Top 9 # Tìm Hiểu Chung Về Văn Nghị Luận Sbt Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Tìm Hiểu Chung Về Văn Nghị Luận

Vì sao em đi học? (hoặc: Em đi học để làm gì?)

Vì sao con người cần phải có bạn bè?

Theo em như thế nào là sông đẹp?

Trẻ em hút thuốc lá là xấu hay tốt, lợi hay hại? Hãy nêu thêm câu hỏi về các vấn đề tương tự.

Một số câu hỏi về các vấn đề tương tự như:

Vì sao chúng ta phải biết quý trọng thời gian?

Đọc sách mang lại lợi ích gì?

Vì sao phải bảo vệ môi trường?….

Gặp các vấn đề và câu hỏi loại đó, em có thế trả lời bằng các kiểu văn bản đã học như kế chuyện, miêu tả, biểu cảm hay không? Hãy giải thích vì sao.

Khi gặp các vấn đề và câu hỏi như trên, ta không thể sử dụng các kiểu văn bản như:

Tự sự (vì tự sự chỉ là phương thức kể lại một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn tới sự việc kia và cuối cùng là kêt thúc).

Miêu tả (dùng ngôn ngữ để giúp cho người đọc hình dung được cụ thể các sự vật, sự việc).

Biểu cảm (dừng lại ở việc bộc lộ tình cảm, cảm xúc).

→ Chỉ có thể dùng văn nghị luận mới có thể đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu như thế.

Để trả lời các câu hỏi như thế, hằng ngày trên báo chí, qua đài phát thanh, truyền hình, em thường gặp những kiểu văn bản nào? Hãy kể tên một vài kiểu văn bản mà em biết.

Đọc văn bản Chống nạn thất học và trả lời các câu hỏi sau:

Bác Hồ viết bài này nhằm mục đích gì? Để thực hiện mục đích ấy, bài viết nêu ra ý kiến gì? Những ý kiến ấy được diễn đạt thành những luận điếm nào? Tìm các câu văn mang luận điếm.

Để ý kiến có sức thuyết phục, bài viết đã nêu lên những lí lẽ nào? Hãy liệt kê các lí lẽ ấy.

Tác giả có thế thực hiện mục đích của mình bằng văn kể chuyện, miêu tả, biểu cảm được không? Vì sao?

Tác giả không thể thực hiện mục đích của mình bằng văn biểu cảm, miêu tả và tự sự vì:

Văn biểu cảm chỉ dùng để bộc tình cảm, cảm xúc.

Văn tự sự chĩ dùng đế kế lại các biến cố sự việc xảy ra, có diễn biến và kết thúc.

Văn miêu tả dùng lời văn để giúp người nghe, người đọc hình dung ra được sự vật, sự việc.

→ Do đó, đế thực hiện những mục đích như trên tác giả chỉ có thể dùng vãn bản nghị luận mới có thể đáp ứng được yêu cầu cua cuộc sống. Vì ở đó có lí lẽ sắc bén, lập luận chặt chẽ mới có sức thuyết phục người đọc.

Văn nghị luận được viết nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó. Muốn thế, văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục.

Những tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận phảo hướng tới giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống thì mới có ý nghĩa.

Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Nghị Luận Sbt Ngữ Văn 7 Tập 2

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5 trang 10 Sách bài tập (SBT) Ngữ Văn 7 tập 2. Theo em, anh học trò trong câu chuyện này có nghị luận không ? Nếu có thì anh ta nghị luận về vấn đề gì ? Và vì sao sự nghị luận của anh ta lại không thuyết phục được ai ?

Bài tập 1. Đọc những câu văn sau đây rồi trả lời câu hỏi ghi bên dưới :

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường.

[…] Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh.

(Thanh Tịnh, Tôi di học)

Em hãy cho biết : Những câu viết tiếp sau có thể là những dòng nghị luận được hay không ? Vì sao ?

– Xúc, lại đây !

Xúc cũng nói :

– Vua, lại đâỵ !

[…] Tuyên Vương nổi giận, biến sắc nói:

– Quần vương đáng tôn quý hay hiền sĩ đáng tôn quý ?

Công Nghi Hưu nói : “Người ta đem cá cho chắc có ý cầu ta việc gì. Nếu ta nhận, tất ta phải giúp việc người. Ta giúp việc người, lỡ làm trái phép nước thì đến mất quan. Đã mất quan thì chẳng những không có cá biếu, mà đến mua cá lấy để ăn cũng không có nữa. Cho nên ta không nhận cá, chính là ta muốn được có cá ăn lâu dài mãi mãi đó…”.

(Theo Cổ học tinh hoa)

Theo em, như thế có phải là Công Nghi Hưu đã nghị luận không ? Nếu đúng là Công Nghi Hưu đã nghị luận thì ông nghị luận để thuyết phục ai ? Người mà ông cần thuyết phục đó đã gặp phải vấn đề gì ? Công Nghi Hưu đã thuyết phục người đó bằng những lí lẽ nào ?

