Không Thể So Sánh Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây

--- Bài mới hơn ---

  • So Sánh V/hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Văn Hóa Và Phong Tục Mỹ Có Gì Khác Biệt ?
  • Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam
  • Ảnh Hưởng Của Điều Kiện Tự Nhiên Đối Với Văn Hóa Ai Cập Và Lưỡng Hà
  • Lịch Sử Văn Minh Full Hd Không Che
  • Nếu anh Mark tìm hiểu lịch sử Việt Nam về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, anh Mark sẽ hiểu rằng xã hội Việt Nam trong một thời gian dài là chế độ mẫu hệ, trong đó vai trò của người phụ nữ trong gia đình là rất lớn. Điều đó ít nhiều vẫn được duy trì đến ngay nay, với nhiều người phụ nữ Việt Nam có vị trí lớn trong xã hội. Vì thế, khi nói phụ nữ Việt Nam khổ cực thì xin hãy đưa ra những cơ sở để so sánh.

    Về việc phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, tôi xin nói rằng phần nhiều vì muốn mưu cầu một cuộc sống vật chất tốt hơn ở Việt Nam. Ngược lại, không ít đàn ông nước ngoài tìm đến phụ nữ Việt Nam là vì họ không có tiền để lấy vợ bản địa và thấy người phụ nữ Việt Nam có rất nhiều nét truyền thống như phục vụ và biết chiều chuộng họ hơn phụ nữ bản địa. Chẳng hạn như đàn ông Đức rất thích lấy vợ Thái Lan cũng một phần bởi lý do này. Nhưng đó chỉ là một vế của vấn đề tổng thể. Người phụ nữ Việt Nam khi lấy chồng ngoại cũng có rất nhiều cái khổ, chứ cũng không trọn vẹn, ví dụ như bất đồng ngôn ngữ văn hóa, lối sống…

    Về lý do tại sao phụ nữ Việt Nam và châu Á thường theo chồng và nhà chồng, trong cuộc sống phương Tây, tính tự lập của mỗi người là rất lớn, con cái trưởng thành, lập gia đình thường sống riêng và bố mẹ cô quạnh ở trong viện dưỡng lão. Nhưng trong văn hóa phương Đông, chúng tôi sống trong quần thể gia đình lớn và người phụ nữ thường phải theo lề thói chồng và nhà chồng. Đây là điều đương nhiên, không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước Á châu.

    Điều quan trọng ngược lại bù đắp thiếu sót đó của người phụ nữ nằm ở chỗ mức độ “phải” đến đâu, chồng và nhà chồng đối đãi thuận lợi ngược lại nhằm bù đắp với người vợ thế nào. Vì thế, tôi muốn nói rằng văn minh phương Tây ở điểm này không phải là văn minh phương Đông do yếu tố văn hóa và giá trị tinh thần lâu đời. Vì thế, mối quan hệ trong gia đình và giá trị tinh thần ở các nước phương Đông thường cao hơn các nước phương Tây.

    Ngoài ra, ví dụ về ngài thủ tướng Anh cho con bú, xin thưa rằng đàn ông Việt Nam và châu Á có cách thể hiện khác với con cái để thấy rằng nghĩa vụ chăm sóc con cái không phải chỉ riêng ở người phụ nữ. Đồng thời, các nước phương Tây có thể cho rằng phụ nữ hay con cái có quyền bình đẳng ngang với đàn ông, bố mẹ, để có thể đảm bảo rằng chỉ một cái bạt tai nhẹ khi nóng giận là có thể gọi đến cảnh sát thì đó là cái nhìn quá trần trụi, phá vỡ quy tắc đạo lý trong gia đình.

    Tôi đưa ra quan điểm đó để nhấn mạnh rằng đàn ông không phải có quyền muốn làm gì cũng được, nhưng cũng không thể có chuyện con cái, phụ nữ muốn thế nào cũng được theo ý thích của mình. Đó là lý do tại sao trong nhà phải có nóc, trên dưới trật tự. Nếu như vợ anh “ghét” và muốn mọi thứ theo ý thích của mình thì đó không còn là cuộc sống gia đình mà là cuộc sống của những cá nhân tự do với nhau.

    Trong hầu hết văn hóa phương Tây, người phụ nữ có vị thế rất lớn. Điều đó có được gắn liền với quá trình phát triển nền văn minh và tranh đấu quyền bình đẳng của nữ giới trong lâu dài. Đó là điều chúng tôi cũng muốn nhưng cũng không có thể thực hiện ngay được trong ngắn hạn do còn bị ràng buộc bởi các yếu tố văn hóa, lối sống, suy nghĩ, quan điểm, nhìn nhận và sự phát triển chung của xã hội.

    Về quan điểm nếu người vợ cũng có con với chồng cũ, tôi không có ý kiến vì điều đó tùy nhìn nhận của mỗi người đàn ông. Đó là bởi vì đàn ông và phụ nữ do yếu tố sinh và tự nhiên cần có những vị trí khác nhau. Điều này lý giải đàn ông thường phải có trách nhiệm nhiều hơn trong việc kiếm tiền cho gia đình, ra chiến trường khi có chiến tranh nên rõ ràng trách nhiệm lớn hơn. Khi người phụ nữ cũng làm được như thế thì sự so sánh sẽ đem lại một câu trả lời giống nhau.

    Với nhìn nhận như thế, sẽ thật là khiên cưỡng khi so sánh phụ nữ, đàn ông Việt Nam với nước ngoài do tồn tại nhiều sự khác biệt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Iphone 6S Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Iphone 6 Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Đánh Giá So Sánh Iphone 6 Và 6S
  • So Sánh Iphone 6S Plus Và Iphone 7, Cái Nào Vượt Trội Hơn Hẳn?
  • So Sánh Iphone 6S Và 6S Plus: Cùng Mức Giá Nên Chọn Loại Nào?
  • So Sánh Văn Hóa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Khám Phá Sự Khác Biệt Giữa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Phân Tích Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Đông Và Văn Hóa Doanh Nghiệp Phương Tây
  • Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa Phương Đông Và Văn Hóa Phương Tây Và Ảnh Hưởng Của Chúng Đến Hành Vi Con Người Trong Tổ Chức
  • 5 Điều Khác Biệt Về Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Các Nước Phương Tây (Phần 1)
  • Trong khi người phương Tây dùng dao-nĩa-thìa để ăn thì người phương Đông lại dùng đũa; nếu phương Tây chuộng thịt trong bữa ăn chính thì phương Đông lại không thể thiếu cơm;… Tuy nhiên, dù là văn hóa ẩm thực của quốc gia nào, thì cả người phương Đông và phương Tây đều có xu hướng chung, đó là quây quần bên gia đình và người thân.

    Ảnh nguồn Internet

    ►Bản so sánh văn hóa ẩm thực phương Đông và phương Tây

    • Đa dạng trong sự kết hợp các thành phần nguyên liệu phổ biến, có sự tương đồng về vị
    • Hạt nêm, muối, đường, nước mắm,… là những gia vị được sử dụng nhiều nhất
    • Bữa ăn thường kèm theo nước mắm/ nước tương để chấm, có thể dùng chung cho tất cả món ăn
    • Luôn luôn kết hợp các thành phần nguyên liệu có hơi hướng mâu thuẫn và tránh ghép nối những thứ có hương vị tương tự
    • Bơ, sữa, trứng là những thành phần kết hợp được sử dụng nhiều nhất
    • Ăn kèm theo nước sốt, mỗi món ăn sẽ có một loại nước sốt riêng biệt

      “Quan niệm ẩm thực thẩm mỹ”: đánh giá món ăn bằng màu sắc, hương vị, hình thức, bát đĩa, ưu tiên tính ngon miệng, ít quan tâm đến chất lượng dinh dưỡng

      “Quan niệm ẩm thực lý tính”: ít quan tâm đến mùi vị, màu sắc, hình thức ra sao, chỉ chú trọng hàm lượng dinh dưỡng trong đó cung cấp cho một bữa ăn

    • Dùng đũa là chủ yếu
    • Ăn chung theo mâm, tức là món ăn được đựng chung trong một tô/ âu/ nồi lớn, những người trong bàn sẽ dùng vá/ thìa để lấy thức ăn vào chén của mình
    • Thường nói chuyện trong bữa ăn, tạo sự gần gũi, vui vẻ và thân mật
    • Ăn nhẹ nhàng, từ tốn, tránh phát ra tiếng động; tuy nhiên, với một số món ăn tại một số quốc gia, việc bạn ăn và phát ra tiếng động càng lớn thể hiện món ăn đó càng ngon và hành động này thể hiện sự biết ơn đầu bếp.
    • Một bộ dụng cụ gồm đôi đũa-cái thìa có thể được sử dụng cho toàn bộ bữa ăn (trừ món tráng miệng)
    • Chỉ dùng dao-thìa-nĩa
    • Ăn riêng theo từng phần
    • Tuyệt đối không nói chuyện trong khi ăn, tránh gây mất lịch sự, khiếm nhã
    • Ăn thật khéo léo, gọn gàng, không phát ra tiếng động, tuân thủ nghiêm ngặt những quy tắc về cách dùng dao-nĩa-thìa, khăn ăn, đồ uống,…
    • Mỗi món ăn sẽ yêu cầu một bộ dụng cụ ăn khác nhau và đảm bảo phù hợp với món ăn đó

    Nhiều điểm khác biệt là thế, cứ ngỡ văn hóa ẩm thực phương Đông và phương Tây khó mà kết hợp với nhau để tạo nên “tiếng nói chung” trong thế giới ẩm thực đầy sắc màu. Vậy mà, khi thử kết hợp những gì độc đáo nhất của 2 “thái cực” ẩm thực này với nhau, các đầu bếp đã tạo nên những món ăn vô cùng hài hòa, vừa mang tính thẩm mỹ, nghệ thuật, lại vẫn có nét truyền thống riêng mà vô cùng phóng khoáng.

    Ảnh nguồn Internet

    Sự kết hợp giao lưu văn hóa ẩm thực có vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện hội nhập, kết nối giữa các quốc gia và khu vực; giúp quảng bá những nét đẹp truyền thống của quốc gia đó đến gần hơn với bạn bè quốc tế; mở rộng quan hệ, làm giàu thêm tình hữu nghị giữa các quốc gia.

    Ms. Smile

    --- Bài cũ hơn ---

  • 20 Bức Ảnh Nhìn Mỏi Mắt Không Thấy Điểm Chung Giữa Văn Hóa Đông
  • Sơ Lược Về Thị Trường Sơ Cấp Và Thị Trường Thứ Cấp
  • Phân Biệt Lãnh Đạo Và Quản Lý
  • Bài Tập Kinh Tế Vĩ Mô (Có Đáp Án)
  • Phân Biệt Kinh Tế Vi Mô Và Kinh Tế Vĩ Mô
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Triết Học Phương Đông Và Triết Học Phương Tây Thời Cổ Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Cho Tôi Biết Những Sự Khác Nhau Giữa Nền Văn Minh Phương Đông Và Nền Văn Minh Phương Tây?
  • Khám Phá Sự Khác Biệt Đặc Trưng Giữa Ẩm Thực Phương Tây Và Phương Đông Để Thấu Hiểu Thực Khách
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Tấm Pin Điện Năng Lượng Mặt Trời Mono Và Poly
  • Sự Khác Nhau Giữa Quảng Cáo Và Pr
  • Protein Dạng Sợi Là Gì? Phân Loại, Tính Chất Và Cấu Trúc Của Protein
  • MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài:

    Triết học ra đời vào khoảng thế kỉ thứ XIII – VI trước công nguyên do

    kết quả của sự tách biệt giữa lao động trí óc và chân tây và do tư duy nhân

    loại đã phát triển ở trình độ cao – trình độ hệ thống hoá, khái quát hoá, trừu

    tượng hoá. Sự ra đời của triết học gắn liền với sự ra đời của các nền văn minh

    cổ đại như Trung Quốc, Ấn Độ ở phương Đông, Hy Lạp ở phương Tây. Đây

    được coi là nhũng cái nôi của triết học nhân loại. Nhìn chung, dù ở phương

    Đông hay phương Tây, triết học cổ đại đều được coi là đỉnh cao của trí tuệ, là

    sự hiểu biết, sự nhận thức chung của con người về thế giới.

    Đại diện tiêu biểu cho triết học phương Đông cổ đại là triết học Trung

    Quốc và Ấn Độ cổ đại. Đây đồng thời là chiếc nôi cho sự phát triển triết học ở

    cả phương Đông và phương Tây. Trong quá trình đi sâu giải quyết vấn đề cơ

    bản của triết học, triết học phương Đông đặt trọng tâm nghiên cứu những vấn

    đề chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, vấn đề con người và xây dựng con

    người, xây dựng một xã hội lý tưởng và con đường trị quốc.

    Bên cạnh đó, ở phương Tây thời cổ đại với nền triết học Hy Lạp cổ đại

    từ khi ra đời đã đạt những thành tựu rực rỡ và sau này được các triết gia đánh

    giá rất cao Ăngghen đã nhận xét: “Từ các hình thức muôn vẻ của triết học Hy

    Lạp, đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau

    này” (C.Mac và Ph.Ăngghen Toàn tập, Nxb CTQGHN, 1994, tập 20, tr491).

    Triết học Hy Lạp cổ đại chủ yếu bàn về các vấn đề bản thể luận, nhận thức

    luận, đề cao con người và coi con người là chủ thể, chinh phục tự nhiên và

    làm chủ tự nhiên.

    Như vậy, có thể thấy triết học phương Đông và phương Tây cổ đại đều

    mang những nét chung nhất định của triết học thời cổ đại. Nhưng bên cạnh

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    2

    đó, da rất nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là nguyên nhân kinh tế, xã

    hội nên giữa triết học phương Đông và phương tây cổ đại cũng có những nét

    rất khác biệt rất rõ về đối tượng, qui mô, tư tưởng về nhận thức, tư tưởng biện

    chứng, vấn đề con người, sự phân chia các trường phái triết học và tiến trình

    phát triển, hệ thống thuật ngữ. Sự khác biệt trong triết học tạo cơ sở cho

    những khác biệt trong xã hội, văn hoá của phương Đông và phương Tây.

    Xuất phát từ những lí do nêu trên nên em đã chọn đề tài: “So sánh sự

    khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây thời cổ đại”

    làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.

    2. Thực trạng đề tài:

    Triết học phương Đông và triết học phương Tây ra đời gần như cùng

    thời điểm, nhưng giữa chúng có những sự khác nhau căn bản. Những khác

    biệt này bắt nguồn từ sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử

    văn hóa, xã hội; sự khác nhau về quan niệm sống, cách sống của người

    phương đông và phương tây…

    Việc tìm hiểu sự khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học

    phương Tây thời cổ đại cũng đã được đề cập ở các mức độ và quy mô khác

    nhau. Vì vậy đề tài chỉ tập trung vào phân tích, so sánh sự khác nhau giữa hai

    nền triết học ở một số khía cạnh: đối tượng, qui mô, tư tưởng về nhận thức, tư

    tưởng biện chứng, vấn đề con người, sự phân chia các trường phái triết học và

    tiến trình phát triển, hệ thống thuật ngữ.

    3. Mục đích nghiên cứu:

    Đề tài nhằm mục đích so sánh để tìm ra những điểm khác nhau giữa

    triết học phương Đông và phương Tây cổ đại. Nhằm giúp chúng ta hình dung

    được rõ nét bộ mặt của hai nền triết học được xem như là cái nôi triết học

    nhân loại, đồng thời chỉ ra được mặt tích cực, hạn chế, một quan hệ giữa triết

    học phương Đông và phương Tây, đánh giá thoả đáng vị trí của chúng trong

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    3

    lịch sử triết học. Qua đó, hình thành cho ta phương pháp luận và nhận thức

    đúng đắn khi nghiên cứu về lịch sử triết học. Do vậy, đây cũng chính là vấn

    đề được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu.

    4. Phương pháp nghiên cứu:

    Để nghiên cứu vấn đề này một cách sâu sắc và toàn diện, em đã sử

    dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát, so sánh dựa trên lập trường

    của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học

    Mác – Lênin.

    5. Kết cấu tiểu luận:

    Trong khuôn khổ của một bài tiểu luân, với mục đích khái quát nhất

    vấn đề thấy rỗ được điểm khác biệt giữa triết học phương Đông và phương

    Tây cổ đại, ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của tiểu luận được

    em trình bày theo hai ý chính như sau:

    1. Khái quát chung về triết học phương Đông và phương Tây.

    2. Những điểm khác nhau giữa triết học phương Đông và phương Tây

    thời cổ đại.

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    4

    NỘI DUNG

    Chương 1:

    KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

    Từ xa xưa, con người đã muốn khám phá về thế giới và bản thân mình.

    Khi khoa học còn chưa phát triển và trí tuệ con người còn hạn chế, công cụ để

    nhận thức thế giới của họ lúc đầu là huyền thoại và thần thoại, tức là giải tích

    các hiện tượng tự nhiên bằng các yếu tố thần thoại. Nhưng từ khi xã hội

    chiếm hữu nô lệ ra đời thay thế xã hội nguyên thủy, sự giải thích thế giới bằng

    huyền thoại, thần thoại không còn đáp ứng nhu cầu hiểu biết ngày càng cao

    của con người. Một công cụ nhận thức mới của loài người xuất hiện, đó là

    triết học.

    Triết học ra đời vào khoảng thế kỉ VIII – VI trước Công nguyên gắn

    liền với sự ra đời của các nền văn minh cổ đại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy

    Lạp. Đó là kết quả của sự tách biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay,

    cùng với sự phát triển ở trình độ cao (trình độ hệ thống hoá, khái quát hoá,

    trừu tượng hoá) của tư duy nhân loại.

    Có rất nhiều quan niệm khác nhau về triết học. “Triết” theo nghĩa chữ

    Hán là trí – sự hiểu biết của con người, là truy tìm bản chất của đối tượng

    trong quá trình nhận thức thế giới. “Triết” theo nghĩa tiếng Ấn Độ là

    “Darshna”, là sự suy ngẫm con đường đến chân lí, là sự hiểu biết nói chung

    “Triết học” theo tiếng Hy Lạp là “Philosophya” – sự ham mê hiểu biết cộng

    với sự thông thái. Như vậy, dù là Trung Quốc, Ấn Độ hay Hy Lạp, dù ở

    phương Đông hay phương Tây, triết học thời cổ đại đều có nghĩa là sự hiểu

    biết chung, sự nhận thức chung của con người về thế giới.

    Do nghiên cứu những qui luật chung nhất của thế giới nên triết học với

    tư cách là một khoa học đề cập tới nhiều vấn đề. Trong những vấn đề ấy, nổi

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    5

    lên vấn đề cơ bản là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Vấn đề cơ bản của

    triết học có hai mặt. Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi giữa tư duy với tồn tại, giữa ý

    thức với vật chất, giữa tinh thần và tự nhiên thì cái nào có trước cái nào có

    sau; và cái nào có vai trò quyết định đối với cái nào? Mặt thứ hai trả lời câu

    hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Trong lịch sử

    triết học, có rất nhiều quan điểm khác nhau, thậm trí đối lập nhau khi giải

    quyết vấn đề cơ bản của triết học. Đây chính là tiêu chuẩn để phân biệt lập

    trường tư tưởng của các nhà triết học, hình thành nên các trường phái triết học

    khác nhau. Đi sâu giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, các nhà triết học

    phương Đông và phương Tây thời cổ đại có nhiều quan điểm không giống

    nhau. Điều này đã một phần tạo nên sự khác biệt giữa triết học phương Đông

    và phương Tây nói chung và thời cổ đại nói riêng.

