Trật Tự Hai Cực Ianta Đã Được Hình Thành Như Thế Nào? Trật Tự Này Có Đặc Điểm Gì Giống Và Khác So Với Trật Tự Vecxai

--- Bài mới hơn ---

  • 5 Trái Ngược Giữa Đàn Ông Và Phụ Nữ Trong Cuộc Sống
  • Sự Khác Nhau Giữa Mạng Lan Wan Man
  • Sự Khác Biệt Giữa Internet, Mạng Nội Bộ Và Extranet Là Gì?
  • Unix Vs Linux. Nguồn Gốc Và Sự Khác Biệt
  • Sự Khác Biệt Giữa Mac Os Và Linux Là Gì?
  • Trật tự thế giới là sự sắp xếp, phân bổ và cân bằng quyền lực giữa các cường quốc nhằm duy trì sự ổn định của quan hệ quốc tế. Trật tự thế giới chỉ có tính chất tương đối do sự thay đổi so sánh lực lượng giữa các cường quốc. Chiến tranh thế giới xảy ra là lúc thế giới “mất trật tự” và đi tới xác lập một trật tự mới trong quan hệ quốc tế.

    Trật tự hai cực Ianta là trật tự thế giới mới được thiết lập sau chiến thế thứ II theo khuôn khổ thỏa thuận của ba nước Liên Xô, Anh, Mĩ tại hội nghị Ianta. Theo đó, thế giới được phân thành hai cực đối lập gay gắt : cực Liên Xô và cực Mĩ. Cực Liên Xô làm hậu thuẫn cho phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa, cách mạng giải phóng dân tộc và sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình dân chủ, tiến bộ xã hội trên thế giới. Cực Mĩ gồm các nước Tư bản chủ nghĩa và các thế lực phản động, hiếu chiến chống chủ nghĩa xã hội, phong trào cách mạng và hòa bình thế giới.

    Sự hình thành trật tự hai cực Ianta

    * Bối cảnh lịch sử

    Đầu 1945 cục diện chiến tranh thế giới thứ II đã bước vào giai đoạn kết thúc, nhiều mâu thuẫn trong nội bộ phe Đồng Minh nổi lên gay gắt, trong đó nổi bật lên ba vấn đề cần giải quyết. Đó là việc nhanh chóng kết thúc chiến tranh ở châu Âu, châu Á – Thái Bình Dương. Việc tổ chức lại trật tự thế giới mới sau chiến tranh. Việc phân chia khu vực đóng quân theo chế độ quân quản ở các nước phát xít chiến bại và phân chia phạm vi ảnh hưởng của các nước tham gia chống chiến tranh phát xít.

    Trong bối cảnh đó, hội nghị cấp cao của 3 cường quốc họp tại Ianta( Liên Xô) từ ngày 4 đến 11/2/1945, với sự tham gia của nguyên thủ ba cường quốc là : I.Xtalin (Liên Xô), Ph. Rudơven( Mĩ), Sớcsin (Anh).

    * Diễn biến và những thỏa thuận của hội nghị Ianta

    Hội nghị đã đưa ra những quyết định quan trọng:

    – Thống nhất mục tiêu chung là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản. Để nhanh chóng kết thúc chiến tranh, trong thời gian từ 2 đến 3 tháng sau khi đánh bại phát xít Đức, Liên Xô sẽ tham chiến chống Nhật ở châu Á.

    – Thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hòa bình, an ninh thế giới.

    – Thỏa thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít, phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á.

    Ở châu Âu, quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Đông nước Đức, Đông Béc lin và các nước Đông Âu; quân đội Mĩ, Anh, Pháp chiếm đóng miền Tây nước Đức, Tây Béc lin và các nước Tây Âu. Vùng Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô, vùng Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ. Hai nước Áo và Phần Lan trở thành những nước trung lập.

    Ở châu Á, hội nghị chấp nhận điều kiện để Liên Xô tham chiến chống Nhật. Giữ nguyên trạng Mông Cổ. Khôi phục quyền lợi của nước Nga đã bị mất do chiến tranh Nga – Nhật năm 1904: trả lại cho Liên Xô miền Nam đảo Xakhalin. Liên Xô chiếm 4 đảo thuộc quần đảo Curin.

    Quân đội Mĩ chiếm đóng Nhật Bản. Ở bán đảo Triều Tiên, Hồng quân Liên Xô chiếm đóng miền Bắc và quân Mĩ chiếm đóng miền Nam, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới. Trung Quốc cần trở thành một quốc gia thống nhất và dân chủ, Chính phủ Trung Hoa dân quóc cần cải tổ với sự tham gia của Đảng cộng sản và các đảng phái dân chủ, trả lại cho Trung QUốc vùng Mãn Châu, đảo Đài Loan và bán đảo Bành Hồ. Các vùng còn lại của châu Á (Đông Nam Á, Tây Á) vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây.

    Những quyết định của Hội nghị cấp cao Ianta đã trở thành những khuôn khổ của trật tự TG mới từng bước được thiết lập trong những năm 1945 – 1947 sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thường được gọi là trật tự hai cực Ianta (hai cực chỉ Mĩ và Liên Xô phân chia phạm vi ảnh hưởng trên cơ sở thỏa thuận tại Ianta.

    * So sánh trật tự hai cực Ianta và trật tự Véc xai – Oa sinh tơn

    Giống nhau: Cả hai trật tự này đều được hình thành sau chiến tranh thế giới đẫm máu, ác liệt và đều do cường quốc thắng trận thiết lập nên để phục vụ lợi ích cao nhất của mình.

    Khác nhau: Cực Liên Xô luôn làm hậu thuẫn cho phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh vì hòa bình dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong khi đó, cực Mĩ luôn ra sức cấu kết, giúp đỡ các thế lực phản động chống phá cách mạng thế giới với mưu đồ vươn lên thống trị thế giới.

    Về cơ cấu, việc giải quyết vấn đề sau chiến tranh và duy trì hòa bình an ninh sau chiến tranh, việc kí hòa ước với các nước chiến bại… thì trật tự hai cực Ianta tỏ rõ sự tiến bộ và tích cực hơn so với trật tự Véc xai – Oa sinh tơn.

    Trong trật tự hai cực Ianta đã diễn ra một cuộc đối đầu gay gắt, quyết liệt và kéo dài tới gần hai thập niên giữa 2 cực Liên Xô và Mĩ, làm cho cục diện thế giới luôn phức tạp, căng thẳng. Cuộc đối đầu này đã dẫn tới cuộc đối đầu giữa hai khối Đông – Tây và cuốn hút từng quốc gia, từng khu vực chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc đối đầu này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Thực Phẩm Chức Năng Với Thực Phẩm Thường Và Thuốc Chữa Bệnh
  • Tổng Quan Về Thị Trường Sơ Cấp Và Thị Trường Thứ Cấp
  • Quản Lý Và Lãnh Đạo: Đích Thị Giống, Khác Như Thế Nào?
  • Kinh Tế Vi Mô Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Kinh Tế Vi Mô Và Kinh Tế Vĩ Mô
  • Khám Phá Ẩm Thực Việt Nam 3 Miền Bắc
  • So Sánh Trật Tự Thế Giới Giữa Hai Thời Kỳ

    --- Bài mới hơn ---

  • Điểm Giống Nhau Đáng Kinh Ngạc Giữa Những Nền Văn Minh Cổ Đại
  • Học Tiếng Pháp Và Tiếng Anh Cùng Lúc Có Nên Không? Cap France
  • So Sánh Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Phi Nhân Thọ Giống Khác Nhau Như Thế Nào
  • So Sánh Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Phi Nhân Thọ Có Điểm Giống Và Khác Gì ?
  • 5 Đề Thi Học Kì 2 Môn Tin Học Lớp 12 Có Đáp Án Năm 2022
  • Câu 89. Bối cảnh thế giới của sự sụp đổ Trật tự hai cực Ianta ? Xu hướng thiết lập So sánh những điểm giống và khác nhau về trật tự thế giới giữa hai thời kỳ theo “Hệ thống Vécxai – Oasinhtơn” và “Trật tự hai cực Ianta”. Trật tự thế giới đơn cực của Mĩ như thế nào ?

    Hướng dẫn làm bài

    1) So sánh trật tự thế giới giữa hai thời kỳ theo “Hệ thống Vécxai – Oasinhtơn” và “Trật tự hai cực Ianta.

    + Về những điểm giống nhau :

    +Về những điểm khác nhau :

    – Trật tự hai cực Ianta có điểm khác biệt cơ bản so với trật tự thế giới theo Hệ thống Vécxai – Oasinhtơn là sự hiện diện của Liên Xô. Giữa hai cực có sự khác biệt, đối lập về hệ tư tưởng và vai trò đối với sự nghiệp cách mạng thế giới.

    – Trật tự hai cực Ianta thể hiện rõ sự tiến bộ và tích cực hơn hẳn.

    – Sự sụp đổ của 2 trật tự thế giới dẫn tới những hệ quả khác nhau : Hệ thống Vécxai – Oasinhtơn sụp đổ dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai, còn Trật tự hai cực Ianta sụp đổ dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và kết thúc thời kỳ chiến tranh lạnh.

    2) Bối cảnh thế giới của sự sụp đổ Trật tự hai cực Ianta :

    – Ngày 28 – 6 – 1991, Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) tuyên bố giải thể

    – Ngày 1 – 7 – 1991, tổ chức Hiệp ước Vácsava chấm dứt hoạt động.

    3) Xu hướng thiết lập Trật tự thế giới đơn cực của Mĩ…

    – Trong bối cảnh Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới mới chưa định hịnh, từ thập kỉ 90 của thế kỷ XX, Tổng thống B.Clinton thực hiện chiến lược Cam kết và mở rộng với ba trụ cột chính là :

    – Mĩ vẫn lãnh đạo và chi phối khối quân sự NATO; Mĩ cùng với Liên hợp quốc và các cường quốc khác bảo trợ cho tiến trình hòa bình ở Trung Đông, nhưng có phần thiên vị đối với Ixraen… Mĩ vẫn tiếp tục duy trì các căn cứ quân sự và quân đội ở Nhật Bản và Hàn Quốc cũng như ở nhiều nơi khác trên thế giới.

    Vụ khủng bố ngày 11-9-2001 tại Mĩ

    – Với sức mạnh kinh tế, khoa học – kĩ thuật và quân sự vượt trội so với tất cả các quốc gia Sau khi trật tự hai cực Ianta sụp đổ, Mĩ có tham vọng thiết lập trật tự thế giới “đơn cực”, chi phối và lãnh đạo toàn thế giới nhưng chưa thể thực hiện được. Vụ khủng bố ngày 11 – 9 – 2001 cho thấy bản thân nước Mĩ cũng rất dễ bị tổn thương và chủ nghĩa khủng bố sẽ là một trong những yếu tố dẫn đến những thay đổi trong chính sách đối nội và đối ngoại của Mĩ ở thế kỷ XXI.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Khác Biệt Thú Vị Giữa Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • Sự Giống Và Khác Nhau Trong Văn Hóa Ăn Uống Của Người Hàn Và Việt Korea.net.vn
  • Sự Giống Nhau Khó Tin Của Các Cặp Vợ Chồng
  • Đồng Hồ Apple Watch Series 5 Bản Thép Khác Gì Bản Nhôm?
  • So Sánh Giữa Đồng Hồ Apple Watch Series 3 Bản Thép Và Nhôm
  • 18 Cách Khiến Học Sinh Giữ Trật Tự Trong Lớp Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Về Công Tác Chủ Nhiệm Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập
  • Quản Lý Hoạt Động Logistics Để Tối Ưu Hóa Lợi Nhuận
  • Phần Mềm Quản Trị Logistics Nào Dành Cho Bạn Quản Lý Vận Tải, Quản Lý Đội Xe, Tối Ưu Hoá Lộ Trình
  • Top 10 Phần Mềm Logistics Quản Lý Vận Chuyển, Vận Tải Hàng Hóa
  • Quản Lý Mầm Non : Thiết Kế Lớp Học Mầm Non Tuyệt Vời Với 12 Bước
  • Điều tôi sắp nói ở đây không phải là một vấn đề mang tầm tư duy thời đại, theo cách mà có thể làm thay đổi thế giới hoặc thay đổi một nền giáo dục, nhưng không thể phủ nhận rằng, nó đang tác động đến tất cả các giáo viên, một cách đơn giản, mỗi buổi sáng khi chúng ta bắt đầu một ngày với công việc giảng dạy, điều khiến chúng ta cảm thấy mệt mỏi nhất đó là, lũ học sinh nhất định không chịu ngồi yên để nghe chúng ta nói.

    Thực sự đó không phải là điều dễ dàng. Những năm đầu tiên khi tôi bắt đầu công việc giảng dạy, tôi luôn hình dung ra một viễn cảnh lũ học sinh sẽ ngồi yên như những con cún con và nuốt từng lời giảng của giáo viên, nhưng ngay từ buổi học đầu tiên tôi đã cảm thấy stress khi mà một số học sinh đang cố gắng nghe giảng mà không nghe được gì bởi một số học sinh ồn ào, vì vậy tôi đã phải tìm đễ các chiến thuật khác nhau.

    Hãy hình dung bạn bước vào một lớp học đông tới 35 học sinh (hoặc đông hơn) việc mà bạn cố gắng dành chút sức lực cuối cùng của một ngày để quát lên “NGHE…!!!” dường như không phải là điều lí tưởng, vì vậy, tôi sẽ giúp bạn một số mẹo nhỏ mà tôi đã học được nhờ các đồng nghiệp khác:

    Nhưng cũng cần phải chú ý rằng, nhiều “chiến lược” thực sự chỉ được thực hiện dựa trên sự phù hợp với tính cách của giáo viên. Quản lí lớp học không hẳn là thế mạnh của tôi bởi vì tôi luôn cảm thấy căng thẳng khi bị biến thành “lão già khó tính” hay là một “phù thủy độc ác”.

    Thêm vào đó, học sinh cũng cần cảm thấy an toàn được bảo vệ, được sự quan tâm chăm sóc của người lớn, vì thế tôi phải cố gắng dung hòa việc giảng dạy không bị mâu thuẫn với tính cách cá nhân thường ngày.

    Ở bất cứ cấp học nào, hãy để học sinh hiểu một cách chính xác tại sao chúng phải chấm dứt sự ồn ào ngay lập tức khi tín hiệu “giữ trật tự” của giáo viên được đưa ra. Hãy hình dung ảnh hưởng như thế nào nếu như chúng không tập trung trong giờ học, bỏ lỡ kiến thức,… Một cách tôn trọng, hãy khiến học sinh hiểu rằng, điều đó không phải vì uy quyền của giáo viên mà vì kiến thức của chính chúng.

