Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tổng Kết Phần Văn Học Sbt Ngữ Văn 10 Tập 2
  • Pod System Là Gì: Tìm Hiểu Chi Tiết Về Vape Pod Cho Người Mới!
  • So Sánh Vape Và Thuốc Lá Thường Cái Nào Hại Hơn
  • Nên Chọn Pod System Hay Vape Khi Hút Thuốc Lá Điện Tử
  • Pod System Và Vape Khác Nhau Như Thế Nào? Nên Hút Loại Nào?
  • Cần xem văn học dân gian và văn học viết là hai loại khác nhau của nghệ thuật ngôn từ nhưng cùng có chung một đối tượng phản ánh là hiện thực xã hội và lịch sử. Vì vậy, mối quan hệ tương tác là một tất yếu khách quan trong đời sống và quá trình phát triển của hai loại hình nghệ thuật này.

    Sự tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết trước hết được nhìn nhận từ nhóm xã hội, nghĩa là từ phía người sáng tác. Nói văn học dân gian là sản phẩm của những người bình dân, văn học viết là sản phẩm của trí thức và những người thuộc tầng lớp trên của xã hội chỉ là một cách nói đại thể và đúng với các thời đại trước. Nhìn tổng quát thì sự tương tác giữa hai loại nghệ thuật ngôn từ này phản ánh sự tương tác giữa hai nhóm xã hội (trước đây thường gọi là tầng lớp hoặc giai cấp) trong quá trình sáng tác. Đó là mối quan hệ giao lưu tự nhiên. Các thành viên của nhóm này chen vào nhóm kia và ngược lại. Ca dao có câu:

    Kinh đô cũng có kẻ rồ

    Thôn quê cũng có sinh đồ trạng nguyên.

    Những người bình dân có thể leo lên những nấc thang cao trong xã hội bằng con đường học hành, thi cử. Ngược lại cũng có nhiều nho sĩ thất thế, về sống trong lòng dân chúng nơi thôn dã. Những “phần tử lạc ngũ” (chữ dùng của V.I. Lênin) thường tạo một sự hòa đồng mới, đem vốn văn học của mình gieo vào mảnh đất chung của những người cùng sống. Do đó giữa văn học dân gian và văn học viết, ranh giới hoàn toàn không rõ ràng. Không ít nhà thơ nhà văn reo rắc văn chương bác học vào môi trường dân gian và cũng không ít các sinh đồ trạng nguyên từ nông thôn reo rắc văn học dân gian vào môi trường bác học.

    Nhìn vào xã hội hiện đại, vấn đề ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết còn mờ nhạt hơn nữa. Một cá nhân trong xã hội đương đại có thể vừa sáng tác văn học viết, lại vừa sáng tác văn học dân gian. Tại những thời điểm khác nhau, anh ta có thể làm hai nhiệm vụ khác nhau về bản chất. Một nhiệm vụ sáng tác nghiêm túc (viết trường ca, truyện ngắn…) để đăng báo, in sách. Tại thời điểm khác, anh ta có thể bông đùa trước bạn bè, ngẫu hứng làm thơ hoặc nghĩ ra một câu chuyện hài hước. Hai loại nghệ thuật ngôn từ đều của cùng một tác giả. Sự tương tác này diễn ra trong cùng một cá nhân sáng tạo. Có điều, khi sáng tác văn học viết, anh ta rất có ý thức về quyền tác giả của mình, còn khi sáng tác văn học dân gian, anh ta không quan tâm, thậm chí cố tình từ chối quyền đó. Điển hình nhất hiện nay là những câu thơ, bài thơ trào phúng, rõ ràng có xuất phát điểm (tác giả) hẳn hoi nhưng khi truyền bá, không ai quan tâm đến tên người sáng tác nữa. Người ta có ý thức quên chứ không phải vô tình. Ngay chính tác giả nhiều khi, để tránh phiền toái, cũng không nhận là cha đẻ của đứa con tinh thần đó nữa.

    Đó chính là cội nguồn của mối tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết.

    Về biểu hiện của mối quan hệ này, có các hình thức cơ bản sau đây:

    Con đò dịch đít sang ngangChắc chắn Bút Tre thật không bao giờ viết như vậy. 1. Hình thức nhại

    Xa xa có một cái làng thò ra

    Hiện tượng nhại còn có đối với cả thơ Tố Hữu, thơ Minh Huệ và một số nhà thơ khác. Chúng tôi ngờ rằng, trong số các bài thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương, có thể có những bài thơ nhại.

    Trong văn học dân gian cổ truyền, hiện tượng nhại diễn ra chủ yếu ở mảng thơ ca trào phúng và trên sân khấu chèo.

    Hình thức nhại đích thực là của văn học dân gian. Chỉ có một chiều nhại: văn học dân gian nhại văn học viết; không có chiều ngược lại: văn học viết nhại văn học dân gian.

    Nhại là một lối sáng tác rất phổ biến trong văn học dân gian. Hoàn toàn không có chuyện văn học dân gian nhại văn học dân gian. Những người làm văn học dân gian không bao giờ nhại nhau. Các trường hợp nhại đều là văn học dân gian nhại văn học viết. Bản thân từ “nhại” cũng mang ý nghĩa hài hước rồi. Văn học nhại là một loại văn học hài hước. Bắt đầu từ sự nghiêm trang trong văn học bác học, văn học dân gian bẻ cong thành một tác phẩm khác, mất đi ý nghĩa đích thực và hoàn toàn mang ý nghĩa trào lộng. Thơ Bút Tre dân gian là hiện tượng tiêu biểu cho văn học nhại. Những bài thơ của Trưởng ty Văn hóa Vĩnh Phú cách đây 40 năm vốn là những bài thơ nghiêm túc, chỉ có điều là hơi nôm na, không được chuyên nghiệp lắm. Những bài thơ nhại Bút Tre tự nhiên phát triển khá nhiều trong những năm 70 của thế kỷ trước. Đại loại có những bài thơ theo lối trần tục hóa như sau:

    2. Hình thức mô phỏng

    Nếu hình thức nhại là của văn học dân gian thì hình thức mô phỏng lại thường là của văn học viết. Các nhà nghiên cứu từng cho rằng đây là những tác phẩm ngụy dân gian. Quả thật, những tác phẩm này, nhiều người rất dễ lầm tưởng là văn học dân gian. Ngay cả các nhà nghiên cứu cũng đã từng lầm tưởng như vậy. Bài thơ “Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương…” mãi sau này mới bị phát hiện ra là của Á Nam Trần Tuấn Khải viết vào đầu thế kỷ XX; câu thơ của Bảo Định Giang “Tháp Mười đẹp nhất bông sen, nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”, nhiều người trước đây đã lầm tưởng là ca dao Nam Bộ; bài thơ “Trên trời mây trắng như bông, ở dưới cánh đồng bông trắng như mây” được gọi là ca dao mới nhưng kỳ thực đó là bài mô phỏng ca dao.

    Hiện tượng mô phỏng văn học dân gian tiêu biểu nhất xảy ra trên thế giới là các trường hợp nhà văn viết truyện cổ tích văn học và truyện ngụ ngôn (Gơrim, L.Tônxtôi, Laphôngten). Trong Kinh Thánh tân ước có rất nhiều truyện ngụ ngôn nhưng đó là văn học bác học mô phỏng truyện ngụ ngôn vốn là một thể loại văn học dân gian.

    Việc đi tìm sự khác nhau giữa tác phẩm dân gian đích thực và tác phẩm mô phỏng dân gian là rất khó khăn, tuy rằng một vài trường hợp có thể phân biệt được (ví dụ: truyện cổ tích văn học thường hay có những đoạn tả cảnh hoặc diễn tả tâm lý nhân vật, còn truyện cổ tích dân gian thì chỉ kể về hành động của nhân vật mà thôi). Thành ra đây là nơi giao thoa, lẫn lộn giữa văn học dân gian và văn học viết.

    3. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học

    Đây là hiện tượng phổ biến, diễn ra theo cả hai chiều, từ dân gian vào bác học và ngược lại. Rất nhiều ngôn từ, điển tích của văn chương bác học đã đi vào dân gian:

    Anh xa em như bến xa thuyền

    Như xa biết mấy niên cho tái hồi

    *

    Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà

    Mối sầu đã ba năm tròn

    Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

    nước chảy vẫn còn trơ trơ.

    Các từ Một nhà sum họp Thuý Kiều, Kim Trọng, tinh đẩu, tào khê lấy từ nguồn văn học bác học.

    Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông.

    *

    Nàng rằng: “Non nước xa khơi,

    Sao cho thì mới

    Dễ lòa yếm thắm, trôn kim,

    Làm chibưng mắt bắt chim khó lòng !

    Đôi ta chút nghĩa ,

    Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh”.

    Ngược lại, rất nhiều ngôn từ nghệ thuật của văn học dân gian đã có mặt trong những tác phẩm văn học viết. Sự tiếp nhận văn học dân gian của văn học viết được xem như là quy luật của lịch sử văn học. Đối với đa số các dân tộc trên thế giới, văn học dân gian bao giờ cũng có trước, văn học viết hình thành sau và được xây dựng trên nền tảng văn học dân gian. Vì vậy, tiếp thu chất liệu của văn học dân gian là hiện tượng phổ biến trong văn học viết. Những tác phẩm văn học viết nổi tiếng, giàu tính dân tộc nhất, thường tiếp thu có sáng tạo nhiều chất liệu từ văn học dân gian. Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du là một ví dụ tiêu biểu:

    Các từ và cụm từ trúc mai, trong ấm ngoài êm, bưng mắt bắt chim, đèo bòng được lấy từ kho tàng thơ ca dân gian người Việt.

    Sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học, dù diễn ra phổ biến, vẫn không làm xoá nhoà ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết. Mỗi tác gia văn học viết đều có ý thức rõ ràng rằng mình sử dụng chất liệu văn học dân gian để làm gì và sử dụng như thế nào. Sự có mặt của chất liệu văn học dân gian trong các tác phẩm văn học viết làm cho các tác phẩm này gần gũi với dân gian nhưng không làm biến chất bác học. Cũng như vậy, không vì mang trong mình chất liệu văn học viết mà văn học dân gian bị biến đổi bản chất của mình. Chúng ta có thể lấy Tam quốc chí và Tây du ký, hai tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng của Trung Quốc làm ví dụ. Những mẩu chuyện trong hai tác phẩm nổi tiếng này vốn từ lâu được kể trong dân gian bởi các thuyết thoại nhân (những người chuyên đi kể chuyện ở ngoài chợ hoặc trên đường phố để kiếm ăn). Tập hợp những mẩu chuyện rời rạc để thành tiểu thuyết chương hồi là công lao to lớn của La Quán Trung và Ngô Thừa Ân. Toàn bộ chất liệu dân gian được hai nhà văn thời Minh Thanh nhào nặn, tạo nên những tác phẩm văn học viết đích thực, không phải là dân gian nữa.

    Đèn tà thấp thoáng bóng trăng,Thuở sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu đã từng ca ngợi bài ca dao: lời thơ không kém gì thơ Kiều. Phong cách bác học của bài ca dao thể hiện khá rõ, có thể lẫn với văn học viết nếu người đọc không biết rõ xuất xứ của nó. 4. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về phong cách

    Ai đem người ngọc thung thăng chốn này.

    Hiện tượng văn học viết mang phong cách dân gian thì có nhiều. Tiêu biểu nhất trong nền thơ ca Việt nam, có lẽ là Nguyễn Bính. Thơ ông tràn đầy phong cách dân gian:

    Đây là hình thức tương tác cao nhất giữa văn học dân gian và văn học viết. Hình thức này tạo ra một chất lượng mới trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ.

    Phong cách là chất lượng. Các nhà văn, nhà thơ trẻ chưa thể tạo cho mình một phong cách. Chỉ những tác gia văn học có tài năng mới định hình được về phong cách. Vì vậy, phong cách cũng là bản lĩnh của tác giả thể hiện qua tác phẩm. Văn học dân gian không có phong cách tác giả nhưng có phong cách thể loại.

    Sự thâm nhập lẫn nhau về phong cách cũng diễn ra theo hai chiều như sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học. Tuy nhiên, ở đây, chiều dân gian vào bác học mạnh hơn là chiều từ bác học vào dân gian. Thật khó tìm những tác phẩm văn học dân gian mang phong cách bác học. Những trường hợp như bài ca dao sau đây không nhiều trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam:

    Giếng thơi mưa ngập nước tràn,

    Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều.

