyên nhân tạo nên mây mù dày đặc và mưa phùn ở Bắc bộ.

– Địa hình: Đối với các hệ thống phía bắc, những địa hình núi hướng theo Tây Bắc – Đông Nam thường có tác dụng ngăn frônt và biến nó thành một dải frônt tỉnh. Còn đối với gió mùa mùa hạ cũng những dãy núi hướng Tây Bắc – Đông Nam đã phát huy hiệu ứng feonh mạnh mẽ, hình thành gió tây khô nóng. Địa hình Bắc bộ đã tạo ra áp thấp địa phương, là tâm hút gió làm lệch hướng gió Tây Nam thành gió Đông Nam thổi vào đồng bằng Bắc bộ, tạo nên chế độ thời tiết đặc trưng ở lãnh thổ phía Bắc.

Đặc điểm gió mùa Việt Nam:

+ Tính chất gió mùa ẩm : Bầu trời nhiệt đới quanh năm cung cấp cho nước ta nguồn nhiệt năng to lớn. Bình quân 1 mét vuông lành thổ nhận được trên một triệu kilô calo, số giờ nắng đạt từ 1400-3000 giờ trong một năm.Nhiệt độ trung bình của không khí đều vượt 21 độ trên toàn nước từ bắc vào nam.

+Gồm hai mùa gió: gió mùa đông bắc lạnh khô(mùa đông)

gió mùa tây nam nóng ẩm (mùa hạ)

+Gió mùa mang đến cho nước ta lượng mưa lớn(1500-2000mm/năm) và đọ ẩm không khí rất cao(trên 80%).

Ảnh hưởng và hoạt động:

*Gió Tín phong:

– Nguồn gốc: xuất phát từ trung tâm cao áp trên biển Thái Bình Dương thổi về Xích đạo.

– Hướng gió: Đông Bắc.

– Thời gian hoạt động: quanh năm

– Phạm vi hoạt động: từ vĩ tuyến 60 trở vào.

* Gió mùa mùa đông:

– Nguồn gốc: khối không khí lạnh xuất phát từ trung tâm cao áp Xibia di chuyển vào nước ta.

– Hướng gió: Đông Bắc – Tây Nam.

– Thời gian hoạt động: từ tháng XI đến tháng IV năm sau.

– Phạm vi hoạt động: từ vĩ tuyến 60 ra Bắc.

– Đặc điểm:

+ Vào đầu mùa đông ( tháng XI, XII, I): hạ áp Alêut hoạt động mạnh hút khối không khí lạnh xuất phát từ cao áp Xibia lúc này đang nằm ở trung tâm lục địa Á – Âu, thổi qua lục địa, có đặc tính lạnh, khô, mang lại thời tiết lạnh, khô cho miền Bắc

.+Nửa sau mùa đông, cao áp Xibia dịch chuyển sang phía đông, hạ áp Alêut suy yếu thay vào đó hạ áp Oxtraylia hoạt động mạnh lên, hút gió từ cao áp Xibia. Gió này thổi qua biển sau đó mới đi vào đất liền mang theo hơi ẩm từ biển gây nên thời tiết lạnh ẩm, mưa phùn cho vùng ven biển và đồng bằng ở miền Bắc.

– Tính chất: Gió mùa Đông Bắc chỉ hoạt động từng đợt, không kéo dài liên tục, cường độ mạnh nhất vào mùa đông, ở miền Bắc hình thành mùa đông kéo dài 2-3 tháng. Khi di chuyển xuống phía Nam, loại gió này suy yếu dần bởi bức chăn địa hình là dãy Bạch Mã.

* Gió mùa mùa hạ ( Gió mùa Tây Nam):

– Nguồn gốc: xuất phát từ trung tâm áp thấp Ấn Độ – Mianma hút gió từ Bắc Ấn Độ Dương qua vịnh Bengan vào nước ta.

– Hướng gió: Tây Nam

– Thời gian hoạt động: từ tháng V – X.

– Đặc điểm – tính chất

:+ Đầu mùa hạ, khối khí nhiệt đới ẩm từ Bắc Ấn Độ Dương di chuyển theo hướng Tây Nam xâm nhập trực tiếp và gây mưa lớn cho Đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên, ngoài ra khi vượt dãy Trường Sơn còn gây hiệu ứng phơn cho khu vực Bắc Trung Bộ và Nam Tây Bắc với kiểu thời tiết khô, nóng

.+ Giữa và cuối mùa hạ (từ tháng VI): Gió mùa Tây Nam xuất phát từ cao áp cận chí tuyến bán cầu Nam hoạt động mạnh. Khi vượt qua vùng biển xích đạo, khối khí này trở nên nóng ẩm hơn, thường gây mưa lớn và kéo dài cho các vùng đón gió ở Nam Bộ và Tây Nguyên, cùng với dải hội tụ nhiệt đới gây mưa lớn cho cả 2 miền Nam, Bắc và mưa vào tháng IX cho Trung Bộ.

