Sự Khác Biệt Giữa Bộ Luật Hình Sự 1999 Và Bộ Luật Hình Sự 2022

--- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Phạt Vi Phạm Trong Bộ Luật Dân Sự Và Luật Thương Mại
  • Phân Biệt Giữa Người Làm Chứng Và Người Chứng Kiến
  • So Sánh Bộ Luật Hình Sự 2022 (Sửa Đổi 2022) Và Blhs 1999 (Sửa Đổi 2009)
  • Thắng Cbs Là Gì? So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Phanh Abs Và Cbs
  • Khác Nhau Giữa Abs Và Cbs
  • Nhằm khắc phục những sai sót trong quá khứ, nay mình mạn phép chia sẻ những khác biệt giữa Bộ luật hình sự 1999 và Bộ luật hình sự 2022 để phục vụ cho công tác nghiên cứu, học tập và cả ứng dụng trong thực tế.

    Lưu ý: Bộ luật hình sự 1999 được nhắc ở tiêu đề và cả ở trong bài viết là Bộ luật hình sự 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tương tự với Bộ luật hình sự 2022 cũng như vậy, là Bộ luật hình sự 2022, được sửa đổi, bổ sung năm 2022.

    STT

    Bộ luật hình sự 1999

    Bộ luật hình sự 2022

    Nội dung mới

    1

    Lời nói đầu

    Không có

    Bãi bỏ nội dung Lời nói đầu tại Bộ luật hình sự 1999.

    2

    Điều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự

    Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

    Để thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ luật quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội.

    Điều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự

    Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

    Bộ luật này quy định về tội phạm và hình phạt.

    3

    Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

    Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

    1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

    2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Bổ sung cơ sở chịu trách nhiệm hình sự không chỉ đối với cá nhân mà còn đối với pháp nhân.

    4

    Điều 3. Nguyên tắc xử lý

    1. Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật.

    2. Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội.

    Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng.

    Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra.

    3. Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục.

    4. Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt.

    5. Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hoà nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.

    Điều 3. Nguyên tắc xử lý1. Đối với người phạm tội:

    a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

    b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;

    c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

    d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

    Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;

    đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;

    g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.

    2. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội:

    a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

    Bổ sung nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân phạm tội.

    5

    Điều 4. Trách nhiệm đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

    2. Các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ pháp luật và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.

    3. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

    Điều 4. Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm

    2. Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.

    3. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.

    Sửa đổi từ ngữ cho phù hợp hơn trước, đồng thời các cơ quan có trách nhiệm phòng chống tội phạm cũng được trao quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ này.

    6

    Điều 5. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    1. Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

    Điều 5. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    1. Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

    2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

    – Mở rộng hiệu lực áp dụng của Bộ luật hình sự trong trường hợp vi phạm xảy ra ở tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

    – Quy định lại nội dung áp dụng BLHS 2022 đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước CHXHCNVN. (Trong khi trước đây mặc định các đối tượng này được giải quyết bằng con đường ngoại giao)

    7

    Điều 6. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    1. Công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này.

    Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    2. Người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự Việt Nam trong những trường hợp được quy định trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

    Điều 6. Hiệu lực của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    1. Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này.

    Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.

    2. Người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    3. Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định.

    Bổ sung hiệu lực áp dụng đối với pháp nhân thương mại Việt Nam, pháp nhân thương mại nước ngoài.

    Đồng thời quy định hiệu lực áp dụng trong trường hợp hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    8

    Điều 7.Hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian

    1. Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

    2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

    3. Điều luật xoá bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

    Điều 7. Hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian

    1. Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

    2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

    3. Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự,miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện,xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

    Bổ sung quy định “loại trừ trách nhiệm hình sự”, “tha tù trước thời hạn có điều kiện”

    9

    Điều 8. Khái niệm tội phạm

    1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

    2. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

    4. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

    Điều 8. Khái niệm tội phạm

    2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

    Điều 9. Phân loại tội phạm

    1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

    a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

    2. Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.

    – Quy định thêm đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

    – Nhấn mạnh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với từng loại tội phạm.

    – Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì khung cao nhất không chỉ là đến 03 năm tù mà còn là hình thức phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ.

    10

    Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

    1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

    2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

    1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

    2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

    – Bổ sung quy định loại trừ đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.

    – Quy định cụ thể trường hợp người phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự.

    11

    Điều 13. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

    1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

    2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Điều 21. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

    Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Bãi bỏ một số nội dung không cần thiết tại quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự.

    Đội ngũ luật sư – Hãng Luật TGS LAWFIRM

    Luật sư – Nguyễn Văn Tuấn – GĐ Hãng Luật TGS

    Ông là một luật sư giỏi có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đất đai. Luật sư đã tham gia tranh tụng nhiều vụ án tranh chấp đất đai, vụ án hình sự, kinh tế, thương mại,.. trên toàn quốc.

    Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Phó Giám Đốc Hãng Luật TGS

    Thạc sĩ, Luật sư Nguyễn Đức Hùng là một luật sư giỏi, đã từng công tác tại Công ty Luật TNHH NHB và nhiều công ty luật có thương hiệu khác, với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Đất đai, hình sự, dân sự..

    Luật sư Nguyễn Đức Hùng – Luật sư Hãng Luật TGS

    Luật sư Đức Hùng từng công tác tại nhiều tổ chức hành nghề luật sư uy tín, có nhiều năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực tranh tụng hình sự, đất đai, tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình.

    Luật sư Hà Huy Sơn – Luật sư Hãng Luật TGS

    Là một luật sư giỏi trong lĩnh vực hình sự. Với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Hình Sự, luật sư Hà Huy Sơn đã gây dựng được cho mình thương hiệu riêng và sự uy tín vững chắc đối với khách hàng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa “university” Và “college”
  • Sự Khác Biệt Giữa Tâm Lý Đàn Ông Và Phụ Nữ Sau Khi Chia Tay
  • Top 5 Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Hệ Điều Hành Ios Và Android 2022
  • 5 Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Hệ Điều Hành Ios Và Android
  • Sự Khác Biệt Giữa Android Và Ios?
  • Bảo Đảm Quyền Khiếu Nại, Tố Cáo Trong Tố Tụng Hình Sự Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Của Bltths Năm 2022 Về Khiếu Nại, Tố Cáo Trong Tố Tụng Hình Sự Và Một Số Điểm Mới
  • Phân Biệt Khiếu Nại Và Tố Cáo Từ Bản Chất Đến Quy Định Của Pháp Luật
  • Phân Biệt: Khiếu Nại Và Tố Cáo
  • Phân Biệt Giữa Khiếu Nại Và Tố Cáo 2022
  • Phân Biệt Khiếu Nại Và Tố Cáo
  • Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, công dân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó.

    Cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết và có biện pháp khắc phục.

    Căn cứ pháp lý của việc đảm bảo quyền khiếu nại , tố cáo

    Được quy định tại điều 32 trong Bộ luật Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, cá nhân có tố tụng hình sự năm 2022 như sau: quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó. Cơ quan, người có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; gửi văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo, cơ quan, tổ chức khiếu nại và có biện pháp khắc phục. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo do Bộ luật này quy định. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống người khác. “

    Khiếu nại tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp.

    Trong tố tụng hình sự, bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo là nguyên tắc cơ bản. Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, công dân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó.

    Cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết và có biện pháp khắc phục.

    Nguyên tắc này là một trong những biểu hiện bản chất dân chủ của tố tụng hình sự nước ta, là phương tiện bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và cũng là một trong những hình thức phát hiện và khắc phục những sai lầm trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự.

    Khiếu nại là quyền mà cá nhân, cơ quan, tổ chức, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

    Tố cáo là việc cá nhân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng vi phạm pháp luật trong khi tiến hành tố tụng vi phạm pháp luật, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của mình và của người khác.

    Khi có khiếu nại, tố cáo, thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tố cáo phải có trách nhiệm trả lời khiếu nại , tố cáo.

    Thể hiện ở trách nhiệm, tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo và thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết, đồng thời phải áp dụng biện pháp khắc phục việc làm trái pháp luật trong tố tụng hình sự.

    Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại tố cáo được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2022.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

    1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Phân Biệt Giày Balenciaga Track 3 Real Và Fake
  • Cách Nhận Biết Giày Alexander Mcqueen Real Và Fake
  • ​​​​​​​phân Biệt Ví Hiệu Michael Kors Thật Và Giả
  • Cách Phân Biệt Air Jordan 4 “kaws” Fake Vs. Real Qua Các Chi Tiết Branding,
  • Phân Biệt “profession” Và “occupation” Trong Công Sở
  • Chế Định Giám Định Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • 14 Điểm Sửa Đổi Trong Điều Luật Của Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Sự Khác Nhau Về Tội Phạm Sở Hữu Trí Tuệ Giữa Hai Bộ Luât Hình Sự Năm 1999 Và Năm 2022
  • Những Điểm Mới Cụ Thể Của Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Thắng Abs Và Cbs Khác Nhau Ở Điểm Nào?
  • Phanh Ô Tô Có Mấy Loại, Sự Khác Nhau Của Các Phanh Là Gì?
  • Chế định giám định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2022

    Tóm tắt:

    Trước khi Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2022 được ban hành, chế định giám định trong tố tụng hình sự Việt Nam còn sơ sài, nhiều tồn tại và vướng mắc, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nhằm đáp ứng yêu cầu hoàn thiện chế định giám định hiện trong Nghị quyết của Đảng, khắc phục tồn tại, vướng mắc qua thực pháp thể tiễn thi hành BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2022 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung về chế định giám định. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi phân tích những điểm sửa đổi, bổ sung cơ bản của BLTTHS năm 2022 so với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về chế định giám định.

