Top 10 # Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Khiếu Nại Và Tố Cáo Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Sự Khác Nhau Giữa Khiếu Nại Và Tố Cáo

Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Phân biệt giữa “khiếu nại” và “tố cáo”

Khiếu nại và tố cáo đều là các quyền chính trị cơ bản của công dân, được ghi nhận trong văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như Hiến pháp, luật. Khiếu nại và tố cáo là một trong những phương thức thực hiện quyền tự do, dân chủ, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, giảm bức xúc trong nhân dân. Đây cũng là phương thức để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Khiếu nại, tố cáo đều hướng tới bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền.

Tuy nhiên, khiếu nại và tố cáo là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng thường được nhắc đến cùng nhau, trên thực tế đã có không ít trường hợp chưa phân biệt rõ ràng, chính xác thế nào là khiếu nại, thế nào là tố cáo, do đó có đơn thư chứa đựng nội dung cả việc khiếu nại và việc tố cáo đã gây lúng túng trong quá trình giải quyết của cơ quan có thẩm quyền. Việc phân biệt giữa khiếu nại với tố cáo có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp công dân thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo của mình đúng thủ tục và đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo; đồng thời giúp cho cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại, tố cáo nhanh chóng, kịp thời, chính xác, tránh được nhầm lẫn, sai sót trong khi giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Khiếu nại và tố cáo khác nhau ở những điểm cơ bản sau:

ề chủ thể thực hiện khiếu nại, tố cáo: Chủ thể thực hiện quyền khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức khi có căn cứ cho rằng quyền lợi bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước. Cán bộ, công chức có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật đối với họ. Vậy, chủ thể thực hiện khiếu nại có thể là cá nhân, cơ quan hay tổ chức và cá nhân, cơ quan hay tổ chức phải bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc.

Chủ thể thực hiện quyền tố cáo chỉ có thể là cá nhân, một người cụ thể. Cá nhân có quyền tố cáo mọi hành vi vi phạm mà mình biết được, hành vi vi phạm đó có thể tác động trực tiếp hoặc không tác động đến người tố cáo.

về đối tượng của khiếu nại, tố cáo: Đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức. Những quyết định và hành vi này phải tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.

Đối tượng của tố cáo rộng hơn rất nhiều, công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, của mình và của người khác. Như vậy, hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo có thể tác động trực tiếp hoặc không ảnh hưởng gì đến quyền lợi của người tố cáo, nhưng người tố cáo vẫn có quyền tố cáo.

Có thể thấy những quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có biểu hiện trái pháp luật và xâm hại đến quyền và lợi ích của một hoặc một số người nhưng không ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền lợi của người biết về quyết định hành chính, hành vi hành chính đó thì cũng không trở thành đối tượng của khiếu nại mà trong trường hợp này người phát hiện quyết định hành chính, hành vi hành chính đó là trái pháp luật thì có quyền tố cáo.

Ba là, về mục đích của khiếu nại, tố cáo:Mục đích của khiếu nại là nhằm bảo vệ và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại. Còn m ục đích của tố cáo không chỉ để bảo vệ quyền và lợi ích của người tố cáo mà còn để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội và của tập thể, của cá nhân khác và nhằm trừng trị kịp thời, áp dụng các biện pháp nghiêm khắc để loại trừ những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân.

Bốn là, về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người tố cáo: Người khiếu nại có thể tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Người tố cáo phải tự mình (không được uỷ quyền cho người khác) tố cáo hành vi vi phạm pháp luật đến bất kỳ tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước nào.

Người khiếu nại được quyền rút khiếu nại. Người tố cáo không được rút tố cáo và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình, nếu cố ý tố cáo sai sự thật thì phải bồi thường thiệt hại.

Người khiếu nại có quyền khiếu nại lần thứ hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính ra Toà án khi không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại (mà không cần phải có căn cứ cho rằng việc giải quyết khiếu nại không đúng pháp luật). Còn người tố cáo chỉ được tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết chứ không được khởi kiện ra toà án.