    Dù lịch sử triết học là quá trình hình thành, biến đổi, tác động và ảnh

    hưởng lẫn nhau giữa các trào lưu, tư tưởng triết học nhưng nó có tính quy

    luật. Sự hình thành và phát triển triết học có những đặc điểm chung như sau:

    Thứ nhất, tư tưởng triết học là một hình thái ý thức xã hội được hình

    thành và phát triển trên cơ sở kinh tế – xã hội trong một giai đoạn lịch sử xã

    hội nhất định là sự phản ánh của tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại

    xã hội. Như vậy, sự phát triển của lịch sử triết học gắn liền với điều kiện tự

    nhiên, kinh tế – xã hội, gắn với sự biến đổi, thay thế nhau giữa các chế độ xã

    hội… Điều này hình thành nên tính giai cấp trong triết học. Từ đó, tạo nên sự

    khác nhau giữa các trào lưu, tư tưởng triết học, giữa triết học phương Đông và

    phương Tây.

    Thứ hai, lịch sử triết học là quá trình thống nhất và đấu tranh của hai

    trường phái triết học duy vật và duy tâm, hai phương pháp biện chứng và siêu

    hình.

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    6

    Thứ ba, lịch sử triết học luôn gắn bó chặt chẽ không thể tách rời với các

    thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội cùng với các thành tựu khoa

    học tự nhiên và khoa học xã hội cùng sự thâm nhập tác động, ảnh hưởng lẫn

    nhau giữa các trào lưu, tư tưởng triết học cùng sự tác động của các hình thái ý

    thức xã hội khác như: Tôn giáo, chính trị, nghệ thuật, văn hoá,…

    Thứ tư, chiến tranh là một tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến sự biến

    đổi của tư tưởng triết học.

    * Tóm lại:

    Triết học là một khoa học bao gồm hệ thống tri thức lí luận chung nhất

    về thế giới của con người và vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó.

    Triết học là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự qui

    định của tồn tại xã hội. Đồng thời, triết học là một yếu tố của kiến trúc thượng

    tầng, là sự phản ánh cơ sở hạ tầng, chịu sự qui định của cơ sở hạ tầng. Đây

    cũng là nét chung của triết học mọi thời đại cũng như triết học phương Đông

    và triết học phương Tây cổ đại.

    Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, văn hoá, bối cảnh

    lịch sử, khác nhau nên triết học phương Đông và phương Tây cổ đại có những

    nét đặc thù, riêng biệt, tạo nên thiên hướng riêng của nó. Dựa vào phần khái

    quát chung làm cơ sở nền tảng, sự khác nhau giữa triết học phương Đông và

    triết học phương Tây thời cổ đại được phân tích cụ thể ở mục tiếp theo.

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    7

    Chương 2:

    NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG

    VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY THỜI CỔ ĐẠI

    2.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế- xã hội của phương Đông và

    phương Tây thời cổ đại.

    Triết học là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu

    sự chi phối của tồn tại xã hội. Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã

    hội và văn hoá của phương Đông và phương Tây chính la cơ sở qui định sự

    khác biệt giữa triết học phương Đông và triết học phương Đông và phương

    Tây.

    2.1.1. Về điều kiện tự nhiên.

    Phương Đông là một vùng đất rộng lớn, có điều kiện tự nhiên hết sức

    đa dạng và phong phú. Địa hình với nhiều dãy núi, cao nguyên đồ sộ và

    những đồng bằng ruộng lớn khí hậu giữa các vùng miền rất khác nhau, nhưng

    đặc điểm chung là nóng ấm với nhiệt độ cao, số giờ nắng lớn và lượng mưa

    dồi dào. Đây cũng là khu vực chảy qua của rất nhiều các dòng sông lớn như

    Trưởng Giang, Hoàng Hà, Ấn, Hằng,… đã bồi đắp nên những đồng bằng

    châu thổ hết sức màu mỡ. Trong khi đó phương Tây là vùng đất giáp biển,

    bao gồm nhiều bán đảo, đảo và quần đảo. Khí hậu có sự phân mùa ro rệt, có

    một mùa đông lạnh giá có băng tuyết rơi. Đồng bằng khá rộng lớn nhưng chủ

    yếu có nguồn gốc hình thành từ băng hà, vì vậy không màu mỡ bằng đồng

    bằng ở phương Đông.

    Điều kiện tự nhiên khác nhau đã qui định các hoạt động sản xuất khác

    nhau của dân cư phương Đông và phương Tây. Phương Đông và những đồng

    bằng màu mỡ và khí hậu nóng ẩm là điều kiện thuận lợi phát triển nông

    nghiệp, chủ yếu là trồng trọt. Trong khi đó, ở phương Tây, chăn nuôi, thủ

    công nghiệp và thương nghiệp, đặc biệt là hàng hải là nghề chính Kinh tế

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    8

    nông nghiệp buộc con người phải định cư, gắn liền với ruộng vườn. Còn kinh

    tế thủ công nghiệp, thương nghiệp và chăn nuôi cho phép con người có thể

    nay đây mai đó. Chính vì vậy, dẫn đến tâm lí của người phương Đông luôn

    muốn sống hoà hợp với tự nhiên. Ngược lại, người phương Tây luôn có tâm lí

    làm chủ tự nhiên, muốn chinh phục tự nhiên và khám phá những vùng đất

    mới.

    2.1.2.Về kinh tế – xã hội.

    Ở phương Đông là thời kì chuyển biến từ chế độ chiến hữu nô lệ sang

    chế độ phong kiến. Kết cấu kinh tế – xã hội theo mô hình công xả nông thôn

    và phương thức sản xuất kinh tế – xã hội châu Á tồn tại từ rất sớm. Trong xã

    hội, sự phân chia giai cấp diễn ra mạnh mẽ. Hình thức sở hữu ruộng đất và

    những biến động mạnh trong kết cấu giai tầng xã hội đã đẩy mâu thuẫn xã hội

    phát triển gay gắt. Sự tranh giành địa vị xã hội của các thế lực đã đẩy các

    nước phương Đông cổ đại vào những cuộc chiến tranh khốc liệy triền miên,

    tiêu biểu là ở Trung Quốc. Đây là những biến động tất yếu của thời kì lịch sử

    đang trong giia đoạn đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ gia trưởng chuyển sang xã

    hội phong kiến. Trong tình hình đó, một loạt học thuyết chính trị – xã hội và

    triết học đã xuất hiện và hầu hết giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị xã

    hội. Điêu này trở thành nét đặc trưng chủ yếu của triết học Trung Quốc cổ

    đại. Vì vậy, triết học Trung Quốc cổ đại còn có tên gọi khác là triết học chính

    trị. Mặt khác, nét nổi bật trong văn hoá phương Đông, đặc biệt là Ấn Độ, là

    thường mang dấu ấn sâu đậm về mặt tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh và có các

    yếu tố thần bí. Vì vậy, triết học Ấn Độ cổ đại thường được thể hiện dưới hình

    thứuc tôn giáo và những tư tưởng tôn giáo cũng chứa đựng trong triết học.

    Triết học quan tâm nhiều đến vấn đề tâm linh va giải thoát con người trong

    lĩnh vực, tinh thần, tư tưởng. Vì vậy, triết học Ấn Độ cổ đại được coi là triết

    học tôn giáo.

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    9

    Còn Thống trị ở phương Tây cổ đại là phương thức sản xuất chiến hữu

    nô lệ cao hơn, đầy đủ hơn phương Đông. Đây là giai đoạn có sự phân chia hết

    sức sạch ròi giữa lao động trí óc và lao động chân tay trong xã hội. Nhu cầu

    thực tiễn của nền kinh tế chủ nô, nhất là nhu cầu phát triển thương mại và

    hàng hải đã quyết định sự phát triển những tri thức về thiên văn, khí tượng,

    toán học, vật lí học. Những tri thức này ở trạng thái sơ khai được trình bày

    trong hệ thống triết học tư nhiên của các nhà triết học cổ đại phương Tây. Các

    nhà triết học đồng thời là những nhà khoa học tự nhiên. Khoa học lúc đó chưa

    phân ngành, nhà triết học đồng thời là nhà toán học, vật lí học, thiên văn học,

    … Triết học phương Tây cổ đại ngay từ khi ra đời đã gắn với khoa học tự

    nhiên. Đây là cơ sở thuận lợi để triết học phương Tây cổ đại đi sâu giải quyết

    những vấn đề bản thể luận và nhận thức luận triết học. Vì vậy triết học

    phương Tây cổ đại, tiêu biểu là triết học Hy Lạp, còn được gọi là triết học tự

    nhiên.

    * Tóm lại:

    Sự khác biệt về tự nhiên, kinh tế – xã hội đã qui định những đặc điểm

    riêng biệt trong triết học phương Đông và triết học phương Tây cổ đại. Điều

    đó lí giải tại sao, dù hình thành và phát triển cùng một thời kì, cùng tuần theo

    những qui luật chung nhưng người ta lại đặt cho các địa diện của triết học

    phương Tây và triết học phương Tây cổ đại những tên gọi khác nhau: Triết

    học Trung Quốc- triết học Chính trị- triết học Ấn Độ- triết học tôn giáo, triết

    học Hy Lạp- triết học tự nhiên. Sự khác biệt này chính là nguồn gốc sâu sa

    của những điểm khác nhau trong triết học phương Đông và triết học phương

    Tây cổ đại.

    2.2. Đối tượng và qui mô

    2.2.1. Đối tượng

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    10

    Từ khi ra đời, triết học đã tồn tại va phát triển cùng với sự phát triển

    của lịch sử loài người. Dù đa dạng về quan điểm, phong phú về các trào lưu

    nhưng triết học đều thống nhất bao gồm hai phần: triết lý bản thế (sự giải

    thích về thế giới) và triết lý nhân sinh (quan điểm, tư tưởng về con người,

    cuộc sống va hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống). Như vậy, các

    nhà triết học thời cổ đại đều quan tâm nghiên cứu các vấn đề cơ bản như: bản

    nguyên thế giới, vấn đề chính trị – xã hội và đạo đức,… Tuy nhiên, mỗi một

    nền triết học lại quan tâm đến một vấn đề nổi trội nào đó.

    Ở phương Đông cổ đại, đối tượng của triết học chủ yếu là những vấn đề

    chính trị, đạo đức, xã hội và tôn giáo. Trong đó, lấy xã hội, cá nhân làm gốc là

    tâm điểm để nhìn xung quanh. Do vậy, xu hướng là hướng nội, lấy trong để

    giải thích ngoài, hay còn gọi là đi từ ngọn xuống gốc, từ nhân sinh quan, vấn

    đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận.

    Chính vì vậy, các hệ thống triết học Trung Quốc cổ đại thường được

    thể hiện dưới dạng các học thuyết chính trị – xã hội. Mặc dù các triết gia Trun

    Quốc cổ đại cũng có những lí giải khá sâu sắc về những vấn đề bản thể luận

    như: quan diểm về “đạo” của Lão Tử, học thuyết Âm Duowng, ngũ hành…

    Trong quan niệm của Lão Tử, đạo hiểu như là bản quyền của thế giới, là cội

    nguồn sinh ra vũ trụ trời đất vạn vật. Đó là lực lượng vật chất vô cùng rộng

    lớn, vận động không ngừng. Từ đó mà sinh ra trời đất, con người, vạn vật. Và

    vạn vật luôn ở trong quá trình sinh thành, biến đổi và tiêu vòng. Theo học

    thuyết Âm – Dương thì hai thế lực Âm và Dương là khởi nguyên của mọi

    hình thành, biến hoá vạn vật trong vũ trụ. Âm – Dương vừa đối lập vừa gắn

    kết và luôn vận động không ngừng, dẫn đến sự sự biến đổi tàn lụi, tiêu vong,

    sinh trưởng,… của vạn vật. Hay học thuyết ngũ hành thì cho rằng: Kim, Mộc,

    Thuỷ, Hoả, Thổ là năm yếu tố vật chất mang tính khởi nguyên của thế giới va

    luôn ở trạng thái động… Các lí giải này đều phản ánh thế giới quan duy vật tự

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    11

    phát và tính biến chứng sơ khai về thế giới. Nhưng mối quan tâm chủ yếu của

    họ vẫn la việc lí giải những vấn đề mà thực tiễn xã hội đặt ra như: giải thích

    nguyên nhân của xã hội loại, xâu dựng một xã hội lý tưởng, tìm ra con đường

    để trị nước.

    Tư tưởng về xã hội lý tưởng điển hình là tư tưởng về một xã hội đại

    đồng của khổng Tử. Đặc trưng cơ bản của xã hội này la thái bình ổn định, có

    trật tự kỷ cương, mọi người được chăm sóc bình đẳng và mọi cái đều la của

    chung. Đó la xã hội có đời sống vật chất đầy đủ, có quan hệ người với người

    tốt đẹp; là xã hội có giáo dục, mọi người trong xã hội được giáo hoá. Ông cho

    răng, muốn có được xã hội ấy, phải lấy giáo dục làm cốt yếu. Chỉ cần lấy

    hiếu, để lam gốc, từ một nhà nhân hậu, làm cho cả nước nhân hậu. Xã hội mà

    Khổng Tử mong muốn là xã hội của quá khứ, một xã hội có nền tảng kinh tế

    của nó đã thay đổi chế độ công hữu với phép tính điền của nhà thu không còn

    giá trị thực tế nữa, trong khi đó, chế độ tư hữu ngày càng phát triển. Những

    lời răn dạy của Khổng Tử không còn hiệu quả trong đời sống, trở thành

    chướng ngại cho sự phát triển.

    Về đường lối trị nước, ở Trung Quốc cổ đại có nhiều thuyết về cai trị

    đất nước, song có hai thuyết lớn hơn cả là thuyết nhân trị và thuyết pháp trị.

    Thuyết nhân trị phát sinh từ học phái Nho giáo được hiểu là sự cai trị

    đất nước đặt trên cơ sở bản thân nhà cầm quyền. Thuyết nhân trị còn được

    hiểu là cách cai trị, theo đó, nhà cầm quyền phải lấy đạo đức mà giáo hoá, dẫn

    dắt dân chúng chứ không phải dùng đến cưỡng chế, trừng phạt. Vai trò của

    đạo đức theo Nho giáo là phương tiện chủ yếu để cai trị đất nước; là điều kiện

    quan trọng để hình thành và hoàn thiện con người, góp phần củng cố và duy

    trì trật tự xã hội. Biện pháp cơ bản để thực hiện nhân trị, là chính danh, lễ, vai

    trò tài đức của người cầm quyền và vai trò của dân với ý nghĩa là gốc, là nền

    tảng của chính trị.

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    12

    Thuyết pháp trị chủ trương lấy pháp luật làm căn bản trong việc cai trị.

    Những người theo học thuyết này cho rằng, bản tính con người là yếu kém, dễ

    sai lầm nên phải dựa vào pháp luật. Khác với thuyết nhân trị, pháp trị chủ

    trương nhà cầm quyền không phải chú trọng nhiều đến việc tu thân mà cốt là

    đặt ra luật pháp cho rõ ràng và ban bố cho mọi người cũng biết để tuân theo

    nghiêm chỉnh.

    Cùng xác định đối tượng chủ yếu là những vấn đề chính trị, đạo đức,

    xã hội và tôn giáo, triết học Ấn Độ cổ đại đã tập trung vào lí giải vấn đề

    then chốt nhất, cơ bản nhất, là bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc

    nỗi khổ của con người và con đường cách thức giải thoát cho con người

    khỏi bề khổ cuộc đời. Để đạt tới giải thoát, con người phải dày công tu

    luyện hành động đạo đức theo giới luật, tu luyện trí tuệ, trực giác thực

    nghiệm tâm linh, chiêm nghiệm nội tâm lâu dài. Đạt tới sự giải thoát, vượt

    ra khỏi sự ràng buộc của thế tục, hoàn toàn tự do, tự tại.

    Khác với tư tưởng triết học ở phương Đông cổ đại, vấn đề bản nguyên

    thế giới luôn chiếm một vị trí quan trọng trong các hệ thống triết học phương

    Tây từ trước tới nay, đặc biệt là triết học Hy Lạp cổ đại. Ngay từ khi mới ra

    đời, triết học Hy Lạp cổ đại đã rất quan tâm đến việc đi sâu giải quyết những

    vấn đề bản thể luận (giải thích nguồn gốc, ban chất, cấu trúc của thế giới) và

    nhận thức luận triết học (khả năng nhận thức thế giới của con người), đồng

    thời có những điểm khác với các nền triết học khác cùng thời.

    Quan điểm về bản nguyên đầu tiên là cái đơn nhất được hình thành ở

    trường phái Milê. Các đại biểu của trường phái này đều coi bản nguyên của

    thế giới là một cái đơn nhất: nước (Talét), không khí (Anaximen), Qpeirôn

    (Anaxinmanđrơ). Cơ sở đều hình thành quan điểm của họ là sựt thống nhất

    vật chất. Khởi nguyên đầu tiên đó được xem xét dưới dạng một cái đơn nhất

    và với tư cách là một sự vật hoàn toàn cụ thể.

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    13

    Quan điểm bản nguyên đầu tiên với tư cách là cái đặc thù đã xuất hiện

    trong trường phái “các nhà triết học tự nhiên thế kỷ V trước Công nguyên”.

    Anaxago cho rằng bản nguyên đầu tiên của thế giới là những phần nhỏ bé,

    siêu cảm giác không nhìn thấy được của nước, đất, khí, lửa, gọi là mầm sống,

    là hạt giống của muôn vật. Những hạt giống ấy có những kết hợp khác nhau

    tạo thành mọi vật đang tồn tại. Động lực quyết định sự kết hợp và tách biệt

    của các hạt giống là Nuxơ (trí tuệ vũ trụ). Êmpêđôclơ cho rằng khởi nguyên

    thế giới vật chất là một số yếu tố xác định, có chất lượng khác nhau. Đó chính

    là đất, nước, lửa và không khí. Những yếu tố đó luôn vận động, nguyên nhân

    của sự vận động là do sự tác động qua lại của hai lực “tình yêu” và “hận thù”.

    Quan điểm bản nguyên la cái phổ biến xuất hiện trong trường phái

    nguyên tử luận (thế kỷ V – IV trước Công nguyên) Đênôcrit thừa nhận

    nguyên tử (tồn tại) và chân không (không tồn tại) là những bản nguyên thế

    giới luôn đối lập nhau. Nguyên tử là một yếu tố vật chất có tính quy định và

    tính tích cực nội tại, luôn vận động trong chân không vô tận. Nguyên tử vận

    động va chạm vào nhau, đẩy nhau rồi xoắn lấy nhau, tan hợp, hợp tan theo

    những trình tự nhất định. Vận động của từng nguyên tử trong chân không tuân

    theo quy luật khách quan định hình nên một vũ trị sinh động và biến hoá.

    * Tóm lại:

    Đối tượng của triết học phương Đông cổ đại chủ yếu là xã hội, chính

    trị, đạo đức và tôn giáo, trong đó lấ con người, xã hội làm tâm điểm để nhìn

    xung quanh. Vì vậy, nếu như triết học Ấn Độ cổ đại luôn lí giải và thực hành

    những vấn đề nhân sinh quan ấy dưới góc độ tâm lính tôn giáo nhằm đạt tới

    sự giải thoát thì triết học Trung Quốc cổ đại lại giải đáp những vấn đề thực

    tiễn xã hội đặt ra bằng các học thuyết chính trị – xã hội. Việc quá tập trung

    chú ý đến những vấn đề giải thoát, đạo làm người mà ít chú ý đến những vấn

    đề triết học tự nhiên đã là nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển về nhận

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    14

    thức luận và sự lạc hậu về khoa học thực chứng của người phương Đông cổ

    đại.

    Trong khi đó, đối tượng của triết học phương Tây cổ đại rất rộng lớn,

    bao gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội và tư duy, mà gốc là tự nhiên. Việc các nhà

    triết học Hy Lạp cổ đại có xu hướng đi sâu giải quyết những vấn đề bản thể

    luận và nhận thức luận được lí giải bởi sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự

    nhiên. Các nhà triết học cũng đồng thời là những nhà khoa học tự nhiên. Khoa

    học lúc đó chưa phân ngành, nhà triết học đồng thời là nhà toán học, vật lí

    học, thiên văn học,… khác với các nhà triết học phương Đông cổ đại thường

    là chính trị, nhà giáo dục,.. Sự gắn liền triết học với khoa học tự nhiên của

    triết học Hy Lạp cổ đại chính là nguồn gốc sự khác biệt trong đối tượng hai

    nền triết học phương Đông và triết học phương Tây cổ đại.

