Top 4 # Tìm Hiểu Chung Về Văn Nghị Luận Giải Thích Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Tìm Hiểu Chung Về Văn Nghị Luận

Vì sao em đi học? (hoặc: Em đi học để làm gì?)

Vì sao con người cần phải có bạn bè?

Theo em như thế nào là sông đẹp?

Trẻ em hút thuốc lá là xấu hay tốt, lợi hay hại? Hãy nêu thêm câu hỏi về các vấn đề tương tự.

Một số câu hỏi về các vấn đề tương tự như:

Vì sao chúng ta phải biết quý trọng thời gian?

Đọc sách mang lại lợi ích gì?

Vì sao phải bảo vệ môi trường?….

Gặp các vấn đề và câu hỏi loại đó, em có thế trả lời bằng các kiểu văn bản đã học như kế chuyện, miêu tả, biểu cảm hay không? Hãy giải thích vì sao.

Khi gặp các vấn đề và câu hỏi như trên, ta không thể sử dụng các kiểu văn bản như:

Tự sự (vì tự sự chỉ là phương thức kể lại một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn tới sự việc kia và cuối cùng là kêt thúc).

Miêu tả (dùng ngôn ngữ để giúp cho người đọc hình dung được cụ thể các sự vật, sự việc).

Biểu cảm (dừng lại ở việc bộc lộ tình cảm, cảm xúc).

→ Chỉ có thể dùng văn nghị luận mới có thể đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu như thế.

Để trả lời các câu hỏi như thế, hằng ngày trên báo chí, qua đài phát thanh, truyền hình, em thường gặp những kiểu văn bản nào? Hãy kể tên một vài kiểu văn bản mà em biết.

Đọc văn bản Chống nạn thất học và trả lời các câu hỏi sau:

Bác Hồ viết bài này nhằm mục đích gì? Để thực hiện mục đích ấy, bài viết nêu ra ý kiến gì? Những ý kiến ấy được diễn đạt thành những luận điếm nào? Tìm các câu văn mang luận điếm.

Để ý kiến có sức thuyết phục, bài viết đã nêu lên những lí lẽ nào? Hãy liệt kê các lí lẽ ấy.

Tác giả có thế thực hiện mục đích của mình bằng văn kể chuyện, miêu tả, biểu cảm được không? Vì sao?

Tác giả không thể thực hiện mục đích của mình bằng văn biểu cảm, miêu tả và tự sự vì:

Văn biểu cảm chỉ dùng để bộc tình cảm, cảm xúc.

Văn tự sự chĩ dùng đế kế lại các biến cố sự việc xảy ra, có diễn biến và kết thúc.

Văn miêu tả dùng lời văn để giúp người nghe, người đọc hình dung ra được sự vật, sự việc.

→ Do đó, đế thực hiện những mục đích như trên tác giả chỉ có thể dùng vãn bản nghị luận mới có thể đáp ứng được yêu cầu cua cuộc sống. Vì ở đó có lí lẽ sắc bén, lập luận chặt chẽ mới có sức thuyết phục người đọc.

Văn nghị luận được viết nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó. Muốn thế, văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục.

Những tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận phảo hướng tới giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống thì mới có ý nghĩa.

Soạn Văn: Tìm Hiểu Chung Về Văn Nghị Luận

Soạn văn: Tìm hiểu chung về văn nghị luận I: Hướng dẫn tìm hiểu bài 1: Nhu cầu nghị luận 2: Khái niệm văn bản nghị luận II:Hướng dẫn luyện tập 1: a) Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội là bài nghị luận, vì nó đặt vấn đề phải tạo thói quen tốt trong xã hội và phê phán thói quen xấu. b) Tác giả đề xuất ý kiến tạo ra thói quen tốt, phê phán thói quen xấu và kêu gọi mọi người tạo thói quen tốt, chống thói quen xấu để tạo ra nếp sống đẹp, văn minh cho xã hội. Nhan đề bài viết và ba câu …

Soạn văn: Tìm hiểu chung về văn nghị luận I: Hướng dẫn tìm hiểu bài

1: Nhu cầu nghị luận

2: Khái niệm văn bản nghị luận

II:Hướng dẫn luyện tập

1: a) Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội là bài nghị luận, vì nó đặt vấn đề phải tạo thói quen tốt trong xã hội và phê phán thói quen xấu.

b) Tác giả đề xuất ý kiến tạo ra thói quen tốt, phê phán thói quen xấu và kêu gọi mọi người tạo thói quen tốt, chống thói quen xấu để tạo ra nếp sống đẹp, văn minh cho xã hội. Nhan đề bài viết và ba câu trong đoạn kết luận thể hiện ý kiến đó.