+ Riêng miền Bắc, do áp thấp Bắc Bộ, khối khí này di chuyển theo hướng Đông Nam vào Bắc Bộ tạo nên “gió mùa Đông Nam” vào mùa hạ ở miền Bắc nước ta.

* Hệ quả:

– Miền Bắc có mùa đông lạnh, ít mưa và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều, hai mùa chuyển tiếp là mùa xuân và mùa thu.

– Miền Nam có một mùa mưa và một mùa khô rõ rệt.

Nguyên Nhân Hạ Đường Huyết Trẻ Em Và Cách Điều Trị

Những Nguyên Nhân Gây Hạ Đường Huyết Thường Gặp Là Gì?

Những Nguyên Nhân Gây Hạ Đường Huyết, Có Thể Bạn Chưa Biết

Biểu Hiện Của Bệnh Hạ Đường Huyết

Trẻ Sơ Sinh Bị Hạ Đường Huyết

Giải Thích Cơ Chế Gió Mùa. So Sánh Gió Mùa Các Khu Vực Gió Mùa Trên Lục Địa Á

Nguyên Nhân Dẫn Đến Sự Hình Thành Gió Mùa Là:

Trình Bày Hoạt Động, Nguyên Nhân Hình Thành Tính Chất Và Các Khu Vực Chịu Ảnh Hưởng Của Gió Mùa Trên Trái Đất Câu Hỏi 1323605

Nguyên Nhân Và Cách Chữa Trị Bệnh Hôi Nách Ở Trẻ Em

Bệnh Hôi Nách: Nguyên Nhân, Tác Hại, Cách Chữa Trị Và Cách Phòng Tránh

Tìm Hiểu Nguyên Nhân Gây Bệnh Hôi Nách Và Cách Chữa Trị

1. Cơ chế gió mùa

1.1. Gió mùa

Gió mùa là chế độ dòng khí của hoàn lưu chung khí quyển trên một phạm vi đáng kể của bề mặt Trái Đất, trong đó ở mọi nơi trong khu vực gió mùa, gió thịnh hành chuyển ngược hướng hay gần như ngược hướng từ mùa đông sang mùa hè và từ mùa hè sang mùa đông.

1.2. Nguyên nhân chính sinh ra gió mùa

 Sự chênh lệch về khí áp giữa lục địa và đại dương

 Sự chênh lệch khí áp giữa lục địa Bắc bán cầu và Nam bán cầu cầu theo mùa

 Lực Coriolit

 Địa hình

1.3. Cơ chế chung của gió mùa

1.3.1. Gió mùa mùa hè

– Vào mùa hè phần lớn các lục địa ở Bắc bán cầu bị đốt nóng mạnh mẽ, không khí bị giãn nở và bốc lên cao tạo thành các trung tâm áp thấp. Ap thấp Iran trên khu vực Tây Á có trị số áp thấp nhất

– Vào thời gian này vùng xích đạo vẫn tồn tại một dải áp thấp nhưng có trị số áp cao hơn các vùng trên lục địa nhất là ở nội địa châu Á.

– Ở nam bán cầu thời gian này là mùa đông nên nhiệt độ thấp hình thành các dải áp cao ổn định thống trị tạo thành một dải liên tục xung quanh chí tuyến nam.

– Chính vì những điều kiện chênh lệch nhiệt độ và áp giữa hai bán cầu như trên nên khu vực áp thấp bắc bán cầu trở thành trung tâm hút gió mạnh làm cho gió tín phong từ dải áp cao nam bán cầu thổi mạnh vượt xích đạo lên bắc bán cầu đến tận vùng nội địa châu Á hình thành nên gió mùa mùa hè ở khu vực bắc bán cầu.

– Do ảnh hưởng của lực Coriolis và địa hình làm cho gió mùa không những bị đổi hướng mà còn bị biến tính mạnh hay bị cản trở sức gió.