    1. Trưng cầu giám định

    Điều 205 BLTTHS năm 2022 về trưng cầu giám định có một số điểm sửa đổi, bổ sung so với Điều 155 BLTTHS năm 2003 như sau:

    (i) Ngoài việc quy định thẩm quyền quyết định trưng cầu giám định của cơ quan tiến hành tố tụng như BLTTHS năm 2003 (khoản 1 Điều 155), BLTTHS năm 2022 còn bổ sung thêm cho cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thẩm quyền này (khoản 1 Điều 205).

    (iii) Khoản 3 Điều 205 BLTTHS năm 2022 được bổ sung quy định: “Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định trưng cầu giám định, cơ quan trưng cầu giám định phải giao hoặc gửi quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định cho tổ chức, cá nhân thực hiện giám định; gửi quyết định trưng cầu giám định cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.” Sự bổ sung này bảo đảm việc tiến hành giám định được thực hiện nhanh chóng và cũng để Viện kiểm sát thực hiện tốt hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc trưng cầu giám định.

    Trước đây, các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định được quy định tại khoản 3 Điều 155 BLTTHS năm 2003. Ngày nay, BLTTHS năm 2022 bổ sung 01 điều luật mới (Điều 206) quy định về vấn đề này. Theo đó, ngoài việc kế thừa các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2022 còn bổ sung thêm một số trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, đó là: khi cần xác định tình trạng tâm thần của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ); xác định vũ khí quân dụng, vật liệu nỗ, chất cháy, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ; xác định mức độ ô nhiễm môi trường. Việc mở rộng các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định là cần thiết, bảo đảm đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường, khoa học – kỹ thuật…

    3. Yêu cầu giám định

    Điều 207 BLTTHS năm 2022 về yêu cầu giám định là quy định hoàn toàn mới so với BLTTHS năm 2003, có nội dung:

    thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận (khoản 1 Điều 207). Quy định quyền này là nhằm bảo đảm cho đương sự hoặc người đại diện của họ có điều kiện thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, phù hợp với quy định của Luật giám định tư pháp.

    BLTTHS năm 2022 quy định quyền yêu cầu giám định của đương sự hoặc người đại diện của họ nhưng chưa có quy định về nội dung văn bản yêu cầu giám định và thủ tục yêu cầu giám định nên vấn đề này được thực hiện theo quy định của Luật giám định tư pháp năm 2012.

    (ii) Khoản 2 Điều 207 BLTTHS năm 2022 quy định: “Người yêu cầu giám định có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật giám định tư pháp.”.

    (iii) Qua nghiên cứu quy định mới của BLTTHS năm 2022 về yêu cầu giám định, chúng tôi thấy rằng quy định này có hạn chế như sau: BLTTHS năm 2022 thiếu vắng quy định về trách nhiệm xem xét, quyết định trưng cầu giám định của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Trong khi quy định đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định, thì BLTTHS năm 2022 lại chỉ đặt ra trách nhiệm xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định cho cơ quan tiến hành tố tụng là chưa đầy đủ, vì thiếu quy định về trách nhiệm xem xét, quyết định trưng cầu giám định của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (khoản 1 Điều 207).

    4. Thời hạn giám định

    Trước đây, BLTTHS năm 2003 (khoản 2 Điều 156) mới chỉ quy định: “Trong trường hợp việc giám định không thể tiến hành theo thời hạn mà cơ quan trưng cầu giám định yêu cầu thì cơ quan giám định hoặc người giám định phải thông báo ngay bằng văn bản và nêu rõ lý do cho cơ quan đã trưng cầu giám định biết” mà chưa có quy định rõ về thời hạn giám định. Thực tiễn cho thấy, do chưa có quy định về thời hạn giám định, trong khi thời hạn điều tra, truy tố, xét xử được quy định cụ thể theo từng loại tội phạm dẫn đến nhiều trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát vi phạm thời hạn tố tụng và việc giải quyết vụ án bị kéo dài do phải chờ kết luận giám định®. Khắc phục hạn chế của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2022 đã bổ sung 01 điều luật mới (Điều 208) quy định cụ thể, rõ ràng, hợp lý thời hạn giám định đối với từng nhóm các vấn đề cần trưng cầu giám định, thời hạn giám định đối với các trường hợp khác, thời hạn giám định bổ sung hoặc giám định lại. Cụ thể:

    (i) Thời hạn giám định đối với trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định:

    – Không quá 03 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 206 của BLTTHS năm 2022. Đó là trường hợp: Xác định tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ, tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án.

    – Không quá 01 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 6 Điều 206 của BLTTHS năm 2022. Đó là trường hợp: Xác định nguyên nhân chết người (khoản 3) và xác định mức độ ô nhiễm môi trường (khoản 6).

    – Không quá 09 ngày đối với trường hợp quy định tại các khoản 2, 4 và 5 Điều 206 BLTTHS năm 2022. Đó là trường hợp: Xác định tuổi của bị can, bị cáo, bị hại (khoản 2); Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động (khoản 4); Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ (khoản 5).

    (ii) Thời hạn giám định đối với các trường hợp khác thực hiện theo quyết định trưng cầu giám định. Theo quy định này thì BLTTHS năm 2022 giao việc quyết định thời hạn giám định đối với các trường hợp khác” (Chắng hạn như khi cần xác định công cụ gây ra dấu vết, người ký văn bản, con dấu thật hay giả…) cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong quyết định trưng cầu giám định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nêu rõ thời hạn giám định và cá nhân, tổ chức được trưng cầu giám định có trách nhiệm tiến hành giám định trong thời hạn đó.

    (iii) Trường hợp việc giám định không thể tiến hành trong thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 208 BLTTHS năm 2022 thì tổ chức, cá nhân tiến hành giám định phải kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám định.

    (iv) Thời hạn giám định quy định tại Điều 208 BLTTHS năm 2022 cũng áp dụng đối với trường hợp giám định bổ sung giám định lại.

    5. Tiến hành giám định

    Cả BLTTHS năm 2022 và BLTTHS năm 2003 đều có quy định về tiến hành giám định. Cụ thể: Điều 156 BLTTHS năm 2003 quy định “1. Việc giám định có thể tiến hành tại cơ quan giám định hoặc tại nơi tiến hành điều tra vụ án ngay sau khi có quyết định trưng cầu giám định. Điều tra viên, Kiểm sát viên có quyền tham dự giám định, nhưng phải báo trước cho người giám định biết. 2. Trong trường hợp việc giám định không thể tiến hành theo thời hạn mà cơ quan trưng cầu giám định yêu cầu thì cơ quan giám định hoặc người giám định phải thông báo ngay bằng văn bản và nêu rõ lý do cho cơ quan đã trưng cầu giám định biết”. Nay, Điều 209 BLTTHS năm 2022 quy định: “1. Việc giám định có thể tiến hành tại cơ quan giám định hoặc tại nơi tiến hành điều tra vụ án ngay sau khi có quyết định trưng cầu, yêu cầu giám định. Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, người yêu cầu giám định có thể tham dự giám định nhưng phải báo trước cho người giám định biết. 2. Việc giám định do cá nhân hoặc do tập thể thực hiện.”

    So sánh với Điều 156 BLTTHS năm 2003, thì Điều 209 BLTTHS năm 2022 có một số điểm mới sau:

    (i) Nếu quy định về tiến hành giám định của Điều 156 BLTTHS năm 2003 chỉ áp dụng cho trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định, thì Điều 209 BLTTHS năm 2022 về tiến hành giám định còn áp dụng cho cả trường hợp cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trưng cầu giám định và trường hợp đương sự hoặc người đại diện của họ yêu cầu giám định.

    (ii) Điều 209 BLTTHS năm 2022 đã mở rộng chủ thể có quyền tham dự giám định, chẳng những Điều tra viên, Kiểm sát viên mà Thẩm phán, người yêu cầu giám định cũng có thể tham dự giám định.

    (iii) BLTTHS năm 2022 không còn giữ quy định của khoản 2 Điều 156 BLTTHS năm 2003 trong Điều 209 nữa mà đã chuyển quy định này sang Điều 208 (Thời hạn giám định) để đảm bảo sự phù hợp giữa tên gọi và nội dung của điều luật. Giờ đây, khoản 2 Điều 209 là quy định mới với nội dung: “Việc giám định do cá nhân hoặc do tập thể thực hiện”.

    Về giám định cá nhân, giám định tập thể được quy định tại Điều 28 Luật giám định tư pháp năm 2012, theo đó: “1. Giám định cá nhân là việc giám định do 01 người thực hiện. Giám định tập thể là việc giám định do 02 người trở lên thực hiện. 2. Trong trường hợp giám định cá nhân thì người giám định thực hiện việc giám định, ký vào bản kết luận giám định và chịu trách nhiệm cá nhân về kết luận giám định đó. 3. Trong trường hợp giám định tập thể về một lĩnh vực chuyên môn thì những người giám định cùng thực hiện việc giám định, ký vào bản kết luận giám định chung và cùng chịu trách nhiệm về kết luận giám định đó; nếu có ý kiến khác thì giám định viên ghi ý kiến của mình vào bản kết luận giám định và chịu trách nhiệm về ý kiến đó. Trường hợp giám định tập thể thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau thì mỗi người giám định thực hiện phần việc giám định thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình và chịu trách nhiệm cá nhân về phần kết luận giám định đó.”