Năm là, về thẩm quyền giải quyết:Cơ quan hoặc người có trách nhiệm nhận và giải quyết khiếu nại lần đầu là cơ quan có người thực hiện hành vi hành chính hoặc người đã ra quyết định hành chính. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Cơ quan có trách nhiệm giải quyết tố cáo là cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng nào thì có trách nhiệm giải quyết tố cáo thuộc chức năng của cơ quan đó. Trong trường hợp cơ quan quản lý nhà nước đã tiếp nhận tố cáo nhưng xét thấy trách nhiệm giải quyết tố cáo không thuộc chức năng của cơ quan mình thì phải chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền và thông báo cho người tố cáo biết. Hành vi bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo mà bị tố cáo thì họ không có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của chính bản thân mình. Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo chỉ có quyền giải quyết những đơn tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức mà mình quản lý trực tiếp.

Sáu là về thời hạn giải quyết:Thời hạn giải quyết khiếu nại: căn cứ vào số lần khiếu nại của người khiếu nại. Đối với khiếu nạilần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý và 45 ngày đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn (vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý và không quá 60 ngày, đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn). Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý và không quá 60 ngày đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn (đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý và không quá 70 ngày đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn)

Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý, đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý. Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì không quá 60 ngày.

Bảy là, về bản chất của khiếu nại, tố cáo:Bản chất của khiếu nại là việc người khiếu nại đề nghị người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính, còn bản chất của tố cáo là việc người tố cáo báo cho người có thẩm quyền giải quyết tố cáo biết về hành vi vi phạm pháp luật.

Giải quyết khiếu nại là việc cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại. Trong khi đó, giải quyết tố cáo là việc cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo xác minh, kết luận về nội dung tố cáo (thực tế có hành vi vi phạm pháp luật theo như đơn tố cáo không), để từ đó áp dụng biện pháp xử lý phù hợp với tính chất, mức độ sai phạm của hành vi vi phạm và thông báo cho người tố cáo biết về kết quả giải quyết tố cáo, chứ không ra quyết định giải quyết tố cáo.

So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Quyền Khiếu Nại Và Tố Cáo

So sánh quyền khiếu nại và tố cáo

Khiếu nại và Tố cáo là 2 cụm từ không xa lạ, nhưng rất nhiều người lại nhầm lẫn giữa 2 cụm từ này, dẫn đến việc viết đơn gửi cơ quan chức năng bị sai tiêu đề đơn, làm đơn mất đi giá trị, thậm chí không được xử lý.

Sự khác nhau giữu quyền Khiếu nại và Tố cáo

1.

Khái niệm khiếu nại và tố cáo

Khiếu nại là viêc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm:

a) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

b) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.

2.

So sánh quyền khiếu nại và tố cáo

Nhiều người, khi mới nhắc đến 2 từ này tưởng chừng như nó có ý nghĩ giống nhau. Nhưng thực tế, trong pháp luật, 2 từ này có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Hãy so sánh quyền khiếu lại và tố cáo để thấy sự khác nhau của nó:

Khiếu nại là quyền của công dân, tổ chức, cơ quan, cán bộ, công chức

Thứ nhất, khiếu nại có thể được thực hiện bởi công dân, tổ chức, cơ quan thì tố cáo chỉ được thực hiện bởi công dân. Các cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức không có quyền tố cáo.

Thứ hai, mục tiêu của khiếu lại là đòi lại lợi ích chính đáng, đảm bảo quyền lợi mà chủ thể khiếu nại đáng được có. Mục tiêu của tố cáo là phơi bày các hành vi sai trái, hành vi vi phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Thứ ba, yêu cầu về thông tin khiếu nại và tố cáo. Người đi khiếu nại không phải chịu trách nhiệm nếu như thông tin khiếu nại không đúng sự thật. Người tố cáo sẽ phải chịu trách nhiệm nếu như tố cáo sai sự thật nếu cố tình vì làm ảnh hưởng đến danh dự và nhân phẩm của đối tượng bị tố cáo.