4. Có một câu chuyện dân gian kể rằng :

Một ông bố vợ và hai chàng con rể đưa nhau đi chơi. Bố nghe thấy tiếng con ngỗng kêu mới hỏi : “Làm sao tiếng nó to thế nhỉ ?”.

Người con rể là học trò nhanh nhảu nói chữ : “Trường cảnh tắc đại thanh” (Câu chữ Hán, có nghĩa là : cổ dài thì tất tiếng to).

Ông bố nắc nỏm khen chàng con rể học trò là hay chữ. Anh con rể là người làm ruộng mới bẻ lại : “Thế con ễnh ương thì cổ đâu mà tiếng cũng to ?”.

Anh học trò tịt mít, không sao đáp được. Lúc ấy, ông bố vợ mới gật gù : “Thế mới biết thà dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng !”.

(Theo Hợp tuyển văn học dân gian)

Theo em, anh học trò trong câu chuyện này có nghị luận không ? Nếu có thì anh ta nghị luận về vấn đề gì ? Và vì sao sự nghị luận của anh ta lại không thuyết phục được ai ?

5. Bài tập 4, trang 10 -11, SGK. Gợi ý làm bài

1. Hãy nhớ lại kiến thức cơ bản ghi trong SGK : Nhu cầu nghị luận chỉ sinh ra khi người nói (người viết) muốn phát biểu một quan điểm, nhận định nào đó nhằm thuyết phục người đọc (người nghe). Sẽ rất dễ dàng xác định nhân vật “tôi” ở đây có nhu cầu ấy hay không.

2. Trong trường hợp được kể lại trong bài tập này, Nhan Xúc hiển nhiên phải nêu quan điểm của mình để trả lời câu hỏi của vua Tề : Ai đáng quý, quân vương hay hiền sĩ ? (Ông sẽ nói : “Kẻ sĩ đáng tôn quý, quân vương không đáng tôn quý”).

3. Công Nghi Hưu đã nêu quan điểm và sau đó đã dùng những lời nói hợp với lẽ phải để bảo vệ cho quan điểm của mình. Như thế, rõ ràng là Công Nghi Hưu đã nghị luận. Như nội dung câu chuyện cho thấy, Công Nghi Hưu nghị luận để thuyết phục em ông, người đang “gặp phải vấn đề”. Vì người em rất muốn được hiểu rõ : Tại sao một người thích ăn cá nhưng khi được cho cá thì lại nhất định không nhận (bởi theo lẽ thường, đã thích ăn cá, lại có người mang cá đến cho thì phải nhận mới là “có lí”). Công Nghi Hưu bằng sự nghị luận của mình để làm cho người em thấy rõ một chân lí sâu xa hơn thế : nhận thì có thể làm trái phép nước, có thể mất chức, như thế thì chỉ được ăn cá một lần này thôi ; không nhận mới là cách để được ăn cá lâu dài. (Em cũng nên cố gắng suy nghĩ thêm : đây có phải chỉ là chuyện thích cá và nhận cá hay không, hay còn là một điều gì lớn, sâu nhiều lần hơn thế ?)

4. Anh học trò “hay chữ lỏng” kia cũng nghị luận đấy chứ ! Bởi vì anh ta cũng đang muốn thuyết phục ông bố vợ đang “gặp phải vấn đề” cần làm sáng rõ là tại sao có những con vật kêu to thế. Và anh ta cũng đã giải đáp thắc mắc đó bằng cái điều mà anh ta cho là chân lí : Cổ dài ắt tiếng phải to. Nhưng sự nghị luận ấy phải thất bại, không thể khác, vì lời nói của anh ta không phù hợp với sự thật hiển nhiên là vẫn có con vật cổ ngắn mà tiếng cũng rất to, như con ễnh ương mà anh nông dân đã nêu ra để bắt bẻ. Điều đó chứng tỏ : Muốn nghị luận thành công thì phải học hành đến nơi đến chốn, phải suy nghĩ kĩ càng và phải hiểu biết thực tế đời sống.

5. Để trả lời chính xác câu hỏi, em cần xem xét thật kĩ càng : Bài văn ấy được viết ra để làm gì, chủ yếu là để kể chuyện về hai biển hồ ở Pa-le-xtin (nếu thế, đây có thể là văn tự sự), hay là muốn thông qua câu chuyện về hai biển hồ đó để nêu lên một tư tưởng đúng đắn về lẽ sống ở đời (nếu thế, đây phải là văn nghị luận) ?

Soạn Bài: Tìm Hiểu Chung Về Văn Nghị Luận

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng nào đó. Muốn thế, văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục.