    6. Giám định bổ sung và giám định lại

    Trước đây, BLTTHS năm 2003 quy định giám định bổ sung hoặc giám định lại trong cùng một điều luật (Điều 159). Nhưng nay, BLTTHS năm 2022 quy định giám định bổ sung và giám định lại trong 02 điều luật, đó là Điều 210 (Giám định bổ sung) và Điều 211 (Giám định lại). Về nội dung, thì BLTTHS năm 2022 cũng đã có những sửa đổi, bổ sung so với BLTTHS năm 2003 như sau:

    (i) Về giám định bổ sung

    (ii) Về giám định lại

    Việc giám định lại được quy định tại khoản 2, 3 Điều 159 BLTTHS năm 2003 như sau: “2. Việc giám định lại được tiến hành khi có nghi ngờ về kết quả giám định hoặc có mâu thuẫn trong các kết luận giám định về cùng một vấn đề cần giám định. Việc giám định lại phải do người giám định khác tiến hành. 3. Việc giám định bổ sung hoặc giám định lại được tiến hành theo thủ tục chung quy định tại các điều 155, 156, 157 và 158 của Bộ luật này”. Vấn đề đặt ra ở đây là, nếu có sự mâu thuẫn giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì phải giải quyết thế nào? Kết luận giám định lại có được dùng làm chứng cứ để giải quyết vụ án hay không? Chỉ với quy định này, BLTTHS năm 2003 chưa có câu trả lời.

    Khắc phục hạn chế trên, BLTTHS năm 2022 đã bổ sung quy định mới với nội dung: “Trường hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người trưng cầu giám định quyết định. Việc giám định lại lần thứ hai phải do Hội đồng giám định thực hiện theo quy định của Luật giám định tư pháp” (khoản 3 Điều 211).

    Về Hội đồng giám định, Luật giám định tư pháp năm 2012 tại khoản 1 Điều 30 quy định: “Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý về lĩnh vực cần giám định quyết định thành lập Hội đồng để thực hiện giám định lại lần thứ hai. Hội đồng giám định gồm có ít nhất 03 thành viên là những người có chuyên môn cao và có uy tín trong lĩnh vực cần giám định. Hội đồng giám định hoạt động theo cơ chế giám định tập thể quy định tại khoản 3 Điều 28 của Luật này.”

    7. Giám định trong trường hợp đặc biệt

    Điều 212 về giám định lại trong trường hợp đặc biệt là quy định mới được bổ sung vào BLTTHS năm 2022 với nội dung: “Trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc giám định lại sau khi đã có kết luận của Hội đồng giám định. Việc giám định lại trong trường hợp đặc biệt phải do Hội đồng mới thực hiện, những người đã tham gia giám định trước đó không được giám định lại. Kết luận giám định lại trong trường hợp này được sử dụng để giải quyết vụ án.”

    Ở đây, kết luận của Hội đồng giám định được nói đến chính là kết luận giám định lại lần thứ hai. Khi đã có kết luận giám định lại lần thứ hai của Hội đồng giám định thì không được trưng cầu, thực hiện giám định lại nữa, trừ trường hợp đặc biệt do Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định. Việc giám định lại trong trường hợp đặc biệt phải do Hội đồng mới thực hiện, những người đã tham gia giám định trước đó không được giám định lại. Kết luận giám định lại trong trường hợp này được sử dụng để giải quyết vụ án.

    8. Quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác đối với kết luận giám định

    Điều 158 BLTTHS năm 2003 quy định: “1. Sau khi đã tiến hành giám định, nếu bị can, những người tham gia tố tụng khác yêu cầu thì cơ quan đã trưng cầu giám định phải thông báo cho họ về nội dung kết luận giám định. Bị can, những người tham gia tố tụng khác được trình bày những ý kiến của mình về kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại. Những việc này được ghi vào biên bản. 2. Trong trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không chấp nhận yêu cầu của bị can, những người tham gia tố tụng khác thì phải nêu rõ lý do và thông báo cho họ biết.”

    So với BLTTHS năm 2003 (Điều 158), thì BLTTHS năm 2022 (Điều 214) đã có một số sửa đổi, bổ sung như sau:

    (i) BLTTHS năm 2022 bổ sung quy định về thời hạn, trách nhiệm xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi nhận được đề nghị trung cầu giám định của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác(1) (khoản 1 Điều 214). Sự bổ sung này là cần thiết, nhưng việc BLTTHS năm 2022 đưa quy định này vào Điều 214 là không hợp lý, bởi lẽ điều luật này chỉ quy định về “Quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác đối với kết luận giám định”.

    Ngoài ra, dường như có sự khác nhau giữa khoản 1 Điều 214 và khoản 1 Điều 207 của BLTTHS năm 2022 trong quy định về việc xem xét đề nghị trưng cầu giám định của đương sự hoặc người đại diện của họ. Trong khi khoản 1 Điều 214 BLTTHS năm 2022 đặt ra trách nhiệm xem xét đề nghị trưng cầu giám định cho cả cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, thì khoản 1 Điều 207 BLTTHS năm 2022 lại chỉ quy định trách nhiệm này cho cơ quan tiến hành tố tụng.

    (iii) BLTTHS năm 2003 quy định bị can, những người tham gia tố tụng khác được trình bày những ý kiến của mình về kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại. Những việc này được ghi vào biên bản (khoản 1 Điều 158). Quy định này chỉ hợp lý khi bị can, người tham gia tố tụng khác trình bày trực tiếp với cơ quan tiến hành tố tụng mà không hợp lý trong trường hợp bị can, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và gửi văn bản này cho cơ quan tiến hành tố tụng. Chính vì vậy, BLTTHS năm 2022 tại khoản 3 Điều 214 đã sửa đổi, bổ sung như sau: “Bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến của mình về kết luận giám định; đề nghị giám định bổ . sung hoặc giám định lại. Trường hợp họ trình bày trực tiếp thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải lập biên bản.”. Ở đây, BLTTHS năm 2022 quy định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chỉ phải lập biên bản khi bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác trình bày ý kiến trực tiếp.

    (iv) BLTTHS năm 2003 quy định trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không chấp nhận yêu cầu của bị can, những người tham gia tố tụng khác thì phải nêu rõ lý do và thông báo cho họ biết (khoản 2 Điều 158). Ở đây, cơ quan có trách nhiệm thông báo chỉ gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và không rõ việc thông báo bằng hình thức nào. So với BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2022 bổ sung trách nhiệm của Tòa án trong việc thông báo cho bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác về việc không chấp nhận đề nghị của họ và việc thông báo phải bằng văn bản (khoản 4 Điều 214).

    Tuy nhiên, việc BLTTHS năm 2022 chỉ đặt ra trách nhiệm thông báo của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án là chưa đầy đủ, vì khoản 1 Điều 214 BLTTHS năm 2022 quy định trách nhiệm xem xét đề nghị trưng cầu giám định của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác cho cả cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

    Nguyễn Cao Cường – Viện Kiểm sát nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên – Huế

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Nội Dung Lớn Sửa Đổi, Bổ Sung Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022
  • Giải Thích Về Though, Although, Even Though Chi Tiết Và Dễ Hiểu Nhất
  • Top 5 Sự Khác Biệt Cơ Bản Giữa Hệ Điều Hành Ios Và Android 2022
  • World Wide Web Là Gì? Tổng Quan Và Lịch Sử Hình Thành Www
  • Mobile Banking Và Internet Banking Là Gì? Chúng Có Gì Khác Nhau?
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự Và Áp Dụng Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Thức Về Nghiên Cứu Lịch Sử
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Tổng Hợp Lý Luận (Literature Review)
  • Mấy Vấn Đề Về Nghiên Cứu Liên Ngành Trong Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hiện Nay
  • Nghiên Cứu Mô Tả Cắt Ngang Tiếng Anh Là Gì? Ứng Dụng Trong Đời Sống
  • Thiết Kế Nghiên Cứu Mô Tả
  • Điều gì khiến bạn hài lòng khi chọn mua sách

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ ÁP DỤNG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2022

    Nội dung chính xác.

    Chất lượng bản in đảm bảo.

    Giá thành hợp lý.

    Sẽ ra sao nếu bạn sử dụng sách không đảm bảo chất lượng?

    Bạn không có được cái nhìn chính xác về

    Bạn sở hữu quyển sách có chất lượng không đảm bảo từ giấy, mực in cho đến bìa sách.

    Nội dung bạn nắm không đáp ứng được yêu cầu tìm hiểu và nghiên cứu của bạn.

    Để không lặp lại những tình huống nêu trên các bạn có thể chọn bộ tài liệuPHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ ÁP DỤNG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2022 để có được những thông tin hữu ích cho mình

    Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử của Tòa án là một hoạt động thường xuyên và quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự của Thẩm phán, Hội thẩm.Thực tiễn cho thấy chất lượng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng giải quyết vụ án hình sự.Theo đó nếu việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự của Thẩm phán, Hội thẩm được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ và khoa học thì sẽ nâng cao được chất lượng giải quyết vụ án, ngược lại nếu việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự được thực hiện qua loa, sơ sài thì chất lượng giải quyết vụ án không cao, có thể dẫn đến làm gia tăng tỷ lệ án bị hủy, sửa hoặc nghiêm trọng hơn là làm oan sai người vô tội.Chất lượng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự phụ thuộc nhiều vào kỹ năng, phương pháp nghiên cứu hồ sơ của Thẩm phán, Hội thẩm, theo đó nếu người nghiên cứu có kỹ năng nghiên cứu tốt và phương pháp nghiên cứu chuyên sâu thì chất lượng nghiên cứu sẽ được nâng cao.

