The Gunpowder Empires: Ottoman, Safavid Và Mughal

--- Bài mới hơn ---

  • Những Khác Biệt Giữa Học Đại Học Và Học Phổ Thông
  • Pr Là Gì? Quảng Cáo Là Gì? 10 Sự Khác Nhau Giữa Quảng Cáo Và Pr
  • Tìm Hiểu Nét Tương Đồng Và Khác Nhau Của Phật Giáo Và Thiên Chúa Giáo
  • Còn Lâu Trung Quốc Mới Bắt Chước Được Mỹ Sau Thế Chiến Lần 2
  • 4 Nguyên Nhân Của Sự Phát Triển Thần Kì Nhật Bản Sau Thế Chiến Thứ Ii
  • Các triều đại Ottoman, Safavid và Mughal

    Vào thế kỷ 15 và 16, ba cường quốc lớn xuất hiện trong một ban nhạc ở khắp miền Tây và Nam Á. Các triều đại Ottoman, Safavid và Mughal đã thành lập quyền kiểm soát Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Ấn Độ, phần lớn là do phát minh của Trung Quốc – thuốc súng .

    Phần lớn, sự thành công của đế chế phương Tây phụ thuộc vào súng và pháo tiên tiến. Kết quả là, chúng được gọi là “Đế chế thuốc súng”. Cụm từ này được đặt ra bởi Marshall GS Hodgson và Willian H. McNeill. Thuốc súng này độc quyền sản xuất súng và pháo binh trong khu vực của họ. Tuy nhiên, lý thuyết Hodgson-McNeill không được coi là đủ cho sự nổi lên của các đế chế này, nhưng việc sử dụng vũ khí của chúng là không thể thiếu cho chiến thuật quân sự của chúng.

    01/03

    Đế chế Ottoman ở Thổ Nhĩ Kỳ

    Lâu dài nhất của Đế chế Thuốc súng, Đế quốc Ottoman ở Thổ Nhĩ Kỳ lần đầu tiên được thành lập vào năm 1299, nhưng nó đã rơi xuống các đội quân chinh phục Timur the Lame (Tamerlane) năm 1402. Cảm ơn phần lớn việc mua lại những chiếc túi, những người cai trị Ottoman đã có thể lái xe ra khỏi Timurids và tái lập quyền kiểm soát Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1414.

    Người Ottoman sử dụng pháo binh trong thời cai trị của Bayazid I trong cuộc bao vây Constantinople vào năm 1399 và 1402.

    Quân đoàn Ottoman Janissary trở thành lực lượng bộ binh được đào tạo tốt nhất trên thế giới, và cũng là quân đoàn súng đầu tiên mặc đồng phục. Pháo binh và súng cầm tay quyết định trong trận Varna chống lại một lực lượng Thập tự chinh.

    Trận Chaldiran chống lại Safavids năm 1514 đã ném một khoản kỵ binh Safavid chống lại các khẩu pháo Ottoman và súng trường Janissary với một hiệu ứng tàn phá.

    Mặc dù Đế chế Ottoman đã sớm mất đi lợi thế công nghệ, nó vẫn tồn tại cho đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918).

    Đến năm 1700, Đế chế Ottoman trải rộng trên 3/4 bờ biển Địa Trung Hải, kiểm soát Biển Đỏ, gần như toàn bộ bờ Biển Đen, và có các cảng quan trọng trên Biển Caspian và Vịnh Ba Tư, cũng như nhiều cảng hiện đại- ngày quốc gia trên ba lục địa. Hơn ”

    02/03

    Đế chế Safavid ở Ba Tư

    Triều đại Safavid cũng nắm quyền kiểm soát Ba Tư trong chân không quyền lực theo sau sự suy giảm của đế quốc Timur. Không giống như Thổ Nhĩ Kỳ, nơi người Ottoman khá nhanh chóng tái lập quyền kiểm soát, Persia đã kiệt sức trong khoảng một thế kỷ trước khi Shah Ismail I và “Người đứng đầu đỏ” (Qizilbash) Turks của họ có thể đánh bại các phe đối lập và đoàn tụ đất nước vào khoảng năm 1511.

    Các Safavids đã học được giá trị của vũ khí và pháo binh sớm, từ những người Ottoman láng giềng. Sau trận Chaldiran, Shah Ismail đã xây dựng một đội quân lính ngự lâm, chiếc tofangchi. Đến năm 1598, họ cũng có một khẩu pháo pháo binh. Họ đã chiến đấu thành công với Uzbeks vào năm 1528 bằng cách sử dụng chiến thuật giống như Janissary chống lại kỵ binh Uzbek.

    Lịch sử Safavid tràn đầy những xung đột và chiến tranh giữa người Hồi giáo Shi’a Muslim Safavid và người Thổ Nhĩ Kỳ Sunni Ottoman. Ban đầu, Safavids gặp bất lợi với những người Ottoman có vũ trang tốt hơn, nhưng họ nhanh chóng khép lại khoảng trống. Đế chế Safavid kéo dài đến năm 1736. Thêm nữa ”

    03/03

    Đế quốc Mughal ở Ấn Độ

    Đế chế thuốc súng thứ ba, Đế chế Mughal của Ấn Độ, có lẽ là ví dụ ấn tượng nhất về vũ khí hiện đại mang theo ngày. Babur , người đã thành lập đế chế, đã có thể đánh bại Ibrahim Lodi của Vương quốc Hồi giáo cuối cùng ở trận chiến Panipat đầu tiên năm 1526. Babur có chuyên môn về Ustad Ali Quli, người đã huấn luyện quân đội với các kỹ thuật Ottoman.

    Quân đội Trung Á chiến thắng của Babur đã sử dụng kết hợp các chiến thuật kỵ binh truyền thống và các khẩu pháo mới bị vướng víu; ngọn lửa pháo đâm vào những con voi chiến tranh của Lodi, đã quay lại và giẫm đạp quân đội của mình trong sự vội vã của họ để thoát khỏi tiếng ồn đáng sợ. Sau chiến thắng này, hiếm khi có bất kỳ lực lượng nào tham gia Mughals trong một trận chiến dốc.

    Triều đại Mughal sẽ chịu đựng cho đến năm 1857 khi người Anh Raj đến đổ bộ và lưu đày hoàng đế cuối cùng. Hơn ”

    Alternative articles

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trận Chiến Thay Đổi Trung Đông Vĩnh Viễn
  • 3 Đế Chế Thuốc Súng Của Châu Á: Vương Triều Ottoman, Safavid Và Mughal
  • Mối Quan Hệ Giữa Nhận Thức Cảm Tính Và Nhận Thức Lý Tính Trong Tâm Lý Học
  • So Sánh Giữa Marketing Truyền Thống Và Marketing Hiện Đại
  • Sự Khác Nhau Cơ Bản Giữa Marketing Online Và Marketing Offline
  • 3 Đế Chế Thuốc Súng Của Châu Á: Vương Triều Ottoman, Safavid Và Mughal

    --- Bài mới hơn ---

  • Trận Chiến Thay Đổi Trung Đông Vĩnh Viễn
  • The Gunpowder Empires: Ottoman, Safavid Và Mughal
  • Những Khác Biệt Giữa Học Đại Học Và Học Phổ Thông
  • Pr Là Gì? Quảng Cáo Là Gì? 10 Sự Khác Nhau Giữa Quảng Cáo Và Pr
  • Tìm Hiểu Nét Tương Đồng Và Khác Nhau Của Phật Giáo Và Thiên Chúa Giáo
  • Vào thế kỷ 15 và 16, ba cường quốc đã phát sinh thành một dải trên khắp Tây và Nam Á. Các triều đại Ottoman, Safavid và Mughal lần lượt thiết lập quyền kiểm soát đối với Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Ấn Độ, một phần lớn là do một phát minh của Trung Quốc:

    Phần lớn, thành công của các đế chế phương Tây phụ thuộc vào các loại súng và đại bác tiên tiến. Do đó, họ được gọi là “Đế chế Thuốc súng”. Cụm từ này được đặt ra bởi các nhà sử học Hoa Kỳ Marshall GS Hodgson (1922-1968) và Willian H. McNeill (1917-2016). Các đế chế thuốc súng độc quyền sản xuất súng và pháo trong khu vực của họ. Tuy nhiên, lý thuyết Hodgson-McNeill ngày nay không được coi là đủ cho sự trỗi dậy của các đế chế này, nhưng việc sử dụng vũ khí của họ là không thể thiếu trong các chiến thuật quân sự của họ.

    Lâu dài nhất trong các Đế chế Thuốc súng, Đế chế Ottoman ở Thổ Nhĩ Kỳ được thành lập lần đầu tiên vào năm 1299, nhưng nó đã rơi vào tay các đội quân chinh phục của (hay còn gọi là Tamerlane, 1336-1405) vào năm 1402. Phần lớn nhờ họ có được súng hỏa mai, các nhà cai trị Ottoman đã có thể đánh đuổi quân Timuri và tái lập quyền kiểm soát của họ đối với Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1414.

    Người Ottoman đã sử dụng pháo binh dưới thời trị vì của Bayazid I (1360-1403) trong các cuộc bao vây Constantinople năm 1399 và 1402.

    Quân đoàn Ottoman Janissary trở thành lực lượng bộ binh được huấn luyện tốt nhất trên thế giới, và cũng là quân đoàn súng đầu tiên mặc quân phục. Pháo binh và súng có vai trò quyết định trong Trận Varna (1444) chống lại lực lượng Thập tự chinh.

    Trận Chaldiran chống lại Safavid vào năm 1514 khiến kỵ binh Safavid tấn công đại bác Ottoman và súng trường Janissary với một tác động tàn khốc.

    Mặc dù Đế chế Ottoman sớm mất đi thế mạnh công nghệ, nhưng nó vẫn tồn tại cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ nhất

    Đến năm 1700, Đế chế Ottoman đã mở rộng qua 3/4 bờ biển Địa Trung Hải, kiểm soát Biển Đỏ, gần như toàn bộ bờ Biển Đen, và có các cảng quan trọng trên Biển Caspi và Vịnh Ba Tư, cũng như nhiều cảng hiện đại- ngày các nước trên ba lục địa.

    Vương triều Safavid cũng nắm quyền kiểm soát trong khoảng trống quyền lực kéo theo sự suy tàn của đế chế Timur. Không giống như Thổ Nhĩ Kỳ, nơi người Ottoman khá nhanh chóng thiết lập lại quyền kiểm soát, Ba Tư đã mòn mỏi trong hỗn loạn trong khoảng một thế kỷ trước khi Shah Ismail I (1487-1524) và “Red Head” (Qizilbash) của ông, người Thổ Nhĩ Kỳ có thể đánh bại các phe phái đối thủ và thống nhất đất nước. vào khoảng năm 1511.

    Người Safavid đã sớm học được giá trị của súng cầm tay và pháo từ người Ottoman láng giềng. Sau trận Chaldiran, Shah Ismail đã xây dựng một quân đoàn ngự lâm quân, . Đến năm 1598, họ cũng có một quân đoàn pháo binh. Họ chiến đấu thành công với người Uzbekistan vào năm 1528 bằng cách sử dụng chiến thuật giống như người Janissary để chống lại kỵ binh Uzbekistan.

    Lịch sử Safavid đầy rẫy những cuộc đụng độ và chiến tranh giữa người Ba Tư Safavid Hồi giáo dòng Shi’a và người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman dòng Sunni. Ngay từ đầu, quân Safavid đã gặp bất lợi trước quân Ottoman được trang bị tốt hơn, nhưng họ đã sớm thu hẹp khoảng cách về vũ trang. Đế chế Safavid kéo dài đến năm 1736.

    Đế chế thuốc súng thứ ba, Đế chế Mughal của Ấn Độ, có lẽ là ví dụ ấn tượng nhất về vũ khí hiện đại mang theo ngày này. (1483-1530), người thành lập đế chế, đã có thể đánh bại Ibrahim Lodi (1459-1526) của Vương quốc Hồi giáo Delhi Trận chiến Panipat lần thứ nhất năm 1526. Babur có chuyên môn của chỉ huy Ustad Ali Quli, người đã huấn luyện quân đội với các kỹ thuật Ottoman.

    Đội quân Trung Á chiến thắng của Babur đã sử dụng sự kết hợp giữa chiến thuật kỵ binh ngựa truyền thống và những khẩu đại bác kiểu mới; tiếng đại bác làm kinh hãi những con voi chiến của Lodi, chúng quay lại và giẫm nát quân đội của chúng trong lúc vội vã để thoát khỏi tiếng ồn đáng sợ. Sau chiến thắng này, hiếm có lực lượng nào có thể giao chiến với quân Mughals trong một trận chiến cao độ.

    Vương triều Mughal sẽ tồn tại cho đến năm 1857 khi đến phế truất và lưu đày vị hoàng đế cuối cùng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Nhận Thức Cảm Tính Và Nhận Thức Lý Tính Trong Tâm Lý Học
  • So Sánh Giữa Marketing Truyền Thống Và Marketing Hiện Đại
  • Sự Khác Nhau Cơ Bản Giữa Marketing Online Và Marketing Offline
  • Marketing Truyền Thống Là Gì? Điểm Khác Nhau Về Marketing Hiện Đại Và Marketing Truyền Thống.
  • Phân Biệt Lỵ Amid Và Lỵ Trực Khuẩn
  • So Sánh Hơn Và So Sánh Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Hơn Và So Sánh Hơn Nhất Của Tính Từ
  • Điểm Ngữ Pháp Quan Trọng Trong Tiếng Anh: Câu So Sánh Hơn.
  • Giáo Án Luyện Từ Và Câu Lớp 3
  • Câu So Sánh: So Sánh Hơn, Nhất, Bằng, Kém, Kép
  • Tổng Hợp Ngữ Pháp Chỉ Sự So Sánh
  • Cách hình thành thể so sánh hơn và so sánh nhất của tính từ ngắn (ví dụ cheap) và tính từ dài (ví dụ expensive) khác nhau.

    There are some less expensive ones here, look.

    Có mấy thứ rẻ tiền hơn đây này, nhìn xem. 2. Tính từ ngắn và tính từ dài

    Everyone was pleased at the results, but Vicky was the most pleased.

    Tất cả mọi người đều hài lòng/vui với kết quả của mình, nhưng Vicky hài lòng nhất/ vui nhất.

    The film was This dress is We did the This machine is the

    more exciting than the book.

    Phim hấp dẫn hơn sách.

    more elegant.

    Chiếc áo đầm này có duyên hơn/ thanh lịch hơn.

    most interesting project. Chúng tôi làm một dự án thú vị nhất.

    Chiếc máy này đáng tin cậy nhất. most reliable.

    Một số tính từ 2 âm tiết tận cùng bằng -er, – est, và một số cần phải sử dụng more, most. Hãy quan sát bảng sau:

    Tính từ có 2 âm tiết:

    1. Những tính từ tận cùng là y mà trước nó là một phụ âm, thì khi so sánh hơn và so sánh nhất sẽ có đuôi là erest

    Tương tự công thức đó với các tính từ sau: busy, dirty, easy, funny, heavy, lovely, lucky, tidy,…

    2. Một số tính từ có thể thêm đuôi er, est hoặc đi với more, most khi so sánh hơn và so sánh nhất

    Áp dụng tương tự với những tính từ sau: clever, common, crule, gentle, pleasant, polite, quiet, simple, stupid, tired…

    3. Những tính từ sau đây sử dụng more và most khi so sánh hơn và so sánh nhất.

    Nhiều tính từ khác, ví dụ: afraid, certain, correct, eager, exact, famous, foolish, frequent, modern, nervous, normal, recent,…

    3. Quy tắc chính tả.

    Có một số quy tắc chính tả đặc biệt đối với đuôi – er-est

    2. Những tính từ có 2 âm tiết tận cùng bằng y mà trước nó là một phụ âm thì áp dụng công thức này:

    Tương tự với những tính từ sau: lovely, lucky, ptty,…

    3. Những tính từ ngắn có một nguyên âm nằm giữa 2 phụ âm thì khi thêm đuôi er hoặc est, phải gấp đôi phụ âm cuối.

    4. Hình thức so sánh của trạng từ:

    Một số trạng từ có cùng cách viết giống như tính từ, ( early, fast, hard, high, late, long, near,…) sẽ hình thành so sánh hơn và so sánh nhất bằng đuôi -er, -est.

    Can’t you run faster than that?

    Bạn không thể chạy nhanh hơn được à? Andrew works the

    hardest.

    Andrew làm việc chăm chỉ nhất.

    Cũng nên chú ý đến chính tả của và Chúng được sử dụng với earliest. Nhiều trạng từ được hình thành nên từ công thức adjective + -Iy, ví dụ carefully, easily, nicely, slowly .

    more, most khi so sánh hơn và so sánh nhất.

    We could do this more easily with a computer.

    Chúng ta có thể làm việc này dễ dàng hơn bằng máy tính. Of all the players it was Matthew who planned his tactics the

    most carefully.

    Trong tất cả các cầu thủ thì Matthew là người lên kế hoạch chiến thuật cẩn thận nhất.

    Trong tiếng Anh thông thường (không trang trọng), chúng ta sử dụng cheaper, cheapest, louder, loudest, quicker, quickest slower, slowest hơn là more cheaply, the most loudly,…

    Melanie reacted the quickest.

    Chúng ta có thể sử dụng thay vì elder, eldest + noun older, oldest, nhưng chỉ dành cho người trong cùng gia đình thôi.

    My elder/older sister got married last year.

    Chị gái của tôi đã lập gia đình năm ngoái.

    Chúng ta sử dụng more, most và dạng đối lập của chúng là lessleast để so sánh về số lượng.

    I haven’t got many books. You’ve got The Hotel Bristol has the Trevor spends Emma made the more than I have.

    Tôi không có nhiều sách đâu. Bạn có nhiều hơn tôi đấy.

    most rooms.

    Khách sạn Bristol có nhiều phòng nhất.

    less on clothes than Laura does. Trevor tốn tiền quần áo ít hơn Laura.

    mắc lỗi ít nhất. least mistakes.

