Top 20 # Sự Khác Biệt Giữa Virus Và Vi Khuẩn / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Sự Khác Biệt Giữa Vi Khuẩn Và Virus / 2023

Vậy làm thế nào để chúng có thể xâm nhập và gây bệnh cho cơ thể chúng ta và vi khuẩn và virus khác nhau như thế nào?

Những khác biệt cơ bản

Mặc dù đều có kích thước nhỏ bé, khả năng sinh sản nhanh, có khả năng gây bệnh trong thời gian ngắn,… nhưng vi khuẩn và virus là 2 loài hoàn toàn khác nhau. Trong khi vi khuẩn là một sinh vật tiền nhân, có cấu tạo tiền nhân thì virus chỉ là một đại phân tử nucleoprotein, có cấu tạo ở mức dưới tế bào. Vi khuẩn và virus được phân biệt bằng những đặc điểm cơ bản sau:

Vi khuẩn và virus đều gây bệnh cho con người và hàng ngày chúng ta vẫn tiếp xúc với chúng thông qua môi trường nước, không khí, đất, bề mặt dụng cụ,… Các bệnh do vi khuẩn hay virus xảy ra rất phổ biến, gặp ở mọi lứa tuổi và biểu hiện các mức độ khác nhau từ nhẹ, thậm chí không có biểu hiện đến biểu hiện rất nặng. Mặc dù mọi người đã biết không ít thông tin về vi khuẩn và virus, tuy nhiên trên thực tế chúng đều không thể quan sát được bằng mắt thường, do vậy không dễ để hiểu tường tận về chúng. Vấn đề quan trọng là cần nắm được những điểm khác biệt cơ bản giữa vi khuẩn và virus.

Hình ảnh virus Adeno.

Vi khuẩn có thể phát hiện được trong các cơ thể sống và bên ngoài môi trường. Chúng là các vi sinh vật sống được biết đến với các tên: sinh vật nhân sơ, sinh vật đơn bào. Vi khuẩn là nhóm sinh vật đơn bào không có nhân chiếm số lượng đông đảo nhất trong sinh giới. Chúng có nhiều hình dạng khác nhau, hình que, hình cầu, hình xoắn, một số còn có lôi roi giống như chiếc đuôi giúp chúng di chuyển. Đa phần mọi người sẽ cho rằng sự hiện diện của vi khuẩn là mối hại cho con người, như việc chúng gây ra đủ thứ bệnh tật viêm nhiễm khắp các cơ quan trong cơ thể, mụn nhọt, nhiễm trùng vết thương, vết mổ… Nhưng thực tế chúng đem lại rất nhiều lợi ích cho sức khỏe và môi trường sống của con người. Có hàng trăm loại vi khuẩn có lợi khác nhau sống trong đường ruột của chúng ta. Chúng giúp tiêu hóa thức ăn, ngăn ngừa các bệnh về đường ruột, và còn đóng vai trò miễn dịch. Vi khuẩn ở đại tràng còn giúp tổng hợp vitamin K nữa. Các vi khuẩn trong môi trường giúp đất đai màu mỡ hơn, giúp tạo nên các loại phân bón vi sinh để cải tạo đất.

Có một số khác biệt cơ bản giữa vi khuẩn và virus mà chúng ta cần nắm được. Kích thước của virus nhỏ hơn vi khuẩn từ 10 đến 100 lần. Không giống như vi rút chỉ được coi là các cấu trúc hữu cơ thông qua tương tác với các cơ thể sống khác để sống sót và nhân lên, vi khuẩn là các tổ chức sống có khả năng sinh sản thông qua quá trình sinh sản vô tính còn gọi là sinh sản phân đôi. Trong khi virus chỉ có vỏ protein, không có vách tế bào hay ribosom, còn vi khuẩn có ribosom và vách cứng tạo thành bởi peptidoglycan. Trong khi ARN và ADN của virus được bao trong vỏ protein, thì vật liệu di truyền của vi khuẩn lại trôi nổi trong bào tương. Bào tương của vi khuẩn được tạo thành bởi các enzyme, các chất dinh dưỡng, chất thải, và khí được bao trong vách tế bào và màng tế bào.

