Toyota Zace Surf Hơn 15 Tuổi Vẫn Được Dân Việt ‘lùng’ Mua

--- Bài mới hơn ---

  • “đồ Cổ” Toyota Zace Surf Chạy Hơn 10 Năm Vẫn Có Giá Trên 400 Triệu Đồng
  • Đồ Cổ Toyota Zace Vì Sao Vẫn Được Săn Lùng Trên Thị Trường?
  • Ví Điện Tử Là Gì? So Sánh Ví Điện Tử Viettelpay Và Zalopay
  • Ví Điện Tử Là Gì Và Nên Dùng Momo, Airpay, Zalopay, Moca, Viettelpay?
  • Hướng Dẫn Gửi Tiền Happyluke Qua Momo, Zalopay, Viettelpay
  • Tại thời điểm ra mắt năm 2005, giá xe Toyota Zace Surf bán ra khoảng 32.000 USD (khoảng 741 triệu đồng theo tỷ giá hiện nay)

    Toyota Zace tại Việt Nam ra mắt vào 05/2005, sau Zace phiên bản Limited. Zace Surf cũng đánh dấu là phiên bản cuối cùng của Dòng Xe 7 chỗ Zace trước khi nó ngừng sản xuất tại Việt Nam vào cuối năm 2005 và sau đó được thay thế bởi đàn em Toyota Innova, một huyền thoại khác của dòng xe 7 chỗ tại Việt Nam.

    So với các phiên bản cũ như: DX, GL và Limited, Zace Surf được yêu thích hơn, đồng thời cũng có giá trị cao hơn. Ngoại thất Zace Surf với lưới tản nhiệt mạ crôm, cản trước thiết kế To Bản mang lại vẻ ngoài Bề Thế hơn, đây cũng là điểm dễ phân biệt Zace Surf so với các phiên bản còn lại.

    Zace Surf có 02 lựa chọn màu sơn gồm vàng/bạc và xanh nhạt/bạc, đi cùng với “dàn chân” trang bị mâm 15 inch kiểu dáng mới.

    Xe được trang bị gương chiếu hậu điều chỉnh điện, nội thất ghế nỉ, chiếc Zace phiên bản Surf trong bài viết đã được chủ xe bọc lại Ghế Da

    Hiện tại, chiếc Toyota Zace Surf đang được rao bán này đã Lăn Bánh khoảng 129.000 km trong khoảng thời gian 15 năm sử dụng. Xe có mức giá ” Thách Cưới” 290 triệu đồng. Tham khảo trên các Sàn Xe cũ, mức giá 290 triệu này này tương đương với các mẫu Zace cùng đời hiện nay đang được rao bán.

    Tùy vào tình trạng xe, Zace Surf thậm chí có thể được bán với giá từ 300 – 350 triệu đồng hoặc hơn, giá trị bán lại của xe cao hơn đối thủ Mitsubishi Jolie cùng thời. Toyota Zace là dòng xe đã góp phần làm nên tên tuổi cho thương hiệu xe Toyota tại Việt Nam, danh tiếng của dòng xe Zace đã được xây dựng bởi chất lượng, độ lành Bền Bỉ, ít hỏng vặt.

    Nói vui rằng, “đồ cổ” Toyota Zace cũ này thậm chí còn có giá hơn một chiếc xe sang Bmw 325I (E46) đời 2005 mà hiện nay người dùng có thể dễ dàng tìm mua với giá dưới 300 triệu đồng.

    Video: Lái kiểm tra xe Toyota Zace surf 2005.

    Phương Thảo (TH)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đánh Giá Kawasaki Z900 2022 Về Động Cơ Thông Số Kỹ Thuật & Giá Bán Bao Nhiêu? “blogxe.vn
  • So Sánh Kawasaki Z1000 2022 Và Honda Cb1000R 2022
  • Giữa Nhaccuatui Và Zing Mp3, Anh Em Chọn App Nghe Nhạc Nào?
  • O Sánh Mitsubishi Xpander Cross Và Toyota Rush
  • So Sánh Xe Mitsubishi Xpander Cross Và Xe Mitsubishi Xpander At 2022
  • “đồ Cổ” Toyota Zace Surf Chạy Hơn 10 Năm Vẫn Có Giá Trên 400 Triệu Đồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đồ Cổ Toyota Zace Vì Sao Vẫn Được Săn Lùng Trên Thị Trường?
  • Ví Điện Tử Là Gì? So Sánh Ví Điện Tử Viettelpay Và Zalopay
  • Ví Điện Tử Là Gì Và Nên Dùng Momo, Airpay, Zalopay, Moca, Viettelpay?
  • Hướng Dẫn Gửi Tiền Happyluke Qua Momo, Zalopay, Viettelpay
  • Muacash.com Hỗ Trợ Nhận Thanh Toán Từ Khách Hàng Qua Ví Điện Tử Momo Zalopay Và Viettelpay
  • Nếu tính theo giá trị tiền Việt Nam thì sau hơn 10 năm sử dụng chiếc xe Toyota Zace Surf đời 2005 chỉ mất giá chưa tới 20%.

    Ngày 24/8, trong lúc tìm mua lại chiếc xe 7 chỗ giá rẻ, Anh Phương tại Bình Dương tìm thấy thông tin rao bán chiếc Toyota Zace Surf SX 2005 bản đầy đủ giá 430 triệu. Nhưng sau đó người bán cho biết, xe đã giao dịch thành công với giá 420 triệu.

    Anh Phương còn thấy nhiều tin rao bán khác như “Cần bán Toyota Zace Surf 2.0 MT đời 2005 màu vàng cát, máy xăng, tên tư nhân chính chủ sử dụng, xe còn nguyên bản từ máy đến vỏ gầm bệ. Xe đi khoảng 150 nghìn km giá 425 triệu”.

    Mức giá này được đánh giá là “không tưởng” bởi nó ngang với chiếc Forte số sàn đời 2011. Nhưng những người “săn Zace” lại có lý do khác. Bởi số tiền đầu tư cao nhưng khả năng bán lại và giữ giá cũng cao. Chưa kể phải thường xuyên đi đăng kiểm 6 tháng một lần.

    “Bỏ ra 420 triệu là lớn với một chiếc xe 11 năm tuổi, nhưng sau khi đi 2-3 năm vẫn bán được 350-380 triệu thì tốc độ mất giá là thấp. Chưa kể bán dễ, sửa dễ dù mọi thứ đều rất cũ”, anh Phương lý giải.

    Anh Đức Tuấn, chủ một salon xe cũ tại Hà Nội chia sẻ đến bây giờ vẫn nhiều người nhờ mua Zace. Điểm mạnh của dòng xe này là bền, thân vỏ, khung gầm chắc chắn, dễ sửa chữa và đặc biệt tiết kiệm xăng so với các dòng xe cùng thời với con số khoảng 9 lít/100 km đường trường.

    Sau 11 năm phiên bản đầu tiên của Zace Surf vẫn được rao bán khá nhiều tại các trang mua bán xe online với giá dao động trên dưới 400 triệu. Như vậy, nếu tính theo giá trị tiền Việt Nam thì sau hơn 10 năm sử dụng chiếc xe chỉ mất giá chưa tới 20%. Đây là điều mà chưa có mẫu xe nào tại Việt Nam có thể làm được.

    Toyota Zace được chính thức giới thiệu tại thị trường Việt Nam vào năm 1999 do công ty Toyota Việt Nam lắp ráp trong nước. Hai phiên bản được ra mắt lần đầu tiên là GL và DX, trang bị động cơ xăng 1.8L phun xăng điện tử EFI đạt công suất cực đại 83 mã lực tại vòng tua 4.800 vòng/phút.

    Toyota Zace ngưng sản xuất tại Việt Nam từ cuối tháng 12/2005. Dòng xe được cho là thay thế Zace là sản phẩm Toyota Innova đang làm mưa làm gió trên thị trường hiện nay.

    Theo Ngọc Điệp – Vnexpss

    --- Bài cũ hơn ---

  • Toyota Zace Surf Hơn 15 Tuổi Vẫn Được Dân Việt ‘lùng’ Mua
  • Đánh Giá Kawasaki Z900 2022 Về Động Cơ Thông Số Kỹ Thuật & Giá Bán Bao Nhiêu? “blogxe.vn
  • So Sánh Kawasaki Z1000 2022 Và Honda Cb1000R 2022
  • Giữa Nhaccuatui Và Zing Mp3, Anh Em Chọn App Nghe Nhạc Nào?
  • O Sánh Mitsubishi Xpander Cross Và Toyota Rush
  • Thông Tin Xe Toyota Zace 1997

    --- Bài mới hơn ---

  • Tai Nghe Apple Airpods 2 Chính Hãng, Giao Hàng Toàn Quốc
  • Phân Biệt Bồ Câu Trống Mái Một Cách Nhanh Nhất
  • Hướng Dẫn Phân Biệt Chim Bồ Câu Pháp Và Cách Chọn Chim Giống Tốt Nhất
  • 6 Cách Phân Biệt Chim Bồ Câu Trống Và Mái Chính Xác Nhất
  • Cách Nhận Biết Bồ Câu Trống Mái. Đặc Điểm Của Bồ Câu Trống Mái Từng Giai Đoạn
  • Động cơ được trang bị là loại động cơ xăng 1.8L, 1.8L phun xăng điện tử EFI, 2.0L EFI và động cơ diesel 2.4L.

    Năm 2000, mẫu xe này được tái thiết kế phần mũi xe, hai phiên bản LGX và Krista được trang bị động cơ xăng 2.0L mới. Năm 2003, mẫu xe Zace mới có một số điểm thay đổi về thiết kế lưới tản nhiệt, chi tiết trang trí phía sau xe và vài thiết bị trong xe.

    Toyota Zace được chính thức giới thiệu tại thị trường Việt Nam vào năm 1999 do công ty Toyota Việt Nam lắp ráp trong nước. Hai phiên bản được ra mắt lần đầu tiên là GL và DX, trang bị động cơ xăng 1.8L phun xăng điện tử EFI đạt công suất cực đại 83 mã lực tại vòng tua 4,800 vòng/phút.

    Phiên bản DX có cấu hình tiện nghi thấp hơn phiên bản GL với kính chỉnh tay, gương chiếu hậu ngoài chỉnh tay, không có đèn sương mù phia trước và không có đồng hồ tốc độ động cơ (đồng hồ vòng tua)

    Năm 2003, Toyota Việt Nam cho ra mắt phiên bản nâng cấp của mẫu xe này với một số điểm cải tiến về ngoại thất.

    Phiên bản GL có 2 lựa chọn về màu sơn gồm: tím than / ghi, đỏ nâu và ghi hồng / xanh lá cây. Còn phiên bản DX có 2 màu sơn: ghi và xanh đậm.

    Cả hai phiên bản Zace GL và DX vẫn sử dụng động cơ xăng 1.8L phun nhiên liệu điện tử EFI và hộp số tay 5 cấp. Toyota còn trang bị thêm bộ lọc khí xả dùng chất xúc tác trên mẫu xe Zace mới.

    Về ngoại thất, mẫu xe Toyota Zace mới được thiết kế với đường viền kính chắn gió, lưới tản nhiệt dạng sọc, tay nắm cửa ngoài và nẹp hông mạ crôm, đèn pha gương cầu phản quang đa chiều. Bên cạnh đó là một số chi tiết nâng cấp về nội thất (chủ yếu ở phiên bản GL) như: ghế lái chỉnh độ cao, hàng ghế thứ 2 có thể trượt dọc, chất liệu bọc ghế, tay lái được thiết kế mới, ốp cửa nội thất có thiết kế mới. Ngoài ra, trên xe còn được trang bị thêm tấm che nắng có gương soi, hộp đựng vật dụng tích hợp tưa tay trung tâm, thêm tấm che phía dưới bảng điều khiển, chốt cửa bảo vệ trẻ em, đầu CD.

    Phiên bản DX không có thay đổi đáng kể so với các phiên bản từ 2002 trở về trước.

    Tháng 8 năm 2004, phiên bản Zace Limited được ra mắt trên thị trường với số lượng sản xuất có hạn (200 chiếc). Toyota Zace Limited vẫn sử dụng động cơ xăng 1.8L I4 công suất 83 mã lực như trên phiên bản DX.

    Ở phiên bản này, Toyota thiết kế cản trước mới, viền hốc bánh xe nổi (vè lồi), bộ vành đúc 15 inch và bảng điều khiển trung tâm được ốp gỗ, nội thất xe vẫn bọc nỉ.

    Tháng 5 năm 2005, Toyota Việt Nam tiếp tục giới thiệu phiên bản Zace Surf, kế thừa phiên bản Limited đã tung ra trong năm 2004 với hai lựa chọn màu sơn mới ghi vàng/ghi bạc và xanh nhạt/ghi bạc.

    Những đặc điểm đáng chú ý trên phiên bản Zace Surf mới nằm ở thiết kế lưới tản nhiệt mạ crôm, đèn halogen trước và đèn sương mù, cản trước, vè xe, thanh viền hông xe, tay nắm cửa ngoài và viền kính chắn gió mạ crôm, bộ vành đúc 15 inch. Về nội thất, Zace Surf được trang bị bảng điều khiển xe ốp gỗ, ghế bọc da, đầu CD 6 loa.

    Toyota Zace được ngưng sản xuất tại Việt Nam từ cuối tháng 12 năm 2005.