Để thuyết phục người đọc, tác giả nêu ra lí lẽ và dẫn chứng về thói quen xấu: hút thuốc, gạt tàn bừa bãi; vứt rác gây mất vệ sinh; vứt rác gây tai nạn nguy hiểm.

c) Bài văn nghị luận này đặt vấn đề thường gặp trong thực tế. Đây là vấn đề xã hội. Tạo thói quen tốt, chống thói quen xấu là nhằm tạo ra nếp sống đẹp, văn minh cho xã hội.

2: Bài văn trên chia làm 3 phần:

Hai câu đầu tiên, Mở bài, nói về thói quen tốt.

Đoạn tiếp theo, Thân bài, nói về các thói quen xấu.

Ba câu cuối cùng, Kết bài, kêu gọi xây dựng thói quen tốt từ mỗi người, mỗi gia đình.

3: Em hãy sưu tầm hai đoạn văn nghị luận trong báo, trong SGK.

4: Bài văn Hai biển hồ là văn bản nghị luận. Việc kể chuyện hai biển hồ chỉ là phương tiện để đi đến vấn đề tư tưởng: Cần phải sống sẻ chia, hòa hợp thì mới có ích cho mình và cho mọi người; nếu không sẽ chết dần chết mòn như biển Chết.

Trắc Nghiệm Tìm Hiểu Chung Về Văn Nghị Luận

Trắc nghiệm Tìm hiểu chung về văn nghị luận

Câu 1: Nhận định nào sau đây không đúng với đặc điểm của văn nghị luận ?

A. Nhằm tái hiện sự việc, người, vật, cảnh một cách sinh động

B. Nhằm thuyết phục người đọc, người nghe về một ý kiến, một quan điểm, một nhận xét nào đó.

C. Luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục.

D. ý kiến, quan điểm, nhận xét nêu nên trong văn nghị luận phải hướng tới giải quyết những vẫn đề có thực trong đời sống thì mới có ý nghĩa.

Câu 2: Những câu tục ngữ trong bài học được biểu đạt theo phương thức nào ?

A. Tự sự B. Miêu tả

C. Biểu cảm D. Nghị luận

Câu 3: Văn nghị luận không được trình bày dưới dạng nào ?

A. Kể lại diễn biến sự việc

B. Đề xuất một ý kiến

C. Đưa ra một nhận xét

D. Bàn bạc, thuyết phục người đọc, người nghe về một vấn đề nào đó bằng lí lẽ và dẫn chứng.

Câu 4: Để thuyết phục người đọc, người nghe, một bài văn nghị luận cần phải đạt được những yêu cầu gì ?

A. Luận điểm phải rõ ràng.

B. Lí lẽ phải thuyết phục

C. Dẫn chứng phải cụ thể, sinh động

D. Cả ba yêu cầu trên.

Câu 5: Tìm trong số những câu tục ngữ sau những câu nào không nói về thiên nhiên và lao động sản xuất.

1. Trăng mờ tốt lúa nỏ

Trăng tỏ tốt lúa sâu.

2. Ruộng không phân như thân không của.

3. Lợn đói một đêm không bằng tằm đói một bữa.

4. Một giọt máu đào hơn ao nước lã.

5. Mồm gầu dai, tai lá mít, đít lồng bàn.

6. Có cứng mới đứng đầu gió.

7. Nực cười châu chấu đá xe,

Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng.

8. Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa.

9. Một lượt tát, một bát cơm.

Câu 6: Trong đời sống ta thường gặp văn nghị luận dưới dạng nào?

A. Các ý kiến nêu ra trong cuộc họp

C. Bài phát biểu ý kiến trên báo chí

D. Cả 3 ý trên

Câu 7: Đoạn văn sau có phải là đoạn văn nghị luận không?

“[…] Khi con ngỗng đầu đàn mệt mỏi, nó sẽ chuyển sang vị trí bên cánh và một con ngỗng khác sẽ dẫn đầu.Chia sẻ vị trí lãnh đạo sẽ đem lại lợi ích cho tất cả và những công việc khó khăn nên được thay phiên nhau đảm nhận.Tiếng kêu của bầy ngỗng từ đằng sau sẽ động viên những con đi đầu giữ được tốc độ của chúng.Những lời động viên đã tạo nên sức mạnh cho những người đang ở đầu con sóng, giúp cho họ giữ vững tốc độ, thay vì để họ mỗi ngày phải chịu đựng áp lực công việc và sự mệt mỏi triền miên.”

