Top 3 # Sự Khác Nhau Giữa Dư Luận Xã Hội Và Tin Đồn Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Phân Biệt Dư Luận Xã Hội Và Tin Đồn

Tin đồn là những thông tin được lan truyền từ người này qua người khác chủ yếu bằng truyền miệng. Ngoài cách truyền tin bằng miệng là chủ yếu, tin đồn còn lan truyền bằng thư, fax, tin nhắn… tin đồn là sản phẩm tâm lý xã hội, nó phụ thuộc nhiều vào trạng thái tâm lý của cá nhân người tiếp nhận và đưa tin. Tin đồn thường xuất hiện ở những nơi công tác thông tin kém. Do không có thông tin đầy đủ, do tính tò mò, người ta thường hay nghe tin đồn. Khi tin đồn lan truyền thì thông tin chính thức sẽ kém hiệu lực.

Dư luận xã hội và tin đồn có những khác nhau căn bản dựa theo các tiêu chí: về nguồn gốc, về cơ chế hình thành, về phương thức lan truyền, về bản chất.

Về nguồn gốc: Tin đồn xuất phát từ sự kiện có thật bị làm méo mó đi, thật một phần hoặc hoàn toàn do chủ thể truyền tin bịa đặt, tưởng tượng ra, mức độ sự thật rất ít. Dư luận xã hội xuất phát từ sự kiện có thật, mức độ sự thật nhiều hơn.

Về cơ chế hình thành: Tin đồn bị nhào lặn hoặc bị bóp méo bởi khuynh hướng cá nhân người truyền tin, mang nặng màu sắc chủ quan của chủ thể truyền tin. Dư luận xã hội được hình thành thông qua giao tiếp, trao đổi, tranh luận giữa các cá nhân trong cộng đồng. Quan điểm cá nhân chỉ là một ý kiến trong ý kiến chung.

Về phương thức lan truyền: Tin đồn truyền đi bằng miệng là chính, theo con đường không chính thức, bí mật, ngầm ẩn. Dư luân xã hội lan truyền bằng lời nói và chữ viết, chính thức và không chính thức, công khai và bí mật.

Về bản chất: Tin đồn chỉ là thông tin đơn thuần về sự việc, hiện tượng theo lối mô tả, kể lại, chứa đựng nhiều thiên kiến. Dư luận xã hội là sự phán xét đánh giá biểu thị thái độ đồng tình hay phản đối của cộng đồng đối với sự kiện, hiện tượng./.

Bàn Về Khái Niệm “Dư Luận Xã Hội”

Dư luận xã hội (hay công luận) là một hiện tượng đời sống xã hội quen thuộc mà mỗi cá nhân, tổ chức (bao gồm cả quốc gia), trong cuộc sống hàng ngày, thường phải quan tâm và tính toán đến. Những người theo học ở Liên Xô (cũ) thường sử dụng thuật ngữ “dư luận xã hội” (dịch trực tiếp từ thuật ngữ tiếng Nga). Những người biết tiếng Anh thường sử dụng thuật ngữ “công luận” (dịch từ thuật ngữ tiếng Anh: “public opinion”).

Phần đông các nhà nghiên cứu dư luận xã hội Liên Xô (cũ) định nghĩa dư luận xã hội (DLXH) là sự phán xét, đánh giá của các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng xã hội đối với các vấn đề mà họ quan tâm. Ví dụ, theo B. K. Paderin: “Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu là các ý kiến thể hiện sự phán xét đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời), phản ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với các tập thể, giai cấp, xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm xã hội lớn nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã hội có động chạm đến các lợi ích chung của họ”.

Nhiều nhà nghiên cứu Mỹ cũng nêu ra định nghĩa tương tự. Ví dụ: “Công luận là sự phán xét đánh giá của các cộng đồng xã hội đối với các vấn đề có tầm quan trọng, được hình thành sau khi có sự tranh luận công khai” (Young, 1923). “Công luận là kết quả tổng hợp các ý kiến trả lời của mọi người đối với các câu hỏi nhất định, dưới điều kiện của cuộc phỏng vấn” (Warner, 1939). Có những định nghĩa rất đơn giản, nhưng rất phổ biến trong giới nghiên cứu Mỹ: “Công luận là các tập hợp ý kiến cá nhân ở bất kỳ nơi đâu mà chúng ta có thể tìm được” (Childs, 1956).