Các vi khuẩn có thể đem đến lợi ích, còn các virus nhìn chung không có lợi ích gì; một số được sử dụng trong lĩnh vực công nghệ gene. Ngoài ra, một số nghiên cứu được tiến hành đã chỉ ra rằng có một loại virus đặc biệt có thể được sử dụng để phá hủy các khối u trong não. Mặc dù cả virus và vi khuẩn đều gây bệnh, tuy nhiên nhiễm trùng do vi khuẩn đa phần là nhiễm trùng khu trú tại một hay một vài vị trí trên cơ thể, trong khi virus thường gây nhiễm trùng toàn thân.

Vi khuẩn H. pylori.

Tiêu diệt chúng bằng cách nào?

Vi khuẩn rõ ràng là sinh vật sống, ta có thể sử dụng cả vắc-xin và kháng sinh để phòng ngừa và tiêu diệt. Vắc-xin là chế phẩm có tính kháng nguyên, có thể là vi khuẩn và virus đã bị giảm độc lực hoặc các vi sinh vật bất hoại, đã chết hay chế phẩm từ vi sinh vật, dùng để tạo miễn dịch đặc hiệu chủ động. Vắc-xin sẽ khiến hệ miễn dịch “ghi nhớ” và tạo ra kháng thể chống lại nó. Khi bạn tiếp xúc với tác nhân gây bệnh thực sự, hệ miễn dịch sẽ nhận ra và có khả năng chống lại.

Còn kháng sinh là những chất có khả năng tiêu diệt vi khuẩn hay kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn và để hệ miễn dịch tự xử lý. Nó có tác dụng lên vi khuẩn ở cấp độ phân tử. Tuy nhiên, kháng sinh lại không thể tiêu diệt virus. Bởi chúng là một thứ hoàn toàn khác.

Các bệnh gây ra do vi khuẩn phần lớn có thể điều trị được bằng kháng sinh. Tuy nhiên, kháng sinh lại chẳng diệt được virus hay giúp ích gì trong điều trị các bệnh do virus. Các thuốc kháng virus thường dùng để điều trị một bệnh cụ thể do virus và chỉ giúp làm giảm quá trình nhân lên của virus bằng cách can thiệp vào quá trình gắn vào tế bào của virus hoặc ngăn chặn vật liệu di truyền của virus bên trong tế bào chủ. Một số bệnh do virus có thể ngăn ngừa bằng vắc-xin.

Khác Biệt Giữa Vi Khuẩn Và Virus / 2023

* Tôi nôm na hiểu rằng virus nguy hiểm hơn vi khuẩn nhưng chưa biết tường tận về hai loại “vi” gây nên dịch bệnh này. Xin quý báo giải thích. (Trần Mỹ Nữ, Thanh Khê, Đà Nẵng).

– Khác biệt đầu tiên giữa hai loại “vi” này là về tên gọi.

Vi khuẩn [微菌] là cách gọi Hán Nôm của bacterium (số nhiều là bacteria) – từ gốc tiếng Anh và tiếng Latinh chỉ một nhóm (giới hoặc vực) vi sinh vật nhân sơ đơn bào có kích thước rất nhỏ; một số thuộc loại ký sinh trùng. Vi khuẩn còn được gọi là vi trùng. Chữ trùng tương đương với chữ khuẩn trong các cụm từ chỉ phân loại hình thái như: “Tụ cầu trùng” = “tụ cầu khuẩn”; “trực trùng” = “trực khuẩn”…

Hình ảnh SARS-CoV-2 gây nên Covid-19 (ảnh trái) và vi khuẩn chúng tôi gây nên bệnh tiêu chảy. Nguồn: Internet

Virus – từ gốc tiếng Pháp (trong bài này chúng tôi thống nhất dùng từ virus) là một tác nhân truyền nhiễm chỉ nhân lên được khi ở bên trong tế bào sống của một sinh vật khác. Virus còn được gọi là siêu vi, siêu vi khuẩn hay siêu vi trùng. Chính cách gọi này làm nhiều người nhầm lẫn rằng “vi” trong virus và “vi” trong siêu vi, vi khuẩn, vi trùng có “họ hàng” với nhau.

