Tìm Hiểu Cơ Bản Về Đạo Phật

--- Bài mới hơn ---

  • Đôi Nét Về Đạo Phật Và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
  • Đại Đức, Thượng Tọa Và Hòa Thượng Có Nghĩa Là Gì
  • Nguồn Gốc, Lịch Sử Ra Đời Và Phát Triển Của Phật Giáo
  • Tìm Hiểu Về Sự Hình Thành Của Bão
  • Tieu Luan Triet Hoc: Triet Hoc Phat Giao
  • – Bạn có thể trở thành Phật tử nếu bạn tự nguyện hướng về giác ngộ, nghĩa là muốn kính thờ Phật làm Thầy, sống theo đạo lý vi diệu, lợi ích của Phật (Dharma) và muốn được sự hướng dẫn của các vị tu hành chơn chánh và hòa hợp với các bạn đồng đạo.

    Rõ ràng hơn, Phật tử là người có lý tưởng giác ngộ luôn luôn cố gắng tu hành theo 5 giới sau đây:

    1-Không giết hại, nghĩa là tôn trọng sự sống con người.

    2 – Không trộm cướp, nghĩa là tôn trọng tài sản của kẻ khác.

    3 – Không tà hạnh, nghĩa là tôn trọng hạnh phúc gia đình mình và gia đình người.

    4 – Không dối trá, nghĩa là tôn trọng sự thật.

    5 – Không uống những thứ làm say loạn, nghĩa là giữ gìn tâm trí bình tĩnh và sáng suốt.

    Năm điều tu học nầy không những có ý nghĩa trong đời sống cá nhân, gia đình mà còn có ý nghĩa trong cuộc sống tập thể và xã hội.

    – Niềm tin (sađhâ) của Phật tử khác hẳn “Ðức tin” của những người theo các tôn giáo khác. Phật tử luôn luôn sáng suốt trong vấn đề chấp nhận và thực hành Ðạo Phật.

    Phật tử kính thờ Phật với quan niệm Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn, đầy đủ từ bi, trí tuệ và hùng lực. Ðối với Phật tử, tượng Phật không phải là một ngẫu tượng (idole) mà là biểu trưng lý tưởng giác ngộ, hình ảnh Chơn, Thiện, Mỹ. Sự kính lễ tượng Phật của Phật tử khác xa hành động quỳ lụy, sợ sệt trước những hình tượng của tín đồ đa thần giáo (polythéisme) hay nhất thần giáo (monothéisme).

    Phật tử quan niệm đạo lý của Phật là “ngón tay chỉ mặt trăng”; người tìm đạo phải nương theo ngón tay đạo lý để thấy được mặt trăng chân lý. Họ tìm hiểu chín chắn và phán đoán phân minh những lời dạy của Phật trước khi chấp nhận và áp dụng. Chính Phật khuyến khích họ điều đó. Chủ nghĩa tín điều (dogmatisme) không có trong đạo Phật.

    Ðối với Tăng Ni, Phật tử không hề xem các vị ấy là những người thay mặt Phật để tha tội hay ban phước. Họ kính trọng các vị ấy vì xem các vị ấy như là gương mẫu đạo hạnh và là người dìu dắt họ trên con đường Ðạo.

    – Ðức Phật (Buddha) là danh từ chung chỉ các bậc giác ngộ hoàn toàn. Ðức Phật mà chúng ta kính thờ vốn là thái tử Tất Ðạt Ða (Siddhattha), con vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Gia (Mâyâ). Quê hương của Ngài là tiểu bang thuộc dòng họ Thích Ca (Sâkya), về phía bắc Ấn Ðộ mà kinh đô là Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu), nằm trên bờ sông Rohini dưới chân Hy mã lạp sơn, là vùng Terai của nước Nepal ngày nay.

    Vua và hoàng hậu đều là những người đức độ, song thường buồn lo vì không có con nối nghiệp. Nhân một ngày lễ lớn, hoàng hậu Ma Gia trai giới trọn ngày và cùng vua phân phát tiền vật cho dân nghèo. Ðêm ấy, trong khi an giấc, hoàng hậu mộng thấy con voi trắng sáu ngà, vòi ngậm cành sen trắng từ cao đi xuống, tiến đến gần rồi chui vào bên mình phía tay phải của hoàng hậu. Các nhà đoán mộng danh tiếng đoán rằng hoàng hậu sẽ sanh thái tử xuất chúng. Hoàng gia rất đỗi vui mừng và hoàng hậu thụ thai từ đó.

    Thời tiết đến, hoàng hậu theo tục lệ xin vua trở về nhà cha mẹ để sinh. Khi đi ngang qua vườn Lâm tỳ ni (Lumbini), hoàng hậu dừng chân ngắm xem hoa lá, và trong lúc đưa tay vịn một cành hoa thì hạ sanh thái tử. Hôm ấy là ngày trăng tròn tháng Vesakha (tháng tư ta) cách đây hơn 2500 năm.

    Tin mừng thái tử ra đời vang khắp bốn phương. Ðạo sĩ A-tư-đà (Asita) tìm đến hoàng cung và vào thăm thái tử. Nhìn thấy những tướng tốt nơi thái tử, đạo sĩ vô cùng mừng rỡ, nhưng sau đó lại buồn khóc. Vua rất lo ngại và gạn hỏi nguyên do, thì đạo sĩ thưa:

    “Tâu bệ hạ, thái tử là bậc xuất chúng: nếu ở đời sẽ là minh vương (cakkavattin), nếu tu hành sẽ thành Phật. Tôi mừng là vì một đấng giác ngộ đã ra đời. Tôi buồn là vì đã già, tôi sẽ không còn sống cho tới ngày được nghe lời giáo hóa của Ngài”.

    Hoàng hậu Ma Gia từ trần sau khi thái tử sanh ra được bảy ngày. Em hoàng hậu, bà Ma-Ha-Ba-Xà-Bà-Ðề nuôi dưỡng thái tử. Thái tử rất thông minh tuấn tú: văn chương, võ nghệ đều tinh thông hơn người. Nhưng thái tử thường tỏ vẻ không vui với cuộc sống chung quanh.

    Ngay lúc bẩy tuổi, một hôm thái tử được đưa ra ngoài đồng để dự lễ khai mùa đầu xuân. Trời nắng, thái tử ngồi dưới gốc cây để xem lễ. Ngoài ruộng, vua cha tay cầm tay cày nạm ngọc, đi sau đôi bò mập mạnh. Lưỡi cày làm vung lên những tảng đất mun. Những con trùng đứt khúc, ướm máu bày ra, đàn chim nhẩy bay theo luống đất vừa cày, tranh nhau mổ ăn những con trùng đang quằn quại và tìm nơi ẩn trốn. Qua cảnh tượng ấy, thái tử thấy rõ sự thật cay đắng về cuộc đời và suy ngẫm sâu sắc về nó.

    Dự lễ về, như không còn thiết với cảnh sống hoa lệ của hoàng cung, thái tử trở nên trầm tư hơn trước. Vua cha nhớ lại lời đoán của đạo sĩ A-Tư-Ðà (Asita), sợ thái tử sẽ xuất gia tu hành nên tìm mọi cách làm cho thái tử khuây khỏa và vui say với cảnh sống vua chúa. Vua xây cho thái tử thêm ba cung điện tráng lệ, thích hợp với ba mùa: hè, mưa và đông và cưới công chúa Da-Du-Ðà-La (Yasodharâ) cho thái tử lúc 16 tuổi.

    Cung vàng, điện ngọc và tình yêu của vợ hiền vẫn không làm vơi những băn khoăn và thắc mắc về cuộc đời nơi thái tử. Ðể hiểu rõ cuộc sống của con người, thái tử xin phép vua cha dạo chơi ngoài thành. Lần thứ nhất, thái tử rất ngạc nhiên khi thấy một người già gầy còm, hổn hển, đi từng bước với cây gậy một cách khó nhọc. Lần thứ hai, thái tử thấy người bệnh nằm rên la bên vệ đường. Lần thứ ba, người chết đang được mang ra bãi tha ma để hỏa táng. Ba cảnh tượng ấy làm ngài buồn hơn và suy nghĩ nhiều. Rất nhiều lần thái tử hỏi các giáo sư về nguyên nhân khổ đau và phương pháp diệt đau khổ. Song những câu trả lời của họ đều đầy thần quyền và thiếu lý lẽ về cuộc đời không thỏa mãn thái tử. Chính trong lần dạo chơi thứ tư, khi thái tử gặp một vị tu hành với phong độ giải thoát, tự tại, thái tử có ý định rời bỏ cuộc sống vua chúa để tìm chân lý.

    Trong những ngày miên man với ý nghĩ ra đi, thì thái tử được tin công chúa Da-Du-Ðà-La sinh con trai: La Hầu La (Râhula). Tin này làm vững thêm ý chí của thái tử vì từ nay đã có người nối nghiệp thì vua cha sẽ bớt buồn phiền. Lúc này thái tử đã 29 tuổi. Khuya hôm ấy, sau buổi yến tiệc linh đình, nhân lúc quân hầu, thị nữ ngủ say, thái tử cùng với người hầu cận Xa-Nặc (Chandaka) và ngựa Kiền trắc (Kanthaka) ra đi sau khi lặng lẽ từ biệt vợ con. Sáng ra, khi đến bờ sông Anôma, thái tử xuống ngựa, đổi áo gấm lấy áo thường, dùng gươm cắt tóc, rồi trao ngựa, đồ trang sức cho Xa-Nặc và bảo trở về thưa với vua cha và công chúa về mục đích ra đi của ngài.

    – Sau khi giác ngộ, với lòng từ bi và sự minh xác rằng con người có thể hướng thiện và hướng thượng, Phật đi bộ sang Sarnath (Bénarès) để giáo hóa cho năm người bạn cùng tu khổ hạnh ngày trước. Phật giảng cho họ biết rằng muốn thấy được chân lý, phải xa lìa hai cách sống thái quá: đắm say vật dục và hủy hoại thân thể, sáng suốt nhận rõ và thực hiện bốn chân lý cao thượng: sự khổ (dukkha), Nhân của khổ (samudaya), sự tiêu diệt của khổ (nirodha) và con đường đưa đến khổ diệt (magga). Buổi giảng thứ hai, Phật bác bỏ quan niệm sai lầm về linh hồn bất tử hay bản ngã thường còn làm chủ thể của sự sống và nói rõ con người là một tổng hợp liên tục của vật chất (rupa) và tinh thần (nâma); do đó, con người xấu ác si mê có thể trở thành tốt lành, giác ngộ.

    Nhờ sự hướng dẫn sáng suốt của Phật mà tăng đoàn (sangha) càng ngày càng đông: Khi tăng đoàn đã đông, Phật khuyến khích mỗi người đi mỗi ngả để truyền bá đạo lý. Cùng với tăng đoàn, Phật cũng đi khắp lưu vực sông Hằng giáo hóa cho mọi người, không phân biệt sang hèn, giàu nghèo. Những ai có khả năng xuất gia tu hành và dìu dắt kẻ khác đều được thâu nhận vào tăng đoàn. Những người muốn hướng thiện song còn bận bịu với gia đình và xã hội đều được chấp nhận làm Phật tử tại gia. Phật phá bỏ những tín ngưỡng thần linh vu vơ, chỉ rõ sai lầm trong cách nhận định chân lý, cải tạo những tập tục xấu hại như giết hại súc vật để cúng tế, cầu đảo. Phật cũng mạnh dạn chống đối chế độ giai cấp lạ kỳ bất công có nguồn gốc từ kinh điển Bàlamôn. Suốt 45 năm, từ làng này qua làng khác, Phật tận lực khai sáng cho con người thấy rõ sự thật của cuộc đời và làm cho con người nhận thấy khả năng quý báu nơi chính mình để họ dành lại quyền tạo hóa và hướng về nẻo giác ngộ cao đẹp.

    Trên đường giáo hóa, vào đêm rằm tháng Vesak, Phật dừng nghỉ tại rừng Câu thi na (Kusinarâ), làng Kasia. Sau khi khuyên dạy đệ tử lần cuối cùng: “Vạn vật giả hợp đều hoại diệt, phải tinh tấn để thực hiện lý tưởng”, Phật an nhiên viên tịch (parinirvâna) vào năm 80 tuổi.

    – Không! Ðức Phật không phải là thần linh hay sứ giả của thần linh. Ngài là một người thức tỉnh (Bồ tát) đã tu hành trong nhiều kiếp và đến đời cuối cùng, với thân người, Ngài đạt đến quả vị giác ngộ hoàn toàn. Có thể nói Ngài là một người nhưng không phải là người thường mà là một “siêu nhân”: người thông đạt chân lý (Như lai, Tathâgata), Phật là một bậc thầy:

    “Các người hãy tự mình cố gắng,

    Như Lai chỉ là người chỉ đường” (Pháp cú, 276)

    Lời dạy của Phật là ánh sáng, là tình thương rất cần cho chúng ta, những kẻ đang sống trong bóng tối và hận thù. Không có gì quý báu hơn sự ra đời của Phật vì muôn nghìn năm mới có một lần.

    – Qua đạo phong cao đệp, lời dạy như thật của Phật được ghi chép trong kinh điển, chúng ta biết rõ ngài là bậc giác ngộ hoàn toàn. Hành động và lời nói của Phật đượm màu từ, bi, hỷ, xả. Ðạo lý của Phật phản ảnh được sự thật nơi con người và vũ trụ. Nếu so sánh Phật với người thường và với các vị giáo chủ, triết gia khác, chúng ta thấy rõ sự giác ngộ hoàn toàn nơi Phật. Có thể xem Phật là đóa sen trắng:

    “Như hoa sen tinh khiết, đáng nhìn,

    Sinh từ bùn mà không dính bùn,

    Ta không bị ô nhiễm vì cuộc đời,

    Vì thế, này Bà la môn, ta là Phật”. (An,II,39).

    – Cốt tủy của Ðạo Phật là đạo lý Duyên khởi (paticcasamuppada). Ðạo lý này nói rõ sự tương quan tương duyên của tất cả hiện tượng vật lý và tâm lý. Sự hiện hữu của thế giới chỉ là tương quan đồng thời của nhận thức chủ quan và đối tượng khách quan. Sự vật ngoài ta và trong ta vốn sinh diệt biến chuyển theo quy luật nhân quả mà không hề tiêu diệt hoàn toàn: ấy là tương quan khác thời.

    Nói cách khác, sự vật vốn là vô ngã (insubstanciel), nghĩa là không có “bản thể độc lập” (substance indépendante), mà là tổng hợp của nhiều điều kiện và “vô thường” (impermanent) nghĩa là luôn luôn thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác.

    Bài kệ sau đây tóm tắt ý nghĩa đạo lý Duyên khởi:

    “Cái này có thì cái kia có

    Cái này sanh thì cái kia sanh

    Cái này không thì cái kia không

    Cái này diệt thì cái kia diệt”.

    Ðạo lý Duyên khởi chống phá ba lý thuyết sai lệch sau đây:

    1. Túc mạng luận: tất cả đều do hành động đời trước (Ðịnh mệnh luận)

    2. Thần ý luận: tất cả do thần linh sáng tạo và cai quản.

    3. Ngẫu nhiên luận: sự vật có ra là tình cờ hay may rủi mà không do nhân duyên.

    Dựa trên đạo lý Duyên khởi, Phật trình bày sự thật về con người và vũ trụ một cách như thật. Nếu nhìn sự vật đúng theo đạo lý Duyên khởi thì chúng ta sẽ thấy rõ sự thật mà không bị sai lầm theo ba lý thuyết trên.

    a) Vô ngã (anattâ) . Ảo tưởng về sự thay đổi nơi sự vật gây ra ảo tuởng về bản chất thường còn nơi sự vật hay linh hồn bất tử nơi con người. Trong thật tế, sự vật và con người liên tục biến chuyển từ trạng thái này qua trạng thái khác chứ không hề có sự thay đổi hình thể bên ngoài mà bản chất hay linh hồn vẫn tồn tại.

    Không có bản chất của một cái bàn, ngoài cái bàn ; cũng như không có linh hồn ngoài sự sống con người. Cái bàn là một tổng hợp của gỗ, đinh, sơn, nhân công… Người là tổng hợp của sắc, thọ, tưởng, hành và thức.

    Không hề có bản chất độc lập thường còn của cái bàn hay linh hồn bất tử của con người. Chính tánh cách liên tục của hành động có cố ý (karma) của con người làm cho con người hiện hữu (sẽ giải rõ hơn ở phần tái sanh).

    Bảo rằng có bản chất thường còn nơi sự vật hay linh hồn bất tử nơi con người là quan niệm sai lầm gây ra bởi sự quan sát cẩu thả hay sự mê chấp theo tín điều. Hiểu đạo lý Vô ngã tức là giác ngộ sự thật qua chiều ngang của sự vật (không gian).

    b) Vô thường (anicca) . Vũ trụ là một thác nước chẩy xiết chứ không phải là vũng nước đọng. Sự vật sinh diệt, diệt sinh không ngừng như những ngọn sóng nhô lên hạ xuống trên mặt biển. Người cũng vậy, sống chết từng ngày từng phút. Tuy vô thường song sự vật và con người không hề bị tiêu diệt mà biến đổi từ trạng thái này qua trạng thái khác và không có sự cách biệt quá rõ ràng giữa những trạng thái khác nhau trong dòng liên tục. Nói cách khác, sự vật và con người không hề “là” mà luôn luôn “trở nên”. Không những không thể có “một con suối” để chúng ta có thể tắm hai lần, mà cũng không có “một con người” để có thể tắm hai lần trên một dòng suối.

    Quan niệm về bản chất của thời gian qua những ý niệm trước hay sau về một sự vật đồng nhất là một quan niệm rất quen thuộc nhưng cũng rất sai lầm. Hiểu đạo lý vô thường tức là giác ngộ sự thật qua chiều dọc của sự vật (thời gian).

    – Ðối với cuộc đời, Phật chủ trương cuộc sống của loài người vốn không hoàn toàn và có nhiều khổ đau, nhất là không chắc thật và thường thay đổi, và do đó cần phải thay đổi cuộc sống đau khổ thành cuộc sống an lành. Phật có nói: “Ta chỉ dạy một điều: Khổ và Khổ diệt”. Thái độ ấy được diễn tả qua bốn chân lý cao đệp sau đây:

    A. Khổ (dukkha)

    a. Ðau khổ thông thường như khổ vì sinh, già, bịnh, chết; khổ vì sống với oán thù, vì xa lìa người thân yêu, vì không thỏa mãn những điều mong muốn.

    b. Ðau khổ do lầm tưởng cuộc đời là thường còn, trong khi cuộc đời là biến chuyển.

    c. Ðau khổ do lầm tưởng cuộc đời là chắc thật, trong khi cuộc đời là giả hợp.

    Nghĩa thứ nhất rất dễ hiểu. Song phải hiểu nó trong những thể hiện cụ thể nơi con người và trong cuộc sống qua nhiều khía cạnh khác nhau.