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Hơn (Comparative) Trong Tiếng Anh
  • So Sánh Hơn Nhất (Superlative Form)
  • Bài Tập So Sánh Hơn Và So Sánh Nhất Có Đáp Án
  • So Sánh Hơn Trong Tiếng Anh
  • Tổng Hợp Toàn Bộ Cấu Trúc The More
  • Bài Tập So Sánh Hơn Và So Sánh Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Diễn Đạt So Sánh Hơn Trong Tiếng Anh
  • Một Vài Điểm Khác Biệt Khi So Sánh Iphone 12 Và 12 Pro. Liệu Có Đáng Để Nâng Cấp
  • So Sánh Sơ Bộ Iphone 12 Và Iphone 12 Pro
  • So Sánh Iphone 7 Plus Và Iphone 8 Plus, Kẻ 8 Lạng Người Nửa Cân
  • So Sánh Ipad Pro 2022 Và Ipad Pro 2022: Camera Là Nâng Cấp Đáng Giá Nhất
  • Dùng MORE (không thêm -er) với các tính từ dài (2 vần trở lên).

    Sau cấp độ so sánh hơn, ta dùng THAN.

    Thêm -est đối với tính từ ngắn ( 1 vần).

    Dùng THE MOST (không thêm -est) với các tính từ dài (2 vần trở lên).

    2) You chúng tôi you lost weight?

    3) He’s not so keen on his studies. He’s……………in having a good time.

    4) You will find your way around the chúng tôi you have a map.

    5) You’re making too much noise. Can you be a bit………………?

    6) There were a lot of people on the bus. It chúng tôi usual.

    7) You’re late. I expected you to be here…………………..

    8) You hardly ever write to me. Why don’t you write a bit………………?

    9) The hotel was surprisingly cheap. I expected it to be much…………………

    10) It’s a pity you live so far away. I wish you lived………………..

    2) Sorry, I’m late. It took me (long)……………to get there than I expected.

    3) My toothache is (paintful)……………..it was yesterday.

    4) She looks about 20, but in fact she’s much (old)……………she looks.

    5) The problem is not so complicated. It’s (simple)…………….you think.

    6) Your English has improved. You speak a lot (fluently)……………you did when we last met.

    7) Health and happiness are (important)………………..than money.

    8) We always go camping when we go on holiday. It’s much (cheap)……………..staying in a hotel.

    9) I like the countryside. It’s (healthy)………….and (peaceful)…………….living in a town.

    10) The examination was (easy)……………..we expected.

    Complete these sentences. Use the comparative of the words in brackets.

    1) It’s (a little / warm) …………….. today than it was yesterday.

    2) You’re driving too fast. Can you drive (a bit / slowly)……………..?

    3) A: Did you enjoy your visit to the museum?

    B: Yes, I found it (far / interesting)……………..I expected.

    4) I pfer this armchair. It’s (much / comfortable)……………..the other one.

    5) You looked depssed this morning but you look (a bit / happy)………………now.

    6) The flat is too small for me. I need something (much / big)……………….

    7) It’s (a lot / easy)………………to learn a foreign language in the country where it is spoken.

    8) Her illness was (far / serious)………………we at first thought.

    9) Ann works (much / hard)……………most of her friends.

    10) Don’t go by train. It’s (a lot / expensive)………………..

    Exercise 1:

    1) larger 2) thinner 3) more interested 4) more easily 5) quieter / more quiet

    6) more crowded 7) earlier 8) more often 9) more expensive 10) nearer

    Exercise 2:

    1) more serious than 2) longer 3) more paintful than 4) older than

    5) simpler / more simple than 6) more fluently than 7) more important than

    8) cheaper than 9) healthier / more healthy – more peaceful than 10) easier than

    Exercise 3:

    1) a little warmer 2) a bit more slowly 3) far more interesting than

    4) much more comfortable than 5) a bit happier 6) much bigger 7) a lot easier

    8) far more serious than 9) much harder than 10) a lot more expensive

    Write a new sentence with the same meaning. Use a superlative each time and begin each sentence as shown.

    1) I’ve never seen such a boring film.

    It’s………………………………..

    2) I’ve never heard such a funny story.

    That’s………………………………

    3) He has never made such a bad mistake.

    It’s………………………………..

    4) I haven’t tasted such good coffee for a long time.

    That’s…………………………….

    5) I’ve never slept in such an uncomfortable bed.

    This is……………………………

    6) I’ve never had such a big meal.

    It’s……………………………….

    7) I’ve never met such a generous person as Ann.

    Ann…………………………….

    8) I’ve never had such a good friend as you.

    You………………………………

    9) I haven’t had to make such a difficult decision for years.

    This is……………………………..

    10) I haven’t had such a delicious meal for a long time.

    That is…………………………..

    Choose the correct answer.

    1) What is the superlative of “fat”?

    A. fattiest B. the fattest C. fattest

    2) What is the superlative of “interesting”?

    A. the more interesting B. the most interesting C. most interesting

    3) Which word is NOT spelled correctly?

    A. shortest B. youngest C. happyest

    4) Which is the…………planet form the sun?

    A. far B. furthest C. farrest

    5) Which sentence is NOT correct?

    A. That was the most hardest exam ever!

    B. This is the best bar in the city.

    C. She’s the worst volleyball player in the school.

    6) Question 6 is…………….question in the test.

    A. most difficult B. difficultest C. the most difficult

    7) The fish is…………thing on the menu.

    A. the best B. the goodest C. best

    8) That chúng tôi I’ve ever watched.

    A. most boring B. the most boring C. boring

    9) Karen is………….student in class.

    A. healthy B. healthier C. the healthiest

    10) Yesterday chúng tôi of the year.

    A. hottest B. hotest C. the hottest

    2) The (interesting)………………Uranian moon is Miranda. It has ice canyons and terraces.

    3) Uranus hits the (cold)……………..temperatures of any planet.

    4) Karl Henize was the (old)………………..man in space. He was 58 years old.

    5) Mercury is the (small)……………….planet in our solar system.

    6) Elvis Presley is the (good)………………singer.

    7) Marylin Monroe is the (beautiful)……………….actress.

    8) Will Smith is the (rich)……………….actor.

    9) Borat is the (bad)……………….journalist.

    10) Julia Roberts is the (ptty)…………….woman.

    Exercise 4:

    1) It’s the most bring film I’ve ever seen.

    2) That’s the funniest story I’ever heard.

    3) It’s the worst mistake he’s ever made.

    4) That’s the best wine I’ve tasted for a long time.

    5) This is the most uncomfortable bed I’ve ever slept in.

    6) It’s the biggest meal I’ve ever had.

    7) Ann is the most generous person I’ve ever met.

    8) You’re the best friend I’ve ever had.

    9) This is the most difficult decision I’ve had to make for years.

    10) That is the most delicious meal I’ve had for a long time.

    Exercise 5:

    1) B 2) B 3) C 4) B 5) A

    6) C 7) A 8) A 9) C 10) C

    Exercise 6:

    1) strongest 2) most interesting 3) coldest 4) oldest 5) smallest

    6) best 7) most beautilful 8) richest 9) worst 10) pttiest

    Với các bài tập so sánh hơn, so sánh nhất chúng tôi mong rằng sẽ giúp học sinh thực hành và vận dụng lý thuyết hiệu quả.

    Chúc em học tốt!

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Get Và Post
  • So Sánh Phương Thức Get Và Post 2022
  • Cập Nhật Giá Vàng Trong Nước Hôm Nay, Xem Giá Vàng Bao Nhiêu
  • Điện Thoại Di Động Samsung Galaxy A71
  • Sơ Đồ Phân Hạng Hiệu Năng Gpu 2022
  • Tính Từ So Sánh Hơn Và So Sánh Hơn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • More, Most, Less, Least, Fewer Và Fewest More, Most, Less, Least, Fewer Và Fewest
  • Các Cấu Trúc Nâng Cao Trong Các Dạng So Sánh
  • Tính Từ Bất Quy Tắc Trong Tiếng Anh
  • Độ So Sánh Của Tính Từ Trong Tiếng Anh
  • Unit 7: Các Cấu Trúc Câu So Sánh Trong Tiếng Anh
  • Tính từ so sánh hơn so sánh hai vật với nhau. Tính từ so sánh nhất so sánh nhiều hơn hai vật.

    Thông thường, những tính từ chỉ chứa một âm tiết hoặc có tận cùng bằng ‘y’ dùng đuôi ‘er’ để tạo thành so sánh hơn và ‘est’ để tạo thành so sánh nhất. Đối với những tính từ có tận cùng bằng y, đổi ‘y’ thành ‘i’ trước khi thêm ‘er’ hay ‘est’.

    • old – older – oldest (già – già hơn – già nhất)

    • young – younger – youngest (trẻ – trẻ hơn – trẻ nhất)

    • ptty – pttier – pttiest (xinh – xinh hơn – xinh nhất)

    • long – longer – longest (dài – dài hơn – dài nhất)

    • short – shorter – shortest (ngắn – ngắn hơn – ngắn nhất)

    • bright – brighter – brightest (sáng – sáng hơn – sáng nhất)

    • close – closer – closest (gần – gần hơn – gần nhất)

    • happy – happier – happiest (hạnh phúc – hạnh phúc hơn – hạnh phúc nhất)

    Tính từ chứa từ hai âm tiết trở lên không thay đổi, mà thay vào đó ta phải thêm more để tạo thành so sánh hơn và most để tạo thành so sánh nhất.

    • respectable – more respectable – most respectable (đáng kính – đáng kính hơn – đáng kính nhất)

    • beautiful – more beautiful – most beautiful (đẹp – đẹp hơn – đẹp nhất)

    • pferable – more pferable – most pferable (được ưa thích – được ưa thích hơn – được ưa thích nhất)

    • hardworking – more hardworking – most hardworking (chăm chỉ – chăm chỉ hơn – chăm chỉ nhất)

    Một số tính từ có dạng so sánh hơn và so sánh nhất không theo quy tắc.

    • good – better – best (tốt – tốt hơn – tốt nhất)

    • bad – worse – worst (xấu – xấu hơn – xấu nhất)

    • little – less – least (ít – ít hơn – ít nhất)

    • much (many) – more – most (nhiều – nhiều hơn – nhiều nhất)

    • far – further – furthest (xa – xa hơn – xa nhất)

    Từ than thường xuất hiện trong các câu so sánh hơn.

    • Amy is smarter than Betty. – Amy thông minh hơn Betty.

    • Chad is stronger than Dan. – Chad khỏe hơn Dan.

    • Greg is more diligent than his brother. – Greg siêng năng hơn anh trai anh ấy.

    • I have more apples than he. – Tôi có nhiều táo hơn anh ấy.

    • She likes him more than me. – Cô ấy thích anh ấy nhiều hơn tôi.

    Tính từ so sánh nhất thường đi cùng từ the.

    • Tom is the oldest man in town. – Tom là người đàn ông già nhất trong thị trấn.

    • Paul is the tallest boy in the neighborhood. – Paul là cậu bé cao nhất trong khu dân cư.

    • That shade of blue is the most beautiful color. – Sắc xanh da trời đó là màu sắc đẹp nhất.

    • This is the longest song that I have ever heard. – Đây là bài hát dài nhất tôi từng nghe.

    1)Mary is shorter than Jane.

    2)The moon is more closer to the earth than the sun.

    3)I have the best score on the exam.

    colder, coldest

    pttier, best, more

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 16: So Sánh – Chuẩn Tiếng Anh – Chuyên Gia Tiếng Anh Hàng Đầu Việt Nam
  • So Sánh Bằng Và So Sánh Nhất — Tiếng Anh Lớp 7
  • So Sánh Hơn ( The Comparative)
  • Sự Khác Nhau Giữa Farther Và Further
  • Bạn Đang Đau Đầu Trong Việc Phân Biệt Tính Từ Ngắn – Tính Từ Dài Trong Tiếng Anh?
  • So Sánh Hơn Và So Sánh Nhất Trong Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Galaxy Note 20 Ultra Và S20 Ultra: Cực Phẩm Nào Xứng Đáng Với Túi Tiền Của Bạn
  • Tổng Hợp Kiến Thức Hóa 11 Phần Dẫn Xuất Hiđrocacbon Ngắn Gọn Nhất
  • Galaxy Note 10/10 Plus Và Note 10/10 Plus 5G: Sự Khác Biệt Lớn Là Gì?
  • So Sánh Galaxy Note 20 Ultra Và Galaxy Note 10 Plus: Đâu Là Sự Khác Biệt?
  • Samsung Galaxy Note 20 Ultra Và Note 10 Plus: Chọn Mới Hay Cũ?
  • post on 2022/09/11 by Admin

    Làm bài tập

     

    Tính từ

    So sánh hơn

    So sánh nhất

    Tính từ có một âm tiết

    Old, fast

    Older, faster

    Oldest, fastest

    Tính từ có một âm tiết kết thúc là đuôi –e

    Wide, nice

    Wider, nicer

    Widest, nicest

    Tính từ có một âm tiết kết thúc là một phụ âm và một nguyên âm

    Hot, big

    Hotter, bigger

    Hottest, biggest

    Tính từ có hai âm tiết kết thúc là đuôi –y, -er, -ow

    Happy, funny, clever, narrow

    Happier, funnier, cleverer, narrower

    Happiest, funniest, cleverest, narrowest

    Các tính từ khác có từ hai âm tiết trở lên

    Careful, interesting

    More careful, more interesting

    Most careful, most interesting

    Các trường hợp đặc biệt

    Good, bad

    Better, worse, less

    Best, worst, least

     

    Cách sử dụng

    Cấu trúc câu so sánh hơn (Comparative adjectives) thường được sử dụng khi so sánh hai sự vật, hiện tượng nào đó.  Thường khi sử dụng cấu trúc này thì đằng trước sự vật, hiện tượng thứ hai được so sánh sẽ có thêm từ than.

    Ví dụ

    China is larger than India

    (Trung Quốc rộng lớn hơn Ấn Độ)

    Gold is more valuable than iron.

    (Vàng có giá trị hơn sắt)

     

    Cats are cleverer than dogs, but dogs are friendlier.

    (Loài mèo thì khôn ngoan hơn loài chó, nhưng loài chó lại thân thiện hơn loài mèo)

     

    Như vậy ta có thể viết câu trúc cho dạng câu so sánh hơn như sau:

    Đối với tính từ dưới hai âm tiết:

    S + V + adj(er) + than + Noun/ Pronoun

     

    Đối với tính từ có từ hai âm tiết trở lên:

    S + V + more + adj + than + Noun/ Pronoun

     

    Cấu trúc câu so sánh nhất (Superlative adjectives) thường được sử dụng để so sánh một sự vật, hiện tượng với tất cả các sự vật,hiện tượng khác. Trong cấu trúc này, trước mỗi tính từ được sử dụng trong câu sẽ có thêm từ the

    Ví dụ

    John is the youngest child in the class.

    (John là đứa bé ít tuổi nhất trong lớp học)

     

    Russia is the biggest country.

    (Nga là đất nước lớn nhất trên thế giới)

     

    Như vậy ta có thể viết câu trúc cho dạng câu so sánh nhất  như sau

    Đối với tính từ dưới hai âm tiết:

    S + V + adj(est) + than + Noun/ Pronoun

     

    Đối với tính từ có từ hai âm tiết trở lên:

    S + V + the most + adj + Noun/ Pronoun

     

     

    Một số lưu ý

     

    So sánh hơn được nhấn mạnh bằng cách thêm “much” hoặc “far” trước hình thức so sánh

    Ví dụ

    His best friend is much/ far older than him.

    (Bạn thân của anh ấy lớn tuổi hơn anh ấy rất nhiều)

     

    So sánh nhất có thể được bổ nghĩa bằng “much” hoặc sử dụng cum từ “by far”

    Ví dụ

    He is the smartest by far.

    (Anh ấy thông minh nhất, hơn mọi người nhiều)

    Làm bài tập

    --- Bài cũ hơn ---

  • Review, So Sánh Máy Lọc Không Khí Xiaomi Purifier 2S & Purifier Pro
  • So Sánh Xe Mazda2 Và Honda City: Kẻ Đối Đầu Khốc Liệt
  • So Sánh Mazda 2 Và Mazda 3 Chi Tiết, Cụ Thể Nhất Trước Khi Xuống Cọc
  • So Sánh Và Đánh Giá Xiaomi Mi Band 5 Và Mi Band 4 : Đâu Là Sự Khác Biệt ?
  • Nên Mua Macbook Air Hay Pro, Chọn Loại Nào Cho Đáng Túi Tiền Của Bạn?
  • So Sánh Hơn Và So Sánh Hơn Nhất Của Tính Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Điểm Ngữ Pháp Quan Trọng Trong Tiếng Anh: Câu So Sánh Hơn.
  • Giáo Án Luyện Từ Và Câu Lớp 3
  • Câu So Sánh: So Sánh Hơn, Nhất, Bằng, Kém, Kép
  • Tổng Hợp Ngữ Pháp Chỉ Sự So Sánh
  • Cấu Trúc Câu So Sánh Và Bài Tập Tiếng Anh Lớp 8
  • Thông thường các tính từ một âm tiết đều có dạng thức so sánh hơn và so sánh hơn nhất tận cùng bằng -er, -est. Một số tính từ hai âm tiết cũng có dạng thức tương tự. Các tính từ 2 âm tiết còn lại và các tính từ có từ 3 âm tiết trở lên thì thêm moremost.

    1. Dạng so sánh có quy tắc của tính từ một âm tiết

    Đa số các tính từ một âm tiết đều có dạng so sánh hơn tận cùng là

    Ví dụ:

    old – old er – old est

    tall – tall er – tall est

    cheap – cheap er – cheap est

    Đối với các tính từ 1 âm tiết mà kết thúc bởi 1 nguyên âm + 1 phụ âm thì ta gấp đôi phụ âm cuối trước khi thêm -er, -est.

    Ví dụ:

    fat – fa tter – fa ttest

    big – bi gger – bi ggest

    thin – thi nner – thi nnest

    Lưu ý cách phát âm của các từ sau:

    younger /ˈjʌŋɡə(r)) – youngest /ˈjʌŋɡɪst/

    longer /ˈlɒŋɡə(r)/ – longest /ˈlɒŋɡɪst/

    stronger /ˈstrɒŋɡə(r)/ – strongest /ˈstrɒŋɡɪst/

    2. Các trường hợp bất quy tắc

    Một số tính từ 1 âm tiết khi chuyển sang dạng thức so sánh hơn và so sánh hơn nhất không tuân theo quy tắc là thêm-er, -est.