Giữa vi khuẩn và virus, về mặt kích cỡ, nguồn gốc và tác hại lên cơ thể người có sự khác biệt cơ bản. Virus là dạng sống nhỏ nhất và đơn giản nhất; chúng nhỏ hơn vi khuẩn từ 10 tới 100 lần. Vi khuẩn là sinh vật đơn bào sống cả bên trong lẫn bên ngoài tế bào khác. Chúng có thể tồn tại mà không cần tới tế bào túc chủ. Còn virus, chỉ có thể ký sinh nội bào, nghĩa là chúng xâm nhập vào tế bào chủ và sống bên trong tế bào. Virus thay đổi vật liệu di truyền của tế bào chủ để khiến chúng (tế bào chủ) không hoạt động bình thường và để virus tự nhân lên.

Virus và vi khuẩn có sự khác biệt trong sinh sản.

Virus cần tới một vật chủ sống (thực vật hay động vật) để nhân lên, trong khi hầu hết vi khuẩn có thể phát triển trên những bề mặt không có sự sống.

Vi khuẩn có đủ bào quan (thành phần cấu trúc hợp thành tế bào) để phát triển và nhân lên và thường sinh sản vô tính.

Ngược lại, virus thường chỉ chứa thông tin – DNA hoặc RNA, bao quanh bởi lớp vỏ protein. Chúng cần bào quan của tế bào chủ để sản sinh. Phần “chân” của virus sẽ bám vào bề mặt tế bào và rồi vật liệu di truyền bên trong virus sẽ được truyền vào tế bào. Nói cách khác, virus không thực sự “sống”, chỉ cơ bản là thông tin (DNA hay RNA) trôi nổi cho tới khi chúng gặp vật chủ phù hợp.

Vi khuẩn là sinh vật sống nên có thể sử dụng cả vắc-xin và kháng sinh để phòng ngừa và tiêu diệt. Virus, về cơ bản, không phải sinh vật sống, bởi chúng cơ bản ở trong tình trạng “ngủ đông”. Khi virus xâm nhập vào cơ thể người, nó sẽ bị hệ miễn dịch tiêu diệt nếu bị nhận diện là kẻ xâm nhập trước khi tiếp xúc được với một tế bào. Nếu không bị tiêu diệt, quá trình lây nhiễm sẽ bắt đầu. Khi đó, virus chỉ hoạt động nhờ DNA hoặc RNA nên rất khó bị nhận diện. Dùng kháng sinh diệt virus cũng sẽ diệt luôn tế bào chủ.

Vì vậy, để tiêu diệt virus, người ta sử dụng các thuốc kháng virus, chứ không phải thuốc kháng sinh. Tiêm vaccine là cách phòng, chống virus tốt nhất.

Theo bài viết “Bác bỏ 15 hiểu lầm về virus SARS-CoV-2 và bệnh Covid-19” đăng trên Báo điện tử Dân trí (dantri.com.vn), thuốc kháng sinh chỉ có tác dụng với vi khuẩn, chứ không có tác dụng với virus. Mà SARS-CoV-2 là một loại virus. Tuy nhiên nếu bạn phải nhập viện do Covid-19 gây ra bởi SARS-CoV-2 thì bạn vẫn có thể phải dùng thuốc kháng sinh để điều trị các tình huống nhiễm trùng do vi khuẩn.

ĐNCT

Sự Khác Biệt Giữa Nhiễm Trùng Do Vi Khuẩn Và Virus / 2023

Vi khuẩn và virus có thể gây ra nhiều bệnh nhiễm trùng phổ biến. Nhưng sự khác biệt giữa hai loại sinh vật truyền nhiễm này là gì?

Vi khuẩn là những vi sinh vật nhỏ bé được tạo thành từ một tế bào. Chúng rất đa dạng, và có thể có nhiều hình dạng và đặc điểm cấu trúc. Vi khuẩn có thể sống trong hầu hết mọi môi trường có thể tưởng tượng được, kể cả trong hoặc trên cơ thể con người.mChỉ một số ít vi khuẩn gây nhiễm trùng ở người. Những vi khuẩn này được gọi là vi khuẩn gây bệnh.