(Bài học từ loài ngỗng – Quà tặng của cuộc sổng, Trang 97, Nxb Trẻ, 2003)

A. Có

B. Không

Bộ tài liệu 1000 câu hỏi trắc nghiệm Ngữ văn lớp 7 có đáp án được các Thầy/Cô biên soạn bám sát nội dung từng bài học sgk Ngữ văn 7 Tập 1, Tập 2 giúp các bạn học giỏi môn Ngữ văn 7 hơn.

Tìm Hiểu Chung Về Phép Lập Luận Giải Thích

Tìm hiểu chung về phép lập luận giải thích

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Mục đích và phương pháp giải thích

Trong đời sống hàng ngày, có biết bao nhiêu là câu hỏi Vì sao? đặt ra đòi hỏi chúng ta phải có sự hiểu biết để trả lời, chẳng hạn: Vì sao lại có nguyệt thực? Vì sao nước biển lại mặn? Vì sao lá cây lại có màu xanh?… Trả lời những câu hỏi như thế, nghĩa là chúng ta đi

giải thích một vấn đề.

Trong văn nghị luận, việc giải thích thường gắn với những vấn đề khái quát có liên

quan đến tư tưởng, đạo lí, các chuẩn mực đạo đức, lối sống,… Chẳng hạn: Tình bạn là gì?

Thế nào là trung thực? Vì sao phải khiêm tốn? Thế nào là Có chí thì nên?…

Đọc bài văn sau đây và trả lời các câu hỏi.

LÒNG KHIÊM TỐN

Lòng khiêm tốn có thể được coi là một bản tính căn bản cho con người trong nghệ thuật

xử thế và đối đãi với sự vật.

Điều quan trọng của khiêm tốn là chính nó đã tự nâng cao giá trị cá nhân của con người

trong xã hội. Khiêm tốn là biểu hiện của con người đứng đắn, biết sống theo thời và biết

nhìn xa. Con người khiêm tốn bao giờ cũng là người thường thành công trong lĩnh vực

giao tiếp với mọi người.

Vậy khiêm tốn là gì? Khiêm tốn là tính nhã nhặn, biết sống một cách nhún nhường, luôn

luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời, bao giờ

cũng không ngừng học hỏi. Hoài bão lớn nhất của con người là tiến mãi không ngừng,

nhưng không nhằm mục đích tự khoe khoang, tự đề cao cá nhân mình trước người khác.

Người có tính khiêm tốn thường hay tự cho mình là kém, còn phải phấn đấu thêm, trau

dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều thêm nữa. Người có tính khiêm tốn không bao

giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào

cũng cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn luôn tìm cách để

học hỏi thêm nữa.

Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là một cuộc đấu tranh bất

tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là quan trọng, nhưng thật ra chỉ là những giọt nước

bé nhỏ giữa đại dương bao la. Sự hiểu biết của mỗi cá nhân không thể đem so sánh với

mọi người cùng chung sống với mình. Vì thế, dù tài năng đến đâu cũng luôn luôn phải

Tóm lại, con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình, hiểu người, không tự

mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình cũng như không bao giờ chấp

nhận một ý thức chịu thua mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người.

Khiêm tốn là một điều không thể thiếu cho những ai muốn thành công trên con đường

đời.

(Theo Lâm Ngữ Đường, Tinh hoa xử thế)

– Bài văn giải thích vấn đề gì?

Gợi ý: Nhan đề của bài văn có tác dụng nêu lên vấn đề giải thích không?

Hãy tìm những câu ở dạng định nghĩa như: Lòng khiêm tốn có thể coi là một bản tính,…

Thử nhận xét về cách giải thích của bài văn này.

Gợi ý:

Những câu ở dạng định nghĩa:

+ Lòng khiêm tốn có thể được coi là một bản tính căn bản cho con người trong nghệ

thuật xử thế và đối đãi với sự vật.

Con người khiêm tốn bao giờ cũng là người thường thành công trong lĩnh vực giao tiếp với mọi người.

Khiêm tốn là tính nhã nhặn, biết sống một cách nhún nhường, luôn luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời, bao giờ cũng không ngừng học hỏi.