1.3.2. Gió mùa mùa đông

– Trái ngược với mùa hè, vào mùa đông khu vực nội địa các lục địa bán cầu bắc bị hóa lạnh mạnh mẽ hình thành nên các trung tâm áp cao kéo dài liên tục từ Bắc Mĩ sang Châu Á với khu áp cao Sibir tồn tại ở trung tâm châu Á có trị số áp cao nhất địa cầu đạt đến trị tối đa 1080 mb

– Khi đó khu vực xích đạo vẫn tồn tại một dải áp thấp

– Ngược lại với bắc bán cầu vào thời gian này là mùa hè ở nam bán cầu nên hình thành các vùng áp thấp, các trung tâm áp thấp nhất dịch chuyển từ xích đạo về phía nam đến gần chí tuyến nam

– Chính do sự phân bố áp như vậy nên gió từ áp cao bắc bán cầu thổi mạnh về các vùng hạ áp nam bán cầu hình thành nên gió mùa mùa hạ

1.4. Cơ chế gió mùa ở khu vực châu Á

1.4.1. Gió mùa mùa đông

Ở châu Á, về mùa đông, do nhiệt độ hạ thấp, nên dải áp cao Sibir được hình thành, có trung tâm áp nằm giữa 40 – 600 vĩ độ Bắc, hoạt động với cường độ lớn. Gió thổi từ cao áp (xoáy nghịch) này về phía nam và đông nam qua Trung Quốc, Nhật Bản, hội tụ tín phong bắc bán cầu thổi từ Thái Bình Dương tới vĩ độ 150 – 200 tạo thành gió mùa đông bắc ở khu vực Đông Nam Á. Sau khi vượt qua xích đạo (ở Indonesia) gió lệch hướng thành gió tây tiến về dải hội tụ nội chí tuyến, lúc này nằm ở 10 – 150 Nam

1.4.2. Gió mùa mùa hè

Về mùa hạ, chuyển động biểu kiến của mặt trời đi về phía bắc, đường hội tụ nội chí tuyến vượt lên phía bắc, các hạ áp hình thành do nhiệt trên các lục địa cũng di chuyển về phía bắc và hút gió tín phong từ phía nam xích đạo lên. Sau khi vượt qua xích đạo, do ảnh hưởng của lực coriolis, gió này chuyển hướng tây nam. Một số nơi, do sức hút lớn của các hạ áp lục địa, gió này chuyển hưởng đông nam.

2. So sánh các khu vực gió mùa trên lục địa Á – Âu

Khu vực gió mùa điển hình ở Nam Á và Đông Nam Á

2.1. Tính chất chung của gió mùa khu vực Đông Nam Á và Nam Á

2.1.1. Tính không liên tục về bản chất

 Sự biến đổi theo ma của hoàn lưu chịu sự chi phối của nhiều nguyên nhân, nhiều trung tâm hoạt động khác nhau. Tùy theo từng thời kỳ và từng nơi mà các nguyên nhân và trung tâm này phát huy vai trò chủ chốt hay thứ yếu. Vì vậy nó có tính gián đoạn.

 Tính gián đoạn thể hiện cao ở các thế chắn của địa hình làm cản trở hướng gió, gây biến tính

2.1.2. Tính ổn định và không ổn định theo không gian và thời gian

 Tính ổn định được quy định bởi cơ chế hoàn lưu hành tinh

 Tính bất ổn định l do hai hệ thống: gió mùa cực đới từ áp cao Xibia và gió mùa “tín phong từ áp cao phụ đông trung Hoa khi thì tác động xen kẽ, khi thì tác động đồng thời.

 Gió mùa mùa hạ mang tính chất chung là gió tín phong nam bán cầu vượt xích đạo hình thành gió mùa mùa hạ ở cả hai khu vực nam Á và Đông Nam Á

2.2. Sự khác nhau cơ bản của gió mùa ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á

– Khu vực Đông Nam Á : về mùa đông, ở trung tâm Châu Á do nhiệt độ hạ thấp, nên dải áp cao Sibir được hình thành, có trung tâm áp nằm giữa 40 – 600 vĩ độ Bắc, hoạt động với cường độ lớn. Gió thổi từ cao áp (xoáy nghịch) này về phía nam và đông nam qua Trung Quốc, Nhật Bản, hội tụ tín phong bắc bán cầu thổi từ Thái Bình Dương tới vĩ độ 150 – 200 tạo thành gió mùa đông bắc ở khu vực Đông Nam Á. Sau khi vượt qua xích đạo (ở Indonesia) gió lệch hướng thành gió tây tiến về dải hội tụ nội chí tuyến, lúc này nằm ở 10 – 150 Nam.