    Nhà em cách bốn quả đồi,

    Cách ba ngọn núi, cách đôi cánh rừng,

    Nhà em xa cách quá chừng,

    Em van anh đấy, anh đừng yêu em.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết Trong Lịch Sử Văn Học Dân Tộc
  • Các Hình Thức Tương Tác Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết
  • Chuẩn Usb 2.0 Và Usb 3.0 Khác Nhau Ở Chỗ Nào?
  • Usb 2.0 Và Usb 3.0 Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Sự Khác Biệt Giữa Usb 1.1, Usb 2.0 Và Usb 3.0 Là Gì?
  • Những Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Hình Thức Tương Tác Cơ Bản Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết
  • Sự Khác Biệt Giữa Vận Tốc Và Gia Tốc
  • So Sánh Romio Plus Và Juli Pod, Pod Nào Tốt Hơn?
  • Đánh Giá Chi Tiết & So Sánh Orion Dna Go Và Orchid, Asvape
  • So Sánh Nicotine Vape Và Thuốc Lá
  • Văn học dân gian và văn học viết là 2 bộ phận cấu thành nền văn học dân tộc.Chương trình ngữ văn THCS ở lớp 6 và lớp 7 đều được học cả văn học cả văn học dân gian và văn học viết. Để giúp các em phân biệt rõ 2 bộ phận văn học này, tôi rút ra 1 số điểm giống và khác nhau như sau :

    1 Giống nhau

    Cả hai bộ phận văn học dân gian và văn học viết đều nhận thức và phản ánh cuộc sống của con người bằng hình tượng. Nghĩa là người sáng tác thông qua việc xây dựng các hình tượng nghệ thuật để tái hiện hiện thực cuôc sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm, ước mơ, khát vọng của con người. Con người là trung tâm trong bức tranh đời sống văn học.

    .2 Khác nhau

    Khách quan mà nói, so với văn học viết, văn học dân gian có những ưu thế riêng trong việc thỏa mãn nhu cầu tinh thần, nhu cầu tình cảm, thể hiện tâm tư, nguyện vọng của đa số quần chúng nhân dân. Người bình dân có thể sáng tác một truyện cổ tích, một bài ca dao ở mọi nơi mọi lúc (trên đồng ruộng, bên mái đình, đêm trăng thanh… ) . Quá trình sáng tác diễn ra rất nhanh, theo lối ứng tác. Quá trình sáng tác và lưu truyền của văn học dân gian không bị cản trở bởi sự kiểm duyệt nào. Và lại, là những sáng tác khuyết danh, phản ánh đời sống tình cảm của người bình dân đúng như nó vốn có, Văn học dân gian vì thế phát huy được tối đa tinh thần dân chủ. Văn học dân gian được lưu truyền và phổ biến nhanh, có sức cộng hưởng lớn trong quần chúng nhân dân.

    Ngôn ngữ văn học dân gian có sự kết hợp với các yếu tố ngoài văn bản, gắn liền với môi trường diễn xướng dân gian nên đạt hiệu quả giao tiếp cao. Ngôn ngữ văn học dân gian mộc mạc, chất phác, tự nhiên. Tác phẩm thường được sáng tác theo môtip, công thức có sẵn, Người bình dân không cần dồn hết năng lực vào việc sáng tác văn bản. Trong khi ngôn ngữ văn học viết gọt giũa, sử dụng nhiều biện pháp tu từ, được người sáng tác cẩn thận từng “miligam quặng chữ”. Do “cách mặt khuất lời’, lại là sản phẩm của một cá nhân nên ngôn ngữ văn học viết được pha màu theo cách riêng, sự sáng tạo của nhà văn, nhà thơ được thể hiện ở sự mới lạ về kết cấu, cốt truyện…

    Văn học dân gian thường có phương diện phê phán, hài hước, khác với văn học viết có quan tâm đến tầng lớp dưới, nhưng chủ yếu hướng đến tầng lớp trên, thẩm định các giá trị nhân văn của con người.

    Nhân vật trong văn học dân gian có tính phổ biến, tiêu biểu cho một kiểu người, loại người. Trong khi đó nhân vật văn học viết là những sáng tạo có tính cá thể, “điển hình hóa’.

    Thể loại văn học dân gian khá đa dạng trong thể loại do cùng cấu trúc thẩm mĩ. Văn học viết lại khác, cùng đề tài nhưng khác xa về cấu trúc thẩm mĩ. Không gian, thời gian, nhân vật, cốt truyện trong văn học viết là cá biệt, cụ thể. Trong khi đó, văn học dân gian lại phiếm chỉ, tương đồng.

    Văn học dân gian ra đời đầu tiên,tiếp tục tồn tại sau khi có chữ viết và phát triển cho tới ngày nay là nhờ 1 phần quan trọng của chính dòng văn học này. Văn học dân gian có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển văn học viết học viết.Vai trò của văn học dân gian với văn học viết như thế nào cũng là 1 vấn đề mở để chúng ta cùng tìm hiểu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Nền Giáo Dục Uk Và Us
  • Nghe Nhạc Lâu Năm Nhưng Bạn Đã Biết Tới Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Kpop Và Us
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Usb 2.0 Và 3.0
  • Làm Thế Nào Bạn Có Thể Biết Sự Khác Biệt Giữa Cổng Usb 2.0 Và Usb 3.0?
  • Sự Khác Biệt Giữa Usb 2.0 Và Usb 3.0 Là Gì
  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết Trong Lịch Sử Văn Học Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết
  • Soạn Bài Tổng Kết Phần Văn Học Sbt Ngữ Văn 10 Tập 2
  • Pod System Là Gì: Tìm Hiểu Chi Tiết Về Vape Pod Cho Người Mới!
  • So Sánh Vape Và Thuốc Lá Thường Cái Nào Hại Hơn
  • Nên Chọn Pod System Hay Vape Khi Hút Thuốc Lá Điện Tử
  • ♦ ♦ ♦

    Đúng là chưa bao giờ văn học dân gian cổ truyền của dân tộc lại sống dậy huy hoàng và được nhận thức sâu sắc về giá trị và vai trò của nó như trong thời đại ngày nay.Trong những thành tựu hiện đại về việc nghiên cứu văn học dân gian cổ truyền của dân tộc, có một luận điểm khoa học cực kỳ quan trọng được nhiều người thừa nhận là: chính văn học dân gian là nền tảng của sự phát triển, kết tinh của nền văn học dân tộc. Luận điểm này vừa là sự khẳng định vai trò của văn học dân gian, vừa là điều cốt lọi nhất khi nói về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết,vừa là phương pháp luận đối với việc nghiên cứu lịch sử văn học dân tộc nói chung. Luận điểm này xét đến cùng là dựa trên qui luật cơ bản về vai trò của nhân dân Việt Nam trong lịch sử Việt Nam mà cũng đến thời đại cách mạng đã thành công, quan điểm nhân dân làm chủ đất nước đã trổi dậy với tính chất chính thống, đặc biệt là trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước vừa qua mới như được phát hiện lại, nhận thức lại một cách đầy đủ hơn. Dĩ nhiên nó còn phải được tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn trong tương lai. Trước thời đại cách mạng thành công, một số vị thức giả như Võ Liêm Sơn(1), Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Trọng Thuật(2)… đã nêu cao vai trò “tảng móng, tinh tuý của văn học dân gian đối với nền quốc học của ta”. Nhưng những ý kiến quí báu đó lại đang ở trạng thái trực cảm, chưa được nâng lên trình độ phân tích lý luận và do đó chính các tác giả của nó cũng chưa hình dung được thật rõ những điều mình nói. Còn với chúng ta hôm nay, muốn vượt qua giai đoạn nhận thức trực cảm để tiến vào giai đoạn nhận thức lý tính, phải có lý luận khoa học hỗ trợ, mặc dù công việc nhận thức lý tính này tự nó cũng lại phải có một quá trinh từ thấp lên cao. Nói vậy để thấy công tác lý luận ở phương diện này là đang cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Có như thế, luận điểm khoa học nói trên mới có khả năng được quán triệt trong công việc nghiên cứu văn học dân tộc một cách sâu sắc và cụ thể. Ví như với Truyện Kiều chẳng hạn. Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã nói đến mối quan hệ giữa Truyện Kiều với văn học dân gian. Nhưng từ chỗ chỉ giới hạn mối quan hệ đó trong phạm vi một số yếu tố nghệ thuật là thể tài lục bát và thành ngữ tục ngữ… như lâu nay vẫn thấy đến chỗ kết luận rằng: Truyện Kiều đã kết tinh trên cơ sở văn học dân gian(3) quả là một điều hoàn toàn không đơn giản bởi nó đã thay đổi chất lượng của sự nhận thức, có thể nói là thay đổi qui mô của vấn đề. Chúng ta sẽ cố gắng góp phần vào việc giải quyết yêu cầu trên bằng cách làm sáng rõ hơn mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết để từ đó xác định rõ hơn vai trò làm nền của văn học dân gian trong lịch sử văn học dân tộc.

    Khi nói đến vai trò làm nền của văn học dân gian trong lịch sử văn học dân tộc, chúng ta dễ nghĩ ngay đến bộ phận văn học dân gian ra đời có thể nói là cùng với sự ra đời của lịch sử dân tộc và tồn tại, phát triển trong một thời gian dài trước khi có văn học viết. Bộ phận văn học dân gian nguyên thuỷ này bao gồm chủ yếu là các thể loại thần thoại, thần thoại pha truyền thuyết, truyền thuyết, truyền thuyết pha thần thoại ,truyện cổ, dân ca cổ, ca dao tục ngữ cổ.. .chắc đã bị mai một đi không ít trong thời gian, nhưng gần đây với sự hỗ trợ tích cực của những thành tựu khoa học lịch sử như dân tộc học lịch sử, ngôn ngữ học lịch sử, đặc biệt là khảo cổ học, nó đang được sưu tầm lại ngày một phong phú, bề thế. Từ đó vấn đề cần kết luận là: chính kho tàng văn học dân gian sơ khai, nguyên thuỷ đó đã là nền tảng vững chãi, đã là ngọn nguồn trong mát đầu tiên của lịch sử văn học dân tộc. Vấn đề tiếp theo ở đây là làm sao miêu tả, chứng minh, khôi phục lại được dấu vết cụ thể của văn học dân gian nguyên thuỷ từng tồn tại và chi phối, từng làm cơ sở kết tinh tư tưởng thẩm mỹ trong nền văn học viết ra đời và phát triển về sau. Chắc chắn là có trạng thái đơn giản, trực tiếp dễ thấy, có trạng thái tinh vi, phức tạp, gián tiếp khó thấy hơn nhưng chưa hẳn đã kém quan trọng hơn. Thật ra ở đây cũng không thể hiểu vấn đề vai trò của văn học dân gian nguyên thuỷ đối vơí nền văn học viết về sau một cách hẹp hòi theo hướng hạn chế nội hàm của khái niệm văn học dân gian chỉ còn lại là những văn bản được ghi chép lại như là cái bóng của một hình thức vốn tồn tại như một cơ thể sống và có quan hệ chằng chịt,gắn bó với nhiều hình thái của văn hoá sơ khai như trò chơi,lễ hội,kể cả phong tục.

    Tóm lại, tình hình văn tự như trên vừa nói chính là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh qui luật: trong lịch sử văn học Việt Nam, sau khi đã có văn học viết ra đời, văn học dân gian vẫn tiếp tục tồn tại, phát triển và do đó vẫn tiếp tục đóng vai trò làm nền cho sự phát triển và kết tinh của văn học viết. Tuy nhiên để cho quan điểm “làm nền” này được triển khai thực sự, lại còn phải làm sáng tỏ một loạt vấn đề sau đây:

    • Nội hàm có tính lịch sử cụ thể của khái niệm bình dân (hoặc dân chúng, hoặc quần chúng, hoặc nhân dân lao động) là gì?
    • Vai trò của trí thức bình dân có hay không trong việc sáng tác văn học dân gian? Có ở mức độ nào trong tương quan với vai trò của quần chúng lao động?
    • Những trí thức khác không thuộc trí thức bình dân liệu có vai trò gì trong việc sáng tác văn học dân gian?

    Chúng ta vẫn bắt gặp tình trạng nói tác giả văn học dân gian là bình dân, là quần chúng lao động… nhưng bỏ không giới thuyết nội hàm khái niệm hoặc có giới thuyết thì lại chưa chú ý đầy đủ đến tính lịch sử cụ thể của nội hàm khái niệm. Trong bài ” Để có thể nắm bắt được thực chất của văn học dân gian”, tác giả Đinh Gia Khánh đã cố gắng giới thuyết chu đáo và phù hợp với thực tiễn sinh động hơn. Tuy vậy, sự chú ý của ông cũng đang tập trung ở phạm vi thời đại phong kiến mà chưa chú ý đến những thời “tiền phong kiến”, “hậu phong kiến” cũng như nội dung lịch sử cụ thể của khái niệm “các tầng lớp dân chúng” trong đó có vai trò của tầng lớp trí thức bình dân như thế nào.

    – Dùng chữ quốc ngữ để sưu tầm ghi chép văn học dân gian. Công việc này bắt đầu với Trương Vĩnh Ký từ nửa sau thế kỷ XIX bằng các tác phẩm như Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, được tiếp tục với một số người ở nửa đầu thế kỷ XX như Nguyễn Văn Ngọc (ví dụ Truyện cổ nước Nam, Đông Tây ngụ ngôn, Để mua vui). Đặc biệt từ sau 1954 thì công việc này đã đạt tới những thành tựu bề thế chưa từng có. Trong lịch sử Việt Nam chưa bao giờ văn học dân gian bao gồm văn học dân gian của người Kinh, đặc biệt là văn học dân gian của các dân tộc ít người lại được sưu tầm,thành văn hoá như trong thời đại ngày nay do có chữ quốc ngữ nhưng quan trọng hơn là do ý thức của con người một khi đã tự giác sâu sắc về kho báu văn học dân gian.