    Ví dụ:

    good – better – best

    bad – worse – worst

    ill – worse

    far – farther/further – farthest/ furthest

    old – older/elder – oldest/eldest

    Các từ hạn định little, manymuch cũng có dạng thức so sánh hơn và so sánh hơn nhất bất quy tắc.

    little – less – least

    much/many – more – most

    Few có 2 hình thức so sánh hơn và so sánh hơn nhất là fewer/lessfewest/least.

    3. Dạng so sánh của tính từ 2 âm tiết

    Các tính từ 2 âm tiết tận cùng bằng y thì có dạng thức so sánh là bỏ y thêm -ier, -iest.

    Ví dụ:

    happy – happ ier – happ iest

    easy – eas ier – eas iest

    Một số tính từ 2 âm tiết cũng có dạng thức so sánh là thêm -er, -est, đặc biệt là các từ tận cùng bằng một nguyên âm không được nhấn trọng âm, /l/ hoặc /ə(r)/.

    Ví dụ:

    narrow – narrow er – narrow est

    simple – simpl er – simpl est

    clever – clever er – clever est

    quiet – quiet er – quiet est

    Với một số tính từ 2 âm tiết (chẳng hạn như polite, common) ta có thể dùng cả 2 dạng thức so sánh là thêm -er, -est hoặc thêm more, most. Với các tính từ khác (đặc biệt là các tính từ kết thúc bởi -ing, -ed, -ful, -less) ta chỉ dùng dạng thức thêm more, most.

    4. Dạng thức so sánh của các tính từ từ 3 âm tiết trở lên

    Với những tính từ có từ 3 âm tiết trở lên, chúng ta dùng thêm more và most.

    Ví dụ:

    intelligent – more intelligent – most intelligent

    practical – more practical – most practical

    beautiful – more beautiful – most beautiful

    Các từ như unhappy (từ trái nghĩa của tính từ 2 âm tiết kết thúc bằng y) thì có dạng thức so sánh là thêm -er, -est.

    Ví dụ:

    unhappy – unhapp ier – unhapp iest

    untidy – untid ier – untid iest

    Các tính từ ghép như good-looking, well-known có thể có 2 dạng thức so sánh.

    good-looking – better-looking/ more good-looking – best-looking/ most good-looking

    well-known – better-known/ more well-known – best-known/ most well-known

    5. Các trường hợp dùng more, most với tính từ ngắn

    Đôi khi ta có thể dùng more, most với các tính từ ngắn (mà thông thường sẽ phải thêm -er, -est). Trường hợp này xảy ra khi tính từ dạng so sánh hơn không đứng trước than, tuy nhiên cũng có thể thêm -er.

    Ví dụ:

    The road’s getting more and more steep. (Con đường này càng ngày càng dốc.)

    Hoặc cũng có thể dùng : The road’s getting steep er and steep er. (Con đường này càng ngày càng dốc.)

    Khi so sánh 2 tính từ miêu tả (ý nói điều này đúng hơn/phù hợp hơn điều kia) thì ta dùng more, không thêm -er.

    Ví dụ:

    He’s more lazy than stupid. (Cậu ta lười thì đúng hơn là ngu ngốc.)

    KHÔNG DÙNG: He’s lazier than stupid.

    Trong văn phong trang trọng, ta có thể dùng most trước các tính từ chỉ sự tán thành hoặc phản đối (gồm cả tính từ 1 âm tiết), khi đó most mang nghĩa như very (rất).

    Ví dụ:

    Thank you very much indeed. That’s most kind of you. (Thực sự cám ơn cậu nhiều lắm. Cậu thật là tốt.)

    KHÔNG DÙNG: That’s kindest of you.

    Các tính từ real, right, wrong, like thì luôn thêm more, most.

    Ví dụ: She’s more like her mother than her father. (Cô ấy giống mẹ nhiều hơn là giống bố.)

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Hơn Và So Sánh Nhất
  • So Sánh Hơn (Comparative) Trong Tiếng Anh
  • So Sánh Hơn Nhất (Superlative Form)
  • Bài Tập So Sánh Hơn Và So Sánh Nhất Có Đáp Án
  • So Sánh Hơn Trong Tiếng Anh
  • So Sánh Csharp Và Java

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngôn Ngữ Lập Trình C# Như Thế Nào So Với Java, Php, C, C++
  • So Sánh Tablet Và Laptop Những Đặc Điểm Nổi Bật Của Từng Sản Phẩm
  • Sự Khác Nhau Giữa Mbr Và Gpt, Sự Khác Biệt Giữa Ổ Đĩa Gpt Và Mbr Là Gì
  • Sách Pdf 10 Điều Khác Biệt Nhất Giữa Kẻ Giàu Và Người Nghèo
  • Download Sách 10 Điều Khác Biệt Nhất Giữa Kẻ Giàu & Người Nghèo Ebook Pdf
  • So sánh điểm khác nhau giữa ngôn ngữ lập trình C# và ngôn ngữ lập trình Java

    Ngôn ngữ lập trình Csharp hay còn gọi là C# và ngôn ngữ lập trình Java là hai ngôn ngữ lập trình rất nổi tiếng và được nhiều người biết đến. Thế nhưng không phải ai cũng có thể hiểu được giữa hai ngôn ngữ lập trình này có cái gì khác nhau. 

    Ngôn ngữ lập trình Java và C# khác nhau về các kiểu dữ liệu

    Trong ngôn ngữ lập trình Java thì các Primitive Datatype vi phạm nghiêm trọng việc thuần hướng đối tượng. Do nó không kế thừa từ lớp Object như trong tất cả các đối tượng khác nên việc xử lý sẽ phức tạp.Trong khi đó thì ngôn ngữ lập trình C# với các kiểu int là bí danh của Int32 nên không xảy ra trường hợp trên.

    C# và Java khác nhau về mặt khai báo

    Nhìn chung thì về mặt khai báo cả hai ngôn ngữ lập trình C# và Java khá tương đồng nhau, tuy vậy cũng có chút khác biệt, trong Java statcic = const, còn trong C# là read only. Các hằng số trước khi gọi sẽ được biên dịch cho nên sẽ xuất ra nhanh chóng hơn.

    Ngôn ngữ lập trình Java và C# khác nhau về các trúc điều khiển

    Về cấu trúc điều khiển thì cả hai ngôn ngữ lập trình đều sử dụng đầy đủ các lệnh if/then/else và switch. Dẫu vậy cũng có một sự khác biệt nhỏ đó là trong Java thì mỗi câu lệnh thực hiện trong các case khác nhau không cần break, trong khi đó đối với ngôn ngữ lập trình C# thì đó là điều bắt buột hoàn toàn.

    Điểm khác biệt tiếp theo chính là các vòng lặp

    (còn tiếp…)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Traveler Là Gì? Phân Biệt Traveler Với Tourist
  • Travel And Tourism Virtual Tours – Du Lịch Ảo Và Du Lịch, Bạn Chọn Cái Nào?
  • Traveler Và Tourist Có Gì Khác Nhau?
  • Phân Biệt Trouble Và Problem Trong Tiếng Anh
  • 1.7 Error Và Exceptions · Gitbook
  • So Sánh Sedan Và Hatchback?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Và Lựa Chọn Các Loại Xăng E5, A95, A92 Phù Hợp Cho Ô Tô
  • Bật Mí: Cách Nhận Biết Các Đời Xe Sh Nhập Khẩu Và Sh Việt
  • Phân Biệt Yến Hót Trống Mái Chính Xác
  • Xe Wave: 3 Dòng Xe Của Honda Gây “sốt” Một Thời Tại Việt Nam
  • Phân Biệt Airblade Thái Và Việt Đơn Giản, Chính Xác Nhất
  • Xe sedan và hatchback là gì?

    Cả hai dòng xe hatchback và sedan đều là những chiếc xe có 4 đến 5 chỗ ngồi, được phân loại theo phân khúc xe như xe hạng A, hạng B, hạng C và hạng D.

    Xe sedan là gì?

    Xe sedan hay còn có tên gọi khác ở Anh là Saloon, là mẫu xe có mui kín gồm 4 đến 5 chỗ ngồi, cấu trúc 4 cửa chia đều sang hai bên và kích thước xe nhỏ, gầm thấp không cao hơn 200 mm giúp di chuyển thuận lợi trong khu vực đô thị. Bên cạnh đó, xe sedan được chia làm 3 khoang riêng biệt bao gồm: khoang động cơ, khoang hành khách hàng, khoang để hành lý. Trong đó, khoang động cơ và khoang hành lý được thiết kế thấp hơn so với khoang hành khách.

    Xe hatchback là gì?

    Xe hatchback có kiểu dáng gần giống với dòng xe sedan, tuy nhiên, xe hatchback có thiết kế phần đuôi xe được vát thẳng và vuông góc. Đồng thời, xe hatchback gồm 3 hoặc 5 cửa, tính cả cửa khoang hành lý mở hướng lên trên. Khoang hành lý và khoang hành khách được gộp lại thành 1 nên không gian bên trong xe khá rộng rãi, chủ xe có thể gập hàng ghế phía sau lên để mở rộng chỗ để đồ cho xe rất thuận tiện.

    So sánh xe sedan và hatchback

    Trước đây, những mẫu xe sedan rất được nhiều khách hàng tin chọn hàng đầu, tuy nhiên, trong khoảng thời gian gần đây, các mẫu xe hatchback đang dần hút khách hơn so với mẫu xe sedan, vì sao lại như thế?

    Không gian bên trong xe

    Hầu hết các mẫu sedan được thiết kế không gian nội thất rộng hơn rất nhiều so với xe hatchback. Nhưng mẫu xe hatchback lại khá thực tế và linh hoạt trong sử dụng hơn dành cho khách hàng khi khoang hành khách và hành lý thông được với nhau. Điều này có nghĩa là, khi xe hatchback cần chở đồ nhiều thay vì chở người thì có thể mở rộng khoang hành lý bằng cách gập hàng ghế sau lại.

    Trong khi đó, các mẫu xe sedan chỉ có thể chở đồ đạc theo đúng kích thước khoang hành lý được cho phép từ các hãng xe. Mặt khác, trong trường hợp xe phải chở các vật dụng có mùi hoặc khoang hành khách cần sự riêng tư, kín đáo thì mẫu xe sedan lại là lựa chọn ưu việt hơn.

    Đặc biệt, với thiết kế đuôi xe vát thẳng đứng vuông góc lên trên, khoang để đồ của xe hatchback sẽ có thể chở được những đồ vật cồng kềnh hơn, số lượng đồ đạc được vận chuyển sẽ nhiều hơn so với mẫu xe sedan có đuôi xe thấp hơn khoang hành khách.

    Phong cách thiết kế xe

    Chỉ nhìn sơ qua là chúng ta có thể nhận ra ngay mẫu xe sedan có thiết kế lịch lãm, sang trọng và thiên hướng về những đối tượng khách hàng là người lớn tuổi, người chững chạc, kín đáo. Ở một số dòng xe sedan hạng sang, hầu hết các khách hàng thuộc lĩnh vực kinh doanh sẽ ưa chuộng các mẫu xe sedan này hơn so với hatchback, bởi tính lịch lãm, sang trọng, dễ tạo sự nể trọng và hài lòng từ đối tác hơn. Xe sedan thương có tính ổn định hơn, cách âm tốt hơn so với xe hatchback khi di chuyển trên đường cao tốc.

    Tuy nhiên, mẫu xe sedan có thiết kế phần đầu và đuôi xe khá dài, gây hạn chế đến tầm nhìn khi lái xe ở những cung đường phức tạp, đặc biệt gầm xe của sedan thấp hơn so với các mẫu xe hatchback, điều này cản trở cho xe khi đến những nơi có đường xá không bằng phẳng.

    Các mẫu xe hatchback lại thường có thiết kế thể thao, phù hợp với các đối tượng khách hàng là người trẻ, gia đình trẻ, bình dân. Xe có kích thước nhỏ gọn, linh hoạt trong di chuyển và người ngồi trong xe dễ dàng lấy hàng hóa trong khoang hành lý khi khoang hành khách và khoang hành lý thông thoáng với nhau.

    Giá bán xe sedan và hatchback

    Không ít khách hàng Việt đang có nhu cầu mua xe để phục vụ nhu cầu đi lại cho cá nhân, tổ chức hoặc gia đình những vẫn đang phân vân giữa việc nên chọn xe hatchback hay sedan. Đặc biệt, giữa hai dòng xe này có giá bán giống hay khác nhau cũng rất cần được tìm hiểu kỹ.

    Hiện nay, giá bán các mẫu xe hatchback hơi nhỉnh hơn xe sedan trong cùng phân khúc. Chẳng hạn như trong cùng phân khúc xe hạng B – xe mini, xe gia đình cỡ nhỏ, chúng ta có bảng giá các mẫu xe như sau:

    Tổng kết lại, với thiết kế riêng biệt, xe sedan là mẫu xe thích hợp cho những khách hàng thích sự kín đáo, lịch lãm và sang trọng, và ngược lại, mẫu xe hatchback sẽ là lựa chọn ưu việt cho những cặp gia đình trẻ hoặc cá nhân người trẻ thích sự năng động, thoải mái hoặc các tổ chức kinh doanh vận chuyển bằng xe ô tô như taxi, chạy grab…

    Tuy nhiên, mẫu xe nào cũng có ưu và nhược điểm đi kèm, tùy theo nhu cầu, mục đích sử dụng và khả năng tài chính cá nhân mà khách hàng sẽ có sự lựa chọn mẫu xe sedan hay hatchback phù hợp.

    Nếu bạn đang có nhu cầu mua bán xe ô tô mới hay ô tô cũ, xe lắp ráp trong nước hay nhập khẩu nguyên chiếc đến từ bất kỳ thương hiệu xe hơi nổi tiếng nào trên thế giới, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi đội ngũ nhân viên chăm sóc khách hàng của Carmudi sẽ tư vấn chi tiết và giúp bạn nhanh chóng có được mẫu xe yêu thích hoặc bán được xe với giá cao. chúng tôi – trang mua bán xe trực tuyến hàng đầu tại Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Windows 32Bit Và 64Bit Là Gì? Và Nó Khác Nhau Như Thế Nào ?
  • Phân Biệt Bệnh Sốt Xuất Huyết Với Sốt Phát Ban, Sởi
  • Phân Biệt Sốt Phát Ban Với Sốt Xuất Huyết Để Điều Trị Hiệu Quả
  • Cách Phân Biệt Sầu Riêng Chín Cây Và Sầu Riêng Ngâm Thuốc
  • Cách Nhận Biết Sầu Riêng Chín Cây Và Sầu Riêng Ngâm Thuốc Chuẩn Nhất
  • Lịch Sử Đế Quốc Ottoman

    --- Bài mới hơn ---

  • Không Khí Là Gì, Có Tính Chất Gì ? Sự Cháy Và Sự Oxi Hóa Chậm Là Gì? Ví Dụ
  • Marketing, Pr Và Quảng Cáo
  • Phân Biệt Marketing Và Pr / Thương Hiệu Việt / Kinh Tế / Tin Ita / Itaexpress
  • Quân Khu 2 – Quân Đội Và Công An Luôn Đoàn Kết, Đi Đầu Trong Thực Hiện Nhiệm Vụ
  • So Sánh Đặc Điểm Các Cấu Trúc Thị Trường Trong Kinh Tế Vi Mô
  • biên dịch: hongsonvh 

    Đế quốc Ottoman là một đế quốc tiền thân của nước Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, nó tồn tại từ 27 tháng 7năm 1299 tới ngày 29 tháng 10 năm 1923.

    Ở đỉnh cao quyền lực của mình, trong thế kỷ 16 và 17, đế quốc Ottoman đã kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn từ đông nam châu Âu, tới phía Tây Nam châu Á và Bắc Phi. Đế quốc Ottoman gồm có 29 tỉnh và rất nhiều nước chư hầu, một vài nước trong số đó sau này bị sát nhập hoàn toàn vào đế quốc, trong khi những nước khác lại có những quyền tự chủ ở mức độ khác nhau trong khoảng thời gian kéo dài hàng thế kỷ.

    Với Constantinople – Istanbul ngày nay là thành phố thủ đô và kiểm soát vùng đất rộng lớn xung quanh phía đông Địa Trung Hải trong thời cai trị của Hoàng đế Suleiman Magnificent ( cai trị từ năm 1520-1566), đế quốc Ottoman trở thành trung tâm của sự tương tác giữa thế giới phương Đông và phương Tây trong sáu thế kỷ.

    Đế quốc Ottoman đã kết thúc như là một nhà nước theo chế độ quân chủ vào ngày 1 Tháng 11 năm 1922 và chính thức kết thúc như một nhà nước về mặt pháp lý vào ngày 24 Tháng Bảy năm 1923, theo Hiệp ước Lausanne. Nhà nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, đã chính thức được khai sinh vào ngày 29 tháng 10 năm 1923 và trở thành một trong các quốc gia kế thừa của đế quốc Ottoman như là một phần của điều ước quốc tế này.

    Theo dòng thời gian

    1299: Osman I thành lập một vương quốc nhỏ bé độc lập khỏi Nhà Seljuk của Rum – Đế quốc Ottoman.

    1317: Osman I bao vây thành phố Bursa.

    1326: Osman I mất. Con trai ông là Orhan I lên nối ngôi.

    1326: Bursa thất thủ về tay Ottoman, Orhan I chọn nó làm thủ đô của đế quốc Ottoman.

    1331: Quân Thổ Ottoman chiếm thành Nicaea, đổi tên nó là İznik

    1334: Đoàn Thập tự chinh đánh bại một nhóm cướp biển Thổ Nhĩ Kỳ tại Vịnh Edremit.

    1359: Orhan mất, Murad I lên ngôi.

    Murad I

    1383: Bey Murad I xưng làm hoàng đế sultan của Đế quốc Ottoman.