Về mặt ngôn ngữ, không có cơ sở để nói rằng DLXH là ý kiến của đa số. Thuật ngữ “xã hội” không đồng nhất với thuật ngữ “đa số”. Ví dụ: Không ai cho rằng đã gọi là tổ chức xã hội thì phải là tổ chức của đa số; đã gọi là chính sách xã hội thì phải là chính sách đối với đa số…

Về mặt lý luận, cũng không có cơ sở nào để coi trọng dư luận của đa số hơn dư luận của thiểu số, đến mức phải loại bỏ dư luận của thiểu số ra khỏi phạm trù “dư luận xã hội”. Ví dụ, dưới góc độ về khả năng phản ánh chân lý, dư luận của đa số không phải khi nào cũng đúng, dư luận của thiểu số, không nhất thiết khi nào cũng sai. Thực tế cho thấy, trước các vấn đề mới, dư luận của thiểu số, nhiều khi, đúng hơn dư luận của đa số. Giữa dư luận của đa số và dư luận của thiểu số cũng không có một hàng rào ngăn cách không thể vượt qua được. Dư luận ngày hôm nay là thiểu số, ngày mai có thể trở thành đa số hoặc ngược lại, dư luận ngày hôm nay là đa số, ngày mai có thể chỉ còn là thiểu số.

Về mặt thực tiễn, quan điểm coi DLXH chỉ là ý kiến của đa số lại càng không thể chấp nhận được. Chúng ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện chủ trương “Đại đoàn kết toàn dân tộc”. Tiếng nói của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp, nhóm xã hội đều cần được coi trọng cho dù thành phần kinh tế, tầng lớp, nhóm xã hội đó chỉ là thiểu số trong xã hội. Mặt khác, nếu DLXH chỉ là ý kiến của đa số không thôi, thì không cần phải thành lập các cơ quan làm công tác nắm bắt DLXH, bởi vì ý kiến của đa số là cái mà người dân bình thường cũng có thể dễ dàng nắm được. Báo cáo tình hình DLXH của một số địa phương chưa được lãnh đạo coi trọng, có phần chính là do mới chỉ phản ánh được ý kiến của đa số. Những báo cáo phiến diện, không phản ánh được đầy đủ các luồng ý kiến khác nhau trong xã hội trước một vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó, không những ít có giá trị cho sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, ngược lại, có khi còn có hại, nhất là trong trường hợp vấn đề, sự kiện, hiện tượng là cái mới, bởi lẽ, đối với cái mới, dư luận của đa số lúc đầu thường không đúng, thường có tính “bảo thủ”.

Cũng có những ý kiến khác nhau khi phân tích hình thức ngôn ngữ của DLXH. Một số nhà nghiên cứu chỉ coi các phán xét đánh giá của công chúng mới là DLXH. Phán xét có nhiều loại như phán xét mô tả – dùng để mô tả sự vật, ví dụ: “Đây là bông hồng bạch”, “Đây là cuộc mít tinh lớn”…; phán xét quy ước – loại phán xét thông dụng trong các văn bản pháp qui, ví dụ: “Mọi người dân phải có trách nhiệm giữ gìn vệ sinh môi trường”…. Phán xét đánh giá là loại phán xét thể hiện thái độ (tán thành – không tán thành; yêu – ghét…) của chủ thể đối với sự kiện, hiện tượng, đối tượng, ví dụ: “Tham nhũng là biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, lối sống”; “Công tác giữ gìn vệ sinh môi trường của Hà Nội trong mấy năm qua có tiến bộ rõ nét”…. Tuy nhiên, đại đa số các nhà nghiên cứu khẳng định, DLXH không chỉ là các phát ngôn thể hiện sự phán xét đánh giá mà còn là các phát ngôn thể hiện tâm tư, nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị, lời khuyên can… của công chúng.