    – Khai thác kho tàng văn học dân gian trong khi sáng tác văn học hiện đại. Điều này thể hiện rõ ở hai hình thức sau: a) Tìm nguồn cảm hứng cho thơ ca bằng cách đưa thơ ca trở về tắm mát trong suối dân ca. Phong dao trong thơ ca Tản Đà, Trần Tuấn Khải… là tiêu biểu cho hai hiện tượng phôncơloricphôncơloridê trong mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian. b) Viết tiểu thuyết huyền thoại và tiểu thuyết lịch sử bằng cách khai thác nguồn dạ sử vốn là sản phẩm thuộc phạm trù văn học dân gian. Tiểu thuyết Qủa dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật, hầu hết các tiểu thuyết lịch sử ở nửa đầu thế kỷ XX tiêu biểu là của Nguyễn Tử Siêu, đã nói lên điều đó. Hiện tượng này sẽ được tiếp tục trong tình hình văn học sau ngày cách mạng thành công.

    ♦♦♦

    Cuối cùng, một vấn đề nữa cũng có thể đặt ra để suy nghĩ là trong nền văn học Việt Nam hiện đại, mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian là thế nào? Văn học dân gian có còn đóng vai trò làm nền kết tinh cho văn học viết nữa không? Qủa thật đây cũng lại là một vấn đề rất thú vị, nhưng rất phức tạp. Bởi lẽ chung quanh vấn đề có hay không có văn học dân gian trong thời hiện đại, và nếu có thì việc đánh giá nó thế nào đã là có chuyện tranh chấp nhau khá gay gắt, thậm chí có thể qui kết nhau khá nặng nề. Không phải không có người đã cho rằng duới chế độ mới mà nhân dân được làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ đất nước trong đó có sự làm chủ về văn hoá thì còn gì phải có văn học dân gian. Nếu có thì đó chỉ là tiếng nói phản động cần lên án, cần loại bỏ. Đây là cách nói của một vài người trên báo chí mà trong bối cảnh xã hội một thời, nó dường như là tiếng nói chính thống do đó không phải không có người đồng tình, ít ra thì cũng không dám phản bác. Đến hôm nay thì chắc là không ai nghĩ đơn giản và thô thiển như thế nữa một khi đã thấy sự có mặt của văn học dân gian hiện đại dưới hình thức ca dao hò vè, nhất là giai thoại, truyện kể với đủ nội dung trong đó có cả nội dung chọc trời, nói là táo bạo cũng được, nói là trắng trợn được. Có điều là dường như với các nhà nghiên cứu văn học dân gian vẫn chưa hết ngợp trước hiện tượng vốn dĩ nhạy cảm, phức tạp đó. Cho nên ở đây cũng khó nói được gì hơn. Nhưng vẫn có thể nghĩ rằng, gì thì gì, mối quan hệ giữa văn học dân gian (nếu có thừa nhận) với văn học viết trong thời hiện đại này về cơ bản đã khác trước. Bởi trong thời hiện đại này, dù còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, nhưng không có nghĩa là nhân dân chưa làm chủ được gì trong cuộc sống nói chung, trong văn hoá,văn học nói riêng. Từ thực tế đó, sẽ có sự hoà quyện giữa văn học của mọi tầng lớp nhân dân trong một đất nước. Và như thế thiết tưởng cũng khó nói đến cái gọi là vai trò làm nền của văn học dân gian đối với nền văn học viết như ở các thời đại trước.

    Chú thích:

    1. Xem: Văn hoá và xã hội, viết 1927, in 1934. In lại trong Hợp tuyển văn học Việt Nam (1920-1945). Tập V-quyển I, Văn học,1987, tr 397-402.
    2. Xem: Việt Nam tổ quốc tuý ngâm, xuất bản 1932.
    3. Xem: Vai trò của văn học dân gian trong văn học Việt Nam nói chung trong Truyện Kiều nói riêng-Nguyễn Khánh Toàn- Tạp chí văn học số tháng 11-1965.
    4. Còn có loại chữ ” Thập châu” được Vương Duy Trinh ghi lại trong Thanh hoá quan phong mà theo Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử“chữ viết đời thượng cổ”. Về hiện tượng này cần nghiên cứu thêm.
    5. Có người tính từ thế kỷ 2-3 sau công nguyên.
    6. Xem Văn minh tân học sách của Đông kinh nghĩa thục.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Hình Thức Tương Tác Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết
  • Chuẩn Usb 2.0 Và Usb 3.0 Khác Nhau Ở Chỗ Nào?
  • Usb 2.0 Và Usb 3.0 Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Sự Khác Biệt Giữa Usb 1.1, Usb 2.0 Và Usb 3.0 Là Gì?
  • Phân Biệt Sổ Đỏ Và Sổ Hồng Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Các Hình Thức Tương Tác Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết Trong Lịch Sử Văn Học Dân Tộc
  • Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết
  • Soạn Bài Tổng Kết Phần Văn Học Sbt Ngữ Văn 10 Tập 2
  • Pod System Là Gì: Tìm Hiểu Chi Tiết Về Vape Pod Cho Người Mới!
  • So Sánh Vape Và Thuốc Lá Thường Cái Nào Hại Hơn
  • Cần xem văn học dân gian và văn học viết là hai loại khác nhau của nghệ thuật ngôn từ nhưng cùng có chung một đối tượng phản ánh là hiện thực xã hội và lịch sử. Vì vậy, mối quan hệ tương tác là một tất yếu khách quan trong đời sống và quá trình phát triển của hai loại hình nghệ thuật này.

    Sự tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết trước hết được nhìn nhận từ nhóm xã hội, nghĩa là từ phía người sáng tác. Nói văn học dân gian là sản phẩm của những người bình dân, văn học viết là sản phẩm của trí thức và những người thuộc tầng lớp trên của xã hội chỉ là một cách nói đại thể và đúng với các thời đại trước. Nhìn tổng quát thì sự tương tác giữa hai loại nghệ thuật ngôn từ này phản ánh sự tương tác giữa hai nhóm xã hội (trước đây thường gọi là tầng lớp hoặc giai cấp) trong quá trình sáng tác. Đó là mối quan hệ giao lưu tự nhiên. Các thành viên của nhóm này chen vào nhóm kia và ngược lại. Ca dao có câu:

    Kinh đô cũng có kẻ rồ

    Thôn quê cũng có sinh đồ trạng nguyên.

    Những người bình dân có thể leo lên những nấc thang cao trong xã hội bằng con đường học hành, thi cử. Ngược lại cũng có nhiều nho sĩ thất thế, về sống trong lòng dân chúng nơi thôn dã. Những “phần tử lạc ngũ” (chữ dùng của V.I. Lênin) thường tạo một sự hòa đồng mới, đem vốn văn học của mình gieo vào mảnh đất chung của những người cùng sống. Do đó giữa văn học dân gian và văn học viết, ranh giới hoàn toàn không rõ ràng. Không ít nhà thơ nhà văn reo rắc văn chương bác học vào môi trường dân gian và cũng không ít các sinh đồ trạng nguyên từ nông thôn reo rắc văn học dân gian vào môi trường bác học.

    Nhìn vào xã hội hiện đại, vấn đề ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết còn mờ nhạt hơn nữa. Một cá nhân trong xã hội đương đại có thể vừa sáng tác văn học viết, lại vừa sáng tác văn học dân gian. Tại những thời điểm khác nhau, anh ta có thể làm hai nhiệm vụ khác nhau về bản chất. Một nhiệm vụ sáng tác nghiêm túc (viết trường ca, truyện ngắn…) để đăng báo, in sách. Tại thời điểm khác, anh ta có thể bông đùa trước bạn bè, ngẫu hứng làm thơ hoặc nghĩ ra một câu chuyện hài hước. Hai loại nghệ thuật ngôn từ đều của cùng một tác giả. Sự tương tác này diễn ra trong cùng một cá nhân sáng tạo. Có điều, khi sáng tác văn học viết, anh ta rất có ý thức về quyền tác giả của mình, còn khi sáng tác văn học dân gian, anh ta không quan tâm, thậm chí cố tình từ chối quyền đó. Điển hình nhất hiện nay là những câu thơ, bài thơ trào phúng, rõ ràng có xuất phát điểm (tác giả) hẳn hoi nhưng khi truyền bá, không ai quan tâm đến tên người sáng tác nữa. Người ta có ý thức quên chứ không phải vô tình. Ngay chính tác giả nhiều khi, để tránh phiền toái, cũng không nhận là cha đẻ của đứa con tinh thần đó nữa.

    Đó chính là cội nguồn của mối tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết.

    Về biểu hiện của mối quan hệ này, có các hình thức cơ bản sau đây: 1. Hình thức nhại

    Nhại là một lối sáng tác rất phổ biến trong văn học dân gian. Hoàn toàn không có chuyện văn học dân gian nhại văn học dân gian. Những người làm văn học dân gian không bao giờ nhại nhau. Các trường hợp nhại đều là văn học dân gian nhại văn học viết. Bản thân từ “nhại” cũng mang ý nghĩa hài hước rồi. Văn học nhại là một loại văn học hài hước. Bắt đầu từ sự nghiêm trang trong văn học bác học, văn học dân gian bẻ cong thành một tác phẩm khác, mất đi ý nghĩa đích thực và hoàn toàn mang ý nghĩa trào lộng. Thơ Bút Tre dân gian là hiện tượng tiêu biểu cho văn học nhại. Những bài thơ của Trưởng ty Văn hóa Vĩnh Phú cách đây 40 năm vốn là những bài thơ nghiêm túc, chỉ có điều là hơi nôm na, không được chuyên nghiệp lắm. Những bài thơ nhại Bút Tre tự nhiên phát triển khá nhiều trong những năm 70 của thế kỷ trước. Đại loại có những bài thơ theo lối trần tục hóa như sau:

    Con đò dịch đít sang ngang

    Xa xa có một cái làng thò ra

    Chắc chắn Bút Tre thật không bao giờ viết như vậy.

    Hiện tượng nhại còn có đối với cả thơ Tố Hữu, thơ Minh Huệ và một số nhà thơ khác. Chúng tôi ngờ rằng, trong số các bài thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương, có thể có những bài thơ nhại.

    Trong văn học dân gian cổ truyền, hiện tượng nhại diễn ra chủ yếu ở mảng thơ ca trào phúng và trên sân khấu chèo.

    Hình thức nhại đích thực là của văn học dân gian. Chỉ có một chiều nhại: văn học dân gian nhại văn học viết; không có chiều ngược lại: văn học viết nhại văn học dân gian.

    2. Hình thức mô phỏng

    Nếu hình thức nhại là của văn học dân gian thì hình thức mô phỏng lại thường là của văn học viết. Các nhà nghiên cứu từng cho rằng đây là những tác phẩm ngụy dân gian. Quả thật, những tác phẩm này, nhiều người rất dễ lầm tưởng là văn học dân gian. Ngay cả các nhà nghiên cứu cũng đã từng lầm tưởng như vậy. Bài thơ “Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương…” mãi sau này mới bị phát hiện ra là của Á Nam Trần Tuấn Khải viết vào đầu thế kỷ XX; câu thơ của Bảo Định Giang “Tháp Mười đẹp nhất bông sen, nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”, nhiều người trước đây đã lầm tưởng là ca dao Nam Bộ; bài thơ “Trên trời mây trắng như bông, ở dưới cánh đồng bông trắng như mây” được gọi là ca dao mới nhưng kỳ thực đó là bài mô phỏng ca dao.

    Hiện tượng mô phỏng văn học dân gian tiêu biểu nhất xảy ra trên thế giới là các trường hợp nhà văn viết truyện cổ tích văn học và truyện ngụ ngôn (Gơrim, L.Tônxtôi, Laphôngten). Trong Kinh Thánh tân ước có rất nhiều truyện ngụ ngôn nhưng đó là văn học bác học mô phỏng truyện ngụ ngôn vốn là một thể loại văn học dân gian.

    Việc đi tìm sự khác nhau giữa tác phẩm dân gian đích thực và tác phẩm mô phỏng dân gian là rất khó khăn, tuy rằng một vài trường hợp có thể phân biệt được (ví dụ: truyện cổ tích văn học thường hay có những đoạn tả cảnh hoặc diễn tả tâm lý nhân vật, còn truyện cổ tích dân gian thì chỉ kể về hành động của nhân vật mà thôi). Thành ra đây là nơi giao thoa, lẫn lộn giữa văn học dân gian và văn học viết.

    3. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học

    Đây là hiện tượng phổ biến, diễn ra theo cả hai chiều, từ dân gian vào bác học và ngược lại. Rất nhiều ngôn từ, điển tích của văn chương bác học đã đi vào dân gian:

    Anh xa em như bến xa thuyền

    Như Thuý Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi

    *

    Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà

    Mối sầu tinh đẩu đã ba năm tròn

    Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

    Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.

    Các từ Thuý Kiều, Kim Trọng, tinh đẩu, tào khê lấy từ nguồn văn học bác học.

    Ngược lại, rất nhiều ngôn từ nghệ thuật của văn học dân gian đã có mặt trong những tác phẩm văn học viết. Sự tiếp nhận văn học dân gian của văn học viết được xem như là quy luật của lịch sử văn học. Đối với đa số các dân tộc trên thế giới, văn học dân gian bao giờ cũng có trước, văn học viết hình thành sau và được xây dựng trên nền tảng văn học dân gian. Vì vậy, tiếp thu chất liệu của văn học dân gian là hiện tượng phổ biến trong văn học viết. Những tác phẩm văn học viết nổi tiếng, giàu tính dân tộc nhất, thường tiếp thu có sáng tạo nhiều chất liệu từ văn học dân gian. Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du là một ví dụ tiêu biểu:

    Một nhà sum họp trúc mai

    Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông.

