Phân Biệt Dư Luận Xã Hội Và Tin Đồn

--- Bài mới hơn ---

  • Bàn Về Khái Niệm “dư Luận Xã Hội”
  • Phân Biệt Áo Dài Cách Tân Và Sườn Xám Cách Tân
  • Áo Sườn (Xường) Xám: Sức Hấp Dẫn “khó Cưỡng” Từ Trang Phục Truyền Thống
  • Tìm Hiểu Về Sinh Vật Nhân Sơ Và Sinh Vật Nhân Chuẩn
  • So Sánh Cấu Trúc Tế Bào Prokaryote Và Eukaryote
  • Tin đồn là những thông tin được lan truyền từ người này qua người khác chủ yếu bằng truyền miệng. Ngoài cách truyền tin bằng miệng là chủ yếu, tin đồn còn lan truyền bằng thư, fax, tin nhắn… tin đồn là sản phẩm tâm lý xã hội, nó phụ thuộc nhiều vào trạng thái tâm lý của cá nhân người tiếp nhận và đưa tin. Tin đồn thường xuất hiện ở những nơi công tác thông tin kém. Do không có thông tin đầy đủ, do tính tò mò, người ta thường hay nghe tin đồn. Khi tin đồn lan truyền thì thông tin chính thức sẽ kém hiệu lực.

    Dư luận xã hội và tin đồn có những khác nhau căn bản dựa theo các tiêu chí: về nguồn gốc, về cơ chế hình thành, về phương thức lan truyền, về bản chất.

    Về nguồn gốc: Tin đồn xuất phát từ sự kiện có thật bị làm méo mó đi, thật một phần hoặc hoàn toàn do chủ thể truyền tin bịa đặt, tưởng tượng ra, mức độ sự thật rất ít. Dư luận xã hội xuất phát từ sự kiện có thật, mức độ sự thật nhiều hơn.

    Về cơ chế hình thành: Tin đồn bị nhào lặn hoặc bị bóp méo bởi khuynh hướng cá nhân người truyền tin, mang nặng màu sắc chủ quan của chủ thể truyền tin. Dư luận xã hội được hình thành thông qua giao tiếp, trao đổi, tranh luận giữa các cá nhân trong cộng đồng. Quan điểm cá nhân chỉ là một ý kiến trong ý kiến chung.

    Về phương thức lan truyền: Tin đồn truyền đi bằng miệng là chính, theo con đường không chính thức, bí mật, ngầm ẩn. Dư luân xã hội lan truyền bằng lời nói và chữ viết, chính thức và không chính thức, công khai và bí mật.

    Về bản chất: Tin đồn chỉ là thông tin đơn thuần về sự việc, hiện tượng theo lối mô tả, kể lại, chứa đựng nhiều thiên kiến. Dư luận xã hội là sự phán xét đánh giá biểu thị thái độ đồng tình hay phản đối của cộng đồng đối với sự kiện, hiện tượng./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Kinh Doanh Và Thương Mại
  • Khái Niệm Bán Buôn / Bán Lẻ Theo Luật Thương Mại Việt Nam
  • So Sánh Bán Buôn Và Bán Lẻ
  • Phân Biệt “bán Buôn”, “bán Sỉ” Và “bán Lẻ”
  • Sự Khác Biệt Giữa Việt Nam Và Nước Mỹ, Khiến Ai Cũng Muốn Đi Mỹ Bằng Được
  • Bàn Về Khái Niệm “dư Luận Xã Hội”

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Áo Dài Cách Tân Và Sườn Xám Cách Tân
  • Áo Sườn (Xường) Xám: Sức Hấp Dẫn “khó Cưỡng” Từ Trang Phục Truyền Thống
  • Tìm Hiểu Về Sinh Vật Nhân Sơ Và Sinh Vật Nhân Chuẩn
  • So Sánh Cấu Trúc Tế Bào Prokaryote Và Eukaryote
  • Giáo Án Sinh 12 Tiết 11: Liên Kết Gen Và Hoán Vị Gen
  • Dư luận xã hội (hay công luận) là một hiện tượng đời sống xã hội quen thuộc mà mỗi cá nhân, tổ chức (bao gồm cả quốc gia), trong cuộc sống hàng ngày, thường phải quan tâm và tính toán đến. Những người theo học ở Liên Xô (cũ) thường sử dụng thuật ngữ “dư luận xã hội” (dịch trực tiếp từ thuật ngữ tiếng Nga). Những người biết tiếng Anh thường sử dụng thuật ngữ “công luận” (dịch từ thuật ngữ tiếng Anh: “public opinion”).

    Phần đông các nhà nghiên cứu dư luận xã hội Liên Xô (cũ) định nghĩa dư luận xã hội (DLXH) là sự phán xét, đánh giá của các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng xã hội đối với các vấn đề mà họ quan tâm. Ví dụ, theo B. K. Paderin: “Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu là các ý kiến thể hiện sự phán xét đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời), phản ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với các tập thể, giai cấp, xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm xã hội lớn nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã hội có động chạm đến các lợi ích chung của họ”.

    Nhiều nhà nghiên cứu Mỹ cũng nêu ra định nghĩa tương tự. Ví dụ: “Công luận là sự phán xét đánh giá của các cộng đồng xã hội đối với các vấn đề có tầm quan trọng, được hình thành sau khi có sự tranh luận công khai” (Young, 1923). “Công luận là kết quả tổng hợp các ý kiến trả lời của mọi người đối với các câu hỏi nhất định, dưới điều kiện của cuộc phỏng vấn” (Warner, 1939). Có những định nghĩa rất đơn giản, nhưng rất phổ biến trong giới nghiên cứu Mỹ: “Công luận là các tập hợp ý kiến cá nhân ở bất kỳ nơi đâu mà chúng ta có thể tìm được” (Childs, 1956).

    Về mặt ngôn ngữ, không có cơ sở để nói rằng DLXH là ý kiến của đa số. Thuật ngữ “xã hội” không đồng nhất với thuật ngữ “đa số”. Ví dụ: Không ai cho rằng đã gọi là tổ chức xã hội thì phải là tổ chức của đa số; đã gọi là chính sách xã hội thì phải là chính sách đối với đa số…

    Về mặt lý luận, cũng không có cơ sở nào để coi trọng dư luận của đa số hơn dư luận của thiểu số, đến mức phải loại bỏ dư luận của thiểu số ra khỏi phạm trù “dư luận xã hội”. Ví dụ, dưới góc độ về khả năng phản ánh chân lý, dư luận của đa số không phải khi nào cũng đúng, dư luận của thiểu số, không nhất thiết khi nào cũng sai. Thực tế cho thấy, trước các vấn đề mới, dư luận của thiểu số, nhiều khi, đúng hơn dư luận của đa số. Giữa dư luận của đa số và dư luận của thiểu số cũng không có một hàng rào ngăn cách không thể vượt qua được. Dư luận ngày hôm nay là thiểu số, ngày mai có thể trở thành đa số hoặc ngược lại, dư luận ngày hôm nay là đa số, ngày mai có thể chỉ còn là thiểu số.

    Về mặt thực tiễn, quan điểm coi DLXH chỉ là ý kiến của đa số lại càng không thể chấp nhận được. Chúng ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện chủ trương “Đại đoàn kết toàn dân tộc”. Tiếng nói của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp, nhóm xã hội đều cần được coi trọng cho dù thành phần kinh tế, tầng lớp, nhóm xã hội đó chỉ là thiểu số trong xã hội. Mặt khác, nếu DLXH chỉ là ý kiến của đa số không thôi, thì không cần phải thành lập các cơ quan làm công tác nắm bắt DLXH, bởi vì ý kiến của đa số là cái mà người dân bình thường cũng có thể dễ dàng nắm được. Báo cáo tình hình DLXH của một số địa phương chưa được lãnh đạo coi trọng, có phần chính là do mới chỉ phản ánh được ý kiến của đa số. Những báo cáo phiến diện, không phản ánh được đầy đủ các luồng ý kiến khác nhau trong xã hội trước một vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó, không những ít có giá trị cho sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, ngược lại, có khi còn có hại, nhất là trong trường hợp vấn đề, sự kiện, hiện tượng là cái mới, bởi lẽ, đối với cái mới, dư luận của đa số lúc đầu thường không đúng, thường có tính “bảo thủ”.