    Điều này phải được thống nhất một cách rõ ràng giữa giáo viên và học sinh vào ngày đầu tiên của năm học. Ví dụ: khi giáo viên đứng trước lớp và vỗ tay một lần, học sinh sẽ dừng các công việc hiện tại và vỗ tay theo. Cứ như vậy, những học sinh đang mất trật tự sẽ bị cô lập và phải hành động theo yêu cầu của giáo viên.

    Nếu bạn đã có một kế hoạch chi tiết trong giáo án, hãy kèm theo thời gian cho mỗi hoạt động, hãy nói cho học sinh biết trong mỗi khoảng thời gian đó, bạn muốn học sinh sẽ phải hoàn thành điều gì. Khi sắp kết thúc giời hạn thời gian đó, bạn sẽ đếm ngược 5…4…3…4…1 và khi trở về 0 chắc chắn học sinh sẽ im lặng hoàn toàn.

    Bạn có thể sử dụng hình thức này kèm theo phần thưởng, nếu học sinh duy trì nó hãy khen thưởng chúng theo tuần và theo tháng. Nếu chúng không thực hiện hãy giới hạn lại thời gian mà lẽ ra chúng được tự do – Đó giống như cái giá phải trả cho sự “lãng phí thời gian” của chúng.

      Đứng ở một vị trí đặc biệt đã được quy định

    Cho học sinh biết bất cứ khi nào bạn đứng ở đó và giơ cánh tay và chỉ ngón tay tương ứng với mức độ ồn ào của lớp học… sự kì vọng đó sẽ khiến lớp học ồn ào ngay lập tức im lặng (nhưng chỉ trong một khoảng thời gian cố định)… Bạn có thể dùng các ngón tay của mình để đếm ngược.

    Hoặc đếm thật bình tĩnh, to, rõ, cương quyết, 4…3…2…1…0 , và việc giáo viên đếm ngược như vậy khiến học sinh ngay lập tức có sự điều chỉnh hành vi. Nhưng bạn cũng cần nhớ là không được phép dễ dãi khi học sinh trì hoãn việc thực hiện mệnh lệnh của bạn.

    Cảm ơn từng học sinh đã yên lặng, thậm chí với nếu cần có thể là phần thưởng nhỏ… đó là cách để khuyến khích những hành vi mà giáo viên mong muốn.

    Giáo viên sẽ đọc và ghi tên những học sinh mất trật tự trong lớp lên bảng: Ví dụ, Lan, Mai, Hồng, Huệ, Hiếu… ghi tên học sinh kèm theo khuôn mặt mếu. Đồng thời giáo viên có thể vẽ một khuôn mặt cười và ghi tên những học sinh trật tự và có thái độ học tập tốt.

    Đèn xanh học sinh có thể nói, đèn vàng chuẩn bị im lặng và đèn đỏ học sinh phải yên lặng tuyệt đối. Hãy dán các màu đèn này ở vị trí mà tất cả học sinh đều có thể nhìn thấy.

    Điều này có thể không hiệu quả với một số lớp học, nhưng rất nhiều trường hợp lớp học của tôi có vấn đề về hành vi, ồn ào, không phải là do học sinh hư, láo, mà đơn giản chỉ là chúng đang bị “thừa năng lượng”. Cho học sinh đứng lên, ngồi xuống hoặc di chuyển trước khi bắt đầu bài học.

    Đứng gần, hoặc thậm chí là vỗ vào vai một học sinh đang nói chuyện riêng trong giờ học. (Trong một số trường học, lớp học… điều này không được chấp nhận, tuy nhiên rõ ràng trong trường hợp này là điều bình thường).

    Điều này không phải lúc nào cũng có hiệu quả, nó chỉ nên áp dụng nếu bạn đã kí cam kết với các gia đình và hiệu trưởng… nhưng nếu phù hợp, bắt đầu thu thập các bằng chứng rõ ràng. Thậm chí có thể giả như bạn đang quay lại video. Bạn hãy nói với chúng rằng, những video này sẽ được gửi đến cho phụ huynh vào cuối năm học. Bạn biết chúng tốt hơn tôi – làm thế nào để thuyết phục chúng?

    Tính thử thách sẽ ngày càng cao hơn, đặc biệt đối với lớp 8 trở lên, điều này cực kì quan trọng. Cần phải biết ai là “người chơi chính” trong lớp học và cho chúng một vị trí đặc biệt, giúp chúng sử dụng các kĩ năng lãnh đạo để thúc đẩy việc học trong lớp và một cách thường xuyên cho chúng biết rằng chúng đứng tách biệt hơn so với những học sinh khác.

    12 Chọn học sinh ở vị trí giáo viên

    Nhắc học sinh rằng, cô/ thầy sẽ chỉ nhắc giữ trật tự tối đa là hai lần. Khi học sinh mất trật tự, giáo viên hãy nói rõ ràng: “Thầy nhắc con lần thứ nhất về mất trật tự, nếu thầy nhắc lần thứ 2 thì…”. Bạn hãy đảm bảo thực hiện nghiêm túc điều đó và không khoan nhượng. Lần sau lời nhắc của bạn sẽ có giá trị hơn nhiều đó.

    Hãy tặng học sinh những điểm số khi chúng có hành vi tốt và lấy lại điểm khi học sinh có vấn đề về hành vi. Giáo viên cũng có thể vẽ thành đường đua hoặc chia thành các bậc thang. Mỗi khi lớp học trật tự thì cả lớp sẽ được di chuyển lên bậc thang cao hơn ngược lại nếu một ai đó làm mất trật tự, giáo viên có thể cho vị trí của cả lớp đi xuống.

    Bạn biết tại sao hầu hết học sinh thích mất điện? Bạn không phải tắt điện theo cách thông thường mà là tắt điện sau đó yên lặng chờ đợi, chờ đợi… bạn nhớ thể hiện kèm theo thái độ của mình.

    Đây cũng là kinh nghiệm của hầu hết các giáo viên. Chúng ta dễ dàng nhận thấy có một số học sinh là trung tâm điểm của việc mất trật tự, đồng thời lại có những học sinh cả buổi chẳng nói một câu. Vậy tại sao giáo viên không xếp hai học sinh đó cạnh nhau?

      Chia tách các học sinh hay mất trật tự

    Cố gắng giữ trật tự trong lớp học thường không phải thiên về kỉ luật mà là sự duy trì các thói quen. Nếu một học sinh cố gắng kể chuyện cười làm cả lớp cười phá lên, ngay sau đó lớp học sẽ yên lặng, hãy bỏ qua điều đó và chuyển sang nội dung tiếp theo.

    (Theo: www.teachthought.com)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Quản Lý Lớp Học Hiệu Quả Ở Trường Tiểu Học
  • Quản Lý Lớp Học Hiệu Quả: Giáo Viên Cần Làm Gì?
  • 19 Chiến Thuật Quản Lí Lớp Học
  • Các Phương Pháp Quản Lý Lớp Học Hiệu Quả
  • Kỹ Năng Quản Lý Khách Sạn Hiệu Quả
  • Sự Hình Thành Và Sụp Đổ Của Trật Tự Véc Xai Oasinhtơn Sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Băng Hải Tặc Mũ Rơm Trong One Piece
  • Muốn Hiểu Hết “tất Tần Tật” Về One Piece, Hãy Hỏi Nhân Vật Này!
  • “tất Tần Tật” Về Onedrive Cho Người Mới Sử Dụng
  • Oracle Là Gì? Tìm Hiểu Về Cơ Sở Dữ Liệu Nổi Tiếng Nhất Thế Giới
  • Oracle Là Gì? Các Phiên Bản Của Oracle
  • Chuyên đề:

    SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỤP ĐỔ CỦA TRẬT TỰ VÉC XAI – OASINHTƠN

    SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT

    Quan hệ quốc tế giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919-1939) diễn biến

    phức tạp, gắn liền với sự tồn tại của trật tự Véc xai- Oasinhtơn. Vậy, trật tự Véc

    xai- Oasinhtơn đã hình thành và sụp đổ như thế nào sau Chiến tranh thế giới thứ

    nhất? Nó có liên hệ gì với sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai? Quan hệ

    quốc tế trong những năm 1919-1939 liệu có phải là giai đoạn hưu chiến giữa hai

    cuộc chiến tranh thế giới? Để tìm ra lời giải cho những thắc mắc này, chúng ta

    cùng phân tích.

    1. Sự hình thành trật tự Véc xai – Oasinhtơn

    1.1. Tương quan lực lượng giữa các nước sau chiến tranh thế giới thứ

    nhất

    Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) kết thúc đã mở ra một thời kỳ mới

    trong quan hệ quốc tế. Kết cục của chiến tranh đã tác động mạnh mẽ đến tình hình

    thế giới đặc biệt là đối với châu Âu.

    – Chiến trường chính của cuộc chiến tranh diễn ra ở châu Âu, vì thế các

    cường quốc châu Âu đều bị suy yếu. Hai nước tư bản lâu đời Anh và Pháp tuy

    chiến thắng nhưng nền kinh tế bị kiệt quệ sau chiến tranh và trở thành con nợ của

    Mĩ. Italia, một đồng minh ốm yếu trong chiến tranh, bị xâu xé bởi cuộc đấu tranh

    gay gắt trong nước và khủng hoảng kinh tế. Ba đế quốc rộng lớn ở châu Âu là Nga,

    Đức, Áo – Hung lần lượt sụp đổ. Đế quốc Đức và Áo – Hung bại trận, bị tàn phá

    nặng nề và những cuộc cách mạng bùng nổ đã đẩy các nước này vào tình trạng

    khủng hoảng nghiêm trọng.

    – Trong khi đó các cường quốc ở ngoài châu Âu như Mỹ và Nhật, không bị

    tàn phá bởi chiến tranh, đã vươn lên nhanh chóng, vượt qua nhiều nước tư bản ở

    châu Âu. Tương quan lực lượng giữa các cường quốc thay đổi rõ rệt, ngày càng bất

    lợi cho các nước tư bản châu Âu vốn chiếm vị trí trung tâm trong thế giới tư bản

    chủ nghĩa trước đây.

    – Đồng thời thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 cũng tạo ra

    một chuyển biến căn bản của tình hình thế giới. Chủ nghĩa tư bản không còn tồn tại

    như một hệ thống duy nhất thống trị thế giới nữa. Sự tồn tại của Nhà nước xã hội

    chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đã trở thành một thách thức to lớn đối với thế giới

    tư bản chủ nghĩa.

    gây ra cuộc chiến này, và đòi họ phải giao Wilhelm II (người phát động cuộc

    chiến) và khoảng 800 tội phạm chiến tranh khác cho các nước Hiệp ước để họ xét

    xử, còn các nước đế quốc khác thì dường như “vô tội”. Ngoài ra, hạt Sarre của Đức

    cũng giao cho Hội Quốc liên quản trị trong thời hạn 15 năm, các mỏ than ở đây

    thuộc về Pháp. Sau thời hạn này sẽ tiến hành trưng cầu ý dân để quyết định hạt

    Sarre sẽ thuộc về nước nào (sau cuộc trưng cầu ý dân năm 1935, hạt Sarre đã thuộc

    về nước Đức). Đồng thời toàn bộ hệ thống thuộc địa của Đức đều trở thành đất uỷ

    trị của Hội Quốc liên và được giao cho các cường quốc Anh, Pháp, Nhật, Bỉ… quản

    lí.

    Nước Đức còn bị hạn chế vũ trang đến mức thấp nhất: chỉ được giữ lại

    100.000 bộ binh với vũ khí thông thường, không có không quân, không có hạm đội

    tầu ngầm và thiết giáp hạm. Vùng tả ngạn sông Ranh (gần biên giới Pháp) và 3 đầu

    cầu vùng hữu ngạn sẽ do quân đội Đồng minh đóng trong vòng 15 năm và rút dần

    quân nếu Đức thi hành hoà ước. Vùng hữu ngạn sông Ranh với chiều rộng 50 km

    sẽ trở thành khu phi quân sự. Nước Đức còn phải bồi thường chiến tranh cho các

    nước thắng trận số tiền (do Hội nghị Luân đôn tháng 4 – 1921 qui định) là 132 tỉ

    Mác vàng, trong đó trả cho Pháp: 52% Anh 22%, Italia: 10%, Bỉ: 8%… Với hoà

    ước này, nước Đức mất 1/8 đất đai, gần 1/12 dân số, 1/3 mỏ sắt, gần 1/3 mỏ than,

    2/5 sản lượng gang, gần 1/3 sản lượng thép và gần 1/7 diện tích trồng trọt. Toàn bộ

    gánh nặng của hoà ước Vécxai đè lên vai nhân dân Đức. Tuy thế, hoà ước Vécxai

    không thủ tiêu được tiềm lực kinh tế chiến tranh của Đức. Sau này, với sự trợ giúp

    của Mĩ, Anh, chỉ trong vòng một thời gian ngắn, nước Đức đã khôi phục và trở

    thành một lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất ở châu Âu trong thập niên 30.

    Các hoà ước khác.

    Cùng với hoà ước Vécxai kí với Đức, những hoà ước khác cũng lần lượt kí

    kết với các nước bại trận trong hai năm 1919 – 1920. Với hoà ước Saint – Germain

    kí với Áo ngày 10 – 9 – 1919 và Hoà ước Trianon kí với Hunggari ngày 4-6-1920,

    đế quốc Áo – Hung trước kia không còn nữa mà bị tách thành hai nước nhỏ: Áo chỉ

    còn 6,5 triệu dân với diện tích 84.000 km2, Hunggari cũng mất 1/3 lãnh thổ trước

    kia, chỉ còn lại 92.000km2 với 8 triệu dân. Mỗi nước chỉ được quyền có khoảng

    30.000 quân và phải bồi thường chiến phí. trên lãnh thổ của đế quốc áo – Hung cũ

    đã thành lập hai quốc gia mới là Tiệp Khắc và Nam Tư. Một số nước được mở

    rộng thêm đất đai từ lãnh thổ của đế quốc áo – Hung: Rumani được thêm vùng

    Bukovine và Transylvanie, Italia được thêm vùng Trentin – Istrie, Ba Lan cũng

    được thành lập với vùng Galicia thuộc áo và các vùng đất khác thuộc Đức và Nga.