    Hai nghĩa sau mang nhiều tính chất triết lý, song cũng có thể tìm thấy nơi đời sống hàng ngày… Cuộc đời là khổ, bởi vì cuộc đời vốn là vô ngã, vô thường, nhất là vì con người với vô minh, luôn luôn hiểu lầm rằng cuộc đời là thật có và thường còn cho nên bằng mọi cách cố thỏa mãn tánh tham lam và lòng hờn giận của mình; do đó gây thêm phiền não cho mình và cho người. Ví dụ, khi thấy nguời thân từ trần, chúng ta quá buồn phiền đến nỗi mất trí. Sự buồn phiền này, một phần lớn do lầm tưởng rằng người thân ấy là cái gì chắc thật và không bao giờ chết. Nỗi khổ của chúng sanh không những là nhiều mà còn kéo dài từ đời này qua kiếp khác.

    B. Nhân khổ (samudaya).

    Ðau khổ của loài người không do định mệnh hoặc thần linh, hoặc rủi may, mà do chính con người hay chúng sinh gây ra với tất cả hành động thúc đẩy bởi ái dục (tanhâ). Có ba thứ ái dục:

    a. Ái dục thỏa mãn dục lạc.

    b. Ái dục mở rộng cái ta.

    c. Ái dục phá hoại điều mình không thích.

    Ái dục do vô minh (không sáng suốt) thúc đẩy. Vô minh và Ái dục là nguyên nhân chủ yếu của đau khổ. Không nên hiểu Ái dục một cách trừu tượng mà phải hiểu qua sự thể hiện của nó trong mọi sinh hoạt của con người hay chúng sinh trong phạm vi chính trị, kinh tế, xã hội… và ngay cả trong phạm vi tôn giáo. Ví dụ, Ái dục có thể thể hiện trong chính trị độc tài, áp bức, trong kinh tế bóc lột, trong xã hội thối nát. Trong nhiều trường hợp, nên tìm hiểu Ái dục phát xuất từ người nào hay tập thể nào để tránh lầm lẫn người phát sinh Ái dục và nạn nhân của Ái dục.

    Sự thể hiện của Ái dục qua hành động gọi là Nghiệp (Karma). Vì hầu hết hành động của loài người đều do Vô minh và Ái dục thúc đẩy, nhưng chỉ những hành động có cố ý (cetanà) của thân, miệng, ý mới trở thành sức mạnh sáng tạo cuộc sống riêng (biệt nghiệp) và chung của con người (cộng nghiệp). Chúng ta gặt hái những gì chúng ta đã gieo trồng. Hành động lành ích cho chúng ta những kết quả tốt đệp. Hành động xấu hại khiến chúng ta chịu lấy kết quả khổ đau. Luật nhân quả tự nó đã có sự “thưởng phạt”, vì thế không cần thêm một đấng thiêng liêng nào khác để thưởng phạt nữa. Luật nhân quả diễn biến liên tục trong thời gian: quá khứ, hiện tại, tương lai mà không bị giới hạn trong hiện tại. Do dó, có những quả báo đến ngay sau khi gây nhân, và cũng có những quả báo sẽ đến sau một thời gian, dài hay ngắn, tùy theo nghiệp nhân mạnh hay yếu.

    Ðạo Phật cũng không hề nói đến “lương tâm” do trời phú cho, vì lương tâm chỉ là một tâm thái do kinh nghiệm về điều lành trong quá khứ mà có. Vì thế có những người không có hoặc mất cả lương tâm.

    Có hai thứ nghiệp có ảnh hưởng đến đời sống của con người: Biệt nghiệp (hành động cá nhân) và Cộng nghiệp (hành động của tập thể).

    Biệt nghiệp ảnh hưởng nhiều đến đời sống cá nhân. Cộng nghiệp ảnh hưởng nhiều đến đời sống gia đình và xã hội. Tuy nhiên kết quả của cộng nghiệp và biệt nghiệp không hề tách rời nhau. Cá nhân thiếu sáng suốt, không tự chủ, yếu hèn thì sẽ bị cộng nghiệp chi phối. Trường hợp biệt nghiệp chi phối tập tể, gia đình và nhất là xã hội có thể có nhưng rất hiếm. Do đó muốn cải tạo cuộc sống cá nhân hay cộng đồng xã hội thì không những chỉ cải tạo biệt nghiệp mà còn phải cải tạo cộng nghiệp.

    Tu dưỡng nhĩa là chuyển nghiệp, theo nghĩa hệp là cải tạo cá nhân bằn cách thay đổi biệt nghiệp, theo nghĩa rộng là cải tạo gia đình và xã hội bằng cách đổi cộng nghiệp. Tu dưỡng còn có nghĩa là thay đổi cuộc sống si mê ràng buộc thành cuộc sống giác ngộ giải thoát, thay đổi cuộc sống khổ đau thành cuộc sống an lành cho hiện tại và tương lai. Tin tưởng nghiệp như là sức mạnh tiền định, không thể chuyển đổi: “Kiếp xưa đã vụng đường tu, kiếp này quyết phải đền bù mới xong” là tin tưởng của ngoại đạo có chủ trương Túc mạng luận mà không phải là nhận thức đúng đắn theo đạo lý Duyên khởi và Nghiệp của đạo Phật.

    C. Khổ diệt (Nirodha).

    Sự tiêu diệt của khổ đau hay là an lành khi nguyên nhân đau khổ (Vô minh và Ái dục) bị tiêu diệt. Sự an lành có thể thực hiện ngay ở đây và bây giờ. Sự tiêu diệt của khổ đau cũng gọi là Niết bàn (Nirvâna).

    Niết bàn là mục đích của Phật tử. Ước mong cao nhất của Phật tử là thực hiện Niết Bàn, vì “Niết Bàn là sự an lành tuyệt đối”. Muốn biết rõ nước mát, lạnh thế nào phải tự uống nước. Cũng vậy, muốn biết Niết bàn an lành như thế nào, cách tốt nhất là phải tu dưỡng và thực hiện Niết bàn. Tất cả sự diễn tả về Niết bàn của Phật hay của người khác chỉ là những khái niệm hết sức trừu tượng về Niết bàn đối với chúng ta. Tham lam, giận hờn, si mê là sức mạnh gây ra đau khổ. Nếu ba căn này bị tiêu diệt thì khổ đau không còn và an lành thể hiện. Ngài Buddhaghosa trong Visuddhimagga có kể một câu chuyện để chứng minh rằng Niết bàn không phải là “hư vô diệt tịch”:

    “Có một làng nọ, từ lâu bị bọn cướp quấy phá. Dân làng điêu đứng khổ sở. Một hôm, làng được quân lính nhà vua về lùng bắt và giết sạch bọn cướp. Từ đó dân làng được yên ổn làm ăn”. Ý nghĩa của ví dụ là tham, sân, si bị tiêu diệt thì con người được an lành chứ không có nghĩa là sự sống của con người cũng bị tiêu diệt.

    Hơn nữa, Niết bàn có hai mức độ: Niết bàn toàn phần nơi các bậc giác ngộ hoàn toàn và Niết bàn từng phần nơi những người đang tu dưỡng. Từ Niết bàn từng phần đến Niết bàn toàn phần có bốn phẩm vị gọi là bốn quả:

    1. Dự lưu (vào dòng): tức là người trừ được sự chấp có ta, nghi ngờ, mê tín lễ nghi và giới điều.

    2. Nhất lai (sanh lại một lần): tức là người trừ bớt được một phần của tham dục và tàn bạo.

    3. Bất lai (không sanh lại): tức là người trừ hết năm điều trên.

    4. A la hán (vô sanh): tức là người trừ thêm năm điều nữa: tham muốn sanh cõi sắc, tham muốn sanh cõi vô sắc, kiêu ngạo, loạn động và vô minh.

    Niết bàn trong đời sống hiện tại gọi là Niết bàn còn dư thừa và sau khi thân này chết đi gọi là Niết bàn không dư thừa hay là Niết bàn trọn vẹn (parinirânâ).

    Những điều trình bày trên cho chúng ta thấy Niết bàn là an lành mà trong ngay đời này chúng ta có thể thực hiện và an hưởng chứ không phải chỉ là những gì cho đời sau.

    D. Con đường đưa đến khổ diệt (magga).

    Con đường đưa đến khổ diệt là sự tu dưỡng theo giới (sila): những qui tắc sống khôn ngoan và cao đẹp, định (samâdhi): những phương pháp tập trung và huấn luyện tâm trí và Tuệ (pannâ): những cách thức khai sáng trí tuệ để nhìn sự vật đúng như thật.

    Ba điều học này được giải rộng trong con đường chánh gồm tám nẻo (bát chánh đạo):

    1. Chánh kiến: hiểu biết đúng đắn sự thật của cuộc đời, nhất là hiểu rõ bốn chân lý theo hai hệ thống đau khổ và an lành.

    2. Chánh tư duy: suy nghĩ những điều cao đẹp cởi mở, từ thiện và thân hữu.

    3. Chánh ngữ: lời nói chân thật, hòa ái.

    4. Chánh nghiệp: làm những việc lành ích cho mình và cho người.

    5. Chánh mạng: nuôi sống thân mạng với nghề nghiệp lương thiện.

    6. Chánh tinh tấn: siêng năng trong chiều hướng tiến bộ, tu dưỡng bản thân và phục vụ chúng sanh.

    7. Chánh niệm: ý thức và kiểm soát động tác của thân, miệng, ý, nhớ rõ các pháp lành.

    8. Chánh định: tĩnh tâm, cải tạo tư tưởng và trau dồi trí tuệ.

    Ý nghĩa của con đường chính gồm tám nẻo có thể tóm tắt trong bài kệ sau đây:

    “Không làm mọi điều ác

    Thành tựu các hạnh lành

    Tâm ý giữ trong sạch

    Chính lời chư Phật dạy” (Pháp cú, 183)

    – Luân hồi (samsàra) là sự sống chết nối tiếp nơi một chúng sanh. Như chúng ta biết, dòng nhân quả diễn biến một cách tương tục mà không bị hạn cuộc trong đời sống hiện tại. Do đó khi nào còn tham sống và gây nghiệp (karma) thì lúc đó chúng ta sau khi chết vẫn còn sinh trở lại và nhận lấy quả báo. Nói cách khác, sau khi thân xác nầy ngừng hoạt động, dòng sống vẫn còn tiếp diễn, mặc dù hình thái của sự sống ở giai đoạn sau không phải là hình thái của sự sống ở giai đoạn trước. Cần lưu ý, dòng sống này luôn luôn chuyển biến chứ không phải là có một linh hồn bất tử (âme éternelle) đi từ đời này qua đời khác như một lữ khách đi từ quán trọ này đến quán trọ kia.

    – Sự tái sinh (renaissance) theo đạo Phật, không có nghĩa là sự nhập xác (réincarnation) hay là sự nhất định sinh trở lại thế giới loài người nầy với “cái linh hồn xưa cũ không thay đổi”. Do nghiệp lực ác hay lành (sức mạnh của hành động có cố ý) mà sau khi xác thân nầy chết, một hình thái sống khác hoặc cao hơn loài người như các loài trời (deva) hoặc thấp hơn loài người như cầm thú, ma quỉ và các loài cực khổ sẽ hiện thành. Như vậy dòng suối cứ tiếp diễn trong trạng thái đổi thay như dòng nước chảy xiết. Chúng sinh sau thừa hưởng gia tài tốt hay xấu của chúng sinh trước. Hai hình thái sống của hai giai đoạn thời gian và hai hoàn cảnh “không giống nhau nhưng cũng không khác nhau” (na ca so na ca anno).

    Không có vấn đề con người trở thành trời hoặc thú, mà chính hành động của thân, miệng, ý (nghiệp) mang tính chất trời hay thú làm cho chúng sinh trở nên trời hay thú. Không những trong tương lai mà ngay cả hiện tại, chúng ta có thể trở thành thể này hay thể khác tùy theo hành động (nghiệp) của chúng ta.

    Ðạo lý luân hồi là câu trả lời cho câu hỏi “sau khi chết còn hay mất” hợp lý nhất, so với câu trả lời “sau khi chết, người ta sẽ sinh vào thiên đàng hay hỏa ngục và sống ở đó đời đời kiếp kiếp” và câu trả lời “không còn gì nữa sau khi chết”.

    Không có nghiệp thì không tái sanh như trường hợp các vị A-la-hán và Phật. Phật và A-la-hán là các bậc giải thoát: không có những hành động vì “cái ta”, không tạo nhận sống chết cho nên không còn sống chết. Giải thoát luân hồi là điều rất khó. Cho nên đối với chúng sinh chưa đủ sức giải thoát, Phật dạy cho họ những phương pháp tu dưỡng để khỏi sa đọa vào những cảnh giới xấu, khổ như súc sinh, ngạ quỉ và loài cực khổ và để sanh vào thế giới an lành như cảnh giới các loài trời hay ít nhất là để được sanh lại trong thế giới loài người, những nơi mà điều kiện sinh sống tương đối an vui và có thể giúp họ tiếp tục tiến bộ trên đường giác ngộ.

    – Phần đông các tôn giáo đều giống nhau ở điểm giải thích về nguồn gốc của sự vật: chúa Allah, chúa Jéhova, Brahman, hoặc nhiều đấng thần linh khác.

    Trong khi đó, đức Phật im lặng trước câu hỏi về nguyên nhân của vũ trụ và của những câu hỏi siêu hình vô ích. Phật giải thích rằng sự vật có ra và tồn tại trong nguyên lý Duyên khởi, nghĩa là sự vật tương quan tương duyên với nhau mà có ra chứ không do ai sinh cả. Nguyên nhân đầu tiên của một hữu tình đã không tìm thấy được thì nguyên nhân đầu tiên của vũ trụ lại càng không thể tìm thấy được. Bởi vì theo Phật, thời gian mà theo đó một hữu tình lưu chuyển thật là vô thỉ vô chung, không gian mà trong đó sự vật thành hoại thật là vô cùng vô tận. Hơn nữa, đạo Phật là đạo lý soi sáng cho con người thấy sự khổ đau, sự khuyết điểm, sự không vừa ý (dukkha) trong cuộc đời và chỉ bày cho con người những phương pháp tu dưỡng, cải tạo để thực hiện an lành (nirvâna) nNguyễn Thị Thanh Thuỷ @ 16:27 21/07/2014

    Số lượt xem: 1029

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cong Ty Cong Nghe Tin Hoc Nha Truong
  • Tìm Hiểu Chung Về Phật Giáo
  • Tìm Hiểu Về Phật Giáo Và Phật Giáo Ở Việt Nam
  • Tìm Hiểu Phật Giáo Nam Tông Khơme Việt Nam
  • Tìm Hiểu Về Phật Giáo Nguyên Thủy Và Lời Phật Dạy
  • Tìm Hiểu Về Phật Giáo?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Phật Giáo, Vẻ Đẹp Của Quá Khứ Qua Góc Nhìn Hai Chiều
  • Giới Thiệu Tổng Quan Về Đất Nước Đức
  • Tổ Chức Cuộc Thi Trực Tuyến “Tìm Hiểu Về Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Và Dịch Vụ Công Trực Tuyến” Tỉnh Bắc Giang Năm 2022
  • Bài Tuyên Truyền Về Dịch Vụ Công Trực Tuyến
  • Những Điều Cần Biết Về Dịch Vụ Công Trực Tuyến
  • Trong suốt những năm còn tại thế, đức Phật đã du hành và thuyết pháp độ sinh. Tuy nhiên, Ngài không dạy cho mọi người những gì mà Ngài biết khi chứng ngộ, mà thay vào đó Ngài dạy cho mọi người làm thế nào nhận thức rõ tính giác ngộ vốn có sẵn ngay chính bản thân của họ. Ngài dạy rằng bản chất giác ngộ chỉ đến từ kinh nghiệm trực tiếp, chứ không thể thành tựu thông qua bằng niềm tin và các giáo điều.

    Nhiều thế kỷ sau khi Ngài nhập diệt, Phật giáo được truyền bá khắp các nước châu Á và trở thành một tôn giáo có sức ảnh hưởng ở lục địa này. Ngày nay, ước tính số lượng Phật tử trên rất lớn, trong đó phải kể đến các nước châu Á, đạo Phật được xem như là đạo chủ chốt, và chúng ta thật khó biết được số lượng chính xác Phật tử ở các nước như Trung Quốc. Ngày nay, ước tính số lượng Phật tử trên thế giới có khoảng 350 triệu người. Điều này đã làm cho Phật giáo trở thành một trong bốn tôn giáo lớn nhất trên thế giới.

    Sự khác biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo khác

    Phật giáo rất khác với các tôn giáo khác.Ví dụ, tâm điểm của hầu hết các tôn giáo là Thượng đế, hoặc Đấng toàn năng, thế nhưng Phật giáo là vô thần. Đức Phật dạy tin vào Thượng đế không mang lại lợi ích trong việc nhận thức chân lý giác ngộ.  

    Hầu hết các tôn giáo lấy niềm tin làm nền tảng căn bản. Nhưng trong Phật giáo niềm tin về một chủ thuyết nào đó nằm ngoài tầm nhận thức thì không thể chấp nhận. Đức Phật cho rằng, chúng ta không nên đặt niềm tin vào bất cứ một học thuyết nào dù học thuyết đó chúng ta được đọc nó trong kinh điển, hoặc được dạy bởi một vị thầy nào. 

    Thay vì chúng ta tin tưởng và học thuộc lòng những chủ thuyết, đức Phật dạy cho chúng ta làm thế nào có thể nhận chân được chân lý ngay chính mình. Phật giáo chú trọng việc hành trì hơn là niềm tin. Nguyên tắc chung chủ yếu cho người Phật tử hành trì dựa trên giáo lý Bát chánh đạo.

    Phật pháp căn bản

    Phật giáo nhấn mạnh tự do trong việc tìm hiểu. Cách tốt nhất để hiểu được Phật giáo, là phải xem Phật giáo như là những phương pháp để hành trì, và phương pháp này đòi hỏi sự tin tấn trong việc thực hành. Người Phật tử không nên chấp nhận niềm tin mù quáng, chỉ có hành trì là phương pháp tốt nhất để có thể cảm nhận và nhận thức đúng đắn những lời Phật dạy.

    Có thể nói, giáo pháp căn bản của Phật giáo là giáo lý bốn sự thật cao cả hay còn gọi Tứ diệu đế. 

    1. Sự thật về khổ (Dukkha)

    2. Sự thật về nguyên nhân của khổ (Samudaya)

    3. Sự thật về chấm dứt khổ (Nirhodha)

    4. Sự thật về con đường thoát khỏi khổ (Magga)

    Thông qua Tứ diệu đế, tôi nhận thấy chân lý dường như không có nhiều. Thế nhưng, ở tầm thấp hơn chân lý thì có vô số các lời dạy về bản chất tồn tại của cái ngã, về đời sống và cái chết, đề cập đến khổ đau. Tứ diệu đế không đề cập đến niềm tin vào giáo pháp, mà là một phương pháp giải thích về bản chất của Phật pháp, cách thấu hiểu, cách thực nghiệm Phật pháp thông qua kinh nghiệm của chính bản thân trong đời sống hằng ngày. Đây cũng chính là tiến trình của sự giải thích, nhận thức, thực nghiệm theo quan điểm Phật giáo.