    Cũng có những ý kiến khác nhau khi phân tích hình thức ngôn ngữ của DLXH. Một số nhà nghiên cứu chỉ coi các phán xét đánh giá của công chúng mới là DLXH. Phán xét có nhiều loại như phán xét mô tả – dùng để mô tả sự vật, ví dụ: “Đây là bông hồng bạch”, “Đây là cuộc mít tinh lớn”…; phán xét quy ước – loại phán xét thông dụng trong các văn bản pháp qui, ví dụ: “Mọi người dân phải có trách nhiệm giữ gìn vệ sinh môi trường”…. Phán xét đánh giá là loại phán xét thể hiện thái độ (tán thành – không tán thành; yêu – ghét…) của chủ thể đối với sự kiện, hiện tượng, đối tượng, ví dụ: “Tham nhũng là biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, lối sống”; “Công tác giữ gìn vệ sinh môi trường của Hà Nội trong mấy năm qua có tiến bộ rõ nét”…. Tuy nhiên, đại đa số các nhà nghiên cứu khẳng định, DLXH không chỉ là các phát ngôn thể hiện sự phán xét đánh giá mà còn là các phát ngôn thể hiện tâm tư, nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị, lời khuyên can… của công chúng.

    Cũng có sự nhầm lẫn giữa DLXHtin đồn. Một số người không phân biệt được giữa DLXHtin đồn có những sự khác nhau gì. Giữa tin đồnDLXH có những điểm khác biệt cơ bản sau đây: 1) Nguồn thông tin: nguồn thông tin của tin đồn bao giờ cũng xuất phát từ người khác (tôi nghe người này nói, người kia nói); nguồn thông tin của DLXH lại xuất phát từ chính là bản thân người phát ngôn (theo ý kiến của tôi thì…); 2) Tin đồn loang càng xa thì càng có nhiều biến thái, do nó không ngừng được thêm thắt. Lúc ban đầu, DLXH thường rất phân tán, nhưng sau đó, thông qua sự trao đổi, tranh luận, tính thống nhất của DLXH thường tăng lên; 3) Tin đồn thường có tính “thất thiệt” (mặc dù có những tin đồn về cơ bản là sự thật), trong khi đó, DLXH phản ánh trung thực về suy nghĩ, tình cảm, thái độ của chủ thể. Tuy nhiên, giữa DLXHtin đồn không có sự ngăn cách không vượt qua được. Tin đồn có thể làm nảy sinh DLXH khi trên cơ sở tin đồn người ta đưa ra những phán xét đánh giá bày tỏ thái độ của mình. Tin đồn thường xuất hiện khi người ta thiếu (hoặc thừa) thông tin.

    Về khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải của DLXH, cũng có những quan niệm khác nhau. Có ý kiến cho rằng DLXH chịu ảnh hưởng nặng nề của các thành kiến, định kiến cho nên nó không có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải. Có ý kiến lại “sùng bái” dư luận của đa số, theo họ, dư luận của đa số bao giờ cũng đúng, dư luận của thiểu số bao giờ cũng sai. Tất cả các quan niệm trên đều sai. DLXH không phải là các kết luận khoa học, nhưng ít nhiều đều có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải. DLXH có thể đúng nhiều, đúng ít. Dù có đúng đến mấy thì DLXH vẫn có những hạn chế, không nên tuyệt đối hóa khả năng nhận thức của DLXH. Dù có sai đến mấy, trong DLXH cũng có những hạt nhân hợp lý, không thể coi thường, bỏ qua. Chân lý của DLXH không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng, dư luận của thiểu số cũng sai. Cái mới, lúc đầu, thường chỉ có một số người nhận thấy và do đó dễ bị đa số phản đối.

    Đối với câu hỏi: DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, có tính tự phát hay là một dạng thức ý kiến tập thể, có tính tổ chức? Cũng có những quan niệm khác nhau. Có người khẳng định vế thứ nhất, có người khẳng định vế thứ hai. Sự vô lý của quan niệm coi DLXH là một dạng thức ý kiến tập thể, có tính tổ chức là rất rõ. Ý kiến chung của một tổ chức là chính kiến của tổ chức đó chứ không phải là DLXH của các thành viên trong tổ chức (không thể gọi chính kiến của Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… là DLXH). Chỉ có các luồng ý kiến được hình thành theo con đường tự phát mới được gọi là DLXH. Tuy nhiên ở đây cần phải làm rõ một ý: DLXH không phải là một phép cộng thuần túy, không phải là “bao gạo”, gồm các “hạt gạo” ý kiến cá nhân rời rạc, không có mối quan hệ gì với nhau. DLXH là các luồng ý kiến cá nhân, tự phát, nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, cộng hưởng với nhau. Nói cách khác, đó là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định.

    DLXH là hiện tượng đời sống xã hội phức tạp, nên khó có thể lột tả hết trong một vài dòng định nghĩa ngắn gọn. Theo Lênin, đối với những sự vật phức tạp, có nhiều góc nhiều cạnh, mọi định nghĩa đều phiến diện. Tuy nhiên, dù có phiến diện đến đâu, định nghĩa cũng không mất đi mặt khẳng định, vai trò quan trọng, sự cần thiết của nó đối với hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người. Đó là những chỉ dẫn sơ bộ, những nét phác thảo ban đầu, không có nó, chúng ta không thể tiếp tục đi sâu hơn vào bản chất của sự vật cũng như không thể đưa ra đuợc những phương hướng hành động cụ thể nào cả.

    Vì lẽ đó, chúng ta có thể định nghĩa rất ngắn gọn về DLXH như sau: DLXH là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự. Tuy nhiên, cần phải lưu ý đến các nội hàm sau đây của định nghĩa này: 1) Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau; 2) DLXH có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau; 3) Luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến) hoặc hẹp (một số ý kiến); 4) DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự phát, chứ không phải là ý kiến của một tổ chức, được hình thành theo con đường tổ chức (hội nghị, hội thảo…); 5) DLXH không phải là một phép cộng các ý kiến cá nhân, tự phát mà là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định; 6) Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự (động chạm đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người) mới có khả năng tạo ra DLXH./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Dư Luận Xã Hội Và Tin Đồn
  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Kinh Doanh Và Thương Mại
  • Khái Niệm Bán Buôn / Bán Lẻ Theo Luật Thương Mại Việt Nam
  • So Sánh Bán Buôn Và Bán Lẻ
  • Phân Biệt “bán Buôn”, “bán Sỉ” Và “bán Lẻ”
  • Bàn Về Khái Niệm ‘dư Luận Xã Hội’

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Dung Tích, Xi Lanh Và Công Suất?
  • Hoán Dụ Là Gì? Các Kiểu Hoán Dụ? Sự Khác Nhau Giữa Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Hoán Dụ Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Sự Khác Nhau Giữa Ca Dao Và Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Mối Liên Hệ Giữa Ca Dao Và Dân Ca
  • Dư luận xã hội (hay công luận) là một hiện tượng đời sống xã hội quen thuộc mà mỗi cá nhân, tổ chức (bao gồm cả quốc gia), trong cuộc sống hàng ngày, thường phải quan tâm và tính toán đến. Những người theo học ở Liên Xô (trước đây) thường sử dụng thuật ngữ “dư luận xã hội” (dịch trực tiếp từ thuật ngữ tiếng Nga). Những người biết tiếng Anh thường sử dụng thuật ngữ “công luận” (dịch từ thuật ngữ tiếng Anh “public opinion”).

    Dư luận xã hội (hay công luận) là một hiện tượng đời sống xã hội quen thuộc mà mỗi cá nhân, tổ chức (bao gồm cả quốc gia), trong cuộc sống hàng ngày, thường phải quan tâm và tính toán đến. Những người theo học ở Liên Xô (cũ) thường sử dụng thuật ngữ “dư luận xã hội” (dịch trực tiếp từ thuật ngữ tiếng Nga). Những người biết tiếng Anh thường sử dụng thuật ngữ “công luận” (dịch từ thuật ngữ tiếng Anh: “public opinion”).

    Phần đông các nhà nghiên cứu dư luận xã hội Liên Xô (cũ) định nghĩa dư luận xã hội (DLXH) là sự phán xét, đánh giá của các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng xã hội đối với các vấn đề mà họ quan tâm. Ví dụ, theo B. K. Paderin: “Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu là các ý kiến thể hiện sự phán xét đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời), phản ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với các tập thể, giai cấp, xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm xã hội lớn nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã hội có động chạm đến các lợi ích chung của họ”.

    Nhiều nhà nghiên cứu Mỹ cũng nêu ra định nghĩa tương tự. Ví dụ: “Công luận là sự phán xét đánh giá của các cộng đồng xã hội đối với các vấn đề có tầm quan trọng, được hình thành sau khi có sự tranh luận công khai” (Young, 1923). “Công luận là kết quả tổng hợp các ý kiến trả lời của mọi người đối với các câu hỏi nhất định, dưới điều kiện của cuộc phỏng vấn” (Warner, 1939). Có những định nghĩa rất đơn giản, nhưng rất phổ biến trong giới nghiên cứu Mỹ: “Công luận là các tập hợp ý kiến cá nhân ở bất kỳ nơi đâu mà chúng ta có thể tìm được” (Childs, 1956).