    1388: Quân Ottoman bị quân Serbia đánh bại trong trận Plocnik.

    1389: Murad I đánh bại quân Serbia do hoàng tử Lazar chỉ huy trong trận Kosovo.

    1396: Bayezid I đánh bại quân Thập tự chinh trong trận Nicopolis.

    1405: Trận Ankara, đế quốc Timurid do Timur chỉ huy đánh thắng quân Thổ Ottoman, bắt bỏ tù sultan Bayezid I. Đế quốc Ottoman bị đứt quãng.

    1413 – 1421: Xây dựng lại đế quốc Ottoman.

    1421: Mehmed I mất, Murad II lên nối ngôi.

    1430: Murad II xâm chiếm Salonika.

    1432: Mehmed II ra đời

    Murad II

    1434: Xây dựng Thánh đường Hồi giáo Muradiye tại Erdine.

    1439: Trận chiến Smederevo

    1444: Murad II truyền ngôi cho con trai là Mehmed II, sau đó ông đánh bại liên minh các nước Tây Âu trong trận Varna.

    1444: Do trong nước có mâu thuẫn, Murad quay trở lại nắm quyền

    1448: Trận Kosovo lần thứ nhì: Murad II đánh bại quân Hungary do tướng János Hunyadi chỉ huy.

    1451: Murad II mất tại Erdine, Mehmed II lên ngôi lần hai.

    Cực thịnh (1453-1683)

    1453: Sultan Mehmed II chiếm thành phố Constantinople của Đế quốc Byzantine, hoàng đế Thiên chúa giáo Byzantine Constantine XI tử thương. Đế quốc Hy Lạp Byzantine rơi vào tay Ottoman, Mehmed II xưng Caesar (hoàng đế) La Mã.

    Mehmed II

    1461: Mehmed II tiêu diệt đế quốc Trabzon.

    1462: Mehmed II bắt đầu xây Cung điện Topkapi.

    1473: Trận Otlukbeli

    1475: Mehmed II chiếm thành Caffa.

    3 tháng 5, 1481: Mehmed II mất. Con trai ông là Bayezid II lên kế vị.

    1483: Đổi tên Constantinople thành Istanbul.

    1499: Trận Zonchio

    Bayezid II

    1512: Bayezid II thoái vị, Selim I lên ngôi.

    1514: Selim I đánh cho quân Ba Tư đại bại tại trận Chaldiran

    1517: Khalip chính thức trở thành danh hiệu của các vua Ottoman.

    1520: Selim I mất, Suleyman I lên ngôi.

    1521: Sultan Suleyman I xâm chiếm Beograd.

    1529: Cuộc bao vây thành Viên.

    Khoảng 1530-1650: Vương quốc Nữ giới.

    1541: Suleyman I chiếm Budapest.

    1547: Xâm chiếm hầu hết Hungary. Hungary bị chia cắt, một phần thuộc về Ferdinand I của Đức.

    Suleyman I

    1566: Suleyman I mất, Selim II lên nối ngôi

    1569: Dập tắt vụ cháy lớn Istanbul.

    1569: Chiến dịch Indonesia

    1570: Xâm lăng Yemen.

    1571: Đế chế Ottoman chiếm đảo Síp.

    1571: Đại Hãn Krym Devlet Giray tấn công Moskva.

    1571: Hải quân Tây Ban Nha và Venezia đánh bại Ottoman tại Lepanto.

    1574: Chiếm lại Tunisia từ tay Tây Ban Nha.

    Selim II

    1574: Selim II mất, Murad III lên nối ngôi.

    1578: Quân Ottoman xâm lược Ba Tư.

    1609: Ahmed I bắt đầu cho xây dựng Thánh đường Xanh.

    1622: Chiến tranh Ottoman-Iran (1622-1639) bùng nổ.

    1623: Mustafa I bị lật đổ, Murad IV nối ngôi.

    Murad IV

    1635: Murad IV xâm lăng Lưỡng Hà.

    1638: Cuộc bao vây Bagdad – quân Ottoman chiếm được Bagdad từ tay người Ba Tư.

    1639: Kí hòa ước với Ba Tư.

    1648: Mehmed IV lên nắm quyền.

    1656-khoảng 1676: Các cải cách của các tể tướng thuộc dòng họ Köprülü.

    1683: Bao vây Wien lần thứ hai.

    Mehmed IV

    1686: Hungary bị quân Habsburg tấn công và chiếm đóng dần dần.

    1687: Mehmed IV bị hạ bệ, em là Suleyman II nối ngôi.

    1687: Trận Mohács.

    1688: Beograd rơi vào tay quân Habsburg

    1690: Quân Ottoman chiếm lại Beograd

    Suleyman II

    1691: Trận Slankamen

    1695: Trận Zenta

    1699: Ottoman nhượng Hungary cho đế quốc La Mã Thần thánh châu Âu theo hiệp ước Karlowitz.

    1711: Quân đội của Ahmed III đánh cho Pyotr Đại đế của Nga đại bại tại trận Pruth.

    1718: Ký kết hiệp định Passarowitz.

    1757: Osman III mất, Mustafa III lên nối ngôi

    Mustafa III

    1768: Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ bùng nổ

    1770: Khởi nghĩa Orlov

    1774: Mustafa III mất, em là Abdul Hamid I lên nối ngôi.

    1789: Selim III lên ngôi, một nhà cải cách lớn.

    Selim III

    1807: Selim III bị truất phế.

    23 tháng 4, 1813: Cuộc khởi nghĩa Serbia lần thứ hai: Dân Serbia nổi dậy.

    1821: Cuộc chiến tranh giành độc lập Hy Lạp bắt đầu.

    Suy vong (1828-1908)

    1830: Thực dân Pháp xâm chiếm Algérie.

    21 tháng 7, 1832: Thành lập Vương quốc Hy Lạp.

    1839: Abdul Mejid I đề xướng kế hoạch cải tổ Tanzimat.

    4 tháng 10, 1853: Chiến tranh vùng Krym, đế quốc Ottoman cùng với đồng minh Đế quốc Anh, Đệ nhị đế chế (Pháp) và Vương quốc Sardinia đánh bại Đế quốc Nga.

    5 tháng 2, 1862: Các công quốc Moldavia, Wallachia và Transylvania thống nhất dưới nhà nước Romania tự trị.

    24 tháng 4, 1877: Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1877-1878) bùng nổ.

    3 tháng 3, 1878: Hiệp ước San Stefano đã được ký kết giữa Ottoman và Nga. Romania và Serbia độc lập. Công quốc Bulgaria độc lập trên danh nghĩa Ottoman bảo hộ.

    4 tháng 6, 1878: Anh chiếm đảo Síp.

    1881: Quân Pháp đô hộ Tunis.

    1882: Quân Anh chiếm Ai Cập.

    6 tháng 9, 1885: Tỉnh Đông Rumelia được nhượng cho Bulgaria.

    Tan rã (1908-1922)

    1908: Bosnia được nhượng lại cho đế quốc Áo-Hung.

    5 tháng 10, 1908: Bulgaria hoàn toàn độc lập.

    1909: Cuộc cách mạng của nhóm thanh niên Thổ lật đổ sultan Abdul Hamid II, đưa em ông là Mehmed V lên ngôi. Những thanh niên này hiện đại hóa nước Thổ.

    1912: Quân Ý xâm lược Libya. Đế chế Ottoman chấm dứt 340 năm cai quản Bắc Phi.

    28 tháng 11, 1912: Chiến tranh Balkan I:Albania tuyên bố độc lập.

    17 tháng 5, 1913: Mất hầu hết lãnh thổ ở Châu Âu.

    Mehmed V

    2 tháng 8, 1914: Đế chế Ottoman tham gia Thế chiến I, thuộc phe liên minh Trung tâm.

    1918: Đế quốc Ottoman bại trận. Các hiệp ước hòa bình sau thế chiến I làm đế quốc này tan rã. Các nước phe Entente thắng trận xâm lược Thổ Nhĩ Kỳ.

    1919 – 1922: Cuộc chiến tranh giành độc lập Thổ Nhĩ Kỳ: Nhân dân Thổ vùng dậy chống lại ách thống trị của Entente.

    1922: Cách mạng Thổ toàn thắng, phe Entente phải rời bỏ Thổ Nhĩ Kỳ. Đế quốc Ottoman cáo chung, những người cách mạng thành lập nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ

    Quá trình hình thành và phát triển của Đế quốc Ottoman

    Đây là thời kỳ bắt đầu với sự suy yếu của Vương quốc Hồi giáo Seljuq Rum trong đầu thế kỷ 14 và kết thúc với sự suy vong của Đế quốc Byzantine và sự sụp đổ của thành phố Constantinople vào ngày 29 tháng 5 năm 1453.

    Sự nổi lên của Đế quốc Ottoman tương quan với sự suy tàn của đế quốc Đông La Mã, tạo ra cuộc chuyển giao quyền lực từ một xã hội Kitô giáo châu Âu sangmột xã hội bị ảnh hưởng Hồi giáo. Sự khởi đầu của giai đoạn này được đặc trưng bởi các cuộc chiến tranh Byzantine-Ottoman kéo dài đến một thế kỷ rưỡi. Trong thời gian này, Đế quốc Ottoman đã giành được quyền kiểm soát ở cả hai vùng đất Anatolia và Balkan.

    Ngay sau khi thành lập beylik Anatolian ( Đế quốc Ottoman tại Anatoly ), một số tiểu quốc gốc Thổ Nhĩ Kỳ đã thống nhất với Đế quốc Ottoman để chống lại Đế quốc Byzantine. Đây cũng là khoảng thờimà người ta chứng kiến ​​ sự thất bại của vương quốc Hồi giáo Rum Thổ nhĩ kỳtrước quân Mông Cổ trong thế kỷ 14 và được tiếp theo sau bởi sự phát triển của Đế quốc Ottoman (khoảng từ29 Tháng 5, 1453 – 11 / 12 tháng 9 năm 1683) – theo một số nhà sử học thì đây là một khoảng thời gian được gọi là Pax Ottomana-khoảng thời gian ổn định kinh tế và xã hội tại các tỉnh bị chinh phục của Đế quốc Ottoman.

    Vùng Anatolia trước khi sự cai trị của Ottoman

    Nguồn gốc của Đế quốc Ottoman có thể được truy ngược trở lại vào cuối thế kỷ 11, khi một vài bộ tộc Hồi giáo có nguồn gốc Turk và là những người sống du canh du cư được gọi là Beylik, bắt đầu được thành lập ở các phần khác nhau của xứ Anatolia. Vai trò chính của họ là để bảo vệ khu vực biên giới của người Thổ Seljuq với Đế quốc Byzantine, một vai trò được tăng cường bởi sự di cư của rất nhiều người Thổ Nhĩ Kỳ từ Tiểu Á. Tuy nhiên, đến năm 1073 và nhất làsau chiến thắng của Vương quốc Hồi giáo Seljuq Rum trước Đế quốc Byzantine trong trận Manzikert, tiểu quốc Beyliks đã tìm kiếm một cơ hội để chiếm đoạt chủ quyền của người Thổ Seljuq và tuyên bố chủ quyền của họ một cách công khai.

    Trong khi đế quốc Byzantine vẫn tiếp tục tồn tại trong gần bốn thế kỷ nữa (sau trận Manzikert ) và các cuộc Thập Tự Chinh cũng gây ra sự xuy yếu cho chính Đế quốc này, chiến thắng ở Manzikert đã báo hiệu sự bắt đầu của quyền uy của các bộ tộc gốc Beylik trong vùng Anatolia. Sự suy yếu tiếp theo của Đế quốc Byzantine và sự cạnh tranh về mặt chính trị giữa Vương quốc Hồi giáo Seljuq Rum và Fatimids ở Ai Cập và Nam Syria là những yếu tố chính giúp cho các bộ tộc Beylik tận dụng lợi thế của tình hình và thống nhất các bộ tộc của họ lại.

    Trong số các bộ tộc Beylik có một bộ tộc được gọi là Söğüt, được thành lập và dẫn dắt bởi Ertuğrul, định cư tại thung lũng sông Sakarya. Khi Ertuğrul qua đời năm 1281, Osman -con trai của ông đã trở thành người kế nhiệm ông. Ngay sau đó, Osman tuyên bố mình là một Sultan và thành lập triều đại Ottoman, trở thành vua đầu tiên của Đế quốc Ottoman trong năm 1299.

    Đế quốc Ottoman dưới sự cai trị của Osman I

    Triều đại Osman I đánh dấu sự khởi đầu chính thức của sự cai trị của Đế quốc Ottoman vốn kéo dài trong sáu thế kỷ. Năm 1265 Sogut-thành phố của Byzantine đã thất thủ trước Osman I. Đây là thành phố đầu tiên trong rất nhiều thành phố và làng mạc của Đế quốc Byzantine đã bị chiếm bởi ngườiOttoman Thổ Nhĩ Kỳ trong suốt những năm 1300 và 1310. Osman cũng đã chinh phục một số tiểu vương quốcvà các bộ tộc Thổ Nhĩ Kỳ gần đó. Trong cuối những năm 1310 Osman I đã cho bao vây một số pháo đài quan trọng của người Byzantine.

    Thành phố Yenişehir đã bị chiếm và ngay lập tức nó đã trở thành một căn cứ để người Thổ Nhĩ Kỳ có thể bao vây Prousas (Bursa) và Nicaea (Iznik)-các thành phố lớn nhất của Đế quốc Byzantine ở Anatolia. Bursa đã thất thủ vào năm 1326, chỉ trước khi Osman chết có vài ngày.

    Thời kỳ trị vì của Orhan I

    Orhan I-là con trai của Osman đã chinh phục thành phố Nicaea vào năm 1331 và Nicomedia năm 1337 và thành lập thủ đô tại Bursa. Trong triều đại của Orhan, đế quốc Ottoman đã được tổ chức thành một nhà nước thực sự với một đồng tiền mới, chính phủ và quân đội được hiện đại hóa.

    Đế quốc Ottoman trong thời kỳ của Murad I

    Chẳng bao lâu sau cái chết của Orhan trong năm 1360, Murad I trở thành Quốc vương của đế quốc Ottoman.

    Adrianople, 1365-1369

    Cuộc tấn công lớn đầu tiên của Murad là trận Adrianople. Thành phố Adrianople là trung tâm quân sự, hành chính và kinh tếquan trọng nhất của Byzantine ở Thrace. Bằng cách chuyển thủ đô của mình từ Bursa trong Anatolia tới Adrianople- thành phố mới giành được và ông đã đổi tên nó thành Edirne, Murad báo hiệu ý định của mình rằng sẽ tiếp tục mở rộng Đế quốc Ottoman tại châu Âu.

    Trước khi sảy ra sự sụp đổ của Adrianople, hầu hết người châu Âu đều coi sự hiện diện của Đế quốc Ottoman trong vùng Thrace như chỉ đơn thuần là một sựkhó chịu mới nhất trong một chuỗi dài các sự kiện hỗn loạn tại khu vựcphía Nam vùng Balkan. Sau khi Murad lập Edirne làm thủ đô của mình, họ mới nhận ra rằng người Ottoman có ý định ở lại châu Âu một cách lâu dài.

    Các quốc gia vùng Balkan ngay lập tức cảm thấy sợ hãi bởi những cuộc chinh phục của Đế quốc Ottoman ở Thrace. Byzantium, Bulgaria và Serbia đã khôngđược chuẩn bị tốt để đối phó với mối đe dọa. Lãnh thổ của Đế quốc Byzantium bị phân mảnh chủ yếu ở giữa thủ đô Constantinople và các vùng đất của nó ởquanh Thracia, ngay lập tức thành phố Thessaloniki và các vùng xung quanh của nó đã bị bao vây và Morea ở trong vùng Peloponnese cũng chịu số phận như vậy. Liên hệ giữa Constantinople và hai khu vực khác chỉ có thể qua phương tiện tầu bè bằng một tuyến đường biển mong manh thông qua eo biển Dardanellesđược giữ mở bởi các Đô thành cường quốc hàng hải của Ý như Venice và Genoa. Đế quốc Byzantine bị suy yếu vì không còn sở hữu các nguồn lực để đánh bại Murad I và việc phối hợp hành động với những phần còn lại của Đế quốc Byzantines vốn thường bị chia rẽ bởi các cuộc nội chiến là điều không thể. Sự tồn tại của chính bản thân thành phố Constantinople phụ thuộc vào bức tường phòng thủ huyền thoại của nó, vì thiếu một lực lượng hải quân ( không thể tấn côngConstantinople từ mặt đất liền mà chỉ có thể tấn công từ hướng biển vì các bức tường thành ở đó yếu hơn )nên Murad đành phải chấp nhận các điều khoản trong Hiệp ước năm 1356 và cho phép thành phố được sống sót.

    Bulgaria dưới thời Sa hoàng Ivan Aleksandur đã suy giảm. Để củng cốnhiều nhất có thể quyền lực của mình như là các vùng lãnh thổ của Đế quốc, ông đãchia lãnh thổ Bulgaria thành ba phần được giao cho các con trai của ông. Sự gắn kết của Bulgaria đã bị tan vỡ hơn nữa trong những năm 1350 đã có sự tranh giành dẫn đến chiến tranh giữa các con trai của ông – Vidin, Ivan Stratsimir, Aleksandur-những người nắm giữ một phần đất nước Ivan người con trai duy nhất còn sống sót của người vợ đầu tiên của ông, Ivan Shishman-sản phẩm của cuộc hôn nhân thứ hai của Sa hoàng Aleksandur và người kế nhiệm được chỉ định bởi chính Sa hoàng. Ngoài những vấn đề nội bộ, Bulgaria cũng tiếp tục bị tê liệt bởi các cuộc tấn công của người Hungary. Năm 1365 Louis vua-Hungary xâm lược và chiếm giữtỉnh Vidin, Stratsimir-viên thống đốc của tỉnh này bị tống vào tù. Bất chấpviệc bị mất đồng thời hầu hết các tỉnh của Bun-ga-ri ở vùng Thracia vào tay Murad I, Ivan Aleksandur lại chỉ tập trung sự quan tâm của mình vào người Hungary ở trong tỉnh Vidin. Ông đã thành lập một liên minh chống lại họ với Dobrudzhan-thủ lĩnh của Dobrotitsa và Voievod Vladislav I Vlaicu của Wallachia ( từ Voievod trong ngôn ngữ của người Balkan cũng là thủ lĩnh, bác nào đã xem phim Petko Voievod chưa nhỉ). Mặc dù người Hungary đã bị đẩy lùi và Stratsimir đã khôi phục lại được vị trí của mình, sự chia rẽ của Bulgaria lại trởlên trầm trọng hơn so với trước đây. Stratsimir tự tuyên bố mình chính là Sa hoàng của “đế quốc” Vidin trong năm 1370 và Dobrotitsatrên thực tế được công nhận là một bạo chúa độc lập ở Dobrudzha. Những nỗ lực của Bulgaria đã bị lãng phí vào những mục tiêu ít quan trọng ở trong nước và chon sai kẻ thù chính yếu ( về sau thì chính bản thân Hungary cũng phải chịu sức ép từ Đế quốc Ottoman – các quốc gia Balkan mới đoàn kết lại nhưng lúc này đã quá muộn ).