    2.2.2. Qui mô

    Ở phương Đông cổ đại, những tư tưởng triết học ít khi tồn tại dưới

    dạng thuần tuý mà thường đan xen với các hình thái ý thức xã hội khác. Cái

    này lấy cái kia làm chỗ dựa và điều kiện để tồn tại và phát triển cho nên ít có

    những triết gia với những tác phẩm triết học độc lập. Nói chung, triết học

    phương Đông cổ đại thường ẩn giấu đằng sau các khoa học khác như triết học

    Trung Hoa đan xen với chính trị lý luận, triết học Ấn Độ lại đan xen với tôn

    giáo và nghệ thuật.

    Còn ở phương Tây cổ đại, ngay từ thời kỳ đầu, triết học đã là một khoa

    học độc lập. Thậm trí các khoa học khác lại thường ẩn giấu đằng sau triết học.

    Ta bắt gặp những kiến thức về khoa học tự nhiên trong các học thuyết triết

    học của các nhà triết học tự nhiên như Hêraclit, Ta let, Pitago, Đêmocrit,…

    * Tóm lại:

    Sự khác biệt về điều kiện kinh tế – xã hội, bối cảnh lịch sử, xuất thân

    của các nhà triết học và đối tượng của triết học đã dẫn đến sự khôgn giống

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    15

    nhau trong qui mô phản ánh của các nền triết học: Phương Đông và phương

    Tây cổ đại cùng phương thức biểu hiện của nó.

    2.3. Tư tưởng về nhận thức

    Vấn đề về nhận thức được các nhà triết học cổ đại cả phương Đông

    lẫn phương Tây đều rất quan tâm. Mặc dù còn ở trình độ tư duy lạc hậu

    nhưng tư tưởng về nhận thức của các triết gia cổ đại cũng có những tiến bộ

    nhất định. Bàn về vấn đề này, mỗi triết gia lại có những quan điểm riêng.

    Các nhà triết học phương Đông thường đề cao tư duy trực giác nhưng

    ngược lại, các nhà triết học phương Tây cổ đại lại đề cao tư duy lý tính.

    Đây cũng là một trong những điểm khác nhau căn bản giữa triết học

    phương Đông và triết học phương Tây thời cổ đại.

    Ở phương Đông cổ đại, trình độ tư duy trừu tượng của con người đã

    được đánh giá khá cao so với thời đó, đặc biệt khi kí giải các vấn đề bản thể

    luận nhận thức luận, lôgíc, về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, Tuy

    nhiên, triết học phương Đông cổ đại thường đề cao tư duy trực giác, đẩy được

    coi là phương thức tư duy đặc thù của người Trung Quốc trong một thời kỳ

    lịch sử lâu dai. Theo nghĩa chữ Hán, trực là thẳng, giác là hiểu biết, trực giác

    có nghĩa là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm, bản chất của sự vật,

    hiện tượn. Mức độ thấp của trực giác gần với giác quan thứ sáu, ví như lần

    đầu tiên gặp một người nào đó, chúng ta thường có những linh tinh cảm nhận

    đầu tiên. Như vậy, trực giác đạt đến cái mà tư duy lý tính, phân tích, mổ xẻ

    không bao giờ đạt. Nó là phương thức tư duy phù hợp với đối tượng vận

    động. Trong triết học phương Đông cổ đại, hầu hết các nhà tư tưởng (đặc biệt

    là các nhà tư tưởng Trung Quốc) đều sử dụng phương thức tư duy trực giác để

    tìm ra chân lí về thế giới, vạn vật và về con người, cuộc đời. Phương thức tư

    duy này đặc biệt coi trọng chữ “tâm”, coi “tâm” là gốc rễ của nhân thức, lấy

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    16

    “tâm” để bao quát sự vật. Điều này được biểu hiện trong tư tưởng về nhận

    thức của Mặc Tử, Tuân Tử,…

    Trong tư tưởng về nhận thức của Mặc Tử, ông coi trọng kinh nghiệm

    cảm giác, để cao vai trò của nhận thức cảm giác trong quá trình nhận thức của

    con người. Ông cho rằng phàm cái gì mà lỗ tai con mắt không cảm nhận thấy

    là không có. Ông đưa ra học thuyết “Tam biểu” nổi tiếng. Trong đó, ông chủ

    trương lời nói muốn chính xác tất phải có ba biểu: Có cái gốc của nó, có cái

    nguồn của nó, có cái dụng của nó.

    Cùng với quan điểm này, Tuân Tử cũng cho rằng quá trình nhận thứuc

    của con người trước hết bắt đầu từ kinh nghiệm cảm quan do các giác quan

    đưa lại. Mỗi giác quan đều có những tính riêng biệt, phản ánh một mặt hiện

    tượng nào đó của sự vật bên ngoài. Do vậy, muốn nhận thức đúng, sâu sắc

    còn cẩn phải dựa vào một “khí quan đặc biệt” là tư duy (ở đây Tuân Tử cho là

    “Tâm”). Ông cho rằng, chỉ có qua sự duy lí của tư duy thì mới có thể phân

    biệt hoặc phán đoán đúng được tính chất của sự vật do các cơ quan cảm giác

    phản ánh, nhưng hoạt động của tư duy (Tâm) cũng phải lấy sự hoạt động của

    các cơ quan cảm giác làm cơ sở.

    Trình độ tư duy trừu tượng của người Trung Quốc cổ đại được đánh giá

    cao trong việc xây dựng các khái niệm phạm trù triết học. Các triết gia Trung

    Quốc cổ đại tập trung xây dựng và lí giải các cặp phạm trù như: “Danh Thức”, “Tâm – Vật”, “Lý – Khí” bàn đến lôgic trong khái niệm nhưng mới ở

    trình độ tư duy thấp.

    Mặc dù phương thức tư duy trực giác có những ưu điểm như giữ được

    cái tổng thể của sự vật, hiện tượng phù hợp với cả các đối tượng vận động

    không ngừng mà tư duy phân tích mổ xẻ không đạt đến những mặt khác, điều

    đó lại tiềm tàng những nhược điểm. Mặt hạn chế của phương pháp tư duy trực

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    17

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    18

    quá trình nhận thức mà không hoặc ít thấy được vai trò của cảm giác, của

    nhận thức cảm tính.

    Việc đề cao tối đa phương thức tư duy lí tính cũng tồn tại những mặt

    hạn chế. Đó là việc các nhà triết học có xu hướng cố lập hoá, cách lý hoá làm

    mất đi tính tổng thể của sự vật, hiện tượng. Mặt khác mọi vật đều luôn vận

    động và biến đổi không ngừng VI Lênin cho rằng, chúng ta không thể biểu

    hiện đo lường, hình dung sự vận động mà không cắt đứt tính liên tục của nó,

    không tách rời, không giết chết cái gì đang sống. Điều này có nghĩa, việc quá

    đề cao tư duy duy lí, phân tích mổ xẻ của các nhà triết học phương Tây cổ đại

    là nguồn gốc sâu sa của tư duy siêu hình.

    Một điểm khác nhau trong tư tưởng về nhận thức giữa hai nền triết học

    phương Đông và phương Tây cổ đại là triết học phương Tây có xu hướng tách

    chủ thể với khách thể để nhận thức khách quan còn triết học phương Đông lại

    cho rằng người nhận thức và đối tượng nhận thức cùng hoà vào nhau (đặt

    cùng trong một hệ quy chiếu) thì nhận thức sẽ dễ dang.

    * Tóm lại:

    Điểm khác nhau cơ bản về tư tưởng nhận thức của hai nền triết học

    phương Đông và phương Tây cổ đại là triết học phương Tây cổ đại ngã về

    tư duy duy lí, phân tích mổ xẻ còn triết học phương Đông cổ đại thì ngã

    về dung tư duy trực giác.

    Hai phương thức này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời

    mà bổ sung cho nhau. Vì nếu không có phân tích, mổ xẻ thì làm sao hiểu

    được đối tượng. Nhưng nếu cho nó là duy vật tuyệt đối thì sẽ phá vỡ tính tổng

    thể của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, cho nên trong khi nhận thức về sự vật, hiện

    tượng, phải kết hợp cả hai phương thức tư duy này.

    2.4. Tư tưởng biện chứng:

    Trong vấn đề về phương pháp luận, khi trình bày những quan điểm của

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    19

    mình, các triết gia phương Đông cổ đại thiên về tư duy biện chứng là phần

    lớn. Ngược lại, do ảnh hưởng của tự nhiên phát triển, đặc biệt là lĩnh vực cơ

    học, các nhà triết học phương Tây cổ đại lại thiên về tư duy siêu hình.

    Ở phương Đông cổ đại, tư tưởng biện chứng được thể hiện rõ nhất

    trong quan niệm của các triét gia về bản thể luận.

    Trong triết học Trung Quốc cổ đại, tư tưởng biện chứng được thể hiện

    rõ nhất ở phạm trù “biến dịch”. Biến dịch theo quan điểm chung của triết học

    Trung Quốc cổ đại la trời đất, vạn vật luôn luôn vận động và biến đổi.

    Nguyên nhân của sự vận động,biến đổi là do trời đất, vạn vật vuừa đồng nhất,

    vừa mâu thuẫn với nhau: Trời và đất, nước và lửa, âm và dương, trời và

    người, đạo và lý, thể chất và tinh thần, chân lý và sai lầm… Lão Tử cho rằng

    “trong vạn vật không vật nào mà không cõng âm và bồng dương”. Vương An

    Thạch trong học thuyết Bản thể nguyên khí của mình cho rằng mâu thuẫn nội,

    ngoại của Ngũ hành là nguyên nhân cơ bản và vô cùng tận sự biến hoá của

    vạn vật. Lão Tử cho rằng vũ trụ vận động và biến đổi theo hai qui luật: qui

    luật bình quân và qui luật phản phục luật bình quân la luôn giữ cho sự vật

    được thẳng bằng theo một trật tự điều hoà tự nhiên, không có cái gì thái quá,

    bất cập. Qui luật phản phục là sự phát triển đến cực điểm thì chuyên quay trở

    lại phương hướng cũ. Quan điểm về biến dịch của vũ trụ là phép biện chứng

    tư phát về thế giới khách quan. Phép biện chứng nay còn nhiều hạn chế như:

    đơn giản hoà sự phát triển, có biến hoa nhưng không phát triển, không xuất

    hiện cái mới, biến hoá của vũ trụ có giới hạn, bí đóng khung trong hai cực.

    Tư tưởng biện chứng cũng thể hiện rõ trong triết học Phật giáo nguyên

    thuỷ – một trường phái triết học điển hình của triết học Ấn Độ cổ đại. Trong

    lý duyên khởi và lý vô ngã, vô thường của thế giới quan Phật giáo thể hiện

    rất rõ tư tưởng biện chứng. Mọi vật đều được cấu tạo bởi yếu tố vật chất (sắc)

    và tinh thần (danh). Theo thuyết vô thường, danh và sắc chỉ hội tụ lại với

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    20

    nhau trong một thời gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác. Bản chất sự

    tồn tại của thế giới là một dòng biến chuyển liên tục, không thể tìm ra nguyên

    nhân đầu tiên, cũng không có kết quả cuối cùng (vô – thuỷ, vô – chung),

    không có gì là tồn tại vĩnh bằng, bất biến, mọi vật đều biến đổi liên tục (vạn

    pháp vô thường). Theo quan điểm vô thường, vô ngã, thế giới sự vật hiện

    tượng luôn ở trong một chu trình biến hoá không ngừng là: sinh – trụ – dị diệt (hoặc thành – trụ – hoại – không), ở con người là sinh – lão – bệnh – tử. Đó

    là quá trình biến hoá theo quy luật nhân quả mãi mãi. Lý thuyết duyên khởi

    của Phật giáo đã giải thích thực hất mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả

    tron sự vận động, biến hoá của thế giới. Cái nhân nhờ cái duyên mới nảy sinh

    ra quả, quả lại do duyên mà tạo thành nhân khác, nhân khai lại nhờ duyên mà

    tạo thành quả mới. Quá trình này nối tiếp nhau vô cùng vô tận. Duyên chính

    là điều kiện trong mối quan hệ tương tác đó. Như vậy, tư tưởng bản thể luận

    trong triết học Phật giáo có tính chất nhị nguyên nhưng chứa đựng những yếu

    tố biện chứng sâu sắc.

    Trong khi đó, triết học phương Tây cổ đại khi bàn đến các vấn đề của

    triết học đã bộc lộ tư duy siêu hình do ảnh hưởng của khoa học tự nhiên gắn

    liền với triết học khoa học lúc đó chưa phân ngành, nhà triết học đồng thời

    cũng là nhà toán học, vật lí học, thiên văn học,… Tiêu biểu nhất đó là phép

    biện chứng “phủ định” của trương phái Êlê.

    Với chủ trương vạn vật bất biến, không sinh thành, không diệt vong

    được thể hiện sâu sắc trong các học thuyết của Pacmêniit và Dênôn. Vấn đề

    lớn trong triết học Pacmênit là quan hệ giữa tồn tại và hư vô, tồn tại và tư duy,

    vận động và đứng im. Tư tưởng triết học của Pacmênit được thể hiện ở ba

    luận điểm: coi vận động, biến đổi là hư ảo, bác bỏ khái niệm không gian rỗng

    thuần tuý, coi tồn tại và tư duy đồng nhất với nhau vừa như quá trình, vừa như

    kết quả. Tư duy là tư duy chỉ khi nào có vật thể và vật thể hiện hữu chĩ khi

    Tiểu luận triết học

    Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Đàn Piano Điện Và Đàn Organ/ Keyboard
  • Sự Khác Nhau Giữa Cổng Lan Và Cổng Wan
  • Sự Khác Biệt Giữa Mạng Lan, Man Và Wan Là Gì ?
  • Mạng Lan Là Gì? Sự Khác Biệt Chính Giữa Lan, Man Và Wan
  • “mục Đích” Và “mục Tiêu”
  • So Sánh V/hóa Phương Đông Và Phương Tây

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Và Phong Tục Mỹ Có Gì Khác Biệt ?
  • Sự Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam
  • Ảnh Hưởng Của Điều Kiện Tự Nhiên Đối Với Văn Hóa Ai Cập Và Lưỡng Hà
  • Lịch Sử Văn Minh Full Hd Không Che
  • So Sánh Triệu Chứng Bong Gân Và Sai Khớp
  • + Phương Đông: ĐKTN thuận lợi, mưa thuận gió hòa, ở gần lưu vực các con sông nên đất phù sa màu mỡ, khí hậu nóng ẩm. Khó khăn: lũ lụt, thiên tai,…

    + Phương tây: nằm ven Địa Trung Hải, có nhiều đảo, nhiều cảng biển, thuận lợi cho giao thông trên biển và nghề hàng hải,… Khó khăn: Đất khô và cứng, phần lớn lãnh thổ là núi và cao nguyện, đất canh tác ko màu mỡ nên chỉ thích hơp với những cây lâu năm gây ra thiếu lương thực phải nhập khẩu.

    – Kinh tế:

    + Phương Đông: Nông nghiệp, thủ công nghiệp và chăn nuôi.

    + Phương Tây: Kt chủ yếu là công nghiệp, thương nghiệp, buôn bán.

    – Về xã hôi:

    + Phương Đông có 3 giai cấp:

    _ Quý tộc (vua, quan lại): đứng đầu giai cấp thống trị bóc lột, có nhiều của cải và quyền thế.

    _ Nông dân công xã (nhận ruộng đất của làng xã về canh tác): là lực lương đông nhất trong xã hôi, có vai trò to lớn trong sản xuất và phải nộp thuế.

    _ Nô lệ (nông dân nghèo, không trả dc nợ): là tầng lớp thấp nhất trong xã hội, phải làm việc nặng nhọc, hầu hạ cho quí tộc.

    + Phương Tây cũng có 3 giai cấp:

    _ Chủ nô: là những người rất giàu, có thế lực về kinh tế.

    _ Bình dân: dân tự do có nghề nghiệp, tài sản, tự sinh sống bằng lao động của bản thân.

    _ Nô lệ: là lực lương rất đông đảo, chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu của đời sống, hoàn toàn phụ thuộc vào người chủ của mình, không có chút quyền lợi cá nhân nào.

    – Về chính trị:

    + Phương Đông là chế độ quân chủ Trung Ương tập quyền. Vua là chủ tối cao của đất nước, có quyền quyết định mọi công việc của đất nước. Vua dựa vào quí tộc và tôn giáo đề cai trị đất nước, ngoài ra giúp việc cho vua còn là một bô máu hành chính quan liêu.

    + Phương Tây: chế độ dân chủ. Quyền lực đất nước ko nằm trong tay quí tộc mà tập trung trong tay hội đồng công dân. Mọi công dân có quyền quyết định công việc của nhà nước.

    Nguồn:

    Nói nền kinh tế phát triển còn được bởi vì với điều kiện của phương Tây thuận lợi cho phát triển kinh tế (nằm ven Địa Trung Hải, có nhiều đảo, nhiều cảng biển, thuận lợi cho giao thông trên biển và nghề hàng hải,… Khó khăn: Đất khô và cứng, phần lớn lãnh thổ là núi và cao nguyện, đất canh tác ko màu mỡ nên chỉ thích hơp với những cây lâu năm gây ra thiếu lương thực phải nhập khẩu). Trong khi kinh tế Châu Á chủ yếu là nông nghiệp, có buôn bán nhưng không bằng.

    Còn văn hóa ư ? Đều ngang nhau hết.

    Kiến trúc : thành Rome, đấu trường La Mã, tượng Zeus, đền thờ Athens, thành Babylon, tháp thông thiên, Vạn Lý trường thành, lăng mộ Tần Thủy Hoàng, Cung A Phòng, lăng Li Sơn, Đền Taj Maha…

    Thành tựu : thuốc súng, la bàn, giả kim thuật, dụng cụ thiên văn học, chữ cái, con số,…

    Văn hóa : các tác phẩm quân sự chính trị như binh pháp Tôn Tử, Tam Thập Lục Kế, Cuộc chiến ở Gauls, còn nhiều nữa.

    + Phương Tây: chế độ dân chủ. Quyền lực đất nước ko nằm trong tay quí tộc mà tập trung trong tay hội đồng công dân. Mọi công dân có quyền quyết định công việc của nhà nước.

    Cái này là thời Cộng Hòa La Mã, quyền lực tập trung vào viện Nguyên Lão do dân bầu, chứ thời La Mã Cổ đại với Hi Lạp nó khác hoàn toàn

    .

    . Đang nói thời Cổ Đại và so sánh văn hóa

    .

    Thay đổi nội dung bởi: abluediamond, 14-08-2013 lúc 23:06.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Không Thể So Sánh Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Iphone 6S Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Iphone 6 Plus 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Đánh Giá So Sánh Iphone 6 Và 6S
  • So Sánh Iphone 6S Plus Và Iphone 7, Cái Nào Vượt Trội Hơn Hẳn?
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Triết Học Phương Đông Và Triết Học Phương Tây Thời Cổ Đại (2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Sự Khác Biệt Giữa Triết Học Phương Đông Và Phương Tây
  • Sự Khác Biệt Giữa Rồng Phương Đông Và Rồng Phương Tây.
  • Bí Mật Về Rồng: Rồng Phương Đông Và Phương Tây Khác Nhau Ra Sao?
  • Sự Khác Nhau Giữa Rồng Châu Âu Và Rồng Châu Á
  • Kiểm Soát Và Cân Bằng Quyền Lực
  • TRẦN THU HẰNG

    0

    MỤC LỤC

    LỜI CẢM ƠN:……………………………………………………………………..1

    MỞ ĐẦU:……………………………………………………………………………2

    NỘI DUNG:…………………………………………………………………………………………………5

    Chương 1: Khái quát chung về triết học phương Đông và phương Tây……….5

    Chương 2: Những điểm khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học

    phương Đông và phương Tây thời cổ đại…………………………………………9

    2.1 Mối quan hệ giữa con người và vũ trụ……………………………………….9

    2.2.Mặt xã hội và mặt sinh học của con người……………………………………11

    2.3 Tư tưởng nhận thức luận…………………………………………………. …12

    2.4 Cuộc đấu tranh giữa duy tâm và duy vật……………………………………13

    2.5 Sự đấu tranh giữa biện chứng và siêu hình………………………………..14

    2.6 Các bước phát riển nhảy vọt về chất………………………………………. 14

    2.7 Việc được nhìn nhận như một khoa học độc lập……………………………15

    2.8 Việc sử dụng hệ thống thuật ngữ ……………………………………………16

    KẾT LUẬN:……………………………………………………………………………………………….18

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:……………………………………………………….20

    1

    MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài:

    Triết học là một hệ thống tri thức lí luận chung nhất của con người về

    thế giới về bản than con người và vị trí của con người trong thế giới đó.