    Về mặt ngôn ngữ, không có cơ sở để nói rằng DLXH là ý kiến của đa số. Thuật ngữ “xã hội” không đồng nhất với thuật ngữ “đa số”. Ví dụ: Không ai cho rằng đã gọi là tổ chức xã hội thì phải là tổ chức của đa số; đã gọi là chính sách xã hội thì phải là chính sách đối với đa số…

    Về mặt lý luận, cũng không có cơ sở nào để coi trọng dư luận của đa số hơn dư luận của thiểu số, đến mức phải loại bỏ dư luận của thiểu số ra khỏi phạm trù “dư luận xã hội”. Ví dụ, dưới góc độ về khả năng phản ánh chân lý, dư luận của đa số không phải khi nào cũng đúng, dư luận của thiểu số, không nhất thiết khi nào cũng sai. Thực tế cho thấy, trước các vấn đề mới, dư luận của thiểu số, nhiều khi, đúng hơn dư luận của đa số. Giữa dư luận của đa số và dư luận của thiểu số cũng không có một hàng rào ngăn cách không thể vượt qua được. Dư luận ngày hôm nay là thiểu số, ngày mai có thể trở thành đa số hoặc ngược lại, dư luận ngày hôm nay là đa số, ngày mai có thể chỉ còn là thiểu số.

    Về mặt thực tiễn, quan điểm coi DLXH chỉ là ý kiến của đa số lại càng không thể chấp nhận được. Chúng ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện chủ trương “Đại đoàn kết toàn dân tộc”. Tiếng nói của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp, nhóm xã hội đều cần được coi trọng cho dù thành phần kinh tế, tầng lớp, nhóm xã hội đó chỉ là thiểu số trong xã hội. Mặt khác, nếu DLXH chỉ là ý kiến của đa số không thôi, thì không cần phải thành lập các cơ quan làm công tác nắm bắt DLXH, bởi vì ý kiến của đa số là cái mà người dân bình thường cũng có thể dễ dàng nắm được. Báo cáo tình hình DLXH của một số địa phương chưa được lãnh đạo coi trọng, có phần chính là do mới chỉ phản ánh được ý kiến của đa số. Những báo cáo phiến diện, không phản ánh được đầy đủ các luồng ý kiến khác nhau trong xã hội trước một vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó, không những ít có giá trị cho sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, ngược lại, có khi còn có hại, nhất là trong trường hợp vấn đề, sự kiện, hiện tượng là cái mới, bởi lẽ, đối với cái mới, dư luận của đa số lúc đầu thường không đúng, thường có tính “bảo thủ”.

    Cũng có những ý kiến khác nhau khi phân tích hình thức ngôn ngữ của DLXH. Một số nhà nghiên cứu chỉ coi các phán xét đánh giá của công chúng mới là DLXH. Phán xét có nhiều loại như phán xét mô tả – dùng để mô tả sự vật, ví dụ: “Đây là bông hồng bạch”, “Đây là cuộc mít tinh lớn”…; phán xét quy ước – loại phán xét thông dụng trong các văn bản pháp qui, ví dụ: “Mọi người dân phải có trách nhiệm giữ gìn vệ sinh môi trường”…. Phán xét đánh giá là loại phán xét thể hiện thái độ (tán thành – không tán thành; yêu – ghét…) của chủ thể đối với sự kiện, hiện tượng, đối tượng, ví dụ: “Tham nhũng là biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, lối sống”; “Công tác giữ gìn vệ sinh môi trường của Hà Nội trong mấy năm qua có tiến bộ rõ nét”…. Tuy nhiên, đại đa số các nhà nghiên cứu khẳng định, DLXH không chỉ là các phát ngôn thể hiện sự phán xét đánh giá mà còn là các phát ngôn thể hiện tâm tư, nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị, lời khuyên can… của công chúng.

    Cũng có sự nhầm lẫn giữa DLXH và tin đồn. Một số người không phân biệt được giữa DLXH và tin đồn có những sự khác nhau gì. Giữa tin đồn và DLXH có những điểm khác biệt cơ bản sau đây: 1) Nguồn thông tin: nguồn thông tin của tin đồn bao giờ cũng xuất phát từ người khác (tôi nghe người này nói, người kia nói); nguồn thông tin của DLXH lại xuất phát từ chính là bản thân người phát ngôn (theo ý kiến của tôi thì…); 2) Tin đồn loang càng xa thì càng có nhiều biến thái, do nó không ngừng được thêm thắt. Lúc ban đầu, DLXH thường rất phân tán, nhưng sau đó, thông qua sự trao đổi, tranh luận, tính thống nhất của DLXH thường tăng lên; 3) Tin đồn thường có tính “thất thiệt” (mặc dù có những tin đồn về cơ bản là sự thật), trong khi đó, DLXH phản ánh trung thực về suy nghĩ, tình cảm, thái độ của chủ thể. Tuy nhiên, giữa DLXH và tin đồn không có sự ngăn cách không vượt qua được. Tin đồn có thể làm nảy sinh DLXH khi trên cơ sở tin đồn người ta đưa ra những phán xét đánh giá bày tỏ thái độ của mình. Tin đồn thường xuất hiện khi người ta thiếu (hoặc thừa) thông tin.

    Về khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải của DLXH, cũng có những quan niệm khác nhau. Có ý kiến cho rằng DLXH chịu ảnh hưởng nặng nề của các thành kiến, định kiến cho nên nó không có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải. Có ý kiến lại “sùng bái” dư luận của đa số, theo họ, dư luận của đa số bao giờ cũng đúng, dư luận của thiểu số bao giờ cũng sai. Tất cả các quan niệm trên đều sai. DLXH không phải là các kết luận khoa học, nhưng ít nhiều đều có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải. DLXH có thể đúng nhiều, đúng ít. Dù có đúng đến mấy thì DLXH vẫn có những hạn chế, không nên tuyệt đối hóa khả năng nhận thức của DLXH. Dù có sai đến mấy, trong DLXH cũng có những hạt nhân hợp lý, không thể coi thường, bỏ qua. Chân lý của DLXH không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng, dư luận của thiểu số cũng sai. Cái mới, lúc đầu, thường chỉ có một số người nhận thấy và do đó dễ bị đa số phản đối.

    Đối với câu hỏi: DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, có tính tự phát hay là một dạng thức ý kiến tập thể, có tính tổ chức? Cũng có những quan niệm khác nhau. Có người khẳng định vế thứ nhất, có người khẳng định vế thứ hai. Sự vô lý của quan niệm coi DLXH là một dạng thức ý kiến tập thể, có tính tổ chức là rất rõ. Ý kiến chung của một tổ chức là chính kiến của tổ chức đó chứ không phải là DLXH của các thành viên trong tổ chức (không thể gọi chính kiến của Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… là DLXH). Chỉ có các luồng ý kiến được hình thành theo con đường tự phát mới được gọi là DLXH. Tuy nhiên ở đây cần phải làm rõ một ý: DLXH không phải là một phép cộng thuần túy, không phải là “bao gạo”, gồm các “hạt gạo” ý kiến cá nhân rời rạc, không có mối quan hệ gì với nhau. DLXH là các luồng ý kiến cá nhân, tự phát, nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, cộng hưởng với nhau. Nói cách khác, đó là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định.

    DLXH là hiện tượng đời sống xã hội phức tạp, nên khó có thể lột tả hết trong một vài dòng định nghĩa ngắn gọn. Theo Lênin, đối với những sự vật phức tạp, có nhiều góc nhiều cạnh, mọi định nghĩa đều phiến diện. Tuy nhiên, dù có phiến diện đến đâu, định nghĩa cũng không mất đi mặt khẳng định, vai trò quan trọng, sự cần thiết của nó đối với hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người. Đó là những chỉ dẫn sơ bộ, những nét phác thảo ban đầu, không có nó, chúng ta không thể tiếp tục đi sâu hơn vào bản chất của sự vật cũng như không thể đưa ra đuợc những phương hướng hành động cụ thể nào cả.