    Đầu tiên là người Serbia bị mất kiểm soát tại các tỉnh thuộc Hy Lạp như Thessaly và Epiros( các tỉnh này trước đây là của đế quốc Đông La Mã, khi Byzantine xuống dốc những bộ tộc người Nam Slav như Serbia tràn xuống chiếm quyền kiểm soát) cũng nhưvùng Albania mà Dušan đã nắm giữ. Một loạt các công quốc nhỏ độc lập xuất hiện ở miền tây và miền nam Macedonia, trong khi đó người Hungary lại tiếp tục lấn sâu hơn vào đất Serbia từ phía bắc. Uros chỉ còn nắm giữ được những vùng đất trung tâm của Serbia, nơi mà các quý tộc mặc dù đã trở nên mạnh mẽ hơn so với vị hoàng tử của họ, nhưng nói chung họ vẫn trung thành với ông ta. Những vùng đất trung tâm bao gồm: Các vùng đất phía Tây, bao gồm cả Montenegro (Zeta), vùng đất phía Nam, nắm giữ bởi Jovan Uglješa ởSerres, bao gồm tất cả vùng phía đông của Macedonia, vùng đất trung tâm của người Serbia, kéo dài từ phía nam sông Danube vào trung tâm Macedonia, được đồng điều hành bởi Uros và vị quý tộc Secbia Mrnjavcevic Vukasin hùng mạnh, người đóng đô tại thủ phủ Prilep ở Macedonia. Không thể thống nhất nổi người Serbia, các vùng đất được hợp nhất một cách lỏng lẻo của Uros đã bị tàn phá bởi các cuộc nội chiến liên tục giữa các quý tộc trong khu vực và ngày càng làm cho Serbia dễ bị tổn thương từ mối đe dọa ngày càng tăng của Đế quốc Ottoman.

    Gallipoli, 1366

    Vào năm 1370 Murad kiểm soát hầu hết tất cả các vùng đất ở Thrace, qua đó đưa ông ta tiếp xúc trực tiếp với Bulgaria và vùng đất phía đông nam của Serbia được cai trị bởi Uglješa. Uglješa-vị thủ lĩnh Serbia hùng mạnh nhất trong khu vực, đã không thành công trong việc cố gắng để tạo lập một liên minh của các quốc gia Balkan để chống lại Đế quốc Ottoman vào năm 1371. Byzantium vì rất dễ bị tổn thương bởi người Thổ Nhĩ Kỳ do nguồn cung cấp thực phẩm của nó đều phải đi qua các vùng đất chiếm đóng nên đã từ chối hợp tác. Bulgaria sau cái chết của Ivan Aleksandur đầu năm đó, đã chính thức bị chia thành “đế quốc” của Vidin được cai trị bởi Stratsimir (1370-1396) và người kế nhiệm trực tiếp của Sa hoàng Aleksandur-Ivan Shishman (1371-1395), người cai trị vùng trung tâm Bulgaria từ Turnovo. Do trẻ tuổi (Sa hoàng Ivan Shishman ) và nắm giữ ngai vàng của mình một cách không chắc chắn, bị đe dọa bởi Stratsimir và có thể bị áp lực bởi người Thổ Nhĩ Kỳ, Shishman không thể có đủ năng lực để tham gia vào liên minh của Uglješa. Trong các bojar Serbia ở các địa phương, chỉ có Vukašin-người bảo hộ cho Uros và cũng là anh trai của Uglješa là nỗ lực tham gia vào liên minh này. Những người khác hoặc không nhận ra sự nguy hiểm của Đế quốc Ottoman hoặc từ chối tham gia vì sợ rằng các đối thủ của họ ở địa phương sẽ tấn công đánh lén vào thành lũy của họ khi họ đang ở trong liên minh.

    Trận chiến Maritsa năm 1371

    Trận chiến Maritsa đã diễn ra tại con sông Maritsa gần làng Chernomen vào ngày 26 tháng 9 năm 1371 giữaviên trung úy của vua Murad là Lala Shahin Pasha và lực lượng người Serbia có số lượng đông đến khoảng 70.000 người dưới sự chỉ huy của thủ lĩnh SerbiaVukašin Mrnjavčević của Prilep và người anh emtrai của ông-lãnh chúa Uglješa . Lãnh chúa Uglješa muốn tổ chức một cuộc tấn công bất ngờ vào Edirne-thành phố thủ đô của Đế quốc Ottoman , trong khi Murad I đang ở Tiểu Á. Quân đội Ottoman ít hơn nhiều, nhưng có chiến thuật vượt trội (đột kích vào trại của Liên minh vào ban đêm), Sahin Pasa đã đánh bại quân đội Kitô giáo và giết cả Vukašin lẫn Uglješa. Macedonia và một phần của Hy Lạp rơi vào quyền kiểm soát của Đế quốc Ottoman sau trận chiến này. CảUglješa và Vukašin đều thiệt mạng trong cuộc tàn sát. Vì vậy, chiến thắng áp đảo của Đế quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ còn được coi là cuộc tháo chạy (hoặc tànphá quân đội) của người Serbia.

    Hậu quả của trận chiến Ormenion là Đế quốc Ottomantăng cường tổ chức các cuộc đột kích sâu hơn vào Serbia và Bulgaria. Tầm cỡ của chiến thắng này và các cuộc tấn công không ngừng vào vùng đất của mình thuyết phục Sa hoàng ShishmanBun-ga-ri ở Turnovo cảm thấy cần thiết phải xích lại gần với Đế quốcOttoman. Chậm nhất là vào năm 1376 Shishman đã chấp nhận làm chư hầu cho Murad I và gửi chị em gái của mình làm “vợ” của vua Thổ ở hậu cung tạiEdirne. Sự quy phục này đã không ngăn chặn được các cuộc đột kích liên tục của Đế quốc Ottoman vào sâu bên trong nội địa và cướp bóc vùng biên giới củaShishman. Đối với Byzantium, Hoàng đế John V đã dứt khoát chấp nhận làm chư hầu của Đế quốc Ottoman ngay sau khi trận chiến kết thúc, mở cửa cho sự can thiệp trực tiếp của Murad I vào tình hình chính trị trong nước của Byzantine.

    Bước tiến của Đế quốc Ottoman sau trận chiến Maritsa năm 1371

    Philadelphia thất thủ năm 1378

    Dubravnica năm 1381

    Giữa những năm 1380 Murad lại một lần nữa tập trung sự chú ý của ông vào khu vực Balkan. Vì Shishman – chư hầu Bun-ga-ri của ông đang bận tâm vào một cuộc chiến tranh với Voievod Dan I của Wallachia (khoảng 1383-1386) trong 1385 Murad đã chiếm lấy thành phố Sofia ( nay là thủ đô của Bulgary ), Thành phố cuối cùng còn lại của Bun-ga-ri ở phía Nam dãy núi Balkan, mở hướng tới vị trí chiến lược Nis, trạm cuối cung ở phía bắc con đường quan trọng nối liền Vardar-Morava.

    Trận Savra năm 1385

    Trận Savra nổ ra vào ngày 18 tháng Chín năm 1385 giữa Đế quốc Ottoman và lực lượng quân đội Serbia. Đế quốc Ottoman đã giành chiến thắng và hầu hết các Lãnh chúa Serbia và An-ba-ni ở địa phương đã trở thành chư hầu (của Đế quốc Ottoman).

    Trận Plocnik năm 1386

    Việc Murad chiếm được Nis vào năm 1386 có lẽ đã buộc Lazar của Serbia phải chấp nhận làm chư hầu của Đế quốc Ottoman ngay sau đó. Trong khi ông tiếnsâu hơn vàophía bắc miền trung khu vực Balkan, Murad cũng có một lực lượng nữa di chuyển về phía tây dọc theo ” đèo Ingatia” và tiến vào Macedonia, buộcmột loạt các thủ lĩnh địa phương ở đó phải làm chư hầu-những người cho đến trước thời gian đó đã thoát khỏi số phận này. Một đội quân tiến đến bờ biển Adriatic của An-ba-ni vào năm 1385. Một đạo quân khác chiếm thành phố Thessaloniki trong năm 1387. Sự nguy hiểm đối với nền độc lập của các quốc giaKitô giáo vùng Balkan đã bị báo động một cách ngày càng rõ ràng.

    Khi những vấn đề ở vùng Anatoli đã buộc Murad phải rời khỏi khu vực Balkan vào năm 1387, bản thân người Serbia và chư hầu Bun-ga-ri đã cố gắng cắt đứt liên hệ của họ với ông. Lazar đã hình thành một liên minh với Tvrtko I của Bosnia và Stratsimir của Vidin. Sau khi ông từ chối một yêu cầu của Đế quốcOttoman rằng ông phải thực hiện các nghĩa vụ chư hầu của mình một cách vĩnh viễn, quân đội của Đế quốc đã được cử đi để tấn công ông. Lazar và Tvrtko đã giáp mặt người Thổ Nhĩ Kỳ và đánh bại họ tại trận Plocnik, phía tây của Nis. Chiến thắng của các hoàng tử Kitô giáo đã khuyến khích Shishmanchấm dứt làm chư hầucho người Ottoman và tái khẳng định sự độc lập Bun-ga-ri.

    Trận Bileća năm 1388

    Murad trở về từ Anatolia trong năm 1388 và phát động một chiến dịch chớp nhoáng nhằm vào những nhà cai trị của Bun-ga-ri là Shishman và Stratsimir, những người này đã nhanh chóng lại phải quay lại làm chư hầu cho ông. Sau đó, ông yêu cầu Lazar phải chấp nhận làm chư hầu của mình và tỏ lòng tôn kính. Tự tin vì chiến thắng tại Plocnik, hoàng tử Serbia đã từ chối và quay sang yêu cầu Tvrtko của Bosnia và Vuk Brankovic-con rể của ông ta và là những nhà cai trị độc lập ở miền bắc Macedonia và Kosovo viện trợ chống lại một cuộc tấn công trả đũa của Đế quốc Ottoman.

    Trận Bileća diễn ra ngày 27 tháng 8 năm 1388 diễn ra giữa người Bosnia dưới sự chỉ huy của Vlatko Vuković và Vuk Brankovic với đội quân của Đế quốc Ottoman do Lala Sahine Pasa chỉ huy. Quân đội của người Bosnia đã đánh bại quân Thổ và tạm thời chặn dưngd bước tiến của Đế quốc Ottoman vào Bosnia

    Trận Kosovo năm 1389 (*)

    Trận Kosovo (hay Trận Amselfeld) diễn ra vào ngày 28 tháng 6 năm 1389, khi mà Đế quốc Serbia và các đồng minh chống lại Đế quốc Ottoman của người Thổ Nhĩ Kỳ. Quân Serbia thất bại nặng nề, và cả vua Serbia là Lazar Hrebeljanović lẫn vua Thổ Nhĩ Kỳ là Murad I đều bỏ mạng trên trận tiền.

    Chiến thắng tại Kosovo đã củng cố cuộc chinh phạt xứ Bulgaria của Đế quốc Ottoman. Sức mạnh quân sự của Serbia suy thoái và quân Ottoman đã phá tan cuộc kháng cự dũng mãnh nhất đối với cuộc chinh phạt vùng Balkan của họ. 2.500 kỵ vệ binh của vua Murad, 6.000 sipahi (thiết kỵ), 20.000 azap (bộ binh hạng nhẹ) và akinci (khinh kỵ) và 8.000 quân của các chư hầu. Ivan Paližna, có thể là một phần của quân Bosnia, trong khi quân Thổ Nhĩ Kỳ được trợ giúp bởi một quý tộc Serbia tên là Konstantin Dejanović. Điều này đã dẫn tới nhiều kết luận khác nhau về quân số của liên minh này.

    “… .Quân giặc rất là đông. Nếu bây giờ toàn bộ quân ta biến thành muối thì thậm chí còn không đủ mặn cho bữa trưa của giặc”

    Bố trí quân đội

    Hai đoàn quân giao chiến tại cánh đồng Kosovo. Quân đội Ottoman do vua Murad I dẫn đầy, cùng với hoàng tử Bayezid ở cánh phải, hoàng tử Yakub ở cánh trái. Khoảng 1.000 cung thủ ở hàng đầu hai cánh, đằng sau là azap (bộ binh nhẹ) và akinci (khinh kỵ); ở hàng đầu trung quân là janissary (ngự lâm quân), đằng sau là Murad, bao quanh bởi kỵ vệ binh; cuối cùng, hậu cần ở cánh được phòng vệ bởi một số quân nhỏ.

    Quân Serbia có vua Lazar ở trung quân, Vuk ở cánh phải, Vlatko ở cánh trái. Tiền quân Serbia có kỵ binh hạng nặng và kỵ binh bắn cung ở hai sườn, với bộ binh ở phía sau. Khi đứng song song, cách bố trí của cả hai quân đội đều không cân đối, trung quân Serbia lấn sang trung quân Ottoman

    “Khi cơn thác tên bắn xuống đầu quân Serbia những người đứng bất động như những dãy núi sắt, họ tiến về phía trước, cuồn cuộn và rền vang như biển cả”

    Bắt đầu

    Trận chiến mở màn khi cung thủ Ottoman bắn vào kỵ binh Serb đang tấn công. Sau khi xếp quân theo hình chữ V, kỵ binh Serb chọc thủng được cánh trái quân Ottoman, nhưng thất bại tại trung tâm và cánh phải.

    Quân Thổ phản công

    Người Serb có được lợi thế ban đầu sau đợt tấn công đầu tiên, đánh thiệt hại nặng cánh trái quân Thổ do Yakub Celebi chỉ huy. Khi đợt tấn công của kỵ binh kết thúc, khinh kỵ và khinh binh Ottoman chiếm ưu thế trong đợt phản công và áo giáp nặng nề của người Serb trở thành một gánh nặng. Ở trung quân, quân Serb đánh bật quân Ottoman lại với chỉ quân của Bayezid đã cầm chân được quân của Vlatko Vuković. Quân Ottoman, khi phản công, đã đẩy lùi quân Serb, và đã đánh bại họ trong ngày hôm đó. Bayezid I, người lên ngôi ngay sau trận chiến, đã có biệt danh Sấm sét ở đây, sau khi lãnh đạo một cuộc phản công quyết định. Cuối trận chiến, chiến thuật quân sự của quân Ottoman đã giúp họ thắng trận.

    Cái chết của Murad

    Dựa trên ghi chép lịch sử của Thổ Nhĩ Kỳ, người ta tin rằng vua Murad I đã bị Miloš Obilić – một quý tộc Serbia, ám hại, anh ta đã giả vờ chết, và giết chết vua Thổ khi ông đi trên chiến trường sau khi kết thúc trận đánh. Ngược lại, các nguồn của người Serbia tuyên bố rằng ông đã bị Miloš Obilić ám sát, khi anh ta vào doanh trại quân Thổ với lý do và người đào ngũ, trước khi quỳ xuống trước mặt Murad, anh ta đâm vào bụng ông và giết chết ông. Murad là vị vua nhà Ottoman duy nhất tử trận. Miloš Obilić ngay sau đó bị cận vệ quân của vua nhà Ottoman giết chết. Hoàng tử con trưởng của Murad, Bayezid, ngay lập tức hay tin về cái chết của vua cha, và trong khi trận chiến vẫn đang còn quyết liệt, gọi em mình là Yakub đến và nói với ông rằng vua cha truyền gặp hai người. Khi Yakub đến nơi, ông bị siết cổ đến chết, cái chết của ông khiến cho Bayezid là người kế vị hợp pháp duy nhất.

    Lăng mộ của vua Murad I vẫn còn đến ngày nay, ở một góc của chiến trường. Mặc dù không ở trong tình trạng tốt, những nó không bị làm hư hỏng hay phá hủy – bất chấp hàng thế kỷ thù địch giữa người Thổ Nhĩ Kỳ và người Serbia.

    Sau trận đánh

    Góa phụ Kosovo, tranh của Uroš Predić

    Trận Kosovo là một chiến thắng quan trọng của Đế quốc Ottoman. Tuy nhiên, quân đội Ottoman lại rút lui và người Serbia vẫn kiểm soát một phần Kosovo. Trong khi cả hai bên đều tổn thất, thiệt hại nghiêm trọng về phía Serbia đã dẫn đến sự suy sụp thực sự của người Serbia với nhiều, nhưng không phải tất cả, các lãnh chúa phong kiến Serbia triều cống hay cung cấp quân đội cho Đế quốc Ottoman.

    Theo sau trận chiến, với cái chết của vua Lazar của người Serbia, Bayezid thiết lập một liên minh chặt chẽ với con trai của Lazar là Stefan. Bayezid kết hôn với em gái của Stefan, và cuộc hôn nhân này khiến Stefan trở thành một đồng minh trung thành của Bayezid, đóng góp cho Bayezid những đội quân quan trọng trong các chiến dịch quân sự của ông sau này, trong số đó có cả trận Nicopolis, cuộc Thập tự chinh lớn cuối cùng ở thời kì Trung Cổ.