– Khu vực Nam Á : Mặc dù trên lục địa có áp cao Sberi rất mạnh song do dy Himalaya đồ sộ nên áp cao này không gây ảnh hưởng ở khu vực này mà chịu ảnh hưởng của áp cao Turketstan thực chất là cao áp chí tuyến. Phía Nam l dải hạ áp xích đạo thống trị. Do đó vào mùa này khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa đông Bắc (thực chất đây là tín phong) với khối khí lục địa chi phối một mùa đông không lạnh lắm. Nếu so sánh giữa Vinh (Việt Nam) và Munbai (Ấn Độ) là hai khu vực có vĩ độ tương đương thì vào mùa này Munbai (Ấn Độ) có nhiệt độ trung bình là 250C, còn Hà Nội là 17 – 180C.

3. Đặc điểm thời tiết ở Việt Nam

3.1. Gió mùa mùa đông

3.1.1. Sự hình thành trung tâm áp cao Sibir

 Có hoạt động của gió mùa mùa đông. Hệ thống gió mùa mùa đông thường được gọi là gió mùa Đông Bắc, hoạt động chủ yếu trong thời kỳ mùa đông, mang đến chúng ta các khối không khí lạnh ở vùng cực đới làm cho nước ta có một mùa đông lạnh so với các vùng có cùng vĩ tuyến tương tự.

 Nước ta ở về phía Đông Nam lục địa Châu Á. Về mùa rét, phía Bắc lục địa Châu Á nhận được ít ánh sáng mặt trời nên lạnh đi rất nhiều. Không khí ở trên vùng này cũng lạnh như thế, nó chiếm cứ một vùng khá rộng, mỗi chiều hàng nghìn cây số. Vùng đó trở thành một vùng khí áp cao. Cũng trong thời gian này ở các vùng biển lân cận như: Thái Bình Dương, biển Đông,… nhiệt độ không khí nóng hơn do đó khí áp tương đối thấp. Không khí sẽ chảy từ vùng khí áp cao ở lục địa Trung Quốc ra các miền khí áp thấp ở biển và khu vực xích đạo hình thành gió mùa Đông Bắc tràn qua nước ta.

 Bản chất của gió mùa Đông Bắc là sự di chuyển của khối không khí cực đới lục địa (NPc) từ vùng áp cao Xibia thổi về.Tại trung tâm áp cao này không khí rất lạnh và khô, nhiệt độ trung bình mùa đông khoảng -40 đến -150

 Đây là vùng áp cao nhiệt lực mạnh nhất trên trái đất. Vào thời kỳ mùa xuân và mùa thu còn xuất hiện thêm các dải áp cao phụ ở khu vực sông Trường Giang (Trung Quốc) ở vào khoảng 30 độ vĩ bắc. Do vậy hệ thống gió mùa Đông Bắc hoạt động mạnh ở nước ta gây rét đậm từ tháng 11 đến tháng 3 có nguồn gốc từ vùng áp cao Xibia, còn các đợt gió mùa Đông Bắc sớm và muộn thường yếu và ít lạnh hơn thì xuất phát từ áp cao phụ biển Đông Trung Hoa. Trong mọi trường hợp, gió mùa Đông Bắc đều lạnh hơn gió tín phong và nhiệt độ luôn xuống dưới 20 độ .

 Về mùa đông ở nước ta có sự luân phiên hoạt động của các khối không khí sau:

 Khối không khí cực đới lục địa (NPc):

+ Khối không khí cực đới lục địa biến tính khô (NPc đất):

+ Khối không khí cực đới biến tính ẩm (NPc biển):

 Khối không khí nhiệt đới biển Đông Trung Hoa (Tp):

3.1.2. Cơ chế

a) Khối khí cực đới (Pc)

Khối khí Pc tràn sang nước ta theo hai đường, một đường từ lục địa đi thẳng qua Trung Quốc, một đường dịch quá về phía đông ra biển Nhật bản và Hoàng Hải. Trên đường di chuyển dài đó, các khối không khí cực bị biến tính nên nóng lên 20C về mùa đông và 0,50C về mùa hạ cho mỗi độ vĩ tuyến.

b) Khối khí NPc đất

 Tính chất khối khí lạnh và khô, vào giữa mùa đông, khi NPc đất mới tràn sang, nhiệt độ mặt đất ở Hà Nội trên dưới 100C, lượng hơi nước 7 – 8 g/kg. Cũng như mọi khối khí, nhiệt độ và các tính chất khác của NPc đất có sự thay đổi theo thời gian. Nhiệt độ thấp nhất vào giữa mùa, còn vào đầu mùa và cuối mùa, nhiệt độ có phần nhích lên, đồng thời càng xuống phía nam thì càng nóng và ẩm