    Ở bán đảo Ban căng, số phận hai nước thua trận là Bungari và đế quốc ốttôman

    cũng được quyết định. Với hoà ước Neuilly kí với Bungari ngày 27-11-1919, lãnh

    thổ Bungari bị thu hẹp lại so với trước kia do phải cắt một số đất đai ở biên giới

    phía Tây cho Nam Tư, cắt vùng Thrace cho Hi Lạp (do vậy bị mất cảng

    Dédéagatch và lối ra biển Egée và cắt tỉnh Dobroudja cho Rumani. Ngoài ra,

    Bungari phải bồi thường chiến phí là 2,25 tỉ phơ răng, phải nộp cho các nước láng

    giềng trong phe chiến thắng (Nam Tư, Hi lạp, Rumani) 37.000 gia súc lớn, 33.000

    gia súc nhỏ, đồng thời phải hạn chế lực lượng vũ trang xuống còn không quá

    20.000 người. Hoà ước Sevres với Thổ Nhĩ Kì kí ngày 11 – 8 – 1920 đã chính thức

    xoá bỏ sự tồn tại của đế quốc Ottoman. Syria, Libăng, Palextin và Irắc tách khỏi

    thổ Nhĩ Kì và đặt dưới quyền “bảo hộ” của Anh và Pháp. Ai Cập chịu sự “bảo hộ”

    của Anh, bán đảo Aráp được coi là thuộc “phạm vi thế lực” của Anh. Phần đất châu

    Âu của Thổ Nhĩ Kì phải cắt cho Hi Lạp (trừ Istambul và vùng ngoại ô). Các eo

    biển của Thổ Nhĩ Kì được đặt dưới quyền kiểm soát của một uỷ ban gồm các đại

    biểu của Anh, Pháp, Italia, Nhật Bản.

    Toàn bộ những hoà ước nói trên hợp thành Hệ thống hoà ước Vécxai. Đây là

    văn bản chính thức đầu tiên xác định việc phân chia thế giới của chủ nghĩa đế

    quốc. Trật tự mới này đem lại lợi ích cho các cường quốc thắng trận, nhất là Anh.

    Anh chẳng những mở rộng hệ thống thuộc địa đồng thời quyền bá chủ mặt biển

    vẫn được giữ vững. Pháp và Nhật cũng giành được khá nhiều quyền lợi. Tuy nhiên,

    những điều khoản khắt khe của Hệ thống hoà ước Versailles đối với các nước chiến

    bại, nhất là Đức, trên thực tế chẳng những đã không thể thực hiện được mà còn làm

    tăng thêm tâm lý phục thù của các nước này. Đó là mâu thuẫn nảy sinh ngay từ khi

    hệ thống này mới được hình thành. Đồng thời, tham vọng lãnh đạo thế giới của

    giới cầm quyền Mĩ cũng chưa được thực hiện. Chính vì thế các nước đế quốc đã

    phải tiếp tục giải quyết những bất đồng về quyền lợi tại một hội nghị tiếp theo ở

    Washington.

    1.3. Hội Quốc Liên

    Một trong những vấn đề cơ bản được các nước tham dự Hội nghị Vécxai

    nhất trí là việc thành lập Hội Quốc liên, được thành lập theo tinh thần và nội dung

    của Điểm 14 trong “Chương trình 14 điểm” của Uyn-xơn. Công ước thành lập Hội

    quốc liên là văn kiện đầu tiên được kí kết cùng với Hiến chương của Hội. Theo đó,

    mục đích của Hội Quốc liên là “khuyến khích sự hợp tác quốc tế, thực hiện nền

    hoà bình và an ninh thế giới”, và để thực hiện mục đích đó người ta đề ra một số

    nguyên tắc như: không dùng chiến tranh trong quan hệ giữa các nước, quan hệ

    quốc tế phải rành mạch và dựa trên đạo lí, phải thi hành những cam kết quốc tế…

    Ngày 10 – 1 – 1920, Hội Quốc liên chính thức thành lập với 44 nước kí vào

    công ước sáng lập, Hội quốc liên có 3 tổ chức chính: Đại hội đồng (gồm tất cả các

    nước thành viên, họp mỗi năm một lần vào tháng 9), Hội đồng thường trực (gồm 5

    uỷ viên các cường quốc Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, Italia – sau đó còn lại 4 vì Mĩ không

    tham gia, và một số uỷ viên có kì hạn, họp mỗi năm ba lần), Ban thư ký thường

    trực (do Tổng thư ký đứng đầu) thường trực như một nội các làm việc hành chính

    thường xuyên, đóng trụ sở ở Geneve. Các cơ quan chuyên môn của Hội Quốc liên

    gồm có Toà án quốc tế (có trụ sở thường trực ở La Hay) và các tổ chức khác như:

    Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Tổ chức sức khoẻ (HO), uỷ ban người tị nạn

    (HCR)

    Nội dung hoạt động do Hội Quốc liên đề ra là giám sát việc giải trừ quân bị,

    tôn trọng và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị, giải quyết các tranh

    chấp quốc tế, thực hiện “chế độ uỷ trị” đối với một số lãnh thổ “chưa đủ điều kiện

    tự quản”… Nước nào vi phạm công ước, gây chiến tranh sẽ bị xem là gây chiến với

    toàn thể hội viên và sẽ bị trừng phạt dưới hai hình thức: bằng biện pháp kinh tế và

    tài chính (do tất cả các nước hội viên bắt buộc phải thi hành) và bằng những biện

    pháp quân sự.

    Sự ra đời của Hội Quốc Liên, một tổ chức chính trị mang tính quốc tế đầu

    tiên, đã đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ quốc tế thế kỷ XX. Về danh

    nghĩa, Hội Quốc Liên trở thành một tổ chức giám sát trật tự quốc tế mới, nhằm

    ngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ hoà bình thế giới. Tuy nhiên, trên thực tế, những

    hoạt động của Hội quốc Liên là nhằm duy trì trật tự thế giới mới do các cường

    quốc chiến thắng áp đặt tại Hội nghị Vécxai. Với “chế độ uỷ trị”, Anh, Pháp đã

    chia nhau hầu hết các thuộc địa của Đức và lãnh thổ của đế quốc Thổ Nhĩ Kì. Các

    biện pháp về giải trừ quân bị và sự trừng phạt chỉ mang ý nghĩa hình thức vì Hội

    Quốc liên không có sức mạnh thực tế để thực thi các quyết định của mình. Để Hội

    Quốc Liên có thể trở thành một công cụ có hiệu quả, tổ chức này phải có ý chí

    chính trị thống nhất và có khả năng quân sự cần thiết. Những sự kiện diễn ra sau

    này sẽ cho thấy sự bất lực của Hội Quốc Liên trong việc giải quyết các vấn đề quốc

    tế. Hội Quốc Liên được thành lập theo sáng kiến của Tổng thống Mĩ Uyn-xơn

    nhưng Mĩ từ chối không tham gia do những tham vọng của Mĩ đã không được thực

    hiện trong Hội nghị Vécxai. Điều đó cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến uy tín và

    sức mạnh của tổ chức này.

    1.4. Hiệp ước ký ở Oasinhtơn

    Hội nghị Vécxai kết thúc nhưng những mâu thuẫn mới lại nảy sinh giữa các

    cường quốc thắng trận đặc biệt là mâu thuẫn trong quan hệ Anh – Mĩ và Mĩ – Nhật.

    Các nguyên nhân dẫn đến việc ký hòa ước này là:

    – Hòa ước Vécxai không giải quyết được mâu thuẫn giữa các nước đế quốc,

    ngay cả trong nội bộ các nước đế quốc. Trên thực tế, Anh là nước có nhiều quyền

    lợi hơn cả, được giữ vững hệ thống thuộc địa và không cho một đế quốc nào khác

    mạnh hơn và qua mặt mình. Pháp và Nhật cũng giành được nhiều quyền lợi qua Hệ

    thống hòa ước Vécxai. Còn Mỹ chưa giành được quyền lợi nào đáng kể. Cụ thể,

    Mỹ rất bất bình trước việc Anh, Pháp làm cho Đức quá suy yếu. Về bồi thường

    chiến tranh, trong khi Anh, Pháp đòi Đức bồi thường 480 – 600 tỉ mac, Đức chấp

    nhận 100 tỉ mac, thì Mỹ chỉ chấp nhận có 200 tỉ mac mà thôi. Chính giới Mỹ cũng

    bất bình khi Hiệp ước Vécxai quyết định trao Sơn Đông cho Nhật, là đối thủ cạnh

    tranh nguy hiểm của Mỹ ở Viễn Đông.

    – Sự thất bại của Uyn-xơn. Đúng vậy, Uyn-xơn chưa có những hành động

    tích cực bảo vệ quyền lợi của Mỹ trong Hệ thống hòa ước Vécxai. Trong các hòa

    Nước Nga Xô viết – một nước lớn ở khu vực đã không được mời tham dự hội nghị.

    Quyền lãnh đạo hội nghị nằm trong tay bốn nước: Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, nhưng

    quyền quyết định thuộc về Mĩ. Những nghị quyết quan trọng nhất của Hội

    nghị Washington được thể hiện trong ba hiệp ước: Hiệp ước 4 nước (Anh, Pháp,

    Mĩ, Nhật) , Hiệp ước 9 nước (Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, Italia, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào

    Nha, Trung Quốc) và Hiệp ước 5 nước (Anh, Pháp, Mĩ, nhật, Italia).

    Hiệp ước 4 nước

    Được gọi là Hiệp ước “không xâm lược ở Thái Bình Dương” kí ngày 13-121921 và có giá trị trong 10 năm. Các bên thoả thuận “tôn trọng quyền của nhau về

    các đảo ở vùng Thái Bình Dương” thực ra là cùng nhau bảo vệ các thuộc địa ở khu

    vực rộng lớn này. Đồng thời cũng nhân dịp này Mĩ gây áp lực với Anh để liên

    minh Anh – Nhật (được kí kết từ năm 1902) không còn hiệu lực nữa (điều 4). Với

    Hiệp ước này, Mĩ không chỉ thủ tiêu được liên minh Anh – Nhật mà còn trở thành

    nước đóng vai trò chủ đạo trong bốn cường quốc ở khu vực Thái Bình Dương.

    Hiệp ước 9 nước

    Kí ngày 6 – 2 – 1922, gồm 9 điều, công nhận nguyên tắc “hoàn chỉnh về lãnh

    thổ và tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc” đồng thời nêu nguyên tắc “mở cửa”

    và “khả năng đồng đều” cho các nước trong các hoạt động thương mại và công

    nghiệp trên toàn lãnh thổ Trung Quốc. Ngoài ra, một công ước đặc biệt được ký kết

    thống nhất thuế hải quan của Trung Quốc với tỉ lệ bằng 5% giá trị hàng hóa, và

    Trung Quốc không được tăng thuế lên mức 12,5%. Tóm lại với hiệp ước này,

    Trung Quốc đã trở thành một thị trường chung của các cường quốc phương Tây và

    Nhật Bản. Đặc biệt là Mĩ đã hợp pháp hoá sự bành trướng của mình vào Trung

    Quốc.

    Hiệp ước 5 nước

    Kí kết cùng ngày 6-2-1922, được gọi là “Hiệp ước hạn chế vũ trang và hải

    quân” nhằm qui định trọng tải tàu chiến của các nước ở khu vực Thái Bình Dương

    theo tỉ lệ: 5 – 5 – 3 – 1,75 – 1,75 (cụ thể: Mĩ và Anh bằng nhau: 525.000 tấn, Nhật:

    315.000 tấn, Pháp và Italia bằng nhau: 175.000 tấn). Đồng thời các nước này cũng

    qui định tỉ lệ về hai loại tàu chở máy bay và tầu tuần dương hạm. Với hiệp ước này,

    Mỹ giành được quyền bình đẳng hải quân với Anh với nguyên tắc “sức mạnh gấp

    đôi” bị phá vỡ, Nhật cũng giành được thắng lợi quan trong khi 5 nước tuyên bố

    không xây dựng các căn cứ quân sự ở Thái Bình Dương, giúp nó nắm ưu thế trên

    vùng biển rộng lớn này.

    Kết hợp với hệ thống Hoà ước Versailles, các hiệp ước của Hội

    nghị Washington đã tạo nên Hệ thống Versailles – Washington. Đó là trật tự thế

    giới mới mà chủ nghĩa đế quốc xác lập, trong đó ba cường quốc Anh, Pháp, Mĩ

    giành được nhiều ưu thế nhất và “7/10 dân cư thế giới trong tình trạng bị nô dịch”

    theo cách nói của Lê-nin. Những điều khoản ký kết ở Véc xai và Oasinhtơn còn là

    sự chà đạp trắng trợn đến quyền dân tộc của các nước đế quốc bại trận cũng như

    tướng Pháp có nhiều công lao lớn trong Thế chiến I, đã không ngừng phản đối

    Clemenceau rất kịch liệt và không bằng lòng với những nội dung Hòa ước đã ký

    với Đức, ông ta cũng dự báo về những thất bại của Hòa ước đó. Ông ta từng chứng

    kiến quân Đức hủy hạm đội của mình để tránh rơi vào tay giặc, quân và dân Đức

    đốt cháy lá cờ Pháp ở nước Đức mà quân Đức cướp trong cuộc chiến 1870 – 1871,

    nhằm ngăn cản việc giao các lá cờ này cho Pháp… Ông viết thư cho vợ: “Bọn họ

    nhạo báng chúng ta. Toàn thể châu Âu là một đám nhốn nháo. Ấy là công trình

    của Clê-măng-xô”. Do đó, Foch từ chối làm lễ ký kết Hiệp ước này vào ngày 28

    tháng 6 năm 1919 tại Versailles. Foch có lời tuyên bố, mà sau này càng trở nên

    đúng: “Đây không phải là một Hòa ước. Đây là một Thỏa ước ngừng bắn trong

    vòng 20 năm”. Bất chấp sự nỗ lực lớn nhất của Clemenceau, Hòa ước này thất bại

    vì không thể thay đổi sự cân bằng chiến lược Đức – Pháp: Đức thì đông dân, có

    tiềm lực quân sự, chính trị mạnh nhưng trong khi đó quân đội Pháp lại quá yếu,

    ảnh hưởng rất nhỏ bé trong phe Hiệp ước nên rất khó đương đầu với Đức. Chính vì

    vậy, Thượng viện Hoa Kỳ từ chối phê chuẩn bản Hòa ước này vào tháng 1

    năm 1920, và liên minh giữa Anh Quốc và Pháp bắt đầu suy sụp. Foch chán ghét

    một liên minh quân sự Pháp – Anh – Mỹ, cái mà Clemenceau đặt niềm tin to lớn.

    Thành thử không những chiến thắng của Pháp vào năm 1918 hoàn toàn là một

    chiến thắng mà Pháp đã thất bại trong việc thiết lập một nền hòa bình lâu dài.

    Người Nhật cũng thể hiện sự không bằng lòng một cách kín đáo: trong hội nghị,

    đại diện của Nhật nở nụ cười bí hiểm, hướng ánh mắt xa xăm về Châu Á – Thái

    Bình Dương.

    “Cơm không lành, canh không ngọt”, nguyện vọng vươn lên vị trí bá chủ

    của nước Mỹ chưa được thỏa mãn. Họ nhanh chóng triệu tập hội nghị ở Oasinhtơn

    ngay sau đó ít lâu.