    Là một trong những mẫu xe thành công nhất của Toyota Việt Nam, tổng sản lượng Zace bán ra là hơn 17,000 xe, trong đó phiên bản GL chiếm khoảng 13,700 xe, còn lại là các phiên bản DX, Surf và Limited.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Vợt Cầu Lông Yonex Thật Và Giả
  • Yến Mạch Quaker Oats Quick 1 Minute
  • * Yến Mạch Quaker Oats Tphcm
  • Mua Xe Lần Đầu Chọn Số Sàn Hay Số Tự Động?
  • Những Khác Biệt Cơ Bản Giữa Số Sàn Và Số Tự Động
  • So Sanh Su Giong Va Khac Nhau Cua Centos Vs Ubuntu

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Máy Đắp Măt Na Foreo Ufo 2 Và Foreo Ufo
  • Review Máy Đắp Mặt Nạ Foreo Ufo Chi Tiết Nhất Cho “gà Mờ”
  • Tại Sao Nên Mua Ultraviewer Chứ Không Phải Teamviewer?
  • Phần Mềm Ultraviewer Là Gì? So Sánh Ultraview Với Teamview
  • Về Việc Ultraviewer Hợp Tác Với Nhà Mạng Để Chặn Teamviewer
  • Trong bài so sánh hệ điều hành Centos vs Ubuntu này, chúng ta thực hiện so sánh với những chức năng chính giữa 2 phiên bản Linux, sự việc này giúp mọi người chọn lựa HDH thích hợp đến cho xây dựng cloud server của mọi người.

    CentOS là một hệ điều hành miễn phí được xây dựng và phát triển dựa trên hệ điều hành mã nguồn mở Linux. CentOS là chữ viết tắt của “Community Enterprise Operating System”. CentOS ra mắt công chúng vào tháng 5 năm 2004 và được phát triển dựa trên bản phân phối của Red Hat Enterprise Linux (RHEL)

    CentOS là một nền tảng kinh doanh giống như RHEL, rất phù hợp cho các doanh nghiệp và các tổ chức lớn, tuy nhiên nó vẫn được các doanh nghiệp nhỏ sử dụng bởi các tính năng rất tuyệt vời, thực sự mang lại giá trị đối với các đơn vị cá nhân hay doanh nghiệp.

    Tính ổn định

    CentOS không ngừng hoàn thiện để cung cấp nền tảng hoàn hảo cho các phần mềm mới nhất. Hệ thống này rất mạnh khi được ảo hóa (trên Virtual M achine, KVM) và có khả năng sẵn sàng cao.

    Bảo mật

    – Vấn đề bảo mật hiện nay quan trọng hơn bao giờ hết, đó là lý do tại sao CentOS là một giải pháp doanh nghiệp với nền tảng RHEL trở thành lựa chọn tuyệt vời.

    – Bản phân phối Linux cũng hỗ trợ phần mở rộng kernel SELinux ( S ecuration- E nhified Linux), một sản phẩm nguồn mở bắt nguồn từ sự hợp tác giữa Red Hat và NSA. Chương trình này thực hiện kiểm tra ủy quyền cho việc sử dụng tài nguyên máy tính và bảo vệ chống truy cập trái phép.

    Các nhóm hỗ trợ

    Kể từ phiên bản CentOS đầu tiên đã có cả các bản phát hành liên kết chặt chẽ với các bản tương ứng của RHEL. Nhóm phát triển của CentOS ước tính khoảng thời gian từ 2 đến 6 tuần cho quá trình thích ứng mã hoặc một vài giờ cho các cập nhật nhỏ. Kể từ phiên bản 7 được đánh dấu theo mốc thời gian cho mã cơ bản. Ví dụ, phiên bản 7.0-1406 cho biết bản được phát hành vào tháng 6 năm 2014.

    Ubuntu là một hệ điều hành do cộng đồng phát triển và là hệ điều hành tuyệt vời cho các máy tính xách tay, máy tính để bàn và cả máy chủ. Bất kỳ bạn sử dụng nó ở đâu, Ubuntu đều có tất cả các ứng dụng mà bạn luôn cần, từ các ứng dụng soạn thảo văn bản tới thư điện tử, từ phần mềm máy chủ web tới các công cụ lập trình.

    Ubuntu là hệ điều hành được cung cấp miễn phí (free of charge). Bạn không phải trả bất kỳ phí bản quyền nào. Bạn có thể tải nó về, sử dụng và chia sẻ Ubuntu với bạn bè, gia đình, nhà trường hoặc doanh nghiệp của bạn mà không vì bất cứ thứ gì một cách tuyệt đối.

    Hoàn toàn miễn phí

    Ubuntu được cung cấp hoàn toàn miễn phí, bạn có thể vào trang chủ để tải ngay phần mềm về và cài đặt vào máy tính. Bạn có thể chỉnh sửa, sao chép hoặc cải tiến phần mềm dưới phép giấy phép GNU GPL.

    Sử dụng it tài nguyên phần cứng

    So với Windows thì Ubuntu tỏ ra khá vượt trội trong việc sử dụng ít tài nguyên và tăng hiệu suất hệ thống.

    Trước đây tôi có 1 Laptop chay CPU Intel Core 2 Solo, Ram 2GB. Khi chạy Windows XP, chỉ cần mở Chrome và 2 Tab thì hệ thống có dấu hiệu chậm và “Đơ”. Khi chuyển qua Ubuntu, kết quả tôi đã có thể sử dụng bao nhiêu tab tùy thích. Bên cạnh đó, hiệu suất của máy cũng tăng đáng kể.

    Chính vì thế, nếu bạn đang sở hữu 1 Laptop hoặc PC với cấu hình yếu, có lẽ Ubuntu là giải pháp tốt nhất dành cho bạn.

    Tính bảo mật cao

    Theo đánh giá của các chuyên gia từ các Website nước ngoài, về cơ chế bảo mật Ubuntu có độ bảo mật cao hơn Window. Và ở Ubuntu, khi có bất cứ lỗ hỏng bảo mật nào, trong thời gian rất ngắn bạn có thể cập nhật được ngay các bản vá lỗi bởi Ubuntu có 1 cộng động hổ trợ rộng lớn trên toàn thế giới. Các phiên bản Ubuntu mới và cũ đều được hỗ trợ cập nhập bảo mật ứng dụng trong một thời gian dài.

    Khả năng tương thích cao

    Khi cài đặt Window, vấn đề hàng đầu là phải tìm đầy đủ các Drivers để phần cứng có thể hoạt động ổn định. Vấn đề này sẽ không còn khi cài đặt Ubuntu, bạn sẽ nhận được hầu như tất cả các Driver trên máy tính. Nếu Driver gặp vấn đề, thông qua các bạn Update thường xuyên bạn sẽ khắc phục được một cách dễ dàng. Centos vs Ubuntu

    Kho ứng dụng miễn phí khổng lồ

    Ubuntu có một kho ứng dụng đồ sộ và hầu hết các ứng dụng là miễn phí. Bạn sẽ không mất nhiều thời gian để lên các diễn đàn mô tả về phần mềm mình muốn, tất cả được phân chia theo mục đích sử dụng trong ứng dụng Ubuntu Software Center. Ngoài ra, bạn hoàn toàn có thể cài đặt tùy chỉnh các phần mềm khác.

    Với Wine và Steam, Ubuntu bạn có thể sử dụng phần mềm hoặc chơi hầu hết các game trên Windows từ hệ điều hành Ubuntu. Tuy có vài hạn chế. Điều này cho thấy khả năng mở rộng của Ubuntu là rất lớn và tương lai không xa, Ubuntu có thể chạy được tất cả những thứ mà Windows có.

    Cài đặt Ubuntu song song Windows

    Bạn hoàn toàn có thể cài đặt Ubuntu song song với Windows trên cùng một ổ cứng. Bạn có thể chuyển đổi qua lại 2 hệ điều hành này thông qua menu boot. Điều này rất tuyệt vời, bởi bạn có thể sử dụng Windows để chạy các chương trình phức tạp hoặc dùng Ubuntu để giải trí hoặc khám phá những trải nghiệm mới mẻ trên Ubuntu.

    Trang bị sẵn các ứng dụng cần thiết

    Tuy với dụng lượng File cài đặt ~800MB, khi cài đặt hoàn tất Ubuntu bạn sẽ được cung cấp đầy đủ các phần mềm cần thiết như Firefox, bộ ứng dụng văn phòng LibreOffice (đọc được các File Microsoft Office),..

    Ubuntu

    Ubuntu có lẽ là bản phân phối Linux nổi tiếng nhất. Ubuntu dựa trên Debian, nhưng nó sở hữu kho phần mềm riêng. Phần lớn các phần mềm trong những kho này được đồng bộ hóa từ kho lưu trữ của Debian. Kể từ khi phát hành năm 2004, Ubuntu đã luôn là sự lựa chọn ưa thích của cá nhân và dân chuyên nghiệp. Hệ điều này cũng dễ dàng tùy chỉnh và có các tính năng bảo mật hàng đầu.

    Cùng phát triển dựa trên nền tảng Linux, cả Ubuntu lẫn CentOS đều sở hữu những ưu điểm chung của Linux như: chi phí hợp lý, mã nguồn mở, hỗ trợ tích cực, đa ngôn ngữ, …. Centos vs Ubuntu

    Tuy nhiên, mỗi hệ điều hành đều có những thế mạnh riêng để tạo nên dấu ấn đối với người dùng.

    Định hướng

    Đây là khác biệt lớn nhất giữa 2 phiên bản Linux này là Ubuntu dựa trên Debian và CentTOS dựa trên in Red Hat Enterprise Linux.

    Đối tượng hướng đến

    Nếu Ubuntu chủ yếu dùng trên desktop/laptop, phục vụ đa năng cho giải trí, văn phòng… thì CentOS lại hướng đến cho server, phục vụ cho: Web server, ftp server, …

    Cập nhật phiên bản sử dụng

    Cập nhật hầu hết các phiên bản mới nhất phần mềm là một “điểm cộng” của Ubuntu còn CentOS đặt sự ổn định lên hàng đầu nên các phần mềm version hầu hết không phải là version mới nhất.

    Thao tác

    Trong Ubuntu, bạn có thể tải DEB packages bằng apt-get package manager. Tuy nhiên, trong CentOS server, bạn phải sử dụng lệnh yum để download và cài đặt package RPM packages từ một repository trung tâm.

    Độ ổn định

    CentOS là một phiên bản ổn định hơn so với Ubuntu vì mật độ cập nhật phần mềm ít hơn so với Ubuntu server. Nhưng đó cũng là điểm yếu của CentOS : khi bạn muốn cài đặt bản mới nhất của một phần mềm nào đó, có thể bạn sẽ cần cài đặt thủ công.

    Server

    Ubuntu có Ubuntu server nhưng so về độ tuổi giữa các distro server thì Ubuntu thua CentOS một bậc. CentOS là một distro server kì cựu còn Ubuntu server chỉ mới được tách ra từ Debian.

    Độ ứng dụng chuyên biệt

    Bằng việc nhìn vào các hướng dẫn build của các phần mềm, hệ thống như: V8, Chrome, ChromeOS, HHVM…, bạn có thể thấy các tập đoàn công nghệ như Google, Facebook đều dùng Ubuntu làm chủ đạo.

    Sự hỗ trợ từ cộng đồng

    Google Search cho chúng ta kết quả như sau:

    • ubuntu community: 40 triệu kết quả Centos vs Ubuntu
    • centos community: 2 triệu kết quả
    • centos book: 1 triệu kết quả
    • ubuntu book: 16 triệu kết quả
    • sách về ubuntu: 194.000 kết quả
    • sách về centos: 97.000 kết quả
    • learn ubuntu: 34 triệu kết quả
    • learn centos: 0,7 triệu kết quả

    Hệ thống quản lý gói phần mềm

    Cả hai hệ thống gói phần mềm này đáp ứng hầu hết mọi trường hợp, nhu cầu phần mềm. Tuy nhiên, nếu bạn quan tâm đến các gói mới, tần số cập nhật thường xuyên thì Ubuntu là sự lựa chọn đúng đắn.

  • centos hay ubuntu
  • centos là gì
  • sự khác nhau giữa ubuntu và centos
  • ubuntu centos
  • debian vs centos
  • so sanh centos va ubuntu
  • debian và ubuntu
  • tải centos 7
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Centos Là Gì? Tất Tần Tật Về Hệ Điều Hành Centos
  • So Sánh Hai Kiểu Cấu Trúc Dữ Liệu List Và Arraylist Trong .net Bằng C#
  • Series C# Hay Ho: So Sánh 2 Object Trong C# (Deep Compare)
  • So Sánh Xe Hyundai Tucson 2022 Và Mazda Cx
  • So Sánh Tucson Và Cx5 Nên Mua Mẫu Xe Gầm Cao 5 Chỗ Nào?
  • Đồ Cổ Toyota Zace Vì Sao Vẫn Được Săn Lùng Trên Thị Trường?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ví Điện Tử Là Gì? So Sánh Ví Điện Tử Viettelpay Và Zalopay
  • Ví Điện Tử Là Gì Và Nên Dùng Momo, Airpay, Zalopay, Moca, Viettelpay?
  • Hướng Dẫn Gửi Tiền Happyluke Qua Momo, Zalopay, Viettelpay
  • Muacash.com Hỗ Trợ Nhận Thanh Toán Từ Khách Hàng Qua Ví Điện Tử Momo Zalopay Và Viettelpay
  • So Sánh Zoom Và Skype
  • Được xem là một trong hai mẫu xe 7 chỗ xuất hiện sớm tại Việt Nam, Toyota Zace gắn bó với khá nhiều người sử dụng xe hơi từ những năm đầu thế kỷ 21. Sau hơn 10 năm có mặt, những chiếc Zace giờ đã ra sao? liệu có còn đáng mua?

    Toyota Zace được xem là một trong những mẫu xe 7 chỗ đầu tiên ở Việt Nam

    Toyota Zace được chính thức giới thiệu tại thị trường Việt Nam vào năm 1999 do công ty Toyota Việt Nam lắp ráp trong nước. Hai phiên bản được ra mắt lần đầu tiên là GL và DX, trang bị động cơ xăng 1.8L phun xăng điện tử EFI đạt công suất cực đại 83 mã lực tại vòng tua 4.800 vòng/phút. Phiên bản DX có cấu hình tiện nghi thấp hơn phiên bản GL, với kính chỉnh tay, gương chiếu hậu ngoài chỉnh tay, không có đèn sương mù phía trước và không có đồng hồ tốc độ động cơ (đồng hồ vòng tua).