 NPc đất là khối không khí ổn định, vì thế thời tiết đặc trưng là trời lạnh, khô, quang mây. NPc đất hoạt động mạnh nhất vào đầu mùa và giữa mùa đông (tháng XI – I).

c) Khối khí NPc biển

– NPc biển có độ ẩm tương đối gần bão hòa (90%), nguyên nhân chính là do tác động của biển mà nó đi qua. Vào giữa mùa đông, tại hà Nội, NPc biển có nhiệt độ trung bình 15 – 170C, độ ẩm riêng 9 – 11g/kg, độ ẩm tương đối 90%

– NPc biển mang tính chất ổ định, vì vậy không gây mưa to mà thời tiết đặc trưng là trời lạnh nhưng đầy mây, âm u, có mưa phùn và mưa nhỏ rải rác, rét buốt khó chịu.

d) Front cực

– Hình thành trong điều kiện hai khối không khí có tính chất trái ngược nhau gặp nhau, ở đây là khối khí lạnh Pc và khối khí nóng thống trị thường xuyên tại Việt Nam.

– Khi front tràn về, nhiệt độ giảm đi nhanh chóng 3- 50C/24h, có khi lên đến 5 – 100C/24h.

– Khi xuất hiện fonrt ngoài gây lạnh đột ngột còn có thể gây mưa lớn hoặc mưa phùn rải rác.

3.2. Gió mùa mùa hạ

 Có hoạt động của gió mùa mùa hạ hay còn gọi là gió mùa Tây Nam. Về mùa hè miền Bắc nước ta là khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam thổi từ phía Tây Nam đến và từ Thái Lan, Lào sang. Những đợt gió Tây Nam sớm thổi vào tháng 4 và những đợt muộn vào đầu tháng 9.

Nguyên nhân hình thành:

 Tuy được mặt trời cùng chiếu nắng như nhau nhưng mặt đất bao giờ cũng nóng hơn mặt biển. Vì vậy về mùa hè lục địa Trung Quốc nóng hơn các vùng biển lân cận như Thái Bình Dương, biển Đông, Ấn Độ Dương rất nhiều. Vùng lục địa Trung Quốc tương đối nóng nên không khí cũng nóng ở đó khí áp thấp. Không khí nóng nhẹ sẽ bốc lên cao nhường chỗ cho không khí mát hơn từ vùng khí áp cao ở các biển tràn đến gây ra gió mùa Tây Nam đi qua miền Bắc nước ta.

 Gió mùa Tây Nam bắt nguồn từ vùng biển Ấn Độ hoặc từ bán cầu phía Nam, lúc đầu tương đối ẩm và mát. Nhưng trong chặng đường khá dài trước khi đến nước ta hơi nước đã đọng dần lại, cuối cùng phải leo qua núi nên không khí trở thành nóng và khô. Do đó, đối với miền Bắc nước ta gió Tây Nam là loại gió nóng và khô.

 Gió mùa Tây Nam cũng như gió mùa Đông Bắc không phải lúc nào cũng thổi đều như nhau mà khi mạnh khi yếu. Khi mạnh không khí rất nóng và khô, lúc đó nhân dân thường quen gọi là gió Lào. Mùa hè gió Lào đôi khi ảnh hưởng đến Bắc Bộ nhưng chủ yếu là khu vực từ Nghệ An trở vào. Nhiệt độ không khí trong những đợt gió Lào lên rất cao. Buổi trưa nóng nhất thường thường vào khoảng 36 – 370 đôi khi lên đến 41 – 420 .

 Gió mùa mùa hạ chính thức là gió tín phong bán cầu Nam (có hướng Đông Nam ở bán cầu Nam khi vượt xích đạo thì đổi hướng thành gió Tây Nam).

 Gió mùa Tây Nam bán cầu Nam thổi theo từng đợt, mỗi đợt đều có kèm theo sự hoạt động của dải hôị tụ nhiệt đới tạo nên các xoáy áp thấp. Khi tích luỹ được đầy đủ các điều kiện thì các xoáy áp thấp này phát triển thành các áp thấp nhiệt đới hoặc bão.

 Trong mùa hạ, ngoài gió mùa Tây Nam chính thức kể trên còn có gió mùa Tây Nam có nguồn gốc từ vịnh Bengan (Bắc Ấn Độ Dương) thổi tới khu vực Đông Nam Á có một số đặc điểm khác với gió mùa Tây Nam chính thức.