    Vì lẽ đó, chúng ta có thể định nghĩa rất ngắn gọn về DLXH như sau: DLXH là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự. Tuy nhiên, cần phải lưu ý đến các nội hàm sau đây của định nghĩa này: 1) Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau; 2) DLXH có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau; 3) Luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến) hoặc hẹp (một số ý kiến); 4) DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự phát, chứ không phải là ý kiến của một tổ chức, được hình thành theo con đường tổ chức (hội nghị, hội thảo…); 5) DLXH không phải là một phép cộng các ý kiến cá nhân, tự phát mà là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định; 6) Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự (động chạm đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người) mới có khả năng tạo ra DLXH./.

    Bài đăng TCTG số 7.2020

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Sự Khác Biệt Giữa Phiên Dịch Và Biên Dịch Viên
  • Sự Khác Nhau Giữa Biên Dịch Và Phiên Dịch Viện
  • Sự Khác Nhau Của Trình Thông Dịch (Interpreter) Và Biên Dịch (Compiler)
  • So Sánh Điểm Giống Nhau Và Khác Nhau Giữa Thuế Trực Thu Và Thuế Gián Thu
  • Sự Khác Nhau Giữa Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ
  • Vài Nét Về Hoạt Động Định Hướng Dư Luận Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Áo Dài Và Sườn Xám 2022
  • Áo Dài Và Kimono, Bạn Bình Chọn Cho Bộ Quốc Phục Nào?
  • Áo Dài Và Kimono, Bạn Thích Bộ Quốc Phục Nào?
  • Hàm So Sánh Trong Excel
  • Mẹo Sử Dụng Hàm If Trong Excel
  • Với tư cách là một hoạt động quan trọng trong lĩnh vực tuyên giáo, hoạt động định hướng dư luận xã hội là việc sử dụng các phương thức thông tin nhất định tác động vào các nhóm đề mang tính thời sự.

    Mục đích của định hướng dư luận xã hội là góp phần điều chỉnh hành vi, hướng tới làm thay đổi thái độ, nhận thức và hành động của các nhóm xã hội theo hướng có lợi cho một giai cấp nhất định. Vì vậy định hướng dư luận xã hội là một trong những hoạt động lãnh đạo chỉ đạo quan trọng thuộc về giai cấp và mang tính giai cấp.

    Ở nước ta việc định hướng dư luận xã hội được thực hiện nhằm hướng tới mục tiêu và lý tưởng XHCN, hướng tới hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế xã hội của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    2. Cấp độ định hướng dư luận.

    Định hướng dư luận sử dụng các nguồn thông tin chính thống tác động đến cá nhân, nhóm và cộng đồng làm thay đổi nhận thức, thái độ của họ, tạo ra sự nhất trí và đồng thuận thực hiện thắng lợi các mục tiêu, phương hướng đề ra, định hướng dư luận có phạm vi tác động ở 3 cấp độ: Cấp độ cá nhân, cấp độ nhóm xã hội và cấp độ cộng đồng. xã hội. Tuy nhiên sự phân biệt này chỉ mang tính tương đối.

    Việc cung cấp thông tin, cơ sở chứng cứ, lý lẽ phù hợp với nhận thức của chủ thể có vai trò hết hức quan trọng trong quá trình chuyển đổi trạng thái nhận thức: từ không hiểu đến hiểu, từ chưa nhận thức rõ đến nhận thức rất rõ, từ phản đối đến tán thành …hoặc quá trình chuyển đổi trạng thái tâm lý : từ ghét đến yêu, từ không chấp nhận đến chấp nhận, từ không thích đến rất thích…Trên thực tế các cá nhân có thể hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích của tập thể, của cộng đồng nếu như họ được giác ngộ và ý thức rõ ràng về sự hy sinh đó…Ngược lại khi chưa có sự giác ngộ và ý thức rõ ràng về mục đích rất dễ dẫn đến sự chống đối bằng mọi giá. Định hướng ở cấp độ cá nhân cần phải chú ý đến mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể đặc biệt là các quan hệ về lợi ích

    b) Cấp độ định hướng nhóm xã hội.

    Các cá nhân luôn được gắn với một nhóm nhất định, chịu sự tác động, ràng buộc bởi các quy tắc, chuẩn mực của nhóm và tuân thủ các quyết định của nhóm xã hội đó. Có nhiều tiêu chí để xác định một nhóm xã hội, các ngành khoa học khác nhau tiếp cân dựa vào những đặc trưng cơ bản, trên cơ sở tính bền vững và tính tính tương đối đồng nhất của các cá nhân mà người ta có thể xác định những nhóm xã hội khác nhau ví dụ trong xã hội học có nhóm quy chiếu (nhóm thực, nhóm tượng trưng), nhóm sơ cấp, nhóm thứ cấp… Việc lựa chọn các tiêu chí xác định nhóm luôn phụ thuộc vào mục đích và tính chất của vấn đề cần nghiên cứu…

    Khi định hướng dư luận trong nhóm xã hội thì việc thông qua những người có uy tín, địa vị cao trong nhóm có vai trò hết sức quan trọng. Ví dụ bí thư đoàn thanh niên định hướng dư luận cho đoàn viên, chủ tịch HPN định hướng dư luận cho hội viên, chủ tịch công đoàn định hướng DLXH cho công nhân…Những người đứng đầu tổ chức, đơn vị thường có vai trò định hướng rất rõ đối với các thành viên thuộc tổ chức của mình vì vậy việc trang bị cho người định hướng những thông tin có định hướng rõ ràng, chính xác, đầy đủ ý nghĩa về nội dung một thông điệp nào đó đặc biệt trong lĩnh vực tư tưởng là rất quan trọng.

    Bên cạnh đó cũng cần đánh giá đúng mức mối quan hệ giữa những thành viên với thiết chế nhóm vì mỗi thành viên có thể tham gia vào nhiều nhóm trong cùng một thời điểm, những nhóm có lợi ích cơ bản và chủ yếu thường được ưu tiên tham gia nhiều hơn và nhiệt tình hơn trong kế hoạch hoạt động của cá nhân so với những nhóm khác.

    3. Nâng cao hiệu quả của công tác định hướng dư luận xã hội

    Hiệu quả của việc định hướng dư luận xã hội phụ thuộc vào việc nhóm định hướng nắm bắt và làm chủ dư luận xã hội, chủ động đến các sự kiện xã hội và dự báo được xu thế phát triển của các sự kiện xã hội đó ( bao gồm các sự kiện xã hội đã, đang và sẽ nảy sinh). Vì vậy nhiệm vụ đánh giá đúng đắn cường độ, phạm vi tác động của các sự kiện xã hội đến các nhóm lợi ích có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác định hướng dư luận, nó giúp cho nhóm định hướng đưa ra những phương pháp định hướng phù hợp và có hiệu quả cao.

    Công tác tuyên giáo và công tác định hướng dư luận xã hội ở nước ta hiện nay đang có nhiều thuận lợi thể hiện ở chỗ bầu không khí dân chủ mở rộng ngày càng được nâng cao, sự đồng lòng, nhất trí trong các tầng lớp nhân dân đối với các chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước được thể hiện rất rõ nét, những thành tựu tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội, giáo dục, y tế, ngoại giao, khoa học kỹ thuật đang tạo ra những động lực mới cho sự phát triển toàn diện, vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức đoàn thể quan trọng hơn, có uy tín ngày càng cao trong đời sống nhân dân. Báo chí, các phương tiện truyền thông đại chúng, các ấn phẩm, xuất bản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú tạo điều kiện chủ động thông tin cho mọi người dân trong quá trình học tập, lao động và sản xuất.

    Bên cạnh đó công tác định hướng dư luận xã hội trong giai đoạn hiện nay cũng gặp không ít những khó khăn, đặc biệt dưới sự tác động của kinh tế thị trường, lối sống cá nhân ích kỉ, vụ lợi xuất hiện và đang len lỏi, thâm nhập vào các cá nhân, các nhóm xã hội. Sự phân tán về tư tưởng có dấu hiệu gia tăng, sự phân hoá về mức sống, về quan điểm, tư tưởng trong các nhóm xã hội, các giai tầng xã hội đang là nguyên nhân tạo ra sự khác biệt trong nội bộ các nhóm, các tổ chức xã hội.

    Xét dưới góc độ của công tác tuyên giáo, việc sử dụng đội ngũ công tác viên, thông tin viên, tuyên truyền viên, báo cáo viên và những người có uy tín trong cộng đồng trong những năm qua đã đạt được những kết quả rất quan trọng song vẫn còn nhiều điểm hạn chế về cơ chế đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, bản lĩnh chính trị; về chất lượng và hiệu quả của công tác thông tin tuyên truyền; về trình độ, năng lực và kinh nghiệm trong quá trình nắm bắt, phản ánh, định hướng các luồng dư luận xã hội cũng đang là những vấn đề cần xem xét, đối mới cho phù hợp với thực tiễn hơn.