    *

    Nàng rằng: “Non nước xa khơi,

    Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.

    Dễ lòa yếm thắm, trôn kim,

    Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng !

    Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,

    Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh”.

    Các từ và cụm từ trúc mai, trong ấm ngoài êm, bưng mắt bắt chim, đèo bòng được lấy từ kho tàng thơ ca dân gian người Việt.

    Sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học, dù diễn ra phổ biến, vẫn không làm xoá nhoà ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết. Mỗi tác gia văn học viết đều có ý thức rõ ràng rằng mình sử dụng chất liệu văn học dân gian để làm gì và sử dụng như thế nào. Sự có mặt của chất liệu văn học dân gian trong các tác phẩm văn học viết làm cho các tác phẩm này gần gũi với dân gian nhưng không làm biến chất bác học. Cũng như vậy, không vì mang trong mình chất liệu văn học viết mà văn học dân gian bị biến đổi bản chất của mình. Chúng ta có thể lấy Tam quốc chí và Tây du ký, hai tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng của Trung Quốc làm ví dụ. Những mẩu chuyện trong hai tác phẩm nổi tiếng này vốn từ lâu được kể trong dân gian bởi các thuyết thoại nhân (những người chuyên đi kể chuyện ở ngoài chợ hoặc trên đường phố để kiếm ăn). Tập hợp những mẩu chuyện rời rạc để thành tiểu thuyết chương hồi là công lao to lớn của La Quán Trung và Ngô Thừa Ân. Toàn bộ chất liệu dân gian được hai nhà văn thời Minh Thanh nhào nặn, tạo nên những tác phẩm văn học viết đích thực, không phải là dân gian nữa.

    4. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về phong cách

    Đây là hình thức tương tác cao nhất giữa văn học dân gian và văn học viết. Hình thức này tạo ra một chất lượng mới trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ.

    Phong cách là chất lượng. Các nhà văn, nhà thơ trẻ chưa thể tạo cho mình một phong cách. Chỉ những tác gia văn học có tài năng mới định hình được về phong cách. Vì vậy, phong cách cũng là bản lĩnh của tác giả thể hiện qua tác phẩm. Văn học dân gian không có phong cách tác giả nhưng có phong cách thể loại.

    Sự thâm nhập lẫn nhau về phong cách cũng diễn ra theo hai chiều như sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học. Tuy nhiên, ở đây, chiều dân gian vào bác học mạnh hơn là chiều từ bác học vào dân gian. Thật khó tìm những tác phẩm văn học dân gian mang phong cách bác học. Những trường hợp như bài ca dao sau đây không nhiều trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam:

    Đèn tà thấp thoáng bóng trăng,

    Ai đem người ngọc thung thăng chốn này.

    Thuở sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu đã từng ca ngợi bài ca dao: lời thơ không kém gì thơ Kiều. Phong cách bác học của bài ca dao thể hiện khá rõ, có thể lẫn với văn học viết nếu người đọc không biết rõ xuất xứ của nó.

    Hiện tượng văn học viết mang phong cách dân gian thì có nhiều. Tiêu biểu nhất trong nền thơ ca Việt nam, có lẽ là Nguyễn Bính. Thơ ông tràn đầy phong cách dân gian:

    Giếng thơi mưa ngập nước tràn,

    Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều.

    *

    Nhà em cách bốn quả đồi,

    Cách ba ngọn núi, cách đôi cánh rừng,

    Nhà em xa cách quá chừng,

    Em van anh đấy, anh đừng yêu em.

    Có thể nói, sự thâm nhập của phong cách dân gian vào thơ Nguyễn Bính không diễn ra trên bình diện vay mượn chất liệu thơ ca mà là sự đồng điệu với tâm hồn dân tộc của nhà thơ. Chỉ có thực sự uống nước từ nguồn mạch dân gian và tắm mình trong nguồn mạch ấy, thơ Nguyễn Bính mới có được phong cách như vậy.

    Những tác gia văn học khác cũng có nhiều câu mang phong cách dân gian, mặc dù không phải toàn bộ tác phẩm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuẩn Usb 2.0 Và Usb 3.0 Khác Nhau Ở Chỗ Nào?
  • Usb 2.0 Và Usb 3.0 Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Sự Khác Biệt Giữa Usb 1.1, Usb 2.0 Và Usb 3.0 Là Gì?
  • Phân Biệt Sổ Đỏ Và Sổ Hồng Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Sổ Hồng Và Sổ Đỏ Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Các Hình Thức Tương Tác Cơ Bản Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Vận Tốc Và Gia Tốc
  • So Sánh Romio Plus Và Juli Pod, Pod Nào Tốt Hơn?
  • Đánh Giá Chi Tiết & So Sánh Orion Dna Go Và Orchid, Asvape
  • So Sánh Nicotine Vape Và Thuốc Lá
  • Pod Là Gì ? Pod Và Vape Khác Nhau Ở Điểm Nào
  • TÓM TẮT

    Các hình thức tương tác cơ bản giữa văn học dân gian và văn học viết- hai loại khác nhau của cùng nghệ thuật ngôn từ là thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình hình thành và phát triển của nền văn học dân tộc. Các hình thức đó là: nhại, mô phỏng, vay mượn chất liệu, vay mượn phong cách. Bài viết tập trung làm rõ các khái niệm này.

    Cần xem văn học dân gian và văn học viết là hai loại khác nhau của nghệ thuật ngôn từ nhưng cùng có chung một đối tượng phản ánh là hiện thực xã hội và lịch sử. Vì vậy, mối quan hệ tương tác là một tất yếu khách quan trong đời sống và quá trình phát triển của hai loại hình nghệ thuật này.

    Trong nền văn học Việt Nam, văn học dân gian xuất hiện sớm, trong một thời gian dài của lịch sử (trước thế kỷ thứ X) chưa có văn học viết, vì thế đã không diễn ra quá trình tương tác này. Thời kỳ Lý, Trần mở ra những trang mới cho lịch sử văn học thành văn. Mặc dù, chịu ảnh hưởng rất nhiều của Hán học, văn học thời Lý, Trần cũng không nằm ngoài quy luật của sự tương tác với văn học dân gian truyền thống của dân tộc.

    Sự tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết trước hết được nhìn nhận từ nhóm xã hội, nghĩa là từ phía người sáng tác. Nói văn học dân gian là sản phẩm của những người bình dân, văn học viết là sản phẩm của trí thức và những người thuộc tầng lớp trên của xã hội chỉ là một cách nói đại thể và đúng với các thời đại trước. Nhìn tổng quát thì sự tương tác giữa hai loại nghệ thuật ngôn từ này phản ánh sự tương tác giữa hai nhóm xã hội (trước đây thường gọi là tầng lớp hoặc giai cấp) trong quá trình sáng tác. Đó là mối quan hệ giao lưu tự nhiên. Các thành viên của nhóm này chen vào nhóm kia và ngược lại. Ca dao có câu:

    Kinh đô cũng có kẻ rồ Thôn quê cũng có sinh đồ trạng nguyên.

    Những người bình dân có thể leo lên những nấc thang cao trong xã hội bằng con đường học hành, thi cử. Ngược lại cũng có nhiều nho sĩ thất thế, về sống trong lòng dân chúng nơi thôn dã. Những “phần tử lạc ngũ” (chữ dùng của V.I. Lênin) thường tạo một sự hòa đồng mới, đem vốn văn học của mình gieo vào mảnh đất chung của những người cùng sống, cùng hợp tác và làm việc. Do đó giữa văn học dân gian và văn học viết, ranh giới hoàn toàn không rõ ràng. Không ít nhà thơ, nhà văn đã “reo rắc” văn chương bác học vào môi trường dân gian và cũng không ít các sinh đồ trạng nguyên từ nông thôn “cấy trồng” văn học dân gian vào môi trường bác học.

    Nhìn vào xã hội hiện đại, vấn đề ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết còn mờ nhạt hơn nữa. Một cá nhân trong xã hội đương đại có thể vừa sáng tác văn học viết, lại vừa sáng tác văn học dân gian. Tại những thời điểm khác nhau, anh ta có thể làm hai nhiệm vụ khác nhau về bản chất: một nhiệm vụ sáng tác nghiêm túc (viết trường ca, truyện ngắn, làm thơ…) để đăng báo, in sách; tại thời điểm khác, anh ta có thể bông đùa trước bạn bè, ngẫu hứng làm thơ hoặc nghĩ ra một câu chuyện hài hước. Hai loại nghệ thuật ngôn từ đều của cùng một tác giả nhưng mang những đặc trưng khác nhau về phương thức sáng tác, lưu truyền. Sự tương tác này diễn ra trong cùng một cá nhân sáng tạo. Có điều, khi sáng tác văn học viết, anh ta rất có ý thức về quyền tác giả của mình, còn khi sáng tác văn học dân gian, anh ta không quan tâm, thậm chí cố tình từ chối quyền đó. Điển hình nhất hiện nay là những câu thơ, bài thơ trào phúng, rõ ràng có xuất phát điểm (tác giả) hẳn hoi nhưng khi truyền bá, không ai quan tâm đến tên người sáng tác nữa. Người ta có ý thức quên chứ không phải vô tình. Ngay chính tác giả nhiều khi, để tránh phiền toái, cũng không nhận là cha đẻ của đứa con tinh thần đó nữa. Đó chính là cội nguồn của mối tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết.

    Về biểu hiện của mối quan hệ này, có các hình thức cơ bản sau đây:

    1. Hình thức nhại

    Nhại là một lối sáng tác rất phổ biến trong văn học dân gian. Hoàn toàn không có chuyện văn học dân gian nhại văn học dân gian. Những người làm văn học dân gian không bao giờ nhại nhau. Các trường hợp nhại đều là văn học dân gian nhại văn học viết.

    Bản thân từ “nhại” cũng mang ý nghĩa hài hước rồi. Văn học nhại là một loại văn học hài hước. Bắt đầu từ sự nghiêm trang trong văn học bác học, văn học dân gian bẻ cong thành một tác phẩm khác, mất đi ý nghĩa đích thực và hoàn toàn mang ý nghĩa trào lộng. Thơ Bút Tre dân gian là hiện tượng tiêu biểu cho văn học nhại. Những bài thơ của Trưởng ty Văn hóa Vĩnh Phú cách đây 40 năm vốn là những bài thơ nghiêm túc, chỉ có điều là hơi nôm na, không được chuyên nghiệp lắm. Những bài thơ nhại Bút Tre tự nhiên phát triển khá nhiều trong những năm 70 của thế kỷ trước. Đại loại có những bài thơ theo lối trần tục hóa như sau:

    Con đò dịch đít sang ngang Xa xa có một cái làng thò ra

    Chắc chắn Bút Tre thật không bao giờ viết như vậy.

    Hiện tượng nhại còn có đối với cả thơ Tố Hữu, thơ Minh Huệ và một số nhà thơ khác. Chúng tôi ngờ rằng, trong số các bài thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương, có thể có những bài thơ nhại có xuất xứ từ trong dân gian.

    Trong văn học dân gian cổ truyền, hiện tượng nhại diễn ra chủ yếu ở mảng thơ ca trào phúng và trên sân khấu chèo.

    Hình thức nhại đích thực là của văn học dân gian. Chỉ có một chiều nhại: văn học dân gian nhại văn học viết; không có chiều ngược lại: văn học viết nhại văn học dân gian.

    2 . Hình thức mô phỏng

    Nếu hình thức nhại là của văn học dân gian thì hình thức mô phỏng lại thường là của văn học viết. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, có nhiều trường hợp văn học viết nhại văn học dân gian. Phương Tây và Nga, thời trung đại từng có giai đoạn văn học nhại phát triển – giai đoạn hình thành nền văn học viết. Chúng tôi cho rằng, sử dụng từ “nhại” trong trường hợp này không đúng. Nhại phải gắn liền với sự châm biếm hoặc hài hước, trào lộng. Các nhà nghiên cứu từng cho rằng đây là những tác phẩm ngụy dân gian. Quả thật, những tác phẩm này, nhiều người rất dễ lầm tưởng là văn học dân gian. Ngay cả một vài nhà nghiên cứu cũng đã từng lầm tưởng như vậy. Bài thơ “Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương…” mãi sau này mới bị phát hiện ra là của Á Nam Trần Tuấn Khải viết vào đầu thế kỷ XX; câu thơ của Bảo Định Giang “Tháp Mười đẹp nhất bông sen, nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”, nhiều người trước đây đã lầm tưởng là ca dao Nam Bộ; bài thơ “Trên trời mây trắng như bông, ở dưới cánh đồng bông trắng như mây” được gọi là ca dao mới nhưng kỳ thực đó là bài thơ mô phỏng ca dao.

    Hiện tượng mô phỏng văn học dân gian tiêu biểu nhất xảy ra trên thế giới là các trường hợp nhà văn viết truyện cổ tích văn học và truyện ngụ ngôn (Gơrim, L.Tônxtôi, Laphôngten). Trong Kinh Thánh Tân ước có rất nhiều truyện ngụ ngôn nhưng đó là văn học bác học mô phỏng truyện ngụ ngôn vốn là một thể loại văn học dân gian.