    Hội nghị Washington hoàn toàn có lợi cho Mĩ, trong khi nước Anh phải chấp

    nhận nhượng bộ: từ bỏ nguyên tắc “sức mạnh quân sự gấp đôi” đã có từ năm 1914,

    theo đó hải quân Anh phải có hạm đội bằng hai hạm đội mạnh nhất thế giới cộng

    lại, đồng thời phải huỷ bỏ liên minh Anh – Nhật. Từ đây hải quân Mĩ ngang hàng

    với Anh và vượt qua Nhật. Mĩ còn thực hiện được việc xâm nhập vào thị trường

    viễn Đông và Trung Quốc thông qua chính sách “mở cửa”. Với hệ thống Hiệp

    ước Washington, Mĩ đã giải quyết quyền lợi của mình bằng cách thiết lập một

    khuôn khổ trật tự mới ở Châu Á – Thái Bình Dương do Mĩ chi phối. Người Nhật

    cũng có điều kiện phát triển lực lượng hải quân, phục vụ cho những kế hoạch tiếp

    theo của mình.

    Chúng ta có thể nhận ra mong muốn cân bằng quyền lực giữa các nước lớn

    đặc biệt là của Anh và Pháp nhằm tạo ra một trật tự thế giới mới sau Chiến tranh

    thế giới thứ nhất có lợi cho họ. Tuy nhiên, những toan tính này vấp phải mưu đồ

    riêng của Mỹ và Nhật, hai quốc gia đã mạnh lên rất nhiều sau chiến tranh, đặc biệt,

    Mỹ là chủ nợ của toàn châu Âu. Những giành giật, giao kèo mới ở Véc xai và sau

    đó là Oasinhtơn khiến các nước lớn không tìm ra được tiếng nói chung, dần rà, họ

    xa cách trong các việc xử lý các vấn đề nóng bỏng sau này. Đó là điều kiện vô

    cùng thuận lợi để nước Đức, và các nước phát xít có thời cơ hành động.

    2.1.2. Vấn đề thực hiện Hoà ước Vécxai kí với Đức.

    Tiếng nói chung trong việc giải quyết vấn đề Đức đã không xuất hiện.

    Việc thực hiện các điều khoản của Hoà ước Vécxai kí với Đức chiếm một vị

    trí đặc biệt quan trọng trong quan hệ quốc tế những năm 20. Về vấn đề bồi thường

    chiến tranh, Hội nghị Luân Đôn ngày 30 – 4 – 1921 đã qui định số tiền bồi thường

    của Đức là 132 tỉ mác vàng và Đức bắt đầu phải trả từ mùa hè năm 1921. Tuy

    nhiên, tình trạng khủng hoảng kinh tế – tài chính trầm trọng diễn ra ở Đức đã khiến

    cho nước này không có khả năng thực tế để trả món nợ đó. Sau việc liên quân Pháp

    – Bỉ chiếm đóng vùng Ruhr (11 – 1 – 1923), nơi sản xuất 90% sản lượng than và

    70% sản lượng gang của nước Đức, không mang lại hiệu quả trong vấn đề bồi

    thường của Đức, một Hội nghị quốc tế đã được triệu tập ở Luân đôn để xem xét lại

    vấn đề này. Hội nghị Luân đôn khai mạc ngày 16 – 7 – 1924 với sự tham gia của

    các đại diện Anh (MacDonald), Pháp (Herriot), Italia (Stefani), Nhật (Hayashi), Bỉ

    (Teinic), Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Rumani, và Mĩ (Kellogg) (về danh nghĩa Mĩ chỉ

    tham gia với một số quyền hạn chế nhưng trên thực tế Mĩ có ảnh hưởng lớn trong

    Hội nghị). Hội nghị Luân Đôn đã thông qua kế hoạch Dawes có giá trị trong vòng

    5 năm với nội dung chủ yếu là Mĩ và Anh sẽ giúp đỡ Đức trong việc phục hồi và

    phát triển kinh tế – tài chính để nước này có khả năng trả được các khoản bồi

    thường chiến tranh theo lịch trình được Uỷ ban 5 nước Anh, Pháp Mĩ, Italia qui

    định như sau:

    – Năm thứ nhất trả 1 tỉ mác vàng;

    – Năm thứ hai: 1,22 tỉ mác vàng;

    – Năm thứ 3: 1,2 tỉ mác vàng;

    – Năm thứ tư: 1,75 tỉ mác vàng;

    – Từ năm thứ năm: mỗi năm 2,5 tỉ mác vàng.

    Với kế hoạch Dawes, Pháp đã phải có những nhượng bộ quan trọng: Pháp

    phải rút khỏi vùng Ruhr (năm 1925) việc giải quyết vấn đề bồi thường chiến tranh

    đã tuột khỏi tay Pháp chuyển sang tay người Mĩ. Mĩ và Anh có điều kiện mở rộng

    ảnh hưởng về kinh tế – tài chính vào nước Đức. Kế hoạch Dawes đã góp phần quan

    trọng vào việc phục hồi và phát triển kinh tế Đức. Những trận “mưa đô la” từ Mĩ

    và Anh qua kế hoạch này đã tạo điều kiện trang bị những kĩ thuật hiện đại và nâng

    cao năng lực sản xuất của nền kinh tế Đức. Trong năm đầu thực hiện kế hoạch

    Dawes, khi số tiền Đức cho vay được ấn định là 800 triệu mac, thì trên thực tế Đức

    nhận được đến 921 triệu mac (461 triệu của Mỹ, 227 triệu của Anh). Từ đó đến

    năm 1929, Đức đã nhận viện trợ của Mĩ, Anh để vay, tín dụng và đầu tư vào công

    nghiệp khoảng 20 – 25 tỉ mac vàng. Số tiền viện trợ đó không những đủ để trả nợ

    cho các đế quốc thắng trận (Đức trả lại cho họ tới 11 tỉ mac) mà còn đủ để phát

    trung lập trong trường hợp bên kia bị một nhóm nước hay nước thứ ba tấn công,

    nếu các bên một nhóm nước hay nước thứ ba tẩy chay, bao vây, thì bên kia sẽ

    không tham gia các hoạt động chống lại bên đã ký hiệp ước. Phía Đức còn thông

    báo là sẽ không bị ràng buộc bởi các quyết định của Hội để chống Liên Xô. Hiệp

    ước Xô – Đức là một thắng lợi lớn của nền ngoại giao Nga Xô viết khi đó. Sau đó,

    Liên Xô có ký kết các hiệp ước với một loạt các nước khác nhau để khẳng định,

    củng cố vị thế lúc đó.

    Như vậy, sự kiện các hiệp ước Xô – Đức, Locarno, Thổ Nhĩ Kì và Đức gia

    nhập Hội Quốc Liên…đã làm sáng lên những tia hy vọng về một nền hòa bình có

    cơ may được xác lập ở châu Âu và trên toàn thế giới. Trong bối cảnh lòng tin vào

    an ninh tập thể lên đến đỉnh cao mà tháng 4 – 1927, Ngoại trưởng Pháp Aristide

    Briand đề nghị với Ngoại trưởng Mĩ Frank B. Kellogg về việc Pháp và Mỹ ký một

    hiệp ước “hữu nghị vĩnh viễn, theo đó hai nước cam kết từ bỏ việc chiến tranh như

    là một phương tiện chính trị quốc gia”. Ngoại trưởng Mĩ đồng ý, nhưng sẽ mở

    rộng hiệp ước cho nhiều nước cùng tham gia. Sau nhiều cuộc đàm phán liên

    tục, ngày 27 – 8 – 1928 tại Pari đã diễn ra lễ ký kết Hiệp ước từ bỏ chiến tranh nói

    chung, còn được gọi là Hiệp ước Briand – Kellogg. Hiệp ước này đã được nhiều

    nước trên thế giới hưởng ứng và có tới 57 quốc gia kí kết tham gia, trong đó có

    Liên Xô. Liên Xô là một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn Hiệp ước và

    mong muốn Hiệp ước này sớm có hiệu lực. Một năm sau, nhằm thúc đẩy việc vận

    dụng vào thực tế hiệp ước này, theo sáng kiến của Thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô

    Maxim Litvinov (1876 – 1951), 8 nước (Liên Xô, Rumania, Latvia…) đã cùng nhau

    ký “Nghị định thư Litvinov” (9 – 2 – 1929) kêu gọi hiện thực hóa hiệp ước Briand Kellogg vào thực tiễn mà không chờ đợi cho đến khi nó được các nước khác phê

    chuẩn.

    Mặc dù Hiệp ước Briand – Kellogg được đánh giá là “đánh dấu đỉnh cao của

    làn sóng hoà bình trong thập niên 20,” nhưng thực tế cho thấy việc đặt niềm tin vào

    hiệp ước này là “một ảo tưởng nguy hiểm” bởi lẽ chỉ vài ngày sau khi kí kết hiệp

    ước Briand – Kellogg, Anh và Pháp đã tiến hành kí kết ngay một thoả hiệp riêng rẽ

    vấn đề vũ khí Hòa bình và an ninh tập thể trong khuôn khổ trật tự Versailles Washington, Hội Quốc Liên là rất mong manh, xa vời. Những diễn biến tiếp theo

    trong quan hệ quốc tế thập niên 30 sẽ tiếp tục chứng minh điều đó.

    Những toan tính riêng vì lợi ích dân tộc của các nước lớn đặc biệt là Mỹ,

    Anh, Pháp đã khiến họ xa cách, và không tìm được tiếng nói chung trong việc giải

    quyết các vấn đề quốc tế, đặc biệt là vấn đề Đức. Nước Đức không hề bị suy yếu

    hoàn toàn sau chiến tranh, nung nấu ý định phục thù, và có điều kiện phục thù. Trật

    tự Véc xai- Oasinhtơn từng bước bị xói mòn nhanh chóng.

    2.2. Sự sụp đổ của trật tự Vécxai – Oasinhtơn

    2.2.1. Sự hình thành các lò lửa chiến tranh

    Cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) bùng nổ đã chấm dứt

    thời kì ổn định của chủ nghĩa tư bản cùng với ảo tưởng về một kỷ nguyên hoà bình

    của thế giới. Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mĩ ngày 24 – 10 – 1929, đã nhanh

    chóng tràn sang châu Âu, bao trùm toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa, để lại những

    hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội. Hàng trăm triệu người (công

    nhân, nông dân và gia đình của họ) bị rơi vào vũng lầy đói khổ. Hàng ngàn cuộc

    biểu tình lôi cuốn trên 17 triệu công nhân ở các nước tư bản tham gia trong những

    năm 1929 – 1933. ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, cuộc đấu tranh giành độc lập

    dân tộc cũng bùng lên mạnh mẽ. Những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản trở nên

    cực kì gay gắt. Trong bối cảnh đó đã hình thành những xu hướng khác biệt nhau

    trong việc tìm kiếm con đường phát triển giữa các nước tư bản chủ nghĩa. Các

    nước không có hoặc có ít thuộc địa gặp nhiều khó khăn về vốn, nguyên liệu và thị

    trường đã đi theo con đường phát xít hoá chế độ chính trị, thiết lập nền chuyên

    chính khủng bố công khai nhằm cứu vãn tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng của

    mình. Các nước Italia, Đức, Nhật Bản là điển hình cho xu hướng này. Trong những

    năm 1929 – 1936, giới cầm quyền các nước nói trên đã từng bước phá vỡ những

    điều khoản chính yếu của hệ thống Vécxai – Oasinhtơn và tích cực chuẩn bị cuộc

    chiến tranh để phân chia lại thế giới. Trong khi đó các nước Mỹ, Anh, Pháp… đã

    tìm cách thoát ra khỏi khủng hoảng bằng những cải cách kinh tế – xã hội , duy trì

    nền dân chủ tư sản đại nghị, đồng thời chủ trương duy trì nguyên trạng hệ

    thống Vécxai – Oasinhtơn. Quan hệ giữa các cường quốc tư bản trong thập niên

    30 chuyển biến ngày càng phức tạp. Sự hình thành hai khối đối lập – một bên là

    Đức, Italia, Nhật Bản với một bên là Mĩ, Anh, Pháp và cuộc chạy đua vũ trang giữa

    hai khối đã phá vỡ hệ thống thoả hiệp tạm thời Versailles – Washington dẫn tới sự

    hình thành các lò lửa chiến tranh, báo hiệu một cuộc chiến tranh thế giới mới.

    Lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông

    Nhật Bản là nước đầu tiên có tham vọng phá vỡ hệ thống Vécxai –

    Oasinhtơn bằng sức mạnh quân sự. Từ năm 1927 Thủ tướng Nhật Tanaka đã vạch

    một kế hoạch chiến tranh toàn cầu đệ trình lên Thiên hoàng dưới hình thức bản

    “tấu thỉnh”‘, trong đó khẳng định phải dùng chiến tranh để xoá bỏ những “bất công

    mà Nhật phải chấp nhận” trong các Hiệp ước Oasinhtơn (1921 – 1922) và đề ra kế

    hoạch cụ thể xâm lược Trung Quốc, từ đó mở rộng xâm lược toàn thế giới. Sau hai

    lần thất bại trong việc xâm lược vùng Sơn Đông (Trung Quốc), ngày 18 – 9 – 1931

    Nhật Bản dựng “Sự kiện đường sắt Nam Mãn Châu” để lấy cớ đánh chiếm vùng

    Đông Bắc Trung Quốc, nơi tập trung 77% tổng số vốn của Nhật ở Trung Quốc.

    Đây là bước đầu tiên trong kế hoạch xâm lược đại qui mô của Nhật. Sau khi chiếm

    vùng này, quân Nhật dựng lên cái gọi là “Nhà nước Mãn Châu độc lập” với chính

    phủ bù nhìn do Phổ Nghi đứng đầu, biến vùng Đông Bắc Trung Quốc thành thuộc

    địa và bàn đạp cho những cuộc phiêu lưu quân sự mới.

    Việc Nhật Bản xâm lược Đông Bắc Trung Quốc đã động chạm đến quyền lợi

    của các nước tư bản phương Tây, nhất là Mĩ. Tuy nhiên Mĩ cũng như Anh, Pháp đã

    nhân nhượng, dung túng cho hành động xâm lược của Nhật với tính toán rằng Nhật

    sẽ tiêu diệt phong trào cách mạng ở Trung Quốc và tiến hành chiến tranh xâm lược

    Liên Xô. Điều đó đã làm cho Nhật bỏ qua mọi phản đối của phái đoàn điều tra V.

    Lytton do Hội Quốc Liên cử đến Trung Quốc. Ngày 24 – 2 – 1933 Hội Quốc liên đã

    thông qua Báo cáo công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Mãn Châu, không công

    nhận “nước Mãn Châu” do Bộ tham mưu Nhật dựng lên nhưng mặt khác lại đề

    nghị duy trì “những quyền lợi đặc biệt của Nhật” ở Trung Quốc. Như vậy, Hội

    Quốc liên đã không công khai tuyên bố “hành động của Nhật là xâm lược và không

    quyết định một hình phạt nào đối với Nhật. Trước sức mạnh quân sự, Hội Quốc

    liên đã sử dụng sức mạnh tinh thần. Phương pháp đó không đem lại kết quả nào”.