    Thứ 3: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội, trong đó việc nghiên cứu cần phải làm rõ tính quy luật và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh các luồng ý kiến khác nhau cũng như cơ sở khoa học để đánh giá, phán xét một luồng ý kiến nào đó, nâng cao vai trò chức năng dự báo, chức năng phản biện xã hội trong các nghiên cứu dư luận xã hội. Việc nắm bắt dư luận xã hội cần tuân thủ chặt chẽ các khâu, các công đoạn, các yêu cầu kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu đảm bảo tính khách quan và khoa học trong quá trình thu thập thông tin.

    Thứ 4: Định hướng dư luận xã hội cũng là việc minh bạch hoá các nguồn thông tin, hạn chế nhận thức sai lệch và loại bỏ tin đồn thất thiệt trong xã hội. Điều này cũng đòi hỏi đội ngũ công tác viên, thông tin viên, tuyên truyền viên, báo cáo viên và những người có uy tín trong cộng đồng phải có năng lực nhất định trong việc phân tích đánh giá, phán xét các sự kiện xã hội, phân biệt rõ giữa DLXH và tin đồn cũng như những tác động tiêu cực của tin đồn trong đời sống xã hội. Nâng cao khả năng dự báo, tham mưu trong quá trình nghiên cứu nắm bắt dư luận xã hội./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Biên Dịch Viên Và Phiên Dịch Viên Đặc Điểm Giống Nhau Và Không Giống Nhau Giữa Họ
  • De Thi De Thi Hsg 12 Thpt 2022 Hai Duong
  • Chương 1: Các Cuộc Cách Mạng Tư Sản (Từ Giữa Thế Kỉ Xvi Đến Cuối Thế Kỉ Xviii)
  • So Sánh Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình?
  • Danh Sách Các Công Ty Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ Cập Nhật
  • Facebook Vs Twitter: Sự Khác Nhau Giữa Mạng Xã Hội Facebook Và Twitter

    --- Bài mới hơn ---

  • Pes Hay Fifa? Đâu Mới Là Gã Khổng Lồ Bóng Đá Điện Tử 2022
  • Academic Ielts Và General Ielts Giống Và Khác Nhau
  • Sự Khác Biệt Giữa Team Và Group
  • Sự Khác Nhau Giữa “go Back” Và “come Back”?
  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Visa Và Hộ Chiếu (Passport)
  • Người ta nói rằng Facebook ra đời với mục đích giúp bạn kết nối với bạn bè trong cùng một khu vực, còn Twitter thì dành cho một nhóm bạn nhỏ. Trong khi Facebook là một mạng xã hội trực tuyến với nền tảng lập trình “Facebook Platform” đa mục đích cho phép người dùng chat, đăng ảnh, viết ghi chú và chơi game, thì Twitter được xây dựng xung quanh việc post những mẩu tin nhỏ thường gọi là “tweet” với độ dài là 140 ký tự.

    Đó là 2 mạng xã hội phổ biến nhất trên thế giới. So sánh này nhìn vào lịch sử phát triển dựa trên người sử dụng cùng với điểm mạnh và điểm yếu của chúng.

    Thành viên chủ chốt

    Mark Zuckerberg – người sáng lập đồng thời là CEO của Facebook; Dustin Moskovitz – người đồng sáng lập Facebook; Sheryl Sandberg – Giám đốc điều hành Facebook; Matt Cohler – Quản lý sản phẩm; Chris Hughes – Người đồng sáng lập.

    Jack Dorsey – Chủ tịch hội đồng; Evan Williams – CEO; Biz Stone – Giám đốc sáng tạo.

    Lịch sử Facebook và Twitter

    Mark Zuckerberg ra mắt Facebook với mọi người vào tháng 2 năm 2004 cùng với bạn cùng phòng đại học của anh ấy. Ban đầu, nó chỉ dành cho sinh viên ở Harvard, nhưng sau đó đã mở rộng cho sinh viên các trường đại học khác tại khu vực Boston, Ivy League và Đại học Standford. Rồi mở rộng hơn nữa cho sinh viên thuộc bất kỳ trường đại học nào, cuối cùng là học sinh phổ thông. Vào tháng 9 năm 2006, nó còn mở rộng cho bất cứ ai trên 13 tuổi.Tính đến 17/5/2012, Facebook được public rộng rãi và thu về được 104 tỷ đô. Người dùng Facebook vẫn đang tăng lên một cách nhanh chóng. Sự phát triển của nó có thể thấy được ở biểu đồ sau đây: http://www.benphoster.com/facebook-user-growth-chart-2004-2010/

    Các thành viên sử dụng Facebook với nhiều mục đích khác nhau. Nó chủ yếu được các cá nhân sử dụng để họ kết nối với những người đang offline, hơn nữa để lưu lại một bộ hồ sơ cá nhân và đăng tải những thông điệp trên tường của họ. Người sử dụng có thể đăng tải cả một album ảnh và videos, chia sẻ các liên kết hay, viết một đoạn note dài, gửi tin nhắn cá nhân một đoạn văn bản hay thậm chí là video tới bạn bè của mình và hơn nữa là có thể chơi game.

    Twitter cho phép người sử dụng đăng một mẩu tin chứa tối đa là 140 ký tự hay được gọi là “tweet” và follow những tin bài của người khác trên Twitter của họ. Nó chủ yếu được sử dụng để giao tiếp với các cá nhân khác có cùng sở thích bất kể người dùng có biết nhau ngoài Twitter hay không, hơn nữa nó còn có tính năng theo dõi, cập nhật tin tức từ những người nổi tiếng khá hay ho. Người dùng cũng có thể upload hình ảnh, chia sẻ các liên kết và gửi tin nhắn cá nhân tới người mà họ đang follow.

    Bảo mật

    Facebook cho phép người dùng chọn các loại cài đặt bảo mật khác nhau, một số hồ sơ cá nhân thậm chí không thể tìm kiếm được trên Graph search ngoại trừ bạn bè của họ . Người dùng có thể thay đổi các bảo mật trên mỗi bài viết cá nhân bao gồm các chế độ Public (Mọi người có thể nhìn thấy), Friends (Chỉ bạn bè), Only me (Chỉ mình tôi), hoặc Custom (Chế độ tùy chỉnh).

    Khả năng Tích hợp

    Tiện ích mở rộng(Widgets) của Twitter có thể thêm được vào một website hay một blog và còn có thể tích hợp được với Instagram. Một vài website cho phép người dùng đăng nhập bằng Twitter.

    Lịch sử tài chính

    Ban đầu, Twitter được phát triển bởi công ty podcast Odeo. Nó đã có trong vốn liên doanh là 155 triệu đô la năm 2006. Trong vòng 3 năm, ngân quỹ đã tăng thêm 35 triệu đô (02/2009), trong khi vào tháng 10/2009, công ty tư nhân Insight Venture Partners đã đầu tư thêm 100 triệu đô la vào trang web này. Năm 2011, Twitter có trị giá khoảng 10 tỷ USD.

    Những thông tin gây tranh cãi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Glucose Và Fructose
  • Hashcode Với Equals Trong Java
  • Anh Chị Có Thể Chia Sẻ Sự Khác Nhau Giữa Ceo Và Chairman?
  • Sự Khác Nhau Giữa Founder Và Ceo
  • Sự Khác Nhau Giữa Cia Và Fbi
  • Sự Khác Nhau Giữa Chủ Nghĩa Xã Hội Và Chủ Nghĩa Cộng Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Giữa Bếp Từ Và Bếp Hồng Ngoại, Nên Dùng Loại Nào ?
  • Bằng Cử Nhân Và Bằng Kỹ Sư Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Đường Lối Đối Ngoại Của Đảng Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xii
  • Dây Điện Và Dây Cáp Điện Khác Nhau Gì? Khi Nào Thì Dùng Dây Điện
  • Phân Biệt Dây Dẫn Điện Và Dây Cáp Điện
  • Vào thời gian đó, những người công nhận làm việc nặng nhọc trong những điều liện thiếu an toàn và tồi tệ một cách kinh khủng. Họ phải làm việc 12 đến 14 tiếng một ngày, 6 ngày trên 7, không có bữa ăn trưa. Giới công nhân đó bao gồm cả những đứa trẻ mới 6 tuổi với bàn tay nhỏ và những ngón tay linh hoạt có thể luồn vào trong những cỗ máy để sửa chữa hay chùi rửa. Môi trường nghèo nàn ánh sáng, không có hệ thống thông gió, hệ thống máy móc thiết kế kém thường xuyên làm bị thương hoặc làm chết những người lao động.