Virus là một loại vi sinh vật nhỏ bé khác, mặc dù chúng thậm chí còn nhỏ hơn vi khuẩn. Giống như vi khuẩn, chúng rất đa dạng, có nhiều hình dạng và tính năng. Virus là ký sinh trùng. Điều đó có nghĩa là chúng đòi hỏi các tế bào sống hoặc mô để phát triển. Virus có thể xâm chiếm các tế bào trong cơ thể bạn, sử dụng các thành phần của tế bào để phát triển và nhân lên. Một số virus thậm chí giết chết tế bào chủ như là một phần của vòng đời của chúng.

2. Nhiễm khuẩn lây lan như thế nào?

Nhiều bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn truyền nhiễm, có nghĩa là chúng có thể lây từ người sang người. Có nhiều cách có thể xảy ra, bao gồm:

– Tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm vi khuẩn, bao gồm chạm và hôn.

– Tiếp xúc với chất dịch cơ thể của người bị nhiễm bệnh, đặc biệt là sau khi quan hệ tình dục, hoặc khi người nhiễm bệnh ho hoặc hắt hơi.

– Lây truyền từ mẹ sang con khi mang thai hoặc sinh.

– Tiếp xúc với các bề mặt bị ô nhiễm, chẳng hạn như tay nắm cửa hoặc tay cầm vòi, sau đó chạm vào mặt, mũi hoặc miệng của bạn.

Ngoài việc lây lan từ người sang người, nhiễm trùng vi khuẩn cũng có thể lây lan qua vết cắn của côn trùng bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, tiêu thụ thực phẩm hoặc nước bị ô nhiễm cũng có thể dẫn đến nhiễm trùng.

3. Nhiễm khuẩn phổ biến là gì?

Một số ví dụ về nhiễm khuẩn bao gồm:

– Viêm họng liên cầu khuẩn.

– Nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI).

– Ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn.

– Bệnh da liễu.

– Bệnh lao.

– Viêm màng não do vi khuẩn.

– Viêm mô tế bào.

– Bệnh Lyme.

– Uốn ván.

4. Nhiễm virus lây lan như thế nào?

Giống như nhiễm trùng do vi khuẩn, nhiều bệnh nhiễm virus cũng dễ lây lan. Chúng có thể lây từ người này sang người khác theo nhiều cách giống nhau, bao gồm:

– Tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm virus.

– Tiếp xúc với chất dịch cơ thể của người bị nhiễm virus.

– Lây truyền từ mẹ sang con khi mang thai hoặc sinh.

– Tiếp xúc với các bề mặt bị ô nhiễm.

Ngoài ra, tương tự như nhiễm trùng do vi khuẩn, nhiễm virus có thể lây lan qua vết cắn của côn trùng bị nhiễm bệnh hoặc thông qua việc tiêu thụ thực phẩm hoặc nước đã bị ô nhiễm.

5. Nhiễm virus phổ biến là gì?

Một số ví dụ về nhiễm virus bao gồm:

– Cúm.

– Cảm lạnh thông thường.

– Viêm dạ dày ruột.

– Thủy đậu.

– Bệnh sởi.

– Viêm màng não do virus.

– Mụn cóc.

– Virus gây suy giảm miễn dịch ở người.

– Viêm gan virus.

– Virus zika.

– Siêu vi trùng Tây sông Nile.

6. Là vi khuẩn hay virus gây cảm lạnh?

Cảm lạnh có thể gây nghẹt hoặc chảy nước mũi, đau họng và sốt thấp, nhưng là do vi khuẩn hoặc virus gây cảm lạnh?

Cảm lạnh thông thường được gây ra bởi một số loại vi-rút khác nhau, mặc dù các loại virut tê giác thường là thủ phạm. Bạn không thể làm gì nhiều để điều trị cảm lạnh ngoại trừ chờ đợi và sử dụng thuốc không kê đơn (OTC) để giúp giảm các triệu chứng của bạn.