    Các trường phái khác nhau trong Phật giáo

    Cách đây khoảng 2.000 năm, Phật giáo đã phân chia thành hai trường phái chính là Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Đại thừa. Trong nhiều thế kỷ, Phật giáo Nguyên thủy đã có ảnh hưởng và truyền bá qua các nước như Sri Lanka, Thái Lan, Campuchia, Miến Điện và Lào. Trong khi đó Phật giáo Đại thừa lại được truyền bá sang các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Nepal, Mông Cổ, Triều Tiên và Việt Nam. Trong những năm gần đây, Phật giáo Đại thừa cũng có số lượng Phật tử rất lớn ở Ấn Độ. Trong Phật giáo Đại thừa lại được phân chia thành nhiều tông phái như là Tịnh Độ tông và Thiền Tông.

    Hai trường phái trên có sự bất đồng chủ yếu trong học thuyết về Vô ngã, mà ngôn ngữ Pali gọi là anatman hay anatta. Theo học thuyết này, không có gì gọi là tự ngã, bởi mọi trạng thái vô thường, bản thể đều là không. Vô ngã là một học thuyết khó có thể hiểu được, thế nhưng đây là triết lý tinh ba mà chúng ta chỉ tìm thấy trong Phật giáo.

    Rất cơ bản, Phật giáo Nguyên thủy xem vô ngã hàm nghĩa sự tồn tại về “cái tôi” của mỗi cá nhân, hoặc cá tính nào đó đều là một ảo tưởng. Một người khi giải thoát khỏi những ra khỏi ảo tưởng sai lầm này thì người đó có thể sống trong cảnh an lạc thảnh thơi mà danh từ Phật học gọi là Niết bàn (Nirvana). Quan điểm về Vô ngã của Phật giáo Đại thừa cao hơn, theo quan điểm Phật giáo Đại thừa thì tất cả các hiện tượng bản chất vốn là không, và chúng có mối tương quan mật thiết với các hiện tượng khác. Bản chất của vạn pháp vốn không có thật mà chỉ là mang tính tương đối. Quan điểm này Phật giáo Đại thừa gọi là “Duyên sinh, Không” (Shunyata).         

    Trí tuệ, tình thương và đạo đức

    Có thể nói trí tuệ và tình thương là đôi mắt của Phật giáo. Trí tuệ mang tính chất đặc thù trong Phật giáo Đại thừa, dùng biểu thị cho những ai nhận chân được bản chất vô ngã của vạn pháp. Có hai từ để phiên dịch từ “Từ bi” là Metta và Karuna. Metta theo ngôn ngữ Pali có nghĩa là lòng nhân từ đối với tất cả chúng sinh, một tình thương không có phân biệt, vượt lên sự chấp trước ích kỷ của cái tôi. Trong khi đó từ Karuna dùng để ám chỉ cho hành động cảm thông, tình thương không biên giới, là một sự tự nguyện không mang đau khổ đến cho những người khác, và đó chính là lòng trắc ẩn. Từ (metta), Bi (karuna), Hỷ (mudita) và Xả (upeksha) được xem là bốn đức hạnh cao cả mênh mông mà người Phật tử cần phải tự thân tu tập.

    Một người khi họ đã hoàn thiện về đức hạnh thì sẽ có hành động đúng trong mọi hoàn cảnh. Đối với người sơ cơ cần phải gìn giữ giới luật.

    Một số hiểu lầm

    Có hai điều mà hầu hết mọi người cho rằng họ hiểu biết về Phật giáo là Phật giáo tin tưởng sự tái sinh và tất cả người Phật tử đều ăn chay. Tuy nhiên, hai quan niệm này hoàn không đúng, sự tái sinh trong Phật pháp rất khác so với những gì mà hầu hết mọi người gọi là sự đầu thai. Trong khi đó việc ăn chay được khuyến khích trong một số trường phái, ăn chay chỉ là sự lựa chọn của mỗi cá nhân, mà hoàn toàn không có một sự bắt buộc nào.

    Tâm An (Dịch từ What Is Buddhism? An Introduction to Buddhism của Barbara O’Brien)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Đạo Phật
  • Bảo Hiểm Nhân Thọ & Bảo Hiểm Y Tế Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Các Bài Viết Về Bác
  • Terminology For Talking About Privacy By Data Minimization: Anonymity, Unlinkability, Undetectability, Unobservability, Pseudonymity, And Identity Management
  • Thiết Kế Ui/ux Là Gì? Khóa Học Thiết Kế Ui/ux
  • Tìm Hiểu Chung Về Phật Giáo

    --- Bài mới hơn ---

  • Cong Ty Cong Nghe Tin Hoc Nha Truong
  • Tìm Hiểu Cơ Bản Về Đạo Phật
  • Đôi Nét Về Đạo Phật Và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
  • Đại Đức, Thượng Tọa Và Hòa Thượng Có Nghĩa Là Gì
  • Nguồn Gốc, Lịch Sử Ra Đời Và Phát Triển Của Phật Giáo
  • Cùng tìm hiểu về nguồn gốc của Phật Giáo để hiểu rõ hơn về việc liệu có phải tất cả các phật tử đều phải ăn chay.

    Phật Giáo là gì ?

    Phật giáo là một tôn giáo dựa trên lời dạy của Siddhartha Gautama, người sống cách đây khoảng 26 thế kỷ ở phía Đông Bắc nước Ấn Độ và thuộc Nepal ngày nay. Ngài được người ta gọi là “Đức Phật” (Buddha) hàm nghĩa là một người tỉnh thức sau khi trải qua kinh nghiệm tu tập, nhận chân được bản chất của cuộc đời, sự sống và cái chết. Trong tiếng Anh, đức Phật còn được gọi là một người giác ngộ, mặc dù trong ngôn ngữ Sanskrit là “Bodhi” có ý nghĩa là “tỉnh thức”.

    Trong suốt những năm còn tại thế, đức Phật đã du hành và thuyết pháp độ sinh. Tuy nhiên, Ngài không dạy cho mọi người những gì mà Ngài biết khi chứng ngộ, mà thay vào đó Ngài dạy cho mọi người làm thế nào nhận thức rõ tính giác ngộ vốn có sẵn ngay chính bản thân của họ. Ngài dạy rằng bản chất giác ngộ chỉ đến từ kinh nghiệm trực tiếp, chứ không thể thành tựu thông qua bằng niềm tin và các giáo điều.

    Nhiều thế kỷ sau khi Ngài nhập diệt, Phật giáo được truyền bá khắp các nước châu Á và trở thành một tôn giáo có sức ảnh hưởng ở lục địa này. Ngày nay, ước tính số lượng Phật tử trên rất lớn, trong đó phải kể đến các nước châu Á, đạo Phật được xem như là đạo chủ chốt, và chúng ta thật khó biết được số lượng chính xác Phật tử ở các nước như Trung Quốc. Ngày nay, ước tính số lượng Phật tử trên thế giới có khoảng 350 triệu người. Điều này đã làm cho Phật giáo trở thành một trong bốn tôn giáo lớn nhất trên thế giới.

    Tìm hiểu sự khác biệt Phật Giáo và các tôn giáo khác.

    Phật giáo rất khác với các tôn giáo khác.Ví dụ, tâm điểm của hầu hết các tôn giáo là Thượng đế, hoặc Đấng toàn năng, thế nhưng Phật giáo là vô thần. Đức Phật dạy tin vào Thượng đế không mang lại lợi ích trong việc nhận thức chân lý giác ngộ.

    Hầu hết các tôn giáo lấy niềm tin làm nền tảng căn bản. Nhưng trong Phật giáo niềm tin về một chủ thuyết nào đó nằm ngoài tầm nhận thức thì không thể chấp nhận. Đức Phật cho rằng, chúng ta không nên đặt niềm tin vào bất cứ một học thuyết nào dù học thuyết đó chúng ta được đọc nó trong kinh điển, hoặc được dạy bởi một vị thầy nào.

    Thay vì chúng ta tin tưởng và học thuộc lòng những chủ thuyết, đức Phật dạy cho chúng ta làm thế nào có thể nhận chân được chân lý ngay chính mình. Phật giáo chú trọng việc hành trì hơn là niềm tin. Nguyên tắc chung chủ yếu cho người Phật tử hành trì dựa trên giáo lý Bát chánh đạo.

    Phật pháp căn bản

    Phật giáo nhấn mạnh tự do trong việc tìm hiểu. Cách tốt nhất để hiểu được Phật giáo, là phải xem Phật giáo như là những phương pháp để hành trì, và phương pháp này đòi hỏi sự tin tấn trong việc thực hành. Người Phật tử không nên chấp nhận niềm tin mù quáng, chỉ có hành trì là phương pháp tốt nhất để có thể cảm nhận và nhận thức đúng đắn những lời Phật dạy.

    Có thể nói, giáo pháp căn bản của Phật giáo là giáo lý bốn sự thật cao cả hay còn gọi Tứ diệu đế.

    2. Sự thật về nguyên nhân của khổ (Samudaya) 3. Sự thật về chấm dứt khổ (Nirhodha) 4. Sự thật về con đường thoát khỏi khổ (Magga)

    Thông qua Tứ diệu đế, tôi nhận thấy chân lý dường như không có nhiều. Thế nhưng, ở tầm thấp hơn chân lý thì có vô số các lời dạy về bản chất tồn tại của cái ngã, về đời sống và cái chết, đề cập đến khổ đau. Tứ diệu đế không đề cập đến niềm tin vào giáo pháp, mà là một phương pháp giải thích về bản chất của Phật pháp, cách thấu hiểu, cách thực nghiệm Phật pháp thông qua kinh nghiệm của chính bản thân trong đời sống hằng ngày. Đây cũng chính là tiến trình của sự giải thích, nhận thức, thực nghiệm theo quan điểm Phật giáo.

    Các trường phái khác nhau trong Phật giáo

    Cách đây khoảng 2.000 năm, Phật giáo đã phân chia thành hai trường phái chính là Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Đại thừa. Trong nhiều thế kỷ, Phật giáo Nguyên thủy đã có ảnh hưởng và truyền bá qua các nước như Sri Lanka, Thái Lan, Campuchia, Miến Điện và Lào. Trong khi đó Phật giáo Đại thừa lại được truyền bá sang các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Nepal, Mông Cổ, Triều Tiên và Việt Nam. Trong những năm gần đây, Phật giáo Đại thừa cũng có số lượng Phật tử rất lớn ở Ấn Độ. Trong Phật giáo Đại thừa lại được phân chia thành nhiều tông phái như là Tịnh Độ tông và Thiền Tông.

    Hai trường phái trên có sự bất đồng chủ yếu trong học thuyết về Vô ngã, mà ngôn ngữ Pali gọi là anatman hay anatta. Theo học thuyết này, không có gì gọi là tự ngã, bởi mọi trạng thái vô thường, bản thể đều là không. Vô ngã là một học thuyết khó có thể hiểu được, thế nhưng đây là triết lý tinh ba mà chúng ta chỉ tìm thấy trong Phật giáo.

    Rất cơ bản, Phật giáo Nguyên thủy xem vô ngã hàm nghĩa sự tồn tại về “cái tôi” của mỗi cá nhân, hoặc cá tính nào đó đều là một ảo tưởng. Một người khi giải thoát khỏi những ra khỏi ảo tưởng sai lầm này thì người đó có thể sống trong cảnh an lạc thảnh thơi mà danh từ Phật học gọi là Niết bàn (Nirvana). Quan điểm về Vô ngã của Phật giáo Đại thừa cao hơn, theo quan điểm Phật giáo Đại thừa thì tất cả các hiện tượng bản chất vốn là không, và chúng có mối tương quan mật thiết với các hiện tượng khác. Bản chất của vạn pháp vốn không có thật mà chỉ là mang tính tương đối. Quan điểm này Phật giáo Đại thừa gọi là “Duyên sinh, Không” (Shunyata).

    Trí tuệ, tình thương và đạo đức

    Có thể nói trí tuệ và tình thương là đôi mắt của Phật giáo. Trí tuệ mang tính chất đặc thù trong Phật giáo Đại thừa, dùng biểu thị cho những ai nhận chân được bản chất vô ngã của vạn pháp. Có hai từ để phiên dịch từ “Từ bi” là Metta và Karuna. Metta theo ngôn ngữ Pali có nghĩa là lòng nhân từ đối với tất cả chúng sinh, một tình thương không có phân biệt, vượt lên sự chấp trước ích kỷ của cái tôi. Trong khi đó từ Karuna dùng để ám chỉ cho hành động cảm thông, tình thương không biên giới, là một sự tự nguyện không mang đau khổ đến cho những người khác, và đó chính là lòng trắc ẩn. Từ (metta), Bi (karuna), Hỷ (mudita) và Xả (upeksha) được xem là bốn đức hạnh cao cả mênh mông mà người Phật tử cần phải tự thân tu tập.

    Một người khi họ đã hoàn thiện về đức hạnh thì sẽ có hành động đúng trong mọi hoàn cảnh. Đối với người sơ cơ cần phải gìn giữ giới luật.

    Một số hiểu lầm thường gặp

    Có hai điều mà hầu hết mọi người cho rằng họ hiểu biết về Phật giáo là Phật giáo tin tưởng sự tái sinh và tất cả người Phật tử đều ăn chay. Tuy nhiên, hai quan niệm này hoàn không đúng, sự tái sinh trong Phật pháp rất khác so với những gì mà hầu hết mọi người gọi là sự đầu thai. Trong khi đó việc ăn chay được khuyến khích trong một số trường phái, ăn chay chỉ là sự lựa chọn của mỗi cá nhân, mà hoàn toàn không có một sự bắt buộc nào.

    -ST-

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Phật Giáo Và Phật Giáo Ở Việt Nam
  • Tìm Hiểu Phật Giáo Nam Tông Khơme Việt Nam
  • Tìm Hiểu Về Phật Giáo Nguyên Thủy Và Lời Phật Dạy
  • Tìm Hiểu Về Phật Giáo Nguyên Thủy
  • Về Nguồn Gốc Lịch Sử Của Phật Giáo Hòa Hảo
  • Nhân Mùa Phật Đản: Tìm Hiểu Về Giáo Lý, Giáo Điều Căn Bản Của Đạo Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Lý Đạo Phật Vi Diệu Những Thực Tế Với Tất Cả Mọi Người
  • Tìm Hiểu Sơ Lược Về Phật A Di Đà
  • Tìm Hiểu Sơ Lược Về Phật Giáo Hòa Hảo
  • Hành Hương Phật Giáo Myanma 4N3Đ
  • Tìm Hiểu Một Số Lễ Hội Phật Giáo Ở Myanmar
  • Hằng năm vào ngày rằm tháng 4 (âm lịch) lễ kỷ niệm đức Thích Ca đản sinh, chúng ta lại cùng nhau ôn lại lịch sử và tìm hiểu ý nghĩa thâm hậu của ngày lễ trọng đại này.

    Ngẫm về “định luật vô thường” của đức Phật Thích Ca Mâu Ni

    Lễ Phật đản là ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời tại vườn Lâm-Tỳ- Ni, theo tiếng Pali gọi là Vesak, tiếng Phạn gọi là Vai sa kha. Ngài ra đời nhằm (ngày 15 – 4 âm lịch) năm 624 (trước công nguyên). Đây là ngày lễ được cả nhân loại hướng tới đó là (Đại Vesak – LHQ) hàng năm do tổ chức này ấn định ở mỗi quốc gia. Với nước ta lễ Phật đản từ lâu đã trở thành ngày lễ lớn của Dân tộc.

    Theo thông tư của Trung Ương Giáo hội Việt Nam, năm nay do nạn dịch Virus Corona-19 không tổ chức lớn ngày lễ Đản sinh đức từ Phụ. Đây cũng là bản hạnh của đức Thế Tôn khi Ngài còn tại thế, đó là “thiểu dục tri túc” để tu dưỡng – khai mở chân tâm. Với tinh thần này, nhân ngày Đản sinh thiêng liêng – chúng ta cùng nhau tìm hiểu đôi nét về lịch sử cũng như giáo lý của Ngài đã để lại cho nhân loại. Đây cũng là nén tâm hương hồi hướng tới Bản hoài bi mẫn của đức Từ Phụ khi Ngài còn tại thế.

    Đức Phật – Bậc từ Phụ trí huệ và bi mẫn – một nhân vật lịch sử

    Nếu như các tôn giáo khác thường xây dựng cho mình một vị giáo chủ mang tính cách siêu nhiên thần bí, và do vậy nên cuộc đời của các vị giáo chủ này cũng thường không có được lịch sử rõ ràng, thì Phật giáo đã coi nhân vật sánh lập ra đạo Phật như một vị thầy (sư Phụ) chỉ dạy con đường dẫn đến sự giác ngộ – giải thoát những khổ đau trong cuộc sống. Mặc dù ở đâu đó một số học giả có đề cập đến tính chất siêu hình của Phật giáo Đại thừa (Mahayana) và về học thuyết Tam Thân Phật, nhưng tựu chung thì tất cả đều thừa nhận rằng vị giáo chủ của Phật giáo là Ngài Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni) là một nhân vật lịch sử. Cuộc đời của Ngài đã được ghi chép và để lại nhiều những dấu ấn, những chứng tích lịch sử sinh động khiến nhiều người thao thức cho đến nay. Tứ Thánh Địa Phật giáo tại Ấn Độ là một minh định sinh động về cuộc đời phi thường của một vĩ nhân trong lịch sử – Đó là đức Thích Ca Mâu Ni. Vườn Lâm-Tỳ-Ni (Lumbini) nơi thành Ca-Tỳ-La-Vệ (Kapilavatthu) thuộc xứ Nepan ngày nay là nơi Ngài ra đời (nhằm ngày 15 tháng 4 âm lịch, năm 624 (trước công nguyên) trong một dòng dõi quý tộc vương quyền Sakya mà cha là vua Tịnh Phạn (Suddhodana), mẹ là hoàng hậu Ma Da (Maha Maya).