Thứ tư, đối tượng thực hiện của khiếu nại và tố cáo khác nhau. Đối tượng của khiếu nại là các quyết định hành chính, của cơ quan nhà nước, các cán bộ có thẩm quyền. Đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và hành vi vi phạm pháp luật khác về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực

Tố cáo những hành vi sai trái, vi phạm pháp luật

Thứ năm, kết quả và hướng giải quyết. Với khiếu nại, người khiếu nại yêu cầu cần được trả lời về quyền lợi của họ nên cơ quan có thẩm quyền cần phải có câu trả lời chính thức về kết quả khiếu nại và gửi đến cho người khiếu nại. Còn người tố cáo mong muốn quyết định xử lý sai phạm của đối tượng bị tố cáo nên kết quả tố cáo không cần gửi đến người tố cáo khi họ không yêu cầu.

Thứ 6, các trường hợp không thụ lý đơn. Hiện nay chưa có văn bản quy định pháp luật nào quy định về các trường hợp không thụ lý đơn chỉ có các văn bản quy định của tố cáo. Cụ thể, ngư giải quyết tố cáo ra quyết định thụ lý tố cáo khi có đủ các điều kiện sau đây:

– Tố cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật Tố cáo 2018;

– Người tố cáo có đủ năng lực hành vi dân sự; trường hợp không có đủ năng lực hành vi dân sự thì phải có người đại diện theo quy định của pháp luật;

– Vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo;

– Nội dung tố cáo có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật.

Trường hợp tố cáo xuất phát từ vụ việc khiếu nại đã được giải quyết đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng người khiếu nại không đồng ý mà chuyển sang tố cáo người đã giải quyết khiếu nại thì chỉ thụ lý tố cáo khi người tố cáo cung cấp được thông tin, tài liệu, chứng cứ để xác định người giải quyết khiếu nại có hành vi vi phạm pháp luật

Nếu như bạn đang còn băn khoăn về 2 khái niệm trên hoặc có nhu cầu khiếu nại hoặc tố cáo hãy liên hệ đến luật Dragon. Mọi câu hỏi của bạn sẽ được trả lời một cách chi tiết và chính xác nhất. Mọi thông tin xin truy cập website: https://congtyluatdragon.com/ hoặc liên lạc ngay đến Tổng đài theo số 1900.599.979

Phân Biệt Giữa Khiếu Nại Và Tố Cáo 2022

Khiếu nại và tố cáo là hai từ khá quen thuộc trong pháp luật hành chính, không chỉ quen thuộc trong phạm vi pháp luật, mà cuộc sống thường nhật vẫn thường sử dụng chúng, thế nhưng, bản chất của 2 từ này hoàn toàn khác nhau. Làm sao để hiểu rõ thế nào là khiếu nại, thế nào là tố cáo? Trường hợp nào người ta sử dụng từ khiếu nại, trường hợp nào người ta sử dụng từ tố cáo?

Tiêu chí

Khiếu nại

Tố cáo

Chủ thể thực hiện quyền

– Công dân.

– Công dân

– Cơ quan, tổ chức.

– Cán bộ, công chức,

Đối tượng

– Quyết định hành chính.

– Hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

– Hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước.

– Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức.

Khen thưởng

Không có quy định

Được khen thưởng theo Nghị định 76/2012/NĐ-CP với các giải:

– Huân chương Dũng cảm.

– Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

– Bằng khen của các Bộ, cơ quan ngang Bộ…

Riêng với việc tố cáo hành vi tham nhũng còn được xét tặng thưởng với số tiền lên đến 3.45 tỷ đồng theo Thông tư liên tịch 01/2015/TTLT-TTCP-BNV.

Kết quả giải quyết

Quyết định giải quyết.

Xử lý tố cáo

(Nhằm xử lý một thông tin, kết quả xử lý thông tin và giải quyết tố cáo đó có thể sẽ rất khác nhau.

Xử lý tố cáo chỉ được gửi đến người tố cáo chỉ khi họ có yêu cầu)

(Nhằm trả lời cho người khiếu nại về những thắc mắc của họ nên phải ra quyết định giải quyết thể hiện sự đánh giá và trả lời chính thức của cơ quan nhà nước.

Quyết định giải quyết khiếu nại bắt buộc phải được gửi đến người khiếu nại)

Thời hiệu thực hiện

90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Không quy định thời hiệu

15 ngày kể từ ngày cán bộ, công chức, viên chức nhận được quyết định xử lý kỷ luật với trường hợp khiếu nại lần đầu.