Trong một số trường hợp, nhiễm trùng thứ cấp có thể phát triển trong hoặc sau khi bị cảm lạnh. Các ví dụ phổ biến về nhiễm khuẩn thứ cấp bao gồm:

– Viêm xoang.

– Nhiễm trùng tai.

– Viêm phổi.

Bạn có thể đã bị nhiễm vi khuẩn nếu:

– Các triệu chứng kéo dài hơn 10 đến 14 ngày.

– Các triệu chứng tiếp tục trở nên tồi tệ hơn là cải thiện trong vài ngày.

– Bạn bị sốt cao hơn bình thường khi bị cảm lạnh.

7. Bạn có thể sử dụng màu sắc chất nhầy để xác định xem đó có phải là nhiễm trùng do vi khuẩn hay virus không?

Bạn nên tránh sử dụng màu sắc chất nhầy để xác định xem bạn có bị nhiễm virus hay vi khuẩn hay không.

Có một niềm tin từ lâu rằng chất nhầy màu xanh lá cây cho thấy nhiễm trùng do vi khuẩn cần kháng sinh. Trên thực tế, chất nhầy màu xanh lá cây thực sự được gây ra bởi các chất được giải phóng bởi các tế bào miễn dịch của bạn để đáp ứng với kẻ xâm lược.

Bạn có thể có chất nhầy màu xanh lá cây do nhiều thứ, bao gồm virus, vi khuẩn hoặc thậm chí là dị ứng theo mùa.

8. Rối loạn tiêu hóa do vi khuẩn hay virus?

Khi bạn gặp các triệu chứng như buồn nôn, tiêu chảy hoặc chuột rút bụng, bạn có khả năng bị rối loạn tiêu hóa . Nhưng đó có phải là do nhiễm virus hay vi khuẩn?

– Viêm dạ dày ruột là một bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa. Nguyên nhân là do tiếp xúc với phân hoặc chất nôn từ người bị nhiễm trùng.

– Ngộ độc thực phẩm là một bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa do tiêu thụ thực phẩm hoặc chất lỏng bị ô nhiễm.

Viêm dạ dày ruột và ngộ độc thực phẩm có thể do cả virus và vi khuẩn. Bất kể nguyên nhân là gì, nhiều lần các triệu chứng của bạn sẽ biến mất trong một hoặc hai ngày với sự chăm sóc tốt tại nhà.

Tuy nhiên, các triệu chứng kéo dài hơn ba ngày, gây tiêu chảy ra máu, hoặc dẫn đến mất nước nghiêm trọng có thể chỉ ra nhiễm trùng nặng hơn cần được điều trị y tế kịp thời.

9. Làm thế nào chẩn đoán được nhiễm trùng?

Đôi khi bác sĩ có thể chẩn đoán tình trạng của bạn dựa trên tiền sử bệnh và các triệu chứng của bạn.

Ví dụ, các tình trạng như sởi hoặc thủy đậu có các triệu chứng rất đặc trưng có thể được chẩn đoán bằng một kiểm tra thể chất đơn giản.

Ngoài ra, nếu có dịch bệnh hiện tại của một bệnh cụ thể, bác sĩ sẽ đưa yếu tố đó vào chẩn đoán. Một ví dụ là cúm, gây ra dịch bệnh theo mùa trong những tháng lạnh hàng năm.

Nếu bác sĩ của bạn muốn biết loại sinh vật nào có thể gây ra tình trạng của bạn, họ có thể lấy một mẫu để nuôi cấy. Các mẫu có thể được sử dụng để nuôi cấy thay đổi theo điều kiện nghi ngờ, nhưng có thể bao gồm:

– Máu.

– Chất nhầy hoặc đờm.

– Nước tiểu.

– Da.

– Dịch não tủy.

Khi một vi sinh vật được nuôi cấy, nó cho phép bác sĩ xác định những gì gây ra tình trạng của bạn. Trong trường hợp nhiễm vi khuẩn, nó cũng có thể giúp họ xác định loại kháng sinh nào có thể hữu ích trong việc điều trị tình trạng của bạn.