+… con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình, hiểu người, không tự mình đề

cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình cũng như không bao giờ chấp nhận một

thức chịu thua mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người. Cách giải thích:

+ Tác giả đã liệt kê những biểu hiện của lòng khiêm tốn như thế nào?

Đưa ra những đối lập giữa người khiêm tốn và kẻ không khiêm tốn có phải là một cách giải thích không?

Chỉ ra cái lợi của khiêm tốn, cái hại của không khiêm tốn có phải là để giải thích không?

+ Chỉ ra nguyên nhân của thói không khiêm tốn có tác dụng giải thích như thế nào?

Để giải thích về “lòng khiêm tốn”, tác giả đã nêu ra những nhận định mang tính định nghĩa về lòng khiêm tốn, liệt kê các biểu hiện của lòng khiêm tốn, so sánh giữa người khiêm tốn và kẻ không khiêm tốn. Đây cũng chính là các cách giải thích.

Chỉ ra cái lợi của khiêm tốn – cái hại của không khiêm tốn, nguyên nhân của thói không khiêm tốn chính là nội dung giải thích.

Vậy thế nào là văn giải thích?

Giải thích trong văn nghị luận là làm cho người đọc hiểu rõ các tư tưởng, đạo lí, phẩm

chất, quan hệ,… cần được giải thích, qua đó nâng cao nhận thức, bồi dưỡng trí tuệ, tình

cảm cho con người. Để giải thích một vấn đề nào đó, người ta thường sử dụng cách nêu

định nghĩa, liệt kê những biểu hiện, so sánh với các hiện tượng cùng loại khác, chỉ ra cái

lợi, cái hại, nguyên nhân, hậu quả, cách phát huy hoặc ngăn ngừa,… Không nên dùng

những cái khó hiểu hoặc không ai hiểu để giải thích những điều người ta chưa hiểu, cần

hiểu.

II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

dùng để giải thích cho các vấn đề đó.

LÒNG NHÂN ĐẠO

Lòng nhân đạo tức là lòng biết thương người. Thế nào là lòng biết thương người và thế

nào là lòng nhân đạo?

Hằng ngày chúng ta thường có dịp tiếp xúc với đời sống bên ngoài, trước mắt chúng ta,

loài người còn đầy rẫy những cảnh khổ. Từ một ông lão già nua răng long tóc bạc, lẽ ra

phải được sống trong sự chăm sóc đùm bọc của con cháu, thế mà ông lão ấy phải sống

kiếp đời hành khất sống bằng của bố thí của kẻ qua đường, đến một đứa trẻ thơ, quá bé

bỏng mà lại sống bằng cách đi nhặt từng mẩu bánh của người khác ăn dở, thay vì được

cha mẹ nuôi nấng, dạy dỗ…

Những hình ảnh ấy và thảm trạng ấy khiến cho mọi người xót thương, và tìm cách giúp

đỡ. Đó chính là lòng nhân đạo.

Con người cần phải phát huy lòng nhân đạo của mình đối với mọi người xung quanh.

Thánh Găng-đi có một phương châm: “Chinh phục được mọi người ai cũng cho là khó,

nhưng tạo được tình thương, lòng nhân đạo, sự thông cảm giữa con người với con người

lại càng khó hơn. Điều kiện duy nhất để tạo sự kính yêu và mến phục đối với quần chúng,

tốt nhất là phải làm sao phát huy lòng nhân đạo đến cùng và tột độ vậy”.

(Theo Lâm Ngữ Đường, Tinh hoa và xử thế)

Gợi ý:

Giải thích vấn đề “lòng nhân đạo”;

Lòng nhân đạo – lòng thương người;

Loài người còn đầy rẫy những cảnh khổ;

Biết xót thương, tìm cách giúp đỡ những cảnh khổ;

Phát huy lòng nhân đạo đến cùng và tột độ.

ÓC PHÁN ĐOÁN VÀ ÓC THẨM MĨ

Chính Xanh-tơ Bơ-vơ cũng đã nói: “Tôi biết nhiều người có óc phán đoán rất đúng mà

đồng thời lại thiếu óc thẩm mĩ, vì óc thẩm mĩ biểu hiện một cái gì tinh vi nhất, thuộc về

bản năng nhất trong cái chỗ tế nhị mơ hồ nhất của các giác quan của ta”.