2. Những tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận phải hướng tới giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống thì mới có ý nghĩa.

II – HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

1. Nhu cầu nghị luận

a) Trong đời sống, những vấn đề và câu hỏi như trong mục I.l.a) SGK là rất hay gặp. Những câu hỏi và vấn đề tương tự như: Tại sao phải học suốt đời ? Thế nào là người con ngoan, trò giỏi ? Người bạn tốt là người như thế nào ? Tại sao phải trồng cây gây rừng ? Vì sao cần phải bảo vệ môi trường ?…

b) Gặp vấn đề và câu hỏi loại đó, khó có thể trả lời bằng kiểu văn bản tự sự (kể chuyện), miêu tả hay biểu cảm. Muốn trả lời các câu hỏi như vậy, người ta buộc phải dùng lí lẽ để giải thích, thuyết phục, phải sử dụng các khái niệm, dẫn chứng.

c) Để trả lời những câu hỏi như thế, trên báo chí, đài phát thanh và truyền hình, ta thường gặp văn bản nghị luận. Những văn bản đó là : chống buôn lậu; đảm bảo an toàn giao thông; bảo vệ rừng, chống lâm tặc,…

2. Khái niệm văn bản nghị luận

a) Bác Hồ viết bài Chống nạn thất học nhằm kêu gọi mọi người đi học để nâng cao dân trí. Để thực hiện mục đích ấy, bài viết nêu ra ý kiến : Nhân dân ta phần lớn thất học do chính sách ngu dân của Pháp. Bây giờ phải nâng cao dân trí. Muốn thế, mọi người phải đi học. Muốn giúp mọi người đi học, phải vận động những người đã biết chữ dạy cho người chưa biết.

Luận điểm trong bài là : “Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí” và “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi và bổn phận của mình… trước hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ”.

b) Để ý kiến có sức thuyết phục, bài viết đã nêu lên các lí lẽ :

– Tình trạng thất học, lạc hậu của 95% dân số.

– Điều kiện để người dân tham gia xây dựng nước nhà.

– Khả năng dạy, học chữ Quốc ngữ cho mọi người là to lớn, việc chống thất học có thể thực hiện được.

c) Tác giả cũng có thể thực hiện mục đích của mình bằng văn kể chuyện, miêu tả hay biểu cảm, nhưng cách làm sẽ khó hơn gấp nhiều lần và hiệu quả sẽ không như dùng văn nghị luận.

III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. a) Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội là bài nghị luận, vì nó đặt vấn đề phải tạo thói quen tốt trong xã hội và phê phán thói quen xấu.

b) Tác giả đề xuất ý kiến tạo ra thói quen tốt, phê phán thói quen xấu và kêu gọi mọi người tạo thói quen tốt, chống thói quen xấu để tạo ra nếp sống đẹp, văn minh cho xã hội. Nhan đề bài viết và ba câu trong đoạn kết luận thể hiện ý kiến đó.

Để thuyết phục người đọc, tác giả nêu ra lí lẽ và dẫn chứng về thói quen xấu : hút thuốc, gạt tàn bừa bãi ; vứt rác gây mất vệ sinh ; vứt rác gây tai nạn nguy hiểm.

c) Bài văn nghị luận này đặt vấn đề thường gặp trong thực tế. Đây là vấn đề xã hội. Tạo thói quen tốt, chống thói quen xấu là nhằm tạo ra nếp sống đẹp, văn minh cho xã hội.

2. Bài văn trên chia làm 3 phần :

Hai câu đầu tiên, Mở bài, nói về thói quen tốt.

Đoạn tiếp theo, Thân bài, nói về các thói quen xấu.

Ba câu cuối cùng, Kết bài, kêu gọi xây dựng thói quen tốt từ mỗi người, mỗi gia đình.

3. Em hãy sưu tầm hai đoạn văn nghị luận trong báo, trong SGK.

4. Bài văn Hai biển hồ là văn bản nghị luận. Việc kể chuyện hai biển hồ chỉ là phương tiện để đi đến vấn đề tư tưởng : cần phải sống sẻ chia, hoà hợp thì mới có ích cho mình và cho mọi người ; nếu không sẽ chết dần chết mòn như biển Chết.

Soạn Văn Bài: Tìm Hiểu Chung Về Văn Nghị Luận

Soạn văn bài: Tìm hiểu chung về văn nghị luận

I. Nhu cầu nghị luận và văn bản nghị luận

1. Nhu cầu nghị luận

a. Em rất thường gặp các vấn đề và những câu hỏi tương tự như trên trong cuộc sống.

Ví dụ:

Ma túy là gì? Tại sao phải nói không với ma túy?

Môi trường là gì? Làm cách nào để giữ gìn bảo vệ môi trường?