    Việc đi tìm sự khác nhau giữa tác phẩm dân gian đích thực và tác phẩm mô phỏng dân gian là rất khó khăn, tuy rằng một vài trường hợp có thể phân biệt được (ví dụ: truyện cổ tích văn học thường hay có những đoạn tả cảnh hoặc diễn tả tâm lý nhân vật, còn truyện cổ tích dân gian thì chỉ kể về hành động của nhân vật mà thôi). Thành ra đây là nơi giao thoa, lẫn lộn giữa văn học dân gian và văn học viết.

    Một ví dụ cụ thể, truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng của Puskin, được sáng tác từ nguồn truyện dân gian nhưng yếu tố mô tả khá nhiều. Những chi tiết biển xanh nổi sóng, biển xanh giận dữ khi ông lão đánh cá ra gặp cá vàng để đưa ra những yêu cầu quá mức của bà vợ… đều không phù hợp với truyền thống thể hiện trong truyện cổ tích dân gian. Đó là sáng tạo của Puskin, làm nên những giá trị nghệ thuật mới mà truyện cổ tích dân gian không có được. Tuy nhiên, nếu không phải nhà chuyên môn thì khó lòng nhận thức được sự khác biệt của truyện cổ tích văn học so với truyện cổ tích dân gian.

    3. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học

    Đây là hiện tượng phổ biến, diễn ra theo cả hai chiều, từ dân gian vào bác học và ngược lại. Rất nhiều ngôn từ, điển tích của văn chương bác học đã đi vào dân gian:

    Anh xa em như bến xa thuyền Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

    Các từ Thuý Kiều, Kim Trọng, tinh đẩu, tào khê lấy từ nguồn văn học bác học.

    Ngược lại, rất nhiều ngôn từ nghệ thuật của văn học dân gian đã có mặt trong những tác phẩm văn học viết. Sự tiếp nhận văn học dân gian của văn học viết được xem như là quy luật của lịch sử văn học. Đối với đa số các dân tộc trên thế giới, văn học dân gian bao giờ cũng có trước, văn học viết hình thành sau và được xây dựng trên nền tảng văn học dân gian. Vì vậy, tiếp thu chất liệu của văn học dân gian là hiện tượng phổ biến trong văn học viết. Những tác phẩm văn học viết nổi tiếng, giàu tính dân tộc nhất, thường tiếp thu có sáng tạo nhiều chất liệu từ văn học dân gian. Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du là một ví dụ tiêu biểu:

    Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông. Nàng rằng: “Non nước xa khơi, Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh”.

    Các từ và cụm từ trúc mai, trong ấm ngoài êm, bưng mắt bắt chim, đèo bòng được lấy từ kho tàng thơ ca dân gian người Việt.

    Sự vay mượn không chỉ diễn ra ở cấp độ từ ngữ mà còn ở các cấp độ cao hơn, tổng hợp hơn như hình tượng, cấu trúc, đề tài và trừu tượng hơn là tư tưởng, quan điểm nghệ thuật.

    Sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học, dù diễn ra phổ biến, vẫn không làm xoá nhoà ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết. Mỗi tác gia văn học viết đều có ý thức rõ ràng rằng mình sử dụng chất liệu văn học dân gian để làm gì và sử dụng như thế nào. Sự có mặt của chất liệu văn học dân gian trong các tác phẩm văn học viết làm cho các tác phẩm này gần gũi với dân gian nhưng không làm biến chất bác học. Cũng như vậy, không vì mang trong mình chất liệu văn học viết mà văn học dân gian bị biến đổi bản chất của mình. Chúng ta có thể lấy Tam quốc chí và , hai tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng của Trung Quốc làm ví dụ. Những mẩu chuyện trong hai tác phẩm nổi tiếng này vốn từ lâu được kể trong dân gian bởi các thuyết thoại nhân (những người chuyên đi kể chuyện ở ngoài chợ hoặc trên đường phố để kiếm ăn). Tập hợp những mẩu chuyện rời rạc để thành tiểu thuyết chương hồi là công lao to lớn của La Quán Trung và Ngô Thừa Ân. Toàn bộ chất liệu dân gian được hai nhà văn thời Minh Thanh nhào nặn, tạo nên những tác phẩm văn học viết đích thực, không phải là dân gian nữa.

    Quá trình vay mượn chất liệu văn học để sử dụng thực chất là quá trình sáng tạo lại. Điều này xảy ra cả trong văn học dân gian và văn học viết, nhất là đối với văn học viết. Nhiều nhà văn, nhà thơ đương đại viết lại truyện cổ dân gian nhưng không phải dưới hình thức mô phỏng mà là sáng tạo mới. Truyện cổ dân gian chỉ là cái cớ (vay mượn) để tác giả nói lên những suy nghĩ hoàn toàn khác của mình về xã hội và nhân sinh. Những điều tác giả nói có khi rất xa lạ với quan niệm truyền thống trong dân gian nhưng lại phù hợp với quan niệm của thời đại mới. Ví dụ, nhân vật Thuỷ Tinh trong truyện dân gian Sơn Tinh, Thuỷ Tinh bị người đời coi là nhân vật phản diện, hàng năm gây hại cho dân. Một vài nhà văn đương đại lại đứng ra bênh vực cho Thuỷ Tinh, cho rằng đây là một chàng trai si tình, rằng tình yêu của chàng là chân thành và bất diệt.

    4. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về phong cách

    Phong cách là những yếu tố (thuộc cả về nội dung và hình thức nghệ thuật) được lặp đi lặp lại trong các tác phẩm văn học khác nhau, trở thành những yếu tố cố định, bền vững và đồng thời là những tín hiệu thẩm mỹ có giá trị, được mọi người thừa nhận, tạo nên sự khác biệt giữa dòng văn học này với dòng văn học khác, giữa tác gia này với tác gia khác. Phong cách thể hiện sự phong phú, đa dạng trong sánh tác văn học nghệ thuật.

    Văn học dân gian có phong cách thể loại, văn học viết có phong cách tác gia. Trong quá trình phát triển văn học, hai phong cách này có sự thâm nhập vào nhau.

    Đây là hình thức tương tác cao nhất giữa văn học dân gian và văn học viết. Hình thức này tạo ra một chất lượng mới trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ.

    Phong cách là chất lượng. Các nhà văn, nhà thơ trẻ chưa thể tạo cho mình một phong cách. Chỉ những tác gia văn học có tài năng mới định hình được về phong cách. Vì vậy, phong cách cũng là bản lĩnh của tác giả thể hiện qua tác phẩm. Văn học dân gian cũng có bản lĩnh của mình, nếu không thì phong cách dân gian không thể trường tồn trong suốt chiều dài của hàng ngàn năm lịch sử.

    Sự thâm nhập lẫn nhau về phong cách cũng diễn ra theo hai chiều như sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học. Tuy nhiên, ở đây, chiều dân gian vào bác học mạnh hơn là chiều từ bác học vào dân gian. Thật khó tìm những tác phẩm văn học dân gian mang phong cách bác học. Những trường hợp như bài ca dao sau đây không nhiều trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam:

    Đèn tà thấp thoáng bóng trăng, Ai đem người ngọc thung thăng chốn này.

    Thuở sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu đã từng ca ngợi bài ca dao: lời thơ không kém gì thơ Kiều. Phong cách bác học của bài ca dao thể hiện khá rõ, có thể lẫn với văn học viết nếu người đọc không biết rõ xuất xứ của nó.

    Hiện tượng văn học viết mang phong cách dân gian thì có nhiều. Tiêu biểu nhất trong nền thơ ca Việt nam, có lẽ là Nguyễn Bính. Thơ ông tràn đầy phong cách dân gian:

    Giếng thơi mưa ngập nước tràn, Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều. Cách ba ngọn núi, cách đôi cánh rừng, Em van anh đấy, anh đừng yêu em.

    Có thể nói, sự thâm nhập của phong cách dân gian vào thơ Nguyễn Bính không diễn ra trên bình diện vay mượn chất liệu thơ ca mà là sự đồng điệu với tâm hồn dân tộc của nhà thơ. Chỉ có thực sự uống nước từ nguồn mạch dân gian và tắm mình trong nguồn mạch ấy, thơ Nguyễn Bính mới có được phong cách như vậy.

    Những tác gia văn học khác cũng có nhiều câu mang phong cách dân gian, mặc dù không phải toàn bộ tác phẩm.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Chu Xuân Diên (2001), Văn hóa dân gian, mấy vấn đề về phương pháp luận và nghiên cứu thể loại , Nxb Giáo dục, Hà Nội.

    2. Nguyễn Xuân Kính (1991), Thi pháp học và việc nghiên cứu thi pháp văn học nghệ thuật dân gian. Tạp chí Văn hóa dân gian, Số 3.

    3. Nguyễn Xuân Lạc (1998), Văn học dân gian Việt Nam trong nhà trường. Nxb Giáo dục, Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết
  • Sự Khác Biệt Giữa Nền Giáo Dục Uk Và Us
  • Nghe Nhạc Lâu Năm Nhưng Bạn Đã Biết Tới Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Kpop Và Us
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Usb 2.0 Và 3.0
  • Làm Thế Nào Bạn Có Thể Biết Sự Khác Biệt Giữa Cổng Usb 2.0 Và Usb 3.0?
  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết Trong Lịch Sử Văn Học Dân Tộc :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Vận Tốc, Gia Tốc Và Tốc Độ Là Gì? Làm Thế Nào Để Tôi Biết Khi Nào Mỗi Người Được Áp Dụng?
  • Vape Pod System Là Gì
  • Tinh Dầu Cho Pod System & Vape
  • Pod System Là Gì? Mạnh Và Yếu Của Pod System
  • Tất Tần Tật Về Tinh Dầu Cho Pod System
  • ♦ ♦ ♦

    Đúng là chưa bao giờ văn học dân gian cổ truyền của dân tộc lại sống dậy huy hoàng và được nhận thức sâu sắc về giá trị và vai trò của nó như trong thời đại ngày nay.Trong những thành tựu hiện đại về việc nghiên cứu văn học dân gian cổ truyền của dân tộc, có một luận điểm khoa học cực kỳ quan trọng được nhiều người thừa nhận là: chính văn học dân gian là nền tảng của sự phát triển, kết tinh của nền văn học dân tộc. Luận điểm này vừa là sự khẳng định vai trò của văn học dân gian, vừa là điều cốt lọi nhất khi nói về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết,vừa là phương pháp luận đối với việc nghiên cứu lịch sử văn học dân tộc nói chung. Luận điểm này xét đến cùng là dựa trên qui luật cơ bản về vai trò của nhân dân Việt Nam trong lịch sử Việt Nam mà cũng đến thời đại cách mạng đã thành công, quan điểm nhân dân làm chủ đất nước đã trổi dậy với tính chất chính thống, đặc biệt là trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước vừa qua mới như được phát hiện lại, nhận thức lại một cách đầy đủ hơn. Dĩ nhiên nó còn phải được tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn trong tương lai. Trước thời đại cách mạng thành công, một số vị thức giả như Võ Liêm Sơn(1), Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Trọng Thuật(2)… đã nêu cao vai trò “tảng móng, tinh tuý của văn học dân gian đối với nền quốc học của ta”. Nhưng những ý kiến quí báu đó lại đang ở trạng thái trực cảm, chưa được nâng lên trình độ phân tích lý luận và do đó chính các tác giả của nó cũng chưa hình dung được thật rõ những điều mình nói. Còn với chúng ta hôm nay, muốn vượt qua giai đoạn nhận thức trực cảm để tiến vào giai đoạn nhận thức lý tính, phải có lý luận khoa học hỗ trợ, mặc dù công việc nhận thức lý tính này tự nó cũng lại phải có một quá trinh từ thấp lên cao. Nói vậy để thấy công tác lý luận ở phương diện này là đang cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Có như thế, luận điểm khoa học nói trên mới có khả năng được quán triệt trong công việc nghiên cứu văn học dân tộc một cách sâu sắc và cụ thể. Ví như với Truyện Kiều chẳng hạn. Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã nói đến mối quan hệ giữa Truyện Kiều với văn học dân gian. Nhưng từ chỗ chỉ giới hạn mối quan hệ đó trong phạm vi một số yếu tố nghệ thuật là thể tài lục bát và thành ngữ tục ngữ… như lâu nay vẫn thấy đến chỗ kết luận rằng: Truyện Kiều đã kết tinh trên cơ sở văn học dân gian(3) quả là một điều hoàn toàn không đơn giản bởi nó đã thay đổi chất lượng của sự nhận thức, có thể nói là thay đổi qui mô của vấn đề. Chúng ta sẽ cố gắng góp phần vào việc giải quyết yêu cầu trên bằng cách làm sáng rõ hơn mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết để từ đó xác định rõ hơn vai trò làm nền của văn học dân gian trong lịch sử văn học dân tộc.