    Triết học có một vai trò hết sức to lớn trong xã hội.

    Trước hết, triết học đặt ra và giải quyết những vấn đề thế giới quan, đó là toàn

    bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới xung qunnh, về

    bản than con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giưói đó.

    Bên cạnh đó, triết học còn có chức năng phương phps luận, là hệ thống các

    quan diểm, các nguyên tác chỉ đạo con người, tìm tòi xây dựng, lựa chọn và

    vận dụng các phương pháp trong nhận thức và thực tiễn.

    Sau cùng, triế thọc không những có vai trò to lớn đối với khoa học mà còn đối

    với việc rèn luyện năng lực tư duy của con người.

    Như Ăng ghen đã từng nói: “Một dân tộc muốn đứng trên đỉnh cao của

    khoa học thì không thể không có tư duy lí luận”, và để hoàn thiện năng lực tư

    duy lí luận thì không có một cách nào khác hơn là nghiêm cứu toàn bộ triết

    hcọ thời trước.

    Bước đi đầu tiên của lịch sử triết học thế giới là triết học cổ đại. Những

    học thuyết triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào thế kỉ thứ XIII – VI

    trước công nguyên. Ở phương Đông thể hiện rõ nét ở Ấn Độ, Trung Quốc. Ở

    phương Tây, thể hiện rõ nét ở Hy Lạp và La Mã cổ đại.

    Nghiên cứu và so sánh sự khác nhau giữa triết học phương Đông và

    triết học phương Tây thời cổ đại sẽ cho ta một cái nhìn khái quát và biện

    chứng về nhữngđóng góp có giá trị đối với tri thức nhân loại trong buổi đầu

    hình thành ý thức xã hội. Đồng thời giúo ta thâu tóm tri thức, trí tuệ của mỗi

    thời đại lịch sử được kết tinh trong triết học.

    2

    Thông qua những sự khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học

    phương Tây thời cổ đại sẽ cho ta một cái nhìn toàn diện, đúng đắn về ý nghĩa,

    ảnh hưởng, nắm được sợi dây lien hệ giữa quá khứ và hiện tại. Bên cạnh đó,

    giúp tránh tư tưởng đề cao triết học phương Đông, hạ thấp triết hoc phương

    Tây thời cổ đại và ngược lại.

    Xuất phát từ những lí do nêu trên nên em đã chọn đề tài: “So sánh sự

    khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây thời cổ

    đại” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.

    2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:

    – Làm rõ những đặc điểm của hai nến triết học phương Đông và

    phương Tây thời cổ đại, từ đó thấy được những nét đặc sắc riêng của mỗi nền

    triết học, chúng bổ sung cho nhau và đều đóng góp vào sự phát triển của lịch

    sử nhân loại.

    – So sánh sự khác nhau giữa hai nền triết học, từ đó có cái nhìn khái

    quát và biện chứng về những đóng góp có giá trị đối với tri thức nhân loại

    trong những buổi đầu hình thành ý thức xã hội, giúp chống tư tưởng đề cao

    nền triết học này, hạ thấp nền triết học kia.

    3. Nhiệm vụ nghiên cứu:

    – Nghiên cứu, phân tích các đặc điểm của triết học phương Đông và

    triết học phương Tây thời cổ đại.

    – Tìm ra và so sánh những điểm khác nhau căn bản giữa hai nền triết

    học ấy.

    3

    4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    Đặc điểm của triết học phương Đông và triết học phương Tây thời cổ

    đại.

    5. Phương pháp nghiên cứu:

    Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát, so sánh dựa trên lập

    trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của

    triết học Mác – Lênin.

    6. Giả thuyết khoa học:

    Nếu so sánh được sự khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học

    phương Tây cổ đại, ta sẽ thấy được mặt tích cực, hạn chế, mối quan hệ giữa

    triết học phương Đông và phương Tây, đánh giá thoả đáng vị trí của chúng

    trong lịch sử triết học. Qua đó, hình thành cho ta phương pháp luận và nhận

    thức đúng đắn khi nghiên cứu về lịch sử triết học.

    4

    NỘI DUNG

    CHƯƠNG I: Khái quát chung về triết học phương Đông và phương Tây.

    Thời xa xưa, con người đã muốn khám phá về thế giới và bản thân

    mình. Khi khoa học còn chưa phát triển và trí tuệ con người còn hạn chế,

    công cụ để nhận thức thế giới của họ lúc đầu là huyền thoại và thần thoại, tức

    là giải tích các hiện tượng tự nhiên bằng các yếu tố thần thoại. Nhưng từ khi

    xã hội chiếm hữu nô lệ ra đời thay thế xã hội nguyên thủy, sự giải thích thế

    giới bằng huyền thoại, thần thoại không còn đáp ứng nhu cầu hiểu biết ngày

    càng cao của con người. Một công cụ nhận thức mới của loài người xuất hiện,

    đó là triết học.

    Triết học ra đời vào khoảng thế kỉ VIII – VI trước Công nguyên gắn

    liền với sự ra đời của các nền văn minh cổ đại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy

    Lạp. Đó là kết quả của sự tách biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay,

    cùng với sự phát triển ở trình độ cao (trình độ hệ thống hoá, khái quát hoá,

    trừu tượng hoá) của tư duy nhân loại.

    Có rất nhiều quan niệm khác nhau về triết học. “Triết” theo nghĩa chữ

    Hán là trí – sự hiểu biết của con người, là truy tìm bản chất của đối tượng

    trong quá trình nhận thức thế giới. “Triết” theo nghĩa tiếng Ấn Độ là

    “Darshna”, là sự suy ngẫm con đường đến chân lí, là sự hiểu biết nói chung

    “Triết học” theo tiếng Hy Lạp là “Philosophya” – sự ham mê hiểu biết cộng

    với sự thông thái. Như vậy, dù là Trung Quốc, Ấn Độ hay Hy Lạp, dù ở

    phương Đông hay phương Tây, triết học thời cổ đại đều có nghĩa là sự hiểu

    biết chung, sự nhận thức chung của con người về thế giới.

    Do nghiên cứu những qui luật chung nhất của thế giới nên triết học với

    tư cách là một khoa học đề cập tới nhiều vấn đề. Trong những vấn đề ấy, nổi

    5

    lên vấn đề cơ bản là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Vấn đề cơ bản của

    triết học có hai mặt. Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi giữa tư duy với tồn tại, giữa ý

    thức với vật chất, giữa tinh thần và tự nhiên thì cái nào có trước cái nào có

    sau; và cái nào có vai trò quyết định đối với cái nào? Mặt thứ hai trả lời câu

    hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

    Trong lịch sử triết học, có rất nhiều quan điểm khác nhau, thậm trí đối

    lập nhau khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Đây chính là tiêu chuẩn để

    phân biệt lập trường tư tưởng của các nhà triết học, hình thành nên các trường

    phái triết học khác nhau. Đi sâu giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, các

    nhà triết học phương Đông và phương Tây thời cổ đại có nhiều quan điểm

    không giống nhau. Điều này đã một phần tạo nên sự khác biệt giữa triết học

    phương Đông và phương Tây nói chung và thời cổ đại nói riêng.

    Dù lịch sử triết học là quá trình hình thành, biến đổi, tác động và ảnh

    hưởng lẫn nhau giữa các trào lưu, tư tưởng triết học nhưng nó có tính quy

    luật. Sự hình thành và phát triển triết học có những đặc điểm chung như sau:

    Thứ nhất, tư tưởng triết học là một hình thái ý thức xã hội được hình

    thành và phát triển trên cơ sở kinh tế – xã hội trong một giai đoạn lịch sử xã

    hội nhất định là sự phản ánh của tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại

    xã hội. Như vậy, sự phát triển của lịch sử triết học gắn liền với điều kiện tự

    nhiên, kinh tế – xã hội, gắn với sự biến đổi, thay thế nhau giữa các chế độ xã

    hội… Điều này hình thành nên tính giai cấp trong triết học. Từ đó, tạo nên sự

    khác nhau giữa các trào lưu, tư tưởng triết học, giữa triết học phương Đông và

    phương Tây.

    Thứ hai, lịch sử triết học là quá trình thống nhất và đấu tranh của hai

    trường phái triết học duy vật và duy tâm, hai phương pháp biện chứng và siêu

    hình.

    6

    Thứ ba, lịch sử triết học luôn gắn bó chặt chẽ không thể tách rời với các

    thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội cùng với các thành tựu khoa

    học tự nhiên và khoa học xã hội cùng sự thâm nhập tác động, ảnh hưởng lẫn

    nhau giữa các trào lưu, tư tưởng triết học cùng sự tác động của các hình thái ý

    thức xã hội khác như: Tôn giáo, chính trị, nghệ thuật, văn hoá,…

    Thứ tư, chiến tranh là một tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến sự biến

    đổi của tư tưởng triết học.

    * Tóm lại:

    Triết học là một khoa học bao gồm hệ thống tri thức lí luận chung nhất

    về thế giới của con người và vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó.

    Triết học là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự qui

    định của tồn tại xã hội. Đồng thời, triết học là một yếu tố của kiến trúc thượng

    tầng, là sự phản ánh cơ sở hạ tầng, chịu sự qui định của cơ sở hạ tầng. Đây

    cũng là nét chung của triết học mọi thời đại cũng như triết học phương Đông

    và triết học phương Tây cổ đại.

    Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, văn hoá, bối cảnh

    lịch sử, khác nhau nên triết học phương Đông và phương Tây cổ đại có những

    nét đặc thù, riêng biệt, tạo nên thiên hướng riêng của nó. Dựa vào phần khái

    quát chung làm cơ sở nền tảng, sự khác nhau giữa triết học phương Đông và

    triết học phương Tây thời cổ đại được phân tích cụ thể ở mục tiếp theo.

    7

    8

    CHƯƠNG II: Những điểm khác nhau giữa triết học phương Đông và

    triết học phương Tây thời cổ đại

    2.1. Mối quan hệ giữa con người và vũ trụ

    Nếu như triết học phương Tây cổ đại tách con người ra khỏi vũ trụ, coi

    con người là chủ thể còn thế giới quan là khách thể mà con người cần nghiên

    cứu, chinh phục thì triết học phương Đông thời cổ đại lại nhấn mạnh mặt

    thống nhất trong mối quan hệ giưũa con người và vũ trụ.

    Chúng ta có thể lí giải cho sự khác biệt này bởi con người phương

    Đông sống gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, được thiên nhiên ưu đãi, nguồn

    sống nông nghiệp dồi dào, đã hoà quyện con người với thiên nhiên và với vụ

    trụ. Chính điều này đã được khái quát thành tư tưởng “thiên nhân hợp nhất”,

    trong đó con người được xem như là một “tiểu vũ trụ”.

    Hơn thế các nền vă minh của phương Đông chủ yếu được hình thành ở lưu

    vực các con song. Nền văn minh Ấn Độ được hình thành trên lưu vực song

    Ấn và song Hằng, nền văn minh Trung Hoa được xây dựng trên sự hợp lưu

    của hai song Hoàng Hà và Trường Giang.

    Do vậy nền văn minh phương Đông chủ yếu dựa trên sự phát triển nông

    nghiệp của một chế đọ nhà nước quân chủ lập quyền.

    “Thiên nhiên hợp nhất” là tư tưởng xuyên suốt nhiều trường phái, học

    thuyết ở Trung Quốc. Đạo gia cho rằng; con người và vũ trụ không ở ngoài

    nhau mà cùng hoà hợp, lien thong thành một khối.

    Lão tử nói: “Người phỏng theo đất, đất phỏng theo trời, trời phỏng theo

    đạo, đạo phỏng theo tự nhiên”. Trời, đất, người liên thong với nhau băng một

    đạo.

    9

    Những điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức của từng con

    người và văn hoá Trung Quốc. Có lẽ vì thế mà khoa học tự nhiên và chủ

    nghĩa duy vật trong triết học Trung Quốc phát triển không mạnh.

    “Thiên nhiên hợp nhất” lại được thể hiện theo cách khác ở Ấn Độ.

    Trong kinh thánh Vêđa, để cắt nghĩa các hiện tượng tự nhiên mà con người

    kông thể lí giải, người Ấn Độ đã xây dựng hệ thống các vị thần. Thần linh và

    con người có nhiều mối quan hệ với nhau, có tính cách như nhau, các vị thần

    cũng mang tính người. Triết học Ấn Độ khẳng định tính hợp nhất của con

    người và vũ trụ. Vạn vật trong thế giới đồng nhất thể, con người và vũ trụ có

    chung bản chất.

    Như vậy, triết học phương Đông lấy con người mà đặc biệt là phương

    diện tâm linh làm đối tượng chủ yếu để nghiên cứu. Những triết học lớn thời

    đó đều xoay quanh những vấn đề lien qian tới số phận, đạo đức của con

    người.

    Trái lại, triết học phương Tây thời cổ đại lại tách con ngưòi ra khoie vũ

    trụ, coi con người là chủ thể còn thế giới khách quan là khách thể mà con

    người cần nghiên cứu, chinh phục.

    Với tư tưởng quan tâm tới bản nguyên thế giới thì các nhà triết học Hy

    Lạp cổ đại đã giải thích sự xuất hiện của thế giới khách quan theo nhiều cách

    khác nhau. Các nhà duy vật giải thích bằng sự xuất hiện của một dạng vật

    chất cụ thể như: nước, lửa, không khí…

    Đại diện đầu tiên là Talet, ông cho rằng nước là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên

    của mọi vật trong thế giới. Mọi vật đều sinh ra từ nước và khi phá huỷy, nó

    cũng trỏ thành nước.

    Đại diện thứ hai là Amximen, ông cho rằng: không khí và bản chất, là nguồn

    gốc của mọi sự việc, vì nó giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống.

    10

    Đại diện thứ ba tiếp tục đứng trên quan điểm duy vật là Heraclit, ông đã dựa

    trên quan điểm của duy vật đẻ giải quyết vấn đề “cơ sở đầu tiên” của thế giới

    từ một dạng vật chất cụ thể. Nhưng ông cho rằng mọi vật sinh ra từ lửa, là bản

    nguyên của thế giới.

    Cũng có quan điểm cho rằng: bản nguyên đầu tiên của thế giới là những phần

    nhỏ bé, siêu cảm giác, không thấy được qua đất, nước, không khí, lửa; chúng

    gọi là mầm sống,hạt giống của muôn vật.

    Tuy rằng, trong triết họcphương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc cũng

    chứa những tue tưởng triết học duy vật sơ khai, chất phác về bản nghuyên của

    htế giới, nhưng các nhà triết học phương Đông vẫn luôn xem xét sự phát sinh,

    phát triển của vũ trụ, của thế giới khách quan trong sự gắn kết với con người.

    Ngược lại, triết học phương Tây lại đặt trọng tâm nghiên cứu vào thế giới,

    vấn đề con người được bàn tới chỉ nhằm mục đích giải thích thế giới.

    Do vậy, vấn đề bản thể luận của triết học phương Tây được thể hiện rất

    đậm nét, trong khi vấn đề bản thể luận của triết học phương Đông lại thể hiện

    một cách mờ nhạt hơn.

    2.2. Mặt xã hội và mặt sinh vật của con người.

    Trong khi triết học phương Đông chú trọng vào việc giải thích mối

    quan hệ giữa người với người và đời sống tâm linh của con người, hầu như rất

    ít quan tâm tới mặt sinh vật. Traid lại, triết học phương Tây cổ đại lại chủ yếu

    quan tâm tới khía cạnh sinh vật, về nguồn gốc xuất hiện của sinh vật, hầu như

    ít quan tâm tới mặt xã hội của con người.

    Những mặt hạn chế của hai nền triết học cổ đại này sau đã được khắc phục

    bởi triết học Mac-Lênin.

    `Triết học Trung Quốc cổ đại khi nghiên cứu đã lấy con người làm gốc, lấy

    triết lí nhân sinh làm nội dung. Theo Khổng Tử, cái mà con người nên biết và

    11

    có thể biết là bản than con người. Yêu mến con người,thờ phụng con người là

    bổn phận của con người. Còn theo Mạnh Tử, bản tính con người ta là thiện,

    nó được thể hiện ở bốn đức: Nhân, nghĩa, lế, trí.

    Chúng ta có thể nói rằng: triết học ở đây đề cao long nhân ái, đạo đức, và sức

    mạnh của đạo đức.

    Cũng đề cao đạo đức nhung triết học Ấn Độ cổ đại lại thông qua những tư

    tưởng giải thoát con người.

    Trong khi đó, triết học phương Tây cổ đại lại ít quan tâm đến sức mạnh

    đạo đức, mà chủ yếu quan tâm nghiên cứu khía cạnh sinh vật, nguồn gốc xuất

    hiện của con người.

    Như vậy, các nhà triết học phương Đông cổ đại nghiêng về nghiên cứu nội

    tâm, hướng nội thì các nhà triết học phương Tây cổ đại lại đi sâu vào phương

    diện lí trí. Do vậy phải thường xuyên trau dồi lí trí, tiép thu những quy luật

    của tự nhiên và quy luật của con người.

    2.3. Về tư tưởng nhận thức luận

    Trong khi các nhà triết học phương Đông cổ đại có những phương thức tư

    duy triết học là nhận thức trực quan, trực giác, thì các nhà triết học phương

    Tây cổ đại lại đề cao vai trò của nhận thức lí tính, phát triển các tư tưởng

    thành lí thuyết với các chứng minh rõ rang, mạch lạc.

    Ở Ấn Độ cổ đại, các trường phái triết học đề cao nhận thức trực giác, thuẹc

    nghiệm tâm linh khi nghiên cứu thế giới, nhhư phái Vaisesika, Lokayata, kinh

    Uparishop..

    Ở Trung Quốc cổ đại, Lão Tử và Trang tử đề cao tư duy trừu tượng và coi

    khinh nghiên cứu sự vật hhiện tượng cụ thể.

    Cho dù các nhà triết học phương Đông cổ đại đã có sự sang tạo phương thức

    tư duy trực quan, nhưng do thiếu luận chứng và phân tích, lại dùng phương

    12

    pháp tư duy giácc ngộ bằng trực giác nên đã làm cho các khái niệm thiếu

    logic, khoa học.

    Trái lại, các nhà triết học phương Tây cổ đại lại không đặt mình vào

    giữa đối tượng để suy nghiệm, mà tách con người ra khỏi đối tượng nhận thức

    để đảm bảo được tính khách quan. Mặc dù vẫn có quan điểm như Epiquga

    nhưng ông đã thừa nhận tác động của vật chất vào các giác quan của con

    người. Hầu hết các triết gia Hy Lạp đã đưa ra quan điểm về nhận thức luận

    đúng đắn, đó là nhận thức một quá trình kinh nghiệm đến nhận thức lí tính. Vì

    thế, logic học đã được phát triển ở phương Tây cổ đại.

    2.4. Cuộc đấu tranh giữa duy tâm và duy vật:

    Ở triết học phương Đông cổ đại, các trào lưư, học thuyết thường đan

    xen yếu tố duy vật và duy tâm. Chính vì thế mà cuộc đấu tranh giữa duy vật

    và duy tâm không gay gắt như ở phương Tây.