Muốn thưởng thức một bài văn, ta đọc nó chầm chậm một hai lần, xem có cảm thấy cái

hay của nó không đã; khi cảm được rồi, ta mới tìm hiểu nó hay ở chỗ nào. Ta dùng trái

tim của ta trước rồi sau mới dùng lí trí. Nếu lòng ta không cảm thì càng phân tích lại càng

không hiểu được gì cả. Văn học khác khoa học ở chỗ đó; và óc thẩm mĩ khác óc phán

đoán cũng ở chỗ đó: một đằng là sự ưa thích của lòng, một đằng là sự sáng suốt của óc,

một đằng cần nhiều cảm thụ tính, một đằng cần nhiều luận lí tính.

Nói vậy không phải là óc thẩm mĩ và óc phán đoán tương phản nhau mà ta không bao giờ

dùng lí trí để hiểu được cái đẹp đâu. Vẫn có nhiều cái đẹp có thể giảng được và ai cũng

thấy nó hợp lí: chỉ một số tế nhị quá mới có những lí lẽ riêng của nó mà lí trí không sao

phân tích nổi, và muốn nhận thức được, ta phải luyện mĩ cảm bằng cách sống thật nhiều,

đọc nhiều tác phẩm bất hủ của mọi xứ và mọi thời.

(Theo Nguyễn Hiến Lê, Hương sắc trong vườn văn)

Gợi ý:

Giải thích vấn đề mối quan hệ giữa phán đoán (lí trí) và thẩm mĩ (rung động thẩm mĩ);

Nhiều người có óc phán đoán rất đúng mà đồng thời lại thiếu óc thẩm mĩ;

Muốn thưởng thức một bài văn, ta dùng trái tim của ta trước rồi sau mới dùng lí trí;

Có thể dùng lí trí để hiểu cái đẹp nhưng quan trọng vẫn là phải luyện mĩ cảm.

TỰ DO VÀ NÔ LỆ

Loài người hơn loài vật là có quyền tự do. Một con hổ đói nhảy xả vào bất cứ cái gì có

thể ăn được bày ra trước mắt nó; một người đói trông thấy vật gì có thể ăn được còn biết

suy xét có nên ăn hay không. Con hổ bị cái đói sai khiến không tự kiềm chế được mình;

trái lại người ta không để cho cái đói có thể sai khiến được mình, như vậy là người ta

được tự do theo ý muốn riêng.

Quyền tự do là của quý báu nhất của loài người. Không có tự do người ta cũng chỉ như

súc vật.

Tự do đây không phải nghĩa là hoàn toàn muốn làm gì thì làm: một thứ tự do vô tổ chức

và vô ý thức. Vì loài người sống thành đoàn thể, sống thành xã hội cho nên phải hiểu tự

do có nghĩa là muốn làm gì thì làm, nhưng làm theo lẽ phải, theo lí trí, để không phạm tới

sự tự do của người khác và không phạm đến quyền lợi chung của đoàn thể.

Trái với tự do là nô lệ. Người nô lệ là người phải chịu phục tòng sự đè nén, sự sai khiến

bất công của một người hay một thế lực nào khác mạnh hơn mình. Người nô lệ không

còn có thể làm việc gì theo ý muốn của mình, theo tài năng của mình để mưu hạnh phúc

cho mình nữa.

Không tự do tức là chết.

(Nghiêm Toản, Việt luận)

Gợi ý:

Giải thích vấn đề “tự do và nô lệ”;

Loài người hơn loài vật là có quyền tự do;

Không có tự do, người ta cũng chỉ như súc vật;

Tự do nghĩa là muốn làm gì thì làm nhưng phải theo lẽ phải;

Không tự do tức là chết.

2. Nhận xét cách giải thích của các bài văn trên.

Gợi ý: Sau khi đã nắm được vấn đề của từng bài, hệ thống hoá được các ý chính của từng

bài, ta mới xem bài văn lập luận giải thích bằng cách nào. Tức là xem xét cách trình bày

các ý, cách thiết lập mối quan hệ giữa các ý để giải thích cho vấn đề nêu ra.

– Tác giả đã dùng những câu ở dạng định nghĩa như thế nào?

Lưu ý cách dẫn các ý kiến của những người nổi tiếng về vấn đề đang giải thích.

Các biểu hiện cụ thể của vấn đề là gì?

Tác giả sử dụng so sánh, đối chiếu như thế nào?

Tác giả chỉ ra những vấn đề gì để lí giải, phân tích vấn đề?

Bố cục bài văn ra sao? Cách diễn đạt như thế nào?