    Tháng 5/2005, Toyota Việt Nam tiếp tục giới thiệu phiên bản Zace Surf, kế thừa phiên bản Limited đã tung ra trong năm 2004 với hai lựa chọn màu sơn mới ghi vàng/ghi bạc và xanh nhạt/ghi bạc.

    Những đặc điểm đáng chú ý trên phiên bản Zace Surf mới nằm ở thiết kế lưới tản nhiệt mạ crôm, đèn halogen trước và đèn sương mù, cản trước, thanh viền hông xe, tay nắm cửa ngoài và viền kính chắn gió mạ crôm, bộ vành đúc 15 inch. Về nội thất, Zace Surf được trang bị bảng điều khiển xe ốp gỗ, ghế bọc da, đầu CD 6 loa.

    Xe có kích thước 4.495 x 1.670 x 1.850 mm

    Toyota Zace được ngưng sản xuất tại Việt Nam từ cuối tháng 12/2005. Dòng xe được cho là thay thế Zace là sản phẩm Innova đang làm mưa làm gió trên thị trường hiện nay.

    Là một trong những mẫu xe thành công nhất của Toyota Việt Nam, tổng sản lượng Zace bán ra là hơn 17.000 xe. Trong đó, phiên bản GL chiếm khoảng 13.700 xe, còn lại là các phiên bản DX, Surf và Limited.

    Người dùng đánh giá về Toyota Zace cũ

    Đại bộ phận người dùng đồng quan điểm đánh giá về Toyota Zace cũ như sau:

    1. Tình trạng ngoại thất

    Sau hơn 10 năm sử dụng thì ngoại thất Zace vẫn rất bền dáng

    2. Tình trạng nội thất

    • Hàng ghế thứ 3 là khá thoải mái, tuy không rộng bằng Innova nhưng hai người lớn ngồi hàng sau cùng đi xa vẫn tốt, không bị bó chân, mệt mỏi.
    • Các ghế vẫn trượt ngả, gập bình thường, không có tình trạng hư hỏng hay kẹt khớp.
    • Trần xe còn tốt.
    • Máy lạnh vẫn làm lạnh tốt, đi đủ 7 người ở thời tiết dịu mát chỉ cần một dàn lạnh ở phía trước cũng đủ cho cả 3 hàng ghế, đi trời nắng chỉ cần mở thêm dàn lạnh sau ở mức medium đã đủ làm mát rất nhanh.

    Nội thất Toyota Zace sau hơn 10 năm sử dụng

    3. Tình trạng động cơ, hộp số, tiêu hao nhiên liệu

    Khu vực cần số của chiếc Toyota Zace sau hơn 10 năm sử dụng

    4. Khung gầm, hệ thống giảm xóc

    • Khung gầm vẫn rất chắc chắn.
    • Phía sau sử dụng nhíp lá nên chở tải nặng vẫn hoạt động tốt.

    Khung gầm chiếc xe vẫn rất chắc chắn sau hơn 10 năm sử dụng

    5. Cảm giác lái, khả năng vận hành

      Tay lái trợ lực dầu nhưng khá nhẹ, có thể vần vô lăng một tay.

    Bảng đồng hồ công tơ mét

      Dĩ nhiên sau hơn nửa triệu km thì động cơ không còn mạnh mẽ cho cảm giác tăng tốc nhanh như thuở ban đầu, đạp thốc ga tua máy đẩy lên khá cao nhưng gia tốc lại không có nhiều, khi vượt xe cũng cần phải cân nhắc kĩ lưỡng tình huống…do xe khá yếu sau 12 năm.

    6. Các phụ tùng đã thay thế

    • Mỗi 50.000Km thay 4 lốp mới, chọn vỏ cũ nào còn tốt nhất làm sơ cua.
    • Thay hai vỏ đèn pha trước do bị ố vàng.
    • Thay lót sàn.
    • Bọc ghế hai lần do lớp cũ mòn rách, hư hại.
    • Thay đầu CD zin bằng đầu CD khác có AUX, USB phục vụ giải trí, do đầu CD zin sau 10 năm sử dụng các nút bấm đã chai không thể điều chỉnh được.
    • Thay cụm điều khiển kính điện master bên ghế tài xế, do sử dụng lâu năm bị gãy chốt và nút bấm không lên xuống kính được.
    • Thay ắc quy sau mỗi 2 năm sử dụng.
    • Thay bugi sau mỗi 80.000Km.
    • Thay bơm xăng, lọc xăng theo định kỳ.
    • Thay bạc đạn trục láp vì bị lão hóa.
    • Thay má phanh trước, sau vì bị mòn.

    Người dùng cũng bày tỏ khen ngợi đối với dịch vụ chăm sóc, bảo dưỡng, sửa chữa của hãng Toyota.

    Bác này đánh giá tổng quát chiếc Toyota Zace của mình sau 570.000Km sử dụng là rất hài lòng. Và nhấn mạnh thêm là sử dụng thêm vài trăm nghìn km nữa vẫn được.

    --- Bài cũ hơn ---

  • “đồ Cổ” Toyota Zace Surf Chạy Hơn 10 Năm Vẫn Có Giá Trên 400 Triệu Đồng
  • Toyota Zace Surf Hơn 15 Tuổi Vẫn Được Dân Việt ‘lùng’ Mua
  • Đánh Giá Kawasaki Z900 2022 Về Động Cơ Thông Số Kỹ Thuật & Giá Bán Bao Nhiêu? “blogxe.vn
  • So Sánh Kawasaki Z1000 2022 Và Honda Cb1000R 2022
  • Giữa Nhaccuatui Và Zing Mp3, Anh Em Chọn App Nghe Nhạc Nào?
  • Sanh Mổ Và Sanh Thường

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Cần Biết Khi Mổ Lấy Thai Chủ Động
  • Dấu Hiệu Mọc Răng Của Trẻ Và Những Lưu Ý Chăm Sóc Trẻ Đúng Cách
  • Dấu Hiệu Nào Cho Biết Bạn Sắp Sinh ?
  • Ra Máu Báo Bao Lâu Thì Sinh
  • Dấu Hiệu Sinh Non Của Mẹ Bầu Và Biện Pháp Phòng Ngừa
  • Sanh mổ và sanh thường

    Mổ lấy thai là phẫu thuật phổ biến của đẻ mổ. Trường hợp bạn cần sinh mổ bác sỹ sẽ chỉ định cho bạn. Với tình hình của bạn và thai nhi bạn hoàn toàn có thể chủ động nhận ra mình cần phải sinh mổ hay sinh thường?

    Thông thường sau khi ăn 6 tiếng, thức ăn mới có thể tiêu hóa toàn bộ. Khi đó dạ dày trống và đồng thới trong dạ dày chỉ có ít dịch nên không gây nguy hiểm. Còn trước 6 tiếng, thức ăn vẫn còn trong dạ dày do chưa được tiêu hóa hết, nên rất nguy hiểm nếu có hiện tượng trào ngược xảy ra do mất kiểm soát khi gây mê….

    Nếu thai đã đủ 38 – 40 tuần và thấy xuất hiện một số triệu chứng như: tử cung co thắt, âm đạo chảy ra chất màu máu, mót tiểu tiện, phá nước ối… thì bà bầu nên vào bệnh viện để chờ sanh. Tuy nhiên, ở mỗi người sẽ có những biểu hiện rất khác nhau.

    Cuối cùng thì những tuần lễ mong đợi rồi cũng đã kết thức và bạn đã bắt đầu chuyển dạ. Đây là cao điểm của tiến trình mang thai của bạ, vì chỉ còn vài giờ nữa là bạn sẽ thấy được mặt con. Bạn sẽ rất phấn khởi, tuy nhiên cũng e sợ không biết rồi cuộc chuyển dạ của mình sẽ diễn ra thế nào.

    Trong các giai đoạn khi chuyển dạ, bạn hãy thử qua nhiều tư thế khác nhau, vì hẳn là từng lúc khác nhau, thì có những tư thế thoải mái khác nhau.

    Thời gian khó khăn nhất của tiến trình chuyển dạ thường rơi vào phần cuối của giai đoạn đầu khi các cơn co mạnh nhất. Các cơn co này kéo dài lối một phút và có thể chỉ cách nhau một phút thôi, nên có ít thời gian để nghỉ sau một cơn co, trước khi cơn sau ập tới bạn.

    Mặc dù tiến trình chuyển dạ thường rất đau nhưng mỗi cơn đau đều đưa bạn đến gần sự trào đời của em bé thêm được một bước. Bạn có thể quyết tâm không dùng đến các biện pháp giảm đau, tuy nhiên bạn cũng nên cố gắng giữa đầu óc cởi mở.

    Giờ đã tới cao điểm của tiến trình chuyển dạ, và em bé của bạn sắp sửa ra đời. Thật là hào hứng, khi bạn có thể sờ thấy đầu em bé lần đầu khi mới trồi ra, và chẳng mấy chốc sau đó, được nựng bé trên tay.

    Sanh đẻ là một quá trình sinh lý tự nhiên cho nên sản phụ không nên có tâm lý hoảng sợ, căng thẳng, chỉ cần không có tình trạng khác thường thì có thể phối hợp tốt với bác sỹ và y tá hộ sinh để việc sinh đẻ tự nhiên được diễn ra thuận lợi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ra Máu Báo Bao Lâu Thì Chuyển Dạ Sinh Con?
  • Chuyển Dạ Giả Sau Bao Lâu Thì Sinh, Mẹ Có Biết?
  • Thận Trọng Với Những Dấu Hiệu Sắp Sinh, Chuyển Dạ Điển Hình
  • 10 Dấu Hiệu Sinh Non Chuyển Dạ Các Mẹ Cần Đặc Biệt Chú Ý !
  • Khi Nào Phải Tới Bệnh Viện?
  • Phương Pháp So Sanh Trực Tiếp Trong Định Giá Mmtb

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp So Sánh Trong Thẩm Định Giá Bất Động Sản Tin Thẩm Định Giá
  • Thẩm Đinh Giá Bất Động Sản Bằng Phương Pháp So Sánh
  • 4 Phương Pháp Cho Điểm Khi Đánh Giá Nhân Sự
  • Ý Nghĩa Từ Phương Pháp So Sánh
  • Một Vài Vấn Đề Nghiên Cứu So Sánh
  • Phương pháp so sánh là phương pháp thẩm định giá dựa trên các thông tin thu thập của các tài sản so sánh đã được giao dịch trên thị trường có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật, các chỉ tiêu kinh tế có tính hữu ích tương đương với tài sản thẩm định giá làm cơ sở so sánh, phân tích và điều chỉnh mức giá mua, bán để ước tính giá trị thị trường của tài sản thẩm định giá.

    – Nguyên tắc thay thế: Dựa vào nguyên tắc thay thế nghĩa là một nhà đầu tư có lý trí sẽ không trả giá cho một tài sản cao hơn chi phí để sản xuất ra tài sản đó với cùng sự hữu ích do mỗi tài sản mang lại.

    – Nguyên tắc sự đóng góp: Giá trị của từng bộ phận đóng góp và tổng giá trị của tài sản

    Thường thẩm định đối với những tài sản được bán phổ biến trên thị trường như công cụ dụng cụ, máy móc đơn lẻ….

    Phương pháp này dựa trên cơ sở giá trị thị trường của tài sản cần thẩm định có quan hệ mật thiết với giá trị của các tài sản tương tự đã hoặc đang được mua bán trên thị trường.

    · Thời gian bán tài sản : ngày giao dịch có ảnh hưởng quan trọng đối với giá thị trường của tài sản.

    · Bán tài sản trong điều kiện cưỡng ép: nghĩa là hoặc người bán không tự nguyện hoặc người mua không tự nguyện thì sẽ ảnh hưởng đến giá trị mua bán của tài sản trên thị trường.

    Khi thực hiện phương pháp so sánh trực tiếp thẩm định viên phải tuân thủ đầy đủ Quy trình thẩm định giá quy định tại tiêu chuẩn số 05-Quy trình thẩm định giá tài sản, ban hành kèm theo Quyết định số 77/2005/QĐ-BTC ngày 01 tháng 11 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, đồng thời phải lưu ý các bước sau:

    Yêu cầu trong bước này thẩm định viên phải xác định được:

    – Máy, thiết bị so sánh có cùng nguyên lý, đặc tính cấu tạo, tính hữu ích với tài sản thẩm định giá; có công suat, năm sản xuất, hãng và nước sản xuất,… có thể so sánh với tài sản thẩm định giá

    – Máy, thiết bị được sử dụng để so sánh có giá mua, bán và các thông tin kinh tế – kỹ thuật được công khai trên thị trường. Các thông tin này phải được kiểm chứng, đáng tin cậy.

    – Phải có thông tin thị trư­ờng;

    – Tài sản so sánh có sự tư­ơng đồng với tài sản cần thẩm định giá;

    – Thông tin phải độ tin cậy cao;

    – Thị tr­ường không có sự biến động quá lớn;

    – Ng­ười thẩm định phải có đủ kinh nghiệm, có hiểu biết về MMTB và nắm được tình hình thị tr­ường cũng như­ các vấn đề khác.