10. Những bệnh nhiễm trùng được điều trị bằng kháng sinh?

Thuốc kháng sinh là thuốc dùng để điều trị nhiễm khuẩn. Có nhiều loại kháng sinh khác nhau, nhưng tất cả chúng đều có tác dụng ngăn vi khuẩn phát triển và phân chia hiệu quả. Chúng không hiệu quả chống lại nhiễm virus.

Mặc dù thực tế là bạn chỉ nên dùng kháng sinh khi bị nhiễm vi khuẩn, nhưng kháng sinh thường được yêu cầu cho nhiễm virus. Điều này là nguy hiểm vì kê đơn kháng sinh quá mức có thể dẫn đến kháng kháng sinh.

Kháng kháng sinh xảy ra khi vi khuẩn thích nghi để có thể kháng một số loại kháng sinh. Nó có thể làm cho nhiều bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn khó điều trị hơn.

Nếu bạn được kê đơn thuốc kháng sinh khi bị nhiễm vi khuẩn, hãy uống toàn bộ quá trình kháng sinh – ngay cả khi bạn bắt đầu cảm thấy khỏe hơn sau vài ngày. Bỏ qua liều có thể ngăn chặn tất cả các vi khuẩn gây bệnh khỏi bị giết.

11. Nhiễm virus được điều trị như thế nào?

Không có điều trị cụ thể cho nhiều bệnh nhiễm virus. Điều trị thường tập trung vào việc giảm các triệu chứng trong khi cơ thể bạn hoạt động để loại bỏ nhiễm trùng. Điều này có thể bao gồm những thứ như:

– Uống nước để ngăn ngừa mất nước.

– Nghỉ ngơi nhiều.

– Sử dụng thuốc giảm đau OTC như acetaminophen (Tylenol) hoặc ibuprofen (Motrin, Advil) để giảm đau, đau và sốt.

– Dùng thuốc thông mũi OTC để giúp chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi.

– Viên ngậm để giúp giảm đau họng.

12. Thuốc kháng vi-rút

Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể kê toa thuốc kháng vi-rút để giúp điều trị tình trạng của bạn.

Thuốc kháng vi-rút ức chế vòng đời của virus theo một cách nào đó. Một số ví dụ bao gồm các loại thuốc như oseltamivir (Tamiflu) trong điều trị nhiễm cúm hoặc valacyclovir (Valtrex) đối với nhiễm virus herpes simplex hoặc herpes zoster (bệnh zona)

13. Làm thế nào để ngăn ngừa nhiễm trùng?

Hãy chắc chắn rửa tay trước khi ăn, sau khi sử dụng phòng tắm, và trước và sau khi xử lý thực phẩm.

Tránh chạm vào mặt, miệng hoặc mũi nếu tay bạn không sạch. Không dùng chung vật dụng cá nhân như dụng cụ ăn uống, ly uống nước hoặc bàn chải đánh răng.

Vô số vắc xin có sẵn để giúp ngăn ngừa các bệnh do virus và vi khuẩn khác nhau. Ví dụ về các bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc-xin bao gồm: sởi, uốn ván, cúm, bệnh ho gà.

Đừng ra ngoài nếu bạn bị bệnh

Ở nhà nếu bạn bị bệnh để giúp ngăn ngừa lây nhiễm. Nếu bạn phải ra ngoài, rửa tay thường xuyên và hắt hơi hoặc ho vào khuỷu tay hoặc vào khăn giấy. Hãy chắc chắn để vứt bỏ bất kỳ mô được sử dụng.

Thực hành tình dục an toàn

Sử dụng bao cao su có thể giúp ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs).

Hãy chắc chắn rằng thức ăn được nấu chín kỹ

Hãy chắc chắn rằng tất cả các loại thịt được nấu đến nhiệt độ thích hợp. Hãy chắc chắn rửa kỹ bất kỳ trái cây hoặc rau sống trước khi ăn. Đừng để đồ ăn thừa ở nhiệt độ phòng. Thay vào đó, làm lạnh chúng kịp thời.

Bảo vệ chống lại côn trùng

Hãy chắc chắn sử dụng các thành phần có chứa thuốc chống côn trùng như DEET hoặc picaridin nếu bạn đang ở bên ngoài nơi côn trùng như muỗi và ve thường gặp. Mặc quần dài và áo sơ mi dài tay, nếu có thể.