    Nhật Bản tiếp tục mở rộng xâm lược Trung Quốc, chiếm đóng hai tỉnh Nhiệt Hà và

    Hà Bắc. Để có thể tự do hành động, ngày 24 – 3 – 1933 Nhật Bản tuyên bố rút khỏi

    Hội Quốc liên. Hành động của Nhật đã phá tan nguyên trạng ở Đông á do Hiệp ước

    Oasinhtơn năm 1922 qui định, đánh dấu sự tan vỡ bước đầu của Hệ thống Vécxai –

    Oasinhtơn. Không dừng lại ở đó, năm 1937 Nhật bắt đầu mở rộng chiến tranh trên

    toàn lãnh thổ Trung Quốc.

    Sự hình thành lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất ở châu Âu

    Trong lúc đó, lò lửa chiến tranh thế giới nguy hiểm nhất đã xuất hiện ở châu

    Âu với việc Hitle lên cầm quyền ở Đức tháng 1 – 1933. Có thể nói, lực lượng quân

    phiệt Đức đã nuôi chí phục thù ngay từ sau khi nước Đức bại trận và phải chấp

    nhận hoà ước Versailles. Bước vào thập niên 30, sự sụp đổ của chính phủ Hermann

    Muller – chính phủ cuối cùng của nền Cộng hoà Weimar – và việc Heinrich

    Bruning lên nắm chính quyền đầu năm 1930 đánh dấu một thời kì chuyển biến mới

    trong chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Đức. Xu hướng thành lập một

    chính quyền ”mạnh”, một nền chuyên chính dân tộc chủ nghĩa cực đoan đã trở

    thành nhu cầu cấp thiết của giới quân phiệt ở Đức. Đảng Quốc xã được coi là lực

    lượng thực tế có thể đáp ứng được nhu cầu đó và Adolph Hitler được coi là “người

    hùng” có thể ngăn chặn được “tình trạng hỗn loạn và chủ nghĩa Bônsêvích”. Ngày

    30-1-1933 Tổng thống P. Hindenburg đã cử Hitler, lãnh tụ của Đảng Quốc xã thay

    Schleicher làm Thủ tướng, mở đầu một thời kỳ đen tối trong lịch sử nước Đức.

    Việc Hitler lên cầm quyền không chỉ là một sự kiện thuần tuý của nước Đức,

    mà còn “đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong lịch sử quan hệ quốc tế”. Bởi

    lẽ, “đối mặt với Hitler, chủ nghĩa “xoa dịu” của Anh, sự trì trệ của Pháp và chủ

    nghĩa trung lập của Mỹ là những hiện tượng tiêu biểu nhất của thời kỳ tiếp theo”

    Quốc tế cộng sản đã chỉ ra rằng “chủ nghĩa phát xít – đó là nền chuyên chính khủng

    bố công khai của những phần tử phản động nhất, sôvanh nhất và đế quốc chủ nghĩa

    nhất của tư bản tài chính”.

    Quả thật, ngay từ những năm 20, Hitler và Đảng Quốc xã đã công khai bày

    tỏ tham vọng bá chủ thế giới của mình. Trong tác phẩm “Cuộc chiến đấu của tôi” tác phẩm lý luận chủ chốt của Đảng Quốc xã mà Hitler là tác giả, đã đề cập đến

    “Kế hoạch lục địa”, theo đó Đức dự định là sẽ chinh phục châu Âu, trong đó chủ

    yếu là chiếm đoạt các vùng lãnh thổ ở phía đông châu Âu, trước hết là Nga và các

    vùng phụ cận Nga. Tuy nhiên, Hitler cũng không loại trừ một cuộc chiến tranh với

    phương Tây để xâm chiếm lãnh thổ phía tây mà trong đó nước Pháp được coi là

    “kẻ thù truyền thống”. Hitler còn đề ra kế hoạch Âu – Á (Eurasia) và Âu – Phi

    (Eurafrica) nhằm xâm chiếm lãnh thổ của các nước châu Phi, châu Á và châu Mĩ.

    Việc làm đầu tiên của Hitler sau khi lên nắm quyền là tái vũ trang nước Đức và

    thoát khỏi những ràng buộc quốc tế để chuẩn bị cho những hành động xâm lược.

    Tháng 10 – 1933 Chính phủ Đức quốc xã đã rời bỏ Hội nghị giải trừ quân bị ở

    Genova và sau đó tuyên bố rút khỏi Hội Quốc liên. Ngày 16 – 3 – 1935, Hitler công

    khai vi phạm Hoà ước Versailles, công bố đạo luật cưỡng bức tòng quân, thành lập

    36 sư đoàn (trong lúc đó Pháp chỉ có 30 sư đoàn). Ba tháng sau, ngày 18 – 6 – 1935

    Đức kí với Anh Hiệp định về hải quân, theo đó Đức được phép xây dựng hạm đội

    tàu nổi bằng 35% và Hạm đội tàu ngầm bằng 45% sức mạnh hải quân của Anh.

    Hiệp định này trực tiếp vi phạm Hiệp ước Vécxai và tăng cường sức mạnh quân sự

    của nước Đức. Đồng thời, Hitler tìm cách bí mật thủ tiêu các chính khách phương

    Tây cản trở kế hoạch xâm lược của mình, như Thủ tướng Rumani I. Duca, Ngoại

    trưởng Pháp L. Barthou, nhà vua Nam Tư Alexandre I và thủ tướng Áo E.

    Dollfuss. Không dừng lại ở đó, ngày 7 – 3 – 1936 Hitler ra lệnh tái chiếm vùng

    Rheinanie, công khai xé bỏ Hoà ước Versailles, Hiệp ước Locarno và tiến sát biên

    giới nước Pháp. Lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất đã xuất hiện ở châu Âu.

    Lò lửa chiến tranh thứ hai ở châu Âu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Office 365 Là Gì? Công Cụ “nghìn Tay” Hấp Dẫn Cho Doanh Nghiệp
  • Tìm Hiểu Ngành Công Nghệ Thông Tin
  • Phân Tích Và Dàn Ý Chi Tiết Về Nhân Vật An Dương Vương
  • Top 8 Bài Phân Tích Nhân Vật An Dương Vương Đầy Đủ Nhất
  • Tìm Hiểu Về Con Người, Văn Hóa, Phong Tục Nhật Bản
  • Sự Khác Biệt Về Trật Tự Của Từ Chỉ Mức Độ Trong Câu Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Tiếng Nhật Và Tiếng Trung
  • Bạn Muốn Giỏi Tiếng Anh Hơn? Hãy Xem Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Việt Và Tiếng Anh!
  • Sự Khác Nhau Giữa Eu Và Asean
  • Tìm Hiểu Sự Khác Biệt Giữa Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Phi Nhân Thọ
  • Sự Khác Biệt Giữa Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ Và Nhân Thọ
  • Mỗi ngôn ngữ có một quy tắc hình thành cấu trúc câu riêng. Trong tiếng Anh và tiếng Việt, vị trí các từ loại trong câu có sự khác biệt, đặc biệt vị trí giữa tính từ và danh từ, hay các từ chỉ mức độ (rất, vô cùng, quá, …) giữa tiếng Việt và tiếng Anh cũng có sự khác nhau về vị trí. Trong bài viết này tôi chỉ nhấn mạnh đến sự khác biệt của những từ chỉ mức độ giữa hai ngôn ngữ Anh – Việt.

    Câu trong tiếng Việt được xây dựng dựa trên cách ghép các từ đơn với nhau. Ví dụ: Tôi thích cà phê. Trong tiếng Anh: I like coffee. Trong câu trên giữa tiếng Anh và tiếng Việt có sự tương đồng về số lượng từ, từ loại, vị trí các từ trong câu.

    Nhưng khi thêm một tính từ vào trong câu thì vị trí trong câu giữa hai ngôn ngữ sẽ khác biệt: Tôi thích cà phê đen.

    Trong tiếng Anh: I like black coffee.

    1) She lives in a house small in the countryside. ( housesmall sai vị trí)

    (Cô ấy sống trong một ngôi nhà nhỏ ở miền quê.)

    2) Mary usually wears a hat red. ( red phải đặt trước hat)

    (Mary thường đội chiếc mũ màu đỏ.)

    3) We had some food delicious for dinner last night. (phải viết: delicious food)

    (Bữa cơm tối hôm qua chúng tôi đã ăn những món rất ngon.)

    Ngoài việc nhầm lẫn về vị trí của tính từ và danh từ, sinh viên còn nhầm lẫn về vị trí của những từ chỉ mức độ như “very, much, a lot, too much, …… “, khi dùng với những động từ như “like” hay “love“, sinh viên thường viết:

    4) I very like pop music. (Tôi rất thích nhạc trẻ.)

    5) We very love our parents. (Chúng tôi rất yêu cha mẹ mình.)

    9) Dượng tôi rất thích những người hoang dã này và họ đến hoặc đi bất cứ đâu tùy thích. (Conan Doyle, Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes, trang 20)

    11) Nữ Hoàng thích tôi vô cùng, đến nỗi Bà mua lại tôi từ tay một người nông dân với giá khá cao.

    (Conan Doyle, Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes, trang 122)

    12) Anh ấy vẫn còn yêu tôi nhiều lắm, nhưng tình yêu mà tôi dành cho anh đã tắt lịm từ lâu rồi. (Nhiều tác giả, Truyện ngắn tình yêu năm 2000, trang 151)

    13) Anh thương và tôn kính mẹ vô cùng, nhưng anh không biết làm gì để giảm nỗi buồn của mẹ. (Nhiều tác giả, Truyện ngắn 50 tác giả trẻ, trang 76)

    14) Nàng đẹp và thông minh. Nàng vô cùng thích Mozart, Back và nhóm Beatles.

    (Erich Segal, Love story, trang 6)

    Từ những dẫn chững minh họa trên, chúng ta thấy những từ chỉ mức độ “rất”, “vô cùng”, “lắm”, “nhiều lắm”, “quá” trong tiếng Việt và “a lot“, “very much“, “too much” trong tiếng Anh có vị trí ở trong câu khác nhau. Vì vậy khi nói và viết câu, người học cần chú ý để việc học đạt kết quả tốt hơn.

    Ngôn ngữ Vị trí của những từ chỉ mức độ đứng trước động từ đứng sau

    Ta có thể tóm tắt vị trí của những từ chỉ mức độ trong bảng sau:

  • help m
  • To ask?
  • Hoàn thành câu.Giúp mình với
  • Đại từ phản thân
  • Giới từ theo sau một số động từ
  • Help ! Thể nhờ vả Have và Got
  • help : ngữ phap tiếng anh
  • Điền dạng đúng của từ GROW
  • Sự khác biệt giữa “Look”, “Watch” và…
  • Phân biệt quá khứ đơn và quá khứ tiếp diễn
  • anh ếch biết nhiều ghê! khi nào rảnh anh nhớ truyền cho em ít kiến thức đó nha!

    --- Bài cũ hơn ---

  • The Same As; Similar To, Different From
  • Sự Khác Nhau Về Văn Hóa Tuyển Dụng Phương Đông Và Phương Tây
  • Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa Phương Đông
  • Internet Là Gì? Internet Và Www Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Tình Cảm Là Gì? So Sánh Tình Cảm Và Nhận Thức
  • Giao Lưu Tìm Hiểu Pháp Luật Về Trật Tự An Toàn Giao Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Lễ Trao Giải Cuộc Thi “An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai” Năm Học 2022
  • Giáo Án An Toàn Giao Thông Lớp 5
  • Cuộc Thi Tìm Hiểu Asean “Thanh Niên Đà Nẵng Với Asean
  • Sở Y Tế Hồ Chí Minh
  • Chưa Lên Quận, “Cò” Đã Thổi Giá Đất
  • Hưởng ứng Tháng an toàn giao thông Quốc gia, ngày 07/9, Ban An toàn giao thông tỉnh (ATGT) Thái Nguyên, Tỉnh đoàn Thái Nguyên phối hợp với Trung tâm Hỗ trợ giáo dục hòa nhập trẻ em khuyết tật tỉnh Thái Nguyên tổ chức Chương trình giao lưu tìm hiểu pháp luật về trật tự ATGT.

    Trung tâm Hỗ trợ giáo dục hòa nhập trẻ em khuyết tật tỉnh Thái Nguyên

          Tại chương trình, Ban ATGT tỉnh đã trao tặng tài liệu tuyên truyền về ATGT cho Trung tâm Hỗ trợ giáo dục hòa nhập trẻ em khuyết tật tỉnh Thái Nguyên; tặng 50 mũ bảo hiểm cho các em học sinh và tặng 06 suất quà cho các học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đạt thành tích cao trong học tập. Cũng tại chương trình, Đội Cảnh sát giao thông, Công an thành phố Thái Nguyên đã hướng dẫn các học sinh các quy tắc chung khi tham gia giao thông, hướng dẫn các em nhận biết tín hiệu đèn giao thông, các hiệu lệnh điều khiển giao thông…

          Thông qua các chương trình nhằm tuyên truyền, nâng cao ý thức cho các học sinh và thầy cô giáo chấp hành các quy định về bảo đảm trật tự ATGT, đặc biệt là việc đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện, đồng thời nhắc nhở phụ huynh đi cùng đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông; tích cực vận động gia đình, người thân, cộng đồng xây dựng văn hóa giao thông.

    các học sinh các hiệu lệnh điều khiển giao thông

          Tháng 9 hằng năm là tháng học sinh trên cả nước nô nức bước vào năm học mới, cùng với đó là nhu cầu tham gia giao thông của người dân tăng cao, kéo theo tình hình trật tự ATGT có nhiều diễn biến phức tạp, nguy cơ xảy ra tai nạn giao thông tăng cao. Vì vậy, Ủy ban ATGT Quốc gia chọn tháng 9 hằng năm là Tháng an toàn giao thông, đồng thời cũng phát động Tháng cao điểm an toàn giao thông cho học sinh đến trường.