    Ở Trung Quốc cổ đại với trường phái nho giáo mà đại diện là Khổng

    Tử. Trong quan niệm của ông, bên cạnh các yếu tố duy tâm là các yếu tố duy

    vật. Ông đưa ra thuyết “Thiên mệnh”, và coi việc hiểu biết mệnh trời là một

    hiểu biết tất yếu cần có để trở thành một con người hoàn thiện. Song ông lại

    phê phán sung bái, mê tín. Trong phật giáo, sự đan xen giữa yếu tố duy vật và

    duy tâm cũng thể hiện rất rõ nét.

    Còn ở Triết học Ấn Độ cổ đại, các quan niệm tự nhiên về các vị thần

    dần mờ nhạt, thay vào đó là những nguyên lí trừu tượng, duy nhất, tối cao

    được coi là nguồn gốc của vũ trụ, đó là thần sang tạo tối cao. Tuy nhiên trong

    thời kì này cũng xuất hiện một làn song đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy

    tâm.

    Không như ở phương Đông, triết học phương Tây cổ đại lại có những

    cuộc đấy tranh gay gắt. Ở đây, mỗi nhà triết học, mỗi trường phái lại có một ý

    13

    kiến riêng biệt về bản nguyên của thế giới, về mầm mống ban đầu của thế

    giới.

    2.5. Sự đấu tranh giữa biện chứng và siêu hình:

    Trong triết học phương Đông cổ đại, yếu tố bịên chứng và siêu hình

    cùng tồn tại với nhsu, đan xen nhau, không có sự đấu tranh gay gắt. Điều này

    trái ngược với triết học phương Tây cổ đại.

    Với triết học Trung Hoa cổ đại, ta xem xét đại diện là Lão Tử. Ông cho

    rằng trời không phải căn cứ của đạo mà trái lại, đạo có trước thần linh, hiện

    tượng trong vũ trụ ông gọi là đạo thường. Ở đây, tư tưởng biện chứng được

    thể hiện rõ nét. Ông cũng chỉ ra rằng, bất cứ sự vật nào cũng là thể thống nhất

    của hai mặt đối lập, vừa xung khắc lại vừa dựa vào nhau, và lien hệ, rang

    buộc bao hàm lẫn nhau.

    Ở phương Tây, Hêraclit là người có đóng góp to lớn trong lịch sử phát

    triển biện chứng. Đối lập với ông là phép biện chứng phủ định của trường

    phái Êlê với chủ nghĩa vạn vật bất biến, không sinh thành, không diệt vong.

    Có nhiều quan điểm đối lập nhau khau và khác nhau rất nhiều về thế giới.

    Quan điểm biện chứng về thế giới của các nhà triết học phương Tây cổ đại có

    ý nghĩa to lớn đối với lịch sử triết học. tuy nhiên, nó mới chỉ là quan điểm

    mang tính tự phát.

    2.6. Các bước phát triển nhảy vọt về chất:

    Ở triết học phương Tây, mỗi giai đoạn lịch sử bên cạnh những tư tưởng

    triết học cũ, luôn xuất hiện những trường phái triết học mới với quan điểm có

    tính phát triển nhảy vọt, tính cách mạng. Trong khi đó, triết học phương Đông

    cổ đại ít có những bước nhảy mang tính cách mạng.

    14

    Triết học phương Đông có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ,

    đi sâu vào từng chi tiết, từng tư tưởng trên cơ sở cái cũ, có cải tiến về phương

    diện nào đó. Điều đó thể hiện ở chỗ, những nhà tư tương ở giai đạon lịch sử

    sau thường cho mình là học trò, là người kế tục sự nghiệp của những nhà sáng

    lập ở giai đoạn trước.

    Những tư tươnngr mới mà họ đưa rachỉ là để giải thích sâu hơn hoặc nhằm

    bảo vệ những ý tưởng của nhũng vị tiền bối.

    Vì vậy ở giai đoạn sau ít thấy những trường phái triết học mới xuất hiện, điều

    đó cho chúng ta thấy tính bảo thủ, trì trệ, kiệm tiến của triết học phương Đông

    cổ đại.

    Ngược lại, ở phương Tây lại có những trường phái triết học mới, thể

    hiện sự đột phá về tư tưởng.

    Ở Hy Lạp, triết học đã đi sâu và bàn đến vấn đề con người, đặc biệt về thuyết

    nguyên tử của Đemocrit đã tạo ra bbước nhảy vọt về chất trong lịch sử triết

    học cổ đại.

    Đặc điểm này còn được thể hiện qua quan điểm mới của Hêraclit và nhận

    thức luận của Empedoclo.

    Chính những điều đó đã tạo ra những bước phát triển nhảy vọt về chất của

    triết học phương Tây cổ đại.

    2.7. Việc được nhìn nhận như một khoa học độc lập:

    Những tư tưởng triết học phương Đông cổ đại ít khi tồn tại dưới dạng

    triết học thuần tuý mà thường được trình bày xen kẽ hoặc ẩn dấu đằng sau

    những vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật

    Ngược lại, triết học phương Tây cổ đại là một hệ thống các tư tưởng

    được trình bày trực tiếp, rõ rang, triết học được coi là một khoa học độc lập.

    15

    Với triết học Trung Hoa thời cổ đại, khổng Tử thể hiện tư tưởng triết

    học về con người, về xã hội thong qua một số chính sách, bài học vè trị quốc.

    Ở Ấn Độ, triết học mang đậm máu sắc tôn giáo, triết học và tôn giáo luôn hoà

    nhập với nhau, rất khó phân biệt rõ rang.

    Triết học phương Tây cổ đại là một hệ thống triết học thuần tuý, ngay

    từ khi ra đời đã chứa đựng các khoa học khác.

    Xen lẫn trong các học thuyết Hy Lạp cổ đại là những định luật toán học, vệt

    lí, hay thiên văn học. Với các nhà triết học điển hình như Talet, Pitago,

    Democrit..đều là nhũng nhà khoa học tự nhiên.

    2.8. Việc sử dụng hệ thống thuật ngữ của triết học :

    Trong triết học phương Đông cổ đại, thường dung châm ngôn, ngụ

    ngôn, ẩn ngữ có tính hình tượng để diễn đạt quan điểm, càng đi sâu vào suy

    nghĩ thì càng thấy sự sâu sắc của triết học phương Đông cổ đại.

    Còn triết học phương Tây cổ đại thì các tư tưởng triết học được diễn

    đạt, lập luận với ngôn ngữ và phong cách tư duy mạch lạc, khoa học, có tính

    hệ.

    Về bản thể luận: Phương Tây dùng thuật ngữ: “giới tự nhiên”, “bản

    thể”, “vật chất”; còn phương Đông lại cùng “thái cực”, “đạo sắc, hình, vạn

    pháp,… Để nói về bản chất của vũ trụ, đặc biệt mối quan hệ giữa con người

    với vũ trụ, phương Đông dùng phạm trù khách thể – chủ thể, con người – tự

    nhiên, vật chất – ý thức, tồn tại – tư duy, còn phương Đông lại dùng Tâm vật, năng – sơ, lí – khí, hình – thần”.

    Nói về tính chất, sự biến đổi của thế giới: Phương Tây dùng thuật ngữ

    biện chứng, siêu hình, vận động, dứng im,…, thì phương Đông dùng bằng

    thuật ngữ động – tỉnh, biến dịch, bô thường, vô ngã…

    16

    Khi diễn đạt về mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trên thế giới thì

    phương Tây dùng thuật ngữ “liên hệ”, “quan hệ”, “quy luật”, còn phương

    Đông dùng thuật ngữ “đạo”, “lý”, “mệnh”, “thần”… Có nhịp điệu là hài hoá

    âm dương, còn vũ trụ là tập hợp khổng lồ các xoắn ốc.

    17

    KẾT LUẬN

    Qua nghiên cứu và trình bày như ở trên , ta thấy rằng giữa hai nền

    triết học có những đặc điểm khác xa nhau, mỗi nền triết học lại có những

    néy đặc sắc riêng, nhưng chúng lại bổ sung cho nhau và đều có những

    đóng góp to lớn và lịch sử phát triển triết học của nhân loại.

    Ở phương Đông, ta tìm thấy sự sâu sắc, ý vị, tinh thần, đạo đức,

    tính nhân đạo, màu sắc đời sống. Trong khi đó, tinh thần khoa học của

    triết học phương Tây cổ đại lại làm cho triết học có tính logic và trở thành

    khoa học của các ngành khoa học.

    Sự khác biệt này do nhiều nguyên nhân chi phối song nguyên nhân chủ

    yếu chính là sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội. Bởi lẽ triết

    học là một hình thái ý thức xã hội va chịu sự qui định của tồn tại xã hội.

    Việc nghiên cứu triết học phương Đông và triết học phương Tây cổ đại

    có ý nghĩa hết sức to lớn. Bởi lẽ, thông qua hoạt động nghiên cứu triết học,

    chúng ta đã thấy được sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học của nhận loại

    thời cổ đại, nắm bắt được quá trình hình thành và phát triển của những

    phương pháp nhận thức khoa học. Từ đó, cho ta biện pháp hữu hiệu để nghiên

    cứu, đánh giá một học thuyết triết học trong triết học cổ đại nói riêng và trong

    lịch sử triết học nói chung, đồng thời, góp phần hình thành và phát triển

    phương thức tư duy khoa học.

    Việc chỉ ra sự khác nhau giữa triết học phương Đông và phương Tây cổ

    đại đã giúp ta có cách đánh giá thoả đáng vị trí hai nền triết học này trong lịch

    sử. Triết học phương Đông cổ đại ra đời từ rất sớm và là cái nôi của triết học

    nhân loại. Triết học phương Tây cổ đại ra đời muộn hơn nhưng “đã có mồng

    mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này”

    18

    (Ph.Ăngghen). Tuy nhiên, cả hai đều tồn tại những hạn chế nhất định. Điều

    này được khắc phục dần trong những học thuyết triết học sau này. Và phái khi

    triết học Mác-lênin ra đời thì triết học mới thực sự là một công cụ nhận thức

    và cải tạo thế giới.

    19

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiến Trúc Phương Đông Và Phương Tây Có Điểm Gì Khác Nhau?
  • Sự Khác Biệt Giữa Kiến Trúc Phương Đông Và Phương Tây Cổ Đại
  • Giáo Án Địa Lý 6 Tiết 15: Địa Hình Bề Mặt Trái Đất
  • Sự Khác Biệt Giữa Tết Miền Bắc Và Tết Miền Nam
  • Xác Định Mục Đích Và Mục Tiêu Nghiên Cứu, Câu Hỏi Và Giả Thiết Nghiên Cứu
  • Văn Hóa Quản Lý Phương Đông Và Phương Tây: Những So Sánh Bước Đầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Ít Bài Của Bbc Viết Về So Sánh Văn Hóa Việt & Tây Phương. (Sưu Tầm)
  • Hiểu Về Khác Biệt Văn Hóa Của Các Nước Để Hội Nhập
  • Văn Hóa Mỹ Và Việt – Những Điểm Khác Biệt Trong Giao Tiếp
  • Phương Tây Với Văn Hóa Việt Nam – Di Tích Lịch Sử – Văn Hoá Hà Nội
  • Sự Khác Biệt: Văn Hóa Việt Nam
  • Trong lĩnh vực quản trị nhân sự, hiện có những tranh cãi sôi nổi về những sự xung đột giữa các giá trị truyền thống của văn hóa quản l‎ý phương Tây và những giá trị về tinh thần, “giá trị chia sẻ” từ phần còn lại của thế giới, có hay không, việc giá trị phương Tây đã và đang phủ nhận tầm quan trọng của các nền văn hóa tinh thần trong một thế giới “phẳng” ngày nay. Bằng cách đi sâu vào phân tích “những tẳng băng chìm” của sự vận động xã hội và con người, bài viết sẽ phân tích những khái niệm quản trị nhân sự truyền thống và hiện đại của phương Tây, so sánh những khác biệt giữa mô hình của phương Đông và phương Tây, và nêu ra sự cần thiết cho một cách tiếp cận hài hòa nhằm hoàn thiện những hoạt động quản trị nhân sự ở cả cấp tổ chức doanh nghiệp cũng như quản lý vĩ mô. Bài viết cũng khái quát những cơ sở l‎ý luận từ nhiều học giả trên thế giới, và những ví dụ thực tế từ các quốc gia và doanh nghiệp để trình bày quan điểm của mình. Châu Âu sẽ là đối tượng được tập trung phân tích sâu trong nghiên cứu này.

    2. Cơ sở lý luận và phân tích

    Kinh tế và chính trị là hai động lực chính giúp cho xã hội loài người phát triển mạnh mẽ từ kỷ nguyên nông nghiệp đến công nghiệp, từ công nghệ đến tri thức. Kết quả của quá trình này là toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế, quá trình giảm bớt các quy định luật lệ, sự thay đổi về công nghệ, hay sự vận động tự do của các luồng tài chính toàn cầu…

    Để đơn giản hóa quá trình này, có thể ví hiện tượng “toàn cầu hóa” giống như lời của nhà văn vĩ đại Lep Tolstoy trong tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình”: “nó bắt đầu từ phương tây, tích tụ lại, phát triển ngày càng lớn hơn”, và cuối cùng lan truyền ra khắp thế giới nhanh như một virus máy tính. Tuy nhiên, trên chặng đường lan tỏa của mình, nó bắt đầu vấp phải rất nhiều sự chống cự từ những “cây Oliu” cũ kĩ đại diện cho hệ thống những giá trị truyền thống của lịch sử, địa lý, và ngôn ngữ riêng của mình (Friedman, 1999).

    Chính những khác biệt về địa l‎ý, văn hóa và hệ thống tôn giáo, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội không đồng đều giữa các khu vực và các quốc gia đã biến thế giới phát triển thành hai hệ thống tư tưởng hoàn toàn trái ngược nhau: giá trị phương tây (gồm có các nước Châu Âu, Bắc Mỹ) và giá trị phương Đông hay phần còn lại của thế giới (gồm các nước châu Á, Châu Phi, Ấn Độ…). Tác giả sẽ xem xét khái quát về hai trường phái này dựa trên cơ sở lý luận của quản trị nhân sự so sánh và hợp nhất.

    Theo Bratton (2003), có khá nhiều quan điểm khác nhau về phong cách quản l‎ý giữa các công ty của châu Á, Châu Phi, Châu Âu và Bắc Mỹ đối với chiến lược quản trị nhân sự của họ, “nghiên cứu quản trị nhân sự so sánh” vì vậy sẽ tập trung làm rõ “bản chất bên trong” và “nguyên nhân” dẫn đến sự khác biệt này giữa các vùng địa l‎ý quốc gia.

    2.1 Văn hóa quản lý phương Tây:

    Nói chung, văn hóa quản l‎ý phương Tây vốn được dựa trên nền tảng các giá trị “Châu Âu cổ đại”, thể hiện ở các mặt của đời sống bao gồm các quy tắc xã hội, tục lệ truyền thống, niềm tin tôn giáo, và hệ thống chính trị. Khái niệm truyền thống về văn hóa Châu Âu gắn liền với các đế chế Châu Âu cổ đại với những “tiến bộ công nghệ và kinh tế vượt bậc” và hàng loạt những ‘cuộc xung đột quốc tế đẫm máu” ở thế kỉ 20 và trước đó.

    Phần nào đúng khi nói rằng, văn hóa quản lý phương Tây có xu thế “truyền bá và phổ biến văn hóa theo kiểu định hướng nhà nước, có tính chất đặc biệt, thực chứng, áp đặt từ trên xuống, hướng theo mô hình Bắc Âu, làm việc đúng giờ như máy móc và tiếp cận phổ quát”.

    Quan điểm này bắt nguồn từ thời kì “kỉ nguyên của cá nhân” khi xã hội châu Âu chứng kiến những nhà chính trị sử dụng các công cụ quản l‎ý để vận động những đám đông bằng cách khéo léo liên kết những sản phẩm sản xuất hàng loạt theo dây chuyền với những nhu cầu vô thức bên trong của con người (Curtis, 2002). Như đã đề cập ở trên, động lực phát triển của xã hội Châu Âu là kinh tế, định hướng thị trường, và cạnh tranh khốc liệt. Con người chỉ được đối xử và coi như những “cỗ máy vui vẻ” hay “đơn vị kinh tế” để đáp ứng những mục đích kinh tế và chính trị. L‎ý thuyết và quan điểm này vẫn còn được sử dụng trong phương pháp quản l‎ý của Châu Âu hiện đại, khi các cá nhân chỉ được coi như những “đơn vị kinh tế”, “có thể thay đổi được”, hay “hoán đổi được” trong những cỗ máy là các tổ chức kinh tế ngày nay (Elkin, 2007). 

    Do mục tiêu tối cao là lợi nhuận và kết quả, phương Tây đã xây dựng những mô hình kinh doanh rất hiệu quả tập trung vào xử l‎ý công việc và kết quả đầu ra. Những khái niệm quản l‎ý như “quản lý cá nhân” hay “làm việc nhóm” đã đươc áp dụng rất thành công nhằm sử dụng nguồn lực hiệu quả, tối đa hóa hoạt động kinh doanh, tạo ra nhiều lợi nhuận cũng như giảm thiểu các chi phí hoạt động.

    Tóm lại, văn hóa quản lý của châu Âu lấy động lực phát triển chính là kinh tế và chính trị. Điểm mạnh của mô hình này là tăng trưởng về lợi nhuận kinh tế, thích ứng nhanh nhạy với thay đổi của thị trường, phân phối hàng hóa và dịch vụ rộng rãi cho người tiêu dùng, tuy nhiên mặt thiếu sót của mô hình này là chưa chú trọng đầy đủ đến các khía cạnh an sinh xã hội và con người.

    2.2 Văn hóa phương Đông và phần còn lại của thế giới:

    Có những quan điểm tiếp cận khác về cách thức quản l‎ý từ phần còn lại của thế giới, như tại Châu Á, Châu Phi, hay Ấn Độ… Ưu tiên tối cao của văn hóa phương Đông là tập trung vào “toàn bộ con người” như  “suy nghĩ, cơ thể, xúc cảm và tinh thần” và các mối quan hệ của con người với cộng đồng xung quanh hơn là những mục tiêu đơn thuần về lợi nhuận kinh tế. Họ gọi tên chúng rất khác nhau, nhưng đều xoay quanh những giá trị cốt lõi của con người, và ‎ý nghĩa về cái tôi, cái bản thể trong đời sống xã hội.

     

    Chẳng hạn với một lịch sử lâu đời, và sự đa dạng về văn hóa và tôn giáo, người Ấn Độ coi trọng những gắn kết truyền thống, cảm xúc con người và duy trì những mối quan hệ dài lâu trong cộng đồng (Chaudhuri, 2010), như những giá trị về gia đình, sự khiêm nhường, tôn trọng lẽ phải và kính trọng những người lớn tuổi, sự hài hòa về tinh thần, ít ganh đua, tinh thần hợp tác…Ngoài ra, họ quan niệm bản chất công việc là để phục vụ cho “thượng đế”, không nhằm mục đích về kinh tế cá nhân mà để tăng trưởng những giá trị về tinh thần. Trong môi trường làm việc, người Ấn Độ quan tâm tới sự đồng cảm về cảm xúc hơn là năng suất công việc. Đối với họ, tầm quan trọng của tổ chức là để đáp ứng nhu cầu xã hội và bày tỏ sự tự tôn giữa các cá nhân với nhau.

    Quan điểm “đạo Khổng” của người Trung Quốc chia sẻ nhiều điểm tương đồng với người Ấn Độ, họ đề cao lễ nghĩa, các giá trị thuộc về gia đình, cách đối nhân xử thế trong cộng đồng. “Một người muốn nhận được sự tôn trọng của mọi người, trước hết phải biết tôn trọng người khác”. Đạo Khổng dựa vào hai nguyên l‎ý căn bản: “Nhân” (humanism), “Lễ” (propriety). Theo người Trung Quốc, chủ nghĩa nhân văn được thể hiện một cách sâu sắc bằng lễ nghĩa. Và chủ nghĩa cá nhân cực đoan bỏ qua suy nghĩ, tình cảm của người khác được coi như bất lịch sự hay vô lễ ở Trung Quốc, thì điều này dường như lại được coi như là khá bình thường tại xã hội Bắc Mỹ. Trong môi trường kinh doanh, một nghiên cứu quy mô kinh doanh hộ gia đình cho thấy, những giá trị văn hóa của Trung Quốc đã được thể hiện rất rõ ràng trong thực tiễn các hoạt động quản lý và tổ chức như việc trao quyền quyết định cao, thực hành phong cách lãnh đạo gia trưởng, chủ nghĩa tập thể và làm việc theo nhóm mạnh, và quản lý theo định hướng gia đình hay “lấy gia đình là trọng tâm” (Wah, 2001).    