    Khi nói đến vai trò làm nền của văn học dân gian trong lịch sử văn học dân tộc, chúng ta dễ nghĩ ngay đến bộ phận văn học dân gian ra đời có thể nói là cùng với sự ra đời của lịch sử dân tộc và tồn tại, phát triển trong một thời gian dài trước khi có văn học viết. Bộ phận văn học dân gian nguyên thuỷ này bao gồm chủ yếu là các thể loại thần thoại, thần thoại pha truyền thuyết, truyền thuyết, truyền thuyết pha thần thoại ,truyện cổ, dân ca cổ, ca dao tục ngữ cổ.. .chắc đã bị mai một đi không ít trong thời gian, nhưng gần đây với sự hỗ trợ tích cực của những thành tựu khoa học lịch sử như dân tộc học lịch sử, ngôn ngữ học lịch sử, đặc biệt là khảo cổ học, nó đang được sưu tầm lại ngày một phong phú, bề thế. Từ đó vấn đề cần kết luận là: chính kho tàng văn học dân gian sơ khai, nguyên thuỷ đó đã là nền tảng vững chãi, đã là ngọn nguồn trong mát đầu tiên của lịch sử văn học dân tộc. Vấn đề tiếp theo ở đây là làm sao miêu tả, chứng minh, khôi phục lại được dấu vết cụ thể của văn học dân gian nguyên thuỷ từng tồn tại và chi phối, từng làm cơ sở kết tinh tư tưởng thẩm mỹ trong nền văn học viết ra đời và phát triển về sau. Chắc chắn là có trạng thái đơn giản, trực tiếp dễ thấy, có trạng thái tinh vi, phức tạp, gián tiếp khó thấy hơn nhưng chưa hẳn đã kém quan trọng hơn. Thật ra ở đây cũng không thể hiểu vấn đề vai trò của văn học dân gian nguyên thuỷ đối vơí nền văn học viết về sau một cách hẹp hòi theo hướng hạn chế nội hàm của khái niệm văn học dân gian chỉ còn lại là những văn bản được ghi chép lại như là cái bóng của một hình thức vốn tồn tại như một cơ thể sống và có quan hệ chằng chịt,gắn bó với nhiều hình thái của văn hoá sơ khai như trò chơi,lễ hội,kể cả phong tục.

    Tóm lại, tình hình văn tự như trên vừa nói chính là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh qui luật: trong lịch sử văn học Việt Nam, sau khi đã có văn học viết ra đời, văn học dân gian vẫn tiếp tục tồn tại, phát triển và do đó vẫn tiếp tục đóng vai trò làm nền cho sự phát triển và kết tinh của văn học viết. Tuy nhiên để cho quan điểm “làm nền” này được triển khai thực sự, lại còn phải làm sáng tỏ một loạt vấn đề sau đây:

    • Nội hàm có tính lịch sử cụ thể của khái niệm bình dân (hoặc dân chúng, hoặc quần chúng, hoặc nhân dân lao động) là gì?
    • Vai trò của trí thức bình dân có hay không trong việc sáng tác văn học dân gian? Có ở mức độ nào trong tương quan với vai trò của quần chúng lao động?
    • Những trí thức khác không thuộc trí thức bình dân liệu có vai trò gì trong việc sáng tác văn học dân gian?

    Chúng ta vẫn bắt gặp tình trạng nói tác giả văn học dân gian là bình dân, là quần chúng lao động… nhưng bỏ không giới thuyết nội hàm khái niệm hoặc có giới thuyết thì lại chưa chú ý đầy đủ đến tính lịch sử cụ thể của nội hàm khái niệm. Trong bài ” Để có thể nắm bắt được thực chất của văn học dân gian”, tác giả Đinh Gia Khánh đã cố gắng giới thuyết chu đáo và phù hợp với thực tiễn sinh động hơn. Tuy vậy, sự chú ý của ông cũng đang tập trung ở phạm vi thời đại phong kiến mà chưa chú ý đến những thời “tiền phong kiến”, “hậu phong kiến” cũng như nội dung lịch sử cụ thể của khái niệm “các tầng lớp dân chúng” trong đó có vai trò của tầng lớp trí thức bình dân như thế nào.

    – Dùng chữ quốc ngữ để sưu tầm ghi chép văn học dân gian. Công việc này bắt đầu với Trương Vĩnh Ký từ nửa sau thế kỷ XIX bằng các tác phẩm như Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, được tiếp tục với một số người ở nửa đầu thế kỷ XX như Nguyễn Văn Ngọc (ví dụ Truyện cổ nước Nam, Đông Tây ngụ ngôn, Để mua vui). Đặc biệt từ sau 1954 thì công việc này đã đạt tới những thành tựu bề thế chưa từng có. Trong lịch sử Việt Nam chưa bao giờ văn học dân gian bao gồm văn học dân gian của người Kinh, đặc biệt là văn học dân gian của các dân tộc ít người lại được sưu tầm,thành văn hoá như trong thời đại ngày nay do có chữ quốc ngữ nhưng quan trọng hơn là do ý thức của con người một khi đã tự giác sâu sắc về kho báu văn học dân gian.

    – Khai thác kho tàng văn học dân gian trong khi sáng tác văn học hiện đại. Điều này thể hiện rõ ở hai hình thức sau: a) Tìm nguồn cảm hứng cho thơ ca bằng cách đưa thơ ca trở về tắm mát trong suối dân ca. Phong dao trong thơ ca Tản Đà, Trần Tuấn Khải… là tiêu biểu cho hai hiện tượng phôncơloricphôncơloridê trong mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian. b) Viết tiểu thuyết huyền thoại và tiểu thuyết lịch sử bằng cách khai thác nguồn dạ sử vốn là sản phẩm thuộc phạm trù văn học dân gian. Tiểu thuyết Qủa dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật, hầu hết các tiểu thuyết lịch sử ở nửa đầu thế kỷ XX tiêu biểu là của Nguyễn Tử Siêu, đã nói lên điều đó. Hiện tượng này sẽ được tiếp tục trong tình hình văn học sau ngày cách mạng thành công.

    ♦♦♦

    Cuối cùng, một vấn đề nữa cũng có thể đặt ra để suy nghĩ là trong nền văn học Việt Nam hiện đại, mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian là thế nào? Văn học dân gian có còn đóng vai trò làm nền kết tinh cho văn học viết nữa không? Qủa thật đây cũng lại là một vấn đề rất thú vị, nhưng rất phức tạp. Bởi lẽ chung quanh vấn đề có hay không có văn học dân gian trong thời hiện đại, và nếu có thì việc đánh giá nó thế nào đã là có chuyện tranh chấp nhau khá gay gắt, thậm chí có thể qui kết nhau khá nặng nề. Không phải không có người đã cho rằng duới chế độ mới mà nhân dân được làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ đất nước trong đó có sự làm chủ về văn hoá thì còn gì phải có văn học dân gian. Nếu có thì đó chỉ là tiếng nói phản động cần lên án, cần loại bỏ. Đây là cách nói của một vài người trên báo chí mà trong bối cảnh xã hội một thời, nó dường như là tiếng nói chính thống do đó không phải không có người đồng tình, ít ra thì cũng không dám phản bác. Đến hôm nay thì chắc là không ai nghĩ đơn giản và thô thiển như thế nữa một khi đã thấy sự có mặt của văn học dân gian hiện đại dưới hình thức ca dao hò vè, nhất là giai thoại, truyện kể với đủ nội dung trong đó có cả nội dung chọc trời, nói là táo bạo cũng được, nói là trắng trợn được. Có điều là dường như với các nhà nghiên cứu văn học dân gian vẫn chưa hết ngợp trước hiện tượng vốn dĩ nhạy cảm, phức tạp đó. Cho nên ở đây cũng khó nói được gì hơn. Nhưng vẫn có thể nghĩ rằng, gì thì gì, mối quan hệ giữa văn học dân gian (nếu có thừa nhận) với văn học viết trong thời hiện đại này về cơ bản đã khác trước. Bởi trong thời hiện đại này, dù còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, nhưng không có nghĩa là nhân dân chưa làm chủ được gì trong cuộc sống nói chung, trong văn hoá,văn học nói riêng. Từ thực tế đó, sẽ có sự hoà quyện giữa văn học của mọi tầng lớp nhân dân trong một đất nước. Và như thế thiết tưởng cũng khó nói đến cái gọi là vai trò làm nền của văn học dân gian đối với nền văn học viết như ở các thời đại trước.

    Chú thích:

    1. Xem: Văn hoá và xã hội, viết 1927, in 1934. In lại trong Hợp tuyển văn học Việt Nam (1920-1945). Tập V-quyển I, Văn học,1987, tr 397-402.
    2. Xem: Việt Nam tổ quốc tuý ngâm, xuất bản 1932.
    3. Xem: Vai trò của văn học dân gian trong văn học Việt Nam nói chung trong Truyện Kiều nói riêng-Nguyễn Khánh Toàn- Tạp chí văn học số tháng 11-1965.
    4. Còn có loại chữ ” Thập châu” được Vương Duy Trinh ghi lại trong Thanh hoá quan phong mà theo Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử“chữ viết đời thượng cổ”. Về hiện tượng này cần nghiên cứu thêm.
    5. Có người tính từ thế kỷ 2-3 sau công nguyên.
    6. Xem Văn minh tân học sách của Đông kinh nghĩa thục.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chúng Ta Không Nên Kỳ Thị Vùng Miền!
  • Son Dưỡng Môi Vaseline 7G Bị Làm Giả? Công Dụng
  • Phân Biệt Below, Under, Underneath Và Beneath
  • Phân Biệt Under Và Below Trong Bài Thi Toeic
  • Cách Tính, Chọn Size Giày Us, Uk, Eu Việt Nam Cho Nam Và Nữ Chuẩn Xác
  • Bài Học: Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Kiến Thức Và Bài Tập Vận Dụng Vật Lý 12 Bài 1 Dao Động Điều Hòa
  • So Sánh Vape Và Pod
  • Phân Biệt Đột Quỵ Não Và Thiếu Máu Não Thoáng Qua
  • Yêu Và Thương Khác Nhau
  • Thích, Thương Và Yêu! Bạn Là Gì?
  • Nội dung

    KẾT QUẢ CẦN ĐẠT

    * Nắm được các đặc trưng cơ bản của văn học dân gian và khái niệm về các thể loại của văn học dân gian Việt Nam.

    * Hiểu rõ vị trí, vai trò và những giá trị to lớn của văn học dân gian trong mối quan hệ với văn học viết và đời sống văn hoá dân tộc.

    Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.

    I – ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN

    1. Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng (tính truyền miệng)

    Ngôn từ truyền miệng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên nội dung, ý nghĩa và thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học dân gian nhằm phản ánh sinh động hiện thực cuộc sống.

    Văn học dân gian tồn tại, lưu hành theo phương thức truyền miệng. Đây là điểm khác biệt rất cơ bản giữa văn học dân gian và văn học viết. Trong khi văn học viết được lưu giữ bằng chữ viết thì văn học dân gian lại được truyền miệng từ người này sang người khác, qua nhiều thế hệ và các địa phương khác nhau. Quá trình truyền miệng vẫn được tiếp tục kể cả khi tác phẩm văn học dân gian đã được ghi chép lại.

    Nói truyền miệng là nói đến quá trình diễn xướng dân gian hào hứng và sinh động. Người ta có thể nói, kể, hát, diễn tác phẩm văn học dân gian(1). Ở đây, lời (tức phần ngôn từ truyền miệng) ở một số thể loại có thể kết hợp với các loại hình nghệ thuật khác (lời thơ trong ca dao thường được hát theo làn điệu; một vở chèo khi trình diễn bao gồm cả lời, nhạc, hát, múa và diễn xuất của nghệ nhân).

    2. Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể (tính tập thể)

    Văn học viết là sáng tác cá nhân, trong khi đó, văn học dân gian lại là kết quả của quá trình sáng tác tập thể.

    Quá trình sáng tác tập thể diễn ra như sau: Lúc đầu, một người khởi xướng, tác phẩm hình thành và được tập thể tiếp nhận; sau đó, những người khác (có thể thuộc các địa phương khác nhau hoặc các thế hệ khác nhau) tiếp tục lưu truyền và sáng tác lại làm cho tác phẩm biến đổi dần, thường là tác phẩm được làm phong phú hơn, hoàn thiện hơn về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật.

    Văn học dân gian dần dần đã trở thành tác phẩm chung của tập thể. Mỗi người đều có thể tiếp nhận, sử dụng, sữa chữa, bổ sung tác phẩm văn học dân gian theo quan niệm và khả năng nghệ thuật của mình.

    Tính truyền miệng và tính tập thể là những đặc trưng cơ bản, chi phối, xuyên suốt quá trình sáng tạo và lưu truyền tác phẩm văn học dân gian, thể hiện sự gắn bó mật thiết của văn học dân gian với các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.

    1. Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc

    Tri thức trong văn học dân gian thuộc đủ mọi lĩnh vực của đời sống: tự nhiên, xã hội và con người.

    Tri thức dân gian phần lớn là những kinh nghiệm lâu đời được nhân dân đúc kết từ thực tiễn. Tri thức dân gian thường được trình bày bằng ngôn ngữ nghệ thuật, vì thế hấp dẫn người đọc, người nghe, dễ phổ biến, dễ tiếp thu, có sức sống lâu bền với thời gian.

    Tri thức dân gian thể hiện trình độ và quan điểm nhận thức của nhân dân, vì vậy có sự khác biệt so với nhận thức của giai cấp thống trị cùng thời, đặc biệt là về các vấn đề lịch sử, xã hội.