    – Đây là ph­ương pháp được sử dụng rộng rãi nhất;

    – Kết quả phụ thuộc nhiều vào chất lư­ợng thông tin;

    – Khi so sánh giá bán phải gắn liền với điều kiện th­ương mại của hợp đồng mua bán (nơi giao nhận hàng trách nhiệm vận chuyển, bốc xếp, bảo hành và thời gian bảo hành, thời hạn thanh toán,…);

    – Tính chính xác giảm khi thị tr­ường có biến động, không ổn định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trường Mầm Non Hoa Sen Thị Xã Kỳ Anh Tổ Chức Thành Công Chuyên Đề “phương Pháp Dạy Học Stem Và Giáo Dục Cảm Xúc”
  • Giáo Dục Mầm Non Theo Định Hướng Phương Pháp Steam
  • Phương Pháp Giáo Dục Steam Giúp Bé Phát Triển Khả Năng Sáng Tạo
  • Phương Pháp Giáo Dục Steam Đang Được Áp Dụng Như Thế Nào?
  • Dạy Trẻ Theo Phương Pháp Steam Có Tốt Hay Không ?
  • Tránh Thai Sau Sanh Mổ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 6 : Lươngtâm Công Giáo Và Vấn Đề Điều Hoà Sinh Sàn
  • Tư Vấn Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Sau Sinh
  • 17 Phương Pháp Ngừa Thai Hiệu Quả Và Dễ Thực Hiện Nhất Hiện Nay
  • Tiêm Thuốc Tránh Thai: Lợi Và Hại
  • Cách Tính Ngày An Toàn Khi Quan Hệ Để Không
  • Hỏi

    Chào bác sĩ, nhà em sanh mổ, bé nay đã gần 4 tháng. sau sinh, sản dịch ra gần 2 tháng mới sạch sẽ, sau đó khoảng hơn 1 tuần thì ra 1 – 2 ngày là hết. Vợ em nói là kinh non. Lúc mới sanh dưới 2 tháng bé nhà em bú bình và bú sữa mẹ em, do vợ em căng thẳng vì con quấy khóc nên ít sữa, nhưng sau đó là bú mẹ hoàn toàn, bú cả ngày lẫn đêm. Hiện vợ em chưa có kinh lại. Thời gian gần đây, 2 vợ chồng có quan hệ. Em không biết là biện pháp cho bú vô kinh trong trường hợp của vợ em có an toàn không? Sắp tới vợ em đi làm lại nên không thể cho con bú hoàn toàn được, cô ấy muốn đi cấy que tránh thai, nhưng em đọc thông tin về biện pháp này thì biết sẽ rong kinh thời gian đầu và 1 năm sau thì vô kinh. Em không biết như thế có tốt cho sức khỏe của vợ không? Vô kinh như thế nghĩa là buồng trứng không hoạt động hay sao? Biện pháp này nói sẽ dễ có thai lại sau khi lấy que ra, nhưng em sợ do dù gì cũng là dùng thuốc nên lỡ mà không có thai nữa thì… do nhà em mới có 1 bé thôi. Xin bác sĩ tư vấn dùm em biện pháp nào là an toàn trong trường hợp hiện nay của em? Xin cảm ơn bác sĩ!

    Trả lời

    Chào em !

    Trường hợp sản phụ cho con bú hoàn toàn cả ngày lẫn đêm, vô kinh, trong sáu tháng đầu sau sinh thì khả năng ngừa thai là 98%. 

    Phương pháp que cấy tránh thai  là biện pháp an toàn, hiệu quả và phục hồi tốt.  Đây là một loại ngừa thai nội tiết do đó có thể có tác dụng phụ là làm thay đổi chu kỳ kinh, có thể ra huyết bất thường, rong kinh, hoặc vô kinh… Trong các tác dung phụ đó, có lẽ vô kinh là ” dễ chịu ” nhất đấy em a.  !! Các tác dụng phụ có thể gây khó chịu nhưng không ảnh hưởng đến việc có thai sau khi ngừng biện pháp, cũng như không ảnh hưởng đến sức khoẻ của người sử dụng .

    Tuy nhiên không có biện pháp tránh thai nào là tuyệt đối hoàn hảo cả. Mỗi loại sẽ có những thuận lợi và khó khăn riêng . Nên chọn loại phù hợp với tình trạng sức khoẻ, điều kiện kinh tế, thói quen sinh hoạt…thì mới có thể sử dụng lâu dài .

    Do đó khi chọn một biện pháp tránh thai cần cân nhắc ưu và khuyết điểm của từng phương pháp, đôi khi cũng cần phải chấp nhận một số khuyết điểm nhỏ của nó .

    Chúc các em chọn được biện pháp phù hợp .

    Thân mến,

    BS. CK2. 

    Nguyễn

     

    Thị

     

    Kim

     

    Hoàng

    Khoa Kế hoạch gia đình – BV Từ Dũ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vasalgel – Thuốc Tránh Thai Cho Nam Giới Thay Thế Thắt Ống Dẫn Tinh
  • Tránh Thai Tự Nhiên Bằng Cách Tính Ngày Rụng Trứng
  • Thử Nghiệm, Kiểm Nghiệm Vi Sinh Trong Thực Phẩm
  • Kiểm Nghiệm Vi Sinh Có Trong Thực Phẩm, Thức Ăn Chăn Nuôi, Nước
  • Kiểm Nghiệm Vi Sinh Vật
  • Ngua Thai Va Pha Thai

    --- Bài mới hơn ---

  • Tránh Thai Bằng Các Biện Pháp Nhân Tạo Thì Có Phạm Tội Không?
  • Ngừa Thai Bằng Phương Pháp Rào Chắn Dành Cho Nữ
  • Các Màng Chắn Ngừa Thai
  • Luận Văn So Sánh 2 Phương Pháp Định Lượng Berberin Nguyên Liệu Bằng Hplc Theo Dược Điển Trung Quốc (2005)
  • Đồ Án So Sánh Hai Phương Pháp Định Lượng Berberin Nguyên Liệu Bằng Hplc Theo Dược Điển Trung Quốc (2005) Và Bằng Đo Quang Phổ Hấp Thụ Uv
  • Vấn

    Nạn Ngừa Thai Và Phá Thai

    Lm.

    Trần Mạnh Hùng, DCCT

     

    Prepared

    for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

    Ngừa

    Thai (Phần I)

    Việc

    Ngừa Thai trong Thế Kỷ 20

     

    Bài

    viết sau đây xin được hân hạnh gởi đến quí vị độc giả

    như một đóng góp khiêm tốn, trong công cuộc không ngừng

    tìm kiếm những câu trả lời, một cách nào đó gọi là

    lý, đầy hóc búa, có tính cách éo le và đầy cam go, đôi

    lúc dường như cảm thấy tắt nghẽn, không lối thoát đối

    với một số Ki-tô hữu hôm nay. Ðề tài mà tôi mạo muội

    xin được đề cập trong những bài viết tiếp nối liên tục,

    hy vọng sẽ được ra mắt và cống hiến cùng quí vị độc

    giả trong thời gian sắp tới, đó chính là vấn đề “ngừa

    thai” và “phá thai”. Ước mơ và hy vọng nhỏ bé

    lại lợi ích thực tiễn cho quí độc giả, nhất là đối

    với những cặp vợ chồng đang gặp phải khó khăn trong vấn

    đề điều hòa sinh sản, ngõ hầu họ có được những thông

    tin cần thiết và sau khi đã cùng nhau bàn thảo cẩn thận, họ

    có thể đi đến quyết định với một lương tâm ngay thẳng,

    hạn định số con cái mà cả hai mong muốn cho ra đời, nhờ

    đó họ sẽ ra sức kiến tạo và xây dựng hạnh phúc gia

    đình một cách tốt đẹp hơn.

    khuôn khổ nội dung của bài viết và để cho quí vị độc giả

    vấn đề ngừa thai – nên tôi xin được chia bài viết ra làm

    5 phần như sau:

    1.

    Việc ngừa thai trong thế kỷ 20 (phần I)

    2.

    Phản ứng của giới thần học gia đối với Humanae Vitae (phần

    II)

    3.

    Việc đánh giá Luân Lý những phương pháp ngừa thai nhân

    tạo (phần III)

    4.

    Ngừa thai nhân tạo và tự nhiên: những cách thức, kỹ

    thuật khác nhau ra sao? (phần IV)

    5.

    Bất đồng có trách nhiệm về Giáo Huấn của Giáo Hội (phần

    V – kết thúc bài viết)

     

    Phần

    Dẫn Nhập

    Thông

    thường thì chúng ta vẫn nghĩ rằng, mục đích của hôn nhân

    thì nó gắn liền với mục đích của tình yêu tình dục. Tuy

    là như thế nhưng có lẽ, chúng ta cần phải phân biệt, vì

    chưng chúng không nhất thiết lại là đồng nhất với nhau.

    Ðời sống hôn nhân không chỉ có mục đích duy nhất là sinh

    sản con cái – như vẫn thường được quan niệm trước đây -

    tỷ dụ như quan điểm của Thánh Âu-tinh. Nhưng trong thực tế,

    nó còn có những mục đích khác, chẳng hạn như việc giáo

    dục con cái hay là sự nâng đỡ mật thiết giữa hai vợ

    chồng:

    “Tự

    bản chất, chính định chế hôn nhân và tình yêu lứa đôi

    qui hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái như chóp

    đỉnh hoàn thành hôn nhân. Như thế bởi, bởi giao ước hôn

    nhân, người nam và người nữ “không còn là hai, nhưng

    là một xương thịt” (Mt 19:6), phục vụ và giúp đỡ lẫn

    nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và hành

    động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất

    với nhau mỗi ngày mỗi đầu đủ hơn. Sự liên kết mật

    thiết vẫn sự tự hiến của hai người cho nhau cũng như lợi

    ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín

    và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly.” (Trích

    Công Ðồng Va-ti-ca-nô II, trong Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội

    trong thế giới hôm nay, Gaudium et Spes số 48).

    Cho

    nên, chúng ta thấy rằng: một trong những mục đích khác của

    đời sống hôn nhân là sự tương trợ lẫn nhau trong một

    cách thức rất cụ thể được thể hiện ngang qua cuộc sống

    hằng ngày, ví dụ như chăm lo săn sóc cho nhau, đặc biệt khi

    đau yếu, đây cũng là một hình thức biểu lộ sự yêu

    thương của tình nghĩa vợ chồng, song song với việc chăn gối.

    Nói cách khác, đời sống và mục đích của hôn nhân không

    chỉ hạn hẹp trong việc sinh sản và các hành động hợp giao.

    Do

    vậy, ta phải công nhận đã có sự tiến triển trong nhận

    thức của Giáo Hội về mục đích của việc giao hợp trong

    cuộc sống vợ chồng. Từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV, phần

    lớn do chịu ảnh hưởng liên tục từ các suy tư và quan

    điểm thần học của thánh Augustinô. Các tư tưởng này khá

    phổ biến vào những thời điểm trên, cho nên ý kiến của

    các nhà thần học, lúc bấy giờ, vốn cho rằng cặp vợ

    chồng khi họ giao hợp mà không có ý truyền sinh, nhưng chỉ

    vì muốn tìm lạc thú hay sử dụng việc đó như là phương

    thế để ngăn ngừa sự ngoại tình, thì mắc tội nhẹ. Cũng

    vậy, việc giao hợp trong thời gian người phụ nữ có kinh hay

    đang thai nghén đều bị cấm chỉ, xét về mặt luân lý bởi

    khả năng truyền sinh lúc đó chắc chắn đã bị loại trừ.

    Những

    huấn lệnh như trên, may thay đã được bãi bỏ từ lâu.

    Trên thực tế, vào giữa thế kỷ XIX, chúng ta có thể xác

    định ba giai đoạn triển khai lập trường chính thức của Giáo

    Hội về mục đích riêng biệt của sự giao hợp.

    1.

    Ðầu tiên, cặp vợ chồng được khuyến cáo là phải có ý

    định truyền sinh cách tích cực trong việc giao hợp;

    2.

    Sau đó họ được đề nghị rằng những mục tiêu khác mà

    việc giao hợp nhắm đến đều được luân lý chấp nhận bao

    lâu họ không tích cực loại trừ ý định truyền sinh, đặc

    biệt bằng những phương cách tránh né, chận ngang hoặc ngăn

    ngừa việc thụ thai trong khi giao hợp;

    3.

    Sau cùng, giáo huấn nhìn nhận rằng trong một vài trường

    hợp, cặp vợ chồng được phép giao hợp cách hợp với

    Luân Lý, với ý định và ý muốn ngừa thai cách minh nhiên.

    Nhưng họ không được trực tiếp hay cố ý ngăn chận hoặc

    can thiệp vào khả năng thụ thai của việc giao hợp. Nói cách

    khác, trong giai đoạn tiến trình thứ ba này của giáo huấn

    Hội Thánh, luân lý thừa nhận cách minh nhiên, việc kiêng

    giao hợp có định kỳ, như ta sẽ tìm hiểu sâu xa hơn, việc

    này không được thông báo cách chính thức cho tới giữa

    thế kỷ 20 này. Tuy nhiên, chuẩn nhận việc kiêng cữ có

    thời hạn này có nghĩa cho phép vì những lý do chính đáng,

    vợ chồng có thể chủ động chỉ giao hợp với nhau vào

    những lúc mà người vợ cảm thấy hay nhận biết mình không

    thể thụ thai. Việc kiêng cữ giao hợp trong thời kỳ người

    vợ có thể mang thai được xem như một phương pháp ngừa thai

    tự nhiên, trong khi dứt khoát loại trừ việc triệt sản,

    nghĩa là tất cả mọi cố gắng khác nhằm ngăn chận tiến

    trình truyền sinh trong khi giao hợp vốn bị xem như những hình

    thức ngừa thai nhân tạo.

    Trong

    loạt bài này chúng ta tập chú vào giáo huấn của Giáo Hội

    Công Giáo về vấn đề ngừa thai và một vài vấn nạn khác

    hằng duy trì lập trường là mọi hành vi tính giao phải mở

    ngỏ cho việc truyền sinh; cho nên Giáo Hội cấm chỉ việc sử

    dụng những phương pháp gọi là ngừa thai nhân tạo, trong khi

    chuẩn nhận hết mình việc thực hành tuân theo các chu kỳ sinh

    học tự nhiên nơi cơ thể người nữ, vốn được xem như

    những cách thức kế hoạch hóa gia đình theo phương pháp tự

    nhiên.