Cũng có sự nhầm lẫn giữa DLXH và tin đồn. Một số người không phân biệt được giữa DLXH và tin đồn có những sự khác nhau gì. Giữa tin đồn và DLXH có những điểm khác biệt cơ bản sau đây: 1) Nguồn thông tin: nguồn thông tin của tin đồn bao giờ cũng xuất phát từ người khác (tôi nghe người này nói, người kia nói); nguồn thông tin của DLXH lại xuất phát từ chính là bản thân người phát ngôn (theo ý kiến của tôi thì…); 2) Tin đồn loang càng xa thì càng có nhiều biến thái, do nó không ngừng được thêm thắt. Lúc ban đầu, DLXH thường rất phân tán, nhưng sau đó, thông qua sự trao đổi, tranh luận, tính thống nhất của DLXH thường tăng lên; 3) Tin đồn thường có tính “thất thiệt” (mặc dù có những tin đồn về cơ bản là sự thật), trong khi đó, DLXH phản ánh trung thực về suy nghĩ, tình cảm, thái độ của chủ thể. Tuy nhiên, giữa DLXH và tin đồn không có sự ngăn cách không vượt qua được. Tin đồn có thể làm nảy sinh DLXH khi trên cơ sở tin đồn người ta đưa ra những phán xét đánh giá bày tỏ thái độ của mình. Tin đồn thường xuất hiện khi người ta thiếu (hoặc thừa) thông tin.

Về khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải của DLXH, cũng có những quan niệm khác nhau. Có ý kiến cho rằng DLXH chịu ảnh hưởng nặng nề của các thành kiến, định kiến cho nên nó không có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải. Có ý kiến lại “sùng bái” dư luận của đa số, theo họ, dư luận của đa số bao giờ cũng đúng, dư luận của thiểu số bao giờ cũng sai. Tất cả các quan niệm trên đều sai. DLXH không phải là các kết luận khoa học, nhưng ít nhiều đều có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải. DLXH có thể đúng nhiều, đúng ít. Dù có đúng đến mấy thì DLXH vẫn có những hạn chế, không nên tuyệt đối hóa khả năng nhận thức của DLXH. Dù có sai đến mấy, trong DLXH cũng có những hạt nhân hợp lý, không thể coi thường, bỏ qua. Chân lý của DLXH không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng, dư luận của thiểu số cũng sai. Cái mới, lúc đầu, thường chỉ có một số người nhận thấy và do đó dễ bị đa số phản đối.

Đối với câu hỏi: DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, có tính tự phát hay là một dạng thức ý kiến tập thể, có tính tổ chức? Cũng có những quan niệm khác nhau. Có người khẳng định vế thứ nhất, có người khẳng định vế thứ hai. Sự vô lý của quan niệm coi DLXH là một dạng thức ý kiến tập thể, có tính tổ chức là rất rõ. Ý kiến chung của một tổ chức là chính kiến của tổ chức đó chứ không phải là DLXH của các thành viên trong tổ chức (không thể gọi chính kiến của Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… là DLXH). Chỉ có các luồng ý kiến được hình thành theo con đường tự phát mới được gọi là DLXH. Tuy nhiên ở đây cần phải làm rõ một ý: DLXH không phải là một phép cộng thuần túy, không phải là “bao gạo”, gồm các “hạt gạo” ý kiến cá nhân rời rạc, không có mối quan hệ gì với nhau. DLXH là các luồng ý kiến cá nhân, tự phát, nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, cộng hưởng với nhau. Nói cách khác, đó là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định.

DLXH là hiện tượng đời sống xã hội phức tạp, nên khó có thể lột tả hết trong một vài dòng định nghĩa ngắn gọn. Theo Lênin, đối với những sự vật phức tạp, có nhiều góc nhiều cạnh, mọi định nghĩa đều phiến diện. Tuy nhiên, dù có phiến diện đến đâu, định nghĩa cũng không mất đi mặt khẳng định, vai trò quan trọng, sự cần thiết của nó đối với hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người. Đó là những chỉ dẫn sơ bộ, những nét phác thảo ban đầu, không có nó, chúng ta không thể tiếp tục đi sâu hơn vào bản chất của sự vật cũng như không thể đưa ra đuợc những phương hướng hành động cụ thể nào cả.