    Bên cạnh đó công tác áp dụng pháp luật hình sự nói chung và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự nói riêng cũng có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự.

    Do đó việc nâng cao chất lượng nghiên cứu hồ hồ sơ vụ án hình sự cũng như áp dụng đúng và chính xác pháp luật về hình sự nói chung, Bộ luật tố tụng hình sự nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án hình sự.

    Nhằm giáp bạn đọc nói chung, những người làm công tác xét xử nói riêng, nâng cao được kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự cũng như nâng cao được chất lượng công tác giải quyết vụ án hình sự, Nhà xuất bản Lao Động xuất bản cuốn sách

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ ÁP DỤNG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2022

    (Biên soạn theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022 và văn bản mới nhất) ” do Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp là người có nhiều năm kinh nghiệm trong công tác xét xử án hình sự biên soạn.

    Nội dung cuốn sách gồm những phần chính sau đây:

    Phần II. BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2022 (CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH TỪ NGÀY 01-07-2016).

    Phần III. CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003 (CÒN HIỆU LỰC THI HÀNH).

    Phần IV. CÁC VĂN BẢN VỀ TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP.

    Hy vọng cuốn sách sẽ có giá trị hữu ích đối với bạn đọc.

    Sách đẹp, khổ 20*28 cm, dày 584 trang, Giá: 470.000đ. Nộp lưu chiểu quý II/ 2022.

    Sách là nguồn kiến thức vô tận

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ ÁP DỤNG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2022

    TRUNG TÂM SÁCH LUẬT VIỆT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự Của Kiểm Sát Viên
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự Trong Giai Đoạn Xét Xử
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Dân Sự Và Áp Dụng Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2022
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Giáo Dục Học Mầm Non
  • Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học: Phương Pháp Tiểu Sử
  • Về Chế Định Điều Tra Tội Phạm Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Mô Hình Tố Tụng Hình Sự Việt Nam Thực Trạng Và Phương Hướng Hoàn Thiện
  • Giới Thiệu Nội Dung Cơ Bản Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (Phần I)
  • Một Số Điểm Mới Trong Phần Các Tội Phạm Của Bộ Luật Hình Sự (Sửa Đổi) Năm 2022
  • Credit Note Là Gì? Debit Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Giữa Disease Và Illness Mà Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Nhã – Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội

    1.   Chế định điều tra tội phạm trong Bộ luật Tố tụng hình sự

    Điều tra tội phạm là giai đoạn đầu, giữ vai trò rất quan trọng trong tố tụng hình sự (TTHS). Giai đoạn này kéo dài, rất phức tạp và có ý nghĩa chi phối cả tiến trình tố tụng. Đặt giai đoạn điều tra trong mối quan hệ với các hoạt động tố tụng khác, người viết bài này đã từng đề nghị nên chia TTHS thành 3 giai đoạn chính, theo đó xây dựng 3 đạo luật riêng biệt là: Luật Điều tra hình sự, Luật Xét xử hình sự và Luật Thi hành án hình sự. Đạo luật điều tra hình sự sẽ xác định rõ nguyên tắc điều tra, phân định thẩm quyền điều tra, quyền và nghĩa vụ điều tra của các chủ thể tiến hành điều tra, các biện pháp điều tra và biện pháp ngăn chặn… Những nội dung này hiện đang được quy định rải rác trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự.

    Để đổi mới tổ chức và hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, có rất nhiều nội dung cần được bàn thảo. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập sâu ở khía cạnh tổ chức điều tra thông qua việc phân định thẩm quyền tố tụng giữa các chủ thể mà không đề cập đến các nội dung khác như biện pháp điều tra, biện pháp ngăn chặn, kiểm sát điều tra, các thời hạn trong điều tra, người bị tình nghi phạm tội, bị can, người bào chữa…

    2.   Nhận thức chung về Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự

    Điều tra tội phạm là hoạt động hành chính – tư pháp, do các chủ thể thuộc hệ thống hành pháp thực hiện. Đó là một loạt các cơ quan khác nhau với nhiều tên gọi khác nhau, để cho thuận tiện, người ta dùng chung khái niệm: Cơ quan điều tra (CQĐT) trong TTHS.

    Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự được quy định tại Điều 110 BLTTHS và được cụ thể hoá ở Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự. Theo đó, CQĐT được tổ chức trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đây là một phả hệ tổ chức phức tạp, xét cả về chiều dọc lẫn chiều ngang(1).

    Việc phân định thẩm quyền điều tra cho từng loại, và trong mỗi loại là theo cấp điều tra lại càng phức tạp hơn. Có thể nói rằng, tính rành mạch, khoa học trong tổ chức CQĐT và phân chia thẩm quyền điều tra giữa các cơ quan này trong TTHS hiện hành còn ở mức rất tương đối.

    Bàn về CQĐT trong TTHS mà không đề cập đến một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (sau đây xin được gọi tắt là: Cơ quan khác) thì thật thiếu sót. Cho tới ngày hôm nay, các nhà lập pháp vẫn chưa tìm ra một tên gọi rõ ràng, khả dĩ cho Cơ quan khác này, bởi vì, đây chỉ là một loạt các cơ quan quản lý hành chính nhà nước (dù một số không ít thuộc lực lượng vũ trang nhân dân) được giao thêm nhiệm vụ tham gia điều tra tố tụng (2).

    Với đội ngũ hùng hậu các Cơ quan khác được tổ chức như hiện nay, khó có thể đưa ra kết luận: Vậy thì ai, CQĐT hay Cơ quan khác giữ vai trò chủ đạo trong điều tra hình sự nói chung và trong điều tra tố tụng hình sự nói riêng. Nhiều ý kiến cho rằng, với đội ngũ đông đảo, lại nắm hai loại quyền năng quan trọng là quyền năng quản lý hành chính nhà nước và quyền năng tố tụng hình sự nên thực tế Cơ quan khác đang giữ thế thượng phong trong phát hiện, ngăn chặn và điều tra tội phạm.

    Cơ quan khác điều tra tội phạm chủ yếu thông qua hoạt động nghiệp vụ đa dạng của mình. Hoạt động nghiệp vụ nhằm phát hiện, làm rõ hành vi có dấu hiệu tội phạm xét cho cùng cũng là hoạt động điều tra hình sự. Bắt đầu từ đây đã xuất hiện hai cụm từ “điều tra hình sự” và “điều tra tố tụng hình sự”, và chúng tôi cho rằng, chừng nào, chúng ta còn chưa phân biệt rạch ròi khái niệm, ý nghĩa thực tiễn, ý nghĩa pháp lý của chúng thi mãi mãi chúng ta còn tiếp tục lúng túng tìm lối thoát cho việc quy định thẩm quyền điều tra nói chung và thẩm quyền điều tra tổ tụng hình sự nói riêng của CQĐT và Cơ quan khác trong tham gia điều tra.

    Điều tra phát hiện, tìm chứng cứ buộc tội là chức năng duy nhất và riêng có của CQĐT. Cơ quan điều tra do pháp luật TTHS sinh ra, điều tra tội phạm theo pháp luật TTHS. Dĩ nhiên, để củng cố thêm các chứng cứ buộc tội, cơ quan này có thể thu thập thêm thông tin ngoài tố tụng, nhưng đó không là chửng cứ và là công việc thứ yếu của CQĐT. Vì vậy, để dễ phân biệt với các cơ quan tham gia điều tra phát hiện tội phạm, đặc biệt là các cơ quan phát hiện, ngăn chặn tội phạm bằng biện pháp nghiệp vụ, biện pháp trinh sát (tình báo), chúng tôi cho rằng, CQĐT trong TTHS chính là cơ quan chuyên trách điều tra tội phạm theo pháp luật TTHS, là CQĐT tố tụng hình sự.

    Cơ quan khác cũng điều tra tội phạm theo pháp luật TTHS. Tuy nhiên, Cơ quan khác, như đã nêu, chỉ điều tra ở mức độ giới hạn, mức độ “điều tra ban đầu”. Đặc biệt, đối với nhóm Cơ quan khác trong Công an nhân dân (CAND) thì đa số họ là cơ quan trinh sát, điều tra phát hiện và ngăn chặn tội phạm chủ yểu bằng biện pháp trinh sát. Do việc điều tra theo luật TTHS đối với Cơ quan khác chỉ là thứ yếu, nên để phân biệt với cơ quan chuyên trách, Cơ quan khác nên gọi chung là: Cơ quan tham gia điều tra TTHS.

    Cũng cần lưu ý thêm rằng, trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngoài hai nhóm cơ quan kể trên, còn có nhiều cơ quan quản lý hành chính nhà nước, bằng hoạt động nghiệp vụ của minh, cũng trực tiếp phát hiện, ngăn chặn tội phạm. Các cơ quan như Cảnh sát giao thông; Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy; cơ quan thanh tra; thuế… thực chất cũng không khác mấy so với đội ngũ đông đảo Cơ quan khác, vấn đề đang đặt ra là tại sao các cơ quan này lại chưa được giao tham gia điều tra tội phạm?

    Phân biệt CQĐT với Cơ quan khác, bên cạnh tiêu chí chủ yếu là giới hạn thẩm quyền điều tra, còn là các yếu tố tổ chức và phân chia quyền năng tố tụng trong nội bộ cơ quan. Chẳng hạn, nếu như quyền năng tố tụng trong CQĐT được phân chia cho Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT và Điều tra viên thì ở Cơ quan khác, quyền năng tố tụng chỉ tập trung vào mỗi người đứng đầu (và cấp phó được uỷ quyền của họ).