 Như vậy trong mùa hạ có thể phân biệt hai luồng gió mùa mùa hạ mang theo 2 khối khí là không khí nhiệt đới biển Bắc Ấn Độ Dương (khối không khí chí tuyến vịnh Bengan TBg) và khối khí xích đạo (Em).

 Ngoài ra ở miền Bắc nước ta ngoài hai thứ gió Đông Bắc và Tây Nam, còn một loại gió rất thường thấy là gió Đông Nam. Do sự phân bố về khí áp ở phía Bắc và Thái Bình Dương nên gió Đông Nam không những thấy trong mùa nóng và cả trong mùa rét.

 Trong mùa rét sau khi gió mùa Đông Bắc yếu và tan đi sẽ có gió Đông Nam thổi. Trong thời kỳ này biển nóng hơn lục địa cho nên khi đi qua biển Đông không khí được ấm lên nhiều. Vì vậy gió Đông Nam đem lại thời tiết ấm áp dễ chịu. Trong mùa nực mỗi khi gió Tây Nam thổi mạnh, trời rất nóng và khô. Sau khi gió Tây Nam yếu đi thường có gió Đông Nam. Trong thời kỳ này biển mát hơn lục địa , vì vậy gió Đông Nam thổi từ biển vào lại là thứ gió mát.

1.3 Ảnh hưởng của gió mùa đến thời tiết

-Những đợt gió mùa Đông Bắc khá mạnh thường gây ra sương muối ở vùng núi. Cây cối hoa màu lạnh quá không chịu nổi, lá đen đi và bị chết. Ngoài gió mạnh và rét, gió mùa Đông Bắc còn gây ra mưa như mưa phùn trong tháng 2 và 3 và mưa rào kèm theo sấm chớp vào tháng 5 và 6 dương lịch. Mỗi khi gió mùa Đông Bắc tràn về, gió mạnh lên đột ngột, trong đất liền sức gió có khi đến cấp 6, ngoài khơi tới cấp 7, cấp 8 sóng biển cao rất nguy hiểm cho thuyền bè.

-Gió Lào gây ra những thiệt hại đáng kể đối với đời sống và sản xuất. Trời nóng quá làm việc mau mệt mỏi. Cây cối hoa màu do phát tán hơi nước nhiều nên bị héo khô. Lúa trổ gặp nhiệt độ cao quá dễ bị thui chột. Gió Lào đôi khi gây ra hạn hán kéo dài, đất nứt nẻ, dễ xảy ra hoả hoạn.

Đặc Điểm Về ” Gió Mùa” Ở Việt Nam

Nguyên Nhân Hạ Đường Huyết Trẻ Em Và Cách Điều Trị

Những Nguyên Nhân Gây Hạ Đường Huyết Thường Gặp Là Gì?

Những Nguyên Nhân Gây Hạ Đường Huyết, Có Thể Bạn Chưa Biết

Biểu Hiện Của Bệnh Hạ Đường Huyết

Tại Sao Có Gió – Vai Trò Ảnh Hưởng Của Gió Tới Đời Sống Con Người

Ung Thư Máu Có Thể Điều Trị Khỏi Bằng Y Học Cổ Truyền

Tại Sao Không Hút Thuốc Vẫn Mắc Ung Thư Phổi

Tại Sao Xe Vespa Không Đề Được Và Cách Khắc Phục.

Có Nên Mua Xe Captiva Cũ Đã Qua Sử Dụng Tại Sao Không

‘I Love You 3000’ Là Gì?

Gió là một hiện tượng trong tự nhiên được hình thành do sự khác biệt trong áp suất khí quyển. Chịu ảnh hưởng dưới tác động của mặt trời, nhiệt độ mặt đất nóng dần lên.

Khi đó, không khí trở nên nhẹ đi và bắt đầu bay lên cao, thêm vào đó là hiện tượng áp suất khu vực trở nên thấp, không khí loãng dẫn đến sự chênh lệch áp suất khí quyển.

Do đó, không khí luôn chuyển động từ các vùng có khí áp cao (không khí đặc hơn) đến vùng có khí áp thấp ( không khí loãng hơn) và do trục trái đất quay.

Chính tốc độ chuyển động của không khí trong những trường hợp này khác nhau, vì thế mà sinh ra gió. Đây được xem là vòng tuần hoàn khép kín của không khí.