    Trận Kosovo tiếp tục được xem là một cột mốc trong sự định hình và kiến thiết dân tộc Serbia, cho dù đây là trận chiến giữa Quân đội Ottoman ở Thổ Nhĩ Kỳ với liên minh các quốc gia Cơ Đốc giáo ở châu Âu. Trận Kosovo mãi mãi là biểu tượng của tinh thần yêu nước Serbia và khát vọng độc lập qua hàng thế kỷ dưới quyền thống trị của Đế quốc Ottoman, và điều đó có nghĩa là trong cái nhìn của dân tộc Serbia, đây vẫn là một chứng cớ quan trọng trong Chiến tranh Kosovo và lời tuyên bố độc lập khỏi Serbia vào tháng 1 năm 2008 của Kosovo. Ngược lại với tuyên bố độc lập này, người Serb cho rằng, một phần là do trận Kosovo, rằng Kosovo vẫn là một bộ phận quan trọng và không thể tách rời của Serbia.

    Trận Nikopolis năm 1396 (*)

    Trận Nikopolis nổ ra vào ngày 25 tháng 9 năm 1396, trong trận này, Đế quốc Ottoman và Serbia đánh cho liên minh Hungary, Đế quốc La Mã Thần thánh, Pháp, Wallachia, Ba Lan và Vương quốc Anh, Vương quốc Scotland, Liên minh Thụy Sĩ cũ, Cộng hòa Venezia, Cộng hòa Genoa và Các hiệp sĩ thánh Gioan đại bại gần pháo đài Nikopolis (nay là Nikopolis, Bulgaria) tại sông Donau. Trận này cũng được xem là Cuộc Thập tự chinh Nikopolis, cuộc thập tự chinh lớn cuối cùng ở thời kì Trung Cổ. Trận đánh cũng thỉnh thoảng được xem là đã nổ ra ngày 28 tháng 9 năm 1396. Sau khi quân Thập tự không thể hạ nổi phòng tuyến của người Ottoman, Sultan Bayezid I đã đánh úp họ. Cho dù đắt giá, đây là một chiến thắng toàn diện và vẻ vang của Đế quốc Ottoman, với phần lớn Thập Tự Quân bị loại khỏi vòng chiến. Trong khi nhiều binh sĩ Thập tự bị chết đuối khi tháo chạy, rất nhiều binh sĩ khác bị bắt làm tù binh (trong đó có cả Thống chế Pháp là Jean Le Maingre nhưng ông được trao trả sau thảm bại). Nhà viết sử biên niên Jean Froissait đã nhận xét rằng, từ thảm họa Roncesvalles tới thời điểm đó, chưa bao giờ quân đội Thiên chúa giáo chịu thương vong nặng nề như vậy.

    Đại thắng này đã củng cố thế lực của Đế quốc Ottoman ở miền Đông Nam Âu và gia tăng thanh thế của Bayezid I. Thắng lớn, ông được người Hồi giáo nhìn nhận như là một ghazi (“thần binh”). Không những gây cho người châu Âu càng kinh sợ người Ottoman hơn, thắng lợi vang dội này mang lại uy thế cho Đế quốc Ottoman trong thế giới Hồi giáo. Khi Mehmed vừa bập bẹ biết nói thì Murad đã vời các thầy giáo giỏi nhất nước vào làm gia sư cho con trai mình. Tiếp theo, Murad II sắp xếp cho Mehmed vào học một trường học đặc biệt ở nội cung, đó cũng là nơi học của con cháu của các nhà quý tộc hoặc những đứa trẻ thông minh lanh lợi, con của các tù binh. Việc này nhằm giúp cho Mehmed kết giao với những người bạn tài năng để sau này họ sẽ giúp đỡ ông làm nên nghiệp lớn. Đồng thời, khi bắt đầu trưởng thành thì Mehmed được vua cha cử đi làm tổng trấn tỉnh Manisa tại Tiểu Á để học tập kinh nghiệm trị quốc.

    Trị vì lần đầu (1444 – 1446)

    Trước tình hình đó, Mehmed buộc phải vội vã phi ngựa tới phủ Manisa mời vua cha về chấp chính. Sau đó, Murad II đã xuất quân đánh tan tác đạo Thập tự quân tại trận Varna (1444), Władysław III cũng tử trận. Mối họa xâm lược bị đẩy lùi. Sang năm sau, Murad II lại trao quyền cho vua con rồi quay về Manisa.

    Tuy nhiên, một bộ phận Cấm vệ quân Janissary lại nổi loạn, tỏ ý không phục ấu chúa và đòi Murad quay trở lại ngôi vị. Không còn cách nào khác, tháng 5 năm 1446 Mehmed II lại phải đích thân ra Manisa mời vua cha về lên ngôi thêm một lần nữa.

    Khoảng thời gian chuẩn bị tích cực cho việc kế ngôi (1446 – 1451)

    Sau hai cuộc phong ba nói trên, Mehmed cảm thấy rất rõ là với trình độ hiện có của mình, việc cai trị một tỉnh nhỏ thì được chứ cai trị một đất nước rộng lớn thì rõ ràng là ông chưa đủ sức. Vì vậy, sau đó ông đã ra sức học hỏi thêm kiến thức và chăm chỉ làm việc để bồi dưỡng kinh nghiệm cho mình.

    Triết học cũng thu hút niềm yêu thích của Mehmed, nhất là triết học Aristotle và triết học Khắc kỉ (Stoicism). Dần dần, sau năm năm, Mehmed từ một thiếu niên còn rất ngây thơ đã trở thành một thanh niên tài năng có học vấn rất uyên bác.

    Trị vì lần thứ hai (1451 – 1481)

    Ngày 18 tháng 2 năm 1451, Murad II lâm bệnh và qua đời tại Edirne. Mehmed hay tin, lập tức cùng những người thân tín phi ngựa bất kể ngày đêm đến thủ đô, chấm dứt bổn phận của tổng trấn Manisa. Ngày 18 tháng 2 năm 1451, ông lên ngôi ở Edirne, trở thành vua thứ bảy của đế quốc Ottoman. Ngay ngày hôm đó, Mehmed đã hạ lệnh giết chết một người em trai cùng cha khác mẹ mới tám tháng tuổi của mình vì người em trai này, con của Murad II với một công chúa người Serbia, là một kẻ thù tiềm tàng trong việc tranh ngôi của Mehmed II. Vài năm sau ông còn ra một chiếu thư mà khiến ai cũng rùng mình, quy định rằng các hoàng đế nhà Ottoman có quyền giết chết các anh em của mình để duy trì hoàng vị và an ninh quốc gia. Tuyệt vọng, hoàng đế Constantinus XI thốt lên: “Thành đã mất thì ta còn sống làm gì nữa!” rồi xông thẳng vào biển quân Ottoman và hy sinh. Thế là thành Constantinopolis thất thủ. Quân Ottoman tàn phá ngôi thành và bắt 6000 người làm nô lệ. Nhưng sau đó, Mehmed thiên đô về Constantinopolis. Ngày 30 tháng 5 năm 1453, Mehmed chuyển đại thánh đường St. Sophia thành một Hagia Sophia, một thánh đường Hồi giáo, và bắt đầu xây dựng tân đô của Đế quốc.

    Sau chiến thắng Constantinopolis, Mehmed II xưng hiệu “Hoàng đế La Mã” (Kayser-i Rûm), dù điều này không được công nhận bởi các vương quốc Tây Âu, giáo hội Chính thống giáo Hy Lạp hay các cộng đồng người Hy Lạp khác. 10 năm sau khi chinh phạt thành Constantinopolis, Sultan Mehmed II thân hành đến di tích thành cũ Troia và tuyên bố rằng ông đã rửa hận cho người thành Troia bằng việc chinh phạt người Hy Lạp – ở đây chỉ người Đông La Mã.

    Chinh chiến ở châu Á

    Cuộc chinh phạt Constantinopolis khiến cho Mehmed II chuyển sự chú ý của mình sang phía đông. Trước đó, ông cố của Mehmed là Bayezid I đã thống nhất được Tiểu Á, nhưng cuộc tấn công của Đế quốc Timur đã phá nát Vương quốc Ottoman và khiến các vương quốc của người Thổ Nhĩ Kỳ ở miền Đông bán đảo Tiểu Á ly khai trở lại. Chính vì vậy, Mehmed II quyết tâm hoàn tất sự nghiệp dang dở của các bậc tổ phụ. Trước hết, ông chinh phạt các xứ của người Thổ, sau đó tiến lên phía Bắc và tiêu diệt Đế quốc Trebizond của người Đông La Mã vào năm 1461. Tiếp theo, Mehmed lại đánh nhau với xứ Ak Konyulu (hay còn được gọi là White Sheep) đang thống trị khu vực Đông Tiểu Á và Armenia. Lúc bấy giờ, với mục đích giảm nhẹ áp lực của Đế quốc Ottoman lên các thuộc địa của mình tại bán đảo Balkan, Cộng hòa Venezia đã xúi giục vua Ak Konyulu là Uzun Hasan gây chiến với Mehmed, đồng thời viện trợ vũ khí cho Hasan. Để đối phó với Hasan, Mehmed II đã phải huy động một đạo quân hùng mạnh với rất nhiều nhân lực và vật lực của toàn đế quốc, ngay cả hai người con trai là Mustafa và Bayezid cùng với quan chưởng ấn cũng trực tiếp tham gia chiến đấu.

    Chinh chiến ở châu Âu

    Tiếp đó, năm 1460 Mehmed II lại xua quân xâm chiếm lãnh địa của người Đông La Mã ở châu Âu là Morea trên bán đảo Peloponnese. Đến năm sau, Mehmed lại xâm chiếm Đế quốc Trebizond ở châu Á. Kết quả là hai lãnh địa cuối cùng của người Đông La Mã đều nằm dưới sự cai trị của Đế quốc Ottoman. Cuộc chinh phạt Constantinopolis đã đem lại niềm vinh dự và thanh thế lớn cho người Thổ Nhĩ Kỳ.

    Quân Ottoman tiến về Đông Âu, tới cửa ngõ Beograd và bắt đầu nỗ lực đánh chiếm thành phố này từ tay Đại tướng Janós Hunyadi trong Cuộc vây hãm Beograd năm 1456. Các võ tướng Hungary giữ được thành, quân Ottoman phải triệt binh với tổn thất nặng nề. Dù vậy, cuối cùng thì người Thổ cũng chiếm được hầu hết Serbia.

    Năm sau (1463), sau một cuộc tranh chấp về cống vật của vương quốc Bosnia, Mehmed đã chinh phạt Bosnia và nhanh chóng toàn thắng, vua cuối cùng của Bosnia là Stjepan Tomasevic bại vong.

    Ông cũng gây chiến với chư hầu cũ của mình là vương công Vlad III Dracula xứ Wallachia. Năm 1462 Mehmed II đã gặt hái thảm bại khi bị Vlad tấn công trong cuộc tấn công ban đêm. Thế rồi, Mehmed chuyển sang giúp đỡ anh trai Vlad là Radu để trả thù cho những thất bại của quân đội Ottoman trên mặt trận. Với sự hỗ trợ của người Thổ, Radu nhanh chóng tước đoạt lãnh địa Wallachia trong cùng năm đó và buộc Vlad phải chạy trốn khỏi Wallachia.

    Năm 1475, quân Ottoman giao chiến với Moldavia và bị Vương công Stefan III đánh tan tành trong trận Vaslui. Tuy nhiên đến năm 1476 Mehmed trả được thù khi tiêu diệt gần như hoàn toàn quân đội ít ỏi của Moldavia trong trận Valea Albă. Tiếp đó ông tiến quân đến Suceava và cướp bóc, tàn phá thủ phủ của vùng này, mặc dù sau đó ông đã thất bại trong việc đánh chiếm lâu đài Suceava và pháo đài Piatra Neamţ. Đúng lúc đó thì một trận dịch bùng lên trong hàng ngũ quân Ottoman, đồng thời với nguồn nước trở nên thiếu hụt và Vương công Stefan III lại nhận được 3 vạn viện binh do cựu thù của Mehmed, Vlad III Dracula chỉ huy. Mehmed II buộc phải bỏ dở chiến dịch và quân đội Ottoman triệt thoái.

    Năm 1480, Mehmed II chinh phạt bán đảo Ý, để thực hiện mưu đồ “thống nhất Đế quốc La Mã cổ đại” của Mehmed. Thoạt đầu, quân Ottoman dễ dàng đánh chiếm thành phố Otranto vào năm 1480, nhưng ngay năm sau (1481) quân đội của Giáo hoàng đã đoạt lại vùng này sau khi Mehmed qua đời.

    Trong những năm 1443 – 1468, Đế quốc Ottoman phải đối phó với cuộc khởi nghĩa của nhân dân Albania do Skanderbeg lãnh đạo. Skanderbeg nguyên là một nhà quý tộc Albania và là đại diện của nhà Ottoman tại Albania dưới thời Murad II. Nhưng thay vì phục vụ cho sultan, Skanderbeg đã vùng lên khởi nghĩa và cố gắng lôi kéo lực lượng của các hoàng thân Albania yêu nước, nhắm cùng đấu tranh chống lại ách đô hộ của nhà Ottoman. Cuộc khởi nghĩa này đã ngăn trở mưu đồ tấn công vào bán đảo Ý của Đế quốc Ottoman trong suốt một thời gian dài.

    Kết quả

    Những cuộc chiến của Mehmed II tại châu Âu chứng tỏ sự hiện diện của người Thổ ở đó không phải là nhất thời. Dưới thời Mehmed II, quân Ottoman chưa thể chiếm ưu thế trội hơn hẳn quân các nước vùng Balkan, nhưng cuộc chiến hãy còn tiếp diễn.

    Kết quả của các cuộc chinh phạt trên là Mehmed đã nắm trong tay một Đế quốc Ottoman hết sức rộng lớn, gồm 28 tỉnh ở châu Âu và 21 tỉnh ở châu Á, bao trùm các phần đất của Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgaria, Albania, Armenia và một phần Ukraina. Đến cuối đời, Mehmet bắt đầu sử dụng danh xưng “chúa tể của hai đất và hai biển” (hai đất là Tiểu Á và Romania, hai biển là Aegean và Hắc Hải).

    Mehmed II sở dĩ có thể liên tục chiến thắng trên chiến trường, một phần là vì các đối thủ của ông là những thế lực phong kiến cát cứ hoặc các vương triều già nua đang suy sụp, nhưng cũng là nhờ ông có những biện pháp cai trị đất nước và quản lý quân đội rất hữu hiệu. Trong mọi sự vụ, ông luôn cực lực bài trừ thái độ lề mề chậm chạp, thiếu khí thế của các quan chức và luôn chú ý đến hiệu quả thực tế của công việc. Ông đã hợp nhất chính sách trị dân cũ của hoàng đế Đông La Mã với chính sách trị dân của hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ. Mehmed còn viết một cuốn sách tổng hợp các học thuyết chính trị ở Đông La Mã và trong sách này, thuật ngữ ‘chính trị’ được dịch sang tiếng Ả Rập như “siyasah”.

    Ngay trong năm đầu tiên cai trị, Mehmed II đã bắt tay vào cải tổ các cơ quan của triều đình, đặc biệt là ngân khố của quốc gia. Ông ra lệnh cho các quan viên thu thuế phải kiểm tra kỹ lưỡng sổ sách, rồi lại phái người đến kiểm tra các sổ sách này thêm một lần nữa. Bất cứ quan viên nào để sổ sách không rõ ràng đều bị cách chức chờ xét xử. Các cơ quan triều đình và địa phương cũng được cải tổ sâu rộng. Mehmet quy định ba cơ quan: Phủ Thái tể, Văn phòng Tài vụ Đại thần và Văn phòng Chánh án Tối cao đều có quyền lấy danh nghĩa hoàng đế để ra các mệnh lệnh về hành chính, tài chính và tôn giáo. Tất cả những điều lệ về triều phục, địa vị, đãi ngộ,… của các quan viên đều được quy định chặt chẽ và ghi chép trong sách Nghi lễ.

    Lúc này, triều đình Ottoman chia các quan chức ra làm hai loại: Nhân viên Nội đình bao gồm các sở Nội, Đốc sát, Tài chính, Đại sảnh, Tiểu sảnh chuyên lo việc sinh hoạt của hoàng đế và sinh hoạt trong cung, đảm nhiệm bởi các thái giám mặc áo dài trắng; nhân viên Ngoại đình gồm cố vấn của hoàng đế, thị vệ và các nhân viên triều đình chuyên lo việc sự vụ đất nước. Ở Trung ương gọi là hội nghị Quốc vụ, thành viên gồm cả tể tướng, chánh án Tối cao, tài chính Đại thần và thư ký Quốc vụ. Cơ quan này sẽ họp bàn với vua trong vòng mấy tiếng đồng hồ vào mỗi thứ bảy, chủ nhật, thứ hai và thứ ba hàng tuần. Còn ở sự vụ ở địa phương, bao gồm cả việc trưng binh trong thời chiến sẽ do những viên tổng trấn đảm nhiệm.

    Về quân sự, Mehmed II cũng tiến hành nhiều cải cách. Dưới triều của ông, quân đội Ottoman mới được chia làm bộ binh (Akincis), kỵ binh và hải quân.

    Bộ binh là nòng cốt của quân đội Ottoman. Trong chiến đấu, bộ binh cùng gươm và cung tên tác chiến cùng với kỵ binh, hoặc tập hợp thành các đội pháo binh để công phá thành lũy. Kỵ binh rất được Mehmed quan tâm, vì thời bấy giờ tác chiến chủ yếu dựa vào kỵ binh. Số kỵ binh do các lãnh chúa phong kiến cung cấp cho quân đội. Ngoài ra, Mehmed cũng tổ chức một đội kỵ binh thường trực, tuyển mộ từ Cấm vệ quân hoặc những người hầu.