    Châu Phi cũng có một thuật ngữ tương tự là “Ubuntu” với hàm nghĩa “chân giá trị con người” và “chia sẻ cộng đồng”, giá trị này đã bám rễ lâu đời vào các giá trị văn hóa Châu Phi. “Umuntu ungumuntu ngabantu” được tạm dịch là “con người chỉ thực sự trở thành con người đầy đủ thông qua những người xung quanh” có nghĩa là sự tồn tại của một con người phụ thuộc vào mối quan hệ xã hội của người đó với cộng đồng. Dưới ảnh hưởng những quan điểm như vậy, người Châu Phi không quan niệm làm việc chỉ vì đồng tiền, mà chân giá trị, lòng tự trọng, bổn phận, và tự do là những giá trị cần phải được thỏa mãn trước tiên. (Elkin, 2007)

    Tóm lại, những giá trị cốt lõi của văn hóa phương Đông hay phần còn lại của thế giới dựa trên yếu tố tinh thần, những phương diện thuộc về con người và gắn với cộng đồng. Điểm mạnh của nó là sự phát triển đầy đủ các khía cạnh thuộc về con người, bằng cách nuôi dưỡng, chăm lo về tâm hồn, cảm xúc, tinh thần và sự tự do của mỗi cá nhân, tuy nhiên điểm yếu chính là thiếu đi tính kỉ luật, tư duy cụ thể, lạm dụng trực giác và kinh nghiệm chủ quan.

    2.3 So sánh giữa phương Đông và phương Tây

    Để có thể dung hòa hai giá trị phương đông và phương tây, đầu tiên chúng ta sẽ tìm hiểu đâu là “căn nguyên cơ bản” dẫn đễn những sự khác biệt như vậy giữa hai nền văn hóa lớn của nhân loại. Bài viết sẽ phân tích hai “căn nguyên cơ bản” nhìn từ góc độ của kinh tế học và hệ tư tưởng.

    2.3.1 “Văn hóa nông nghiệp” phương Đông và “văn hóa công nghiệp” phương Tây: một góc nhìn từ kinh tế học   

    Một trong những sự khác biệt căn bản giữa văn hóa phương đông và phương tây theo góc nhìn của kinh tế học là “sự đúng giờ”. Hầu hết người châu Á (ngoại trừ Nhật Bản) và Châu Phi đều không có thói quen “đúng giờ” trong cả công việc lẫn đời sống hàng ngày. Điều này được giải thích một phần là do dấu ấn của nền kinh tế và xã hội nông nghiệp tự cung tự cấp, tiểu nông, vốn đã ăn sâu vào lề lối tập quán sinh hoạt của người châu Á (hay Châu Phi) từ hàng ngàn năm qua.

    Tại phương Tây, xã hội xem “đúng giờ” như là một đức tính cần thiết của mọi công dân, và “đồng hồ”, một sản phẩm tiêu biểu đại diện cho nền kinh tế công nghiệp cũng bắt nguồn từ phương Tây. Trong xã hội công nghiệp và phương thức sản xuất hàng loạt theo dây chuyền, người phương Tây ‎ý thức rất cao về giờ giấc và quản l‎ý thời gian. Người này đúng giờ, người kia cũng cần bắt kịp và cả guồng máy đều vận hành theo khung thời gian chuẩn mực. Một mắt xích chậm chạp có thể dẫn đến những hậu quả to lớn cho cả hệ thống, vì thế sự chính xác về thời gian được đòi hỏi rất cao, thậm chí đến từng giây.  

    Trong xã hội phương tây, ta có thể dễ dàng nhận thấy hình ảnh đồng hồ hiện diện ở mọi nơi. Nhịp điệu cuộc sống hối hả, đường cao tốc, ăn nhanh, café nhanh ngày nay của xã hội phương tây chính là hệ quả của một nền công nghiệp phát triển mạnh mẽ. Đồng hồ Big Ben, biểu tương của nước Anh là đại diện cho nền công nghiệp đã sớm phát triển tại quốc gia phương Tây này. Ở trường học, từ bé học sinh đã được rèn luyện tính đúng giờ, và khả năng hoàn thành bài tập đúng hạn là một trong những yếu tố rất quan trọng để đánh giá sự thành công của trẻ trong tương lai.

    Ngược lại, tại các quốc gia Châu Á, Châu Phi hay Nam Mỹ, con người lại bị ảnh hưởng rất lớn bởi nhịp điệu tự nhiên, điều này có nguyên nhân ảnh hưởng từ phương thức sản xuất của nền kinh tế nông nghiệp. Hàng nghìn năm qua, họ không cần “đồng hồ” mà làm việc và nhịp điệu sinh hoạt dựa trên những thay đổi của tự nhiên hay thời tiết, bởi mặt trăng và mặt trời (Quốc, 2010). Có một câu ca dao của Việt Nam đã mô tả đầy đủ tính chất này của nhà nông như sau: “trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm”. Họ thức dậy lúc gà gáy, ra đồng lúc mặt trời lên, nghỉ trưa lúc mặt trời đứng bóng, và về nhà nghỉ ngơi ăn tối trước lúc mặt trời lặn. Yếu tố về địa lý khí hậu nóng, lạnh cũng là một nguyên nhân dẫn tới xu hướng lối sống gần với thiên nhiên hơn của người phương Đông so với người phương Tây.

     

     

    (Liu, 2010)

    Cách nhìn từ kinh tế học này lí giải thích vì sao người phương Đông có xu hướng sống gần với thiên nhiên hơn, còn người phương Tây thường tuân thủ quy chuẩn về thời gian một cách nghiêm khắc hơn. Điều này dẫn đến những hệ quả khác nhau: người phương Đông thường sử dụng cảm xúc, tư duy trực giác và kinh nghiệm chủ quan trong khi người phương Tây thường sử dụng tư duy logic, luận chứng và thực nghiệm.

    2.3.2 “Chủ nghĩa cộng đồng” phương Đông và “chủ nghĩa cá nhân” phương Tây: một góc nhìn từ hệ tư tưởng

    Trong bộ phim “giải cứu binh nhì Ryan”, Ryan là con trai của một gia đình Mỹ mà cha và hai anh trai vừa mới hy sinh trong khi phục vụ quân đội tại thế chiến thứ hai. Cùng thời điểm đó, Ryan bị rơi vào một trận địa nguy hiểm và nếu anh ta hy sinh, thì sẽ không còn ai sống sót để nối dõi cho dòng họ Ryan. Người mẹ của Ryan cùng một lúc nhận được tin xấu của chồng và con, và vì thế sẽ không chịu được nỗi đau nếu Ryan cũng phải hy sinh. Lãnh đạo quân đội Mỹ đã quyết định cử một tiểu đội bằng mọi giá phải cứu được binh nhì Ryan về với gia đinh. Kết thúc phim, Ryan được cứu sống và gần cả tiểu đội đã hy sinh vì sự sống của một binh nhì mới nhập ngũ. (Spielberg, 1998)

    Ở nửa bên kia quả địa cầu, tại cuộc chiến tranh Việt Nam, trong một trận chiến ác liệt của quân đội Mỹ tại thị xã Trà Lĩnh, hàng trăm người dân và bộ đội Việt Nam đang trú ẩn trong hang Hòn Kèm. Lính Mỹ vẫn tìm kiếm và bắn phá ác liệt bên ngoài hang, thì đứa bé mới ba tháng của bà Năm bỗng cứ khóc thét lên. Mọi người sợ tiếng khóc sẽ làm lính Mỹ phát hiện ra nơi trú ẩn và tính mạng của hơn 200 người dân và bộ đội sẽ lâm vào tình thế nguy hiểm. Vào một đêm đông năm 1969, người mẹ này đã hy sinh đứa con rút ruột của mình để cứu sống hàng trăm người dân vô tội (Dien, 2008).

    Hai câu chuyện đều kể về chiến tranh, và sự hy sinh cao cả của con người nhưng mang những ý nghĩa rất khác nhau về hệ tư tưởng từ hai phía. Trong xã hội chủ nghĩa tập thể, con người coi trọng những cá nhân có thể sẵn sàng hy sinh lợi ích của mình vì lợi ích của cả tập thể (Elkin, 2007), ngược lại tại xã hội phương Tây, vai trò của cá nhân được đặt lên trên hết, nhu cầu và ước muốn của cá nhân phải được thỏa mãn trước tiên.

    2.4 Sự cần thiết cho một cách tiếp cận hài hòa

    Trong tác phẩm nổi tiếng của mình, Friedman đã nhấn mạnh rằng vấn đề khó khăn nhất của bất kì một quốc gia hay cá nhân là có thể tìm kiếm được sự cân bằng lành mạnh nhất giữa việc gìn giữ, bảo tồn những giá trị gốc rễ, gia đình và cộng đồng” và “thực hiện những gì cần thiết để tồn tại trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay”. Họ cần phải cố gắng làm ra chiếc Lexus tốt hơn cũng như gìn giữ những cây Oliu cổ kính của mình (Friedman, 1999).

    Sau khi thấy rõ sự khác biệt căn bản, nguyên nhân, cũng như điểm mạnh và điểm yếu của từng mô hình quản lý, chúng ta thấy sự cần thiết phải xây dựng một mô hình hài hòa bằng cách kết hợp những điểm tinh túy nhất của cả hai giá trị phương Đông và phương Tây trong một thế giới đa cực ngày nay.

    Trở lại câu hỏi rằng phương tây có xu hướng “truyền bá và phổ biến văn hóa theo kiểu định hướng nhà nước, có tính chất đặc biệt, thực chứng, áp đặt từ trên xuống, hướng vào mô hình Bắc Âu, làm việc đúng giờ như máy móc và tiếp cận phổ quát”. Điều nay là đúng một phần ở kỉ nguyên công nghiệp và công nghệ tại châu Âu, tuy nhiên văn hóa quản lí hiện đại ngày nay đặc biệt là những giá trị châu Âu cũ đã được thay đổi thành những mô hình mới chú trọng hơn vào các yếu tố xã hội với con người và lấy phúc lợi xã hội làm trung tâm. Các mô hình này khác xa với các mô hình “phương tây khác” như tại Mỹ hay Nhật Bản (Bowden and Mulnix, 2005). Tại châu Âu, có ít nhất bốn mô hình xã hội như: “dân chủ xã hội” (các nước Bắc Âu), “bảo thủ” (các nước Châu Âu lục địa), “tự do” (Anh quốc), “gia đình trung tâm” (các nước khu vực Địa Trung Hải như Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha) và khu vực Đông Âu (một số nước mới chuyển đổi mới gia nhập EU), trong đó mô hình “dân chủ xã hội” của Bắc Âu đang thể hiện tình ưu việt hơn cả trong viêc xóa đói nghèo, giảm tỉ lệ thất nghiệp, cũng như duy trì sự phồn thịnh và phát triển của xã hội. Đặc điểm nổi bật của mô hình này dựa vào ba trụ cột vững chắc: phúc lợi xã hội, hệ thống y tế đảm bảo, phổ cập giáo dục với nhiều ưu tiên vào “phát triển nguồn lực con người” (Dinh, 2010).

    Thách thức của châu Âu là làm sao vẫn giữ vững được bản sắc quốc gia và thúc đẩy sự đa dạng của cả khối châu Âu, cân bằng được “những cơ hội hội nhâp” và “sự đa dạng” vốn có của cả khối (Boone and Bosch, 1997).

    Năm 2008 được Ủy ban châu Âu đặt tên là “năm châu Âu đối thoại liên văn hóa” với các hoạt động tăng cường sự đa dạng văn hóa, thúc đẩy quá trình cùng hợp tác và chung sống, khuyến khích công dân Châu Âu tích cực hơn nữa trong một liên minh châu Âu ngày càng hội nhập (Europa, 2008).

    2.5 Lý thuyết: “đặt con người vào trung tâm”

    Sự kết thúc của thời kì công nghiệp và sự ra đời của thời kì kinh tế tri thức đã dẫn đến những thay đổi căn bản trong lý thuyết và thực tiễn của quản trị nhân sự phương Tây. Đã có sự chuyển dịch dần từ phong cách quản lý nhân sự “cứng” sang quản l‎ý nhân sự “mềm”, từ “cách thức phương tiện” khi xem con người chỉ đơn thuần là các “đơn vị kinh tế” tiến tới “chủ nghĩa phát triển nhân văn”, cộng tác tin cậy và phát triển các kĩ năng cá nhân.

            

    Chiến lược quản lý nhân sự hợp nhất hiện đại bao gồm hai yếu tố: kiểm soát (mức độ kiểm soát) và nguồn lực (mua lại và phát triển). Tùy thuộc vào mức độ sử dụng tỉ lệ giữa hai yêu tố trên, sẽ có bốn loại chiến lược nhân sự phù hợp là “trách nhiệm”, “hợp tác”, “mệnh lệnh”, và “cổ điển”. Mỗi một loại chiến lược sẽ được sử dụng phù hợp với từng loại tổ chức và ngành nghệ nhất định.

    Trong đó, chiến lược quản trị nhân sự “cổ điển” hay “truyền thống” như đã được phân tích ở trên, sử dụng phương thức “cứng”, bỏ qua những khía cạnh về con người, theo đó công tác quản trị nhân sự của tổ chức doanh nghiệp tập trung chủ yếu vào giám sát và kiểm soát người lao động, và “mua lại” (tuyển dụng trực tiếp) từ thị trường lao động hơn là “tạo ra” (đầu tư vào phát triển và đào tạo) nguồn nhân sự của mình (Bratton and Gold 2007)  .

    Mô hình khác là chiến lược quản trị nhân sự có “trách nhiệm”, trong đó tổ chức dựa vào sự phát triển năng lực nhân sự từ các nguồn lực bên trong và không kiểm soát chặt chẽ nhân viên của mình trong một “tổ chức học hỏi và chia sẻ”

    Trong mô hình này, Phương Tây hiện đại một phần nào đó đã bổ sung những yếu tố rất quan trọng như “đạo đức kinh doanh”, “yếu tố tinh thần”, “những giá trị đa văn hóa” trong lý thuyết về lãnh đạo và quản lý của mình.

    Đầu tiên, ở mức độ cá nhân, con người sẽ làm việc tốt hơn và sáng tạo hơn nếu họ nhận ra được những ‎ỹ nghĩa về giá trị cuộc sống thông qua quá trình nhận thức và phát triển bản thân (Elkin, 2007). Những nội lực tinh thần thúc đẩy từ bên trong sẽ giúp cho cá nhân tìm được ‎ý nghĩa trong công việc của họ, biết cách cải thiện mối quan hệ với đồng nghiệp, và truyền cảm hứng về các trách nhiệm công việc. Trong bộ phim “Ngày thứ 3 với Morrie”, cận kề với cái chết, người học trò đã nhận ra được ý nghĩa đích thực của cuộc sống khi phát hiện ra những giá trị của sự tự nhận thức, tình yêu thương với mọi người, học cách chấp nhận với cái chết hơn là đề cao những mục đích về giá trị vật chất (Alborn, 1997).  

    Ở mức độ tổ chức, theo Elkin (2007), một nghiên cứu cho thấy những công ty nào tập trung vào “những giá trị cốt lõi” (những niềm tin phi kinh tế và văn hóa trao quyền), không quá chú trọng vào những “mục tiêu kinh doanh”, sẽ có nhiều cơ hội thể vượt qua những đối thủ cạnh tranh hơn. Thêm vào đó, những tổ chức với “sự thiết kế cơ cấu tập trung vào con người” sẽ đạt được sự hài lòng lớn hơn, cam kết lớn hơn, hiệu quả năng suất lao động cao trong hệ thống của mình. (Neal 1999 và Elkin 2007)

    Trong một nghiên cứu khác về thiết kế tổ chức cho thấy mặc dù những giá trị tinh thần không được thể hiện trực tiếp trong bất kỳ một lý thuyết về tổ chức quản lý nào, và không ảnh hưởng tới thực tiễn hoạt động của tổ chức trong ngắn hạn, nhưng chúng dần tạo ra sự chuyển hóa tổ chức tại một ngưỡng quan trọng như nhiều người thường gọi đó là “sự kỳ diệu”, “ơn chúa” hay “phép màu” (Neal 1999). Những giá trị vô hình đặc biệt này, bằng nhiều cách, sẽ tác động mạnh mẽ tới sự thành công của tổ chức trong triển vọng dài hạn. Hơn nữa, vai trò về giá trị cá nhân trong thiết kế tổ chức có ý nghĩa quan trọng vì những mối quan hệ và sự tương tác của con người mới chính là những hoạt động cốt lõi trong bất kỳ một mô hình tổ chức chính thức hay phi chính thức nào. Cơ cấu tổ chức nội bộ và đạo đức kinh doanh cũng được liên kết chặt chẽ và được thiết kế rõ ràng để thu hút và giữ chân nguồn nhân lực có chất lượng, thúc đẩy hiệu quả công việc của nhân viên. Xét trên khía cạnh kinh tế, chính “hành vi đạo đức” cũng mang lại những lợi ích kinh tế hay “yếu tố bên ngoài có tác động tích cực” dựa vào danh tiếng của công ty, giúp nâng cao giá trị thương hiệu, tạo ra sự khác biệt và nâng cao nhu cầu của sản phẩm lên đáng kể (Brickley, 2002).

    Cũng có thể nhận thấy, bên cạnh những mục tiêu kinh tế, giá trị tinh thần đã được thể hiện rõ trong những tuyên ngôn về tầm nhìn và nhiệm vụ của nhiều tổ chức lớn, chẳng hạn như các tập đoàn Tata, Infosys (Ấn Độ) với những cam kết của họ đối với hỗ trợ xã hội, xây dựng môi trường làm việc thân thiện, và những cơ hội được học tập của nhân viên…(Elkin, 2007). Một ví dụ khác nữa là người khổng lồ về công nghệ thông tin, như IBM từ lâu đã nổi tiếng về với những giá trị về sự đa dạng về lực lượng lao động, những giá trị chia sẻ, cơ hội phát triển bình đằng, sự cân bằng cuộc sống và công việc hay thực thi luật về người đồng tính (GLBT) tại môi trường làm việc.

    3. Kết luận:

    Những mặt mạnh và yếu của hai nền văn hóa lớn đã được đưa ra xem xét và phân tích. Có thể trên thực tế phần nào văn hóa quản lý của phương Tây cổ điển thường phổ biến những giá trị châu Âu và phủ nhận những giá trị tinh thần từ các nền văn minh khác trên thế giới. Văn hóa quản lý phương Tây hiện đại đã tiếp nhận, học hỏi và bổ sung những giá trị quan trọng này trong quan điểm quản lý, cả ở lý thuyết và trên thực tiễn tổ chức doanh nghiệp.

    “Thế giới phải là đa cực”, phát biểu của tổng thống Nga mang nhiều ý nghĩa, nhưng có một thông điệp chung về một sự “cân bằng lành mạnh hơn” giữa những chiếc Lexus hiện đại và những cây oliu cổ kính, giữa động lực kinh tế và động lực tinh thần, giữa những giá trị thực chứng của châu Âu và giá trị tinh thần của phương Đông trong một thế giới toàn cầu hóa mạnh mẽ như ngày nay.

     

    1. Alborn, M., (1997) Tuesday’s with Morrie film, Random House, United States

    2. Boone, P, and Van Den Bosch, A.J (1997) Discerning a key characteristics of a European Style of Management, International Studies of Management and Organization, Vol. 26, No.3, 109-127

    3. Bowden, R., Mulnix, M., (2005), Business Education: a view of U.S and European Management Styles, Problems and Perspectives in Management 2, 123-134.