Sự Khác Nhau Giữa Virus, Vi Khuẩn Và Kí Sinh Trùng / 2023

Theo Business Insider, virus tồn tại từ rất lâu. Virus xuất hiện đầu tiên và có thể là tổ tiên xa xưa nhất của con người. Virus giúp xây dựng bộ gene của tất cả các loài, bao gồm con người. Bộ gene của chúng ta chứa đến 50% ADN từ retrovirus (virus chứa vật chất di truyền là phân tử ARN. Ngoài ra, virus có thể mở đường cho việc hình thành nhiều enzyme sao chép ADN, đóng vai trò thiết yếu cho sự phân chia và phát triển của tế bào.

Virus có khả năng gây bệnh truyền nhiễm đối với con người và động vật, một số loại thậm chí còn có khả năng lây bệnh từ động vật sang người và ngược lại. Vòng đời virus có hai giai đoạn. Khi chúng ở ngoài tế bào, chúng được gọi là những hạt virion vô sinh. Khi lọt vào tế bào, chúng lợi dụng bộ máy của tế bào để nhân bản. Một số nhà khoa học cho rằng, virus tồn tại ở dạng hữu sinh khi ở trong tế bào.

Dù tiếp xúc với các phân tử virus hàng ngày, không phải lúc nào chúng ta cũng nhiễm bệnh, do hệ miễn dịch có thể giải quyết phần lớn các loại virus này. Chúng ta chỉ ốm khi lần đầu tiên tiếp xúc với virus mới hoặc bị phơi nhiễm với một số lượng lớn virus. Đó là lý do các cơ quan y tế luôn khuyến khích tiêm chủng cúm định kỳ hàng năm. Các chủng cúm thông thường có thể thay đổi mỗi năm, và khả năng miễn dịch từ lần nhiễm bệnh trước đó hoặc qua vắc-xin không thể bảo vệ chúng ta trong trường hợp tiếp xúc với chủng đã biến đổi.

Khả năng lây lan và tái tạo nhanh chóng làm cho một số loại virus trở thành tác nhân gây bệnh đáng sợ, đến mức được coi là vũ khí hủy diệt hàng loạt. Ngoài ra, một số virus giết người một cách từ từ, điển hình là virus bệnh dại với thời gian ủ bệnh dài (1 – 3 tháng). Tuy bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc-xin, khi các triệu chứng xuất hiện, người bệnh gần như chắc chắn tử vong.

Vắc-xin là cách phòng chống virus tốt nhất. Vắc-xin kích hoạt phản ứng miễn dịch, cho phép cơ thể phản ứng hiệu quả hơn khi nhiễm bệnh. Vắc-xin cũng làm giảm độ nguy hiểm của nhiều loại virus có thể gây chết người như bệnh sởi, rubella, cúm và bệnh đậu mùa. Ngoài ra, rửa tay và che mũi khi hắt hơi là những cách giúp hạn chế virus lây lan.

Một số vi khuẩn có lợi cho chúng ta, cung cấp hệ thống bảo vệ chống các tác nhân gây bệnh và giúp ích cho quá trình tiêu hóa đường ruột. Tuy nhiên, một số loại không lành tính như vậy. Các loại vi khuẩn chuyên gây bệnh phổ biến là nhiễm khuẩn tụ cầu (Staphylococcus aureus), ngộ độc (Clostridium botulinum), bệnh lậu (Neisseria gonorrhoeae), loét dạ dày (Helicobacter pylori), bạch hầu (Corynebacterium diphtheriae) và bệnh dịch hạch (Yersinia pestis).

Độc tố vi khuẩn sản xuất sẽ xâm nhập vào các tế bào hoặc mạch máu, hoặc cạnh tranh chất dinh dưỡng với vật chủ, từ đó dẫn đến nguy cơ mắc bệnh. Các phương pháp điều trị phải phụ thuộc vào cách thức vi khuẩn gây bệnh. Ví dụ, trong trường hợp ngộ độc, người mắc bệnh khi ăn phải thực phẩm nhiễm độc hoặc các bào tử vi khuẩn C. botulinum. Khi bệnh nhân hấp thụ độc tố, các triệu chứng sẽ xuất hiện trong vòng 6 – 36 giờ. Nếu nuốt phải bào tử, các triệu chứng này chỉ xuất hiện sau một tuần.