Rừng mang đến lợi ích gì cho ta?Làm cách nào để bảo vệ rừng?

b. Những vấn đề và câu hỏi loại này không thể sử dụng kiểu văn bản miêu tả, tự sự hay biểu cảm, mà cần dùng kiểu văn nghị luận vì văn nghị luận là một phương thức biểu đạt chính với các lí lẽ chặt chẽ, thuyết phục và có thể giải quyết thoả đáng vấn đề đặt ra.

2. Thế nào là văn bản nghị luận?

a.

– Bác Hồ viết bài này nhằm mục đích: vạch rõ tình trạng dân trí chung của xã hội ta từ đó đề cập đến việc cần thiết phải học tập, kêu gọi mọi người cùng học tập.

– Bài viết nêu ra những ý kiến:

Trong thời kì Pháp cai trị mọi người bị thất học để chúng dễ cai trị

Chỉ cho mọi người biết ích lợi của việc học.

Kêu gọi mọi người học chữ (chú ý các đối tượng).

– Diễn đạt thành những luận điểm:

Tình trạng thất học, lạc hậu trước Cách mạng tháng Tám.

Những điều kiện cần phải có để người dân tham gia xây dựng nước nhà.

Những khả năng thực tế trong việc chống nạn thất học.

– Các câu văn mang luận điểm chính của bài văn:

“Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí”

“Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ.”

b. Để tạo sức thuyết phục cho bài viết, người viết đã triển khai những luận điểm chính với các lí lẽ chặt chẽ:

Trước Cách mạng tháng Tám, dưới ách đô hộ của thực dân, nhân dân ta phải chịu cảnh thất học, mù chữ;

Nay đã dành được độc lập; để xây dựng đất nước thì không thể không học, mọi người phải biết đọc, biết viết;

Biến việc học thành việc làm rộng khắp, với các hình thức cụ thể có thể áp dụng mọi lúc, mọi nơi.

c. Tác giả không thể thực hiện mục đích của mình bằng văn kể chuyện, miêu tả, biểu cảm được. Sức thuyết phục chỉ có thể được tạo nên bằng hệ thống các luận điểm, trình bày với lí lẽ lôgic, chặt chẽ. Nhiệm vụ giải quyết vấn đề đặt ra đòi hỏi phải sử dụng nghị luận.

II. Luyện tập

Câu 1:

a. Văn bản đã cho là một văn bản nghị luận. Tác giả bàn đến vấn đề tập thói quen tốt, loại bỏ những thói quen xấu trong đời sống hàng ngày.

b. Tác giả đề xuất ý kiến: “Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội”

Các câu văn thể hiện ý kiến trên là:

Có người biết phân biệt tốt và xấu, nhưng vì đã thành thói quen nên rất khó bỏ, khó sửa.

Tạo được thói quen tốt là rất khó. Nhưng nhiễm thói quen xấu thì dễ. Cho nên mỗi người, mỗi gia đình hãy tự xem lại mình để tạo ra nếp sống đẹp, văn minh cho xã hội.

Các lí lẽ và dẫn chứng:

Trong cuộc sống, có thói quen tốt (dẫn chứng: dậy sớm, luôn đúng hẹn, giữ lời hứa, luôn đọc sách…) và có thói quen xấu;

Cái gì đó mà thành thói quen thì rất khó sửa;

Thói quen xấu sẽ gây hại đến cộng đồng, tác động tiêu cực đến môi trường sống;(Dẫn chứng: Hút thuốc lá, hay cáu giận, mất trật tự; vứt rác bừa bãi,…)

Hãy tự xem lại mình để loại bỏ thói quen xấu, tạo ra nếp sống đẹp, văn minh cho xã hội.

c. Vấn đề mà bài viết trên bàn bạc có đúng với thực tế của đời sống. Vấn đề rất có ý nghĩa đối với mọi người, đối với xã hội nhằm xây dựng một xã hội văn minh, lịch sự, có văn hoá.

Câu 2: Bố cục của bài văn gồm 3 phần:

Mở bài: Đoạn 1 – Nêu vấn đề thói quen và thói quen tốt.

Thân bài: Đoạn 2, 3, 4 – Tác hại của thói quen xấu và việc cần thiết phải loại bỏ thói quen xấu).

Kết bài: Đoạn cuối – Kêu gọi mọi người loại bỏ thói quen xấu, tự điều chỉnh mình để tạo ra nếp sống đẹp, văn minh cho xã hội.

Câu 3: Sưu tầm hai đoạn văn nghị luận và chép vào vở.

Câu 4:

Mặc dù có sử dụng tự sự nhưng văn bản trên vẫn là một văn bản nghị luận. Kể chuyện “Hai biển hồ” là để luận bàn về hai cách sống: cách sống chỉ biết giữ cho riêng mình và cách sống biết sẻ chia cùng mọi người. Hình ảnh hai biển hồ mang ý nghĩa tượng trưng cho hai cách sống đối lập nhau ấy.