    Lý thuyết cơ bản về Chủ nghĩa Cộng sản

    Để phản ứng lại những điều kiện kinh khủng đó của Chủ nghĩa Tư bản, lý thuyết gia người Đức Karl Max (1818-1883) và Friedrich Engels (1820-1895) đã sáng tạo ra một hệ thống kinh tế chính trị mới: Chủ nghĩa Cộng sản. Trong cuốn sách ” Điều kiện làm việc của giai cấp công nhân tại Anh ” , ” Bản tuyên ngôn của Chủ nghĩa Cộng sản ” và ” Tư bản luận “, Marx và Engels chỉ trích sự lạm dụng sức lao động trong hệ thống Tư bản và đưa ra một giả thuyết không tưởng.

    Dưới chế độ Cộng sản, không có một tư liệu sản xuất nào (nhà mày, đất, etc) được tư hữu. Thay vào đó, chính phủ sẽ quản lý và tất cả mọi người làm việc chung với nhau. Của cải làm ra sẽ được chia đều dựa trên nhu cầu hơn là dựa trên sức lực đóng góp vào lao động. Về mặt lý thuyết, kết quả là một xã hội không giai cấp, tất cả mọi thứ đều là của chung.

    Để xây dựng được thiên đường của những người công nhân cộng sản đó, hệ thống tư bản phải bị phá hủy bằng cách mạng bạo lực. Marx và Engels đã tin rằng tầng lớp công nhân này (tầng lớp vô sản) sẽ nổi lên trên toàn thế giới và lật đổ giai cấp bậc trung (giới tư sản). Một khi Chủ nghĩa Cộng sản được thiết lập, ngay cả chính phủ cũng sẽ không cần thiết, tất cả làm việc cùng nhau cho một lợi ích chung của tập thể.

    Lý thuyết của Chủ nghĩa Xã hội giống với Chủ nghĩa Cộng sản trên vài mặt, nhưng ít thiên tả và linh hoạt hơn. Ví dụ : mặc dù việc để chính phủ quản lý tư liệu sản xuất là một phương pháp khả thi nhưng Chủ nghĩa Xã hội cho phép những hợp tác xã của công nhân cùng quản lý nhà máy hay đồng ruộng.

    Không phá tan Chủ nghĩa Tư bản và lật đổ giới tư sản, các cuộc cải cách từng bước một được cho phép qua luật pháp và sự tiến bộ chính trị, như bầu những người có thiên hướng xã hội vào hệ thống chính quyền. Cũng như vậy, không giống như Chủ thuyết Cộng sản nơi mà của cải làm ra được chia đều trên lợi nhuận, Chủ nghĩa xã hội chia của cải dựa trên công sức của mỗi cá nhân đóng góp cho xã hội.

    Và như vậy, chủ nghĩa xã hội có thể hoạt động trong cấu trúc chính trị hiện thời mà không có cần trải qua một cuộc lật đổ. Hơn thế nữa, nó còn cho phép tổ chức kinh doanh tự do hơn cho các nhóm lao động.

    Cả hai chủ thuyết đều được tạo dựng lên để cải thiện đời sống của những người bình thường và sự chia sẻ của cải công bằng hơn. Trên lý thuyết, cả hai đều có khả năng tạo dựng điều đó cho những người công nhân. Tuy nhiên, trên thực tế, chúng lại có những kết quả khác biệt.

    Bởi vì Chủ nghĩa Cộng sản không đem lại sự năng động, động lực để làm việc. Sau cùng, các nhà quản lý trung ương sẽ lấy lại mọi sản phẩm và chia đều chúng một cách tùy tiện, bất kể bạn bỏ ra bao nhiêu công sức vào công việc. Điều đó dẫn đến sự nghèo nàn và sự bần cùng hóa. Tầng lớp công nhân nhanh chóng nhận ra rằng họ không được hưởng lợi từ việc làm việc chăm chỉ hơn, và họ từ bỏ. Trái ngược lại, chủ nghĩa xã hội tưởng thưởng sự chăm chỉ. Cuối cùng, phần lợi nhuận giữa những người lao động được phân phát dựa trên công sức, sự đóng góp của người đó cho xã hội.

    Những nước đã thực hiện chủ nghĩa cộng sản trong thế kỷ 20 gồm có Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Cuba và Bắc Hàn. Trong mọi trường hợp, độc tài cộng sản lên cầm quyền để sắp xếp lại trât tự của hệ thống chính trị và kinh tế. Ngày hôm nay, Nga và Campuchia không còn là cộng sản nữa, Trung quốc và Việt Nam thực hiện nền kinh tế tư bản nhưng vẫn giữ trật tự chính trị cộng sản, còn Cuba và Bắc Hàn vẫn tiếp tục thực hiện chủ nghĩa đó.

    Những nước kết hợp đường lối chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản và hệ thống dân chủ bao gồm Thụy Điển, Na Uy, Pháp, Canada, Ấn Độ và Vương quốc Anh. Các nước này đều đạt được sự hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản và lợi ích của chủ nghĩa xã hội, mà không triệt tiêu động lực lao động và gây bất ổn cho người dân. Người lao động có thêm nhiều lợi ích như kỳ nghỉ lễ, bảo hiểm xã hội, trợ cấp nuôi dạy trẻ, mà không cần sự quản lý tập trung công nghiệp.

    Nói tóm lại, sự khác biệt giữa Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa Xã hội có thể tổng kết như thế này: Bạn muốn sống ở Thụy Điển hay ở Bắc Hàn?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Iphone 7 Và Iphone 6S
  • So Sánh Thú Vị Giữa Đám Cưới Thời ‘ông Bà Anh’ Và Đám Cưới Ngày Nay
  • Sự Khác Nhau Giữa Lý Thuyết Và Thực Hành
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Notepad Và Wordpad Trong Windows
  • So Sánh Giữa Camera Ip Và Camera Analog?
  • Sự Khác Nhau Trong Đời Sống Văn Hóa – Xã Hội Giữa Mỹ Và Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Khác Biệt Giữa Hàng Xóm Việt Nam Và Tại Mỹ
  • Phân Biệt “Bán Buôn”, “Bán Sỉ” Và “Bán Lẻ”
  • Lập Trình C: Biến Tổng Thể Và Biến Cục Bộ
  • Bài 3 (Tiếp Theo): Biến Toàn Cục, Biến Cục Bộ Và Phạm Vi Của Biến
  • Tại Sao Các Biến Toàn Cục Không Tốt? » Cafedev.vn
  • Văn hóa xã hội Việt và Mỹ nói chung là khác nhau 180 độ, có những nét khác nhau lớn đến nỗi chúng ta khó chấp nhận, nhưng cũng có những nét chúng ta nên hiểu, nên biết để mở rộng tầm nhìn và hoà đồng dễ hơn vào môi trường sống mới. Do đó cách nhanh nhất để hòa nhập và vượt qua cú shock văn hóa trong môi trường học tập mới chính là trang bị cho mình những kiến thức cần thiết về văn hóa, xã hội và con người nước bạn.

    Mỹ là quốc gia đông dân và đa dạng về chủng tộc. Thật khó để có thể miêu tả về một người Mỹ điển hình. Bởi xã hội Mỹ được tạo nên từ những con người đến từ nhiều quốc gia với những đa dạng về chủng tộc văn hóa, xã hội, hoàn cảnh kinh tế và cả vấn đề nhân sinh quan.

    Tại Mỹ, sự độc lập và tự chủ luôn được ưu tiên. Trước hết, họ tự hào về tính cá nhân và sự khác biệt của mình. Mặc dù có quan hệ chặt chẽ với gia đình và cộng đồng, song tính cá nhân và nhân quyền là điều quan trọng nhất với họ. Điều này nghe có vẻ giống thái độ ích kỷ nhưng chính nó lại khiến người Mỹ thành thật, biết tôn trọng các cá nhân khác và biết đòi hỏi quyền bình đẳng con người. Ngoài ra, ở người Mỹ, độc lập là một phần của sự đề cao con người trong văn hóa. Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ em đã được dạy để tự đứng lên trên đôi chân của mình – một sự khởi đầu cho tính độc lập. Đa phần học sinh Mỹ tự chọn lớp học, ngành học cho mình, tự chi trả một phần hay toàn bộ học phí, tự tìm việc, tự lên kế hoạch hôn nhân cho bản thân thay vì ỷ lại vào gia đình.