Vì lẽ đó, chúng ta có thể định nghĩa rất ngắn gọn về DLXH như sau: DLXH là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự. Tuy nhiên, cần phải lưu ý đến các nội hàm sau đây của định nghĩa này: 1) Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau; 2) DLXH có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau; 3) Luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến) hoặc hẹp (một số ý kiến); 4) DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự phát, chứ không phải là ý kiến của một tổ chức, được hình thành theo con đường tổ chức (hội nghị, hội thảo…); 5) DLXH không phải là một phép cộng các ý kiến cá nhân, tự phát mà là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định; 6) Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự (động chạm đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người) mới có khả năng tạo ra DLXH./.

Facebook Vs Twitter: Sự Khác Nhau Giữa Mạng Xã Hội Facebook Và Twitter

Người ta nói rằng Facebook ra đời với mục đích giúp bạn kết nối với bạn bè trong cùng một khu vực, còn Twitter thì dành cho một nhóm bạn nhỏ. Trong khi Facebook là một mạng xã hội trực tuyến với nền tảng lập trình “Facebook Platform” đa mục đích cho phép người dùng chat, đăng ảnh, viết ghi chú và chơi game, thì Twitter được xây dựng xung quanh việc post những mẩu tin nhỏ thường gọi là “tweet” với độ dài là 140 ký tự.

Đó là 2 mạng xã hội phổ biến nhất trên thế giới. So sánh này nhìn vào lịch sử phát triển dựa trên người sử dụng cùng với điểm mạnh và điểm yếu của chúng.

Thành viên chủ chốt

Mark Zuckerberg – người sáng lập đồng thời là CEO của Facebook; Dustin Moskovitz – người đồng sáng lập Facebook; Sheryl Sandberg – Giám đốc điều hành Facebook; Matt Cohler – Quản lý sản phẩm; Chris Hughes – Người đồng sáng lập.

Jack Dorsey – Chủ tịch hội đồng; Evan Williams – CEO; Biz Stone – Giám đốc sáng tạo.

Lịch sử Facebook và Twitter

Mark Zuckerberg ra mắt Facebook với mọi người vào tháng 2 năm 2004 cùng với bạn cùng phòng đại học của anh ấy. Ban đầu, nó chỉ dành cho sinh viên ở Harvard, nhưng sau đó đã mở rộng cho sinh viên các trường đại học khác tại khu vực Boston, Ivy League và Đại học Standford. Rồi mở rộng hơn nữa cho sinh viên thuộc bất kỳ trường đại học nào, cuối cùng là học sinh phổ thông. Vào tháng 9 năm 2006, nó còn mở rộng cho bất cứ ai trên 13 tuổi.Tính đến 17/5/2012, Facebook được public rộng rãi và thu về được 104 tỷ đô. Người dùng Facebook vẫn đang tăng lên một cách nhanh chóng. Sự phát triển của nó có thể thấy được ở biểu đồ sau đây: http://www.benphoster.com/facebook-user-growth-chart-2004-2010/

Các thành viên sử dụng Facebook với nhiều mục đích khác nhau. Nó chủ yếu được các cá nhân sử dụng để họ kết nối với những người đang offline, hơn nữa để lưu lại một bộ hồ sơ cá nhân và đăng tải những thông điệp trên tường của họ. Người sử dụng có thể đăng tải cả một album ảnh và videos, chia sẻ các liên kết hay, viết một đoạn note dài, gửi tin nhắn cá nhân một đoạn văn bản hay thậm chí là video tới bạn bè của mình và hơn nữa là có thể chơi game.