    Bồ – Đề – Đạo – Tràng (Bodhgaya) là nơi đức Phật tìm ra con đường Trung đạo và Giác ngộ. Sau khi từ giã vợ là công chúa Da-Du-Đà-La (Yasodhara) và con trai là La Hầu la (Rahula) để ra đi tầm cầu học đạo giải thoát, thái tử Tất- Đạt- Đa (Siddhattha) đã lần lượt theo học nhiều vị thầy khả kính như Alarama Kalama và Uddaka Ramaputta và đã chứng được cảnh giới Phi tưởng Phi phi tưởng là tầng Thiên thứ tám – tằng cao nhất của thiền Vô sắc giới. Nhưng Ngài vẫn chưa thỏa mãn với pháp tu tập này và nhận ra rằng chân lý và sự vắng lặng chỉ tìm được ở bên trong của con người, Ngài lại tiếp tục ra đi tìm con đường cứu cánh nhất cho sự giải thoát. Sau 6 năm tu hành khổ hạnh cùng 5 anh em ông Kiều Trần Như (Kondanna) Ngài nhận thấy lối tu khổ hạnh không thể đem lại lợi ích. Cuối cùng dưới gốc cây Bồ-đề, sau 49 ngày đêm thiền định Ngài đã tìm ra chân lý – đó là con đường Trung đạo, con đường duy nhất đưa đến sự giác ngộ-giải thoát tối hậu. Cây Bồ-đề tại Bồ-Đề-Đạo-Tràng hiện nay thuộc tiểu bang Bihar – phía Bắc của Ấn Độ vẫn được bảo tồn và nơi đây đã xây cất lên tháp Đại Giác để ghi nhận sự thành đạo kỳ diệu của đức Phật, Thánh điạ này đã được công nhận là di sản văn hóa thế giới.

    Thánh tích vườn Lộc – Dã thuộc Ba-La-Nại (Banares) hiện đang được Viện Khảo cổ học Ấn Độ khai thác và tu bổ là nơi ghi đức Phật đã giảng bài pháp đầu tiên về chân lý của sự khổ, triết lý vô ngã, vô thường cho 5 anh em ông Kiều Trần Như là những người bạn cùng tu khổ hạnh với đức Phật buổi đầu. Xuất phát từ sự thâm diệu, bài Pháp này còn được gọi là Tứ Thánh Đế và đây là bài pháp chuyến Pháp luân đầu tiên của đức Phật.

    Sau khi thành đạo, đức Phật đã lên đường hoằng dương giảng dạy giáo lý vi diệu mà Ngài chứng đắc. Trong suốt 45 năm: với lòng bi mẫn độ pháp cho nhân loại bằng tấm gương vô úy thí của mình, với sự thuyết giảng pháp phương tiện (giáo lý) về con đường dập tắt khổ đau, phiền não. Giáo pháp của Ngài đã thâm nhập vào đời sống nhân gian và dẫn dắt cho nhiều cảnh đời khổ đau- thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử trầm luân. Sau khi hoàn thành thông điệp “Khai thị ngộ nhập Phật tri kiến” đến toàn nhân loại, Ngài nhập nhập Niết bàn ở tuổi 80 bên bờ sông Ni-Liên-Nhã-Bạt (Hỉranyavati) thuộc thành Câu-Thi-Na (Kusinagara).

    Đó là bốn địa danh chính về cuộc đời tu hành thành đạo và giáo hóa chúng sinh của đức Phật và đó cũng là những minh chứng hiện thực sinh động về con người lịch sử của đức Phật. Ngày nay tại các Thánh địa thiêng liêng này đã trở thành nơi chiêm bái thường xuyên của toàn thể tín đồ Phật giáo trên toàn thế giới.

    Đức Phật giảng về viễn cảnh thời Mạt pháp

    Giáo lý căn bản của đạo Phật:

    Kinh sách Phật có rất nhiều, đó là điều ai nấy đều biết, vì vậy mà cho đến hiện nay, cũng không sách nào chỉ rõ, bộ kinh nào hay, bộ kinh nào là tiêu biểu cho đạo Phật. Theo HT.Thích Thánh Nghiêm, ở Trung Quốc sở dĩ có nhiều tông phái xuất hiện, nói chung là do lập trường của các tông phái suy tôn các bộ kinh luận nào là căn bản đối với họ.

    Thế nhưng giáo lý đạo Phật có một nguyên tấc căn bản do đức Thích Ca Thế Tôn chứng ngộ, đó là đạo lý duyên sinh chi phối vũ trụ và nhân sinh.

    Chính vì vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều là duyên sinh duyên diệt, đều biến hóa vô thường, cho nên tất cả mọi hiện tượng đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một giọt nước; cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng, thì là không giả. Phật giáo gọi là “duyên sinh tính không”.

    Về vấn đề này các tổ thầy bảo: Phật giáo sở dĩ bị người ta đánh giá là cửa không (không môn) chính là vì lẽ đó. Thế nhưng, đối với nghĩa không của đạo Phật, người ta lại hiểu lầm rất nhiều. Bởi vì, “không” của đạo Phật có nghĩa là không có sự vật nào là cố định, không biến đổi; sự vật đó không phải “thực tại” chứ không phải là không tồn tại. Đại đa số người đều cho rằng, không có nghĩa là không có gì hết. Cũng như một chiếc xe hơi, nếu lấy con mắt của nhà hóa học mà phân tích thì chiếc xe hơi là “không thực tại”. Chiếc xe hơi là do một số nguyên tố và quan hệ kết hợp lại mà thành. Nhưng xét trên hiện tượng, khi thấy xe hơi còn chưa bị thải bỏ, chưa bị đưa ào lò để nấu lại, thì chiếc xe hơi vẫn là chiếc xe hơi hiện hữu.

    Do đó, khi Phật giáo giảng lý “duyên khởi tính không” là chú trọng mặt phân tích bản chất mà nói – để cảnh tỉnh chúng ta đang sống trong cảnh giới hư vọng, đừng có bị danh lợi vật dục làm cho mê hoăc mà biến thành vật hy sinh của danh lợi vật dục. Như vậy, gọi là xem xét để phá bỏ, để phóng hạ (buông bỏ) lòng tham, danh, lợi, vật dục, chứ không phải là phủ định sự tồn tại của hiện tượng. Vì vậy, Phật giáo tuy nói bản thể là không, nhưng vẫn không thể tồn tại tách rời khỏi hiện tượng hư huyễn được. Bởi nếu chưa có khả năng giải thoát khỏi sinh tử thì vẫn nằm trong vòng tạo tác và chịu báo của nghiệp lực. Nghiệp lực tuy cũng là hư huyễn, nhưng vẫn có khả năng lôi kéo sinh mạng tiến hay thoái trong các cõi sống được an vui hay chịu khổ đau.

    Ở đây chúng ta đừng quên rằng, tất cả mọi hiện tượng hư huyễn, đều do nghiệp lực của chúng sinh cảm hóa mà hình thành; do vậy, nếu thấu rõ được đạo lý duyên sinh tính không, thì sẽ không còn bị huyễn cảnh mê hoặc, không còn cái huyễn cảnh lôi kéo, chi phối, sẽ được tự do- tự tại. Đó tức là giải thoát khỏi sinh tử. Một con người không còn bị ngoại cảnh chi phối, trói buộc, thì người đó sẽ không còn tạo nghiệp dẫn tới sinh tử, mà có thể giải thoát khỏi sinh tử, tự chủ đối với sinh tử.

    Đó tức là giáo lý căn bản của đạo Phật.

    Điều gì thôi thúc Đức Phật xả ly cuộc sống vương giả?

    Giáo điều căn bản của đạo Phật:

    Đứng về nguyên tắc mà nói, theo HT. Thích Thánh Nghiêm, đạo Phật không có giáo điều nếu nói có giáo điều thì đó là giới luật.

    Thế nhưng, giới luật của đạo Phật không phải xuất phát từ mệnh lệnh, từ ý trí của Thần Thánh như các tôn giáo khác, vì vậy, cũng không có bao hàm tính chất thần bí như ở các tôn giáo khác. Giới luật của đạo Phật, dựa vào yêu cầu của luân lý, và có tính chất đơn thuần tính lý.

    Giới luật của đạo Phật căn bản là 5 giới, 10 điều thiện, 8 giới và 10 giới của người xuất gia, giới luật của Tỳ khiêu, Tỳ khiêu ni, ngoài ra lại còn có giới luật Bồ-tát của Đại thừa. Nhưng tất cả đều lấy 5 giới 10 thiện mà nâng cao lên hay là phân biệt chi tiết thêm mà thôi. Vì vậy, nếu giữ gìn hoàn thiện được 5 giới,10 thiện, thì chấp hành các giới luật khác sẽ cũng không có gì khó khăn lắm.

    Năm giới: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu (ban đầu giới cấm rượu Phật chưa chế, nhưng vì tác hại của việc uống rựơu và sử dụng các chất kích thích làm rối loạn trí tuệ và mất trật tự an ninh nên có thêm giới này)

    Mười thiện dựa trên 5 giới rồi mở rộng, đi sâu thêm, đồng thời ngăn làm ác và khuyến khích làm điều thiện.

    Tác động dễ thấy của Năm giới:

    1. Không sát sinh: từ bỏ sát sinh tức cứu sinh

    2. Không trộm cắp: từ bỏ trộm cắp tức bố thí

    3. Không tà dâm: từ bỏ tà hạnh tức giữ phẩm hạnh

    4. Không nói dối:

    – Từ bỏ nói dối tức là nói lời thành thật

    – Từ bỏ nói lời hai tức nói lời hòa nhã

    – Từ bỏ nói lời độc ác tức nói lời ái kính

    – Từ bỏ nói lời thêm bớt tức nói lời ngay thẳng.

    (đây là 4 thiện nghiệp về khẩu).

    5. Không (uống rươu) tức sử dụng các chất kích thích:

    – Từ bỏ tham dục (thèm muốn rượu chè, hút xách) tức thanh tịnh

    – Từ bỏ giận giữ tức từ bi

    – Không tà kiến tức chính kiến.

    (đây là 3 thiện nghiệp về ý bằng 10 thiện nghiệp).

    Tóm lại, yêu cầu của đạo Phật về mặt giới luật là tránh mọi điều ác, làm mọi điều lành. Phàm tất cả những việc gì có hại đối với thân tâm, gia đình, xã hội, quốc gia, nhân loại, cho đến hại tất cả mọi loài hữu tình, đều nằm trong phạm vi cấm đoán của 5 giới, 10 thiện, và chúng ta gắng hết sức tránh không làm. Nếu không có hại mà có lợi thì gia sức làm. Làm ác là phạm giới; không làm điều thiện (vô cảm) trước đau khổ của mọi loài cũng là phạm giới.

    Thế nhưng Phật giáo là soi sáng: Nếu phạm giới mà không biết thì tuy có làm mà không phải là phá giới. Nếu vô tâm mà phạm giới, thì tuy là có phạm đấy nhưng không mắc tội phá giới. Phạm giới phải có đủ cả ba điều kiện tâm, cảnh, sự, mới gọi là mắc tội phá giới. Giới của Phật giáo cho người xuất gia còn có nhiều, nhưng căn bản tựu chung là những giới đã nêu.

    Giác lý đạo Phật luôn tương thích khoa học:

    Đạo Phật ra đời ở châu Á, nhưng vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đã lan rộng đến các nước châu Âu và Tây phương. Đặc biệt là trong những thập niên gần đây, với xu thế hội nhập, Phật giáo đã phát triển mạnh mẽ và sâu rộng ở hầu hết các nước thuôc khu vực này.

    Với phương pháp thiền của Phật giáo, pháp môn này đã thật sự thu hút giới trí thức và giới trẻ trong các thiền đường châu Âu và Tây phương.

    Tại sao Thiền phát triển và nở rộ ở phương Tây? Điều dễ trả lời đó là, thiền đã giúp giới trẻ thời kỳ hiện đại này buông xả những bấn loạn; đó là căn bệnh strees, trầm cảm tâm lý cũng như một số các căn bệnh thời đại.

    Phật giáo ra đời đến nay đã trên 25 thế kỷ, vượt qua sự khảo nghiệm của thời gian, giáo lý đạo Phật luôn luôn tương thích với khoa học và thời đại. Pháp môn thiền nêu trên, đương nhiên là pháp môn căn bản của Phật giáo, nhưng Phật giáo còn có nhiều Pháp môn tu thâm hậu-vi diệu khác giúp nhân loại hướng đến lộ trình giác ngộ- giải thoát toàn triệt.

    Vậy giáo lý đạo Phật tương thích với khoa học ở điểm nào?

    Để trả lời câu hỏi này, xin được dẫn lời của Giáo sư vật lý Dương Chấn Ninh, giải thưởng Nobel vật lý 1957, người Mỹ gốc Hoa trong bài viết “Phật giáo không phải mê tín mà là khoa học vĩ đại” ông khẳng định: “Phật giáo là một tôn giáo nhưng lại mang tính khoa học và hợp lý rất cao nó phù hợp với tinh thần khoa học hiện đại.

    Để so sánh giữa Phật giáo và khoa học ông cho rằng: “Một giả thuyết được chấp nhận rộng rãi thường phải hội đử ba điều kiện: Thứ nhất, hệ thống lý thuyết của nó phải nhất quán, nghĩa là nó phải tự giải thích và không tự mâu thuẫn. Thứ hai, nó phải có khả năng mô tả chính xác những phát hiện đã có, đó là giả thuyết có thể tự hoàn thiện và phù hợp với các thực nghiệm khoa học hiện có. Thứ ba, theo giả thuyết này, một số suy luận và Dự ngôn có thể được rút ra và những dự đoán này có thể được xác minh bằng các thí nghiệm và quan sát trong tương lai; giả thuyết khoa học này được các nhà khoa học chấp nhận rộng rãi và được gọi là lý thuyết hoa học.

    Tương tự như vậy, Phật giáo cũng có đầy đủ ba đặc điểm của lý thuyết khoa học nêu trên. Trước hết, lý thuyết Phật giáo là tự nhất quán hài hòa. Tứ Thánh Đế, pháp này tóm tắt hiện tượng nhiều đau khổ trong cuộc sống nhân sinh, chỉ ra nguyên nhân đau khổ, và đưa ra cơ sở lý thuyết cùng với phương pháp tu tập để điều phục thân tâm”.

    Sự thật là từ khi Phật giáo ra đời đến nay đã hơn 2500 năm, nơi lịch sử và kinh điển Phật giáo đã ghi chép lại nhiều người tu đạo đã chứng được thần thông và thấy được sự vận hành của nhân quả luân hồi. Trong cuộc sống chúng ta có rất nhiều những thứ vô hình mắt thường không thể thấy được, nhưng chúng ta không thất không có nghia là nó không tồn tại.

    Đôi mắt chúng ta không thể cảm nhận được tia hông ngoại hoặc tia tử ngoại; tai chúng ta không thể nghe được sóng siêu âm và sóng siêu thanh; mắt thường chúng ta không thể nhìn thấy vi khuẩn, không thể thấy các hạt vi mô như nguyên tử. Nhưng trên 2500 năm trước, với Chánh biến tri đức Phật đã thấy tâm thức (vô hình) vận hành qua câu kinh điển bất hủ “tam giới duy tâm vạn pháp duy thức”. Là Phật tử thì ai cũng thuộc lòng câu kinh này, nhưng để hiểu rốt ráo và thấy được lẽ sâu mầu của câu kinh lại là chuyện khác. Song đối với những nhà khoa học, thì câu kinh trên đã làm cho họ thao thức, và đến nay thì thật sự câu kinh này đã làm cho các nhà khoa học Ngành Vật lý Lượng tử bất ngờ và kinh ngạc qua thí nghiệm “hai khe hở” trong nghiên cứu vật lý lượng tử (hạt và sóng). Như vậy là, theo duy vật biện chứng các nhà khoa học trước đây đều cho rằng, vật chất có trước tinh thần có sau hay nói khác đi là vật chất tồn tại khách quan ngoài ý thức con người, thì qua thí nghiệm này, các khoa học gia hàng đầu thế giới ngày nay không còn coi thế giới là duy vật khách quan nữa mà đã bắt đầu hiểu tâm ý con người có ảnh hưởng quyết định đến vật chất. (nếu bạn đọc muốn hiểu rõ thêm về thí nghiệm này xin đọc bài “Khoa học hiện đại hướng tới Phật giáo” của tác giả Truyền Bình (phatgiao.org.vn 30/92016)

    Phật giáo là trí tín chứ không mê tín, và là đức tin của những người có trí tuệ. Những nhân vật lịch sử ngộ đạo (đạt đạo) ở các nước châu Á như, Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam qua nhiều thế hệ, đã chứng minh điều này. Khoa học chính là sự vận dụng trí tuệ của con người, mà Phật học chính là giúp cho con người đoạn trừ vọng niệm để hiển hiện đầy đủ trí tuệ của chúng sinh. Vì vậy, khoa học và Phật học không hề mâu thuẫn dù chỉ là một ít (đây là nhận định của các khoa học gia thế giới)

    Theo các nhà khoa học: có nhiều luận thuật trong kinh sách Phật giáo phù hợp với khoa học hiện đại đến kinh ngạc to lớn; đó là nói tới sự hình thành vũ trụ, cấu tạo của hệ mặt trời và giải ngân hà… và nhỏ hơn là quan sát đến sự sống của ký sinh trùng và vi sinh vật. Ngay cả những khoa học tiên tiến như thuyết tương đối và cơ học lượng tử…cũng xác chứng tính chân thật của Phật giáo ví dụ như: Xác định Ba nghìn đại thiên thế giới với vũ trụ quan – qua kinh Khởi Thế; tính toán lịch pháp (tức lịch Phật giáo) theo kiếp và tuổi của vũ trụ- qua Du-già Sư địa luận tập hai; luận về hình dạng của trái đất qua kinh Lăng Nghiêm; luận về vi sinh vật, đức từ Phụ Thích Ca của chúng ta đã từng chỉ một cốc nước và nói rằng: trong cốc nước này có đến 84.000 chúng sinh sống trong ấy (Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng) dạy đệ tử (cấm giới) dùng nước phải lọc; luận về ký sinh trùng trong thân, Ngài cũng đã từng nói thân người là ổ vi trùng. Ngài còn xác định và chỉ ra vị trí và trạng thái hoạt động của chúng. Ngày nay nhờ khoa học phát triển đã phát hiện được kí sinh trùng trong cơ thể người có hơn 10 loại như: giun đũa, giun kim, giun móc…sán dây, vi trùng phổi, sán lá gan…(tham khảo Đài thiền bệnh mật yếu và chánh pháp niệm sở kinh).

    Giáo pháp của Đức Phật là toa thuốc trị liệu mọi nỗi khổ đau của nhân sinh

    Thật hy hữu, với trí phàm thật khó tin, các đây trên hai nghìn năm khi chưa có các lý thuyết về định luật hấp dẫn của Newton, chưa có thuyết tương đối của Anhxtanh, chư có kính thiên văn Hubble, mà trong kinh Hoa Nghiêm (một quyển kinh của Phật giáo Bắc truyền) đã mô tả về vũ trụ rất phù hợp với các quan sát và nghiên cứu của cơ quan Hàng không và vũ trụ Hoa Kỳ Na Sa vừa công bố mới đây về vũ trụ quan.