    4. Bratton J., Gold J., (2007) Human resource management, chapter 2, 4th Edition, Palgrave Macmillan, London

    5. Brickley, A.J., Smith W.C., (2002) Zimmerman L.J, Business ethics and organization architecture, Journal of Banking & Finance, USA

    7. Chaudhuri, A., (2010) Yes: Indian Style of Management – Theory ‘i’ management.

    8. Curtis, A., (2002) The century of the self, Part 1, BBC Four, United Kingdom

    9. Dien, C.V., (2008) A night mare in Hon Kem cave, Tuoi Tre News, chúng tôi Vietnam

    10. Dinh C.T., (2010), European Social Model, Institute for European Studies Vietnam

    11. Elkin, G., Sharma, R. (2007)People, organization, management: lessons for the industrialized world from the rest of the world, Global Business and Economics Review, 9(4), 395-417

    12. Enote, (2010), Western Culture, Enote.com

    13. Europa, (2008), European Year of Intercultural dialogue 2008, Europa,

    14. Friedman, L.T., (1999) The Lexus and the Olive tree, Farrar, Straus, and Gioux, New York

    15. Hughes C.M.J., (2002) HRM and universalism: is there one best way?, International Journal of Contemporary Hospitality Management 14(5), Emerald

    16. Liu Y, (2010) Ost trifft West, Exhibition East meets West differences of Geman and Chinese, Yang Liu Design [http://www.yangliudesign.com]

    17. Neal, J.A., Lichtenstein, B.M.B., & Banner, D. (1999) Spiritual perspectives on inpidual, organizational and societal transformation, Journal of Organizational Change Management, 12, 175-185

    18. Quoc, H.N., (2010) Vietnamese people and “Clockwork” translated, Voice of America, VOAnews.com

    19. Spielberg S., (1998) Saving Private Ryan film, DreamWorks, United States

    20. The Associated Press.,(2008) Russia President: “The world must be multi-polar”The Associated Press,

    21. Wah, S.S., (2001) Chinese Culture values and their implications to Chinese Management, Singapore Institute of Management 

    22. Yum, J., (2007) Confucianism & Communication: Jen, Li and Ubuntu, China Media Research, 3(4)

     

     

    5. Phụ Lục:Ost trifft West (Yang Liu)

     

    Source: http://www.yangliudesign.com/

     

    1. Quan điểm (Đông- Tây)2. Lối sống

         

     

    3: Thời gian                       4: Xếp hàng

       

     

    5: “Cái tôi”                        6: Trong nhà hàng

       

     

    7: Stomatch Ache                     8: 3 bữa ăn

       

     

    9: Xe cộ                                 10: Thời gian tắm

       

     

    11: Thời tiết và cảm xúc       12: Đồ mới

       

     

    13: Giao tiếp                         14: Thể hiện  

       

     

    15: Ngày Chủ nhật trên đường 16: Trong bữa tiệc 

       

     

    17: Du lịch                        18: Trình bày ý tưởng

       

     

    19: Người già                    20: Người lãnh đạo

       

     

     

     

     

    21: Thị hiếu                      22: Trẻ con

       

     

    23: Sự hiểu biết lẫn nhau giữa phương Tây và phương Đông

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khác Biệt Giữa Văn Hóa Phương Tây Và Việt Nam (Hay Phương Đông Nói Chung)
  • 4 Điểm Khác Biệt Giữa Ẩm Thực Phương Đông Và Phương Tây
  • Đặc Trưng Của Ẩm Thực Phương Tây? Món Ăn Phương Tây Khác Biệt Phương Đông?
  • Chuyên Đề Xã Hội Cổ Đại
  • Đánh Giá Ưu Nhược Điểm Nam Châm Phẳng Và Nam Châm Điện
  • Sự Khác Biệt Giữa Kiến Trúc Phương Đông Và Phương Tây Cổ Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiến Trúc Phương Đông Và Phương Tây Có Điểm Gì Khác Nhau?
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Triết Học Phương Đông Và Triết Học Phương Tây Thời Cổ Đại (2)
  • Tài Liệu Sự Khác Biệt Giữa Triết Học Phương Đông Và Phương Tây
  • Sự Khác Biệt Giữa Rồng Phương Đông Và Rồng Phương Tây.
  • Bí Mật Về Rồng: Rồng Phương Đông Và Phương Tây Khác Nhau Ra Sao?
  • Trước khi có thể so sánh kiến trúc phương đông và phương tây, đầu tiên chúng ta cần tìm hiểu về các công trình kiến trúc phương Đông cổ đại trước:

    Được xem là “cái nôi của nhân loại”, kiến trúc phương Đông cổ đại đã chứng minh được tầm quan trọng khi xuất hiện trên trái đất khoảng hơn 8.000 năm trước Công Nguyên ở khu vực Lưỡng Hà. Những công trình kiến trúc phương Đông cổ đại được tìm thấy ở những khu vực thuộc Syria ngày nay như Abu Hureyra, Mureybet,…đa phần đa phần đều là những tòa nhà bán ngầm (semi-subterranean dwellings) hình tròn.

    Ngoài ra, một phần tường hình tròn cũng đã được các nhà khảo cổ khai quật ở Zagros. Đây được xem là một trong những công trình kiến trúc đầu tiên xuất hiện ở khu vực phía bắc Lưỡng Hà. ngoài ra còn rất nhiều công trình kiến trúc khác được tìm thấy ở vùng Maghzaliyah, gần Yarim Tepe với các kết hình vuông được làm từ các khối bùn hoặc các thành đá cư trú (megalithic settlement wall).

    Kiến trúc cổ đại phương Đông Ziggurat

    Vào khoảng 3500 năm trước Công Nguyên, cư dân người Sumer đã tới Lưỡng Hà định cư và xây dựng nền văn minh ở Lưỡng Hà cho đến thời đại Babylon. Đây còn được xem là sự bắt nguồn sáng tạo nên chữ viết (khoảng năm 3100 năm trước Công Nguyên). Các công trình kiến trúc cổ đại phương Đông được xây dựng trong thời gian này chủ yếu là các đền đài tôn giáo. Vật liệu xây dựng chủ yếu là gạch và bùn dạng hình lồi. Gạch lồi được làm từ đất sét ở vùng Lưỡng Hà, sau đó được nung lên hoặc phơi khô dưới ánh sáng mặt trời. Đa phần các viên gạch đều có hình dạng phẳng phía dưới, phía trên có dạng chỏm cầu. Sau đó, cư dân Summer sẽ chồng các viên gạch lên với nhau, sử dụng bùn để làm vữa kết dính, từ đó xây dựng nên Đài chiêm tinh Ziggurat (hay còn gọi là bệ núi) thường được rất nhiều người sùng bái, tạo thành tín ngưỡng riêng trong thời điểm đó. Để có thể tạo được độ chắc chắn, ổn định cao nhất trong công trình xây dựng, họ đã đặt một hàng gạch phẳng xuống đáy của mỗi hàng gạch.

    Nói riêng về Ziggurat, đây là một kiểu công trình kiến trúc cổ đại phương Đông rất thịnh hành trong thời điểm 3100 trước Công Nguyên, Ziggurat là loại hình kiến trúc kiểu tầng bậc,càng lên cao thì càng nhỏ lại, trên đỉnh có một đền thờ nhỏ. Mỗi một thành phố của người Sumer đều có ít nhất 1 tòa tháp Ziggurat.

    Sau khi nền văn minh Lưỡng Hà dần bị suy sụp vào cuối thiên niên kỷ thứ III trước Công Nguyên, tộc người Elam và người Amorites xâm lược và xây dựng nên hai quốc gia ở Bắc Lưỡng Hà là Esnunna và Marie, Nam Lưỡng Hà là Ixine và Laxa. Đến thế kỷ XIX trước Công Nguyên, người Amorites thống nhất Bắc Lưỡng Hà và tạo lập nên quốc gia cổ Babylon với rất nhiều kiến trúc cổ đại phương Đông đẳng cấp, một số kiến trúc còn được áp dụng ở thời hiện đại (phong cách vườn treo Babylon).

    Ngoài thành cổ Babylon, còn rất nhiều công trình kiến trúc phương Đông và phương Tây cổ đại được lưu giữ đến thời hiện đại như những khu đền tháp ở Ấn Độ, Kim tự tháp của Ai Cập,…đều là minh chứng rõ ràng nhất về kì tích sức lao động và sự sáng tạo của con người.

    Quốc gia cổ Babylon với rất nhiều công trình kiến trúc cổ đại phương Đông đẳng cấp

    Kiến trúc cổ đại phương Tây

    Sau khi tìm hiểu về phương Đông, tiếp theo chúng ta sẽ cùng nghiên cứu kiến trúc phương Tây để có thể so sánh kiến trúc cổ đại phương đông và phương tây một cách chính xác và toàn diện nhất.

    Nhắc đến kiến trúc cổ đại phương Tây, hầu hết mọi người đều sẽ nghĩ đến kiến trúc Hy Lạp, La Mã cổ đại đầu tiên.

    Kiến trúc Hy Lạp cổ đại ra đời và hình thành trên miền Nam bán đảo Balkans, Pháp, Sicilia, Ý, vùng ven Hắc Hải, khu vực Tiểu Á, các đảo nhỏ vùng Aegaeum, Tây Ban Nha và Ai Cập.

    Hai trong những quần thể kiến trúc công cộng phổ biến của Hy Lạp cổ đại là Agora và Acropol.

    Thông thường, kiến trúc Agora sở hữu dạng hình học nhất định với những hàng cột thức hai tầng bao vây xung quanh, ở giữa công trình là vị trí của bàn thờ và tượng thần.

    Kiến trúc Agora sở hữu dạng hình học nhất định với những hàng cột thức hai tầng bao vây xung quanh

    Ngoài ra, kiến trúc cổ đại phương Tây còn được chia thành những giai đoạn với những công trình tiêu biểu như sau:

    • Loại đền cổ có dạng hình chữ nhật, lối vào chính ở cạnh ngắn và có hai cột ở chính cạnh ngắn này, gọi là dạng cột đôi ở hiên (Distyle).
    • Loại đền cổ thứ hai được xem như phiên bản “nâng cấp” của loại thứ nhất khi được bổ sung thêm hai cột cạnh ngắn ở phía sau đền, hay còn được gọi là dạng cột đôi ở hiên cả 2 đầu.
    • Loại đền cổ thứ ba sở hữu bốn cột ở phía trước, thường gọi là Prostyle.
    • Loại thứ tư là đền cổ có kiến trúc hình tròn, ở vành bên ngoài có hàng cột vòng quanh, thường được gọi là Tholos.
    • Trong giai đoạn tiếp theo, chủ yếu phát triển loại hình đền cổ hình chữ nhật với tường chịu lực, mặt ngoài tường được ghép thêm các cột khác nhau, gọi là Pseudo-Peripteral.
    • Loại đền Peripteral có hình chữ nhật và thêm một hàng cột chạy ở vành ngoài chu vi kiến trúc.

    Kiến trúc Hy Lạp cổ đại

    Như vậy, khi so sánh kiến trúc cổ đại phương đông và phương tây, không khó để nhận ra trong khi kiến trúc cổ đại phương Đông được xây dựng theo nền văn minh Lưỡng Hà với những công trình kiến trúc đồ sộ thiết kế theo hình tháp, chóp nhọn, thì kiến trúc cổ đại phương Tây lại thiên về những công trình hình chữ nhật và hình tròn, hình vòm nhiều hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Địa Lý 6 Tiết 15: Địa Hình Bề Mặt Trái Đất
  • Sự Khác Biệt Giữa Tết Miền Bắc Và Tết Miền Nam
  • Xác Định Mục Đích Và Mục Tiêu Nghiên Cứu, Câu Hỏi Và Giả Thiết Nghiên Cứu
  • Sự Khác Biệt Giữa Nợ Phải Trả Và Vốn Chủ Sở Hữu Là Gì
  • Sự Khác Biệt Giữa Nợ Và Vốn Chủ Sở Hữu
  • Sự Khác Biệt Giữa Kiến Trúc Phương Đông Và Phương Tây Cổ Đại 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Phương Đông Và Phương Tây Qua Bộ Ảnh Cực Thú Vị
  • Sự Khác Nhau Giữa Quản Trị Nguồn Nhân Lực Và Quản Trị Nhân Sự
  • Sự Khác Nhau Giữa Quản Lý Cung Ứng Và Logistics
  • Sự Khác Biệt Giữa Quản Lý Và Quản Trị
  • Sự Khác Biệt Giữa Đi Nghĩa Vụ Công An Và Đi Nghĩa Vụ Quân Sự
  • Trước khi có thể so sánh kiến trúc phương đông và phương tây, đầu tiên chúng ta cần tìm hiểu về các công trình kiến trúc phương Đông cổ đại trước:

    Được xem là “cái nôi của nhân loại”, kiến trúc phương Đông cổ đại đã chứng minh được tầm quan trọng khi xuất hiện trên trái đất khoảng hơn 8.000 năm trước Công Nguyên ở khu vực Lưỡng Hà. Những công trình kiến trúc phương Đông cổ đại được tìm thấy ở những khu vực thuộc Syria ngày nay như Abu Hureyra, Mureybet,…đa phần đa phần đều là những tòa nhà bán ngầm (semi-subterranean dwellings) hình tròn.

    Ngoài ra, một phần tường hình tròn cũng đã được các nhà khảo cổ khai quật ở Zagros. Đây được xem là một trong những công trình kiến trúc đầu tiên xuất hiện ở khu vực phía bắc Lưỡng Hà. ngoài ra còn rất nhiều công trình kiến trúc khác được tìm thấy ở vùng Maghzaliyah, gần Yarim Tepe với các kết hình vuông được làm từ các khối bùn hoặc các thành đá cư trú (megalithic settlement wall).

    Kiến trúc cổ đại phương Đông Ziggurat

    Vào khoảng 3500 năm trước Công Nguyên, cư dân người Sumer đã tới Lưỡng Hà định cư và xây dựng nền văn minh ở Lưỡng Hà cho đến thời đại Babylon. Đây còn được xem là sự bắt nguồn sáng tạo nên chữ viết (khoảng năm 3100 năm trước Công Nguyên). Các công trình kiến trúc cổ đại phương Đông được xây dựng trong thời gian này chủ yếu là các đền đài tôn giáo. Vật liệu xây dựng chủ yếu là gạch và bùn dạng hình lồi. Gạch lồi được làm từ đất sét ở vùng Lưỡng Hà, sau đó được nung lên hoặc phơi khô dưới ánh sáng mặt trời. Đa phần các viên gạch đều có hình dạng phẳng phía dưới, phía trên có dạng chỏm cầu. Sau đó, cư dân Summer sẽ chồng các viên gạch lên với nhau, sử dụng bùn để làm vữa kết dính, từ đó xây dựng nên Đài chiêm tinh Ziggurat (hay còn gọi là bệ núi) thường được rất nhiều người sùng bái, tạo thành tín ngưỡng riêng trong thời điểm đó. Để có thể tạo được độ chắc chắn, ổn định cao nhất trong công trình xây dựng, họ đã đặt một hàng gạch phẳng xuống đáy của mỗi hàng gạch.

    Nói riêng về Ziggurat, đây là một kiểu công trình kiến trúc cổ đại phương Đông rất thịnh hành trong thời điểm 3100 trước Công Nguyên, Ziggurat là loại hình kiến trúc kiểu tầng bậc,càng lên cao thì càng nhỏ lại, trên đỉnh có một đền thờ nhỏ. Mỗi một thành phố của người Sumer đều có ít nhất 1 tòa tháp Ziggurat.

    Sau khi nền văn minh Lưỡng Hà dần bị suy sụp vào cuối thiên niên kỷ thứ III trước Công Nguyên, tộc người Elam và người Amorites xâm lược và xây dựng nên hai quốc gia ở Bắc Lưỡng Hà là Esnunna và Marie, Nam Lưỡng Hà là Ixine và Laxa. Đến thế kỷ XIX trước Công Nguyên, người Amorites thống nhất Bắc Lưỡng Hà và tạo lập nên quốc gia cổ Babylon với rất nhiều kiến trúc cổ đại phương Đông đẳng cấp, một số kiến trúc còn được áp dụng ở thời hiện đại (phong cách vườn treo Babylon).

    Ngoài thành cổ Babylon, còn rất nhiều công trình kiến trúc phương Đông và phương Tây cổ đại được lưu giữ đến thời hiện đại như những khu đền tháp ở Ấn Độ, Kim tự tháp của Ai Cập,…đều là minh chứng rõ ràng nhất về kì tích sức lao động và sự sáng tạo của con người.

    Quốc gia cổ Babylon với rất nhiều công trình kiến trúc cổ đại phương Đông đẳng cấp

    Kiến trúc cổ đại phương Tây

    Sau khi tìm hiểu về phương Đông, tiếp theo chúng ta sẽ cùng nghiên cứu kiến trúc phương Tây để có thể so sánh kiến trúc cổ đại phương đông và phương tây một cách chính xác và toàn diện nhất.

    Nhắc đến kiến trúc cổ đại phương Tây, hầu hết mọi người đều sẽ nghĩ đến kiến trúc Hy Lạp, La Mã cổ đại đầu tiên.

    Kiến trúc Hy Lạp cổ đại ra đời và hình thành trên miền Nam bán đảo Balkans, Pháp, Sicilia, Ý, vùng ven Hắc Hải, khu vực Tiểu Á, các đảo nhỏ vùng Aegaeum, Tây Ban Nha và Ai Cập.

    Hai trong những quần thể kiến trúc công cộng phổ biến của Hy Lạp cổ đại là Agora và Acropol.

    Thông thường, kiến trúc Agora sở hữu dạng hình học nhất định với những hàng cột thức hai tầng bao vây xung quanh, ở giữa công trình là vị trí của bàn thờ và tượng thần.

    Kiến trúc Agora sở hữu dạng hình học nhất định với những hàng cột thức hai tầng bao vây xung quanh

    Ngoài ra, kiến trúc cổ đại phương Tây còn được chia thành những giai đoạn với những công trình tiêu biểu như sau:

    • Loại đền cổ có dạng hình chữ nhật, lối vào chính ở cạnh ngắn và có hai cột ở chính cạnh ngắn này, gọi là dạng cột đôi ở hiên (Distyle).
    • Loại đền cổ thứ hai được xem như phiên bản “nâng cấp” của loại thứ nhất khi được bổ sung thêm hai cột cạnh ngắn ở phía sau đền, hay còn được gọi là dạng cột đôi ở hiên cả 2 đầu.
    • Loại đền cổ thứ ba sở hữu bốn cột ở phía trước, thường gọi là Prostyle.
    • Loại thứ tư là đền cổ có kiến trúc hình tròn, ở vành bên ngoài có hàng cột vòng quanh, thường được gọi là Tholos.
    • Trong giai đoạn tiếp theo, chủ yếu phát triển loại hình đền cổ hình chữ nhật với tường chịu lực, mặt ngoài tường được ghép thêm các cột khác nhau, gọi là Pseudo-Peripteral.
    • Loại đền Peripteral có hình chữ nhật và thêm một hàng cột chạy ở vành ngoài chu vi kiến trúc.