    Do

    vậy, giáo huấn Hội Thánh Công Giáo khác biệt với huấn

    dụ của của các Hội Thánh Ki-tô giáo khác, vốn chỉ đòi

    buộc rằng: các chiều kích truyền sinh và thông hiệp tình yêu

    của tính dục được giữ lại trong nguyên tắc, chứ không

    phải trong từng hành vi của việc giao hợp. Quan điểm này,

    nhìn nhận người chồng và người vợ chỉ truyền sinh từ

    và trong mối thông hiệp tình yêu của họ cho nhau, và họ sẽ

    đi vào sự hiệp nhất tình yêu để trở nên một thân xác

    không phải vì một cách ích kỷ, nhưng là với tình yêu cho

    nhau, bởi vì người này đều mong ước người kia trở nên

    cha hoặc mẹ của đứa con thân thiết sắp có của mình.

    lẽ đó, tôi sẽ cố gắng trình bày những tư tưởng trên

    theo tiến trình như sau:

    1.

    Quan điểm chính thức của Giáo Hội về vấn đề ngừa thai

    được trình bày – đan xen nhau – trong những văn kiện chủ

    chốt được ban hành ở thế kỷ 20.

    2.

    Phân tích một vài giải đáp cho lập trường Giáo Hội, đặc

    biệt được trình bày trong Thông điệp Humanae Vitae (Sự Sống

    Con Người).

    3.

    Thử cố gắng đánh giá về mặt Luân Lý – phương pháp

    ngừa thai nhân tạo – theo như sự phê bình của một vài nhà

    thần học luân lý về thông điệp Humanae Vitae;

    4.

    Phê bình về những phương cách hoặc kỹ thuật và phương

    pháp tự nhiên về kế hoạch hóa gia đình;

    5.

    Sau cùng, chúng ta xem thử về khả năng gây bất đồng ý

    kiến nêu lên từ giáo huấn chính thức của Giáo Hội.

     

    Phần

    I:

    Việc

    Ngừa Thai trong Thế Kỷ 20

     

    Nhằm

    cố gắng tìm hiểu lập trường hiện nay của Giáo Hội Công

    Giáo Rô-ma về vấn đề ngừa thai, tôi xin phép được bắt

    đầu bằng việc nhìn lại bốn văn kiện chính thức của Giáo

    Hội đề cập đến vấn đề này trong thế kỷ 20. Trước hết,

    ta cần xác định với nhau là chính việc “ngừa thai”

    đã được hiểu như bao hàm tất cả mọi phương cách nhằm

    hạn chế số trẻ sinh ra, ngay cả phá thai hằng được xem như

    là một phương pháp ngừa thai, nhưng trong thực tế thì không

    phải như vậy. Ngừa thai, cho dẫu mang hình thức triệt sản

    bán vĩnh viễn hay tạm thời, đều bao hàm mọi và từng hành

    vi tiến hành nhằm vào việc ngăn ngừa sự thụ thai, trong khi

    “phá thai” là hành vi được tiến hành khi người

    nữ đã thụ thai rồi. Như hai thực tế khác nhau, ngừa thai

    và phá thai kéo theo những vấn đề và vấn nạn luân lý

    khác nhau, như chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu sau này. Vậy bây

    giờ, ta thử xem giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo quan niệm

    như thế nào về vấn đề ngừa thai.

     

    1.

    Ðức Pi-ô XI và Thông Ðiệp Casti Connubii

    Chính

    Giáo Hội Công Giáo Rô-ma ngày nay, thường hay bị chỉ trích

    gay gắt về lập trường cũng như giáo huấn của Giáo Hội

    suy nghĩ hiện nay, ta vẫn thường có khuyng hướng tin rằng cho

    đến thế kỷ 20, các Hội Thánh Ki-tô Giáo, cách chung, thừa

    nhận là việc ngừa thai là mối nguy hiểm đe dọa đến thể

    chế hôn nhân. Dẫu vậy, vào năm 1930, sau những cố gắng

    bất thành vào các năm 1908 và 1920, Hội Ðồng Giám Mục Anh

    Giáo họp tại Lambeth, đã dè dặt thừa nhận cho phép ngừa

    thai đối với các cặp vợ chồng theo Anh Giáo. Theo nghị quyết

    tháng 8 năm đó, các giám mục Anh Giáo trong khi bãi bỏ sự

    cấm chỉ tuyệt đối việc ngừa thai, tuy nhiên, các ngài đã

    kêu gọi đến sự nhạy cảm của các tín hữu vốn hằng

    biết tự chủ đúng mực :

    Dẫu

    sao còn đó cách minh nhiên, bổn phận luân lý trong việc hạn

    chế số con sẽ được sinh ra, hầu có thể có đầy đủ khả

    năng – tinh thần cũng như vật chất – để nuôi nấng và giáo

    dục con cái cho tốt đẹp. Cho nên cách thức ngừa thai như

    thế nào thì vẫn cần dựa trên những nguyên tắc luân lý

    căn bản của đạo Ki-tô Giáo. Phương pháp tiên thiên và

    hiển nhiên đó là kiêng cữ hoàn toàn việc giao hợp (bao

    lâu còn thấy cần thiết) trong cuộc sống tự chủ và có kỷ

    luật được Thần Khí Chúa thúc đẩy. Tuy nhiên, trong những

    trường hợp cảm thấy cần có bổn phận luân lý phải hạn

    chế hay tránh mang thai, và khi có lý do chấp nhận được về

    mặt luân lý nhằm tránh sự kiêng cữ hoàn toàn, Hội

    Ðồng Giám Mục Anh Giáo cho phép sử dụng những phương pháp

    khác nữa, miễn sao phù hợp cũng cùng những nguyên tắc

    của đạo Chúa Ki-tô. Hội đồng đó cũng lên án gắt gao

    việc sử dụng bất cứ các phương pháp ngừa thai nào, chỉ

    nhắm đến những mục tiêu vị kỷ, dâm ô, hay tương tự như

    thế.

    Ðể

    phản ứng lại, hay ít ra cũng phần nào như thế, đối với

    giáo huấn đã bị xét lại và sửa đổi của bên Anh giáo,

    Ðức Pi-ô XI, vào tháng 12 năm 1930, đã phổ biến thông

    điệp Casti Connubii, trong đó giáo huấn truyền thống của Giáo

    Hội Công Giáo về việc ngừa thai vẫn được dứt khoát duy

    trì. Trong thông điệp, Ðức Giáo Hoàng nêu dẫn một số

    điểm quan trọng:

    a)

    Ngài bảo vệ thể chế hôn nhân chống lại những lạm dụng

    của chủ thuyết “tự do luyến ái” vốn đang lan tràn

    phổ biến trên thế giới;

    b)

    Ngài phủ nhận quan điểm cho rằng người phụ nữ cần

    được giải thoát khỏi cái “ách nô dịch” từ phía

    con cái, trong đó bao hàm cái cảm thức cho rằng có con có

    cái thì trở thành gánh nặng cho cuộc sống hơn là ý nghĩa

    được chúc phúc.

    Xét

    đến vấn đề riêng của tính dục hôn nhân, Casti Connubii rõ

    rệt nêu lên hai mục đích của việc giao hợp, một mục đích

    chính và một mục đích phụ như sau: “… Hành vi giao hợp

    tiên thiên theo bản tính phải nhắm đến việc có con… (nhưng)

    do quyền lợi trong đời sống hôn nhân, cũng còn có những

    mục đích phụ nữa, như trợ giúp lẫn nhau, chăm sóc tình

    yêu đôi lứa, và việc làm dịu cơn thèm khát xác thịt mà

    chồng và vợ không bị cấm đoán xét đến bao lâu họ vẫn

    tuân thủ mục đích đầu tiên và bao lâu mà bản chất nội

    tại của hành vi đó vẫn được gìn giữ vẹn toàn”.

    Trong mạch văn đó, điểm nêu dẫn trên cho rằng bất cứ

    lúc nào giao hợp, họ phải tiến hành “sao cho hành vi

    không được tự ý tránh né khả năng tự nhiên dẫn đến

    sự sinh sản,” do vậy ta phải đối diện với sự vi phạm

    đến điều luật của tự nhiên và của Thiên Chúa, “và

    ai vi phạm thì không thể không mắc tội nặng.”

    Trong

    khi ngăn cấm sự tự ý ngăn ngừa khả năng sinh sản của

    hoạt động tính giao, thông điệp không chỉ danh rõ rệt những

    hình thức ngừa thai riêng biệt nào bị ngăn cấm. Dẫu vậy,

    cách chung, vào lúc đó, theo như Noonan từng nhận xét, thì

    cách thức mà hầu như các nhà thần học ám chỉ đến, khi

    đề cập đến ngừa thai, đó là tội Ô-năng (onanism). Tội

    mà Ô-năng đã phạm là sự từ chối tuân thủ luật hôn

    nhân của Lê-vi-ra trong Cựu Uớc (x. Ðệ Nhị Luật 25, 5 – 6),

    theo đó người đàn ông phải buộc lo sao cho người anh của

    mình có hậu duệ nối dõi tông đường, khi người này chết

    mà chưa có con cái. Trong trường hợp của Ô-năng, anh ta

    đã “ăn ở” với chị dâu của mình tên là Ta-ma,

    nhưng mỗi lần ăn ở, “anh ta đều trút tinh trùng của

    mình trên đất”, do vậy mà Ðức Ya-vê đã khiến anh

    phải chết (Kn 38, 6 – 10).

    Do

    vậy tội ô-năng nhằm ám chỉ hành vi giao hợp giữa chừng,

    qua đó dương vật được rút ra khỏi âm hộ trước lúc

    xuất tinh, nhưng trong lãnh vực từ ngữ thần học trước khi

    xuất hiện thông điệp Casti Connubii, thì tội này lại có ý

    nghĩa rộng hơn nữa. Ngoài nghĩa giao hợp giữa chừng theo sau

    sự xuất tinh, nó còn bao hàm tất cả những hành vi tính giao

    khác có nhắm đến việc ngăn chận sự truyền sinh bằng

    những phương tiện tích cực như đặt vòng xoắn, màng bao cổ

    tử cung, hoặc việc sử dụng hóa chất để tránh mang thai.

    Và rồi theo suy luận của Noonan, nếu ta đọc kỹ thông điệp

    thì có lẽ còn cho thấy có việc cấm đoán cả hai hành vi,

    đó là việc giao hợp giữa chừng và sử dụng “bao cao

    su” (condom – từ ngữ chuyên môn bằng Anh ngữ được sử

    dụng là: Prophylactic), trong khi giải thích rộng hơn nữa thì

    còn phải cấm thêm việc lau rửa sau lúc giao hợp, cũng như

    cấm đặt các màng chắn và những dụng cụ khác mà sau này

    được gọi là “những phương pháp ba-ri-e” nhằm ngăn

    chận sự thụ thai.

     

    2.

    Ðức PI-ô XII ngỏ lời với Hiệp Hội Những Cô Ðỡ Công

    Giáo người Ý

    Năm

    1951, Ðức Pi-ô XII lần đầu tiên công bố cách chính thức

    và minh nhiên thừa nhận cho phép thực hành sự kiêng cữ

    định kỳ, qua đó vợ chồng tránh việc giao hợp với nhau khi

    người nữ có thể thụ thai và do vậy chỉ giao hợp vào

    những giai đoạn không thể thụ thai tính theo chu kỳ kinh nguyệt

    nơi người vợ. Trong buổi nói chuyệ�n với giới cô đỡ

    người Ý, Ðức Pi-ô XII minh nhiên cho rằng vợ chồng phải

    có lý do chính đáng để giới hạn việc giao hợp vào

    những lúc người ta có thể phỏng đoán việc thụ thai không

    thể xảy ra. Ngài nêu ra các đánh giá về phương diện y học,

    ưu sinh học, xã hội và kinh tế, như là những cơ sở khả

    dĩ có thể biện minh luân lý cách xứng hợp cho việc thực

    hành này nơi các cặp vợ chồng. Ngài cũng nhìn nhận là

    những dấu chỉ y khoa, ưu sinh, kinh tế-xã hội như trên,

    dường như thuộc về bản tính tự nhiên bảo đảm cho việc

    thực hành sự tiết dục định kỳ như vậy trong cuộc sống

    hôn nhân. Khi nhấn mạnh đến lý do chính đáng để giới

    hạn việc chỉ giao hợp vào những thời gian không thể thụ

    thai đó, thì Ðức Pi-ô XII cũng lên tiếng nêu rõ việc vợ

    chồng có thể hành xử cách vô trách nhiệm và do vậy bất

    xứng cách luân lý khi giới hạn sinh hoạt tình dục của họ

    như vậy.

    Dẫu

    vậy, dựa trên sự phán đoán hữu lý và công bằng, nếu

    không có những lý do cá nhân đủ nghiêm chỉnh, hoặc những

    lý do đủ thuyết phục xuất phát từ những hoàn cảnh ngoại

    tại, thì ý định thường xuyên tránh né kết quả đẹp đẽ

    của việc hiệp nhất (tính giao), trong khi đồng thời tiếp tục

    hoàn toàn thỏa mãn tình tư dục, là một hành động không

    thể chấp nhận. Hành vi như thế chỉ có thể phát xuất từ

    sự đánh giá sai lầm về cuộc sống (hôn nhân) và từ

    những lý lẽ chống lại những tiêu chuẩn đích thực của

    hành vi luân lý. (Ðức Pi-ô XII ngỏ lời với giới cô

    đỡ người Ý năm 1951).