    Minh Tuấn

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đáp Án Cuộc Thi Giao Lưu Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông Cho Học Sinh Năm 2022
  • Thể Lệ Hội Giao Lưu Tìm Hiểu “An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Trẻ Thơ” Năm Học 2022 – 2022
  • Chương Trình An Toàn Giao Thông
  • Trung Tâm Đào Tạo Lái Xe An Toàn
  • Cuộc Thi Trắc Nghiệm ‘vì An Toàn Giao Thông Thủ Đô Năm 2022’ Trên Mạng Internet
  • Vì Sao Phải Xây Dựng Luật Bảo Đảm Trật Tự, Atgt Đường Bộ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Sửa Lỗi Không Vào Được Máy Khác Trong Mạng Lan Win 7, Win 10
  • Máy Tính Không Truy Cập Được Trong Mạng Lan (Win10)
  • Những Người Tuyệt Đối Không Nên Ăn Nội Tạng Động Vật
  • Đi Tìm Lời Giải ‘Nụ Cười Bí Ẩn’ Trong Bức Họa Nổi Tiếng ‘Mona Lisa’ Của Leonardo Da Vinci
  • Vì Sao Nhiều Người Ăn Lựa Chọn Ăn Chay
  • (Chinhphu.vn) – Tại phiên họp thứ 10 diễn ra vào chiều 24/10, Quốc hội đã nghe báo cáo về dự án Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

    Tại Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm đã lý giải về sự cần thiết xây dựng và ban hành luật, trong đó nhấn mạnh, qua tổng kết 10 năm thi hành Luật Giao thông đường bộ năm 2008 cho thấy Luật có phạm vi điều chỉnh gồm cả hai lĩnh vực là bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ và xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, quản lý vận tải đường bộ.

    Tuy nhiên, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ thuộc lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; còn xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, vận tải đường bộ lại thuộc lĩnh vực kinh tế – kỹ thuật. Hai lĩnh vực này có mục tiêu và đối tượng điều chỉnh khác nhau (bảo đảm trật tự, an toàn giao thông với mục tiêu là bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe cho người tham gia giao thông, bảo đảm an ninh con người; còn xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông là phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an toàn kỹ thuật công trình giao thông).

    Trật tự, an toàn giao thông đường bộ đang diễn biến rất phức tạp, vi phạm xảy ra phổ biến là ý thức chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đáng báo động. Qua thống kê cho thấy, trong hơn 10 năm qua, tai nạn giao thông ở Việt Nam đã làm chết trên 100 nghìn người, bị thương trên 330 nghìn người. Nhiều vụ tai nạn giao thông thảm khốc xuất phát từ nguyên nhân lái xe sử dụng chất ma túy, vi phạm nồng độ cồn… Đường bộ là nơi diễn ra nhiều vấn đề phức tạp về hoạt động của tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật, như: trộm, cướp, gây rối trật tự công cộng, vận chuyển hàng cấm, hàng lậu…

    Ngoài ra, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành luật riêng về trật tự, an toàn giao thông, tách bạch với luật về xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông.

    Mục đích của việc xây dựng Luật là bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe cho nhân dân, bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp; góp phần xây dựng trật tự, an toàn giao thông tiến bộ, văn minh, tiếp cận trình độ tiên tiến của thế giới.

    Quá trình xây dựng dự án Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đã nhận được sự đồng thuận cao của các bộ, ngành, các thành viên Chính phủ.

    Với việc xây dựng độc lập Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi) và Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong từng lĩnh vực là bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông đường bộ và xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, vận tải đường bộ.

    Thẩm tra về dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh (QPAN) của Quốc hội Võ Trọng Việt khẳng định, Ủy ban QPAN cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật nêu trong Tờ trình của Chính phủ và cho rằng việc xây dựng, ban hành Luật này nhằm triển khai chỉ đạo của Ban Bí thư, nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, khắc phục những tồn tại, bất cập trong quản lý về trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

    Thực tế cho thấy, tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ còn nhiều diễn biến phức tạp, trong đó tai nạn giao thông đường bộ chiếm hơn 95% trong tổng số vụ, số người chết, số người bị thương do tai nạn giao thông nói chung, để lại hậu quả rất lớn cho xã hội; công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm còn chồng chéo, gây phiền hà và làm giảm niềm tin trong Nhân dân… đòi hỏi phải xây dựng Luật Bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ để giải quyết yêu cầu thực tiễn đặt ra hiện nay.

    Ủy ban QPAN nhận thấy, nội dung dự thảo Luật cơ bản phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng; bảo đảm tính hợp hiến, tính thống nhất với hệ thống pháp luật và bảo đảm tính khả thi; bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, đề nghị tiếp tục rà soát, không để chồng chéo, trùng lặp với dự thảo Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi).

    Nguyễn Hoàng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Liên Hiệp Các Tổ Chức Hữu Nghị Hà Nội
  • Các Cổng Thành Hà Nội Thời Nguyễn
  • Chóng Mặt; Choáng Váng Và Phương Pháp Phòng Tránh Chóng Mặt Tại Nhà
  • Đau Đầu, Buồn Nôn, Chóng Mặt Nguyên Nhân Do Đâu?
  • Chóng Mặt, Buồn Nôn, Đau Đầu, Mệt Mỏi: Những Điều Cần Biết
  • Giáo Dục Pháp Luật Về Trật Tự An Toàn Giao Thông Trong Trường Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm An Toàn Giao Thông Cho Học Sinh
  • Học Sinh Hà Nội Thi Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông Trên Internet
  • ‘an Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai’ Chuyển Sang Thi Trực Tuyến
  • Cuộc Thi Tìm Hiểu Về Luật An Toàn Giao Thông
  • Câu Hỏi Tự Luận Của Cuộc Thi Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông
  • Trước tình hình trên, việc giáo dục ATGT trong nhà trường nhằm hình thành và nâng cao ý thức trách nhiệm, tuân thủ, đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông của cán bộ, giáo viên, học sinh và phụ huynh được Phòng GD&ĐT xác định là một việc làm cần thiết và đòi hỏi phải thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu quả.

    Để làm tốt công tác chỉ đạo, quản lý các hoạt động phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật về trật tự ATGT trong nhà trường, Phòng GD&ĐT đã cử 01 lãnh đạo, 01 cán bộ kiêm nhiệm chỉ đạo và theo dõi về công tác ATGT. Ngay từ đầu mỗi năm học, Phòng GD&ĐT đã có công văn chỉ đạo các trường triển khai thực hiện “Tháng An toàn giao thông” và có kế hoạch giáo dục an toàn giao thông cho cả năm học bám sát vào các công văn chỉ đạo của cấp trên. Trong đó yêu cầu các trường thực hiện tốt một số việc:

    + Thực hiện nghiêm túc các giờ dạy trên lớp về ATGT được bố trí trong chương trình nội – ngoại khoá do Bộ GD&ĐT quy định cho các nhà trường;

    + Xây dựng “Góc tuyên truyền về ATGT” gồm các nội dung như: khẩu hiệu tuyên truyền, tranh ảnh về những vụ tai nạn giao thông; hậu quả về người và phương tiện do tai nạn giao thông gây ra; sáng tác thơ văn, tiểu phẩm về ATGT; hướng dẫn quy định cơ bản trong luật ATGT; những tin tức cập nhật về ATGT; tin về những trường hợp vi phạm ATGT; những tấm gương thực hiện tốt về văn hoá giao thông…;

    + Hình thức tuyên truyền: Mỗi tháng 01 lần, mỗi tuần có 01 giờ tuyên truyền lồng ghép về ATGT với các thông tin khác. Mỗi năm có 02 lần các trường tổ chức cuộc thi tìm hiểu về ATGT (mỗi kỳ 01 lần);

    + Vào đầu mỗi năm học, các trường phải tổ chức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và phụ huynh học sinh cùng ký cam kết thực hiện tốt và vận động mọi người chấp hành các quy định về ATGT;

    + Có biện pháp phòng tránh tai nạn trong mùa mưa bão để đảm bảo an toàn tính mạng cho học sinh khi đến trường;

    + Đưa hành vi chấp hành ATGT vào đánh giá đạo đức, xếp loại hạnh kiểm đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh. Hiệu trưởng các nhà trường cũng có trách nhiệm liên đới, Phòng GD&ĐT sẽ hạ bậc thi đua đối với những đơn vị không tích cực tuyên truyền giao thông hoặc có cá nhân vi phạm ATGT;

    + Yêu cầu các trường thực hiện tốt chế độ báo cáo định kỳ theo tháng, báo cáo sơ kết học kỳ và tổng kết năm học. Báo cáo đột xuất những trường hợp cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh vi phạm ATGT hoặc bị tai nạn giao thông;

    Ngoài ra, Phòng GD&ĐT đã triển khai kịp thời các văn bản chỉ đạo về ATGT của cấp trên tới cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh, đồng thời yêu cầu hiệu trưởng các trường thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở việc thực hiện và có ý thức giữ gìn trật tự ATGT trong đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trong các nhà trường.

    Đạt được kết quả trên là do có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của cấp trên, Phòng GD&ĐT đã chủ động lên kế hoạch chung cho toàn ngành, có những biện pháp phổ biến, tuyên truyền kịp thời các văn bản chỉ đạo về ATGT cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trong các nhà trường.

    Qua công tác tuyên truyền giáo dục về ATGT của ngành đối với các trường đã nâng cao ý thức của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trong việc chấp hành tốt luật lệ giao thông đường bộ và các quy định của Nhà nước về trật tự ATGT, làm cho mọi người luôn ý thức được rằng giáo dục ATGT trong trường học là một việc làm thường xuyên và lâu dài, góp phần giúp cho pháp luật về ATGT sẽ đi vào cuộc sống đạt hiệu quả ngày càng cao, hạn chế, giảm bớt những hậu quả của tai nạn giao thông, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho mỗi gia đình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đáp Án Cuộc Thi Giao Lưu Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông Cho Giáo Viên Năm 2022
  • Thể Lệ Hội Giao Lưu Tìm Hiểu “an Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Trẻ Thơ” Năm Học 2022
  • Đề Thi Giao Lưu Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông Lớp 3
  • Dap An Cuoc Thi Tim Hieu An Toan Giao Thong Danh Cho Giao Vien
  • Phát Động Cuộc Thi Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông Thủ Đô Trên Internet
  • Dấu Hiệu Nhận Biết Trật Khớp Và Cách Sơ Cứu Bệnh Nhân Khi Bị Trật Khớp

    --- Bài mới hơn ---

  • Gãy Xương Quai Xanh (Xương Đòn) Bao Lâu Thì Lành?
  • Các Dấu Hiệu Tổn Thương Xương Trên Phim X Quang
  • Gãy Xương Sườn Và Cách Điều Trị
  • Gãy Xương Sườn: Những Điều Cần Biết
  • Bé Sơ Sinh Bị Gãy Xương Đòn Vai Khi Sinh Ở Bệnh Viện
  • Trật khớp là sự di chuyển bất thường giữa các đầu xương làm cho các mặt khớp bị lệch lạc. Chấn thương gây biến dạng và làm mất khả năng vận động tạm thời của khớp, có thể dẫn đến đau đột ngột, dữ dội. Dấu hiệu nhận biết trật khớp cần được phát hiện và điều trị kịp thời để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe.

    – Đau do tổn thương rách bao khớp.

    – Giảm hoặc mất hoàn toàn cơ năng vận động khớp.

    – Hõm khớp bị rỗng: Đây là dấu hiệu đặc biệt của sai khớp tuy nhiên không phải khớp nào cũng có, mà chỉ gặp ở khớp vai, khớp hàm và một phần khớp khuỷu. Nếu người bệnh đi khám muộn thì sẽ khó có thể phát hiện do sưng nề nhiều.

    – Biến dạng toàn chi: Nếu sai khớp vai thì tư thế cánh tay sẽ bị biến dạng hoặc không khép sát vào thân được. Nếu sai khớp háng thì tư thế chi ngắn, gối có hiện tượng xoay vào trong, bàn chân bên sai gác lên cổ chân bên lành.

    – Dấu hiệu gồ bất thường do chỏm xương trật ra khỏi hõm khớp.

    – Cử động đàn hồi hay còn gọi là dấu hiệu lò xo, chỉ xuất hiện trong sai khớp, do đầu xương trật ra chỗ khác đồng thời bị bó chặt trong khối cân cơ và dây chằng. Cho dù cố ý kéo hay đẩy khớp về vị trí bình thường thì khớp vẫn sẽ bật trở lại tư thế sai.

    – Ngoài ra trật khớp có một số biến dạng đặc biệt:

    + Dấu hiệu gù vai (vai vuông góc) thấy ở sai khớp vai.

    + Dấu hiệu “nhát rìu” thường thấy trong sai khớp khuỷu ra sau (do mỏm khuỷu trồi ra sau làm với cánh tay một bậc lõm vào, trông giống như gốc cây bị rìu chặt dang dở).

    + Dấu hiệu “phím đàn dương cầm” xuất hiện trong sai khớp vùng vai-đòn (do co kéo cơ ức đòn chũm nên đầu ngoài xương đòn được kéo lên, lộ rõ ra ngoài, ấn xuống lại bật lên như ấn vào phím đàn dương cầm).

    Còn để xác định chính xác bạn có bị trật khớp hay không bạn nên đi khám ở chuyên khoa khớp. Khi cần thiết, bác sĩ sẽ chỉ định chụp X-quang để biết chính xác loại sai khớp và tình trạng khớp (có hay không bong xương, vỡ mẻ xương khớp hay gãy đầu xương). Nếu để lâu bệnh có thể xuất hiện biến chứng như chèn ép mạch máu, dây thần kinh, sai khớp hở kèm mẻ xương.

    Khi bị trật khớp bệnh nhân cần được sơ cứu nhanh trước khi đưa đến cơ sở y tế. Tình trạng này có thể xảy ra tại các khớp lớn như vai, đầu gối, khuỷu tay hay mắt cá chân hoặc ở các khớp nhỏ hơn như ngón tay, ngón tay cái hoặc ngón chân. Cách sơ cứu như sau:

    • Không di chuyển để tránh lực tác động, không nắn hoặc cố cử động khớp bị trật, hoặc bắt nó trở lại vị trí, vì điều này có thể gây tổn thương khớp và cơ, dây chằng, dây thần kinh hoặc các mạch máu ở xung quanh.
    • Cố định khớp: Cố định khớp ở tư thế mà khớp đang ở vị trí đó. Nếu bạn trật khớp vùng tay, khuỷu tay có thể cố định bằng cách cột tay vào thân người, dùng thân người làm vật cố định nâng đỡ cho tay.
    • Nếu trật khớp ở chân thì bạn có thể cột hai chân lại với nhau, dùng chân lành làm nẹp cố định cho chân bị trật khớp.
    • Chườm lạnh lên vùng khớp bị thương nhằm tránh và giảm sưng phù. Có thể dùng đá lạnh chườm trực tiếp lên da hoặc bạn có thể cho đá vào miếng vải để chườm. Không nên chườm nóng, đắp muối, bóp thuốc rượu hay mật gấu vì có thể làm tình trạng xấu đi.
    • Nhanh chóng đến cơ sở y tế để các bác sĩ kiểm tra và điều trị.