Các trường hợp không thụ lý đơn

Không có quy định cụ thể

– Tố cáo về vụ việc đã được người đó giải quyết mà người tố cáo không cung cấp thông tin, tình tiết mới;

– Tố cáo về vụ việc mà nội dung và những thông tin người tố cáo cung cấp không có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật;

– Tố cáo về vụ việc mà người có thẩm quyền giải quyết tố cáo không đủ điều kiện để kiểm tra, xác minh hành vi vi phạm pháp luật, người vi phạm.

Hậu quả pháp lý phát sinh khi rút đơn

Cơ quan nhà nước chấm dứt giải quyết.

Cơ quan nhà nước không chấm dứt xử lý.

Tagged khiếu nạitố cáo

Phân Biệt Quyền Khiếu Nại Và Tố Cáo

Luật Khiếu nại – Tố cáo đã được xây dựng lại, tách riêng thành Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo. Nhưng trên thực tế, đến nay nhiều người vẫn còn chưa phân biệt về quyền khiếu nại và quyền tố cáo. Sự nhầm lẫn này không những gây khó khăn cho người giải quyết, mà còn làm ảnh hưởng quyền hợp pháp của công dân.

Xã hội tiến bộ, mối quan hệ giữa người dân với nhà nước, và các mối quan hệ giữa người dân với nhau ngày càng mở rộng, thì khiếu nại và tố cáo sẽ nhiều hơn. Nhà nước đã xây dựng Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo nhằm tạo hành lang pháp lý cho người dân thực hiện quyền công dân khi thấy lợi ích hợp pháp của mình, của cộng đồng, của nhà nước bị xâm phạm. Văn bản luật đã chia tách khiếu nại và tố cáo, nội dung hai luật đã minh bạch rõ để người dân thực hiện tốt quyền của mình. Tuy nhiên, vẫn còn một số người dân lẫn lộn, đánh đồng giữa hai luật, đã dẫn đến bất cập trong việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Việc người dân không phân biệt rõ giữa khiếu nại và tố cáo được thể hiện rõ trên trên hình thức văn bản, người dân thường dùng tiêu đề “đơn khiếu tố” hoặc ” đơn cứu xét”, thay vì viết rõ theo quy định là “đơn khiếu nại” hay “đơn tố cáo”. Không chỉ nhập nhằng về hình thức, mà nội dung cũng có sự chồng lấn. Vì thế, đã xảy ra tình trạng người dân gửi đơn khiếu nại, tố cáo nhiều nơi mà không đơn vị nào giải quyết dứt điểm, và không ít trường hợp người dân vô ý bị vi phạm pháp luật. Khi người dân còn nhầm lẫn giữa quyền khiếu nại và quyền tố cáo, không những tự làm mất quyền của mình, mà còn làm khó cho cơ quan chức năng, người giải quyết khiếu nại tố cáo.

Vì thế, trước khi thực hiện quyền của mình người dân phải nắm vững kiến thức pháp luật để quyết định khiếu nại hay tố cáo. Điều 2 Luật Khiếu nại đã quy định: Khiếu nại là việc của công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Điều 2 Luật Tố cáo quy định: Tố cáo là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại về lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Như vậy, điểm chung ở đây là người dân có quyền khiếu nại và tố cáo theo luật định. Điểm khác biệt cơ bản là người dân chỉ khiếu nại khi thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm; còn tố cáo thì quyền của công dân rộng hơn. Người dân có quyền tố cáo khi thấy quyền lợi của cá nhân, tổ chức, nhà nước bị hoặc có dấu hiệu bị xâm phạm.

Theo quy định của Luật Khiếu nại cũng như Luật Tố cáo, sau khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo, người giải quyết khiếu nại, tố cáo phải xem xét, làm rõ và ban hành quyết định trả lời khiếu nại, tố cáo. Luật Tố cáo có quy định biện pháp chế tài đối với người tố cáo. Điều 9 Luật Tố cáo quy định, người tố cáo phải bồi thường thiệt hại do hành vi tố cáo sai sự thật của mình gây ra. Quy định này đã buộc người dân suy nghĩ kỹ, cân nhắc trước khi đặt bút ký đơn tố cáo. Người tố cáo sai, gây thiệt hại cho người khác phải chịu bồi thường thiệt hại và có thể sẽ bị xử lý hình sự nếu vi phạm nặng.

TRẦN YÊN