Cũng như sự hình thành của gió, khi các luồng không khí di chuyển bị va chạm mạnh và làm biến đổi hướng tạo nên nên các các vùng áp suất quá mạnh hoặc quá lớn sẽ hình thành nên những cơn bão hay lốc xoáy.

Phương pháp đo lường gió

Trong dự báo thời tiết, người ta thường dùng mũi tên chỉ hướng gió để đo hướng gió mà nó bắt đầu.

Tại sân bay, người ta dùng cờ gió để chỉ hướng gió, và có thể dùng nó để ước tính tốc độ gió bằng góc nâng của cờ. Để đo tốc độ gió họ thường dùng phong tốc kế để đo.

Hiện nay dụng cụ được sử dụng phổ biến nhất là sử dụng cốc xoay hoặc cánh quạt. Trong các trường hợp phải đo với tần số cao như trong nghiên cứu, có thể đo bằng tác động của gió trên điện trở của một dây kim loại nung nóng hoặc bằng tốc độ lan truyền của tín hiệu siêu âm.

Ứng dụng của gió

Dựa vào các nghiên cứu về lực và hướng di chuyển của không khí tạo ra gió mà người ta đã ứng dụng vào ngành giao thông vận tải như: thiết kế thuyền buồm, máy bay,…

Ngoài ra, gió còn được tận dụng để tạo ra các nguồn năng lượng cho ngành luyện kim từ năm 300 TCN. Cho đến việc sử dụng sức gió trong tạo thành các cối xay gió ứng dụng trong đời sống và sản xuất,…

Ngày nay, với khoa học tiên tiến người ta đã nghiên cứu để khai thác năng lượng gió để tạo nên các nguồn năng lượng mới vừa an toàn thân thiện với môi trường, vừa tiết kiệm và hạn chế sử dụng các nguồn năng lượng độc hại khác.

Đối với các trò thể thao giải trí, gió đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong một số môn thể thao phổ biến như: thả diều, bay diều tuyết, bay khinh khí cầu, lướt ván diều, lướt sóng diều, đua thuyền buồm, hang gliding,..

Trong thế giớ tự nhiên, gió có tác động không hề nhỏ đến các dạng địa hình do bị xóa mòn, phong hóa bởi sức gió, di chuyển bụi sa mạc.

Ngoài ra, gió còn duy trì, phát triển và phát tán các loại thực vật động vật trong tự nhiên, từ khu vực này sang khu vực khác,…

Tác hại của gió

Bên cạnh những lợi ích mà gió mang lại cho con người và thế giới tự nhiên. Gió cũng gây ra nhiều tác hại nguy hiểm.

Một đợt gió từ cấp 7 trở lên đủ khiến chúng ta gặp nhiều khó khăn khi đi bộ ngoài đường bởi sức cản của nó.

Đối với những cơn gió từ cấp 9 trở lên có thể tạo nên các lốc tốc mái nhà hay phá vỡ các công trình khác.

Chưa kể đến trường hợp xuất hiện vòi rồng thì không thể lường trước được tác hại mà nó gây ra sẽ thiệt hại như thế nào.

Một cơn vòi rồng xuất hiện không chỉ phá hủy các công trình kiên cố, phá tung ngôi nhà thậm chí còn gây ra nhiều tai nạn thương tâm, chết chóc cho thế giới loài người.

Như vậy, các bạn đã tìm hiểu được nguyên nhân tại sao lại có gió và gió được hình thành như thế nào?

Từ đó đã biết được những lợi ích cũng như các tác hại vô cùng mà gió gây ra để có biện pháp phù hợp để đối phó với các trường hợp xấu xảy ra

Lý Giải Việc Xuất Hiện Những Trận Mưa Đá Vừa Qua

Chia Sẻ Cách Nuôi Chòe Than Hót Múa Cho Người Mới Tập Chơi Chim

Đau Gót Chân Là Bệnh Gì? Nguyên Nhân, Uống Thuốc Gì Khỏi Bệnh?