    Nếu có bất kì thắc mắc chứng trật khớp, bạn có thể đến trực tiếp Bệnh viện Đa khoa quốc tế Thu Cúc hoặc liên hệ theo số 0904 97 0909 hoặc 1900 558 896 để được tư vấn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gãy, Lệch Xương Quai Xanh: Những Điều Cần Biết
  • Nứt Xương Là Gì ? Và Quá Trình Hồi Phục Sau Nứt Xương
  • Dấu Hiệu Nhận Biết Gãy Ngón Chân Cái & Hướng Xử Lý Tốt Nhất
  • Gãy Xương Mác: Triệu Chứng, Chuẩn Đoán Và Điều Trị Gãy Xương Mác
  • Gãy Xương Mác: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Luận Văn: Quản Lý Nhà Nước Về An Ninh, Trật Tự Đô Thị Tại Hà Nội

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tư Tưởng, Quản Lý Bộ Đội Không Quân
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tư Tưởng Trong Quản Lý Bộ Đội Hiện Nay
  • Kinh Nghiệm Trong Công Tác Quản Lý Tư Tưởng Bộ Đội Ở Sư Đoàn Phòng Không 361
  • 3 Cách Quản Lý Nhân Viên Bán Hàng Hiệu Quả Doanh Nghiệp Nên Áp Dụng
  • Phương Pháp Quản Lý Bán Hàng Đơn Giản Nhất
  • , ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Luận văn thạc sĩ ngành luật: Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị từ thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội, cho các bạn tham khảo