    Nhận

    định sau cùng về bài nói chuyện trên của Ðức Pi-ô XII là

    một khi phương pháp tiết dục định kỳ hoặc ngừa thai theo chu

    kỳ kinh nguyệt của phụ nữ, hoặc việc kế hoạch hóa gia

    đình cách tự nhiên được thừa nhận hợp pháp cách luân

    lý như vậy, ta cũng phải xác quyết rằng vợ chồng có thể

    được phép cách luân lý giao hợp với nhau mà không cần

    phải có ý định hay ý muốn cách minh nhiên là phải có con

    với nhau. Cho rằng vợ chồng có đủ lý do chính đáng để

    không muốn truyền sinh, mỗi khi họ giao hợp với nhau, do vậy

    bật ra câu hỏi khơi gợi chú ý: liệu việc tiết dục định

    kỳ chỉ là phương thế Luân Lý duy nhất cho vợ chồng để

    tránh thai thôi sao? Như chúng ta sẽ thấy, tranh luận xoay quanh

    câu hỏi này, theo ý nghĩa nào đó, đã đạt tới cao điểm

    của thập niên 60 vừa qua.

     

    3.

    Công Ðồng Vatican II và hôn nhân gia đình

    Năm

    1965, kết thúc khóa họp khoáng đại thứ tư và sau cùng,

    Công Ðồng Vatican II đã phổ biến Hiến Chế Mục Vụ về Giáo

    Hội trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes), trong đó liệt kê

    nhiều điểm quan trọng về hôn nhân Ki-tô giáo và ý nghĩa

    nồng cốt:

    (1)

    Như một “cộng đồng tình yêu (#47), cộng đồng thân thiết

    thông chia cuộc sống và tình yêu” (#48). Hôn nhân cùng

    phản ánh lẫn thông dự vào giao ước tình yêu nối kết

    Ðức Ki-tô với Giáo Hội của Ngài. Vẻ tốt đẹp đầy ý

    nghĩa của cuộc sống gia đình Ki-tô hữu nằm trong mối kỳ

    vọng là “qua tình yêu san sẻ giữa vợ chồng dẫn đến

    sự quảng đại và sinh hoa kết trái nơi họ. Cũng như qua sự

    hiệp nhất và chung thủy với nhau và qua cuộc sống yêu

    thương mà mọi thành viên trong gia đình đối xử với nhau”,

    thì Ðức Ki-tô vốn hằng hiện diện sống động nơi dương gian

    này có thể tỏ hiện rõ nét cho mọi người (#48).

    (2)

    Việc ăn ở với nhau nhằm diễn tả tình yêu phu-phụ (vợ

    chồng) được xem như một giá trị thiết yếu nhưng lại độc

    lập với việc sinh con. Những hành vi yêu thương này được

    đánh giá là “cao thượng” và “xứng hợp”,

    và trong cách diễn tả thuần túy nhân loại, những hành vi

    này “đem lại ý nghĩa và thăng tiến cho sự tự hiến

    hỗ tương, khiến cho vợ chồng làm giàu cho nhau bằng một ý

    chí tươi vui và cảm tạ” (#49).

    (3)

    Tuy nhiên đồng thời, tình yêu vợ chồng không tách rời

    khỏi bổn phận truyền sinh cũng như việc giáo dục con cái.

    Chính cuộc hôn nhân cũng như tình yêu vợ chồng, cả hai

    “đều được phối hợp cho sự truyền sinh và giáo dục

    con cái, và tìm thấy qua những phận vụ này triều thiên cao

    cả nhất của mình” (#48). Hơn nữa, con cái là ân huệ cao

    quý nhất của hôn nhân và là sự đóng góp lớn lao kiến

    tạo hạnh phúc của cha mẹ” (#50).

    (4)

    Khi vợ chồng thực hành có hiệu quả khả năng truyền sinh

    của mình, thì họ đạt đến sự vui hưởng, theo một cách

    thế nào đó, vào công trình sáng tạo của chính Thiên Chúa.

    Khi cẩn thận nêu ra vị trí của con cái trong cuộc sống hôn

    nhân, Gaudium et Spes khuyến dụ, “dù không nên xem nhẹ giá

    trị của các mục đích khác của hôn nhân… cha mẹ cần xem

    như sứ mệnh riêng biệt của mình trong bổn phận truyền sinh

    và giáo dục những kẻ đã được trao phó cho mình”

    (#50). Về điểm này, ta cần ghi nhận là văn kiện đã dứt

    khoát từ chối sử dụng hạn từ truyền thống vốn so sánh

    việc phân chia “cấp trật của các mục đích hay mục tiêu”

    theo đó thì sự truyền sinh và giáo dục con cái được xem

    như mục đích đầu tiên của hôn nhân và tính dục vợ

    chồng, trong khi đó – phận sự biểu lộ và nuôi dưỡng tình

    yêu giữa vợ chồng với nhau – lại trở thành mục đích

    thứ nhì của hôn nhân.

    Theo

    các chuyên gia giám sát và theo dõi diễn tiến Công Ðồng

    Vatican II về mặt soạn thảo văn kiện cho biết: đã có nhiều

    đề nghị tu chính bản văn, đòi tái đem vào ý tưởng về

    “cấp trật mục đích” cốt để phân biệt những mục

    đích, mục tiêu chính và phụ. Tuy nhiên những đề nghị sửa

    đổi này đều bị bác bỏ, trong đó có đề nghi rõ rệt như

    sau “tình yêu phu-phụ được sắp đặt cho mục tiêu chính

    của hôn nhân, đó là việc sinh con nối dõi dòng họ”. Do

    vậy, hôn nhân và tính dục vợ chồng được xem là có hai

    mục đích, nhưng các nghị phụ Công đồng từ chối đánh giá

    về tầm quan trọng của các mục tiêu này, tránh cho cái nào

    là chính cái nào là phụ.

    (5)

    Vợ chồng mang trọng trách sinh sản và giáo dục con cái “với

    đầy đủ trách nhiệm trong tư cách con người và Ki-tô hữu”.

    Trong việc tổ chức cuộc sống gia đình, vợ chồng cần quan

    tâm đúng mức đến hạnh phúc của riêng họ cũng như của

    con cái, những đứa đã được sinh ra và cả những đứa

    sắp sinh. “Bậc làm cha mẹ có trách nhiệm – có nghĩa vợ

    chồng” cần dự trù các điều kiện cả hai mặt vật chất

    lẫn tinh thần về số con cũng như hoàn cảnh sống của chúng”.

    Tóm lại vợ chồng “phải tham khảo những lợi ích của

    cộng đồng gia đình, xã hội hiện nay và của chính Giáo Hội

    nữa.” Cha mẹ nào phải chăm sóc một gia đình tương đối

    đông đúc cần được quan tâm đặc biệt, họ được nhắc

    bảo đến bổn phận phải nuôi dạy con cái của họ “cho

    xứng hợp,” do vậy khi quyết định có đông con, họ nên

    khôn ngoan bàn thảo với nhau trước” (#50).

    Như

    đoạn trích dẫn trên cho thấy, Giáo Hội Công Giáo không

    chống lại việc cha mẹ sinh sản có trách nhiệm và có kế

    hoạch. Gaudium et Spes không đề cao việc sinh sản bừa bãi

    khiến không thể giáo dục con cái đàng hoàng. Do vậy đối

    với vợ chồng, là người Ki-tô hữu, làm cha mẹ có trách

    nhiệm bao hàm ba việc: (1) họ cần hành xử mở ngõ cho việc

    sinh sản; (2) cần chăm sóc đúng mức con cái đã được sinh

    ra, và sau cùng, (3) khi thấy cần thiết, vợ chồng cần phải

    hạn chế cách xứng hợp khả năng sinh sản của mình. Tuy

    nhiên, cách nào để hạn chế sinh sản thì vẫn còn là đề

    tài bỏ ngõ cho tranh luận.

    (6)

    Về việc quyết định số con sinh ra, “chính cha mẹ phải là

    người quyết định sau cùng, mang trách nhiệm trước mặt Chúa,”

    nhưng họ cần nhận thức là “họ không được tiến hành

    cách tùy tiện được.” Hơn nữa, vợ chồng Ki-tô hữu

    cần quyết định có ý thức trách nhiệm, nghĩa là “họ

    luôn được lương tâm hướng dẫn, một lương tâm phù hợp

    với chính lề luật Thiên Chúa, và họ cần tuân phục huấn

    quyền Hội thánh hằng giải thích một cách chân thật lề

    luật này dưới ánh sáng Tin Mừng” (#50).

    (7)

    Sau cùng, nên thừa nhận việc vợ chồng thường phải “rơi

    vào những cảnh huống này là, ít ra tạm thời, họ cần

    giới hạn số người trong gia đình của họ.” Do vậy để

    chu toàn bổn phận làm cha mẹ có trách nhiệm, họ cần phải

    tiết dục, nhưng điều ấy lại xung đột với ý muốn biểu

    lộ tình yêu vợ chồng của họ về mặt sinh lý. Bị đẩy vào

    trạng huống này, vợ chồng phải đối mặt với hai thực tế:

    trách nhiệm đều ràng buộc họ phải tránh việc thụ thai và

    đồng thời phải duy trì cho bằng được “tình yêu chung

    thủy của họ qua cuộc sống lứa đôi thân mật.” Thất

    bại trong việc duy trì “sự thân mật lứa đôi” là

    mối đe dọa rõ rệt cho tình yêu chung thủy hỗ tương của vợ

    chồng, cũng như có nguy cơ phá vỡ hạnh phúc của những

    đứa con đã sinh ra và làm giảm sút sự can trường và

    quảng đại của cha mẹ trong việc đón nhận những đứa con

    mới. (#51).

    Nhằm

    hướng dẫn vợ chồng trong nỗ lực “hòa hợp tình yêu

    đôi lứa với việc truyền sinh có trách nhiệm,” Gaudium et

    Spes cảnh báo chống lại những giải pháp không xứng hợp

    với chuẩn mực luân lý, được đề ra bởi Giáo Hội. Và

    khuyến dụ họ là đặc tính luân lý của những cách biểu

    lộ tình yêu vợ chồng�, được xác định bằng những tiêu

    chuẩn khách quan có nền tảng dựa trên bản tính của nhân

    vị và những hành vi đó phải “duy trì đầy đủ ý nghĩa

    của sự tự hiến thân cho nhau và sản sinh con cái bằng một

    tình yêu đích thật” (#51).

    Ðiều

    diễn tả tình yêu vợ chồng không thể bị xem xét đơn thuần

    chỉ trên chiều kích sinh học, hay trên phương diện thể lý

    của hành động giao hợp, nhưng đúng hơn phải xét trong mối

    tương quan với toàn thể nhân vị con người, được coi là

    chủ thể của hành động. Thật quá giản lược việc văn

    kiện bắt nguồn từ lý lẽ đã được lặp đi lặp lại

    chống lại sự ngừa thai vốn chỉ nhìn đến cơ cấu sinh học

    của hành vi tính giao được xem xét tách lìa khỏi những yếu

    tố khác, đặc biệt là chủ thể đang thực hiện hành vi đó.

    Tiêu

    chuẩn luân lý tính được xem như có gốc gác nhiều hơn nơi

    bản tính của nhân vị, chứ không phải nơi mục tiêu riêng

    rẽ của từng hành vi riêng biệt. Tỷ dụ như ta không thể

    đánh giá một con người tốt hay xấu ngang qua những hành vi

    riêng biệt của kẻ ấy. Ta thử lấy một ví dụ, có thể hôm

    nay anh ta vì vui chén với bạn bè, nên đã say rượu và có

    lời ăn tiếng nói không hay, nhưng qua hôm sau khi anh ta hết say

    rượu, thì thái độ và cách cử xử của anh ta sẽ khác.

    Các

    nghị phụ Công Ðồng kết thúc phần tranh luận của mình về

    cuộc sống hôn nhân và gia đình bằng cách khuyến khích vợ

    chồng thực tập đức trong sạch hôn nhân, vốn phần nào

    đó có nghĩa là trong khi nhằm hạn chế sinh sản, vợ chồng

    cần tránh các phương pháp “bị Huấn Quyền Giáo Hội cho

    là sai trái vì không phù hợp với lề luật Thiên Chúa”

    (#51). Không thể hướng dẫn người ta được gì thêm bằng

    cách phân biệt giữa những hình thức ngừa thai được

    hoặc không được chấp nhận, nhưng trong phần chú thích văn

    kiện, các nghị phụ giải thích lý do sự im lặng của các

    ngài như sau: “Vài vấn đề cần được xem xét kỹ càng

    hơn nữa, thì theo lệnh Ðức Giáo Hoàng, chúng đã được

    chuyển giao lại cho tiểu ban nghiên cứu về dân số, gia đình,

    và sinh suất, để rồi sau khi hoàn tất sẽ được Ðức Giáo

    Hoàng chuẩn y. Do quá đặt nặng lý thuyết về huấn quyền

    đến như vậy, mà Thượng Hội Ðồng Giám Mục lúc đó đã

    không có ý đưa ra ngay lập tức những giải pháp cụ thể.

     

    4.

    Humanae Vitae và bối cảnh của nó

    Tiểu

    ban đặc biệt giáo hoàng nhằm nghiên cứu vấn đề ngừa thai

    đã được Ðức Giáo Hoàng Gio-an XXIII thiết lập năm 1963;

    một năm sau đó Ðức Giáo Hoàng Phao-lô VI bổ nhiệm thêm

    nhiều nhân vật nữa vào tổ chức này. Cả giáo dân lẫn

    giáo sĩ đếm được từ 60 đến 70 vị, bao gồm giới nghành

    y, các nhà khoa học xã hội, các cặp vợ chồng, Linh Mục,

    Giám Mục, Hồng Y.