Twitter cho phép người sử dụng đăng một mẩu tin chứa tối đa là 140 ký tự hay được gọi là “tweet” và follow những tin bài của người khác trên Twitter của họ. Nó chủ yếu được sử dụng để giao tiếp với các cá nhân khác có cùng sở thích bất kể người dùng có biết nhau ngoài Twitter hay không, hơn nữa nó còn có tính năng theo dõi, cập nhật tin tức từ những người nổi tiếng khá hay ho. Người dùng cũng có thể upload hình ảnh, chia sẻ các liên kết và gửi tin nhắn cá nhân tới người mà họ đang follow.

Bảo mật

Facebook cho phép người dùng chọn các loại cài đặt bảo mật khác nhau, một số hồ sơ cá nhân thậm chí không thể tìm kiếm được trên Graph search ngoại trừ bạn bè của họ . Người dùng có thể thay đổi các bảo mật trên mỗi bài viết cá nhân bao gồm các chế độ Public (Mọi người có thể nhìn thấy), Friends (Chỉ bạn bè), Only me (Chỉ mình tôi), hoặc Custom (Chế độ tùy chỉnh).

Khả năng Tích hợp

Tiện ích mở rộng(Widgets) của Twitter có thể thêm được vào một website hay một blog và còn có thể tích hợp được với Instagram. Một vài website cho phép người dùng đăng nhập bằng Twitter.

Lịch sử tài chính

Ban đầu, Twitter được phát triển bởi công ty podcast Odeo. Nó đã có trong vốn liên doanh là 155 triệu đô la năm 2006. Trong vòng 3 năm, ngân quỹ đã tăng thêm 35 triệu đô (02/2009), trong khi vào tháng 10/2009, công ty tư nhân Insight Venture Partners đã đầu tư thêm 100 triệu đô la vào trang web này. Năm 2011, Twitter có trị giá khoảng 10 tỷ USD.

Những thông tin gây tranh cãi

So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện Và Bắt Buộc

Phân biệt rõ bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm xã hội bắt buộc để chọn được mức đóng phù hợp với thu nhập và các quyền lợi bảo hiểm được hưởng.

Bảo hiểm xã hội ( BHXH) là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.

Hiểu đúng về bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện

Bảo hiểm xã hội bắt buộc là gì?

Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia.

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là gì?

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.

Theo khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thì đều có thể tham gia BHXH tự nguyện.

Bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện khác nhau như thế nào?

Bảng sau sẽ so sách BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện thông qua các tiêu chí như: Đối tượng tham gia, mức đóng, chế độ… Từ đó bạn đọc sẽ nhận ra sự khác nhau cơ bản giữa hai loại bảo hiểm này.

Tiêu chí so sánh

BHXH bắt buộc

BHXH tự nguyện

Đối tượng tham gia

– Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động;

– Cán bộ, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân, quân đội nhân dân;

– Người hoạt động không chuyên trách ở xã phường, thị trấn;

– Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.

– Đối với người lao động Việt Nam:

Người sử dụng lao động đóng 21,5%

Người lao động đóng 10,5%

– Đối với người lao động nước ngoài:

Người sử dụng lao động đóng 6,5%

Người lao động đóng 1,5%

Người lao động đóng 22% mức thu nhập tháng do mình lựa chọn, tối đa không quá 20% mức lương cơ sở.

Trách nhiệm đóng BHXH

Người sử dụng lao động và người lao động cùng có trách nhiệm đóng BHXH.

Người tham gia phải tự đóng BHXH tại cơ quan Bảo hiểm xã hội.

Phương thức đóng

Đóng theo một trong các phương thức:

– Hàng tháng

– 3 tháng

– 6 tháng

– 12 tháng

– Đóng trước một lần theo thời hạn ghi trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

Đóng theo một trong các phương thức:

– Hàng tháng

– 3 tháng

– 6 tháng

– 12 tháng

– Một lần cho nhiều năm về sau với mức thấp hơn mức đóng hàng tháng hoặc một lần cho những năm còn thiếu với mức cao hơn mức đóng hàng tháng.

Hy vọng những thông tin trong bài viết trên sẽ giúp bạn dễ dàng phân biệt được 2 chế độ bảo hiểm xã hội hiện nay.

Nếu bạn còn bất kỳ điều gì thắc, vui lòng đăng ký tư vấn ngay để được giải đáp nhanh nhất.