    Hải quân Ottoman mãi tới thời sultan Mehmed II mới được xem là một lực lượng chính quy, và nó bắt đầu phát triển mạnh mẽ cũng vào thời của ông. Mehmed đã bắt đầu cho xây dựng một số xưởng đóng thuyền chiến trên các cảnh ven bờ biển để gia tăng số lượng hải thuyền của đế quốc. Nguyên nhân của việc này là nhằm hoàn thành việc vây hãm, cô lập Constantinopolis và khống chế hải lộ trên biển Đen và biển Aegean. Kết quả, trong một thời gian ngắn Ottoman đã có một lực lượng hải quân to lớn gồm ba bốn trăm chiếc thuyền, đủ sức đương đầu với các hạm đội Tây Ban Nha, Pháp và cộng hòa Venezia đương thời. Trong trận Constantinopolis, hải quân Ottoman đã đóng một vai trò rất quan trọng.

    Mehmed II đã ban bố bộ luật đầu tiên của đế quốc Ottoman. Bộ luật này đã xác định nghĩa vụ của người nông dân đối với lãnh chúa phong kiến, đồng thời xác định chế độ phân phối ruộng đất phong kiến của đế quốc.

    Thân phận người nông dân: theo bộ luật, người nông dân phải đóng đủ thứ tô thuế nặng nề cho lãnh chúa, đồng thời còn phải đi phu tải lương cho chúa phong kiến và làm việc bảy ngày không công trên đất của chúa phong kiến hàng năm. Nếu người nông dân để ruộng đất bỏ hoang trong một năm thì chúa phong kiến có quyền tịch thu nhà cửa ruộng đất của họ, đồng thời đánh thuế nặng trên phần đất này để bù vào tổn thất của mình. Tất cả những điều này có mục đích là buộc chặt người nông dân với ruộng đất.

    Phân chia ruộng đất: ruộng đất được chia làm 3 loại: của Giáo hội, của quốc gia và của tư nhân. Trong đó ruộng đất của quốc gia là lớn nhất. Ruộng của quốc gia lại được chia làm 3 loại nhỏ. Loại thứ nhất là ruộng của hoàng gia và các đại thần, mỗi năm thu nhập vào khoảng 10 vạn akche (đơn vị tiền tệ Ottoman, thời đó 1 akche mua được 7 kg bột mì). Số ruộng hai loại kia được cấp phát cho các địa chủ bậc trung (thu nhập hằng năm từ 2 vạn – 10 vạn akche) và bậc nhỏ (thu nhập hằng năm 2000 – 1 vạn akche), tính tổng cộng có chừng 1 vạn địa chủ loại này. Các lãnh chúa phong kiến có nghĩa vụ phải nộp thuế và cống phẩm cho vua, trưng tập kỵ binh (trong thời chiến) và phải vâng theo mệnh lệnh của vua. Số lãnh chúa này tạo nên nền tảng thống trị của đế quốc.

    Có một điều đáng chú ý là thái độ của Mehmed II đối với tôn giáo rất là khoan dung và rộng rãi so với nhiều bậc đế vương cùng thời. Ông đã chấp nhận Chính thống giáo Đông phương, cho phép cho các giáo trưởng Thiên Chúa giáo truyền đạo ở Thổ Nhĩ Kỳ.

    Ông đối xử rất khoan hồng với giáo dân và giáo hội Thiên Chúa giáo tại Constantinopolis và trên toàn đế quốc. Mehmed II cho phép cộng đồng Thiên Chúa giáo được tự trị ở Constantinopolis, và ông bổ nhiệm một cựu giáo trưởng Constantinopolis có quan điểm bất đồng với hoàng đế Constantinus XI làm tổng giám mục của thành phố. Sau khi quân Ottoman chiếm Constantinopolis, tất nhiên là nhiều thánh đường Thiên Chúa giáo bị phá bỏ hoặc đổi thành thánh đường Hồi giáo (ví dụ đại thánh đường St. Sophia nổi tiếng ở Constantinopolis đã bị đổi thành thánh đường Hồi giáo Hagia Sophia), nhưng phần lớn những thánh đường Thiên Chúa giáo khác vẫn tồn tại. Dưới sự lãnh đạo của tổng giám mục, họ có quyền tự trị về mặt tôn giáo, văn hóa và có một hệ thống pháp luật riêng (tất nhiên là họ vẫn phải tuân theo một số luật chung của đế quốc Ottoman). Thậm chí họ còn khỏi phải đi binh dịch và được phép mở trường học riêng để dạy bằng ngôn ngữ dân tộc. Tuy nhiên ông chỉ cho phép các tín đồ Chính thống giáo Đông phương được sống ở Constantinopolis, trục xuất di dân đến từ Genova và Venezia cũng như các tín đồ Hồi giáo và Do Thái giáo ra khỏi thành phố này.

    Về sau, Mehmed cũng cho phép giáo hội Thiên Chúa giáo của người Armenia, giáo hội Do Thái giáo của người Do Thái và giáo hội Hy Lạp cũng được hoạt động tự do trong khuôn khổ pháp luật của đế quốc Ottoman. Tất cả các giáo hội này được gọi là millet, (tạm dịch là tập đoàn hoặc dân tộc có tín ngưỡng đặc thù trong đế quốc Ottoman) mỗi millet do một lãnh tụ đứng đầu, có trách nhiệm trưng thu thuế cho hoàng đế Ottoman và đảm bảo các giáo dân biết giữ pháp luật và trung thành với triều đình Osman. Các millet ngoài việc chịu chung nghĩa vụ binh dịch, thuế má, tất cả phần còn lại đều được Mehmed cho phép tự trị. Những giáo dân trong millet khi phạm tội cũng chỉ bị xét xử trong các tòa án riêng của millet và chỉ chịu phạt theo luật riêng của millet, trừ những tội có dính đến trị an và hình sự thì phải bị trừng trị theo luật chung của đế quốc. Chính miệng ông đã nói với lãnh thụ người Serbia rằng:

    “Bên cạnh một nhà thờ Hồi giáo, đều phải xây dựng một nhà thờ Thiên Chúa giáo, dân chúng của ông có thể cầu nguyện trong nhà thờ.” —Mehmed II

    Mehmed cũng đã tuyển mộ đội tân binh đến từ Devshirme. Trong đội quân này có nhiều giáo dân Thiên Chúa giáo trẻ tuổi. Đội quân này được chia làm 2 nhóm: các lính tráng có đủ tư cách nhất sẽ được phục vụ nhà vua trong cung điện; những người kém tài hơn nhưng có thể lực tốt thì sẽ được gia nhập toán Cấm vệ quân janissary của vua.

    Ngay từ thời niên thiếu, Mehmed II đã bộc lộ một sự yêu thích đặc biệt về văn học và nghệ thuật. Sau này khi lên làm vua, ông mời nhiều danh họa Ý, người theo chủ nghĩa nhân văn và nhà triết học Hy Lạp đến cung điện, nói đúng hơn là chung quanh Mehmed thường tụ tập rất nhiều văn nhân học giả, cùng nhau bàn chuyện quốc sự hay làm thơ, vẽ tranh. Mehmed II cũng đã sáng tác một tập thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết và miêu tả những khung cảnh hoành tráng trên chiến trường. Đặc biệt, Mehmed đã phá vỡ thông lệ “không sùng bái hình nộm” của đạo Hồi, mà mời nhiều danh họa nổi tiếng ở Ý về vẽ chân dung cho ông. Một trong số họ chính là họa sĩ Gentile Bellini người Venezia, đã vẽ một bức chân dung nổi tiếng của Mehmet II. ông đã ra lệnh sưu tập nhiều bức danh họa nổi tiếng của đế quốc Đông La Mã cũng như những bức họa nổi tiếng khác trên thế giới. Đáng chú ý, trong số những bức họa được triều đình Ottoman cất giữ từ thời Mehmet II trở đi, có nhiều bức họa đời nhà Minh của Trung Quốc đương thờ.

    Để nâng cao chất lượng giáo dục, Mehmed II không ngại tốn kém, cho vời nhiều học giả nổi tiếng trong giới Hồi giáo cũng như tại châu Âu thời đó về giảng dạy tại các ngôi trường của Ottoman. Có dạo, khi ông vời được một nhà thiên văn nổi tiếng người Trung Á về thủ đô Constantinopolis, ngay lập tức tại ngoại ô Constantinopolis liền tiến hành xây dựng một ngôi trường lớn về toán học và một đài thiên văn bên cạnh.

    Qua đời

    Giống như nhiều vị đế vương khác, trong thời kỳ cai trị của mình Mehmed II luôn luôn phải đối phó với những cuộc đấu tranh quyền lực trong triều đình. Đặc biệt nghiêm trọng, năm 1472 các đại thần phản loạn từng tổ chức âm mưu phế bỏ Mehmed để lập Cem, một đứa con nhỏ của ông lên ngôi, nhưng may mắn thay âm mưu bị phát hiện và những người dính líu đều bị trừng phạt. Vì vậy, từ một vị vua cởi mở, ưa kết giao, Mehmed II về cuối đời trở nên hết sức đa nghi. Ông đã sắp xếp rất nhiều biện pháp nhằm bảo vệ sự an toàn của bản thân. Ví dụ ông không cho bất kỳ ai mang vũ khí khi vào cung, kể cả những cận vệ của ông cũng phải vào tay không. Khi ăn ông không bao giờ ngồi chung bàn với người khác, và món ăn nào ông cũng bắt thuộc hạ nếm thử, khi biết không có độc ông mới ăn. Ông cũng xây dựng rất nhiều cụm bố phòng quanh cung điện. Để đề phòng bị giết hại khi tắm, ông đã đặt nhiều thiết bị phòng vệ chung quanh nhà tắm, và các cửa vào nhà tắm chỉ có thể từ trong mở ra, người ngoài không vào được. Cánh cửa cuối cùng còn lắp đặt máy bắn tên tự động.

    Theo “Thập đại tùng thư”, đề phòng kỹ như vậy Mehmed vẫn chết do bị ám sát. Cụ thể, Mehmed II bị sát hại tại Hunkârçayiri gần Gebze, Constantinopolis ngày 3 tháng 5 năm 1481 lúc mới 52 tuổi, được tin là do bị các thái y gốc Do Thái đầu độc, còn kẻ chủ mưu là thái tử Bayezid, do Bayezid quá nông nóng kế thừa vương vị. Tình cảnh chết của ông rất thê thảm, cả mũi và miệng đều trào máu. Tương truyền trong thời gian này ông đang điều động binh mã đến miền Bắc Tiểu Á để chuẩn bị một cuộc viễn chinh, nhưng cái chết bất ngờ của ông đã khiến nó cùng với Mehmed vĩnh viễn nằm sâu dưới ba tấc đất.

    Bayezid II

    Vua Bayezid sinh ở Dimetoka ngày 3 tháng 12 năm 1448. Ông là con của Mehmed II. Thân mẫu ông là Mukrime Hatun. Bayezid là một con người dũng cảm, mộ đạo và điềm tĩnh. Giống tất cả các hoàng tử của đế quốc Ottoman, Bayezid được giáo dục bởi nhiều danh nhân thời đó. Ông là vị vua thứ 8 của Đế quốc Ottoman đã trị vì từ 1481 đến 1512

    Ông mới 7 tuổi khi trở thành tỉnh trưởng Amasya, một trung tâm văn hóa và học vấn kể từ thời nhà Seljuk. Thành phố này là một nơi lí tưởng để dạy dỗ cho thái tử.

    Vua Bayezid II mộ đạo và rất giỏi về văn học. Ông mời nhiều thi sĩ nổi tiếng đến cung điện. Ông là một vị vua nhân ái và vì vậy ông hay giúp đỡ người nghèo. Ông nói giỏi tiếng Ả Rập và Ba Tư, sau đó, ông còn tìm hiểu về tiếng địa phương Catagay và Uygur. Ngoài ra, ông còn học về triết học và toán học. Triều đại ông ghi dấu ấn thắng lợi của Ottoman trong cuộc chiến với Venezia trong các năm 1499-1503. Ngày 24 tháng 4 năm 1512 ông bị con trai là Selim I lật đổ. Bayeizd II mất một tháng sau đó, ngày 26 tháng 5 năm 1512

    Selim I

    Selim I ( 1465 – 1512) là vị vua thứ 9 của đế quốc Ottoman, trị vì từ năm 1512 đến 1520. Ông là một vị vua tài ba trong lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ, người đã sát nhập vùng Trung Đông vào đế quốc của mình sau một loạt chinh chiến. Vì tính khí tàn bạo, ông có ngoại hiệu là Yavuz Sultan Selim, dịch là Selim the Stern trong tiếng Anh, và tạm dịch là ‘Selim Hà khắc’

    Selim chào đời năm 1465 tại Amasya, là con trai của Bayezid II (1481-1512) và là cháu nội của Mehmed II (1444-46 rồi 1451-81). Mẹ của Selim là Aysha Hatun. Selim được mô tả là một con người cao to, và rất giỏi về cưỡi ngựa và đánh kiếm. Thuở nhỏ, ông theo học Mevlana Abdulhalim, một nhà giáo có tiếng ở kinh thành. Dưới triều đại Bayezid II, Selim được vua cha phong làm quan Tổng trấn Trabzon. Tại đây, ông được học hỏi thêm về phương pháp cai trị cũng như hệ thống quân sự của nhà nước phong kiến Ottoman.

    Thấy nước Gruzia láng giếng có nhiều hoạt động chống lại nhà Ottoman, Selim đã ba lần ra quân đánh nước này. Quân Ottomani toàn thắng, và chiếm giữ Kars, Erzurum và Artvin (1508). Hầu hết người Gruzia sống ở các vùng đất này đều cải đạo Hồi.

    Năm 1502, Ismail I sáng lập nhà Safavid ở Ba Tư. Ismail I vốn là một người theo hệ phái Shia của đạo Hồi, đã tiến hành xâm lấn lãnh thổ đồng thời truyền bá Shia vào Ottoman thuộc hệ phái Sunni. và vây hãm kinh thành Viên từ tháng 9 đến tháng 10. Đó là chiến dịch quân sự tham vọng nhất của đế quốc Ottoman thời đó và cũng đánh dấu điểm xa nhất mà cường quốc này vươn tới Trung Âu. Nhưng rồi, chỉ với một đạo quân thủ thành chừng 16 nghìn binh sĩ đế quốc Áo khiến Suleiman nếm phải thất bại đầu tiên, và cũng từ đó gieo mối hận thù dai dẵng giữa hai nước, tồn tại mãi cho tới tận đầu thế kỷ 20. Vào ngày 16 tháng 10 năm 1529, mùa đông đến, Sultan phải rút quân khỏi Viên. Cuộc triệt binh này trở thành một thảm họa. Sau đó, vào năm 1532 Suleiman I cũng thử tấn công thành Viên lần thứ hai nhưng cũng không thành. Nguyên do của hai lần thất bại một phần lớn là vì thời tiết xấu nên quân đội Ottoman không thể đem đầy đủ thiết bị công thành cần thiết đến chiến trường.

    Năm 1541 chiến tranh Ottoman-Habsburg lại nổ ra, Vương triều Habsburg xua quân tấn công Buda. Suleiman I phản công và nhanh chóng đánh đuổi được quân của Ferdinand, đế quốc La Mã Thần thánh lại để mất thêm nhiều thành trì khác và họ chỉ còn nắm giữ được miền bắc Hungary. Kết quả là Ferdinand và Karl buộc phải ký một hiệp ước 5 năm với đế quốc Ottoman, theo đó Ferdinand từ bỏ ngôi vua Hungary và phải triều cống hàng năm cho Sultan, với tư cách là một lãnh chúa trên lãnh thổ Hungary. Ngoài ra trong hiệp ước còn có điều khoản quy định người Ottoman không công nhận Karl là “Hoàng đế” mà chỉ là “Vua Tây Ban Nha”, còn Suleiman I mới là người danh chính ngôn thuận giữ tước hiệu cao quý “Hoàng đế La Mã” (Caesar).

    Với việc các kẻ thù Âu châu liên tiếp bị đánh bại, đế quốc Ottoman nhanh chóng trở thành một liệt cường đáng sợ trên bức tranh chính trị châu Âu. Người ta gọi đế quốc này là “nỗi khiếp sợ của thế giới phương Tây”

    Chiến tranh với nhà Safavid

    Sau khi Suleiman kí Hiệp ước Constantinopolis với các kẻ thù châu Âu thì ông nhanh chóng chuyển chú ý của mình sang Ba Tư, do nhà Safavid thuộc hệ phái Shi’a trị vì. Có hai nguyên nhân trực tiếp châm ngòi cho cuộc chiến tranh Ottoman – Safavid: Thứ nhất, vua Tahmasp I của Ba Tư sai người ám sát Tổng đốc thành Bagdad – một người thân Thổ – và thay thế bằng một nhân vật thân Ba Tư. Thứ hai, Tổng đốc thành Bitlits làm phản và chạy về phe Ba Tư.

    Ngay lập tức, năm 1533, Suleiman hạ lệnh cho Tể tướng Ibrahim Pasha xua quân tấn công Bitlits và sau đó lấy luôn cả Tabriz mà không gặp phải bất cứ sự kháng cự đáng kể nào. Sang năm sau, Suleiman hội quân với Ibrahim và đánh thẳng vào lãnh thổ Ba Tư, tuy nhiên Tahmasp không giao chiến trực diện với Suleiman mà áp dụng chiến thuật rút lui bảo toàn lực lượng, đồng thời cho quân quấy nhiễu các cánh quân Ottoman khiến cho cuộc tiến quân trở nên rất khó khăn. Suleiman buộc phải bỏ dở chiến dịch nhưng ông đã giành được (dù là tạm thời) các vùng đất Tabriz, Azerbaijan thuộc Ba Tư, Van và một phần Gruzia. Năm 1549, Suleiman I ca khúc khải hoàn trở về kinh đô Constantinopolis.

    Đến năm 1553 Suleiman lại khởi xướng chiến dịch Ba Tư. Vốn đã mất Erzurum về tay con trai Tahmasp, Suleiman nhanh chóng phản công, đoạt lại Erzurum rồi vượt qua sông Euphrates và tàn phá một phần lãnh thổ Ba Tư. Vua Tahmasp I lại tiếp tục chiến thuật như trước và kết quả là chiến cuộc trở nên dằng co. Cuối cùng hai bên ký Hiệp ước Amasya (1555), trong đó Suleiman đồng ý trả lại Tabriz nhưng được giữ toàn bộ miền đông Tiểu Á, Lưỡng Hà, thành phố Bagdad và một phần duyên hải Vịnh Ba Tư. Ngoài ra Ba Tư và Ottoman cũng cam kết sẽ không bao giờ tấn công nhau nữa

    Các chiến dịch ở Ấn Độ Dương và Ấn Độ

    Việc nắm vững quyền kiểm soát khu vực Biển Đỏ đã giúp Suleiman I phần nào giành được quyền khống chế con đường giao thương với Ấn Độ từ tay người Bồ Đào Nha và duy trì mối quan hệ giao thương ở mức độ đáng kể với Ấn Độ trong suốt thế kỷ 16.