    3.   Những bất cập trong tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra

    Về hệ thống CQĐTtrong TTHS: Với cách bố trí thành hai loại, trong mỗi loại lại có từng hệ độc lập với nhau như hiện nay, rõ ràng CQĐT chuyên trách và cơ quan tham gia điều tra là những tập hợp đa hệ, khó có thể có sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo và càng khó có sự gắn kết cần thiết với nhau. Từ thực tế này, lâu nay đã có nhiều đề xuất, thậm chí là đã hình thành dự án theo hướng tập hợp các CQĐT thành một hệ thống độc lập, song song tồn tại cùng cơ quan Viện kiểm sát (VKS) và Toà án.

    Tuy thấy rõ những bất cập từ cách tổ chức đa hệ của CQĐT và Cơ quan khác, song thật khó đồng tình với ý tưởng sáp nhập tất cả cơ quan điều tra trong TTHS thành một hệ thống. Điều này không phù hợp với cách thức tổ chức hệ thống dựa vào khả năng chuyên môn hoá trong lĩnh vực hành pháp. Mà cơ quan điều tra các loại, xét cho cùng lại là cơ quan hành pháp. Bên cạnh đó, ngay cả người đề ra dự án cũng chưa chứng minh được tính vượt trội hay là hiệu quả kinh tế – xã hội tối ưu do việc sáp nhập cơ quan điều tra mang lại…

    Việc phân chia thẩm quyền điều tra giữa các hệ, trong cùng một hệ (cấp trên, cấp dưới) còn thiếu hợp lý, đang làm nảy sinh tình trạng chồng lấn thẩm quyền hoặc đùn đẩy nhau, tranh công, đổ lỗi. Cần lưu ý thêm là tình trạng chồng lấn thẩm quyền cũng tồn tại giữa một bên là các CQĐT, còn bên kia là cơ quan kiểm sát trong giai đoạn điều tra. Theo quy định tại Điều 112 BLTTHS thì khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, VKS có quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra, khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS… Những thẩm quyền này thực chất là thẩm quyền điều tra và điều này lý giải vì sao có người cho rằng điều tra và công tố thực chất là một.

    Việc phân chia giai đoạn điều tra thành hai phân đoạn: Điều tra ban đầu do Cơ quan khác đảm nhiệm và Điều tra kết thúc do CQĐT đảm nhiệm cũng chưa thật hợp lý, nhiều trường hợp gây lãng phí về thời gian và nhân lực.

    Chủ thể hoạt động điều tra: Theo pháp luật hiện hành bao gồm CQĐT là cơ quan tố tụng và Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT và Điều tra viên là người tiến hành tố tụng (Điều 33 BLTTHS).

    Đối với chủ thể tố tụng là CQĐT, điều đáng lưu ý là quyền năng tố tụng của cơ quan này đã được phân chia cho Thủ trưởng, Phó thủ trưởng và Điều tra viên. Trong trường hợp này, hầu như quyền năng tố tụng của CQĐT đã không còn, và do vậy, việc xác định CQĐT là cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) đã trở nên hình thức.

    Đối với Cơ quan khác, mặc dù cũng được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, nghĩa là cũng được giao quyền năng tố tụng hình sự, nhưng cho đến nay, Cơ quan khác và người đứng đầu của cơ quan này vẫn chưa được thừa nhận là cơ quan THTT và người THTT. Chính việc chưa thừa nhận này đã kéo theo nhiều hệ lụy mà rõ nhất là khó xác định trách nhiệm pháp lý tố tụng, trách nhiệm hình sự của những người này khi vi phạm tố tụng đến mức hình sự.

    Về những người trực tiếp tham gia vào hoạt động điều tra: Hiện nay, lực lượng làm công tác điều tra có khoảng 30.000 cán bộ, trong đó có khoảng 13.000 Điều tra viên. Riêng lực lượng điều tra trong CAND có hơn 29.000 cán bộ với hơn 12.500 Điều tra viên. Bên cạnh đại đa số Điều tra viên, cán bộ điều tra tận tụy trong công tác, gương mẫu, liêm khiết, chấp hành đúng pháp luật thì vẫn còn một số không nhỏ chưa thực hiện tốt vai trò của người cán bộ điều tra tội phạm, thậm chí vi phạm pháp luật tố tụng. Tình trạng này đòi hỏi phải xem xét lại không chỉ việc phân định thẩm quyền và trách nhiệm điều tra, việc chỉ huy, chỉ đạo điều tra mà còn là tiêu chuẩn, quy trình bổ nhiệm và miễn nhiệm Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên, người đứng đầu Cơ quan khác…

    4.   Phương án đổi mới tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự

    Thứ nhất, tổ chức và hoạt động của CQĐT được thể chế hóa trong pháp luật TTHS, cụ thể hơn là ở trong BLTTHS và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự hiện hành. Việc Quốc hội đưa vào Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh nhiệm kỳ 13 Dự án Luật Tổ chức điều tra hình sự đồng thời với việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS đang đặt ra vấn đề là nội dung nào về chế định điều tra thì đưa vào BLTTHS, còn nội dung nào thì đưa vào Luật Tổ chức điều tra hình sự. Theo tôi, một khi đã có đạo luật riêng về điều tra tội phạm thì phương án tối ưu là tập trung tất cả những quy định về điều tra tố tụng vào đó, theo đúng mô hình đạo luật về thi hành án hình sự. Trong trường hợp đó, BLTTHS chỉ tập trung điều chỉnh hoạt động xét xử. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp: Coi xét xử là khâu trung tâm của hoạt động tư pháp.

    Đương nhiên, người nêu kiến nghị này cho rằng, ý kiến về xây dựng một đạo luật riêng về điều tra hình sự dẫu hợp lý cũng khó mà được chấp nhận trong bối cảnh hiện nay. Vậy nên, tiếp theo đây, tôi sẽ trao đổi ý kiến theo hướng sửa đổi, bổ sung mô hình điều tra đã được quy định trong BLTTHS.

    Thứ hai, vấn đề đầu tiên là thay đổi quan niệm và từ đó sửa đổi quy định về chủ thể điều tra tố tụng. Nếu dừng lại ở quan niệm chủ thể điều tra tố tụng là người được pháp luật giao quyền hạn và trách nhiệm cụ thể trong điều tra tội phạm thì các chủ thể này, theo tôi, chỉ nên là: Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên; người đứng đầu Cơ quan khác; Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra.

    Đưa CQĐT ra ngoài danh sách chủ thể điều tra tội phạm, bởi lẽ mặc dù BLTTHS xác định cơ quan này là cơ quan tố tụng, song thực chất quyền và nghĩa vụ tố tụng dường như đã phân chia hết cho Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng và Điều tra viên, về mặt tố tụng, CQĐT chỉ còn là danh nghĩa và Thủ trưởng CQĐT chính là người đứng đầu tập thể Điều tra viên.

    Tôi cũng không đồng tình khi quy định chức danh cấp phó trong BLTTHS là chủ thể độc lập, người tiến hành tố tụng, cấp phó chỉ nên là người thay mặt cấp trường và không cần thiết phải có quyền và nghĩa vụ TTHS riêng. Khi tiến hành tố tụng, cấp phó nên lấy danh nghĩa Điều tra viên.

    Thứ ba, đã đến lúc cần xác định vai trò độc lập của Điều tra viên trong điều tra như Thầm phán trong xét xử và Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát Có thể giao quyền và nghĩa vụ tố tụng cho Điều tra viên khi người này được giao điều tra vụ án tương đương quyền và nghĩa vụ tố tụng của Thủ trưởng CQĐT khi trực tiếp tiến hành điều tra quy định tại khoản 2 Điều 34 BLTTHS hiện hành. Theo đó, Điều tra viên khi được phân công điều tra vụ án được: Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định không khỏi tố vụ án; quyết định tách hoặc nhập vụ án; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định truy nã bị can, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, xử lý vật chứng; quyết định trưng cầu giám định, quyết định khai quật tử thi; kết luận điều tra vụ án; quyết định tạm đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định phục hồi điều tra; trực tiếp tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật…

    Điều tra viên chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình. Thủ trưởng CQĐT tuy có quyền phân công và thay đổi Điều tra viên, nhưng không có quyền can thiệp vào hoạt động tố tụng của Điều tra viên.

    Trường hợp nhiều Điều tra viên cùng tham gia điều tra vụ án thì Thủ trưởng CQĐT chỉ định một Điều tra viên phụ trách. Điều tra viên này sẽ điều hành việc điều tra và ký các văn bản tố tụng.

    -         Cho phép một số cơ quan khác như Cơ quan thanh tra chuyên ngành theo Luật Thanh tra, Cảnh sát giao thông, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, lực lượng kiểm ngư… cũng được quyền tiến hành điều tra ban đầu những vụ việc có dấu hiệu của tội phạm thuộc lĩnh vực quản lý của mình.

    -         Mở rộng thẩm quyền TTHS cho một số Cơ quan khác đến mức tự tiến hành một số hoạt động điều tra và chuyển hồ sơ cho VKS để quyết định việc truy tố. Có thể đưa ra quy định là Cơ quan khác, đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng và không cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn thì được quyền tiến hành điều tra trong thời hạn không quá 30 ngày và chuyển kết luận điều tra cho VKS để quyết định việc truy tố.