    Tới đây, sẽ có người hỏi tại sao hơn 2500 năm trước, không có bất cứ dụng cụ khoa học hiện đại nào, làm sao có thể rõ được như vậy- về phạm trù vĩ mô (vũ Trụ) và vi mô các loại (ký sinh trùng)? Trên thưc tế thì tất cả đều ở trong thức tâm. Con người có thể thông qua sự tu hành thâm sâu, đến khi giác ngộ có thể nhận biết được tất cả vũ trụ. Chúng ta hoàn toàn có lý để tin (đây là ý kiến của các nhà khoa học vật lý) tức là bắt đầu từ bây giờ cho đến khi trải qua 5 tỷ năm nghiên cứu khoa học, những gì chúng ta hiểu biết về bản chất của vũ trụ cũng không thể sánh kịp với hiểu biết (chánh biến tri) của đức Phật mà kinh Lăng Nghiêm chỉ ra: “Tất cả nhân quả thế giới vi trần, do tâm mà hình thành nên”. Một ví dụ khác là lý thuyết ba chiều về vũ trụ đã xuất hiện trong những năm gần đây, và kinh Lăng Nghiêm xác chứng điều này: “Trên đầu một sợi lông có thể chứa đựng mười phương quốc độ”. Loại ví dụ này quả thật là không thể nào bàn đến chỗ cùng tận được. Lý thuyết Phật học đã có hơn hai nghìn năm (2500) nhưng khoảng gần 100 năm trở lại đây mới được khoa học hiện đại khám phá và đồng loạt nghiệm chứng.

    Mừng Đản sinh Đức từ Phụ (PL 2564-DL 2022) chúng ta không quên Dự ngôn của Ngài đề cập tới thời mạt thượng pháp trong kinh Pháp diệt tận; con Virus-Corona nhỏ bé từ Vũ Hán đã làm cho cả thế giới hoảng loạn. Xin được nhắc lại lời thống thiết của nhà văn Mạc Ngôn giải (Nobel văn học) mới đây ở đất nước này trong bài viết “Những ngày tháng tốt đẹp của nhân loại không còn nhiều nữa” ông kêu gọi, chúng ta hãy dùng tác phẩm văn học của mình để cảnh báo nhân loại dừng ngay những điều xấu ác (trong tất cả các phạm vi tinh thần và vật chất) cho một mục đích Thiện lành và tiêu thụ bền vững để cứu lấy trái đất này. Nếu chưa phải là Phật tử để thấu hiểu câu kinh “Tam giới duy tâm vạn pháp duy thức” trong kinh Hoa Nghiêm dạy, thì hãy tìm hiểu giáo lý để giác ngộ về mặt tinh thần và đừng quá tham đắm về vật chất mà phá hủy môi trường sống toàn cầu. Nếu là Phật tử, thì mọi người cần phải nuôi dưỡng giữ gìn chánh pháp để làm trong sạch Ngôi nhà Như Lai. Đạo Phật là minh triết, trí tuệ và khoa học không phải (mê tín dị đoan) như một số người đã hiểu lầm. (theo tín ngưỡng dân gian).

    Dự ngôn đức Phật thuyết về thời Mạt pháp nên hiểu khác với sấm truyền có tính (võ đoán). Thực tế, chúng ta đang sống trong thời kỳ văn minh khoa học hiện đại. Theo dự ngôn của đức Phật thì ở thời kỳ văn minh nhân loại này cũng là thời kỳ con người dễ (giác ngộ) nhận biết về mọi mặt (tâm thức và khoa học) để giải thoát khỏi bóng ma thần quyền vượt qua tam giới để trở về Phật giới (nếu chúng ta khao khát và đủ duyên lành). Và nếu chúng ta chưa đủ duyên để thoát giới thì giáo lý đạo Phật cũng giúp ta thoát khỏi cảnh giới khổ đau của (tam đồ) để có được tái sinh an lành tương ưng ở một cảnh giới khác.

    Dự ngôn hay huyền nhiệm của đức Phật về thời mạt pháp, với lòng bi mẫn của Ngài không phải để chúng ta lo lắng và sợ hãi mơ hồ mà qua dự ngôn chúng ta tỉnh thức (điều chỉnh) thái độ sống, nhằm kéo dài tuổi thọ (ngôi nhà) chung Trái đất. Thời Mạt pháp là do lòng người (xấu ác). Thực tế, pháp Phật đâu có mạt! Đây là chân lý của Phật giáo; bởi chân như Pháp này đã vượt qua sự khảo nghiệm của thời gian để khẳng định tính vô thường và vô ngã làm lợi lạc nhân thiên và muôn loài. Đó là bản hoài của Như Lai.

    (Mùa Đản sinh Đức Từ Phu Thích Ca Văn – PL 2564).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tieu Luan Triet Hoc: Triet Hoc Phat Giao
  • Tìm Hiểu Về Sự Hình Thành Của Bão
  • Nguồn Gốc, Lịch Sử Ra Đời Và Phát Triển Của Phật Giáo
  • Đại Đức, Thượng Tọa Và Hòa Thượng Có Nghĩa Là Gì
  • Đôi Nét Về Đạo Phật Và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
  • Bài 1: Nhận Thức Cơ Bản Về Phật Giáo

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiểu Những Điều Căn Bản Về Đạo Phật Trong 5 Phút Vấn Đáp
  • 5 Vị Chức Sắc Phật Giáo Trúng Cử Đại Biểu Quốc Hội
  • Tìm Hiểu Về Phẩm Vị Chức Sắc Trong Đạo Cao Đài
  • Hoàn Cảnh Ra Đời Của Đạo Phật
  • 1. Hoàn Cảnh Ra Đời Của Đạo Phật
  • Phật giáo (PG) được khai sinh từ chiếc nôi thành Ca Tỳ La Vệ (thuộc nước Ấn Độ bây giờ), trải qua hơn 2.500 năm lịch sử, đầy những thăng trầm, có lúc tưởng chừng như đã biến mất hẳn ngay trên bản địa, Phật giáo vẫn tồn tại và phát triển rộng rãi khắp năm châu. Hiện nay, sự thành tựu vượt bậc của khoa học cùng với tư tưởng tiến hóa của nhân loại đòi hỏi thẩm định lại giá trị của nhiều tư tưởng triết học xưa nay; và đương nhiên, những tư tưởng mang tính phi lý, lạc hậu, phản khoa học đều phải tự đào thải trước những văn minh tiến bộ của loài người. Thế mà tòa nhà cổ 25 thế kỷ của PG vẫn tồn tại cùâng với năm tháng thời gian, sừng sững như cây đại thọ giữa núi rừng trùng điệp. Điều này chứng minh rằng Phật giáo đã toát ra một sức sống mãnh liệt bắt nguồn từ một giá trị tinh thần phong phú. Tinh thần ấy chính là sự thể hiện giáo pháp trong mỗi đời sống con người. Để có thể khái niệm được ý nghĩa về tinh thần Phật giáo, chúng ta có thể liên hệ mấy đặc tính sau đây:

    Ngay trong buổi hoàng hôn tăm tối của một thực trạng như vậy, một hiền nhân thuộc dòng dõi vua chúa đã dũng mãnh gióng tiếng chuông tiên phong phá tan bóng đêm của xích xiềng nô lệ và bức tường phi lý của phân chia giai cấp bằng một châm ngôn vĩ đại: “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và dòng nước mắt cùng mặn”. Lời tuyên bố hùng hồn ấy của Đức Phật là nền tảng để hình thành một hệ thống giáo lý, mà trong đó tính bình đẳng được thể hiện trọn vẹn cả về phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn.

    Trong giáo điển, Phật giáo quan niệm rằng tất cả mọi loài chúng sanh, từ con người cho đến các sinh vật nhỏ bé côn trùng đều tiềm ẩn một khả năng phi thường như nhau, đó là khả năng thành Phật (Phật tính). Nhưng do các đặc tính cố hữu ở mỗi loài, việc triển khai khả năng ấy tùy đó mà khó dễ, nhanh chậm khác nhau. Điều này có thể tóm ý trong một câu kinh: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Đây là nền tảng để hình thành tính bình đẳng triệt để trong đạo đức luân lý Phật giáo.

    Theo nghĩa căn bản, “Từ” nói cho đủ là Từ năng dữ nhất thiết chúng sanh chi lạc, Bi năng bạt nhất thiết chúng sanh chi khổ, vắn tắt “Từ năng dữ lạc, Bi năng bạt khổ”, có nghĩa là lòng Từ thường mang niềm vui cho tất cả chúng sanh, lòng Bi diệt mọi khổ đau cho tất cả chúng sanh. Ở lãnh vực tình cảm, lòng thương yêu của Phật giáo có thể sánh với lòng mẹ thương con bao la rộng rãi. Tuy vậy, khi đi sâu vào ý nghĩa của nó, chúng ta thấy rằng lòng Từ bi là một tình thương vượt qua mọi ranh giới, mọi quan hệ và bao trùm lên trên tất cả muôn loài. Trong thế gian, thương yêu bao giờ cũng đi đôi với hạnh phúc; tuy nhiên, những loại tình cảm ở đời chỉ hạn cuộc trong một quan hệ, một đẳng cấp, một chủng loại, một phạm trù nào đó. Khi vượt ra ngoài phạm trù ấy, lắm khi chúng ta lại đối xử xa lạ, hững hờ, kỳ thị với nhau, thậm chí còn dẫn đến chống đối, tàn sát lẫn nhau một cách khủng khiếp.

    Đức Phật dạy: “Hận thù không dập tắt được hận thù, chỉ có tình thương yêu mới dập tắt được hận thù, đó là định luật của ngàn xưa”.

    1. – Nàrada, Phạm Kim Khánh dịch, Nxb Thuận Hóa và Thành hội PG TP HCM, 1994

    2. Phật học khái luận, Thích Chơn Thiện, Viện NCPHVN, TP HCM, 1997

    --- Bài cũ hơn ---

  • 28. Vài Nét Về Phật Giáo Ở Châu Á Và Châu Âu Trong Thế Kỷ Xx
  • Tìm Hiểu Nét Văn Hóa Phật Giáo Thái Lan
  • Tìm Hiểu Về Tôn Giáo Ở Hồng Kông
  • Phật Giáo Có Mối Liên Hệ Với Bà La Môn Giáo Và Ấn Độ Giáo Hay Không?
  • Tìm Hiểu Phật Giáo Nguyên Thủy
  • Tìm Hiểu Về Phật Giáo Và Phật Giáo Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Chung Về Phật Giáo
  • Cong Ty Cong Nghe Tin Hoc Nha Truong
  • Tìm Hiểu Cơ Bản Về Đạo Phật
  • Đôi Nét Về Đạo Phật Và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
  • Đại Đức, Thượng Tọa Và Hòa Thượng Có Nghĩa Là Gì
  • TRANSCRIPT

    TM HIU V PHT GIO V PHT GIO VIT NAM

    TM HIU V PHT GIO V PHT GIO VIT NAM

    A.KHI QUT CHUNG V O PHT

    * V tr, vai tr ca Pht gio trn th gii? 1. Nhng tin ra i

    Tin chnh tr – x hi:

    ? X hi n c i vo th k th VI tr. C N v nhng yu t dn n s ra i ca o Pht? (( Ch Varna v Lut Ma nu)

    Tin t tng:

    ? S ra i ca o Pht k tha nhng hc thuyt t tng? tn gio no?

    Vai tr ngi sng lp

    ? Nhng yu t c bit v ngi sng lp ra o Pht? (xut thn, s sinh ra k l)

    ? Qu trnh sng lp ra o Pht?

    ? Cuc i, qu trnh xut gia tm o ca c Pht gip chng ta hiu g v o Pht? (t tng, biu tng, gii lut, hnh tng c Pht qua cc thi k2. S pht trin ca o Pht

    ? Pht gio pht trin nht n vo thi k no?

    ? Gii thiu hai b phi: i tha v Tiu tha? (phn bit)

    ? Gii thiu 3 tng phi ca Pht gio i tha: Thin tng, Tnh tng, Mt tng? (phn bit) 3. Gio ly ca o Pht? C im g c bit trong vic hnh thnh b Tam tng kinh in ca o Pht?

    ? Nu mt s ni dung t tng c bn ca o Pht? Chng minh?

    ? Mt s hn ch trong t tng ca o Pht?

    4. T chc ca o Pht

    ? T chc ca o Pht c g khc so vi t chc ca o Cng gio?

    ? Tn Pht gio? C cu t chc?

    ( c im ca o Pht?B. PHT GIO VIT NAM

    1. S du nhp ca Pht gio vo Vit Nam

    ? Trnh by s du nhp ca Pht gio vo Vit Nam? (thi im du nhp? ni c truyn vo? ngi truyn? cn c xc nh thi im du nhp? bi cnh lch s x hi khi Pht gio du nhp vo? nhng thun li v kh khn)

    Gi y:

    1.Ti sao Luy Lu l ni Pht gio c truyn ti u tin nc ta?

    2. Con ng truyn b Pht gio vo Vit Nam c g khc so vi Nho gio trc ?

    3. Nhng thun li v kh khn khi Pht gio truyn vo Vit Nam?

    4.Ti sao ni c im ca Pht gio Vit Nam l Vit – n Hoa?2. Qu trnh pht trin ca Pht gio Vit Nam

    ? Nu s phn chia giai on khi tm hiu qu trnh pht trin ca Pht gio Vit Nam? Ti sao c s phn chia nh vy?

    ? Trnh by tnh hnh Pht gio trong tng giai on c th? (bi cnh lch s, c im Pht gio thi k ? Nhng kt qu t c)

    Gi y:

    1. Gii thiu v hai phi thin c du nhp vo Vit Nam trong giai on t th k I n th k X?

    2. .Nhng chnh sch nhm nng , khuyn khch o Pht pht trin trong giai on t th k X n XV? 3. K tn mt s nh s c nhiu ng gp trong qu trnh xy dng v cng c a v thng tr ca giai cp phong kin? 4. Pht gio l quc gio thi L Trn?5. Gii thiu v phi thin Tho ng v Trc Lm Yn T?

    6. Trc Lm tam t gm nhng ai?

    7. Ti sao Pht gio Vit Nam giai on ny li i vo suy thoi?

    8. Biu hin suy thoi ca Pht gio Vit Nam giai on ny? 3. c im ca Pht gio Vit Nam

    ? Chng minh tnh dung hp ca Pht gio Vit Nam? (hiu th no l tnh dung hp? biu hin ? v sao Pht gio Vit Nam mang tnh dung hp?)

    ? Chng minh tnh nhp th ca Pht gio Vit Nam?

    ? Chng minh tnh dn gian ca Pht gio Vit Nam?

    4.Vai tr ca Pht gio Vit Nam

    ? Chng minh: Pht gio l tn gio lun lun ng hnh cng dn tc?

    ? Nhng ng gp ca Pht gio t gc vn ha vt th v phi vt th?

    ? Tm hiu v mt s ngi cha tiu biu Vit Nam?

    ? Tm hiu v mt s pho tng tiu biu Vit Nam?

    ? Theo em, vn ha l cha nn nh th no? Mt s biu hin tiu cc hin nay?

    BI TP NHM:

    nh hng ca Pht gio trong i sng vn ha tinh thn ngi H Ni (qua kho st ti mt s ngi cha)

    ti u tin nc ta?

    2. Con ng truyn b Pht gio vo Vit Nam c g khc so vi Nho gio trc ?

    3. Nhng thun li v kh khn khi Pht gio truyn vo Vit Nam?

    4. Ti sao ni c im ca Pht gio Vit Nam l Vit – n Hoa?PAGE 3

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Phật Giáo Nam Tông Khơme Việt Nam
  • Tìm Hiểu Về Phật Giáo Nguyên Thủy Và Lời Phật Dạy
  • Tìm Hiểu Về Phật Giáo Nguyên Thủy
  • Về Nguồn Gốc Lịch Sử Của Phật Giáo Hòa Hảo
  • Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ
  • Tìm Hiểu Về Phật Giáo Nguyên Thủy

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Phật Giáo Nguyên Thủy Và Lời Phật Dạy
  • Tìm Hiểu Phật Giáo Nam Tông Khơme Việt Nam
  • Tìm Hiểu Về Phật Giáo Và Phật Giáo Ở Việt Nam
  • Tìm Hiểu Chung Về Phật Giáo
  • Cong Ty Cong Nghe Tin Hoc Nha Truong
  • Phật giáo Nguyên Thủy là thuật ngữ để chỉ Phật giáo giai đoạn đầu, kể từ khi Tất Đạt Đa sáng lập Phật giáo cho đến trước Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ hai ở thành phố Vaisili.

    Phật giáo Nguyên Thủy phổ biến ở Sri Lanka, Campuchia, Thái Lan, Lào và Miến Điện (Myanmar), nên truyền thống này còn được gọi là Phật giáo Nam Tông.

    Đạo Phật Nguyên Thủy tin rằng, giáo pháp của họ là những lời dạy ban đầu của Đức Phật. Tuy nhiên, họ không nhấn mạnh quá nhiều về niềm tin về các giáo lý theo cách cực đoan, mà họ xem nó như một công cụ để giúp mọi người hiểu được chân lý thông qua sự trải nghiệm cá nhân.

    Nguồn gốc

    Phật giáo Nguyên Thủy (Theravada Buddhism) là một trong ba nhánh chính của Phật giáo. Hai nhánh còn lại là Phật giáo Đại Thừa (còn gọi là Bắc Tông, Mahayana Buddhism) và Kim Cương Thừa (hay Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng).

    Nó lan rộng từ Ấn Độ đến Sri Lanka, sau đó đến Đông Nam Á và vẫn giữ nguyên bản Pali nguyên thủy. Vào thế kỷ thứ 3 TCN, đạo Phật đã lan rộng khắp Châu Á, và các diễn giải khác nhau về giáo lý của Đức Phật đã dẫn đến việc thành lập nhiều tông phái trong thời điểm đó.

    Hình thức Phật giáo này đã đến Thái Lan vào khoảng thế kỷ thứ 6, và trở thành tôn giáo chính thức của cả nước vào thế kỷ 13 sau khi vương quốc Sukhothai được thành lập.

    Phật giáo Nguyên Thủy đôi khi được gọi là “Phật giáo Tiểu thừa – Hinayana Buddhism” (Lesser Vehicle), ngược lại với “Phật giáo Đại thừa – Mahayana Buddhism” (Greater Vehicle). Từ “Tiểu thừa” có nguồn gốc từ những cuộc phân rã sớm trong cộng đồng Phật giáo. Khi giáo pháp đạo Phật tiếp tục lan truyền khắp Ấn Độ sau khi đức Phật nhập diệt, thì các diễn giải khác nhau về những lời dạy ban đầu xuất hiện, dẫn đến sự phân chia trong Tăng đoàn và hình thành Phật giáo Đại Thừa.

    Tiểu thừa có nghĩa là thừa hưởng những lời dạy cơ bản của Đức Phật. Ngày nay, các học giả của nhiều trường phái Phật giáo đôi khi vẫn sử dụng thuật ngữ “Tiểu thừa” nhưng chỉ để phân biệt chứ không có ý định xấu.