    1. 1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI DƯƠNG THANH LIÊM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN NINH, TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2022
    2. 2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI DƯƠNG THANH LIÊM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN NINH, TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TỪ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 9.38.01.02 Người hướng dẫn khoa học: chúng tôi Phạm Hồng Thái HÀ NỘI – 2022
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu ghi trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Dương Thanh Liêm
    4. 5. ninh, trật tự đô thị Hà Nội……………………………………………………………. 92 3.4. Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội……………………………………………………….. 105 3.5. Thực trạng thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội………………………………………………………………………………………. 108 3.6. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội……………………………………………………………………. 115 Kết luận chương 3………………………………………………………………………. 118 Chương 4. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN NINH, TRẬT TỰ ĐÔ THỊ HÀ NỘI…………. 120 4.1. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội………………………………………………………………………………………. 120 4.2. Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội…………………………………………………………………………………………….. 127 Kết luận chương 4………………………………………………………………………. 147 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………. 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
    5. 6. BẢNG QUY ƯỚC CÁCH VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN ANQG An ninh quốc gia ANTT An ninh, trật tự CAND Công an nhân dân CQĐP Chính quyền địa phương HĐND Hội đồng nhân dân QLNN Quản lý nhà nước TTATXH Trật tự an toàn xã hội TTATGT Trật tự an toàn giao thông UBND Ủy ban nhân dân VPPL Vi phạm pháp luật XHCN Xã hội chủ nghĩa
    6. 7. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Để góp phần ổn định kinh tế – xã hội và phát triển đất nước, một trong những điều kiện tiên quyết là phải giữ vững an ninh, trật tự, ổn định đời sống chính trị và tinh thần của nhân dân. Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng xác định: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân” . Trên cương vị là Thủ đô của Việt Nam, Hà Nội đã chủ động thiết lập, mở rộng sự quan hệ gắn kết với gần 100 thủ đô, thành phố lớn khắp thế giới. Mục tiêu hội nhập chính trị cũng được thể hiện rõ ràng trong việc Hà Nội chủ
    7. 9. 3 động, tích cực tham gia vào các thể chế, diễn đàn đa phương như Hội nghị Thị trưởng Thủ đô các nước ASEAN, Hội nghị Thị trưởng Thủ đô các nước Á – Âu, đăng cai và hỗ trợ tổ chức thành công những sự kiện quốc tế lớn như SEA Games, Hội nghị cấp cao APEC, Hội nghị Mạng lưới các thành phố lớn châu Á thế kỷ XXI (ANMC21)… Những nỗ lực này đã giúp xây dựng hình ảnh một Hà Nội, một Việt Nam ổn định, an toàn, hòa nhập vào đời sống quốc tế và khẳng định đường lối đối ngoại Việt Nam là thành viên tích cực của cộng đồng các quốc gia trên thế giới. Điều này có ý nghĩa lớn khi Đảng và Nhà nước đã xác định rằng hội nhập quốc tế phải nhằm củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các yếu tố thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Tuy nhiên, với mức độ đô thị hóa nhanh, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội hiện nay đã dẫn đến đô thị Hà Nội đang gặp nhiều khó khăn, thách thức như: Sự phát triển mất cân đối, thiếu bền vững; vấn đề quy hoạch, quản lý đất đai, nhà ở, quản lý kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường, giao thông đã vượt quá khả năng điều hành của chính quyền đô thị; tình hình an ninh, trật tự diễn biến phức tạp, các loại hình dịch vụ kinh doanh nhạy cảm như karoke, vũ trường, nhà nghỉ, cầm đồ, mátxa… thường xuyên không chấp hành quy định về an ninh, trật tự, để xảy ra tệ nạn ma túy, mại dâm, chứa chấp tội phạm, nảy sinh các hoạt động bảo kê, buôn bán ma túy; các thế lực thù địch, phản động và số đối tượng chống đối trong nước thường xuyên tuyên truyền những thông tin sai lệch với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước… Tuy vậy, hiện nay vấn đề quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội vẫn chưa được nghiên cứu toàn diện, thấu đáo nên chưa có biện pháp quản lý nhà nước hữu hiệu đối với lĩnh vực an ninh, trật tự đô thị. Trên thực tế, khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị, trách nhiệm của các bộ, ngành, chính quyền đô thị và người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước chưa được nâng cao. Các cơ quan
    8. 12. 6 4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở phương pháp luận Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực quản lý nhà nước về an ninh, trật tự. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp như: Phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, lịch sử cụ thể… Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng nhằm làm rõ những nội dung của luận án; đảm bảo tính khoa học giữa các vấn đề của luận án. Cụ thể như: – Chương 1, tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị, xác định những vấn đề luận án cần giải quyết, luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử để đánh giá những kết quả đã được nghiên cứu, mà luận án có thể kế thừa phát triển và xác định những vấn đề luận án cần giải quyết mới. – Chương 2, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh được sử dụng như công cụ chủ đạo để đánh giá các quan điểm khoa học khác nhau và đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị, chỉ ra những đặc điểm, nội dung, phương pháp quản lý. – Chương 3, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, nghiên cứu tài liệu để đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của tình trạng đó. – Chương 4, phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để đưa ra các quan điểm, đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội. 5. Ý nghĩa khoa học của luận án – Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm sáng tỏ phương diện lý luận, làm
    9. 22. 16 ủy Hà Nội, đăng trên tạp chí Công an nhân dân, kỳ 2, tháng 8/2015. Bài viết đã khái quát quá trình Đảng ta đã tổ chức xây dựng và trực tiếp lãnh đạo, rèn luyện lực lượng CAND trong sự nghiệp bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, đảm bảo an ninh chính trị và TTATXH; đã xác định vị trí, vai trò của thủ đô Hà Nội là một trung tâm chính trị – hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế, đồng thời là mục tiêu, địa bàn các thế lực thù địch, đối tượng phản động và các loại tội phạm tập trung hoạt động, chống phá. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy Công an Trung ương, của Thành ủy Hà Nội, Công an thành phố Hà Nội đã góp phần quan trọng, tích cực giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm TTATXH, phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và đối ngoại của thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Thành ủy Hà Nội cũng nghiêm túc nhận thấy những hạn chế trong công tác chỉ đạo, xây dựng phương án đảm bảo ANTT; từ đó để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, Thành ủy Hà Nội đã đưa ra những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm bảo đảm ANTT trên địa bàn đô thị Hà Nội. Bài viết đã giúp cho nghiên cứu sinh khái quát được quá trình hơn 70 năm xây dựng và phát triển của lực lượng Công an, nắm được chủ trương của Thành ủy Hà Nội trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo đảm ANTT tại thành phố Hà Nội. Sách tham khảo “Hoàn thiện mô hình tổ chức và quản lý đô thị Hà Nội, luận cứ và giải pháp”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2010, của các tác giả Nguyễn Quang Ngọc, Đoàn Minh Huấn, Bùi Xuân Dũng. Cuốn sách là công trình nghiên cứu khá hoàn chỉnh về lý luận, thực trạng tổ chức chính quyền đô thị ở Hà Nội; đã mô hình hóa được tổ chức chính quyền đô thị Hà Nội trong mối quan hệ với chính quyền Trung ương, chính quyền địa phương (CQĐP) và chính quyền đô thị ở những thành phố khác. Đề tài luận văn thạc sĩ “Mô hình tổ chức chính quyền đô thị ở Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Thu Thảo, năm 2013 đã phân tích một số vấn đề lý
    10. 23. 17 luận về mô hình tổ chức chính quyền đô thị; làm rõ thực trạng tổ chức mô hình chính quyền đô thị ở Hà Nội. Đề tài trên đã phân tích, làm rõ thực trạng mô hình tổ chức của chính quyền đô thị ở Hà Nội; đã làm rõ một số đặc trưng, phân loại đô thị có giá trị tham khảo quan trọng để nghiên cứu sinh kế thừa khi thực hiện đề tài luận án. Đề tài luận án tiến sĩ “Di dân tự do nông thôn – đô thị với trật tự xã hội ở Hà Nội” của tác giả Đinh Quang Hà, năm 2014. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng dân di cư tự do đến khu vực nội thành Hà Nội, đã tạo áp lực lớn về các vấn đề kinh tế – xã hội, làm tăng đột biến về dân số cơ học, về cơ cấu dân cư, tạo những áp lực về việc làm, chỗ ở, giao thông, an ninh xã hội, gây khó khăn trong QLNN về ANTT ở Hà Nội. Đề tài giúp cho nghiên cứu sinh đánh giá được các yếu tố tác động đến ANTT đô thị Hà Nội, từ đó làm cơ sở cho việc đưa ra một số giải pháp khắc phục tác động tiêu cựu của di dân tự do giữa nông thôn và thành thị với trật tự xã hội ở Hà Nội. Ngoài ra, còn nhiều công trình khác nghiên cứu về đô thị Hà Nội ở các khía cạnh khác nhau, có giá trị tham khảo đối với đề tài luận án về những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến QLNN về ANTT đô thị Hà Nội như: Thu Hà (2008), “Chính quyền đô thị: Phân cấp không chia quyền”, http://tuanvietnam.vietnamnet.vn; Lê Quang Cảnh (2011), “Ảnh hưởng tiêu cực của đô thị hóa và gợi ý chính sách cho quá trình đô thị hóa thành phố Hà Nội”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế 393 – Tháng 2/2011; Quang Chung (2012), “Chính quyền đô thị: vướng mắc từ Hiến pháp”, http://www.thesaigontimes.vn; Lê Sơn (2012), “Ban chỉ đạo Đề án thí điểm mô hình tổ chức chính quyền đô thị họp phiên thứ nhất” http://baodientu.chinhphu.vn; Một số định hướng chiến lược trong việc phát triển đô thị bền vững tại Hà Nội, Kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ tư Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển bền vững, Viện Việt Nam học và khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, năm 2022; Việt Hà (2015),
    11. 24. 18 “Đảm bảo an ninh chính trị, trât tự an toàn xã hội trên địa bàn thủ đô”, http://hanoi.gov.vn. 1.1.3. Những công trình nghiên cứu về các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội Đề tài cấp Bộ “Một số giải pháp để thiết lập trật tự, kỷ cương trong quản lý nhà nước đối với các đô thị trực thuộc Trung ương” của tác giả Phạm Kim Giao, Học viện Hành chính, 2005. Đề tài nghiên cứu công tác QLNN đối với các đô thị trực thuộc Trung ương. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng QLNN trên các lĩnh vực quản lý quy hoạch đô thị, quản lý nhà ở và đất đai ở đô thị, hạ tầng kỹ thuật và vệ sinh môi trường đô thị Hà Nội và các thành phố trực thuộc Trung ương, đề tài đã làm rõ những kết quả đã đạt được, những hạn chế, yếu kém và làm sáng tỏ các yếu tố tác động đến thiết lập trật tự, kỷ cương trong QLNN đối với các đô thị. Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo giúp cho nghiên cứu sinh hiểu sâu hơn về hệ thống kiểm soát đô thị. Sách chuyên khảo “Những giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo an ninh, trật tự ở các thành phố lớn, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở”, năm 2006, được biên tập từ đề tài cấp Nhà nước, mã số KX 07 – 05, do chúng tôi Lê Văn Cương chủ nhiệm, làm tài liệu phục vụ nghiên cứu, học tập và vận dụng trong CAND. Cuốn sách đã tập trung nghiên cứu những nội dung: Vị trí, vai trò các thành phố lớn, khu công nghiệp, khu kinh tế mở với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; đã chỉ ra những yếu tố tác động đến ANTT ở các thành phố lớn, trong đó có thành phố Hà Nội – đô thị loại đặc biệt của Việt Nam; đánh giá thực trạng tình hình ANTT ở các thành phố lớn; đề xuất, kiến nghị các giải pháp đảm bảo ANTT tại các thành phố lớn, khu công nghiệp trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đề tài cấp Bộ “Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội tại các địa bàn công cộng đô thị – Thực tiễn tình hình và những kiến nghị đề xuất”, của
    12. 25. 19 tác giả Vương Đức Phong, năm 2012. Đề tài nghiên cứu làm rõ nội dung cơ bản QLNN về TTATXH tại các địa bàn công cộng đô thị, trong đó có đô thị Hà Nội, từ đó đánh giá thực trạng tình hình trật tự và kiến nghị đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo TTATXH tại các địa bàn công cộng đô thị. Quản lý nhà nước về ANTT đô thị bao gồm quản lý trên nhiều lĩnh vực, như: QLNN về an ninh chính trị, QLNN về an ninh kinh tế, quản lý về bảo vệ an ninh văn hóa – tư tưởng, quản lý về bảo vệ an ninh thông tin, bảo vệ bí mật nhà nước, quản lý xuất cảnh, nhập cảnh, quản lý người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài cư trú tại Việt Nam, quản lý phòng chống tội phạm, quản lý hành chính về trật tự xã hội, quản lý trật tự, an toàn giao thông (TTATGT), trật tự công cộng, quản lý về phòng cháy, chữa cháy… Thời gian qua, đã có không ít các công trình nghiên cứu QLNN về ANTT đô thị Hà Nội trên các lĩnh vực cụ thể như: Đề tài cấp cơ sở “Phòng ngừa, phát hiện và triệt phá các điểm tổ chức sử dụng trái phép ma túy tổng hợp tại các cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự của lực lượng cảnh sát Công an thành phố Hà Nội”, của tác giả Ngô Gia Bắc, Học viện Cảnh sát nhân dân, năm 2006. Đề tài đã đánh giá hiệu quả hoạt động phòng ngừa, phát hiện và triệt phá các điểm tổ chức sử dụng trái phép ma túy tổng hợp tại các cơ sở kinh doanh có điều kiện về ANTT của lực lượng Cảnh sát Công an thành phố Hà Nội, nêu lên những hạn chế, bất cập, khó khăn và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này của lực lượng Cảnh sát Công an thành phố Hà Nội. Đề tài cấp cơ sở “Quản lý nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự phục vụ công tác phòng ngừa tội phạm của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an quận Thanh Xuân, Hà Nội – Thực trạng và giải pháp”, của tác giả Đặng Thị Ngọc Hà, năm 2007. Đề tài đánh giá công tác quản lý nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT phục vụ công tác phòng ngừa tội phạm của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an quận
    13. 26. 20 Thanh Xuân, Hà Nội; làm rõ những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này đối với lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an quận Thanh Xuân, Hà Nội. Đề tài cấp cơ sở “Nâng cao hiệu quả quản lý lưu trú trong các cơ sở kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ theo chức năng của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thành phố Hà Nội” của tác giả Đinh Văn Tú, năm 2013. Đề tài đề cập đến việc lưu trú của những người ở các tỉnh, thành phố khác, kể cả khách du lịch trong và ngoài nước ở các khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ của đô thị Hà Nội. Ngoài những người đến lưu trú với mục đích chính đáng thì tội phạm, phần tử xấu cũng trà trộn, lợi dụng các cơ sở kinh doanh lưu trú để hoạt động. Đã có nhiều vụ phạm pháp hình sự như trộm cắp, giết người, cướp của, hiếp dâm… xảy ra trong các cơ sở kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ mà thủ phạm không ai khác lại là khách đến lưu trú trong các cơ sở này thực hiện. Bên cạnh đó, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại dâm, ma túy cũng diễn ra hết sức phức tạp trong các cơ sở này. Nhiều đối tượng truy nã cũng lợi dụng các cơ sở kinh doanh lưu trú làm nơi ẩn náu, lẩn trốn. Có thể khẳng định, các cơ sở lưu trú tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp về ANTT ở đô thị Hà Nội. Có nhiều bài báo trên các tạp chí chuyên ngành viết về các lĩnh vực, các hoạt động riêng lẻ trong hoạt động QLNN về ANTT đô thị Hà Nội, có thể điểm qua một số bài viết sau: Nguyễn Thị Thảo (2014), Thành phố Hà Nội: quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ, Tạp chí Công an nhân dân (chuyên đề an ninh và xã hội), số 5/2014; Nguyễn Xuân Văn – Nghiêm Đình Hưởng (2014), Nâng cao hiệu quả công tác điều tra cơ bản đối với cơ sở kinh doanh Massage của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội, Tạp chí Cảnh sát, số 7/2014; Nguyễn Đức Chung (2015), Kinh nghiệm đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và phòng, chống
    14. 30. 24 hiệu quả hoạt động QLNN về ANTT. Tuy vậy, các nhóm giải pháp phần nhiều không cập nhật được tính thời sự hiện nay; giải pháp mang tính chất đơn lẻ trong từng lĩnh vực cụ thể của QLNN về ANTT; chưa đánh giá khái quát được mức độ hoàn thiện của pháp luật về ANTT. Hiến pháp, năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, năm 2022, Luật Công an nhân dân, năm 2022 đã được ban hành, đặc biệt là Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã có những định hướng mới… Do đó, các giải pháp mà các nhà nghiên cứu đã nêu chắc chắn sẽ phải nghiên cứu, phân tích sâu hơn. 1.3. Những vấn đề luận án cần giải quyết Thứ nhất, về quản lý nhà nước, “an ninh quốc gia”, “an ninh chính trị”, “trật tự an toàn xã hội”… tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng còn nhiều quan điểm khác nhau, chưa thống nhất, do đó cần được tiếp tục nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận QLNN về ANTT đô thị (khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương pháp QLNN về ANTT đô thị). Thứ hai, nghiên cứu, đánh giá được thực trạng QLNN về ANTT đô thị Hà Nội, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, đồng thời phân tích một cách cụ thể, toàn diện về những yếu tố bảo đảm tăng cường QLNN về ANTT đô thị. Thứ ba, Hiến pháp, năm 2013 đã có nhiều quy định mới về tổ chức bộ máy Nhà nước, trong đó có tổ chức CQĐP ở đô thị. Cụ thể: Theo Khoản 2, Điều 111, Hiến pháp, năm 2013 quy định “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định”. Như vậy, vấn đề đặt ra là chính quyền đô thị Hà Nội sẽ phải tổ chức theo mô hình như thế nào cho hợp lý? Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền đô thị Hà Nội có tác động không nhỏ tới hoạt động QLNN về ANTT đô thị. Các quy định của pháp luật trong QLNN về ANTT đô thị cần được quyết định trên cơ sở Hiến định phù hợp với thực tiễn. Việc nghiên cứu hoàn thiện
    15. 31. 25 các quy định pháp luật về QLNN về ANTT đô thị nói chung, QLNN về ANTT đô thị Hà Nội nói riêng là việc làm cần thiết và quan trọng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thứ tư, nghiên cứu và xác định các quan điểm, giải pháp tổng thể mang tính chiến lược để tăng cường QLNN về ANTT đô thị Hà Nội. Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt trong QLNN về ANTT đô thị Hà Nội, ở cấp độ tiến sĩ luật học. Đề tài “Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị từ thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội” sẽ là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu cụ thể, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu những tri thức khoa học của những công trình nghiên cứu trước. 1.4. Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu 1.4.1. Giả thuyết nghiên cứu Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng còn nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về QLNN về ANTT đô thị, chưa chỉ ra được những đặc điểm của QLNN về ANTT đô thị và chưa xác định rõ các hoạt động, lĩnh vực cụ thể được quy định trong các văn bản pháp luật QLNN về ANTT. Quản lý nhà nước về ANTT đô thị Hà Nội tuy đã đạt được nhiều kết quả, nhưng cũng còn những bất cập, chưa hợp lý. Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới của công tác bảo vệ ANTT trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, cần bổ sung, điều chỉnh các giải pháp hữu ích, khả thi cả về mặt pháp luật; về nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất của cán bộ, công chức… để tăng cường QLNN về ANTT đô thị Hà Nội, có tác dụng phòng ngừa, đấu tranh, kịp thời xử lý hiệu quả các vụ việc, đảm bảo các yêu cầu bảo vệ, giữ vững ANTT trong tình hình mới. 1.4.2. Câu hỏi nghiên cứu Để tăng cường QLNN về ANTT đô thị Hà Nội, nhiệm vụ của luận án
    16. 32. 26 cần tập trung giải đáp một số câu hỏi nghiên cứu sau: – Cơ sở lý luận của QLNN về ANTT đô thị được luận giải như thế nào? Để trả lời được câu hỏi lớn này, cần đặt ra các câu hỏi nhỏ cụ thể là: Quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị là gì? Nội dung quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị? Các bảo đảm nhằm tăng cường quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị? – Thực trạng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội như thế nào? Đánh giá nó đáp ứng như thế nào với các yêu cầu của quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, các yêu cầu của việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và các điều kiện chính trị, kinh tế – xã hội hiện nay? – Các giải pháp cần được áp dụng để tăng cường quản lý nhà nước về an ninh, trật tự đô thị Hà Nội? Cần triển khai ra sao?
    17. 34. 28 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN NINH, TRẬT TỰ ĐÔ THỊ 2.1. Khái niệm an ninh, trật tự đô thị An ninh, trật tự được sử dụng một cách khá phổ biến và là một khái niệm thuộc phạm trù chính trị – pháp lý. Tuy vậy, thực tế cho thấy, mặc dù cùng muốn đề cập đến vấn đề an toàn, yên ổn của một quốc gia trên các phương diện chính trị, kinh tế – xã hội… nhưng trong nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước và một số công trình nghiên cứu, dưới nhiều ngữ cảnh khác nhau, khái niệm an ninh, trật tự được sử dụng bằng các thuật ngữ cụ thể khác nhau. Có tác giả quan niệm an ninh, trật tự là bao hàm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, nhưng cũng có tác giả quan niệm dưới góc độ hẹp hơn, an ninh, trật tự chỉ bao hàm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội… Những cách tiếp cận này thực chất chỉ là cách lý giải cụ thể dưới các góc độ rộng, hẹp khác nhau của một vấn đề. Đảng ta đã có quá trình phát triển tư duy lý luận từng bước làm rõ, bổ sung, phát triển kịp thời qua các nhiệm kỳ đại hội và triển khai trong thực tiễn mọi công việc để đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội IX của Đảng Công sản Việt Nam xác định: “Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc” . Đại hội XII của Đảng tiếp tục xác định: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn
    18. 36. 30 Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa đã khiến nhiều quốc gia có sự thay đổi, phát triển quan niệm về ANQG, hướng đến cách tiếp cận đa chiều, toàn diện hơn. Theo đó, ANQG hiện nay không chỉ là an ninh truyền thống mà gồm cả an ninh phi truyền thống, không chỉ trên bình diện quan hệ đối ngoại giữa các nhà nước mà bao gồm cả những quan hệ trong nội bộ quốc gia, không chỉ gồm an ninh chính trị, quân sự mà gồm cả các nhân tố phi chính trị, phi quân sự. Các mối đe dọa ANQG hiện nay đến từ nhiều yếu tố mang bản chất khác nhau, có thể là chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội hoặc môi trường… ANQG được nhìn nhận như một tổng thể bao gồm các nội dung, lĩnh vực chủ yếu như: An ninh chính trị; an ninh kinh tế; an ninh tư tưởng – văn hóa; an ninh môi trường; an ninh con người… Mỗi quốc gia tùy vào bối cảnh tình hình, điều kiện, trình độ phát triển và thực tiễn đất nước đặt trọng tâm vào các nội dung của ANQG không giống nhau. Các nước đang phát triển thường đặt trọng tâm các nội dung ANQG thiên về hướng đối nội, đặt lợi ích tồn tại của chế độ chính trị ở vị trí trung tâm của ANQG bên cạnh an ninh quân sự. Ở Việt Nam, theo Luật An ninh quốc gia, năm 2004: An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc . Thuật ngữ “trật tự an toàn xã hội” được sử dụng vào những năm 1970, thay cho thuật ngữ “trật tự trị an” trước đó. Thuật ngữ này được sử dụng ngay trong Văn kiện Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1976: “Giáo dục nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho quần chúng nhân dân, phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và trật tự
    19. 37. 31 an toàn xã hội”; Điều 45, Hiến pháp, năm 1992: “Các lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và những thành quả của cách mạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước”; Điều 46, Hiến pháp, năm 2013: “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng”… Quan niệm về trật tự an toàn xã hội qua từng thời kỳ cũng có sự thay đổi. Kết quả của công trình nghiên cứu Từ điển Bách khoa nghiệp vụ Công an, thuộc Viện Chiến lược và Khoa học Công an, Bộ Công an năm 2000 đã đưa ra khái niệm: “Trật tự an toàn xã hội là tình trạng xã hội có tổ chức, có kỷ luật, mọi người được sống yên vui lành mạnh trong xã hội theo quy định bằng các luật lệ của nhà nước, quy phạm của đạo đức, quy phạm của cuộc sống cộng đồng và thuần phong mỹ tục” . Từ sự thống nhất các quan niệm nêu trên, bộ sách Khoa học Công an Việt Nam đã đưa ra khái niệm: Trật tự an toàn xã hội là trạng thái ổn định, có trật tự kỷ cương, được xác lập trên cơ sở các quy định của pháp luật, các giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội được tôn trọng và thừa nhận, mà từ đó mọi người dân có cuộc sống bình yên, quyền và lợi ích hợp pháp không bị xâm hại, mọi hoạt động của nhà nước, tổ chức và cá nhân được thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật” . Điều này phù hợp với nguyên lý phổ biến: Bộ sinh ra để quản lý ngành, lĩnh vực và mỗi việc chỉ nên do một bộ quản lý tránh trùng dẫm trong quản lý nhà nước . Lực lượng Công an tham mưu cho các cấp ủy Đảng và phối hợp với các cơ quan, ban, ngành thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT đô thị. Theo quan điểm từ Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa VIII) yêu cầu: Phân
    20. 41. 35 định trách nhiệm, thẩm quyền giữa các cấp chính quyền theo hướng phân cấp rõ hơn cho địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ… Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng vẫn tiếp tục yêu cầu: Đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương. Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp. Nghiên cứu tổ chức, thẩm quyền của chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo. Theo đó, vấn đề ANTT nói chung và ANTT đô thị nói riêng có những nét chung nhưng không phải là một. Có thể hiểu, an ninh, trật tự đô thị là trạng thái an toàn, ổn định, có trật tự kỷ cương về mọi mặt của xã hội đô thị, được xác lập trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân không bị xâm hại, mọi hoạt động của Nhà nước, tổ chức, cá nhân được thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật, tạo môi trường đô thị phát triển bền vững theo những nguyên tắc nhất định. Trong một chỉnh thể thống nhất không thể tách rời của một quốc gia độc lập có chủ quyền, ANTT đô thị thể hiện mối quan hệ chính trị pháp lý trên hai mặt. Trước hết, đó là việc thiết lập và duy trì sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của các lĩnh vực chính trị, kinh tế – xã hội, văn hóa trên địa bàn đô thị. Đồng thời, phải đảm bảo hiệu lực QLNN từ Trung ương tới cơ sở, đảm bảo tính thống nhất và toàn vẹn của một quốc gia độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Nền tảng của ANTT đô thị là vấn đề an dân, đảm bảo sự đoàn kết nhất trí về chính trị và tinh thần trong nội bộ quần chúng, trong hệ thống chính trị ở đô thị, dưới sự quản lý của Nhà nước. ANTT đô thị lấy xây dựng, phát triển và lành mạnh hóa các quan hệ xã hội làm mục đích, lấy phát triển kinh tế – xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm nền tảng, giữ vững sự ổn định chính trị – xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển về mọi mặt của đô thị, góp phần đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Nhân Sự Tiếng Anh Là Gì? Làm Sao Để Quản Lý Tốt Nhân Viên
  • Phương Pháp Quản Lý Lớp Học Hiệu Quả
  • Cách Quản Lý Trung Tâm Tiếng Anh
  • Học 5 Cách Quản Lý Nhân Sự Của Apple Để Nhân Viên Gắn Bó Với Doanh Nghiệp
  • Chuyên Đề Phương Pháp Quản Trị Và Đánh Giá Hệ Thống Cobit
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×