    -         Đối với Cơ quan khác, vai trò của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra (Công tố viên) là hết sức quan trọng. Không chỉ là chỉ đạo, hướng dẫn Cơ quan khác trong hoạt động điều tra, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra còn là người điều phối, quyết định đường hướng điều tra tiếp theo. Ví dụ: Sau khi tiếp nhận kết quả điều tra và kết luận điều tra của Cơ quan khác chuyển đến, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra có quyền: Ra quyết định truy tố; trả hồ sơ cho Cơ quan khác để điều tra bổ sung; chuyển hồ sơ cho CQĐT để tiến hành điều tra theo thẩm quyền; tự mình tiến hành điều tra bổ sung; đình chỉ điều tra vụ án.

    Thứ năm, đối với Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra (Công tố viên), tôi đề nghị giao quyền và nghĩa vụ tố tụng cho chủ thể này không kém hơn quyền năng tố tụng của Thủ trưởng CQĐT. Và từ đó, sẽ không cần thành lập thêm bất cứ cơ quan điều tra nào trong Viện kiểm sát. Kiểm sát viên – công tố vừa có quyền tự mình tiến hành điều tra, được sử dụng mọi thầm quyền điều tra mà pháp luật TTHS trao cho Thủ trường CQĐT và Điều tra viên. Hơn thế nữa, với tư cách là người thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Kiểm sát viên – công tố còn có quyền yêu cầu Thủ trường CQĐT, Điều tra viên, Người đứng đầu Cơ quan khác tiến hành điều tra, cung cấp chứng cứ cần thiết. Và như vậy, có thể nói Kiểm sát viên – công tố là chủ thể hàng đầu trong giai đoạn điều tra và là chủ thể điều phối, chỉ đạo điều tra.

    -        Cần phân biệt hoạt động công tố với hoạt động kiểm sát. Hai hoạt động này là khác nhau không chỉ về ý nghĩa tồn tại, về mục đích mà còn về chủ thể thực hiện.

    -        Hoạt động công tố là hoạt động độc lập, gắn với điều tra thu thập chứng cứ, nặng về hành pháp nên cũng cần được kiểm sát.

    -         Công tố trong điều tra phải gắn với công tố trong xét xử. Do đó, Kiểm sát viên – công tố trong giai đoạn điều tra phải là người tiếp tục giữ vai trò công tố trong giai đoạn xét xử.

    -         Do hoạt động công tố là đối tượng kiểm sát nên Kiểm sát viên – công tố không được tham gia hoạt động kiểm sát. Những Kiểm sát viên khác (không tham gia hoạt động công tố) sẽ tiến hành hoạt động kiểm sát, kể cả kiểm sát hành vi tố tụng của Kiểm sát viên – công tố.

    -         Cũng như Điều tra viên, Kiểm sát viên – công tố là một chức danh tố tụng hình sự nên họ phải độc lập chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định tố tụng của mình (khác với quy định tại khoản 2 Điều 37 BLTTHS là Kiểm sát viên chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng VKS về những hành vi và quyết định của minh).

    Thứ bảy, bên cạnh việc phân định thẩm quyền tố tụng cho các chủ thể tiến hành điều tra mà thực chất là quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chức danh: Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên, người đứng đầu Cơ quan khác, Kiểm sát viên – công tố, vấn đề quan trọng không kém là phân định thẩm quyền điều tra giữa các Cơ quan điều tra khác hệ, trong cùng hệ và giữa CQĐT và Cơ quan khác, giữa các Cơ quan khác với nhau. Ngoài ra, ngay trong cùng một hệ CQĐT và Cơ quan khác, việc phân định thẩm quyền tố tụng giữa cấp trên và cấp dưới, việc chuyển giao vụ án, rút vụ án lên để điều tra… cũng còn tồn tại nhiều bất hợp lý, cần sớm được giải quyết.

    Đề xuất xây dựng CQĐT với hạt nhân là Điều tra viên (mà thực chất là tương tự CQĐT dự thẩm ở một số nước) như đã nêu, nhiều vấn đề về thẩm quyền điều tra sẽ được giải quyết, về danh nghĩa, chúng ta vẫn có Cơ quan An ninh điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra thuộc Công an nhân dân, CQĐT an ninh, CQĐT hình sự trong Quân đội nhân dân. Ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ không còn CQĐT và thay vào đó, theo tôi, nên thành lập các Viện công tố thuộc VKS. Cũng như ở CQĐT, nhân vật trung tâm trong Viện công tố sẽ là các Công tố viên. Trong trường hợp này, chính Viện công tố và các Công tố viên sẽ là người điều hòa, tập trung và chỉ đạo điều tra.

    Khi đã có Cơ quan công tố độc lập thuộc VKS thì các mối quan hệ tố tụng hiện nay giữa Cơ quan khác với CQĐT sẽ chuyển thành quan hệ giữa Cơ quan khác với Cơ quan công tố. Các Công tố viên sẽ cùng cộng tác, chỉ đạo và cùng chịu trách nhiệm về kết quả điều tra không chỉ với CQĐT mà cả với Cơ quan khác. Dĩ nhiên, như đã nêu, hoạt động điều tra, hoạt động điều hoà, chỉ đạo điều tra của Viện công tố và của Công tố viên cũng chịu sự kiểm sát điều tra của VKS hữu quan.

    (l) Xem Điều 110 BLTTHS.

    (2) Xem Điều 111 BLTTHS.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Khác Nhau Giữa Much Và Many
  • Phân Biệt “Much”, “Many”, “A Lot Of”, “Lots Of” Hiệu Quả Trong Tiếng Anh – Gia Sư Tiếng Anh Hiệu Quả Cho Người Mất Gốc
  • Cách Dùng Many, Much Và More
  • Phân Biệt Whole Và All Trong Tiếng Anh
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Hình Sự & Áp Dụng Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Luật Học (Phạm Duy Nghĩa)
  • Đáp Án Môn Eg05
  • Lịch Sử Các Học Thuyết Kinh Tế Eg05
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Luận Văn Tốt Nghiệp Phổ Biến
  • Tổng Hợp Các Phương Pháp Nghiên Cứu Luận Văn Thạc Sĩ
  •       Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử của Tòa án là một hoạt động thường xuyên và quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự của Thẩm phán, Hội thẩm.

           Thực tiễn cho thấy chất lượng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng giải quyết vụ án hình sự. Theo đó nếu việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự của Thẩm phán, Hội thẩm được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ và khoa học thì sẽ nâng cao được chất lượng giải quyết vụ án, ngược lại nếu việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự được thực hiện qua loa, sơ sài thì chất lượng giải quyết vụ án không cao, có thể dẫn đến làm gia tăng tỷ lệ án bị hủy, sửa hoặc nghiêm trọng hơn là làm oan sai người vô tội.

         Chất lượng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự phụ thuộc nhiều vào kỹ năng, phương pháp nghiên cứu hồ sơ của Thẩm phán, Hội thẩm, theo đó nếu người nghiên cứu có kỹ năng nghiên cứu tốt và phương pháp nghiên cứu chuyên sâu thì chất lượng nghiên cứu sẽ được nâng cao.

          Bên cạnh đó công tác áp dụng pháp luật hình sự nói chung và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự nói riêng cũng có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự.Do đó việc nâng cao chất lượng nghiên cứu hồ hồ sơ vụ án hình sự cũng như áp dụng đúng và chính xác pháp luật về hình sự nói chung, Bộ luật tố tụng hình sự nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án hình sự.

           Nhằm giáp bạn đọc nói chung, những người làm công tác xét xử nói riêng, nâng cao được kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự cũng như nâng cao được chất lượng công tác giải quyết vụ án hình sự, Nhà xuất bản Lao Động xuất bản cuốn sách “PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ ÁP DỤNG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2022 (Biên soạn theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022 và văn bản mới nhất) ” do Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp là người có nhiều năm kinh nghiệm trong công tác xét xử án hình sự biên soạn.

    Nội dung cuốn sách gồm những phần chính sau đây:

    Phần I. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ ÁP DỤNG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2022.

    Phần II. BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2022 (CÓ HIỆU LỰC thi HÀNH TỪ NGÀY 01-07-2016).

    Phần III. CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2003 (CÒN HIỆU LỰC THI HÀNH).

    Phần IV. CÁC VĂN BẢN VỀ TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP.

    Hy vọng cuốn sách sẽ có giá trị hữu ích đối với bạn đọc.

    Sách đẹp, khổ 20×28 cm, dày 584 trang, Giá: 470.000đ. Nộp lưu chiểu quý II/ 2022.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Tập Huấn Chuyên Đề Tháng 7
  • 1.2.4. Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án.
  • Nghiên Cứu Phương Pháp Hỗn Hợp Là Gì? Định Nghĩa Và Tại Sao Nó Trở Nên Phổ Biến Như Vậy.
  • Hành Vi Khách Hàng Là Gì? 5 Bước Nghiên Cứu Hành Vi Khách Hàng
  • 10 Bài Nghiên Cứu Hành Vi Tiêu Dùng Của Khách Hàng Đáng Tham Khảo
  • Giới Thiệu Nội Dung Cơ Bản Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (Phần I)

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Điểm Mới Trong Phần Các Tội Phạm Của Bộ Luật Hình Sự (Sửa Đổi) Năm 2022
  • Credit Note Là Gì? Debit Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Giữa Disease Và Illness Mà Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Bạn Có Biết Sick Là Gì Và Ill Là Gì Không
  • Sự Khác Biệt Giữa Condition, Position Và Situation
  • Ngày 27 tháng 11 năm 2022, Quốc hội đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, (sau đây gọi là Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2022. Văn phòng luật sư Ánh Sáng Luật xin giới thiệu cơ cấu và những điểm mới của BLTTHS 2022.