    Ngôn ngữ trong Đạo Phật Nguyên Thủy

    Ngôn ngữ của các văn bản kinh điển trong Phật giáo Nguyên Thủy là tiếng Pali, một ngôn ngữ phổ biến ở trung tâm Ấn Độ trong thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Hầu hết các bài thuyết pháp mà Đức Phật giao cho đều được Tôn giả A Nan ghi nhớ. Ngay sau khi Đức Phật qua đời vào khoảng năm 480 TCN, cộng đồng các nhà sư và Tôn Giả A Nan được triệu tập để đọc tất cả các bài thuyết giảng mà họ nghe trong 45 năm giảng dạy của Đức Phật.

    Mỗi bài giảng (sutta) được bắt đầu bằng câu, “Tôi đã nghe nói như vậy”. Các giáo lý được thông qua trong cộng đồng tu viện bằng hình thức truyền miệng hàng trăm năm cho đến khi Tam Tạng Kinh Điển (tripitaka) ra đời.

    Pali ban đầu là một ngôn ngữ nói nên không có bảng chữ cái của riêng nó. Cho đến khoảng năm 100 TCN khi kinh Tạng (Tipitaka) đã được soạn thảo lần đầu tiên bởi các nhà sư ở Tích Lan (Sri Lanka), người đã viết phông chữ Pali dưới dạng kịch bản Brahmi. Kể từ đó, Tipitaka đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác như: Devanagari, Thái, Miến Điện, La Mã, Cyrillic…Mặc dù bản dịch tiếng Anh của kinh Tạng ngày nay rất phổ biến, nhưng nhiều tu sĩ Phật giáo Nguyên Thủy vẫn học ngôn ngữ Pali để làm sâu sắc thêm sự hiểu biết và đánh giá chính xác về các giáo lý của Đức Phật.

    Không ai có thể chứng minh Tripitaka chứa đựng những lời dạy chính xác của Đức Phật. Vì thế, nó không giống như các văn bản thánh thư của nhiều tôn giáo khác trên thế giới, thừa nhận như một chân lý, được tiết lộ bởi một vị tiên tri, được chấp nhận hoàn toàn bởi đức tin.

    Thay vào đó, các giáo lý của kinh Tạng Pali phải được đánh giá trực tiếp thông qua sự trải nghiệm của mỗi cá nhân, từ đó, họ sẽ có câu trả lời chính xác nhất cho riêng họ. Cho đến nay, kinh Tạng Pali vẫn tồn tại trong nhiều thế kỷ như một hướng dẫn không thể thiếu đối với hàng triệu Phật tử trong việc tìm kiếm sự giác ngộ.

    Các Tỳ Kheo tụng kinh trong một tang lễ Phật giáo tại Tu viện Abhayagiri

    Tông chỉ tu tập của Phật giáo Nguyên Thủy

    Phật giáo Nguyên Thủy nhấn mạnh đến việc tự giải phóng thông qua những nỗ lực của cá nhân. Phương tiện chính để đạt được giác ngộ trong truyền thống Theravada là thông qua thiền Vipassana hay còn gọi là thiền Minh Sát. Vipassana nhấn mạnh sự tuân thủ kỷ luật về cơ thể, tư tưởng và cách kết nối. Với các lý do là: “Tránh xa những điều xấu, tích lũy mọi điều tốt lành và thanh lọc tâm trí mình”.

    Thiền là một trong những phương thức chính mà theo đó một Phật tử Nguyên Thủy có thể biến đổi bản thân, vì vậy họ dành rất nhiều thời gian cho việc hành thiền. Khi một người đạt được giải thoát khỏi khổ đau và giác ngộ lên Niết bàn, họ được gọi là các vị A la hán (Arahant) hay những “người xứng đáng”.

    Phật giáo Nguyên Thủy nhấn mạnh tầm quan trọng của tu viện. Hầu hết các nhà sư Phật giáo Nam Tông thường dành hết thời gian của mình cho tu viện. Một số người tham gia khi mới chỉ 7 tuổi, nhưng có thể tham gia ở mọi lứa tuổi. Một người mới được gọi là Sa-di (Samanera) và một tu sĩ được gọi là Tỳ kheo. Cộng đồng tu viện như một toàn thể được gọi là Tăng đoàn .

    Các nhà sư được đào tạo phải nắm rõ 227 quy tắc . Trong những quy tắc này hay giới luật là năm điều được thực hiện bởi tất cả những người cố gắng tuân theo lối sống của Phật giáo. Ngũ giới là thực hiện các quy tắc đào tạo để:

    • Không được làm hại chúng sinh
    • Không được lấy những thứ không được cho phép
    • Kiềm chế hành vi sai trái tình dục
    • Ngăn lời nói sai: Chẳng hạn như nói dối, trò chuyện nhàn rỗi, lời nói độc ác hoặc phát biểu cay nghiệt
    • Không sử dụng những thứ gây nghiện

    Đặc biệt, các nhà sư trong tu viện không được sử dụng tiền bạc.

    Giáo lý của Phật giáo Nguyên Thủy

    Hai giáo lý chính trong Phật giáo Nguyên Thủy là Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo. Đức Phật khám phá ra việc giải phóng khỏi luân hồi đòi hỏi phải phân biệt cho mỗi chân lý trong Tứ Diệu Đế một nhiệm vụ cụ thể: Chân lý cao nhất đầu tiên phải được “thấu hiểu”, thứ hai là “từ bỏ”, thứ ba là “nhận ra”, thứ tư là được “phát triển”.

    Việc thực hiện đầy đủ chân lý mở đường cho sự giác ngộ, chấm dứt sự thiếu hiểu biết, tham ái, đau khổ và nghiệp chướng. Sự thâm nhập trực tiếp vào sự tự do siêu việt và hạnh phúc tối cao là mục tiêu cuối cùng của tất cả các giáo lý của Đức Phật: Vô thường, Vô ngã và Niết bàn.

    Bát Chánh Đạo được hiểu như là một bộ sưu tập các phẩm chất cá nhân sẽ được phát triển chứ không phải là một chuỗi các bước dọc theo con đường tuyến tính. Phát triển quan điểm và giải quyết đúng đắn (các yếu tố được phân loại theo cách cổ điển với sự khôn ngoan và phân biệt) tạo điều kiện phát triển suy nghĩ, hành động và sinh kế đúng đắn (các nhân tố được xác định).

    Khi đức hạnh phát triển thì các nhân tố được xác định với sự tập trung (nỗ lực đúng đắn và chánh niệm). Tương tự như vậy, khi sự tập trung trưởng thành, sự phân biệt sẽ tiến hóa đến một mức độ sâu hơn. Và do đó quá trình này mở ra sự phát triển của một nhân tố thúc đẩy sự phát triển của nhân tố kế tiếp, nâng người học viên lên một bước tiến về sự trưởng thành tâm linh cuối cùng lên đến đỉnh điểm là giác ngộ.

    Những chân lý này không phải là các nguyên tắc giáo điều cố định, những trải nghiệm sống phải được khám phá riêng lẻ trong tâm của người tìm kiếm tinh thần chân thành.

    Tầm ảnh hưởng ở Phương Tây

    Cho đến cuối thế kỷ 19, những lời dạy của Phật giáo Nguyên Thủy ít được biết đến bên ngoài miền nam châu Á, nơi mà họ đã phát triển mạnh trong khoảng hai thập niên. Tuy nhiên, đến thể kỷ 20, phương Tây đã bắt đầu chú ý đến di sản tinh thần quý giá của Phật giáo Nam Tông qua các bài giảng về sự giác ngộ.

    Trong những thập niên gần đây, mối quan tâm này đã tăng lên đáng kể, các Tăng đoàn Phật giáo Nguyên Thủy đã thiết lập hàng chục tu viện trên khắp châu Âu và Bắc Mỹ. Tăng số lượng các trung tâm hành thiền, được thành lập và hoạt động độc lập với Tăng già, nhằm đáp ứng nhu cầu giải thoát khỏi đau khổ của đàn ông và cả phụ nữ.

    Những biến thể Phật giáo trong thế kỷ 21 mang lại cơ hội và cả nguy hiểm cho đạo Phật Nguyên Thủy ở phương Tây. Ngày nay, rất nhiều người tự xưng là bậc Thánh đã giác ngộ và truyền bá những triết lý khác so với những giáo pháp trong kinh Tạng Pali.

    Liệu với sự “cởi mở” của phương Tây hiện nay và sự “thụ phấn chéo” giữa các truyền thống tâm linh sẽ dẫn đến sự nổi lên của một hình thức thực hành Phật giáo mới độc đáo phù hợp thời đại hay nó sẽ dẫn đến sự nhầm lẫn và pha loãng những lời dạy của Đức Phật? Đây là những câu hỏi mở và chỉ có thời gian mới có câu trả lời chính xác nhất.

    Các giáo lý tâm linh đang tràn ngập trên các phương tiện truyền thông. Nhiều lời dạy tâm linh phổ biến ngày nay được mượn tự do từ Đức Phật, tuy nhiên, hiếm khi họ đặt những lời dạy đó trong bối cảnh thật sự của họ. Những người tìm kiếm sự chân thật thường phải đối mặt với một nhiệm vụ khó khăn là “vượt qua” những giáo lý rạn nứt với tính chính xác không rõ ràng. Làm sao chúng ta có thể hiểu được tất cả?

    Bất cứ khi nào bạn thấy mình đặt câu hỏi về tính xác thực của một giáo huấn cụ thể, hãy lắng nghe lời khuyên của Đức Phật:

    “Không tin gì cả, dù bạn đọc nó ở đâu hay ai đã nói, thậm chí tôi nói cũng thế. Trừ khi nó phù hợp với lý trí và ý thức thông qua sự trải nghiệm của riêng bạn.” Hoa Sen Phật – Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Nguồn Gốc Lịch Sử Của Phật Giáo Hòa Hảo
  • Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ
  • Fx Trading Corp Là Gì? Có Lừa Đảo? Có Nên Đầu Tư Vào Fx Trading Không?
  • Fx Trading Là Gì? Cách Tham Gia Giao Dịch Forex
  • Fx Trading Markets Là Gì? Có Lừa Đảo Hay Không? ⭐ Broker Review Forex ⭐
  • Phật Giáo: Tìm Hiểu Chính Bản Thân Mình

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiểu Tường Tận Chính Bản Thân Mình: Kỹ Năng Quan Trọng Nhất Mà Không Ai Dạy Bạn Cả
  • Bạn Có Hiểu Gì Về Bản Thân Mình Không? Nếu Không, Bạn Khó Có Thể Thành Công!
  • Giáo Án Hoạt Động: Phát Triển Nhận Thức
  • Khóa Học Thấu Hiểu Bản Thân Và Định Hướng Tương Lai
  • Thấu Hiểu Bản Thân Để Định Hướng Nghề Nghiệp Trong Thời Đại 4.0
  • Tìm hiểu chính bản thân mình – đó là niềm khát khao của loài người trong suốt quá trình phát triển. Những thành tựu khoa học vang dội gần đây như nhân bản vô tính, giải mã bộ gien người,…phần nào tạo nên ấn tượng con người sắp đạt đến chỗ hiểu được chính mình. Phải vậy không?

    Dẫu vô cùng thán phục trước việc “đọc được” cuốn sách ghi mật mã di truyền của con người, tôi vẫn nghĩ rằng, quãng đường từ chỗ chưa đọc được đến đọc được sẽ là rất ngắn so với quãng đường từ đọc được đến hiểu được. Vậy mà quãng đường đã qua là khoảng thời gian từ khi có loài người cho đến khi kết thúc thế kỉ 20! Để hình dung về sự so sánh hai quãng thời gian nói trên, ta hãy đưa cho em bé 10 tuổi, đã biết đọc rất thạo, bản dịch cuốn Nam Hoa Kinh. Chắc rằng em bé sẽ đọc làu làu, nhưng ai biết là cần bao nhiêu lần 10 năm nữa để em bé kia hiểu được Trang Tử?

    Dĩ nhiên, với sự trợ giúp của máy tính điện tử, khoa học đang tiến với tốc độ không phải như của thế kỉ trước, và cũng không phải như mười năm trước. Ngay việc giải mã bộ gien người cũng không thể thực hiện được nếu không có sự trợ giúp của máy tính. Và nói chung, ở nơi nào mà ta đã biết được “quy luật của tự nhiên”, nhưng để rút ra những hệ quả cần thiết phải cần đến khối lượng tính toán khổng lồ, nơi đó máy tính là không thể thay thế được. Cũng như vậy, khi ta cần rút ra quy luật xuất phát từ một số lượng lớn các dữ liệu đo đạc và quan sát, ta phải cần đến máy tính. Tuy nhiên, máy tính điện tử, đúng hơn là máy tính điện tử hoạt động theo nguyên tắc như hiện nay, có đưa con người đến cái đích tìm hiểu được chính mình hay không, đó vẫn còn là câu hỏi lớn.

    Cho đến nay, máy tính điện tử chỉ thúc đẩy chúng ta đi nhanh hơn trên con đường mà chúng ta đang đi. Tiến bộ khoa học diễn ra nhanh hơn, nhanh hơn rất nhiều, nhưng vẫn chưa có một thay đổi về chất. Cho đến tận ngày hôm nay, tri thức, nói cho cùng, vẫn là cái gì đó có tính cá thể. Rất có thể chúng ta đang tiến dần đến cái giới hạn, mà sau đó, ta không còn đủ sức tiếp nhận những thông tin về tự nhiên. Điều đó xảy ra không chỉ do khối lượng quá lớn của các thông tin, mà còn do độ phức tạp của chúng (trong Toán học, người ta thường dùng thuật ngữ độ phức tạp Kolmôgôrốp).

    Có những giới hạn mà bộ óc con người không thể vượt qua. Nếu chúng ta không có ý định từ bỏ việc tiếp tục tích luỹ các kiến thức khoa học, chúng ta buộc phải chuyển giao nhiệm vụ này cho máy tính! Nhưng, các máy tính sẽ hoạt động tự trị như thế nào, và làm thế nào để chúng có thể thường xuyên thông báo cho chúng ta những thông tin cần thiết? Chỉ đến khi tạo được những máy tính như vậy, con người mới đạt đến chỗ xoá bỏ tính cá thể của tri thức. Chỉ đến khi đó mới có những tri thức chung của loài người không nằm trong bất kì một bộ óc nào cả!

    Như vậy, con người đang đứng trước một câu hỏi lớn: liệu có thể chế tạo ra các máy tính thông minh được không? Tức là, sẽ có hay không các máy tính biết tư duy như con người?

    Nhiều người đưa ra những lí luận rất thuyết phục để chứng tỏ rằng, không thể có các máy tính thông minh (chẳng hạn, Roger Penrose trong cuốn Cái bóng của tư duy). Cơ sở của các lí luận đó là các định lí nổi tiếng của Goedel về tính không đầy đủ của các hệ tiên đề.

    Trước hết, xin được nói đôi lời về Goedel và định lí của ông. Sinh năm 1906 tại Brunn (khi đó thuộc đế quốc Áo-Hung, ngày nay thuộc Moravia, Cộng hoà Séc) và mất năm 1978 tại Princeton (Mỹ), Goedel được tạp chí Time chọn là nhà toán học xuất sắc nhất thể kỉ 20 (trong số 100 nhân vật vĩ đại nhất của thế kỉ về tất cả các lĩnh vực). Công trình của ông, Định lí về tính không đầy đủ, công bố năm 1931 đã kết thúc chặng đường dài của nhiều nhà toán học lớn, những người cố gắng hình thức hoá toàn bộ toán học. Nhu cầu hình thức hoá toàn bộ toán học nẩy sinh sau khi người ta phát hiện ra những nghịch lí cuả lí thuyết tập hợp.

    Và người ta cho rằng, để thoát khỏi các nghịch lí đó, cần phải biến toán học thành một hệ hình thức. Điều đó có nghĩa là, xuất phát từ một số hữu hạn “chân lí” (được gọi là các tiên đề) và một số quy tắc lô gích (các tiên đề và quy tắc đều có thể “hình thức hoá” được), ta phải suy ra được toàn bộ các “chân lí” khác (các định lí) của Toán học. Định lí Goedel khẳng định rằng, điều đó là không thể được!

    Công trình của A. Turing (1912-1954), nhà toán học người Anh, cũng nằm trong hướng nghiên cứu vấn đề hình thức hoá toán học. Turing chứng minh rằng, mọi quá trình tính toán tổng quát có thể thực hiện bởi một “máy”. Máy này gồm có một cuộn băng độ dài vô hạn với các ô vuông, một thiết bị có hữu hạn trạng thái dùng để đọc các kí hiệu trên cuộn băng. Dựa trên kí hiệu ở cuộn băng và trạng thái của thiết bị tại thời điểm hiện tại, máy sẽ thay kí hiệu đang có trên cuộn băng bởi một kí hiệu khác, đồng thời đổi trạng thái của thiết bị. Thiết bị đọc kí hiệu có thể dịch chuyển về bên phải và bên trái.

    Như vậy, các Định lí Goedel và Turing, cơ sở lí luận của máy tính điện tử, là những khẳng định chính xác một cách toán học về những hệ thống suy diễn thuộc một kiểu nhất định. Trong khi đó, “tư duy” lại là một từ có trường ngữ nghĩa hết sức rộng. Vì thế, khó có thể có một luận cứ khoa học nào để bác bỏ hay khẳng định việc con người có khả năng chế tạo các máy tính biết tư duy. Bản thân sự tin tưởng vào việc chế tạo được các máy tính như vậy đã có thể xem là một thành tựu của trí tuệ con người trên con đường dài tìm hiểu chính bản thân mình. Mặt khác, niềm tin đó cũng phản ánh phần nào quan niệm lệch lạc của chủ nghĩa duy vật tầm thường, mà điển hình là sự coi thường tư duy- một thành quả tuyệt vời và bí ẩn của quá trình tiến hoá sinh học.

    Turing, khi nghiên cứu về tư duy, thường quan tâm dến khía cạnh thể hiện qua hành động của nó. Trong một cuốn nhật kí của thời niên thiếu, ông đã từng đặt ra câu hỏi: Nếu linh hồn là bất tử, thì cớ sao còn phải nhập vào trong các cơ thể sống (đã là cơ thể sống thì ắt phải có lúc chết!). Và ông tự trả lời: vì chỉ có cơ thể sống mới có khả năng hành động. Có lẽ chính vì thế mà khi cố gắng mô tả quá trình tư duy của con người, Turing gọi mô hình của mình là máy (ngày nay nổi tiếng dưới tên gọi máy Turing). Ngay việc gọi mô hình đó là máy đã có thể xem là một ý tưởng thiên tài, vì thời đó, người ta thường chỉ dùng đến các khái niệm trừu tượng: ngôn ngữ, thuật toán, hệ hình thức.