    Sau

    khi tiểu ban biểu quyết vào tháng 6 năm 1966, hai bản tường

    trình khác nhau được đệ trình lên Ðức Phao-lô VI; trong

    bản tường trình của nhóm ý kiến thiểu số, có bốn nhà

    thần học ký tên thì những cấm đoán truyền thống về mọi

    hình thức ngừa thai nhân tạo đều được giữ lại; còn

    bản tường trình theo ý kiến số đông bao gồm hầu như toàn

    bộ những thành viên còn lại của tiểu ban thì khuyến cáo

    Giáo Hội nên có thay đổi trong huấn quyền chính thức về

    các phương pháp ngừa thai.

    Tháng

    2 năm 1966, trước khi nhận các bản tường trình, Ðức Giáo

    Hoàng Phao-lô VI ngỏ lời tại Trung tâm Hội Nghị Phụ Nữ

    Quốc Gia Ý. Trong bài phát biểu, Ngài nêu lên tính phức

    trong tiểu ban vốn được đặc biệt triệu tập “với

    nhiệm vụ xem xét những vấn đề này cách sâu xa hơn từ

    nhiều quan điểm – khoa học, lịch sử, xã hội và giáo thuyết

    – với sự cố vấn phong phú của các giám mục và chuyên

    viên.” Khi khuyến dụ thính giả “hãy chờ đợi những

    kết quả của công trình nghiên cứu này…” Ngài lưu ý

    Giáo Hội cần bước đi cẩn trọng và xem xét cẩn thận trong

    nỗ lực giáo huấn cho Dân Thiên Chúa.

    Huấn

    Quyền Giáo Hội không thể đưa ra những chuẩn mực Luân Lý

    mà không bảo đảm là mình đang diễn tả ý Chúa. Ðể đạt

    tới chân lý này, Giáo Hội không buộc phải theo những tìm

    tòi cũng như phải xem xét tất cả những vấn đề do từ

    mọi góc nẻo trần gian đặt ra. Ðôi khi những công việc đó

    đòi hỏi nhiều thời gian và không phải dễ dàng gì.

    Tâm

    tình được giãi bày như trên của Ðức Phao-lô VI cho thấy

    bối cảnh, một khi những khuyến cáo từ bản phúc trình của

    nhóm ý kiến đa số trong tiểu ban giáo hoàng được công bố

    cho công chúng, người ta rất hy vọng chờ mong từ giữa

    lòng Giáo Hội Công Giáo quyết định thay đổi sự cấm đoán

    sử dụng những phương pháp ngừa thai gọi là nhân tạo.

    Liệu Ðức Giáo Hoàng sẽ đáp ứng ra sao đối với những

    gợi ý của tiểu ban? Sự đáp ứng này chỉ xảy ra hai năm

    sau đó khi ngài công bố thông điệp Humanae Vitae (HV: Sự sống

    con người), tháng 7 năm 1968.

    Mở

    đầu Thông Ðiệp, Ðức Phao-lô VI cám ơn Tiểu Ban Giáo Hoàng

    về công tác đã thực hiện, nhưng ngài cho rằng những kết

    luận của phúc trình không thể được xem như có tính quyết

    định được cũng như chúng không thể cho phép cá nhân ngài

    bỏ qua việc xem xét vấn đề cách tường tận hơn nữa. Sau

    đó ngài nhận định là tiểu ban đã “không đạt được

    chuẩn mực luân lý;” hơn nữa, ngài cho rằng trong bản

    phúc trình của tiểu ban, một vài giải pháp đề nghị cho vấn

    đề ngừa thai thực ra đã “vượt quá xa khỏi giáo huấn

    luân lý về hôn nhân mà Huấn Quyền Giáo Hội vẫn hằng

    mạnh mẽ giảng dạy.”

    Sau

    cùng, với niềm xác tín rằng mình đã “chủ động xem

    xét tường tận tất cả thông tin tài liệu” đệ trình

    lên ngài, Ðức Giáo Hoàng, “sau khi cân nhắc, đắn đo

    và cầu nguyện liên lỷ” tuyên bố duy trì là không thể

    có sự thay đổi trong lập trường của Giáo Hội về việc

    chống lại sự sử dụng các phương pháp ngừa thai nhân tạo

    (HV, #6).

    Thông

    Ðiệp đưa ra luận chứng cơ bản như sau: “Mọi và từng

    hành vi trong việc giao hợp phải mở ngõ cho sự truyền sinh (HV,

    #11), vì Thiên Chúa đã muốn “sự nối kết không thể

    phân chia… giữa hai ý nghĩa của hành vi phu-phụ: ý nghĩa

    phối hợp yêu thương và ý nghĩa sinh sản.” Nhờ sự

    kết giao thân mật, “hành vi phu-phụ trong khi hiệp nhất

    chặt chẽ vợ chồng với nhau, khiến họ có khả năng thông

    ban sự sống mới, thể theo những định luật được ghi khắc

    trong tận hữu thể của người đàn ông và đàn bà” (HV,

    #12).

    Do

    vậy, được coi là hành vi “xấu ngay tự bản chất” (HV,

    #14), và “không bao giờ hợp pháp” (HV, #16) cho vợ

    chồng khi giao hợp với nhau mà đồng thời lại toan tính cách

    tích cực có chủ ý ngăn cản khả năng truyền sinh của hành

    vi này. Nghĩa là vợ chồng không được phép dùng phương

    pháp ngừa thai nhân tạo.

    Khi

    phê bình những xác quyết cơ bản của thông điệp, cố thần

    học gia luân lý, Richard McCormick, S.J. nêu nhận xét như sau:

    nội dung chủ yếu của thông điệp là: sự giao hợp giới

    tính “chỉ là hành vi đơn độc với hai khía cạnh hay hai ý

    nghĩa nội tại: hiệp nhất và truyền sinh”; hơn nữa, hai ý

    nghĩa này lại “bất khả phân ly theo sự hoạch định của

    Thiên Chúa”, do vậy bất cứ ai chủ ý làm cho hành vi giao

    hợp không thể thụ thai cũng đều “tấn công vào chính

    ý nghĩa của hành vi vốn là sự biểu lộ của tình tự hiến

    cho nhau.”

    McCormick

    ghi nhận là phân tích như trên là điều không mới mẻ gì,

    nhiều nhà luân lý đã từng phát biểu từ lâu những

    dòng chữ đó, và McCormick thừa nhận rằng: chính ông ta

    trước đây cũng đã từng đưa ra các luận điệu tương

    tự như thế “qua việc loại trừ khả năng cưu mang một

    thai nhi, vốn là dấu hiệu thường trực của tình yêu được

    diễn tả trong sự giao hợp, người ta đã chủ động ngừa

    thai trong hành vi tính giao và do vậy đã tước bỏ dấu hiệu

    đó khỏi hành vi vốn làm cho tình yêu hiệp nhất cách khách

    quan.”

    Nhưng

    sau này, McCormick đã không còn giữ lập trường này nữa.

    Ðồng ý rằng, con cái là hoa quả tình yêu giữa hai vợ

    chồng, được biểu lộ qua hành vi ái ân. Tuy nhiên, nếu

    chúng ta chấp nhận quan điểm này, thì phải nói rằng, có lẽ

    không biết bao nhiêu triệu con người đang có mặt trong thế

    giới ngày hôm nay đã không là kết quả của tình yêu tự

    hiến trong đời sống hôn nhân, nhưng chẳng qua đó chỉ là

    kết trái của một cuộc tri hoan nhằm thỏa mãn tính dục và

    đứa con là kết quả của một sự việc ngoài ý muốn.

    Không biết Giáo Hội nghĩ sao về vấn đề này?

    Theo

    cách thức suy tư hiển lộ trong Humanae Vitae, các ý nghĩa thông

    hiệp và truyền sinh của hành vi tính giao nối kết chặt chẽ

    với nhau đến độ không thể bị phân lìa. Ðiều này có

    nghĩa bất cứ sự can thiệp thể lý có chủ ý nào trên

    một trong hai ý nghĩa thì đều tất yếu kéo theo ảnh hưởng

    phân rẽ hay phân hủy đối với ý nghĩa kia, đến độ ý

    nghĩa luân lý của hành vi tính dục xét như là một tổng

    thể đã bị phá hủy.

    Do

    vậy tính bất khả phân ly của những chiều kích thông hiệp

    và truyền sinh của tình yêu phu-phụ nằm ở cội rễ của

    việc Giáo Hội cấm đoán bất cứ sự giao hợp nào có kèm

    theo chủ ý tích cực ngăn cản sự truyền sinh; đồng thời,

    cần ghi nhận là cùng một luận chứng về tính bất khả phân

    chia của hai chiều kích trong tình yêu phu-phụ, cũng giải thích

    phần lớn việc Giáo Hội chống lại bất cứ sự toan tính

    nào của vợ chồng nhằm có con mà không thông qua con

    đường biểu lộ tình yêu thân mật hỗ tương qua sự giao

    hợp.

    Do

    vậy, Giáo Hội giữ vững lập trường cố hữu chống lại

    chẳng những phương pháp cấy tinh nhân tạo dùng tinh trùng

    người khác, được gọi là Artificial Insemination using a Donor’s

    sperm, viết tắt là (AID) mà ngay cả phương pháp cấy tinh nhân

    tạo nhờ tinh trùng của chồng, được gọi là Artificial

    Insemination using the Husband’s sperm, viết tắt là (AIH) và phương

    pháp thụ tinh trong ống nghiệm IVF (In Vitro Fertilization) theo đó

    cả trứng lẫn tinh trùng đều thuộc của vợ chồng.

     

    Lm.

    Trần Mạnh Hùng, DCCT (Roma)

     

    (Trích

    dẫn từ Ehpata Việt Nam số 64, năm 2002)

    Back

    to Vietnamese Missionaries in Asia Home Page

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tính Ngày An Toàn Khi Quan Hệ Để Không
  • Tiêm Thuốc Tránh Thai: Lợi Và Hại
  • 17 Phương Pháp Ngừa Thai Hiệu Quả Và Dễ Thực Hiện Nhất Hiện Nay
  • Tư Vấn Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Sau Sinh
  • Bài 6 : Lươngtâm Công Giáo Và Vấn Đề Điều Hoà Sinh Sàn
  • Mô Hình Var ( Value At Risk)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Chính Hành Vi Và Quản Lý Rủi Ro
  • Quy Trình Tính Vách Cứng Bê Tông Cốt Thép
  • Vốn Bình Quân Gia Quyền (Wacc) Là Gì? Cách Tính Chi Phí Sử Dụng Vốn Bình Quân Gia Quyền – Wacc (File Excel)
  • Wacc Là Gì Và Được Tính Theo Công Thức Nào Chính Xác?
  • Chỉ Số Aqi Là Gì? Và Cách Tính Cụ Thể
  • Giới Thiệu Độ Đo Rủi Ro VaR và Ứng dụng trên TTCK Việt Nam

    PHẦN MỞ ĐẦU

    Quý nhà đầu tư và bạn đọc thân mến, quản trị rủi ro là một vấn đề không mới khi mà chúng ta đã dần quen thuộc với cụm từ này trong những năm gần đây, dù đây lại là lĩnh vực được quan tâm và triển khai trên thế giới từ lâu. Quản trị rủi ro đang được chú ý hơn đối với lĩnh vực Tài chính Ngân hàng ở nước ta, khi mà các định chế tài chính lớn trong nước đang từng bước nâng cấp hoạt động quản trị rủi ro để tiệm cận gần hơn với tiêu chuẩn chung của Thế giới hiện nay ( Các vấn đề Quản trị rủi ro theo Tiêu chuẩn Basel I, II và III).

    Thực sự chúng ta cũng đang từng ngày giải quyết vấn đề quản trị rủi ro theo những cách khác nhau, với mục đích nắm bắt và phần nào kiểm soát được mức độ thiệt hại nếu rủi ro xảy ra. Chúng tôi xin được giới thiệu đến quý nhà đầu tư và bạn đọc một công cụ có thể giúp chúng ta phần nào tính toán được sự thiệt hại ( tổn thất) trong trường hợp có phát sinh rủi ro trong quá trình đầu tư cũng như trong hoạt động cho vay, đó là công cụ tính VaR ( Value at Risk – Giá trị Rủi Ro). Từ kiến thức chung đến Ứng dụng trong từng trường hợp cụ thể, Công cụ tính toán VaR có thể xác định được mức tổn thất tối đa có thể chạm đến trong từng khung thời gian cụ thể và với một mức độ tin cậy nhất định.

    Mặc dù còn những hạn chế trong kiến thức về Quản trị rủi ro của 

    chúng tôi

    , tuy thế người viết vẫn sẽ cố gắng truyền tải phương pháp tính toán này trở thành một công cụ có ích cho Nhà đầu tư và bạn đọc trong hoạt động giao dịch và hoạt động kinh doanh trên Thị trường chứng khoán.

    TIẾP CẬN KHÁI NIỆM VaR

    Trước khi nói về sự khác biệt, người viết đưa ra một vài ví dụ trực quan lên quan đến biến động P&L (Profit&Loss) của một vài cổ phiếu, biên độ giá, và các giá trị VaR tính toán trên cùng một đồ thị, như sau:

    P&L của cổ phiếu GAS

    P&L của cổ phiếu VCB

    P&L của cổ phiếu VNM

    Đối với các cổ phiếu cơ bản ta thấy rất hiếm trường hợp tăng kịch trần hoặc chạm sàn trong phiên, cụ thể khi quan sát 3 cổ phiếu BCs trên, rất hiếm trường hợp P&L chạm đường biên màu xanh lá cây ( Biên trên 7%) và chạm đường màu đỏ ( Biên dưới -7%).

    Ngược lại, đối với một số cổ phiếu nóng thì tần suất chạm hai biên này sẽ lớn hơn nhiều.