    Việt Nam có 54 dân tộc người. Mỗi tộc người có một kho tàng văn học dân gian riêng, vì thế vốn tri thức của toàn dân tộc vô cùng phong phú và đa dạng.

    2. Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người

    Trước hết văn học dân gian giáo dục con người tinh thần nhân đạo và lạc quan. Đó là tình yêu thương đối với đồng loại, là tinh thần đấu tranh không biết mệt mỏi để bảo vệ và giải phóng con người khỏi những cảnh bất công, là niềm tin bất diệt vào chiến thắng cuối cùng của chính nghĩa, của cái thiện.

    Văn học dân gian góp phần hình thành những phẩm chất tốt đẹp: lòng yêu quê hương, đất nước, tinh thần bất khuất, đức kiên trung và vị tha, tính cần kiệm, óc thực tiễn,…

    3. Văn học dân gian có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc

    Văn học dân gian được chắt lọc, mài giũa qua không gian và thời gian, khi đến với chúng ta đã thành những viên ngọc sáng. Nhiều tác phẩm đã trở thành những mẫu mực về nghệ thuật để cho chúng ta học tập. Những truyện kể dân gian làm cho “từ đứa trẻ đầu xanh đến cụ già tóc bạc đều truyền tụng và yêu dấu” (tựa sách Lĩnh Nam chích quái). Những lời ca tiếng hát ân tình ngày xưa vẫn còn làm say đắm lòng người hôm nay và mai sau.

    Nhờ có giá trị nghệ thuật to lớn như vậy nên trong nhiều thế kỉ, khi văn học viết mới hình thành, văn học dân gian đóng vai trò chủ đạo. Khi văn học viết đã phát triển, văn học dân gian vẫn là nguồn nuôi dưỡng, là cơ sở của văn học viết. Trong tiến trình lịch sử, văn học dân gian đã phát triển song song cùng văn học viết, làm cho nên văn học Việt Nam trở nên phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc.

    HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Trong Phát Âm Của Anh
  • So Sánh Thông Dịch Và Biên Dịch
  • Quản Trị Và Quản Lý Giống Và Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Giáo Án Lớp 7 Môn Địa Lí
  • Các Cách Thử Để Nhận Biết Mật Ong Nguyên Chất
  • Sự Khác Biệt Giữa Phong Cách Văn Nói Và Văn Viết Trong Bài Thi Ielts (P.1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Loại Tiếng Anh: Văn Viết Và Văn Nói
  • Sự Khác Biệt Ngữ Pháp Tiếng Việt Và Tiếng Anh Và Những Lỗi Sai Ngữ Pháp Hay Gặp Ở Người Việt (P.1)
  • Sự Nhầm Lẫn Tai Hại Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Đức
  • Đối Chiếu Các Loại Âm Tiết Tv – Ta
  • Đối Chiếu Cấu Trúc Âm Tiết Tv – Ta
  • Xuyên suốt quá trình phát triển và tiến hóa, nhu cầu trao đổi, giao tiếp của con người ngày càng tăng lên, dẫn đến sự đa dạng của các phương thức biểu đạt. Nổi bật trong đó là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Tùy theo mục đích sử dụng, hai loại ngôn ngữ trên có phong cách biểu hiện và truyền tải khác nhau. Bài viết này sẽ nêu ra định nghĩa cũng như làm rõ những sự khác nhau về phong cách của văn nói văn viết từ đó giúp người đọc có cái nhìn tổng quan hơn về hai hình thức biểu đạt này để ứng dụng phong cách văn nói và văn viết vào bài thi IELTS tốt hơn.

    Các khái niệm về văn nói và văn viết

    Ngôn ngữ nói là gì?

    Ngôn ngữ nói được tạo ra bởi những âm thanh được phát ra rõ. Theo Gisela Redeker – tác giả của nghiên cứu “On differences between spoken and written language” (Sự khác nhau giữa văn nói và văn viết):

    “Typical spoken discourse tends to be unplanned, informal, and directed to a limited number of listeners who are generally known to and interacting with the speaker, often providing immediate (verbal and/or nonverbal) feedback” (Văn nói điển hình có xu hướng bộc phát, không được chuẩn bị, không trang trọng và hướng tới một số lượng giới hạn người nghe – là những người thường có tương tác với người nói và phản hồi được đưa ra ngay lập tức).

    Do vậy, văn nói được tạo ra để giao tiếp và truyền đạt suy nghĩ, ý kiến bằng lời giữa con người.

    Ngôn ngữ viết là gì?

    Ngôn ngữ viết được thể hiện bằng chữ viết và được tiếp nhận bằng thị giác. Văn viết là một cách thức truyền đạt thông tin tồn tại song song với ngôn ngữ nói, thường ở dưới dạng văn bản (VD: các bài báo, bài xã luận,…).

    “Written texts, tend to be well-planned. Writers can polish their productions to meet communicative, esthetic and formal standards. The potential readers are generally not psent during the time the text is being composed, and may not even be known to the writer” (Các văn bản viết được sắp xếp chặt chẽ. Tác giả có thể chau chuốt sản phẩm của mình để đáp ứng nhu cầu về mặt giao tiếp, tính thẩm mỹ và tính trang trọng của bài. Người đọc thường sẽ không có mặt khi văn bản viết được sáng tác, thậm chí họ còn không biết tác giả của bài viết đó) – Gisela Redeker.

    Do vậy, sự tương tác giữa người tiếp nhận và người sáng tạo trong văn viết không gần gũi và trực tiếp như trong văn nói.

    Sự tương quan giữa phong cách văn nói và văn viết

    Mặc dù có nhiều sự khác biệt, văn nói và văn viết đều phục vụ một mục đích chung: truyền tải thông tin, ý chí giữa người với người. Sự tương quan nhất định giữa hai phong cách trên được thể hiện bằng sơ đồ sau:

    Theo nghiên cứu của đại học Hamilton, New York, mối quan hệ giữa phong cách của văn nói và văn viết được thể hiện ở 3 khía cạnh chính: Logical structure (sắp xếp bố cục theo trình tự hợp lý), coherent, fluid argument (tính mạch lạc, trôi chảy của các lập luận) và rich and varied evidence (nhiều dẫn chứng đa dạng). Cụ thể như sau:

    Sắp xếp bố cục theo trình tự hợp lý

    Tùy theo từng thể loại hoặc mục đích khác nhau của mỗi bài viết IELTS Writing và bài nói IELTS Speaking, thông tin được sắp xếp theo một trình tự dễ hiểu để người đọc có thể dễ dàng nắm bắt.

    Ví dụ, những tác phẩm truyện kể hoặc hồi kí có thể viết theo trình tự thời gian (sự việc diễn ra trước, sự việc diễn ra sau), các bài xã luận thường được đưa thông tin theo phương pháp diễn dịch (đưa ra ý kiến đầu tiên và dùng các lý lẽ, giải thích và ví dụ làm sáng tỏ ý kiến đã nêu ra) hoặc quy nạp (sau khi diễn giải thông tin đưa ra kết luận ở câu cuối).

    Tương tự, người nói cũng thường có xu hướng kể, thuật lại các sự việc theo một trình tự nhất định, chẳng hạn như áp dụng trình tự thời gian (sự việc diễn ra trước kể trước, sự việc diễn ra sau kể sau) hay trình tự không gian (kể, tả trừ gần đến xa, trừ thấp lên cao). Bên cạnh đó, người nói cũng triển khai các lập luận của mình để hỗ trợ, làm rõ quan điểm, thông điệp muốn truyền tải (Ví dụ trong quá trình đưa ra các lý do thuyết phục khách hàng nên đầu tư).

    Tính mạch lạc, logic của các lập luận

    Trong các bài viết, tính mạch lạc và liên kết trong bài thi IELTS được thể hiện qua cách người viết sắp xếp ý tưởng và các dẫn chứng của đoạn văn theo một trình tự hợp lý, có sự liên kết giữa các câu văn tạo nên hệ thống lập luận logic. Ví dụ, đoạn văn nói về “benefits of being famous” (lợi ích của sự nổi tiếng) do tác giả Pauline Cullen viết trong cuốn sách “The key to IELTS Writing task 2”:

    “There are clear benefits to being famous. The image psented in the media show us celebrities enjoy an enviable lifestyle: they live in huge mansions, drive expensive cars and wears the latest and high fashion. Thus, fame clearly brings great wealth. In addition, the frequent appearance in the media means the celebrities have the influence that extends beyond their professional skills. This influence stems from the fact that young people want to be like them, and so the famous can earn even more money by endorsing different products and brands. Although simply being in the spotlight may be enough for some, the main benefits of fame appear to be financial and material.”

    Có rất nhiều lợi ích rõ ràng của việc trở nên nổi tiếng. Những hình ảnh trên các phương tiện truyền thông cho chúng ta biết rằng người nổi tiếng sống một cuộc sống đáng ghen ty: họ sống trong những ngôi nhà lớn, đi xe sang trọng và mặc những bộ cánh đắt tiền thời thượng. Do đó, danh tiếng mang lại sự giàu có. Thêm vào đó, sự xuất hiện thường xuyên của họ trên truyền hình đồng nghĩa với việc người nổi tiếng có tầm ảnh hưởng vượt xa cả những kĩ năng nghề nghiệp của mình. Sự ảnh hưởng này bắt nguồn từ sự thật rằng nhiều người trẻ muốn được giống như những ngôi sao, do đó người nổi tiếng càng kiếm được nhiều tiền hơn bằng việc đại diện cho nhãn hàng hoặc các thương hiệu. Mặc dù được tỏa sáng dưới hào quang có thể là đủ đối với một số người, sự nổi tiếng vẫn có thể mang lại lợi ích về cả vật chất và tinh thần.

    Tương tự, văn nói cũng sử dụng tính mạch lạc, logic của các lập luận, hãy xét ví dụ sau:

    Do you like wearing jeans?

    For sure, I wear jeans an awful lot because they are so comfy and practical. That said, I don’t wear them in summer so much because it’s usually too hot. I think they are suitable for cooler season.

    Keith O’Hare – IELTS Speaking Success

    Bạn có thích mặc đồ bò không?

    Chắc chắn rồi, tôi mặc đồ bò rất nhiều bởi vì chúng rất thoải mái và dễ mặc. Tuy nhiên tôi không mặc chúng vào mùa hè quá nhiều bởi vì thường rất nóng. Tôi nghĩ quần áo này phù hợp với thời tiết mát mẻ hơn.

    Ở câu trả lời này, người nói đã đưa ra khẳng định của mình và sử dụng lý do để làm rõ khẳng định đó (thích mặc đồ bò vì rất thoải mái và dễ mặc). Thêm vào đó, người nói còn bổ sung thông tin về tần suất khiến cho câu trả lời rõ ràng, chi tiết hơn.

    Có nhiều dẫn chứng đa dạng

    Lịch thi thử IELTS (Paper-based) tháng này

    Kinh nghiệm phòng thi rất quan trọng và thi thử là cách rất tốt để tích lũy kinh nghiệm. Đề thi IELTS tại ZIM rất sát đề thi thật, đánh giá trình độ chính xác, nhận kết quả ngay sau khi thi, và phần thưởng 1.000.000đ cho giải nhất ….

    Vậy văn nói và văn viết có sự khác biệt như thế nào trong bài thi IELTS? Mời bạn đọc theo dõi tiếp phần sau của “Sự khác biệt giữa phong cách văn nói và văn viết trong bài thi IELTS” để biết thêm chi tiết!

    Nguyễn Thị Mai Minh

    Tin tuyển dụng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Phong Cách Văn Nói Và Văn Viết Trong Bài Thi Ielts (P.2)
  • Sự Tương Quan Giữa Tiếng Nhật Và Tiếng Việt
  • Những Điểm Tương Đồng Giữa Nhật Bản Và Các Ngôn Ngữ Khác
  • Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Nhật Và Tiếng Anh
  • Should My Child Learn American English Or British English?
  • Sự Khác Biệt Giữa Phong Cách Văn Nói Và Văn Viết Trong Bài Thi Ielts (P.2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Phong Cách Văn Nói Và Văn Viết Trong Bài Thi Ielts (P.1)
  • Các Loại Tiếng Anh: Văn Viết Và Văn Nói
  • Sự Khác Biệt Ngữ Pháp Tiếng Việt Và Tiếng Anh Và Những Lỗi Sai Ngữ Pháp Hay Gặp Ở Người Việt (P.1)
  • Sự Nhầm Lẫn Tai Hại Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Đức
  • Đối Chiếu Các Loại Âm Tiết Tv – Ta
  • Sự khác biệt giữa phong cách văn nói và văn viết

    Khác biệt văn nói và văn viết trong cách sử dụng từ ngữ

    Theo Chafe (1979): “Colloquial expssions occur more often in informal situations. The use of monitoring (e.g., “you know”, “I mean”) and evidentials (e.g., “I think”, “I guess”) depends on the relationship between communicator and recipient.” (Tiếng lóng được dùng nhiều hơn trong những tình huống giao tiếp không trang trọng. Việc có sai sót trong quá trình nói (VD: “bạn biết mà”, “ý tôi là”) và cách đưa ra quan điểm tự nhiên (VD: “tôi nghĩ là”, “tôi đoán là”) phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người nói và người nghe).