    I. Cơ cấu: BLTTHS năm 2022 có kết cấu gồm 09 phần, 36 chương, 510 điều (BLTTHS năm 2003 có kết cấu gồm 08 phần, 37 chương, 346 điều), cụ thể là:

    Phần thứ nhất: Phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của BLTTHS (từ Điều 1 đến Điều 142).

    Phần thứ hai: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự (từ Điều 143 đến Điều 235).

    Phần thứ ba: Truy tố (từ Điều 236 đến Điều 249).

    Phần thứ tư: Xét xử vụ án hình sự (từ Điều 250 đến Điều 362).

    Phần thứ năm: Một số quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án (từ Điều 363 đến Điều 369).

    Phần thứ sáu: Thủ tục xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật (từ Điều 370 đến Điều 412).

    Phần thứ bảy: Thủ tục đặc biệt (từ Điều 413 đến Điều 490).

    Phần thứ tám: Hợp tác quốc tế (từ Điều 491 đến Điều 508).

    Phần thứ chín: Điều khoản thi hành (Điều 509 và Điều 510).

    II. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2022

    1. Hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự

    Nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Bộ luật đã sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013, gồm: công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (Điều 11); suy đoán vô tội (Điều 13); không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm (Điều 14); tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26); bảo đảm sự kiểm tra, giám sát trong hệ thống từng cơ quan tố tụng và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 33).

    – Về suy đoán vô tội (Điều 13): Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

    – Về tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26): Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

    2. Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tố tụng, tạo điều kiện để các cơ quan thực hiện tốt trách nhiệm luật định

    Nhằm đề cao trách nhiệm và bảo đảm các điều kiện để cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt trách nhiệm luật định, Bộ luật quy định:

    – Đối với Cơ quan điều tra: (1) Quy định cụ thể những vụ án thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra của Bộ Công an và Cơ quan điều tra của Bộ Quốc phòng; (2) Bổ sung một số biện pháp điều tra như: nhận biết giọng nói, định giá tài sản; (3) Quy định cụ thể trình tự, thủ tục khi tiến hành từng biện pháp điều tra; (4) Quy định đầy đủ các trường hợp tạm đình chỉ điều tra nhằm tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn.

    + Về thẩm quyền điều tra (Điều 163): Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Cơ quan điều tra cấp huyện điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện. Cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp huyện xảy ra trên địa bàn nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phạm tội có tổ chức hoặc có yếu tố nước ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.

    + Về tạm đình chỉ điều tra (Điều 229): Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp: (1) Khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án. Trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra; (2) Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra; (3) Khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả (Khoản 1, Điều 229).

    – Đối với Viện kiểm sát: bổ sung, tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát phải: (1) Thực hành quyền công tố sớm hơn, kể từ khi Cơ quan điều tra giải quyết nguồn tin về tội phạm; (2) Quy định cụ thể trách nhiệm giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tiến hành một số hoạt động điều tra và trách nhiệm chuyển vụ án khi phát hiện việc điều tra không đúng thẩm quyền; (3) Quy định bắt buộc kiểm sát viên phải có mặt trong các hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét.

    – Đối với Tòa án: quy định cụ thể thẩm quyền của Tòa án trong việc: (1) Xem xét, kết luận tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do các chủ thể tố tụng thu thập, cung cấp; (2) Quy định các trường hợp Tòa án thu thập, bổ sung chứng cứ; (3) Quy định cụ thể trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm tranh tụng; (4) Quy định Hội đồng giám đốc thẩm có quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

    3. Phân định thẩm quyền hành chính với thẩm quyền tư pháp; tăng quyền, tăng trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán Bộ luật quy định rõ: (1) Trong lĩnh vực được phân công phụ trách, cấp phó không chỉ được giao thẩm quyền tiến hành tố tụng như hiện hành, mà còn được giao thẩm quyền quản lý hành chính tư pháp; (2) Phân định thẩm quyền giữa Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng với người trực tiếp tiến hành tố tụng theo hướng những thẩm quyền có tính chất quyết định việc “đóng, mở” một giai đoạn tố tụng, những thẩm quyền liên quan đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân giao cho Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định; hầu hết những thẩm quyền có tính chất phát hiện hoặc làm sáng tỏ sự thật vụ án giao cho Điều tra viên, Kiểm sát viên trực tiếp quyết định, tăng cơ bản thẩm quyền cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

    4. Quy định cụ thể trình tự, thủ tục trong từng giai đoạn tố tụng nhằm tháo gỡ vướng mắc, bất cập của thực tiễn

    5. Đổi mới chế định chứng minh và chứng cứ

    Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và để phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại, cũng như yêu cầu hội nhập quốc tế, Bộ luật đã: (1) Đổi mới khái niệm chứng cứ; (2) Quy định trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc tiếp nhận và đánh giá chứng cứ do người tham gia tố tụng cung cấp; (3) Bổ sung vào hệ thống nguồn chứng cứ, gồm: dữ liệu điện tử, kết luận định giá tài sản, kết quả thực hiện ủy thác tư pháp; (4) Quy định cụ thể trình tự, thủ tục thu thập dữ liệu điện tử.

    – Về khái niệm chứng cứ (Điều 86): Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Về Mô Hình Tố Tụng Hình Sự Việt Nam Thực Trạng Và Phương Hướng Hoàn Thiện
  • Về Chế Định Điều Tra Tội Phạm Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Phân Tích Khái Niệm Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Khác Nhau Giữa Much Và Many
  • Phân Biệt “Much”, “Many”, “A Lot Of”, “Lots Of” Hiệu Quả Trong Tiếng Anh – Gia Sư Tiếng Anh Hiệu Quả Cho Người Mất Gốc
  • Điểm Khác Nhau Giữa Bộ Luật Dân Sự 2005 Và Bộ Luật Dân Sự 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Sữa Tươi Và Hoàn Nguyên
  • Sự Khác Nhau Giữa Đạo Công Giáo Và Đạo Tin Lành
  • Sự Khác Nhau Giữa Đèn Led Và Đèn Compact Là Gì?
  • Tìm Hiểu Sự Khác Nhau Giữa Đền Và Chùa Ở Nhật Bản
  • Sự Khác Nhau Giữa Đèn Led Và Đèn Compact
  • Từ ngày 01/01/2017, Bộ luật dận sự năm 2022 sẽ chính thức có hiệu lực. Trước việc phải nắm rất nhiều thông tin về quy định mới tại Bộ luật dân sự 2022 có thể khiến bạn bị choáng, do vậy, mà chúng tôi sẽ chỉ ra cho các bạn một vài điểm nổi bật cho thấy sự khác biệt giữa 2 Bộ luật này:

    Thứ tự căn cứ ưu tiên áp dụng giải quyết các vụ việc dân sự:

    1. Sự thỏa thuận

    2. Bộ luật dân sự

    3. Tập quán

    4. Quy định tương tự pháp luật

    (Điều 2, 3 Bộ luật dân sự 2005)

    1. Sự thỏa thuận

    2. Bộ luật dân sự

    3. Tập quán

    4. Quy định tương tự pháp luật

    5. Nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

    6. Án lệ

    7. Lẽ công bằng

    (Điều 3, 4, 5, 6 Bộ luật dân sự 2022)

    Khi có vụ việc thực tế xảy ra nhưng chưa có điều luật áp dụng:

    Tòa án có quyền từ chối

    (vì pháp luật dân sự không có căn cứ để giải quyết vụ việc)

    Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc, trường hợp này dựa theo thứ tự trên để giải quyết.

    (Khoản 2 Điều 14 Bộ luật dân sự 2022)

    Các trường hợp quyền và nghĩa vụ dân sự bị hạn chế

    – Mất năng lực hành vi dân sự

    – Hạn chế năng lực hành vi dân sự

    (Điều 22, 23 Bộ luật dân sự 2005)

    – Mất năng lực hành vi dân sự

    – Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

    – Hạn chế năng lực hành vi dân sự

    (Điều 22,23, 24 Bộ luật dân sự 2022)

    Có thể đặt tên bằng tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ khác

    Chỉ được đặt tên bằng tiếng Việt

    (Khoản 3 Điều 26 Bộ luật dân sự 2022)

    Người khác sử dụng hình ảnh của mình vì mục đích thương mạ

    Không phải trả tiền

    Phải trả tiền, trừ khi có thỏa thuận khác

    (Khoản 1 Điều 32 Bộ luật dân sự 2022)

    Không được phép

    Được phép

    (Điều 37 Bộ luật dân sự 2022)

    Không có giá trị pháp lý

    (Điều 134 Bộ luật dân sự 2005)

    Vẫn có giá trị pháp lý trong trường hợp đã thực hiện được ít nhất 2/3 nghĩa vụ

    (Điều 129 Bộ luật dân sự 2022)

    Quyền sở hữu

    (Điều 164 Bộ luật dân sự 2005)

    – Quyền sở hữu

    – Quyền khác đối với tài sản gồm quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng và quyền bề mặt.

    Đồng thời, quyền khác đối với tài sản vẫn có hiệu lực trong trường hợp quyền sở hữu được chuyển giao trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    (Căn cứ Điều 158, 159, 160 Bộ luật dân sự 2022)

    Các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự:

    Khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, các bên đã giao kết hợp đồng phải:

    Không có quy định

    – Thỏa thuận sửa đổi hợp đồng

    – Chấm dứt hợp đồng

    – Yêu cầu Tòa án sửa đổi hợp đồng để cân bằng lợi ích của các bên.