    Và quả thật, máy trừu tượng của Turing đã trở thành cha đẻ của máy tính điện tử ngày nay. Tuy nhiên, mô hình máy Turing có lẽ không thể hiện được cơ chế hoạt động của bộ óc con người. Bộ óc của các loài vật, nói một cách thô thiển, hoạt động theo nguyên tắc chuyển các thông tin nhận được từ các giác quan thành hành động. Mặc dù các thông tin như vậy rất nhiều, tư duy của loài vật có thể mô tả bởi quá trình xử lí song song. Đối với hoạt động của bộ não người, còn phải thêm yếu tố ngôn ngữ. Chính vì vậy mà các tham số tức thời của các quá trình hoạt động sơ cấp của hệ thần kinh chỉ được đo bằng phần ngàn giây. Điều này làm cho việc lưu trữ gần như không có tác dụng, và quá trình xử lí song song trở nên không thích hợp nữa. Nói cách khác, có lẽ chúng ta chưa hiểu biết thấu đáo về hoạt động của bộ não người, và chưa tìm được cách hữu hiệu để mô tả quá trình đó.

    Phải chăng, để hiểu được chính bản thân mình, con người cần đến một cuộc cách mạng mới trong khoa học, đặc biệt là khoa học máy tính, để cho ra đời các máy tính biết tư duy. Tuy nhiên, chúng ta có thể lại phải đương đầu với một nghịch lí mới: máy tính cuối cùng sẽ làm sáng tỏ được cơ chế hoạt động của bộ não người, nhưng khả năng của bộ não người lại không đủ để hiểu được cơ chế đó! Và biết đâu, cho đến khi vượt ra ngoài Thái dương hệ, bay lượn trong vũ trụ, Con Người vẫn chưa hiểu được chính bản thân mình!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Chính Bản Thân Mình
  • Những Trải Bài 3 Lá Mà Bất Kì Reader Nào Cũng Nên Biết
  • Khám Phá Khoa Học: Bé Cùng Nhau Tìm Hiểu Về Bản Thân
  • Chủ Đề Bản Thân Giáo Án Mầm Non 3 Tuổi
  • Giáo Án Kpkh: Bé Cùng Nhau Trò Chuyện Về Bản Thân
  • Tìm Hiểu Về Phật Giáo Đại Thừa

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiến Thức Về Phật Giáo Đại Thừa
  • Vài Nét Về Đất Nước Đức
  • Chung Về Nước Đức
  • Tìm Hiểu Về Những Nét Đặc Sắc Của Văn Hóa Nước Đức
  • Nước Đức Có Gì Nổi Tiếng? Tìm Hiểu Những Thú Vị Về Nước Đức
  • Phật giáo Đại Thừa được gọi là “Bánh xe vĩ đại” (Great Vehicle), là hình thức Phật giáo nổi bật ở Bắc Á, bao gồm Trung Quốc, Mông Cổ, Tây Tạng, Hàn Quốc và Nhật Bản nên còn được gọi là Phật giáo Bắc Tông.

    Xuất phát từ những lẩn tránh về các học thuyết và các quy tắc tu viện trong Phật giáo Ấn Độ vào thế kỷ thứ nhất TCN, Đại Thừa coi mình là một phiên bản chính xác nhất của giáo lý của Đức Phật.

    Nguồn gốc Phật giáo Đại Thừa

    Nguồn gốc của Phật Giáo Đại Thừa (Mahayana) vẫn còn mơ hồ, ngày và vị trí của sự xuất hiện không được biết cụ thể, phong trào có nhiều khả năng hình thành theo thời gian và ở nhiều nơi. Kinh điển sớm nhất của Phật giáo Đại Thừa là Bát Nhã Tâm Kinh trong kinh Đại Thừa, kinh điển được biên soạn lần đầu tiên sau khi Ðức Phật qua đời 5 thế kỷ.

    Như trong các văn kiện Phật giáo tiên phong trước đây, những kinh điển này gần như chắc chắn được viết bởi các nhà sư, trình bày các ý tưởng sáng tạo của phong trào dưới hình thức những bài thuyết pháp được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển giao.

    Những dấu vết sớm nhất của các tư tưởng Đại Thừa phát sinh khi việc bất đồng giữa các chư tăng tại hội đồng thứ 2 Vaishali. Hội đồng này được kêu gọi để lên án những hành vi nhất định của một số nhà sư đã trái với bộ luật về đạo luật của Vinaya. Mặc dù phần lớn các nhà sư đã thành công trong việc xua đuổi các nhà sư phạm sai lầm, nhưng các nhà sư còn lại đã tranh chấp các quy tắc và một số khía cạnh của Phật Pháp.

    Một nhóm chống lại bất cứ thay đổi nào, được gọi là Sthaviravadins (Phật giáo Nguyên Thủy, Theravadins) nói rằng, tất cả con người phải phấn đấu để trở thành A-La-Hán, giải thoát khỏi chu kỳ Tái sinh (cõi Ta-bà, Samsara) để lên cõi Niết bàn.

    Họ cho rằng, chư Phật là những người đàn ông – tinh khiết và đơn giản, từ chối bất kỳ khái niệm nào về tính siêu việt của họ. Nhóm khác, đa số, được biết đến như là Mahasanghikas, có nghĩa là những nhà sư vĩ đại. Giống như Sthaviravadins, họ chấp nhận các giáo lý cơ bản của Đức Phật như Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, thuyết Vô ngã (Anatta)… Luật nhân quả.

    Họ khác nhau trong việc tin rằng, chư Phật là siêu phàm, cuộc sống và quyền hạn của họ là không giới hạn. Họ cũng tin rằng, bản chất ban đầu của tâm trí là tinh khiết và nó bị ô nhiễm khi nó bị nhuộm bởi tham ái và phiền não. Chính Mahasanghikas đã xây dựng và phát triển Phật giáo Đại Thừa.

    Quan điểm Phật giáo

    Lời giảng dạy quan trọng nhất của Đại Thừa là lòng từ bi vĩ đại, một thành phần vốn có của sự giác ngộ được thể hiện trong Bồ tát (những vị giác ngộ), Người đã trì hoãn Niết bàn (giác ngộ cuối cùng) để giúp đỡ và hướng dẫn chúng sanh vẫn đang phải chịu đựng đau khổ trong vòng luân hồi. Họ dùng cái mà Đại Thừa gọi là ” phương tiện khéo léo ” để biết được năng lực tinh thần và tình cảm cụ thể của mỗi cá nhân, từ đó đưa ra hướng dẫn phù hợp với những năng lực đó.

    Đại Thừa dạy rằng, bất cứ ai cũng có thể khao khát đạt được giác ngộ và trở thành Bồ tát. Đối với đạo Phật Đại Thừa, giác ngộ bao gồm sự hiểu biết bản chất thực sự của thực tại và tình thương vô biên.

    Hai trường phái Nguyên Thủy và Đại Thừa có cái nhìn khác nhau về học thuyết Vô ngã. Tư tưởng Đại Thừa mở rộng ý tưởng này đến tất cả mọi thứ, rằng không gì có bản chất và sự tồn tại của mỗi vật phụ thuộc vào sự tồn tại của những thứ khác.

    Bồ tát muốn tìm hiểu thực tại này thông qua sự khôn ngoan (prajna) và thực hiện nó thông qua từ bi (karuna). Họ nhận ra rằng, không một cá nhân nào có “cái tôi”, không thể có sự khác biệt thực sự giữa bản thân và người khác, và do đó sự giải phóng của họ không khác biệt gì với sự giải phóng của tất cả chúng sinh. “Vô ngã” theo Đại Thừa có nghĩa là hiểu được sự vắng mặt của bản ngã hay bản tính trong mọi vật và con người.

    Phật giáo Nguyên Thủy và Phật giáo Đại Thừa khác nhau về quan điểm của họ về mục đích cuối cùng của cuộc sống và cách mà nó có thể đạt được. Phật giáo Nam Tông cố gắng trở thành các vị A La Hán, hoặc những vị thánh hoàn hảo đã đạt được giác ngộ lên cõi Niết bàn. Trong khi những người theo Phật giáo Bắc Tông không hi vọng trở thành A La Hán, mà là những vị Bồ tát, những người đã giác ngộ nhưng trì hoãn việc lên cõi Niết bàn để giúp người khác đạt được nó, như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã làm.

    Phật giáo Đại Thừa dạy rằng, giác ngộ có thể đạt được trong một đời duy nhất, và điều này có thể được thực hiện ngay cả bởi một người bình thường.

    Những người theo Phật giáo Đại Thừa, có lẽ đã sai lầm khi khẳng định lý tưởng A La Hán của Phật giáo Nguyên Thủy là ích kỷ vì nó chỉ quan tâm đến sự giải phóng cho chính mình.

    Các vị A La Hán, mặc dù không có trí tuệ cao như của một vị Phật, nhưng cũng phải vượt qua ý tưởng bản thân và lòng tham để giác ngộ, vì vậy một sự cáo buộc dường như không có lý. Những người theo Phật giáo Nam Tông cũng cho rằng, đạt được Phật quả là lý tưởng cao nhất nhưng nó là khó khăn và vượt quá khả năng của hầu hết mọi người.

    Một người đi theo con đường Bồ Tát phải đạt được 6 sự hoàn hảo: ban cho hay rộng lượng, đạo đức hay hành vi tốt, kiên nhẫn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ.

    Các tông phái trong Phật giáo Đại Thừa

    1. Pháp tướng tông

    Tông phái này phát khởi từ ba vị Vô Trước, Thế Thân và Hộ Pháp, lấy Thành duy thức luận làm gốc, cho rằng vạn pháp đều do thức biến ra. Thức có tám loại là: nhãn thức, nhĩ thức, vị thức (hay tỉ thức), thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt-na thức và a-lại-da thức. Trong tám thức ấy, a-lại-da thức là căn bản.

    A-lại-da thức còn gọi là Tạng thức, bao tàng hết các chủng tử, rồi do những chủng tử ấy mà phát sinh ra vạn tượng. Vạn tượng tan thì các chủng tử lại mang nghiệp trở về a-lại-da thức. Chủng tử lại vì nhân duyên mà sinh hóa mãi. Vậy nhân duyên là nhân duyên của các chủng tử.

    A-lại-da thức thì chứa hết thảy các chủng tử để sinh khởi nhất thiết chư pháp. Như thế là vạn pháp do thức mà biến hiện ra, cho nên nói rằng: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.” Ngài Huyền Trang đời Đường sang Ấn Độ theo học với ngài Giới Hiền, rồi đem Pháp tướng tôngvề truyền ở Trung Hoa.

    2. Tam luận tông

    Tông này lấy Trung luận và Thập nhị môn luận của Bồ-tát Long Thụ và bộ Bách luận của Đề-bà làm căn bản, nên mới gọi là Tam luận. Tam luận tông cho rằng hết thảy vạn hữu trong hiện tượng giới đều sanh diệt vô thường. Đã sanh diệt vô thường là không có tự tính, chỉ bởi nhân duyên làm mê hoặc mà biến hóa ra vạn hữu. Kẻ phàm tục vì vọng kiến cho nên mới chấp lấy cái có tạm bợ ấy.

    Bậc chân trí thì không nhận cái tạm có mà thấy rằng hết thảy đều là không. Các pháp tuy là hiện hữu nhưng không phải là thường có. Có mà không phải là thường có tức là chỉ tạm có. Tạm có nên tuy là có mà không phải là có. Có mà không phải là thật có thì cũng chẳng khác gì không.

    Vậy nên các pháp tuy là đều có, nhưng thật tướng là không. Lý thể của chân như tuy là không tịch, bất sanh bất diệt, nhưng bởi nó sanh ra các pháp, cho nên nó là nguồn gốc của cái tạm có. Đã là nguồn gốc, thì lý thể của chân như là không. Như thế, chân như là không mà không phải thật là không, cho nên đối với có không khác gì. Vì thế chân như tuy là không tịch mà rõ ràng là có.

    Có và không, không và có, thật chẳng khác nhau. Có là có do nơi không; không là không do nơi có. Có và không hai bên toàn nhiên hòa hợp với nhau. Thấy rõ chỗ ấy là Trung đạo, là không vướng mắc vào cả có lẫn không. Vì sự nhận thức của ta sai lầm, mà thành ra có không và có.

    Vượt lên trên sự nhận thức thì mới đạt được cái thực tại bất khả tư nghị. Sự nhận thức của ta chỉ nhận thức được trong phạm vi hiện tượng mà thôi, không thể nhận thức được thực tại. Muốn đạt tới thực tại thì phải nhờ đến trực giác mới được. Tam luận tông lấy kinh Bát-nhã làm gốc, cho nên còn gọi là Bát-nhã tông, khi đối với Pháp tướng tông thì gọi là Tánh tông hay là Không tông.

    3. Thiên thai tông

    Tông này khởi phát ở Trung Hoa, do thiền sư Tuệ Văn đời Tần, Tùy lập ra, dựa theo ý nghĩa sách Trí Độ luận và kinh Pháp Hoa làm gốc. Cho nên còn gọi là Pháp Hoa tông. Thiên thai tông chủ trương thuyết “chư pháp duy nhất tâm”. Tâm ấy tức là chúng sanh, tâm ấy tức là Bồ-tát và Phật. Sanh tử cũng ở nơi tâm ấy, Niết-bàn cũng ở nơi tâm ấy.

    Thiền sư Tuệ Văn chủ lấy Trung đạo mà luận cái tâm và lập ra thuyết “nhất tâm tam quán”. Tam quán là Không quán, Giả quán và Trung quán. Trong Không quán có Giả quán và Trung quán, không phải tuyệt nhiên là không. Trong Giả quán có Không quán và Trung quán, không phải tuyệt nhiên là giả.

    Trung quán là dung nạp cả không và giả. Chân như với tâm và vật quan hệ với nhau như nước với sóng. Ngoài nước không có sóng, ngoài chân như không có tâm, ngoài tâm không có vật.

    Thiên thai tông lấy hiện tại mà tìm chỗ lý tưởng. Thiện ác chân vọng đối với tông này chỉ là một sự hoạt động của thực tại. Vì thế cho nên không cưỡng cầu giải thoát ra ngoài hiện tại giới sanh diệt vô thường. Trong hiện tượng giới gồm cả hai tính thiện và ác.

    Thiện hay ác cũng chỉ do một tâm tác dụng mà thôi. Hai cái, không có cái nào độc tồn. Cho nên Phật không làm lành mà cũng không làm dữ. Sự giải thoát phải tìm ở nơi thấu suốt chân lý, thoát ly chấp trước. Chỗ cuối cùng đạt đến là phải triệt ngộ thực tướng của các pháp.

    4. Hoa nghiêm tông

    Tông này cũng như Thiên thai tông, phát khởi ở Trung Hoa, căn cứ ở kinh Hoa Nghiêm, do hòa thượng Đỗ Thuận và Trí Nghiễm đời Tùy Đường lập ra.

    Tông này cho rằng các pháp có sáu tướng: tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại. Gọi chung là “tam đối lục tướng”. Vạn vật đều có sáu tướng ấy. Khi sáu tướng ấy phát ra thì phân làm Hiện tượng giới và Thực tại giới, và khi sáu tướng ấy tương hợp nhau thì hiện tượng tức là thực tại, thực tại tức là hiện tượng.

    Vạn hữu có “tam đối lục tướng” là do Thập huyền diệu lý duyên khởi. Thập huyền diệu lý và Lục tướng viên dung sinh ra cái lý sự vô ngại. Sự sự vô ngại luận là chỗ đặc sắc nhất trong giáo lý của Hoa nghiêm tông. Theo tông ấy thì phân biệt chân vọng, trừ khử điên đảo khiến cho tâm thanh tịnh, để cùng thực tại hợp nhất, thế là giải thoát.

    5. Chân ngôn tông

    Tông này căn cứ ở kinh Đại Nhật, lấy bí mật chân ngôn làm tông chỉ, cho nên gọi là Chân ngôn tông, hay là Mật tông. Đại Nhật Như Lai truyền cho Kim-cang-tát-đỏa. Kim-cương-tát-đỏa truyền cho Long Thọ, Long Thọ truyền cho Long Trí, Long Trí truyền cho Kim Cương Trí, Kim Cương Trí cùng với Bất Không vào khoảng đời Đường đem tông này truyền sang Trung Hoa.

    Chân ngôn tông chủ trương các thuyết Lục đại là địa, thủy, hỏa, phong, không, thức, cho sáu đại này là thực thể của vũ trụ. Lục đại xét về phương diện vũ trụ thì gọi là thể đại, hiện ra hình hài gọi là tướng đại, hiện ra ngôn ngữ, động tác gọi là dụng đại. Vạn hữu trong vũ trụ không có gì ra ngoài thể đại, tướng đại, dụng đại. Gọi là chân như là lấy lý tính do sáu đại mà trừu tượng ra. Ngoài sáu đại ra, không thấy đâu là chân như.

    Sự giải thoát của Chân ngôn tông là ở nơi “tự thân thành Phật”, cho nên bỏ hết chấp trược, theo cái hoạt động của Đại ngã. Phương thức giải thoát của tông này là ba mật, tức là thân, miệng và ý.

    6. Thiền tông

    Thiền tông không bàn luận về vũ trụ, chỉ chủ ở sự cầu được giải thoát mà thôi. Cứu cánh của Thiền tông không trói buộc nơi văn tự, nên chỉ lấy tâm truyền tâm mà thôi. Thực tướng của vũ trụ thuộc về phạm vi trực giác. Nếu lấy văn tự mà giải thích thì tất là sa vào hiện tượng giới, không thể đạt tới thật tướng được. Nếu không tọa thiền dùng trực giác thì không thể biết được thật tướng.

    7. Tịnh độ tông

    Tịnh độ tông lấy sự quy y Tịnh độ làm mục đích, và tụng những kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ và A-di-đà. Tịnh độ tông khởi phát từ đời nào không rõ, chỉ thấy trong các kinh điển nói các vị Bồ-tát Mã Minh, Long Thụ và Thế Thân đều khuyên người ta nên tu Tịnh độ.