    Đặc biệt, người Mỹ đánh giá rất cao các thành quả mà họ đạt được, vì vậy họ rất hay ganh đua với nhau. Chúng ta có thể tìm thấy những cuộc thi có tính chất giao hữu đồng thời cũng đầy ganh đua ở khắp mọi nơi. Từ cách đùa vui cho đến việc thêm từ vào câu và cách trả lời nhanh, thông minh hóm hỉnh cũng là hình thức ẩn dụ của sự cạnh tranh. Tuy vậy, nhưng người Mỹ cũng luôn thể hiện tính tập thể và sự hợp tác với mọi người trong quá trình làm việc để đạt được mục đích chung. Và một điều quan trọng hơn cả trong xã hội Mỹ, đó là việc đúng giờ. Họ sắp xếp các cuộc hẹn và cuộc sống bản thân theo một thời gian biểu. Họ luôn đến đúng giờ. Đối với sinh viên quốc tế, sinh viên Mỹ dường như luôn vội vàng và lỗ mãng. Nhưng người Mỹ lại luôn đạt hiệu quả cao trong công việc nhờ sự vội vàng này.

    Do vậy có thể thấy, văn hoá và phong tục Mỹ có khá nhiều nét khác biệt so với Việt Nam. Có thể điểm qua một số nét khác biệt tiêu biểu sau:

    Người Việt chấp nhận việc bi quan hay lạc quan như là chuyện thường tình. Còn người Mỹ lạc quan và xem thường bi quan. Những người có cách nói chuyện bi quan thường bị người khác xa lánh. Trong cách nói chuyện, người Việt thường phải hạ mình xuống như một hình thức khiêm nhường. Còn người Mỹ thì luôn nâng mình lên như là một sự tự tin. Người Việt đặt trọng tâm vào việc hiểu nhau một cách âm thầm tế nhị. Nhưng người Mỹ lại cho rằng nếu anh không nói ra thì tôi không biết được. Vì vậy, trong các cuộc đàm phán hay trong cuộc sống hàng ngày, trong sở làm, người Việt hay nhẫn nhịn chịu đựng một số điều mà họ cho là bất công, hay sai quấy trong khi người Mỹ thì cứ tươi cười hạnh phúc một cách vô tâm. Đặc biệt, người Mỹ có tinh thần trọng luật rất cao, đôi khi trở thành máy móc, cứ đúng luật là được, còn có công bằng hay có tình nghĩa không thì không cần. Ngược lại, người Việt rất chú tâm vào các khuôn mẫu đạo đức chung chung hơn là luật.

    Trong việc phát triển tài năng thì ở hai nước cũng có sự khác biệt rõ rệt. Người Mỹ vô cùng chú trọng nên rất thích giao việc cho cấp dưới càng nhiều càng tốt. Nhưng việc thông tin giữa cấp trên và cấp dưới lại rất chặt chẽ để công việc chung của cả nhóm mạnh lên. Đối với các cuộc họp hàng ngày, cấp dưới hay sao gửi cho cấp trên các thư từ, thư điện tử để cấp trên luôn biết mọi chuyện cấp dưới làm. Hơn thế nữa, người Mỹ rất thích đặt câu hỏi, và nếu người đối thoại không đặt câu hỏi thì cho là không quan tâm đến vấn đề hay đến họ. Còn người Việt lại khá ngại hỏi.

    Đối với mỗi quan hệ giữa vợ và chồng hay bình đằng giới thì cũng vô cùng khác nhau. Tại Mỹ sự bình đẳng thể hiện khá rõ nét, người chồng và người vợ cũng có trách nhiệm đối với gia đình như nhau. Nhiều khi đàn ông làm các công việc gia đình thậm chí còn nhiều hơn cả phụ nữ, kể cả chăm sóc con cái. Quan niệm về cuộc sống gia đình là cả hai vợ chồng đều cũng phải chia sẻ gánh vác và cùng nhau làm các công việc, nó sẽ giúp cho vợ chồng gắn bó với nhau hơn. Còn ở Việt Nam lại trái ngược lại, người chồng đi làm kiếm tiền là chủ yếu, người vợ đi làm với số lương ít hơn thì hầu như công việc gia đình được giao nghiễm nhiên cho phụ nữ. Anh chồng đi làm về gần như không động tay vào công việc gia đình. Các bữa nhậu vui vẻ với bạn bè, đối tác được cho là làm việc. Nhiều phụ nữ Việt Nam khá vất vả vì vừa phải đi làm, vừa phải chăm sóc con cái, vừa phải lo toan hầu hết các việc gia đình.

    Nguyễn Chí Hoàng Anh

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Về Văn Hóa Phương Đông Và Phương Tây
  • So Sánh Chi Tiết Iphone 6 Và Iphone 6S
  • Nên Mua Iphone 6 Plus Hay 6S Plus?
  • 6 Tiêu Chí Đánh Giá, So Sánh “nên Mua Iphone 6S Plus Hay Iphone 7 Năm 2022”
  • So Sánh Camera Wifi Không Dây & Camera Ip Có Dây Truyền Thống Nào Tốt?
  • So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện Và Bắt Buộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Trong Cuộc Chiến Internet, Vì Sao Google Thắng Thế Còn Yahoo Thua Đau?
  • Khác Nhau Giữa Abstract Class Và Interface Khi Nào Dùng Chúng 2022
  • Sự Khác Nhau Giữa Github Flow Và Gitlab Flow Là Gì?
  • Git Và Gitlab Là Gì Và Tại Sao Nên Dùng Gitlab Để Lưu Trữ Kho Code
  • Một Số Khác Biệt Chính Giữa Github Và Gitlab Khi So Sánh Các Tính Năng Khác Cho Các Kho Riêng Và Lợi Ích Của Mỗi Là Gì?
  • Phân biệt rõ bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm xã hội bắt buộc để chọn được mức đóng phù hợp với thu nhập và các quyền lợi bảo hiểm được hưởng.

    Bảo hiểm xã hội ( BHXH) là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.

    Hiểu đúng về bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện

    Bảo hiểm xã hội bắt buộc là gì?

    Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia.

    Bảo hiểm xã hội tự nguyện là gì?

    Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.

    Theo khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thì đều có thể tham gia BHXH tự nguyện.

    Bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện khác nhau như thế nào?

    Bảng sau sẽ so sách BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện thông qua các tiêu chí như: Đối tượng tham gia, mức đóng, chế độ… Từ đó bạn đọc sẽ nhận ra sự khác nhau cơ bản giữa hai loại bảo hiểm này.

    Tiêu chí so sánh

    BHXH bắt buộc

    BHXH tự nguyện

    Đối tượng tham gia

    – Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động;

    – Cán bộ, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân, quân đội nhân dân;

    – Người hoạt động không chuyên trách ở xã phường, thị trấn;

    – Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.

    – Đối với người lao động Việt Nam:

    • Người sử dụng lao động đóng 21,5%
    • Người lao động đóng 10,5%

    – Đối với người lao động nước ngoài:

    • Người sử dụng lao động đóng 6,5%
    • Người lao động đóng 1,5%

    Người lao động đóng 22% mức thu nhập tháng do mình lựa chọn, tối đa không quá 20% mức lương cơ sở.

    Trách nhiệm đóng BHXH

    Người sử dụng lao động và người lao động cùng có trách nhiệm đóng BHXH.

    Người tham gia phải tự đóng BHXH tại cơ quan Bảo hiểm xã hội.

    Phương thức đóng

    Đóng theo một trong các phương thức:

    – Hàng tháng

    – 3 tháng

    – 6 tháng

    – 12 tháng

    – Đóng trước một lần theo thời hạn ghi trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

    Đóng theo một trong các phương thức:

    – Hàng tháng

    – 3 tháng

    – 6 tháng

    – 12 tháng

    – Một lần cho nhiều năm về sau với mức thấp hơn mức đóng hàng tháng hoặc một lần cho những năm còn thiếu với mức cao hơn mức đóng hàng tháng.

    Hy vọng những thông tin trong bài viết trên sẽ giúp bạn dễ dàng phân biệt được 2 chế độ bảo hiểm xã hội hiện nay.

    Nếu bạn còn bất kỳ điều gì thắc, vui lòng đăng ký tư vấn ngay để được giải đáp nhanh nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Toner, Lotion Và Nước Hoa Hồng Như Thế Nào?
  • Phân Biệt Nước Tẩy Trang Bioderma Màu Hồng Và Xanh
  • Ung Thư Hạch Bạch Huyết (Lymphoma)
  • Sự Khác Biệt Giữa Ung Thư Hạch Hodgkin Và Không Hodgkin
  • Bệnh U Lympho Hodgkin Và Không Hodgkin
  • Văn Nghị Luận Xã Hội: Về Việc Chấp Nhận Sự Khác Biệt ……….