Chăm sóc hỗ trợ là phương pháp điều trị chính nhằm ngăn chặn hoặc làm giảm các biến chứng và duy trì sức khỏe bệnh nhân. Các loại kháng sinh điều trị nhiễm trùng bằng cách tiêu diệt vi khuẩn, nhưng đối với ngộ độc, vi khuẩn khi bị tiêu diệt có thể tiết ra nhiều độc tố khiến bệnh trầm trọng hơn. Các bác sĩ điều trị độc tố bằng cách dùng thuốc kháng độc hoặc khiến bệnh nhân ói mửa. Ngày nay, do sự lạm dụng và sử dụng sai kháng sinh, vi khuẩn kháng thuốc ngày càng tăng. Vào năm 2013, khoảng 480.000 trường hợp mắc bệnh lao kháng thuốc (MDR-TB).

Sử dụng thay phiên các loại kháng sinh khác nhau có thể làm giảm nguy cơ kháng thuốc. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang phát triển một số phương pháp khác, như sử dụng virus kháng khuẩn phage (một loại virus giết chết vi khuẩn) hay enzyme có khả năng phá hủy bộ gene của vi khuẩn kháng thuốc. Trong thực tế, virus kháng khuẩn đang được sử dụng rộng rãi ở Đông Âu.

Các vắc-xin dành cho vi khuẩn như vắc-xin DPT chống bạch hầu, ho gà và uốn ván đang được sử dụng phổ biến. Ngoài ra, nhiều giải pháp đơn giản có thể giúp ngăn chặn vi khuẩn gây bệnh như rửa tay đúng cách, khử trùng bề mặt các dụng cụ, sử dụng nước sạch và nấu ăn với nhiệt độ thích hợp để loại bỏ vi khuẩn.

Ký sinh trùng – kẻ ăn bám cơ thể chúng ta

Ký sinh trùng, nhóm thứ ba trong bộ ba mầm bệnh, là tên gọi chung cho nhiều sinh vật đa dạng, sống trong hoặc trên cơ thể vật chủ và ăn bám vật chủ đó, bao gồm con người. Ký sinh trùng bao gồm sinh vật đơn bào như protozoa, hoặc sinh vật lớn hơn như giun hoặc bọ ve. Ký sinh trùng đơn bào có nhiều điểm chung với các tế bào cơ thể người hơn so với các loại vi khuẩn. Ký sinh trùng có ở khắp nơi, đóng một vai trò quan trọng và phức tạp trong hệ sinh thái.

Ký sinh trùng cũng có thể gây ra nhiều bệnh, đặc biệt ở nước đang phát triển. Trong nhiều trường hợp, bệnh nhiễm ký sinh trùng thường đi kèm điều kiện vệ sinh thiếu thốn và đói nghèo. Bệnh sốt rét cứ 30 giây lại giết chết trẻ em và 90% ca nhiễm bệnh tập trung ở châu Phi. Đây là bệnh do ký sinh trùng gây chết người nhiều nhất, dù có nhiều tiến bộ trong việc ngăn chặn bệnh dịch này. Những bệnh do ký sinh trùng phổ biến khác như bệnh Leishmaniasis, bệnh giun chỉ và bệnh phù chân voi.

Nhiều ký sinh trùng truyền qua muỗi và các loại côn trùng. Với tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng, nhiều bệnh ký sinh trùng đang lan rộng đến các khu vực phía bắc.

Hiện nay, các nhà nghiên cứu chưa tìm ra vắc-xin phòng bệnh ký sinh ở người, nhưng nhiều loại thuốc hiện nay có thể chống lại ký sinh trùng. Ví dụ, giải Nobel Y học 2015 được trao cho các nhà khoa học có công phát triển thuốc phòng chống ký sinh trùng (Ivermectin dùng cho giun và Artemisinin để điều trị bệnh sốt rét).

Phương Chu