Không Nên Chủ Quan Với Dấu Hiệu Đau Tức Ngực

Chóng Mặt, Đau Đầu: Nguy Cơ Lớn Từ Triệu Chứng Nhỏ

Môi Trường Nhiệt Đới Là Gì? Đặc Điểm, Khí Hậu Của Môi Trường Nhiệt Đới

Đặc Tính Của Môi Trường Nhiệt Đới

Chủ Đề 4. Tìm Hiểu Về Một Số Nghề Ở Địa Phương

Tìm Hiểu Về Một Số Nghề Phổ Biến Ở Địa Phương, Giáo Án Chồi

Bài 45. Thực Hành: Tìm Hiểu Môi Trường Và Ảnh Hưởng Của Một Số Nhân Tố Sinh Thái Lên Đời Sống Sinh Vật

Những Kiến Thức Cơ Bản Về Hệ Sinh Thái

Môi trường nhiệt đới là cụm từ dùng để chỉ những khu vực nằm trong phạm vi khoảng từ 5 o đến chí tuyến ở cả hai bán cầu Nam Bắc. Đây là một trong những khu vực có lượng dân cư phân bố đông nhất trên thế giới. Vậy, môi trường nhiệt đới và môi trường nhiệt đới gió mùa có điểm gì giống và khác nhau hay không?

Khí hậu môi trường nhiệt đới

Đúng như tên gọi của nó, khí hậu của môi trường này được đặc trưng bởi nhiệt độ cao quanh năm và trong một năm có thời kì khô hạn trong khoảng từ tháng 3 đến tháng 9. Thời kì khô hạn này sẽ càng kéo dài, biên độ nhiệt độ lớn hơn khi nằm ở vị trí gần chí tuyến.

20 o C là nhiệt độ trung bình hàng năm. Khoảng thời gian Mặt Trời đi qua thiên đỉnh chính là thời kì nhiệt độ tăng cao. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 500 mm đến 1500 mm.

Đặc điểm của môi trường nhiệt đới

Bên cạnh điều kiện khí hậu, sự đa dạng của môi trường nhiệt đới gió mùa và môi trường nhiệt đới thể hiện ở các đặc điểm khác như sinh vật, địa hình, sông ngòi và đất đai.

Sinh vật của môi trường nhiệt đới và nhiệt đới gió mùa thay đổi theo mùa. Vào mùa mưa, thực vật và động vật đều tươi tốt, thay đổi một cách linh hoạt. Ở những khu vực mưa nhiều, rừng cây có nhiều tầng và có một số cây rụng lá vào mùa khô. Ở những khu vực mưa ít có đồng cỏ cao nhiệt đới.

Địa hình của môi trường nhiệt đới đa dạng, từ các vùng núi cao, đến vùng đồi, đồng bằng. Sông ngòi nhiều nước, giàu phù sa nhờ quá trình phong hoá diễn ra mạnh mẽ.

Loại đất đặc trưng của môi trường này là đất Feralit. Do ở các miền đồi núi, trong mùa mưa, nước mưa thấm sâu xuống các lớp đất đá bên dưới, đến mùa khô, nước lại di chuyển lên trên mặt mang theo oxit sắt, nhôm tích tụ lâu ngày làm cho đất có màu đỏ vàng.

Nếu không được cây cối che phủ và quá trình canh tác không hợp lí, đất ở môi trường nhiệt đới gió mùa dễ bị xói mòn, rửa trôi và thoái hoá.

Những thuận lợi và khó khăn của môi trường nhiệt đới

Với nền nhiệt độ cao và nắng là điều kiện thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi phát triển quanh năm.

Ngoài ra, đối với hoạt động nông nghiệp còn có thể thực hiện các biện pháp tăng vụ, gối vụ, xen canh, thâm canh nhờ điều kiện nhiệt ẩm dồi dào.

Các sản phẩm nông nghiệp ở môi trường nhiệt đới gió mùa luôn được đa dạng, là nguồn cung lớn trên toàn thế giới.

Các loại cây trồng, vật nuôi thường xuyên bị đe doạ bởi những loài dịch bệnh phá hoại, nhất là về mùa lũ.

Đất đai bị xói mòn, hoang mạc hoá khiến cho chất dinh dưỡng trong đất không thể đáp ứng nhu cầu của cây trồng.

Các loại thiên tai như lũ lụt, hạn hán kéo dài, sóng thần, bão… không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất mà còn gây trở ngại đối với hoạt động thường ngày của con người.

Tìm Hiểu Về Hiện Tượng Ô Nhiễm Nước

Làm Thế Nào Để Tạo Ra Một Môi Trường Làm Việc Tích Cực Cho Công Việc Kinh Doanh Của Bạn

10 Tiêu Chí Đánh Giá Môi Trường Làm Việc Lý Tưởng

Mẹo Xác Định Môi Trường Làm Việc Phù Hợp

Tìm Hiểu Về Môi Trường Làm Việc Tại Nhật Bản Của Người Xuất Khẩu Lao Động

🌟 Home
🌟 Top