    (Điều 420 Bộ luật dân sự 2022)

    Giới hạn: 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước

    (Khỏan 1 Điều 476 Bộ luật dân sự 2005)

    Giới hạn: 20%/năm của khoản tiền vay

    (Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2022)

    Không được thừa nhận

    Đựơc thừa nhận trong trường hợp không thê viết hoặc nhờ người khác viết, đánh máy được

    (Điều 634 Bộ luật dân sự 2022)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Phân Biệt Arrive, Go, Come Dễ Nhớ
  • So Sánh Hệ Thống Tài Khoản Theo Thông Tư 200/2014/tt
  • So Sánh Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Sổ Đỏ
  • Qa Là Gì? Qc Là Gì? Sự Khác Nhau Và Nhiệm Vụ Của Qa Và Qc
  • Qa Là Gì? Qc Là Gì? Sự Khác Nhau Và Nhiệm Vụ Của Qa Và Qc ✔️ Mộc Media ✔️
  • Phân Tích Khái Niệm Luật Tố Tụng Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Chế Định Điều Tra Tội Phạm Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Tổng Quan Về Mô Hình Tố Tụng Hình Sự Việt Nam Thực Trạng Và Phương Hướng Hoàn Thiện
  • Giới Thiệu Nội Dung Cơ Bản Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (Phần I)
  • Một Số Điểm Mới Trong Phần Các Tội Phạm Của Bộ Luật Hình Sự (Sửa Đổi) Năm 2022
  • Credit Note Là Gì? Debit Là Gì?
  • Luật tố tụng hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật, tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

    Quá

    trình từ khi khởi tố vụ án hình sự đến khi xét xử là một quá trình phức tạp,

    bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, ưong đó xét xử là hoạt động trung tâm và

    mang tính quyết định.

    Để bảo

    đảm phát hiện chính xác và xử lí công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,

    phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

    đồng thời góp phần bảo vệ công lí, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo

    vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp

    pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu

    tranh phòng ngừa và chống tội phạm, pháp luật cần phải quy định chặt chẽ về

    trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự.

    Do vậy,

    Bộ luật tố tụng hình sự quy định thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và

    một số thủ tục thi hành án hình sự, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các

    cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của

    người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố

    tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân và hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự.

    Các giai đoạn tố tụng hình sự

    Giai đoạn

    tố tụng hình sự là những bước trong trình tự tố tụng có nhiệm vụ riêng, mang đặc

    thù về phạm vi chủ thể, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng.

    Luật tố

    tụng hình sự Việt Nam chia quá trình tố tụng thành các giai đoạn sau:

    Giai đoạn thứ nhất: Khởi tố vụ án hình sự

    Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, cơ quan

    có thẩm quyền xác định sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm hay không để ra

    quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc

    quyết định khác theo quy định của pháp luật.

    Giai đoạn thứ hai: Điều tra vụ án hình sự

    Trong

    giai đoạn điều tra, cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của

    pháp luật, tiến hành thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ làm rõ đối tượng

    chứng minh để ra kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra; quyết

    định tạm đình chỉ điều traa và các quyết định khác theo quy định của pháp luật.

    Giai đoạn thứ ba: Truy tố

    Trong

    giai đoạn truy tố, viện kiểm sát tiến hành các hoạt động cần thiết để truy tố bị

    can trước toà án bằng bản cáo trạng hoặc ra những quyết định tố tụng khác để giải

    quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.

    Giai đoạn thứ tư: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

    Trong

    giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, toà án cấp sơ thẩm (cấp xét xử thứ nhất)

    tiến hành giải quyết và xét xử vụ án bằng việc ra bản án hoặc các quyết định tố

    tụng khác theo quy định của pháp luật.

    Giai đoạn

    thứ năm: Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

    Trong

    giai đoạn này, toà án cấp trên trực tiếp (cấp xét xử thứ hai) của tòa án đã ra

    bản án, quyết định sơ thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm đối

    với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định

    của pháp luật.

    Giai đoạn

    thứ sáu: Thi hành án hình sự

    Trong

    giai đoạn này, cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi

    hành án tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện bản án và quyết định của toà án

    đã có hiệu lực pháp luật.

    Giai đoạn

    đặc biệt: Đây là giai đoạn xét lại bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực

    pháp luật. Trong giai đoạn này, toà án xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực

    pháp luật bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc

    giải quyết vụ án (giám đốc thẩm) hoặc có

    những tình tiết mới được phát hiện cố thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản

    án, quyết định mà toà án không biết được khi ra bản án, quyết định đó (tái thẩm). Ngoài thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, giai

    đoạn này còn có thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án

    nhân dân tối cao.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

    1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của

      Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ

      biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc

      ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm

      trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy

      nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể

      --- Bài cũ hơn ---

    3. Khác Nhau Giữa Much Và Many
    4. Phân Biệt “Much”, “Many”, “A Lot Of”, “Lots Of” Hiệu Quả Trong Tiếng Anh – Gia Sư Tiếng Anh Hiệu Quả Cho Người Mất Gốc
    5. Cách Dùng Many, Much Và More
    6. Phân Biệt Whole Và All Trong Tiếng Anh
    7. Phân Biệt All Và Whole

    Sự Khác Biệt Giữa Bộ Luật Dân Sự 2005 Và Bộ Luật Dân Sự 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Loa Nghe Nhạc Và Loa Karaoke Như Thế Nào?
  • Sự Khác Biệt Rõ Ràng Giữa Một Người Mẹ Mang Thai Ngoài Ý Muốn Và Có Sự Chuẩn Bị Kỹ Càng Trước Khi Sinh Con
  • Sự Khác Biệt Giữa Ung Thư Ở Người Lớn Và Trẻ Em?
  • Giải Mã Sự Khác Nhau Giữa Các Logo Adidas
  • Sự Khác Nhau Giữa Người Con Gái Để Yêu Và Để Kết Hôn
  • 1. Sự thỏa thuận

    2. Bộ luật dân sự

    3. Tập quán

    4. Quy định tương tự pháp luật

    (Điều 2, 3 Bộ luật dân sự 2005)

    1. Sự thỏa thuận

    2. Bộ luật dân sự

    3. Tập quán

    4. Quy định tương tự pháp luật

    5. Nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

    6. Án lệ

    7. Lẽ công bằng

    (Điều 3, 4, 5, 6 Bộ luật dân sự 2022)

    Tòa án có quyền từ chối

    (vì pháp luật dân sự không có căn cứ để giải quyết vụ việc)

    Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc, trường hợp này dựa theo thứ tự trên để giải quyết. (Khoản 2 Điều 14 Bộ luật dân sự 2022)

    – Mất năng lực hành vi dân sự

    – Hạn chế năng lực hành vi dân sự

    (Điều 22, 23 Bộ luật dân sự 2005)

    – Mất năng lực hành vi dân sự

    – Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

    – Hạn chế năng lực hành vi dân sự

    (Điều 22,23, 24 Bộ luật dân sự 2022)

    Có thể đặt tên bằng tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ khác

    Chỉ được đặt tên bằng tiếng Việt (Khoản 3 Điều 26 Bộ luật dân sự 2022)

    Không phải trả tiền

    Phải trả tiền, trừ khi có thỏa thuận khác (Khoản 1 Điều 32 Bộ luật dân sự 2022)

    Không được phép

    Được phép (Điều 37 Bộ luật dân sự 2022)

    Không có giá trị pháp lý (Điều 134 Bộ luật dân sự 2022)

    Vẫn có giá trị pháp lý trong trường hợp đã thực hiện được ít nhất 2/3 nghĩa vụ (Điều 129 Bộ luật dân sự 2022)

    Quyền sở hữu

    (Điều 164 Bộ luật dân sự 2005)

    – Quyền sở hữu

    – Quyền khác đối với tài sản gồm quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng và quyền bề mặt.

    Đồng thời, quyền khác đối với tài sản vẫn có hiệu lực trong trường hợp quyền sở hữu được chuyển giao trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    (Căn cứ Điều 158, 159, 160 Bộ luật dân sự 2022)

    Khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, các bên đã giao kết hợp đồng phải:

    Không có quy định

    – Thỏa thuận sửa đổi hợp đồng

    – Chấm dứt hợp đồng

    – Yêu cầu Tòa án sửa đổi hợp đồng để cân bằng lợi ích của các bên.

    (Điều 420 Bộ luật dân sự 2022)

    Giới hạn: 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước (Khỏan 1 Điều 476 Bộ luật dân sự 2005)

    Giới hạn: 20%/năm của khoản tiền vay (Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2022)

    Không được thừa nhận

    Đựơc thừa nhận trong trường hợp không thê viết hoặc nhờ người khác viết, đánh máy được (Điều 634 Bộ luật dân sự 2022)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghiên Cứu Phật Học Đông Á: Hướng Dẫn Tài Liệu Tham Khảo
  • Sự Khác Biệt (Tinh Tế) Giữa Lòng Tự Trọng Và Lòng Tự Ái / Tính Cách
  • 5 Sự Khác Biệt Giữa Lòng Tự Ái Và Lòng Tự Trọng / Tâm Lý Học
  • Sự Khác Biệt Giữa Lòng Tự Ái Và Lòng Tự Trọng Là Gì?
  • 5 Sự Khác Biệt Giữa Lòng Tự Ái Và Lòng Tự Trọng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×