    Kiến trúc Hy Lạp cổ đại

    Như vậy, khi so sánh kiến trúc cổ đại phương đông và phương tây, không khó để nhận ra trong khi kiến trúc cổ đại phương Đông được xây dựng theo nền văn minh Lưỡng Hà với những công trình kiến trúc đồ sộ thiết kế theo hình tháp, chóp nhọn, thì kiến trúc cổ đại phương Tây lại thiên về những công trình hình chữ nhật và hình tròn, hình vòm nhiều hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Phương Đông Và Phương Tây
  • Sự Khác Nhau Giữa Tổ Chức Tiệc Cưới Phương Tây Và Phương Đông
  • Sự Khác Biệt Giữa Nét Đẹp Của Phụ Nữ Á Đông Và Tây Phương
  • Đạo Chúa Khác Đạo Phật
  • 7 Yếu Tố Tạo Sự Khác Biệt Giữa 2 Công Cụ: Pr Và Quảng Cáo
  • So Sánh Giữa Chế Độ Phong Kiến Phương Đông Và Phương Tây

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Tiểu Luận Sự Khác Biệt Âm Nhạc Phương Đông Và Phương Tây
  • Sự Khác Nhau Giữa Pin Điện Năng Lượng Mặt Trời Mono Và Poly
  • Nên Lựa Chọn Mua Tấm Pin Năng Lượng Mặt Trời Nào Tốt Giữa Mono Và Poly
  • Sự Khác Biệt Giữa Các Tấm Pin Mặt Trời Mono Và Poly Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Marketing Và Advertising
  • – Xã hội hình thành ba giai cấp: giai cấp chủ nô (gồm các quý tộc thị tộc trong công xã, bộ lạc, liên minh bộ lạc; những thương nhân tích lũy được nhiều của cải và bắt người sản xuất phải phụ thuộc họ về kinh tế; những tăng lữ nắm cả vận mệnh tinh thần và vật chất của cư dân; một số ít là nông dân, bình dân hoặc một số ít thợ thủ công do tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất đã dần dần giàu lên); giai cấp nông dân, thị dân nghèo, họ có chút ít tài sản; giai cấp nô lệ (tù binh chiến tranh và nông dân, thị dân nghèo bị phá sản).Những lợi ích căn bản giữa chủ nô và nô lệ đối lập nhau, vì thế mâu thuẫn giai cấp hết sức gay gắt tới mức không thể điều hòa được., đấu tranh giai cấp diễn ra quyết liệt. Các hình thức tổ chức xã hội trong xã hội nguyên thủy không thể giải quyết được thực trạng đó và nó không còn phù hợp để tồn tại. Giai cấp chủ nô cần phải có một tổ chức mới để củng cố và tăng cường địa vị của mình. Đó là bộ máy bạo lực, gồm các quan chức hành chính, tòa án, nhà tù, quân đội, cảnh sát để đàn áp người lao động. Tổ chức đó gọi là Nhà nước.

    – Sự ra đời của Nhà nước cổ đại ở phương Đông và phương Tây đều tuân theo một qui luật chung, đó là sự hình thành trên cơ sở những mâu thuẫn giai cấp đối kháng không thể điều hòa được

    – Đặc trưng của Nhà nước:

    + Thống trị dân cư theo khu vực hành chính, đập tan cơ sở huyết thống của xã hội thị tộc;

    + Chức năng đối ngoại:

    · Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược : Chiến tranh là phương tiện tốt nhất để thực hiện mục đích của giai cấp chủ nô là làm giàu nhanh chóng bằng tài sản cướp bóc được và bằng việc biến các tù binh thành nô lệ. Vì vậy đây là chức năng đối ngoại cơ bản của nhà nước CHNL. Điển hình của việc thực hiện chính sách đối ngoại hiếu chiến là nhà nước La Mã cổ đại. Từ thế kỉ V đến thế kỉ III TCN nhà nước La Mã không ngừng tiến hành các cuộc chiến tranh qui mô lớn thôn tính và cướp bóc các quốc gia khác, kết quả là La Mã trở thành đế chế hùng mạnh nhất châu Âu thời bấy giờ. Chiến tranh xâm lược làm cho quan hệ giữa các nhà nước chủ nô luôn trong tình trạng căng thẳng và là nhân tố làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giai cấp trong xã hội, là nguyên nhân bùng nổ nhiều cuộc khởi nghĩa trong nội bộ đất nước.

    · Chức năng phòng thủ, bảo vệ đất nước và tiến hành các hoạt động ngoại giao, buôn bán với các quốc gia khác: Đồng thời với tiến hành chiến tranh xâm lược các nhà nước chủ nô cũng phải tổ chức phòng thủ bảo vệ đất nước, thể hiện ở hàng loạt các hoạt động như xây dựng quân đội mạnh, xây dựng các pháo đài thành lũy, chuẩn bị cơ sở vật chất, tiến hành các hoạt động quân sự khi cần thiết .

    + Hình thành bộ máy quyền lực công cộng, một bộ máy quan liêu ở trung ương và ở địa phương, một lực lượng quân sự to lớn để trấn áp nhân dân và tiến hành chiến tranh xâm lược hoặc chống xâm lược.

    – Các chức năng của Nhà nước : gồm 2 chức năng cơ bản

    + Chức năng đối nội:

    · Chức năng bảo vệ, củng cố chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và nô lệ: Chế độ sở hữu của chủ nô không những đối với tư liệu sản xuất mà cả đối với nô lệ – là cơ sở tồn tại của xã hội Chiếm hữu nô lệ (CHNL). Vì vậy, đây là chức năng đặc trưng, thể hiện rõ nhất bản chất giai cấp của Nhà nước chủ nô. Nhà nước thừa nhận ở mọi lúc mọi nơi quyền sở hữu tuyệt đối của chủ nô và tình trạng vô quyền của nô lệ, công khai sử dụng mọi biện pháp để bảo vệ và hoàn thiện chế độ sở hữu này. Nhà nước thông qua pháp luật để “chính thức hóa” quyền lực vô hạn của chủ nô đối với nô lệ và gia đình của họ.

    · Chức năng trấn áp nô lệ và các tầng lớp bị bóc lột khác : Mọi sự phản kháng của nô lệ và dân nghèo đều bị Nhà nước chiếm hữu nô lệ (NNCHNL) đàn áp bằng các biện pháp bạo lực, đây là một hoạt động cơ bản và thường xuyên nhất của các NNCHNL. Nhà nước sử dụng rộng rãi bộ máy quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù để đàn áp dã man những cuộc khởi nghĩa của nô lệ cũng như mọi sự phản kháng. Bên cạnh trấn áp bằng bạo lực, NNCHNL còn trấn áp cả về tinh thần đối với nô lệ và dân nghèo bằng công cụ Thần quyền.

    · Chức năng kinh tế – xã hội : NNCHNL đứng ra giải quyết một số vấn đề kinh tế – xã hội thiết yếu như xây dựng đường sá, cầu cống, phân chia đất đai, điều chỉnh giá cả thị trường, đề ra các chính sách kinh tế, ngoại giao, xây dựng và quản lí các công trình thủy lợi ( ở phương Đông )

    A,Phương Đông

    1:.Bộ máy nhà nước

    Phương Đông ra đời sớm hơn ( khoảng 4000-3000 năm TCN) so với phương Tây (khoảng thế kỉ VIII – thế kỉ VI. TCN).

    b,Hình thành:

    Ở phương Đông các nhà nước được hình thành ở lưu vực các con sông lớn. Điều kiện thiên nhiên không chỉ tạo ra những thuận lợi mà còn sẵn có những thử thách. Bất cứ cộng đồng dân cư nào cũng phải tiến hành công cuộc trị thủy và thủy lợi. Do tính cấp bách thường xuyên và yêu cầu quy mô lớn của công cuộc trị thủy, thủy lợi nên công xã nông thôn với chế độ sở hữu chung về ruộng đất được bảo tồn rất bền vững. Chế độ tư hữu về ruộng đất lúc đầu hầu như không có và sau đó hình thành, phát triển rất chậm chạp. ” Trong hình thức Á châu (ít ra cũng trong hình thức chiếm ưu thế), không có sở hữu mà chỉ có việc chiếm dụng của cá nhân riêng lẻ, kẻ sở hữu thực tế, thực sự là công xã, do đó sở hữu chỉ tồn tại với tư cách là sở hữu chung về ruộng đất mà thôi “( Các Mác – Bàn về xã hội tiền tư bản ).

    Như vậy, nguyên nhân của thực tế lịch sử ở phương Đông đó là việc không có chế độ tư hữu ruộng đất: sự phân chia xã hội thành kẻ giàu người nghèo diễn ra rất chậm chạp, chưa thật sâu sắc và mức độ phân hóa chưa cao lắm so với lịch sử quá trình hình thành nhà nước ở phương Tây. Bởi vậy ở phương Đông, quá trình hình thành, định tính và định hình của các giai cấp cũng diễn ra chậm chạp và không sắc nét, mâu thuẫn đối kháng chưa phát triển đến mức gay gắt không thể điều hòa được. Nhưng dù trong hoàn cảnh như vậy, nhà nước vẫn phải ra đời bởi chính công cuộc trị thủy – thủy lợi, không chỉ duy trì chế độ công hữu về ruộng đất mà còn là yếu tố thúc đẩy nhà nước ra đời sớm. Bên cạnh đó còn có một số tác nhân khác, ví dụ nhu cầu tự vệ. Có thể khẳng định rằng nhân tố trị thủy – thủy lợi và tự vệ tuy bản thân chúng không thể sản sinh ra nhà nước nhưng có thể thúc đẩy quá trình hình thành nhà nước trên cơ sở phân hóa xã hội đã ở một mức độ nhất định c,Hình thức:

    Lànhà nước quân chủ với các hình thức phổ biến sau:

    · Nhà nước quân chủ quý tộc

    · Nhà nước quân chủ phân quyền

    · Nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền

    Mọi quyền lực tập trung chủ yếu trong tay nhà vua ( quyền lập pháp,hành pháp,tư pháp).Nôi vua theo chế độ cha truyền con nối

    Kinh tế phương Đông cổ đại là nền kinh tế nông nghiệp a)Kinh tế:

    , chế độ công hữu chiếm ưu thế

    a.1: Hoạt động nông nghiệp

    a.2: làm ruộng

    a.3:Chăn nuôi gia súc

    a.4:Hoạt động thương nghiệp

    b:Xã hội

    Quý tộc và nô lệ ở Phương đông

    B: Phương Tây

    Lược đồ các quốc gia cổ đại Phương Tây:

    · · ·

    Ở phương Tây, Ăngghen đã chỉ ra ba hình thức cơ bản của sự xuất hiện nhà nước :

    Một là, nhà nước Aten – hình thức thuần túy và cổ điển nhất – ra đời hoàn toàn do những nguyên nhân nội tại của xã hội. Nhà nước Aten là kết quả trực tiếp của sự phân hóa tài sản và phân chia giai cấp rõ nét, đòi hỏi nhất thiết phải có thay thế cơ quan thị tộc giàu có.

    Hai là, nhà nước Giéc-manh – hình thức được thiết lập sau chiến thắng của người Giéc-manh đối với đế chế La Mã cổ đại – ra đời dưới ảnh hưởng của văn minh La Mã và do nhu cầu phải thực hiện cai trị trên đất La Mã, chứ không phải do đòi hỏi bức thiết của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội Giécmanh. Khi nhà nước thành lập, dấu hiệu của sự phân hóa giai cấp còn mờ nhạt. Cùng với quá trình củng cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước thì xã hội Giecmanh mới chuyển sang xã hội có giai cấp.

    Ba là, nhà nước Rôma cổ đại. Ở đây, quá trình xuất hiện của nhà nước được thúc đẩy bởi cuộc đấu tranh của những người bình dân sống ngoài các thị tộc Rôma chống lại giới quý tộc của các thị tộc Rôma.

    Đứng đầu nhà nước không phải là vua,quyền hành không năm hết trong tay vua

    Các quốc gia cổ đại phương Tây, nền kinh tế phát triển theo hướng thương nghiệp thị trường ,có điều kiện để phát triển mạnh các mặt: Nông,công thương,hàng hải . Chế độ tư hữu chiếm ưu thế

    a.1:Chợ,hải cảng ở Pirê

    Ở các quốc gia cổ đại phương Tây (điển hình như các quốc gia thành bang của Hi Lạp, La Mã cổ đại), nô lệ là lực lượng chính trong việc sản xuất ra của cải vật chất của xã hội

    b.1:Nô lệ ở Rô-ma

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Trưng Của Ẩm Thực Phương Tây? Khác Với Ẩm Thực Phương Đông?
  • Sự Khác Nhau Giữa Ẩm Thực Phương Tây Và Ẩm Thực Phương Đông
  • Sự Khác Biệt Giữa ++ I Và I ++ Là Gì?
  • Come Over Là Gì? Sự Khác Biệt Giữa Come Over Và Overcome
  • Đàn Piano Điện Khác Đàn Organ Như Thế Nào?
  • Văn Hóa Cổ Đại Của Phương Đông Là Gì? Văn Hóa Cổ Đại Của Phương Tây Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Người Tối Cổ Và Người Tinh Khôn Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Apple Watch S5 Với Apple Watch S3: Có Quá Nhiều Sự Tương Đồng Thì Nên Chọn Sản Phẩm Nào?
  • Mot So Cau Hoi Hay Translate Doc
  • Sự Khác Nhau Giữa Wait Và Sleep Trong Java
  • Sự Khác Biệt Giữa Bếp Điện Từ Và Bếp Hồng Ngoại
  • Sự Khác Nhau Giữa Dầu Và Tinh Dầu ” The An Organics
  • Văn hóa cổ đại của phương tây là gì?

    1.Thiên nhiên và đời sống của con người

    -Hy Lạp, Rô ma nằm ở ven biển Địa Trung Hải, nhiều đảo, đất canh tác ít và khô cứng, đã tạo ra những thuận lợi và khó khăn:

    + Thuận lợi:có biển, hải cảng, khí hậu ấm áp, nên giao thông thuận lợi, sớm phát triểnnghề hàng hải, ngư nghiệp, thương nghiệp biển.

    +Khókhăn: đất xấu, ít, thích hợp trồng cây lưu niên như nho, ô liu, cam chanh. Lương thực thiếu phải mua lúa mì, lúa mạch của người Ai Cập, Tây Á.

    -Khoảng đầu thiên niên kỷ I TCN, cư dân Địa Trung Hảibắt đầu biết chế tạo công cụ bằng sắt, cho phépkhai hoang trên diện tích rộng hơn.

    -Thủ công nghiệp rất phát đạt, có nhiều ngành nghề, nhiều thợ giỏi, hàng hóa đẹp, chất lượng cao, qui mô lớn.

    -Thương nghiệp đường biểnrất phát triển, mở rộng buôn bán với mọi miền ven Địa Trung Hải, với các nước phương Đông:

    + Sản phẩm mua vềlúa mì, súc vật lông thú (Hắchải, Ai CẬp); tơ lụa, hương liệu, xa xỉ phẩm từ phương Đông.

    +Đê lốt, Pi rêlà trung tâm buôn bán nô lệ lớn của thế giới cổ đại..

    +Thương mại phát đạt,thúc đẩy sự lưu thông tiền tệ (tiền cổcủa Rô ma và A ten).

    +Hi Lạp, Rô ma trở thànhcác quốc gia giàu mạnh.

    Như vậy cuộc sống ban đầu của cư dân Địa Trung Hải là: Sớm biết buôn bán, đi biển và trồng trọt. 2. Thị quốc Địa Trung Hải(Thành bang)

    Thị quốc:do tình trạng đất đai phân tán nhỏvà cư dân sống bằng nghề thủ công và thương nghiệpnên đã hình thành các thị quốc.

    -Tổ chức của thị quốc: Nước thì nhỏ, nghề buôn phát triểnnên cưdân tập trung ở thành thị có phốsá, lâu đài đền thờ, sân vận động, nhà hát và bến cảng, ta gọi đó là thị quốc: A tenlà thị quốc, đại diệncho cả At tích.

    -Tính chất dân chủ của thị quốc: quyền lực không nằm trong tay quí tộc mà nằm trong tay Đại hội công dân. Đại hội công dânbầu và cử racác cơ quan nhà nước, (không có vua), quyết định mọi công việc nhà nước. Hội đồng 500 có vai trò như Quốc hội, người tabầu 10 viên chức điều hành chính phủ, nhiệm kỳ một năm.

    -Bản chất của nền dân chủ cổ đại ở Hy Lạp, Rô-ma: Đó là nền dân chủ chủ nô, dựa vào sự bóc lột thậm tệ của chủ nô đối với nô lệ.

    -Hi Lạp giàu có nhờnền kinh tế công thương nghiệp, sử dụng lao động nô lệ. Nô lệ bị bóc lột nên phản kháng chủ nô.

    -Đến thế kỷ III trước công nguyên, thị quốc Rô ma lớn mạnhđi xâm chiếm các nước khác, trở thành đế quốc Rô ma. Đế quốc Rô mathủ tiêu thể chế dân chủthay bằngmột hoàng đế đầu quyền lực như hoàng đếXê da.

    3. Văn hóa cổ đại Hi lạp và Rô ma

    -Đồ sắt và sự tiếp xúc với biển đãnâng họ lêntrình độ cao hơn về sản xuấtvà buôn bán trên biển

    -Cũng là cơ sở để họ đạt tới trình độ sáng tạo văn hóa cao hơn trước.

    Chữcái cổ Hy Lạp và La tinh a. Lịch và chữ viết * Lịch

    Người Hy Lạpcó hiểu biết chính xác hơn về trái đất và hệ mặt trời, người Rô matính một năm là365 ngày ¼, định ra một tháng lần lượt có 30 và 31 ngày, riêng tháng hai có 28 ngày,rất gần với hiểu biết ngày nay.

    * Chữ viết

    -Sáng tạo ra chữ viết gồm ký hiệu đơn giản, có khả năng ghép chữ rất linh hoạtthành từ đểthể hiện ý nghĩa của con người.

    -Hệ thống chữ cái Rô matức A, B, C …. ra đời, ban đầu gồm 20 chữ, sau thêm 6 chữ. Đây là một phát minh và cống hiến lớn laochonhân loại.

    b. Sự ra đời của khoa học

    Đến thời cổ đại Hy lạp – Rô ma, những hiểu biết khoa học mới thực sự trở thành khoa học vì có độ chính xác của khoa học đạt tới trình độ khái quát thành định lý, lý thuyết và nó được thực hiện bởi các nhà khoa học có tên tuổi, đặt nền móng cho ngành khoa học đó.

    +Toán học: người Hi Lạp vượt lên trên như Thales, Py tha gor, Euclid..

    +Vật Lý: có Archimède.

    +Sử học: vượt qua sự ghi chép tản mạn, họ biết tập hợp tài liệu, phân tích và trình bày có hệ thống: Hê rô đốt, Tu si đi, Ta sít.

    c. Văn học:

    -Ở Hy lạp, sau bản anh hùng canổi tiếng của Hô melà I li átvà Ô đi xê, đã xuất hiện những nhà văn có tên tuổi như Etxin, Sô phốc, Bripít.

    -Người Rô ma tự nhận là học trò và người thừa kế của văn học – nghệ thuật.Hy lạp, nhà thơ nổi tiếng như Lu cre xơ, Viếc gin..

    d. Nghệ thuật

    -Hy lạp để lại nhiều tượng và đền đàiđạt trình độ tuyệt mỹ, khiến đời saukhâm phục: người lực sĩ ném đĩa, tượng nữ thần A tê nađội mũ chiến binh, thần Vệ nữ Mi lô…

    -Kiến trúc: đền Pác tê nông ở A ten (Hi lạp), đấu trường Cô li dê ở Rô ma.

    Khải hoàn môn La Mãđược xây dựng làm biểu tượng vinh quang cho công lao đặc biệt xuất sắc của một tướng tài (ở đây là của hoàng đế Xê-da).Xê da đã chiến thắng Giéc man, Đa Xi a, Đại tư tế, Hộ dân 18 kỳ, Tổng chỉ huy 7 trận, Chấp chính 6 kỳ, Quốc phụ, Nguyên thủ anh dũng nhất. Được Thượng viện và dân chúng Rô matặng Khải hoàn môn Trai an ở Nam I ta li a.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Tình Bạn Với Tình Yêu?
  • Nghị Luận Xã Hội 200 Chữ Về Việc Chấp Nhận Sự Khác Biệt Trong Cuộc Sống
  • Tiêu Chuẩn Ngành 22Tcn 354:2006 Về Tiêu Chuẩn Vật Liệu Nhũ Tương Nhựa Đường Gốc Axít
  • Bài Tập Tự Luận 1,2,3,4,5 Trang 78 Sbt Sinh 8: Bài 1. Vì Sao Có Sự Khác Nhau Về Thành Phần Của Nước Tiểu Đầu Và Máu
  • Bức Tranh Toàn Cảnh Về Văn Hóa Làng Vùng Đồng Bằng Bắc Bộ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×