    Trong khi đó, văn viết lại thiên về sử dụng các cụm danh động từ (verbal nouns), các từ ngữ được tiêu chuẩn hóa (literary expssions).

    Theo đó, tần suất sử dụng các từ lóng (colloquial expssions) trong việc tường thuật (story) và diễn giải (explanation) cũng như sự sai sót trong quá trình nói (monitoring) và sự tự nhiên trong việc đưa ra quan điểm (evidential) trong văn nói cao gấp đôi, thậm chí là gấp 6 lần so với văn viết.

    Ví dụ, khi thể hiện sự đồng thuận về một vấn đề, người nói có thể sử dụng các từ lóng phổ biến: “OK”, “I think so” mang nghĩa “tôi đồng ý”, “tôi cũng nghĩ vậy”. Trong khi đó văn viết thiên về việc sử dụng các từ ngữ trang trọng: “From my point of view, this sentiment is valid to some extent” (từ quan điểm của tôi, nhận định này là đúng theo một phạm vi nào đó), “I side with this view” (tôi đồng ý với quan điểm này).

    Bên cạnh đó, văn nói còn có xu hướng sử dụng thành ngữ (idiomatic expssions) trong tiếng Anh hiện đại trong khi văn viết nghiêng về sử dụng các cụm từ cụ thể. Ví dụ, cụm thành ngữ “It costs an arm and a leg” được sử dụng trong giao tiếp thường ngày với nghĩa một thứ gì đó rất đắt đỏ. Tuy nhiên trong văn viết tác giả thay thế bằng những tính từ và trạng từ mang nghĩa chính xác như “exorbitantly expensive” (quá đắt).

    Trong khi đó, văn viết thường sử dụng các cụm từ chính xác, các cụm danh động từ (verbal nouns) để diễn tả hành động được nói đến hơn. Ví dụ:

    Văn nói: The salary of employees is increasing.

    Văn viết: There is an increase in the salary of the employees.

    Khác biệt trong hình thức biểu hiện

    Theo Chafe, văn viết có xu hướng sử dụng các cấu trúc thể bị động (passive voice), câu gián tiếp (Indirect quotes) và các từ ngữ được tiêu chuẩn hóa nhiều hơn so với văn nói, biểu hiện cụ thể như sau:

     

    Theo đó, cấu trúc câu bị động và thì quá khứ hoàn thành được sử dụng trong văn viết gấp 5 lần so với văn nói trong trường hợp đưa ra lý lẽ để làm rõ vấn đề. Trong khi đó, cấu trúc câu gián tiếp cũng được sử dụng nhiều hơn trong các văn bản viết so với văn nói.

    Ví dụ, văn viết có xu hướng sử dụng các chủ ngữ giả “It is believed that” (được tin rằng), “there is/are” (có bao nhiêu),…

    Văn nói và văn viết giúp người đọc biểu hiện cảm xúc theo những phương thức khác nhau:

    Trong cả văn nói và văn viết, ý nghĩa của câu được xác định dựa vào ngữ cảnh của văn bản hay đoạn hội thoại. Tuy nhiên, tùy thuộc vào ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết, hàm ý của câu có thể được điều chỉnh theo những phương thức khác biệt. Ví dụ, cùng một câu “Con của mẹ giỏi nhỉ” nhưng mang những ý nghĩa khác nhau phụ thuộc vào ngữ khí, giọng điệu trong giao tiếp của người nói. Hãy xem các trường hợp khác nhau sau đây:

    Trường hợp 1: Cậu học sinh đi học đạt điểm cao, cậu hãnh diện về khoe mẹ:

    “Mẹ ơi, hôm nay cô giáo cho con 10 điểm”

    “Đưa mẹ xem nào. Con của mẹ giỏi nhỉ”

    Trường hợp 2: Cậu học sinh trốn học đi chơi, về đến nhà cậu bị mẹ phát hiện:

    “Hôm nay con dám trốn học đi chơi à? Con của mẹ giỏi nhỉ?”

    Rõ ràng trong cả hai trường hợp này người đọc đã cảm nhận được sự khác nhau rõ rệt trong sắc thái của hai câu nói trên. Nếu như trường hợp thứ nhất người mẹ nói câu “Con của mẹ giỏi nhỉ” với hàm ý khen ngợi con trai mình đã xuất sắc đạt kết quả tốt, câu nói này trong trường hợp thứ hai mang nghĩa không hài lòng, thậm chí là tức giận khi con trai của mình trốn học đi chơi, trong trường hợp này người đọc có thể hiểu là: “Con của mẹ giỏi nhỉ, dám bỏ học đi chơi cơ đấy.”

    Đối với văn viết, sắc thái biểu cảm của câu có thể được thể hiện bằng các dấu câu tiếng Anh như: dấu chấm hỏi (?) trong câu nghi vấn, dấu 3 chấm (…) nếu muốn liệt kê hoặc ngắt câu, dấu chấm than (!) dùng để bộc lộ cảm xúc trong câu cảm thán, …

    Xét ví dụ đoạn văn sau (Road to IELTS Reading test 2, passage 2 – British Council)

    Why not eat insects? So asked British entomologists Vincent M. Holt in the title of his 1885 treatise on the benefits of what he named entomophagy – the consumption of insects (and similar creatures) as a food source. The prospect of eating dishses such as “wireworm sauce” and “slug soup” failed to garner favor amongst those in the stuffy, proper, Victorian social milieu of his time, however, and Holt’s visionary ideas were considered at best eccentric, at worst an offense to every refined palate.

    Tại sao chúng ta không ăn côn trùng? Hãy hỏi nhà nghiên cứu sâu bọ Vinccent M. Holt trong luận thuyết về những lợi ích của việc ăn côn trùng, được gọi là “entomophagy” – việc ăn côn trùng cũng như các sinh vật tương tự. Tuy nhiên, việc ăn các món ăn như sốt ấu trùng, súp sên lại không được ưa chuộng bởi những người dân ở Victoria thời đó và ý tưởng dài hạn của Holt được coi như là điên rồ nhất và gây khó chịu cho những người có khẩu vị tinh tế.

    Có thể thấy tác giả sử dụng dấu chấm hỏi (?) ở câu đầu tiên như một cách đặt vấn đề và làm rõ vấn đề ở những câu tiếp theo. Ngoài ra, các dấu câu như dấu gạch ngang (-) với chức năng giải thích, dấu ngoặc đơn (…) chú thích thêm thông tin cho cụm từ được nói đến và dấu ngoặc kép (“…”) trích dẫn các tên gọi và thuật ngữ.

    Sử dụng ngôn ngữ phù hợp với ngữ cảnh

    Việc phân biệt sự khác nhau giữa văn nói và văn viết có thể giúp người đọc có sự kiểm soát tốt hơn trong việc sử dụng ngôn ngữ. Cụ thể như sau:

    Tránh việc sử dụng những từ vựng không trang trọng (informal) của văn nói trong văn viết. Xét ví dụ sau:

    Văn nói: Kids now can watch funny educational programs to better their knowledge.

    Văn viết: Nowadays, children can watch many humorous educational program to improve their knowledge.

    (Ngày nay trẻ em có thể xem nhiều chương trình giáo dục vui nhộn để cải thiện kiến thức)

    Lịch thi thử IELTS (Paper-based) tháng này

    Kinh nghiệm phòng thi rất quan trọng và thi thử là cách rất tốt để tích lũy kinh nghiệm. Đề thi IELTS tại ZIM rất sát đề thi thật, đánh giá trình độ chính xác, nhận kết quả ngay sau khi thi, và phần thưởng 1.000.000đ cho giải nhất ….

    Các từ không trang trọng (kid: trẻ em, funny: vui nhộn, better: cải thiện) được sử dụng nhiều trong văn nói, đặc biệt là trong giao tiếp, đã được thay đổi thành những từ phù hợp hơn (children, humorous, improve) với nghĩa tương tự phù hợp với tính trang trọng của văn bản.

    Tránh việc sử dụng thành ngữ (idiomatic expssions) và các từ lóng trong văn viết IELTS Writing: thành ngữ được dùng với ý nghĩa mang tính tượng hình và liên tưởng (ví dụ thành ngữ “a piece of cake” với nghĩa dễ dàng như ăn bánh) và tiếng lóng có ý nghĩa khác với nghĩa gốc, thường được dùng trong một cộng đồng nhất định (ví dụ “bae” (before anyone else: người quan trọng nhất) thường được dùng để gọi người yêu – một từ khá phổ biến đối với cộng đồng giới trẻ). Trong khi đó văn viết thường mang ý nghĩa trực tiếp, trang trọng và hướng đến nhiều đối tượng người đọc, vì vậy việc sử dụng thành ngữ và các từ lóng là một điều hạn chế.

    Kết luận

    Mặc dù văn nói và văn viết cùng hướng đến một mục đích chung: truyền đạt ý chí, suy nghĩ giữa con người và phục vụ nhu cầu trao đổi thông tin, văn nói và văn viết vẫn có một vài điểm khác biệt ở nhiều khía cạnh. Vì thế, người học cần nhận ra các điểm khác biệt này để có thể kiểm soát ngôn ngữ của mình trong quá trình sử dụng hai phương thức để luyện thi IELTS, cũng như tránh sai lầm không đáng có khi làm bài thi IELTS. 

    Nguyễn Thị Mai Minh

    Tin tuyển dụng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Tương Quan Giữa Tiếng Nhật Và Tiếng Việt
  • Những Điểm Tương Đồng Giữa Nhật Bản Và Các Ngôn Ngữ Khác
  • Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Nhật Và Tiếng Anh
  • Should My Child Learn American English Or British English?
  • Phân Biệt Chứng Chỉ Tiếng Anh A,b,c Và A1, A2, B1, B2
  • Chuyên Đề: Ứng Dụng Phương Pháp Dạy Học Dự Án Vào ‘văn Học Dân Gian’

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Ngoại Ngữ Bằng Dự Án: Hiệu Quả Bất Ngờ
  • Vận Dụng Hướng Dạy Học Dự Án Của Môn Lịch Sử
  • Phương Pháp Dạy Lịch Sử Thành Công Đã Được Áp Dụng Vào Thực Tế
  • Phương Pháp Easy Và Luyện Ngủ, Luyện Ăn Cho Con Thế Nào Cho Đúng?
  • Trải Nghiệm Phương Pháp Nuôi Con Easy Và Phương Pháp Truyền Thống
  • Sáng ngày 5.11.2014, tại trường THPT Phú Nhuận (TP.HCM), chúng tôi đã tổ chức buổi báo cáo Chuyên đề: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰ ÁN VÀO VĂN HỌC DÂN GIAN theo hướng đổi mới phương pháp giảng dạy sau một thời gian được tham gia lớp tập huấn chương trình: “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh” (Tài liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo 7/2014) và Dạy học theo Dự án (Intel teach Element) (Tài liệu của Sở GD và ĐT TPHCM 5/2011)

    Tham gia buổi báo cáo có sự hiện diện của BGH trường THPT Phú Nhuận, GV các trường trong Thành phố (THPT Nguyễn Thượng Hiền, THPT Tân Phú, THPT Nguyễn Chí Thanh,…) cùng sự tham dự của các GV trong tổ Ngữ Văn và các em HS của trường THPT Phú Nhuận.

    Mục đích và ý nghĩa của buổi chuyên đề:

    1/ Tổ chức buổi chuyên đề nhằm thực hiện tốt kế hoạch, nhiệm vụ năm học 2014-2015 và những năm học tiếp theo, đáp ứng được yêu cầu của các cấp, các ngành đối với sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo.

    2/ Buổi chuyên đề giúp học sinh cảm nhận sâu sắc hơn đặc trưng và vẻ đẹp của văn học Dân gian Việt Nam – một thứ tài sản vô giá của dân tộc, tạo ra một sân chơi bổ ích giáo dục nhân cách và để tạo hứng thú học tập cho học sinh đối với bộ môn Ngữ Văn.

    3/ Hoạt động này sẽ góp phần bồi đắp thêm tinh thần tự hào dân tộc và tình yêu mến con người Việt Nam nói riêng và nhân loại nói chung.

    4/ Đây cũng là hoạt động nhằm phát hiện ra những tài năng văn hoá, văn nghệ trong học sinh để bổ sung thêm lực lượng cho nhà trường, đồng thời tăng cường cho học sinh những kĩ năng khác trong nhà trường trong việc giáo dục học sinh một cách toàn diện, hiệu quả thiết thực.

    (Dự án do cô Minh Hương và HS lớp 10A5 thực hiện)MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG BUỔI BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ cô Minh Hương giới thiệu chuyên đề trước khi HS lên báo cáo kết quả sau gần 2 tháng nghiên cứu

    5/ Buổi chuyên đề nhằm giới thiệu và minh họa đến các giáo viên trong Tổ Văn trường THPT Phú Nhuận những phương pháp dạy học theo định hướng mới của Bộ giáo dục về phát triển năng lực học sinh.

    Trích đoạn “QUAN ÂM THỊ KÍNH” do HS đóng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Toán Lớp 1″
  • Dạy Học Sinh Dạng Toán Có Lời Văn Ở Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Dạy Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 1
  • Top 4 Cách Dạy Toán Lớp 2 Hiệu Quả Nhất Bố Mẹ Nên Biết
  • Báo Cáo Chuyên Đề Môn Toán
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×