    P&L của cổ phiếu HHS

    Nhà đầu tư và bạn đọc thử quan sát lại các đồ thị một lần nữa, chúng ta luôn thấy có những khoảng cách từ hiệu suất thực tế ( đường P&L) với các đường biên độ giá, trường hợp khoảng cách bằng 0 tức là vị trí những điểm chạm của P&L và đường biên độ giá ( khi mà cổ phiếu tăng trần hoặc là giảm sàn trong phiên). Vậy thì giả dụ nếu biết trước rằng, vào ngày mai cổ phiếu của chúng ta sẽ giảm sàn, thì kế hoạch phân bổ tỷ trọng cổ phiếu và tiền đối ứng của chúng ta sẽ là gì? Tất nhiên kế hoạch an toàn là bán toàn bộ cổ phiếu và duy trì tỷ trọng tiền đối ứng 100% (1- Là để tránh mất thành quả, 2- Là sẵn sàng lượng tiền để mua ở mức giá thấp hơn). Ngược lại, nếu chúng ta biết rõ ngày mai cổ phiếu của chúng ta sẽ tăng trần và chúng ta được phép mua bán T+0, phương án khả thi nhất là chúng ta sẽ mua hết  số tiền đang có trong tài khoản (all in – biến 100% lượng tiền mặt thành cổ phiếu).

    Như vậy, nếu cổ phiếu giảm càng sâu ta cần một lượng tiền đối ứng càng lớn, ngược lại nếu cổ phiếu tăng càng tốt, thì lượng tiền đối ứng càng nhỏ để nhường chỗ cho sự gia tăng khối lượng cổ phiếu. Khoảng cách giữa P&L và các biên thể hiện một sự đối ứng của tiền đối với khối lượng cổ phiếu đang nắm giữ. Khoảng cách của P&L với biên dưới càng lớn, ta cần một lượng tiền đối ứng càng lớn.

    Phần tiền đối ứng cần được duy trì là cách để tránh thiệt hại khi rủi ro xảy ra, nó vừa thể hiện mức độ chịu rủi ro của mỗi cá nhân hoặc tổ chức tham gia thị trường. Động thái sau khi xảy ra rủi ro là bù vào phần đã vay nếu chúng ta đã vay trước đó, hoặc là sẵn sàng tham gia với lượng cổ phiếu lớn hơn nữa ở mức giá thấp hơn để kéo giá mua giảm xuống đối với một đơn vị cổ phiếu. Hay nói cách khác là lượng tiền dự phòng để chúng ta có thể chủ động hơn trong trường hợp rủi ro xảy ra. 

    Đối với cổ phiếu : Nếu giá cổ phiếu VCB phiên này chúng ta tính mức điều chỉnh tối đa 1.92% ( tương ứng mức giá 36.88) với độ tin cậy 95%, và 5% còn lại VCB có thể rớt xuống thấp hơn giá 36.88, thì điều này có thể giúp chúng ta nhiều hơn trong việc cân đối tỷ trọng cổ phiếu hơn là một biến cố chắc chắn rằng, VCB điều chỉnh tối đa 7%( giá sàn 35.00) với độ tin cậy 100%. 

    Đối với chỉ số thị trường: Chúng ta cũng có thể gượng ép để nói chỉ số VN-index cũng có thể mất tối đa 7% trong một phiên ( người viết cho rằng sự kiện này là thảm họa khủng khiếp nếu tất cả các cổ phiếu trên sàn HSX giảm sàn), điều này đúng 100% nhưng đối với chúng ta có vẻ hơi khó tin! Chính vì vậy, một giá trị tổn thất -0.9%, -1.1%, -1.3% trong phiên thì đáng tin hơn đối với chúng ta, đây cũng là mức VaR95, VaR975, VaR99 tính toán được gần nhất ( phiên thứ Năm 13/10/2016). Chúng ta cũng hoàn toàn nói ngược lại rằng, chỉ 5% xác suất xảy ra kịch bản chỉ số thị trường VN-index giảm hơn mức -0.9% ( Nếu điều này xảy ra, thì người viết kịp nghĩ rằng nó khá hiếm bởi vì chỉ 5% trường hợp rớt sâu hơn mức này, vậy thì liệu có nên tham gia quá trình BẮT ĐÁY nếu nó giảm sâu như vậy không? Có thể là đáy lắm chứ!)

    P&L của chỉ số VN-index

    Bởi vì Rủi ro cũng chỉ là một khái niệm của xác suất về những điều mơ hồ

    Bởi vì Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát  nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội

    Và Bởi vì  Rủi ro chỉ là Trò chơi của những kẻ thống trị

    Giới Thiệu Độ Đo Rủi Ro VaR và Ứng dụng trên TTCK Việt Nam

    CÁCH TÍNH GIÁ TRỊ VaR

    Theo định nghĩa toán học, VaR là mức phân vị thứ 

    α (alpha) 

    của một hàm phân phối chuẩn hóa. Quả thực định nghĩa này là khó hiểu đối với phần đông chúng ta và cũng không kém mơ hồ. Thế nhưng, người viết vẫn phải nêu ra định nghĩa chuẩn của giá trị VaR vì đây là phần không thể thiếu khi giới thiệu về bất kỳ điều gì mới, cũng giống như các giới thiệu về Một chức danh mới của một yếu nhân nào đó, Một sự kiện mới, Một tính năng mới, Một khái niệm mới, hay đơn giản chỉ là Một vật kỳ quặc mà chúng ta chưa hề biết về nó và lý do vì sao nó tồn tại…

    Thế thì xuất phát từ nhu cầu Quản trị rủi ro thực tế, người viết khái quát VaR như một mức ( Giá trị theo đơn vị tiền tệ, Giá trị tương đối theo phần trăm) mà một khoản đầu tư có thể giảm xuống tối đa trong một đơn vị thời gian ( ngày, tuần, tháng) với một độ tin cậy bằng xác suất cho trước ( 95%, 97.5%, 99%)

    Phương pháp Ước lượng VaR sử dụng các ước lượng không chệch

    Đối với một cổ phiếu hoặc một chỉ số, P&L chính là sự chênh lệch của giá phiên hôm nay trừ giá phiên trước đó, chia cho giá của phiên trước đó ( /n

    Phương sai mẫu = Tổng sai lệch bình phương của n P&L trong n phiên và Trung bình mẫu chia cho n -1 = 

     

    =[(P&L(t-n-1)- Trung bình mẫu)^2+..+

    (P&L(t-1)- Trung bình mẫu)^2

    +

    (P&L(t)- Trung bình mẫu)^2

    ]/(n-1)

    Nếu khó hiểu quá thì thực ra 2 giá trị này trông như thế này: 

    Để xác định trung bình

    mẫu ta sử dụng hàm AVERAGE, phương sai mẫu ta dùng hàm VAR trong Excel.

    3. Tính VaR

    Tính theo giá trị phần trăm

    VaR95 = Trung bình mẫu – 1.65*(Phương sai mẫu)^0.5

    VaR975 =

    Trung bình mẫu – 1.96*(Phương sai mẫu)^0.5

    VaR99 = 

    Trung bình mẫu – 2.33*(Phương sai mẫu)^0.5

    Tính theo giá trị bằng tiền cho chỉ số

    VaR95 = (1+Trung bình mẫu – 1.65*(Phương sai mẫu)^0.5)*Chỉ số đóng cửa

    VaR975 = (1+Trung bình mẫu – 1.96*(Phương sai mẫu)^0.5)*Chỉ số đóng cửa

    VaR99 = (1+Trung bình mẫu – 2.33*(Phương sai mẫu)^0.5)*Chỉ số đóng cửa

    Giá GAS, VaR95 và giá sàn dự kiến

    Giá HHS, VaR95 và giá sàn dự kiến

    Giá VCB, VaR95 và giá sàn dự kiến

    Giá VNM, VaR95 và giá sàn dự kiến

    Bởi vì Rủi ro cũng chỉ là một khái niệm của xác suất về những điều mơ hồ

    Bởi vì Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát  nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội

    Và Bởi vì  Rủi ro chỉ là Trò chơi của những kẻ thống trị

    Giới Thiệu Độ Đo Rủi Ro VaR và Ứng dụng trên TTCK Việt Nam

    ỨNG DỤNG VaR TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

    Cho lượng tiền mặt đối ứng hay việc phân bổ tỷ trọng Tiền mặt/ Cổ phiếu

    Tỷ

    trọng

    Chứng

    khoán

    /

    Danh

    mục

    = (

    bp

    -q)/b

    Trong

    đó

    : b

    tỷ

    lệ

    thắng

    và mở rộng ra như sau:

    Tỷ

    trọng

    Tiền

    /

    Danh

    mục

     = (

    b’p

    ’-q’)/b’

    Trong

    đó

    : b’ 

    tỷ

    lệ

    thất

    bại

    Là nhân tố tin cậy cho phép đánh giá lại tỷ lệ cho vay margin đối với các công ty chứng khoán

    Thực ra những biến động cổ phiếu là bất thường và biến đổi theo phiên, nếu một tỷ lệ vay được ấn định từ trước đó đối với một số cổ phiếu điều chỉnh sâu trong suốt một quá trình sẽ mang lại rủi ro cho hoạt động vay và cho vay của nhà đầu tư lẫn công ty chứng khoán.Việc thay đổi tỷ lệ cho vay margin theo tuần, tháng sẽ trở nên hiệu quả hơn và cập nhật hơn nếu chúng ta biết rằng, trong tuần tới, tháng tới, giá cổ phiếu hoặc chỉ số có thể giảm sâu nhất về mức nào với một độ tin cậy chấp nhận được (95%, 97.5%, 99%). Như thế đối với mỗi một mã cổ phiếu, chúng ta ấn định một tỷ lệ cho vay hiệu quả hơn là đánh đồng đều đối với toàn bộ cổ phiếu, hay phân loại cổ phiếu theo mệnh giá hay vốn hóa thị trường ( tất nhiên là cổ phiếu của chúng ta vẫn nằm trong danh sách được phép vay).

    Chúng ta khai thác 2 điểm của ngưỡng VaR mà người viết cho rằng là có ích. 

    Một là, Sự ổn định của cổ phiếu thường gắn với một sự an toàn nhất định, nếu ngưỡng VaR được duy trì càng gần với tổn thất thực tế thì càng cần ít trích lập khoản dự phòng. Ngược lại, dự báo về mức độ có thể thiệt hại của cổ phiếu nằm xa hơn với thiệt hại thực tế thì khoản trích lập cũng phải tăng lên tương ứng. Như vậy, rủi ro tăng lên, trích lập dự phòng càng nhiều thì cũng đồng nghĩa với tỷ lệ cho vay margin không thể cao được . Rủi ro sẽ không còn là rủi ro nếu chúng ta đánh giá gần đúng nhất về mức độ thiệt hại. Ở

     chiều ngược lại,

     trong một ngưỡng chịu đựng rủi ro được xác định từ trước có thể tin cậy được

    (95%, 97.5%, 99%)

    , ta hoàn toàn có thể nâng tỷ lệ cho vay margin cao lên mà không còn e ngại về rủi ro của sự điều chỉnh giá. 

    Hai là, Nếu tổn thất thực tế vượt qua ngưỡng VaR dự báo thì sao? Đây là trường hợp hiếm, nếu đánh giá trên phương diện là nhà đầu tư là cơ hội Mua ở vùng giá thấp hơn vì khả năng P&L sẽ hồi phục trở lại cao hơn ngưỡng VaR đánh giá, nhưng trên phương diện cho vay của công ty chứng khoán thì rủi ro đã sinh ra và có thể gây những tổn thất nhất định cho hoạt động cho vay. Nếu chúng ta dựa vào số lần giá trị tổn thất của mỗi cổ phiếu vượt ngưỡng VaR là tiêu chí để tăng hay giảm tỷ lệ cho vay margin thì người viết cho rằng là điều khá hợp lý. Bởi vì, chúng ta không thể cấp margin cao hơn cho một cổ phiếu liên tục chạm sàn so với một cổ phiếu hiếm khi điều chỉnh giảm sàn.

    Một ngưỡng hỗ trợ tin cậy có thể dự báo trước và tham gia thị trường ở vùng giá thấp hơn

    Đứng trên phương diện Phân tích kỹ thuật, mức VaR95 có thể xem như mức Hỗ trợ cho vận động giá của cổ phiếu, hoặc chỉ số với độ tin cậy lên đến 95%. Chỉ có 5% trường hợp Giá cổ phiếu hoặc chỉ số có thể rớt ra ngoài khoảng này ( vì 5% cũng là một xác suất thấp) vậy thì sẽ có khả năng cao rằng vận động giá hoặc chỉ số có thể vượt lên trên mức VaR95 ở những phiên kế tiếp ( Tín hiệu BẮT ĐÁY hoặc MUA ở vùng xác suất thấp mà cơ hội hồi phục

    cao đối với những cổ phiếu cơ bản chịu những nhịp điều chỉnh ngắn hạn). 

    Ứng dụng VaR95 BẮT ĐÁY thị trường

    Ứng dụng VaR95 BẮT ĐÁY cổ phiếu GAS

    Ứng dụng VaR95 BẮT ĐÁY cổ phiếu DXG

    Bởi vì Rủi ro cũng chỉ là một khái niệm của xác suất về những điều mơ hồ

    Bởi vì Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát  nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội

    Và Bởi vì  Rủi ro chỉ là Trò chơi của những kẻ thống trị

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vgm (Công Ước Solas) Là Gì?
  • 2 Phương Pháp Tính Thuế Vat Cho Doanh Nghiệp Là Gì?
  • Giúp Học Sinh Lớp 4;5 Phân Loại Và Giải Bài Toán Bằng Phương Pháp Tính Ngược Từ Cuối (Kinh Nghiệm Được Xếp Bậc 4)
  • Công Ty Xây Dựng Và Sàn Phẳng Việt Nam
  • Tính Toán Thiết Kế Sàn Rỗng Uboot
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100