    Chiến tranh ở Bắc Phi và Địa Trung Hải

    Trong khi đang dốc sức củng cố những vùng đất mới chiếm được, Suleiman I nhận được hung tin: thành Koroni ở Morea (Peloponnese hiện nay) bị mất vào tay của Andrea Doria, Đại Đô đốc Hải quân của hoàng đế Karl V. Sự hiện diện của hải quân Tây Ban Nha trên biển Địa Trung Hải làm cho Suleiman tỏ ra lo lắng. Ông xem đó là dấu hiệu cho thấy Karl muốn tranh đoạt quyền thống trị Địa Trung Hải với đế quốc Ottoman. Suleiman cũng nhận thấy rằng Hải quân Ottoman cần phải được tăng cường mạnh mẽ hơn nữa để đảm bảo ưu thế của người Thổ Nhĩ Kỳ tại khu vực này, vì vậy, ông bổ nhiệm Khair ad Din (còn được biết đến với tên gọi Barbaros Hayreddin Pasha) làm Đại Đô đốc Hải quân Ottoman. Barbaros nhanh chóng tiến hành việc tăng cường và xây dựng Hải quân Ottoman, đến mức khiến cho Hải quân Đế quốc này có số lượng ngang bằng với tất cả các nước Địa Trung Hải.] Năm 1535, Karl V đoạt lại Tunis, một thành trì quan trọng của Quân đội Ottoman. Vào năm 1536, chiến tranh với Cộng hòa Venezia nổ ra khiến Suleiman I phải chấp nhận liên minh với vua François I của Pháp nhằm cùng chống nhau với Karl V. Vào năm 1538, Barbaros Hayreddin đánh tan tác hải quân Tây Ban Nha trong trận đánh lừng lẫy tại Preveza. Các chiến thắng tại Preveza (1538) và Djerba (1565) sau đó khiến cho Đế quốc Ottoman vẫn duy trì quyền thống trị Địa Trung Hải suốt 33 năm cho đến khi diễn ra trận Lepanto năm 1571.

    François I (trái) và Suleiman Đại đế (phải) đã khởi xướng liên minh Pháp-Ottoman vào thập niên 1530.

    Phía đông Maroc và một phần lãnh thổ Bắc Phi bị sát nhập vào bản đồ Ottoman. Các quốc gia người Berber tại Tripolitania, Tunisia, và Algérie trở thành các tỉnh tự trị của đế quốc, đóng vai trò như một tiền đồn trong cuộc chiến chống Karl V – vị Hoàng đế đã thất bại trong mưu đồ đuổi quân Thổ Nhĩ Kỳ ra khỏi Tunisia năm 1541. Barbaros trước tiên đem quân đánh phá bờ biển của Napoli và đảo Sicilia, trong khi đó François I thì biến cảng Toulon thành một căn cứ của hải quân Ottoman trên đất Pháp. Tiếp sau đó liên quân Ottoman-Pháp phối hợp đánh chiếm Nice – một thành phố của đế quốc La Mã Thần thánh. Nhưng đến năm 1544 liên minh giữa François I và Suleiman I tạm thời chấm dứt do François đã ký hòa ước với đế quốc La Mã Thần thánh. Vào năm 1547, triều đình Ottoman tái lập hoà bình với Giáo hoàng Phaolô V, Áo, Venezia và Pháp.

    Sau khi Ródos thất thủ (1522), đảo Malta trở thành căn cứ mới của các Hiệp sĩ Cứu tế. Tại đây họ tiếp tục phát động những cuộc tấn công chống lại lực lượng hải quân Hồi giáo và điều này khiến cho người Thổ nổi giận. Trước tình hình đó, Suleiman I đưa một đạo quân gồm 4 vạn người đến đánh Malta (1565), nhằm loại trừ vĩnh viễn mối họa từ các Hiệp sĩ Cứu tế. Cuộc đại vây hãm Malta được quân Ottoman thực hiện trong suốt gần 4 tháng (18 – 5 đến 8 – 9 – 1565), và được mô tả hết sức sinh động trong các tranh tường của Matteo Perez d’Aleccio trong đại sảnh St. Michael và St. George. Kịch bản lặp lại gần giống chiến thắng của quân Ottoman tại Rodós trước kia khi hơn một nửa các hiệp sĩ tử trận tại Malta và gần như toàn bộ các pháo đài trên đảo bị phá hủy. Nhưng, Turgut Reis qua đời trong cuộc vây hãm và đến phút cuối hải quân Ottoman bị các hiệp sĩ và viện binh từ Tây Ban Nha đập tan, rồi phải rút khỏi Malta với 25 nghìn binh sĩ thiệt mạng. và Thánh luật (Shari’ah) thì theo truyền thống Hồi giáo, Suleiman cũng không thể động tới được. Cụ thể, ông đã tập hợp tất cả những phán quyết và ý kiến của chín vị tiên quânđời trước, loại bỏ các phần trùng lặp và những chỉnh sửa những điều mâu thuẫn, đồng thời cũng khéo léo tránh động chạm đến những điều luật tối thượng của Hồi giáo. Cuối cùng, một bộ luật mới của đế quốc Ottoman mang tên là “Kanun-i Osmani” (Luật Ottoman) ra đời và nó đã tồn tại suốt hơn ba thế kỷ.

    Trong bộ luật, ông đặc biệt chú ý cải thiện đời sống của các rayah (người không theo đạo Hồi), nhất là những rayah theo Ki-tô giáo đang phải làm việc trên lãnh địa của các Siphahi. Phần Kanune Rayah, hay “Luật Rayah” của ông đã điều chỉnh lại các khoản thuế đánh lên các rayah đồng thời cải thiện địa vị xã hội của họ. Theo luật của ông, các rayah này được đối xử tốt hơn trước rất nhiều, đến mức nhiều nông nô ở châu Âu đã sang Thổ Nhĩ Kỳ sống để được làm rayah. Đồng thời Suleiman cũng bảo vệ những người dân theo Do Thái giáo. Khoảng cuối năm 1553 hay 1554, theo sự đề nghị của bác sĩ và nha sĩ Moses Hamon, một người Tây Ban Nha theo Do Thái giáo được sultan sủng ái, Suleiman I đã ra chiếu chỉ tố cáo những tin đồn rằng việc người theo đạo Do Thái hay hiến tế người sống là những tin đồn vô căn cứ. Đồng thời, Suleiman I ban hành những luật lệ mới về hình pháp, quy định mức tiền phạt đối với một số tội đặc biệt, đồng thời bãi bỏ tử hình và hình phạt chặt tứ chi đối với một số tội khác. Ông cũng tiến hành cải cách thuế vụ, đánh thuế trên nhiều sản phẩm đa dạng ví dụ như lương thực, gia súc, mỏ, lợi nhuận từ các hoạt động giao dịch,… Đặc biệt những quan lại phạm tội sẽ bị Sultan tịch thu tài sản và ruộng đất.

    Thế là, trong cuộc tranh giành quyền lực dường như là chủ mưu của Hürrem, Suleiman giết Ibrahim và phong con rể Hürrem là Rüstem Pasha làm Tể tướng. Năm 1552, khi Rüstem làm tổng chỉ huy trong chiến dịch phạt Ba Tư, âm mưu chống Mustafa bắt đầu. Rüstem sai một trong những cận thần của Suleiman báo cáo về triều đình, vì ông không thân chinh, rằng quân sĩ xem đây là thời điểm thích hợp để đưa hoàng tử Mustafa trẻ tuổi lên ngôi; đồng thời Rüstem tuyên truyền rằng Mustafa đã có ý đồ cướp ngôi. Khi nghe tin, Suleiman rất giận dữ vì tin rằng hoàng tử Mustafa muốn làm phản, và đến hè, khi quân Ottoman rút khỏi Ba Tư, ông triệu Mustafa đến lều ông tại thu lũng Ereğli để cho ông “có thể xử lý tội phạm rồi về kinh đô mà không chút lo sợ”.

    Vài tháng sau, Jihangir qua đời, nguyên nhân được cho là do thương tiếc người anh khác mẹ Mustafa. Hai hoàng tử còn sống, Bayezid và Selim, đều là tổng trấn các tỉnh của đế quốc. Tuy nhiên, trong vòng vài năm hai anh em đánh lẫn nhau.[83] Với sự giúp đỡ của quân triều đình, Selim đánh bại Bayezid ở Konya năm 1559, khiến Bayezid cùng bốn người con sang Ba Tư lánh nạn. Suleiman cống cho vua Tahmasp I của Ba Tư một số lượng vàng lớn, đổi lại Tahmasp phải xử tử hoặc trao trả Bayezid. Cuối cùng, năm 1561 Tahmasp cho phép đao phủ Thổ thắt cổ Bayezid và 4 người con, mở đường cho Selim lên ngôi 7 năm sau. Ngày 1 tháng 5 năm 1566, Suleiman rời kinh thành Constantinopolis mà thân chinh đánh Hungary. Đến ngày 5/6 tháng 11 năm 1566, ông đột ngột qua đời trước khi quân Ottoman thắng trận Szigetvár ở Hungary

    Theo Thomas Keightley, Đại đế Suleiman I là vị vua vĩ đại nhất của đế quốc Ottoman. Có người đã so sánh ông – một vị Hoàng đế tài ba trong thời gian chiến tranh và hoà bình – với Charlemagne. Dưới triều ông, quốc gia Ottoman trở thành một trong những cường quốc trên thế giới về mặt diện tích, tài chính và có sực mạnh quân sự vô địch. Các cuộc bành trướng của Suleiman đã giúp đế quốc kiểm soát được nhiều thành phố quan trọng và nổi tiếng của Hồi giáo: Mecca, Medina, Bagdad; phần lớn Bắc Phi và nhiều vùng đất rộng lớn tại bán đảo Balkan (ngày nay là một phần của Hungary, Croatia và Romania). Với việc ông thêm ngôi mộ của nhà tiên tri Muhammad tại Mecca vào Đế quốc của mình, ông đã xưng làm Padishah-i-Islam, tức “Hoàng đế của Hồi giáo”. Các cuộc chinh phạt của ông tại Balkan đã khiến người Thổ Ottoman trở thành một liệt cường đáng gờm trên cán cân quyền lực tại châu Âu. Đại sứ Busbecq đã nhận xét về “mối họa xâm lược của quân Thổ Nhĩ Kỳ” như sau:

    “Về phía người Thổ Nhĩ Kỳ là một nguồn tài nguyên dồi dào của một đế quốc hùng mạnh, có sức mạnh không thể bị suy suyển, bách chiến bách thắng trong chiến tranh, dai sức với gian khổ, thống nhất, kỷ luật, cần kiệm và cẩn mật… Thử đoán xem chuyện gì sẽ xảy ra với chúng ta?… Khi người Thổ Nhĩ Kỳ đã kí hòa ước với Ba Tư thì họ sẽ lao thẳng vào cổ họng chúng ta với toàn bộ sức mạnh Đông phương; thật là một sự kém chuẩn bị mà chúng ta không dám nói…“

    Thành tích của ông không chỉ được thể hiện trên mặt quân sự. Jean de Thévenot – nhà du hành người Pháp trong một thế kỷ sau đã chứng kiến “một nền tảng nông nghiệp vững chắc của đế quốc, đời sống tốt của người nông dân, sự dồi dào của nông sản và sự ưu việt của tổ chức chính quyền nhà Ottoman”. Những cải cách của Đại đế Suleiman I không những đã mang lại cho ông danh hiệu “Nhà làm luật” mà còn góp phần rất lớn cho sự trường tồn của đế quốc Ottoman sau khi Đại đế Suleiman I qua đời, một thành tựu mà “phải mất đến mấy đời vua sa đoạ sau mới phá hoại được”.

    Dưới sự bảo trợ của ông, nghệ thuật, kiến trúc, văn học, triết học và thần học của đế quốc Ottoman cũng đạt đến thời kì hoàng kim. Ngày nay, đường chân trời ở Bosphorus, và nhiều thành phố của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc là từng thuộc đế quốc Ottoman xưa vẫn còn tồn tại những công trình kiến trúc tuyệt đẹp của Mimar Sinan. Một trong số đó là Thánh đường Hồi giáo Süleymaniye chính là nơi an nghỉ cuối cùng của Đại đế Suleiman I và Hürrem Sultan; họ được mai táng ở hai gian phòng khác nhau trong ngôi thánh đường này.

    Ibrahim Pasha

    Pargalı İbrahim Pasha là bạn thời nhỏ của Suleiman. Ibrahim xuất thân trong gia đình theo Chính Thống giáo Hy Lạp; thuở nhỏ được học ở trường học nội cung theo chế độ devshirme. Ibrahim được Sultan coi là người hộ vệ đắc lực, phong làm chỉ huy quân túc vệ Hoàng cung, sau đó được thăng làm Tể tướng năm 1523 và thống lĩnh toàn bộ quân đội. Suleiman cũng trao cho Ibrahim chức Chúa đất của các chúa đất (beylerbey) xứ Rumelia, cho Ibrahim quyền định đoạt tất cả miền đất thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ở châu Âu, cũng như quyền điều động binh lính tại lãnh địa ấy trong thời chiến. Theo nhà chép sử thế kỷ 17, Ibrahim đã yêu cầu Suleiman không trao quá nhiều tự trị cho những vùng đất ấy vì lo sợ như vậy sẽ mất an ninh; ông trả lời rằng dưới quyền cai trị của ông, trong bất cứ trường hợp nào Ibrahim cũng không giờ bị phế bỏ. Vào năm 1524, Ahmed Pasha nổi dậy tại Ai Cập, Ibrahim Pasha đã ra quân đánh bại Ahmed Pasha năm 1525.

    Vốn đế quốc rất rộng lớn nên Sultan khó thể tự mình gánh vác những trách nhiệm lớn, ông tin tưởng vào Ibrahim như thể vào chính ông vậy. Quyền hạn của Ibrahim trở nên gần như ngang bằng với Padishah. Nhưng về sau Ibrahim Pasha cũng đánh mất lòng tin của ông. Trong 13 năm làm Tể tướng, sự thăng tiến nhanh về quyền lực cũng như gia tài đồ sộ đã khiến cho Ibrahim có thêm nhiều kẻ thù trong số các quan triều đình. Bản báo cáo của Ibrahim với Suleiman về cuộc chiến chống Ba Tư cho thấy sự trơ tráo của Ibrahim: trong đó Ibrahim Pasha tự xưng làm serasker sultan, một việc khiến cho Suleiman cảm thấy mình đặc biệt bị sỉ nhục (ở Ba Tư, các quan Tổng đốc có thể được gọi là Sultan nhưng ở Thổ thì danh hiệu chỉ dành riêng cho Suleiman I).

    Sự ngờ vực của Suleiman đối với Ibrahim càng tồi tệ hơn bởi mâu thuẫn giữa Tể tướng với quan “defterdar” (tương đương với Bộ trưởng Tài chính sau này) Iskender Chelebi. Mâu thuẫn này kết thúc với âm mưu ám hại Chelebi, và Ibrahim đã ra sức thuyết phục Suleiman khép viên đại thần này vào tội chết. Tuy nhiên, theo Kinross trong lời nói cuối cùng trước khi bị hành quyết Chelebi đã lên tiếng buộc tội Ibrahim mưu phản, còn tác giả André Cloth cũng cho biết trước khi bị hành quyết, Chelebi lên án Ibrahim cấu kết với người Ba Tư học lật đổ Sultan.

    Chelebi bị xử giảo trong khu chợ ở Bagdad. Theo Cloth, đêm sau đó Sultan nằm mộng thấy một người bất hạnh kêu oan và dọa thắt cổ ông. Sultan hoảng hốt và nhanh chóng nghĩ rằng Chelebi vô tội và Ibrahim đã vu cáo defterdar. Mấy tuần sau Suleiman I nhớ lại những lời tố cáo của Chelebi trước khi chết và thấy rõ sự phản bội của Ibrahim. Vào ngày 15 tháng 3 năm 1536, như thường lệ, Sultan vời Ibrahim đến dùng bữa tối ở Hoàng cung Topkapi. Ông không hề tỏ thái độ nghi kỵ hay bạc đãi quan Tể tướng, mà theo các sử gia bữa ăn đã diễn ra yên tĩnh, như thể vua tôi sẽ gặp nhau vào sáng hôm sau. Ông cũng khuyên Ibrahim ngủ trong căn phòng gần đó, và nói rằng cái nệm thường ngày của Ibrahim đang chờ Tể tướng. Nhưng rồi, sáng hôm sau, cái xác không hồn của Ibrahim được tìm thấy ở cổng Hoàng cung. Người ta không rõ chuyện gì đã xảy ra trong đêm trước, nhưng những vết máu và mảnh áo rách vẫn còn trên tường, chứng tỏ Ibrahim đã chiến đấu dữ dội với các Thái giám điếc được phái tới để giết Tể tướng, buộc họ phải thắt cổ Ibrahim. Gia sản đồ sộ của quan Tể tướng đã bị Triều đình tịch biên.

    (*) thông tin từ trang http://vi.wikipedia.org/

    Chia sẻ:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ưu Nhược Điểm Của Hệ Thống Điều Khiển Khí Nén – Thủy Lực
  • So Sánh Giống Và Khác Nhau Giữa Khí Nén Và Thủy Lực
  • Tìm Hiểu Ưu Và Nhược Điểm So Sánh Hệ Thống Thủy Lực Và Khí Nén
  • So Sánh Người Dùng Intranet Và Extranet
  • Sự Khác Biệt Giữa Internet Intranet Và Extranet (Công Nghệ)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×