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Bản Thân Làm Nên Sự Khác Biệt
  • Viết Một Đoạn Văn (Khoảng 200 Chữ) Trình Bày Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Của Sự Khác Biệt Trong Cuộc Sống.
  • Nghị Luận Xã Hội Về Việc Chấp Nhận Sự Khác Biệt Trong Cuộc Sống
  • Tâm Sinh Lý Nam Nữ: Khác Biệt Và Bổ Túc
  • Sự Khác Biệt Giữa Sram Và Dram
  • Đề 12: Trình bày suy nghĩ của anh/chị về việc chấp nhận sự khác biệt trong cuộc sống bằng đoạn văn nghị luận ( khoảng 200 chữ )

    Xã hội vẫn thường tôn vinh những gì chung, phổ biến, hay nói cách khác là có xu hướng toàn cầu và bỏ qua những gì khác biệt, thậm chí là bài trừ những gì nổi trội. Khác biệt ở đây có thể là suy nghĩ, hoàn cảnh, thói quen hay về những đặc điểm cơ thể. Chúng ta rất khó chấp nhận một người nào đó có suy nghĩ khác mình, cách làm khác mình, tính cách khác mình, thậm chí chỉ đơn giản là ăn mặc khác mình. Vì thế, dù xã hội có văn minh đến đâu, thì thật khó có thể xóa bỏ sự kì thị chủng tộc, sự phân biệt màu da, tôn giáo. Toàn cầu hóa hay các phương tiện kĩ thuật có thể gia tăng kết nối, rút ngắn khoảng cách thì rào cản giữa cá nhân với cá nhân, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác, là cái thật khó có thể dỡ bỏ. Bởi khó chấp nhận sự khác biệt vốn là bản năng nguyên thủy của mọi sinh vật, bắt nguồn từ động lực duy trì sự thuần chủng để sinh tồn.Con người ta, cũng như những sinh vật khác, về bản năng, là khó chấp nhận sự khác biệt. Tôi nhớ khi còn nhỏ, nhà bà tôi có 1 đàn gà, trong đó có 1 con gà bị què chân, còi cọc và xấu xí. Mỗi khi cho bọn chúng ăn, thì những con khỏe mạnh bao giờ cũng lao đến trước và rất lâu sau con gà què mới lê lết chạy đến sau để nhặt nhạnh những thức ăn còn thừa. Nó cũng thường xuyên bị cả đàn xúm vào mổ, trông rất đáng thương. Vì thế, nó sinh ra vốn đã còi cọc, xấu xí, lại càng trở nên còi cọc và xấu xí. Nếu quan sát một đám trẻ con đang chơi, thì những đứa trẻ xấu xí hơn, yếu ớt hơn hoặc có chút khác biệt gì đó trong cơ thể, trong cách ăn mặc hành xử, thường bị xa lánh, trêu chọc, thường bị lôi ra làm trò mua vui cho cả nhóm. Đôi lúc, đó không hẳn là biểu hiện của một động cơ độc ác, mà tôi nghĩ xuất phát từ bản năng khó chấp nhận sự khác biệt. Nhưng mà, về mặt tự nhiên, mỗi sự sống đều rất khác biệt. Trong một khu rừng, không một cây nào hoàn toàn giống hệt một cái cây khác. Trên cùng một thân cây, nhưng không chiếc lá nào giống chiếc lá nào. Tôi nghĩ, tạo hóa đã rất thông minh khi tạo ra những sự sống rất khác nhau, nhưng không một sự sống nào trong đó là hoàn hảo, vì thế chúng phải dựa vào nhau để sinh tồn. Bạn đẹp chính bởi bạn không hoàn hảo. Người khác có giá trị bởi vì họ khác với bạn. Việc người khác không chấp nhận bạn bởi bạn khác với họ cũng là một điều giản dị hợp với qui luật của tự nhiên. Khi nghĩ như thế, trái tim bạn sẽ có khả năng co giãn hơn, bao dung hơn và tôi chắc chắn, bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn rất nhiều. Cảm giác hạnh phúc bởi một trái tim biết co giãn đó, tôi nghĩ chính là thứ làm đầy cuộc sống của chúng ta.

    ST

    Lê Hiếu

    Giảng viên tiếng anh

    BẠN MUỐN TẠO HỘI THI TRÊN MYALOHA

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Sánh Làng Việt Bắc Bộ Và Làng Việt Nam Bộ
  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Hội Chứng Tiền Kinh Nguyệt Và Dấu Hiệu Mang Thai
  • Dấu Hiệu Mang Thai Khác Với Kỳ Kinh Nguyệt Như Thế Nào?
  • Gốc Và Nghĩa Của Các Từ Khoa Học, Công Nghệ, Và Kỹ Thuật
  • Ngành Khoa Học Máy Tính & Công Nghệ Thông Tin
  • Nghị Luận Xã Hội Về Việc Chấp Nhận Sự Khác Biệt Trong Cuộc Sống

    --- Bài mới hơn ---

  • Tâm Sinh Lý Nam Nữ: Khác Biệt Và Bổ Túc
  • Sự Khác Biệt Giữa Sram Và Dram
  • Phân Biệt Employee, Worker, Staff, Labourer, Clerk, Personnel
  • Staff Là Gì? Staff Và Employee Có Điểm Gì Khác Nhau?
  • Từ Vựng Về Bóng Đá Trong Tiếng Anh
  • Trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ luôn luôn xuất hiện những khác biệt. Những khác biệt đó là gì? Nó có thể đến từ con người, từ những hành động, lời nói, sự vật hiện tượng… Và điều quan trọng là con người đón nhận và chấp nhận sự khác biệt đó như thế nào.

    Có câu nói “Họ cười tôi vì tôi không giống họ, tôi cười họ vì họ quá giống nhau”. Sự khác biệt luôn là nguồn cơn của những thái độ, những đối xử khác biệt, bởi đơn giản khác biệt thì rất đặc biệt. Khác biệt ở đây có thể đến từ ngoại hình: màu da, chiều cao, hình dạng; cũng có thể sự khác biệt ở đây là khác biệt về văn hóa, tiếng nói, tôn giáo, dân tộc… Mỗi con người đều có những điểm đặc biệt của riêng mình và những điểm chung của nòi giống, đồng bào mình. Con người nên chấp nhận và tôn trọng những khác biệt ấy.

    Bạn nhìn thấy một người có điểm bất thường trên khuôn mặt, một khiếm khuyết nào đó trên cơ thể. Vậy thì đừng vội vàng chỉ trỏ cười cợt họ. Đó là một thái độ vô cùng bất lịch sự, cho thấy bạn là một người có ý thức cùng văn hóa ứng xử rất kém. Không có ai dám đảm bảo mình là một người thực sự hoàn hảo cả. Chúng ta phải biết tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt của họ nếu điều đó không ảnh hưởng gì đến chúng ta. Nhìn thấy một người châu Phi trên đường hay một người phụ nữ Hồi giáo bạn sẽ làm gì, có nhìn người ta chằm chằm không, có đưa tay chỉ trỏ, thì thầm với người đi bên cạnh về họ không, có ngoái lại nhìn họ khi đã đi qua rồi không? Nếu có thì quả thực bạn là người có lối ứng xử rất tệ hại. Tại đất nước chúng ta, họ có thể là lạ lùng, nhưng khi ta sang đất nước của họ, ta mới chính là người lập dị. Hãy thử tưởng tượng bạn đang bước đi trên một đường phố châu Âu, châu Mỹ, châu Phi hoặc một đất nước Hồi giáo, tất cả mọi người đều nhìn chằm chằm và thì thào bàn tán vẻ kì thị, giễu cợt màu da tiếng nói của bạn, bạn sẽ cảm thấy thế nào.

    Hãy giáo dục cho mọi người, từ trẻ em đến người lớn cách làm quen và tôn trọng sự khác biệt trong xã hội, để loài người trở nên hòa nhập hơn. Là một học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường, em nhận thức được rằng sự khác biệt chính là yếu tố căn bản và cần thiết để làm nên cuộc sống đa dạng, phong phú, muôn hình vạn trạng. Con người phải biết dung hòa và chấp nhận khác biệt, tôn trọng sự khác biệt vì tất cả đều là bình đẳng với nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viết Một Đoạn Văn (Khoảng 200 Chữ) Trình Bày Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Của Sự Khác Biệt Trong Cuộc Sống.
  • Giá Trị Bản Thân Làm Nên Sự Khác Biệt
  • Văn Nghị Luận Xã Hội: Về Việc Chấp Nhận Sự Khác Biệt ……….
  • Đối Sánh Làng Việt Bắc Bộ Và Làng Việt Nam Bộ
  • Phân Biệt Sự Khác Nhau Giữa Hội Chứng Tiền Kinh Nguyệt Và Dấu Hiệu Mang Thai
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×