    (Hình ảnh: chúng tôi – Tổng hợp từ vuonhoaphatgiao)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Những Vật Phẩm Phật Giáo Tây Tạng Bí Truyền Nổi Tiếng Nhất
  • Tìm Hiểu Lịch Sử Phật Giáo Tây Tạng
  • 10 Cuốn Sách Giúp Bạn Nhập Môn Phật Giáo
  • Tìm Hiểu Một Số Lễ Hội Phật Giáo Ở Myanmar
  • Hành Hương Phật Giáo Myanma 4N3Đ
  • Giáo Lý Cơ Bản Của Đạo Phật

    --- Bài mới hơn ---

  • 18. Tìm Hiểu Sơ Lược Về Phật Giáo Ấn, Trung, Việt
  • Sơ Lược Về Phật Giáo Quảng Ngãi
  • Lịch Sử Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng
  • Tổng Quan Về Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng
  • Tìm Hiểu Về Mật Tông Theo Nghĩa Dễ Hiểu Nhất
  • Dịch giả: CHÁNH TRÍ (Trích ” Présence du Bouddhisme”,

    Đặc san tạp chí France Asie – 1959)

    Sinh sống ở Ấn Độ trong thế kỷ thứ sáu trước Tây lịch, Đức Phật là người duy nhất, trong hàng các vị Giáo Chủ không tự xưng là Thiên sứ. Sự tu chứng của Ngài và tất cả những gì Ngài đã thực hiện được, ngài đều quy vào sức cố gắng và trí thông tuệ thông thường của một người ở thế gian. Một người của thế gian, nhưng là một người hết sức trọn lành, thành ra đời phải kính Ngài là một bậc siêu phàm. Tuy nhiên, Phật đạo vẫn là con đường của thế nhân. Thật vậy, theo giáo lý nhà Phật, con người có quyền tự chủ độc nhất và không có một Đấng tối cao nào cầm quyền định đoạt số phận của con người. Đức Phật hằng khuyến khích các hàng đệ tử phải “tự quy y” và đừng bao giờ đi tìm quy y hay nương tựa vào một người nào khác(1). Ngài dạy bảo, khích lệ mỗi người tự phát triển trọn vẹn và cố tự giải thoát lấy mình, vì con người có đủ quyền năng đem sức mạnh cởi mở cho mình. Ngài nói: “Các ngươi phải tự tu tự tỉnh, chư Như Lai chỉ là những người chỉ đường mà thôi”(2). Nếu Đức Phật đáng được tôn xưng là Đấng “cứu thế”, nên hiểu là chỉ vì Ngài đã tìm ra Con Đường đưa đến giải thoát. Nhưng muốn giải thoát, con người phải ra công lần dò trên Con Đường ấy.

    Vì các nguyên tắc tự cứu tự độ đó mà Đức Phật để cho các hàng đệ tử tự do lo lấy phận mình. Ngoài đạo Phật ra, chưa thấy trong lịch sử tôn giáo, ở đâu có sự khoan dung và tự do tư tưởng như trong giới nhà Phật. Bởi vậy chưa hề có một sự ngược đãi với người đạo khác và cũng chưa hề có một giọt máu đổ suốt 2.500 năm lịch sử, dù rằng Phật giáo đã lan tràn một cách êm thắm khắp miền Á Đông và hiện có trên 500 triệu tín đồ. Đức Phật gần như bắt buộc các hàng đệ tử đừng nhìn nhận bất cứ một điều gì vì lòng tin tưởng ở cổ lệ, ở tôn giáo, ở giáo lý của một kinh điển hay của một ông thầy, mà chỉ nhìn nhận khi nào đã hiểu và đã thật là tâm đắc(3). Ngài quả quyết không nên để tâm tánh bị lệ thuộc và cũng không thể dùng một vài quy tắc kỷ luật và máy móc mà dồn nét Ánh sáng Chân Lý vào đầu óc của một người dẫn dạy nhưng đần độn, không có khả năng tự mình suy xét.

    Đức Phật không trả lời ngay mà dùng một thí dụ:

    “Có một người bị trọng thương vì một mũi tên độc. Anh em, cha mẹ lật đật rước thầy đến chữa. Nhưng người bệnh bảo: Đừng, đừng động mũi tên. Trước khi thầy rút tên ra và băng bó vết thương, tôi muốn thầy nói cho tôi biết coi ai đã bắn tôi, người ấy tên gì, thuộc giai cấp nào, nhà cửa ở đâu, vóc vạc lớn hay bé, nước da như thế nào, đã dùng thứ cung ná nào, v.v..? Thầy hãy trả lời tất cả các câu hỏi ấy đi rồi mới được săn sóc tôi”(4).

    Chắc chắn người bệnh ấy phải chết trước khi những câu hỏi vừa kể được giải đáp. Điều cần kíp cho anh, đâu phải những lời giải đáp, mà là thuốc men. Những điều cần kíp cho con người cũng thế: đừng bận lòng về những vấn đề vô ích, mà cố tiến bước trên con đường đưa đến tự tại, an lạc và hạnh phúc.

    Giáo lý cơ bản của đạo Phật nằm gọn trong bốn Chân lý cao cả (cattari ariyasaccani: Tứ Diệu Đế hay Tứ Thánh Đế) là:

    1- Dukkha (Khổ đế). 2- Samudaya (Tập đế) nguyên nhân của Dukkha. 3- Nirodha (Diệt đế) sự ngừng dứt của Dukkha và 4- Magga (Đạo đế) con đường dẫn đến sự diệt Dukkha.

    Cái Chân lý thứ nhất (Dukkha-ariyasacca) đại khái được toàn thể các nhà bác học dịch là: Cái Chân lý cao cả về Sự Khổ, làm cho con người ta phải ngầm hiểu rằng, theo Phật giáo, có sống là có đau có khổ. Lối diễn dịch ấy không được đúng lắm và chỉ làm cho người ta sai lạc. Chính vì đây mà nhiều người lầm, cho Phật giáo là một nền giáo lý bi quan. Sự thật, Phật giáo không bi quan mà cũng không lạc quan. Phật giáo hoàn toàn đứng ở cái gốc hết sức là thực tế mà nhìn đời sống và thế giới. Mà sự thật, lắm khi không được tươi đẹp như chúng ta mong. Nhưng Phật giáo khách quan mà xét nhận, dù điều ấy có làm cho chúng ta vui lòng hay phẫn ý cũng vậy. Phật giáo không kiếm cách ru ngủ chúng ta bằng ảo vọng, Phật giáo cũng không cố dìm chúng ta xuống cái trũng hồi hộp của mọi thức sợ hãi và tội lỗi tưởng tượng. Chúng ta như thế nào, cuộc đời như thế nào, Phật giáo khách quan (yathabutam = như thị) mà nói như thế, Phật giáo chỉ đường cho chúng ta đi đến chỗ tự tại hoàn toàn, đi đến chỗ an lạc, tịch tĩnh, hạnh phúc.

    Một bác sĩ có thể, bệnh ít nói nhiều và từ chối không chịu cho thuốc. Trái lại, một bác sĩ khác có thể, vì thiếu tài, nói rằng bệnh nhân không đau gì hết, không cần uống thuốc và đánh lừa con bệnh bằng những lời vỗ về thất thiệt. Cứ xét hai trường hợp ấy đủ thấy: ông trước thì bi quan, ông sau thì lạc quan, cả hai đều nguy hiểm như nhau. Nhưng ông thứ ba lại không thế, ông kỹ lưỡng xem xét các chứng, lên bệnh án một cách đúng đắn rồi, sau khi định rõ nguyên nhân và loại bệnh, ông quyết ý đầu thang, con bệnh uống vào là khỏi, Đức Phật giáo như vị bác sĩ thứ ba này. Ngài là bậc vô thượng y vương liễu vị trị các bệnh thế gian.

    Quả thật, danh từ Pa li dukkha (Phạn ngữ: duhkha) thông thường có nghĩa là “khổ thống”, là “đau đớn”, là “khốn khổ”, ngược lại với danh từ sukha, có nghĩa là”hạnh phúc”, “an nhàn”. Nhưng trong văn cú của Thánh đế thứ nhất, danh từ dukkha được dùng theo nghĩa triết học, vì vậy hàm chứa một ý nghĩa rộng rãi hơn nhiều. Ở đây, ngoài cái nghĩa hiểu nhận là đau khổ, danh từ dukkha còn bao quát những khái niệm thâm trầm hơn về cái lẽ vô thường, không vô ngã, xung khắc. Vậy thấy rõ không thể nào tìm ra một danh từ khác đủ nghĩa bằng danh từ dukkha trong văn cú của đệ nhất Thánh đế.

    Phật giáo không chối cãi rằng trong đời không có hạnh phúc. Trái lại, Phật giáo nhìn nhận có nhiều thứ hạnh phúc, vật chất và tinh thần, mà kẻ tại gia cũng như những người xuất gia đều hưởng được. Nhưng những hạnh phúc ấy không lọt khỏi vùng dukkha. Dù ở những bậc tham thiền nhập định tới trình độ cao nhất đi nữa, mà tâm trạng được hoàn toàn thanh tịnh, hoàn toàn giải thoát mọi thống khổ, theo nghĩa thông thường và được xem như một trạng thái an lạc khó tả, dù trong chánh định là lúc mà tâm không còn thấy khổ, thấy sướng, luôn luôn bình đẳng, luôn luôn sáng suốt, tất cả những “thiền duyệt”(5) ấy cũng còn kẹt trong vòng dukkha. Còn kẹt, vì còn bị chi phối, vì còn chịu luật biến dịch, vì vô thường, vì vô ngã.

    Cái khái niệm về dukkha có thể xét nét dưới ba quan điểm:

    1- Quan điểm khổ (dukkha-dukkhatà), 2- Quan điểm biến dịch (viparinama-dukkhatà), 3- Quan điểm duyên khởi, uẩn tập (sankhara-dukkhatà).

    Tất cả những hình thức đau khổ gặp trên bước thế đồ, nhưng những đau khổ thuộc về sanh, già, bệnh, chết, tất cả những gì thuộc về các cảnh đứt ruột nát lòng, như thương mà phải lìa, muốn mà không được, lại như những phút sầu muộn, cực lòng, nguy khốn, nói tóm lại, tất cả những gì mà toàn thể nhân loại đồng ý công nhận là đớn đau, đều nằm trong dukkha, dưới cái quan điểm thứ nhất là khổ.

    Một tình trạng thích ý, một địa vị sung sướng có bao giờ lâu dài. Chẳng sớm thì muộn, phải có sự thay đổi. Những cái ấy mà mất đi thì tránh sao khỏi buồn rầu, đau khổ. Sự biến thiên ấy cũng nằm trong dukkha, dưới cái quan điểm biến dịch.

    Cái hình thức thứ ba của dukkha, dưới quan điểm uẩn tập, đòi hỏi vài giải thích. Muốn hiểu thế nào là uẩn tập, cần phải phân tách cái mà chúng ta quen xem như một “vật”, một “cá nhân”, cái mà chúng ta gọi là “ta”. Tất cả những cái ấy, theo Phật giáo, chỉ là một sự kết hợp của nhiều năng lực luôn luôn biến dịch, trong đó người ta nhận thấy có năm khối chồng chất, tập hợp mà thành (pancakkandha = ngũ uẩn). Đức Phật dạy : “Nói tắt, năm uẩn ấy là dukkha”. Thật vậy, cần phải nhận rõ rằng dukkha và năm uẩn không phải riêng khác nhau, mà năm uẩn là dukkha vậy. Chúng ta sẽ hiểu rõ lẽ này hơn, nếu chúng ta tìm xét coi năm uẩn ấy là gì, năm uẩn mà sự tổng hợp kết thành cái mà chúng ta đồng ý gọi một “vật”.

    Uẩn thứ nhất (rùpakkhanda = sắc uẩn) thuộc về vật chất. Triết học Phật giáo dùng danh từ này để chỉ bốn yếu tố trọng đại (tứ đại), là ba yếu tố bền chặt (địa), yếu tố lỏng chảy (thủy), yếu tố tinh lực (hỏa) và yếu tố lay động (phong), luôn cả những cái tùy thuộc của bốn yếu tố ấy. Những tùy thuộc này gồm có năm giác quan vật chất, lấy mắt, tai, mũi, lưỡi và thân làm cơ sở, luôn cả những đối tượng của những giác quan ấy ở ngoại cảnh là: Những hình tướng mắt thấy, tiếng tăm, mùi vị, những vật đụng chạm và những vật do tâm thức hình dung (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Vậy sắc uẩn bao gồm trọn vẹn cái cảnh giới vật chất, sắc tướng của thân và tâm.

    Uẩn thứ nhì (vedenàkkhandha = thọ uẩn) là khối cảnh giác, gồm tất cả những cảnh giác của chúng ta, bất luận lạc hay khổ, hoặc không lạc mà cũng không khổ, do sự tiếp xúc của những giác quan với ngoại cảnh làm nảy sanh, như khi mắt tiếp xúc với hình dáng, tai tiếp xúc với tiếng tăm, mũi tiếp xúc với các thứ mùi, lưỡi tiếp xúc với các thứ vị, thân tiếp xúc với những rờ đụng được và chốt hết khi ý thức (mà tâm lý học Phật giáo xem như giác quan thứ sáu) tiếp xúc với những vật tưởng tượng. Vậy tất cả những cảm giác thuộc về thể xác và tâm thức đều xếp vào cái uẩn thứ nhì này.

    Uẩn thứ ba (sannakkhandla = tưởng uẩn) là khối của tư tưởng, do sự tiếp xúc với ngoại cảnh mà phát sinh, giống như những cảm giác.

    Uẩn thứ tư (sankhàrakkhandha = hành uẩn) là khối của những hành động trong tâm thức, hoặc thiện hoặc ác và có thể tạo những hậu quả về mặt nghiệp báo. Như sự chú ý (manasikàra), ý chí (chanda), quyết định (adhimokkha), tin cậy (saddhà), định ý (samàdhio), trí tuệ (pannà), trí lực (viriya), tham lam (raga), sân hận (patigha), kiêu mạn (màna), ngã kiến, ngã chấp (sakkàyaditthi), v.v.. Tâm lý học Phật giáo phân tích có 52 thứ hành động của tâm thức mà tổng số kết thành hành uẩn.

    Uẩn thứ năm (vinnànakkhandha = thức uẩn) là cái khối của tâm thức hay tri thức. Tri thức là một phản ứng, là một lời đáp, lấy mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý làm cơ sở (căn) và lấy một hiện tượng bên ngoài làm đối tượng (trần). Nhãn thức (cái biết bằng mắt), thí dụ, lấy mắt làm “căn” và lấy một hình dáng thấy được làm “trần”. Những cái thức ấy của các “căn” khác cũng thế.

    Đại khái, năm uẩn là như vậy. Cái mà chúng ta quen gọi một”vật”, một”người” hay “ta” chỉ là một cái danh đặt ra để chỉ cái khối năm uẩn ấy mà cơ cấu có thể như một thế này hay như một thế khác. Năm uẩn này vô thường vì nằm trong cái dòng sinh, diệt triền miên, bất đoạn. Một vật này mất, để làm duyên cho một vật khác sinh ra, sinh diệt, diệt sinh kết thành một tràng nhân quả liên tục. Tất cả những cái sinh diệt, diệt sinh ấy ví như một bức màng mà phía sau không có một cái gì có thể gọi là “chủ tể” thường còn (àtman), là một cá tánh; không có gì, chân chính mà nói, đáng gọi là”ta”. Vật chất là “ta” ư? Cảm giác, tư tưởng là “ta” ư? Những tính toan lo nghĩ, những cái biết bằng mắt, bằng tai v.v.. là “ta” ư? Không, trong tất cả những cái ấy, không một cái nào đáng gọi thực là “ta”. Lúc nào những khối vật chất và tình thức (chỉ năm uẩn) cùng nhau tương giao tương hợp trong cái máy thân tâm ấy thì ý niệm “ta” nảy sinh. Nhưng đó là một ấn tượng (impssion) sai lầm. Cái “ta” hư phù (apparent) ấy, thật ra, không gì khác hơn là một ý niệm (idée), là một trong 51 cái “tâm sở” mà các nhà tâm lý học tinh vi của Phật giáo đã tìm thấy khi phân tách cái khối “hành uẩn”. Toàn thể năm uẩn, mà ta xem như là một vật, là dukkha với cái nghĩa là những trạng thái duyên khởi (sankhàra-dukkhatà). Không có “vật” nào, không có “chủ tể” nào đứng phía sau năm uẩn để thọ dukkha (khổ). Nói một cách khác, không có người tư tưởng đứng sau tư tưởng, không có tâm vương đứng sau tâm sở. Chính tư tưởng là người tư tưởng, chính tâm sở là tâm vương đó. Lấy tâm sở đi, không còn tâm vương. Cái quan niệm này của Phật giáo thật là trái hẳn với câu: ‘Tôi tư tưởng, vậy thời có tôi” của Descartes.

    Cái chân lý về dukkha là vậy. Chân lý ấy không mảy may làm cho đời sống người Phật tử buồn thảm, ảo não như một số người lầm tưởng. Một đệ tử chân chính của Phật, trái lại, người hết sức sung sướng trên thế gian: Không sống trong sợ sệt, âu lo, luôn luôn bình thản, an nhàn, không xao động trước những biến cố, không thất kinh tán đảm trước tai họa, “vì như thị” mà nhìn mà nhận vạn vật. Đức Phật trọn đời không biết buồn là gì. Các người đồng thời với Ngài đều nói rằng lúc nào cũng thấy Ngài với “nụ cười trên môi”. Dù vẽ trên tranh, dù đắp thành tượng, gương mặt Ngài đều được nhất luận diễn tả dưới những nét hoan hỷ và an tĩnh. Không khi nào trên gương mặt ấy ta thoáng thấy một vẻ u buồn, phiền muộn. Hai quyển sách xưa, Theragàthà và Therigàthà, chứa đầy những lời hoan lạc của các thiện nam tín nữ đã nhờ giáo pháp của Ngài mà sống trong an lạc. Một hôm, vua nước Kosala bạch với Phật: Không biết thế nào mà đệ tử các đạo giáo khác, mỗi khi gặp họ, thì thấy họ có vẻ hung tợn, khắc nghiệt, mặt mét, mình gầy, còn trái lại đệ tử của Ngài, ông nào ông nấy đều vui tươi, bình tĩnh, mặt mày như hoa nở, thung dung, tự tại, an nhiên, tâm hồn thư thái lạ lùng”. Nhà vua nói thêm:”Các đại đức mà được thanh tịnh như thế, chắc chắn là đã thực chứng được cái giáo lý cao cả và thâm sâu của Thế Tôn”(6). Tinh thần của Phật giáo là hoàn toàn nghịch hẳn với một thái độ trầm ngâm và ủ rủ, vì đó là một trở ngại cho sự tu chứng. Lại nữa, nên nhớ rằng Hỷ là một trong bảy đức tánh cần phải trau dồi, để chứng quả Niết bàn.

    Trích tạp chí Từ Quang, số 91, tr 03-10, Sài Gòn tháng 8 năm 1959

    (1) Dhammapada (Kinh Pháp cú),III, 4

    (2) Dhammapada (Kinh Pháp cú), XX, 4

    (3) Anguttara-nikâya

    (4) Majjuima-nikâya

    (5) Thiền duyệt: Cái vui trong lúc thiền định

    (6) Majjhima-nilâya, II.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Giáo Lý Duyên Khởi
  • Những Giáo Lý Cơ Bản Để Tìm Hiểu Bát Nhã Tâm Kinh
  • Tổng Hợp 25 Đề Tài Luận Văn Triết Học Phật Giáo Hay Nhất
  • Tìm Hiểu Về Vô Thường Trong Triết Học Phật Giáo
  • Triết Học Phật Giáo (Nền Tảng Của Đạo Phật)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100