Tìm Hiểu Sách Kinh Thánh

--- Bài mới hơn ---

  • Kinh Thánh: Tác Phẩm Văn Hóa Vô Giá Của Nhân Loại
  • Kính Thánh Công Giáo Là Gì?
  • Đảng Bộ Tỉnh Thanh Hóa Ra Đời Là Bước Ngoặt To Lớn Trong Lịch Sử Cách Mạng Tỉnh Nhà
  • Dấu Son Trong Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Đồng Nai
  • 990 Năm Danh Xưng Nghệ An: Những Dấu Mốc Của Tiến Trình Lịch Sử
  • Từ “Sách Kinh Thánh”, “Sách Thánh”, ‘Kinh Thánh” xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ. Ta Biblia (τὰ βιβλία) trong tiếng Hy Lạp là danh từ  số nhiều, có nghĩa là “những quyển sách” hay “những cuộn sách”. Khi từ này được tiếng Latinh dùng lại, nó chuyển nghĩa thành danh từ số ít và có nghĩa là “quyển sách”. Do đó, nguồn gốc của từ này cho ta biết rằng Kinh Thánh là một bộ sưu tập nhiều quyển sách; nhưng đồng thời, từ này cũng cho thấy đây là một quyển sách quan trọng đến nỗi không có từ nào khác có thể chuyển tải được ý nghĩa ngoài từ “Quyển Sách”.

    Kinh Thánh chia làm mấy phần và tỉ lệ giữa các phần đó như thế nào trong Kinh Thánh?

    Kinh Thánh Kitô giáo được chia thành 2 phần chính: Cựu Ước và Tân ước. Từ “ước” có nghĩa là giao ước. Những quyển sách đầu tiên của Kitô giáo đề cập đến giao ước “cũ” hay giao ước “đầu tiên” giữa Thiên Chúa và dân của Người là Israel, và giao ước mới. Cựu ước gồm những diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và dân người suốt nhiều thế kỷ trước khi Chúa Giêsu đến. Tân Ước diễn tả tương quan mới mà Thiên Chúa đã khởi sự với con người ngang qua cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu và thiết lập giáo hội nhờ Chúa Thánh Thần.

    Khi chúng ta để ý đến tỉ lệ phân chia giữa Cựu Ước và Tân Ước, ta thấy rằng, Cựu Ước dài hơn Tân Ước ít nhất 3 lần. Cựu Ước là một bộ gồm 46 sách riêng biệt vốn được viết trong nhiều thế kỷ.Tân Ước có 27 quyển và chỉ được viết trong một vài thập kỷ.

    Công Tùng SJ

    Chuyển ngữ theo Stephen J. Binz,  A Catholic Guide to Studying Scripture

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Thánh Kinh 1. Sách Thánh, Niềm Tin
  • Những Điều Bí Ẩn Của Kim Tự Tháp Ai Cập Chưa Có Lời Giải
  • Vòng Chung Kết Và Trao Giải Cuộc Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu Pháp Luật Về An Toàn Giao Thông Trong Đoàn Viên, Thanh Niên
  • Giáo Án Vật Lý 6
  • Giáo Án Môn Học Vật Lý Lớp 6
  • Tìm Hiểu Thánh Kinh 1. Sách Thánh, Niềm Tin

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Sách Kinh Thánh
  • Kinh Thánh: Tác Phẩm Văn Hóa Vô Giá Của Nhân Loại
  • Kính Thánh Công Giáo Là Gì?
  • Đảng Bộ Tỉnh Thanh Hóa Ra Đời Là Bước Ngoặt To Lớn Trong Lịch Sử Cách Mạng Tỉnh Nhà
  • Dấu Son Trong Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Đồng Nai
  • Kinh Thánh từng là cuốn sách được đọc nhiều nhất trong hai ngàn năm. Sách đề cập đến mọi hoàn cảnh của con người, phản ánh mọi cảm xúc, và vẽ ra những bức tranh sống động của mọi loại người — tốt và xấu. Đó là sách văn chương vĩ đại, sách sử sống động, sách thơ anh dũng, và những câu chuyện không thể quên. Những đoạn như “Chúa là mục tử của tôi” (Thánh Vịnh 23) và dụ ngôn Người Con Hoang Đàng của Chúa Giêsu (Luca 15:11-32) thường nổi tiếng và được yêu mến bởi hàng trăm triệu người trên toàn thế giới.

    Lm. Oscar Lukefahr C.M. – Dịch giả: Pt. Giuse Trần Văn Nhật

     

    PHẦN I: ĐI VÀO KINH THÁNH

     

    1. SÁCH THÁNH, NIỀM TIN & NHỮNG SƠ KHỞI

    Chữ Kinh Thánh Có Nghĩa Gì

    Một câu có nghĩa khen ngợi trong một văn hóa lại có thể mang ý nghĩa xỉ nhục trong một văn hóa khác. Một chữ thích hợp trong một ngôn ngữ lại có thể là một lựa chọn sai lầm trong một văn hóa khác. Thí dụ, vài năm trước đây, hãng Chevrolet sản xuất chiếc xe được gọi là “Nova”. Xe này được xuất cảng sang Mễ Tây Cơ, ở đây cái tên này làm người ta bối rối. Tiếng Tây Ban Nha, No va có nghĩa “nó không đi”!

     

    Kinh Thánh được viết từ xa xưa trong quãng thời gian khoảng một ngàn năm bởi những người thuộc về văn hóa rất khác với chúng ta và họ nói các thứ tiếng mà chúng ta không hiểu. Kinh Thánh sử dụng các hình thức văn chương đã thay đổi nhiều so với văn chương của chúng ta. Nhiều chữ quan trọng của Kinh Thánh (những lời của Chúa Giêsu) được nói bằng một ngôn ngữ (Aramaic), được viết xuống bằng một ngôn ngữ khác (Hy Lạp), và được dịch sang một ngôn ngữ thứ ba (Việt Nam). Không lạ gì chúng ta có nhiều khó khăn để phân biệt ý nghĩa của Kinh Thánh.

     

    Giáo Hội Công Giáo và nhiều giáo phái Kitô khác tin rằng ngoài con người, Kinh Thánh còn có Thiên Chúa là tác giả. Điều này có nghĩa chúng ta có thể mong đợi một mức độ đáng tin cậy nào đó. Nhưng nó cũng thêm phức tạp. Làm thế nào Thiên Chúa và con người lại có thể là tác giả của cùng những sáng tác? Phải giải thích thế nào về những sáng tác đó?

     

    Lập trường chính thức của Giáo Hội Công Giáo là cho rằng Thiên Chúa đã linh ứng cho các tác giả người trần để viết xuống với các tài nghệ, khả năng, và kiểu cách của họ. Thiên Chúa không đọc cho họ viết xuống hoặc sử dụng họ giống như các nghệ nhân nói nhại tiếng (ventriloquist) khi điều khiển các người nộm. Vì thế, chúng ta có thể hiểu các phần của Kinh Thánh bằng cách trở về thời gian và nơi chốn của tác giả người trần và khám phá ra điều mà tác giả này muốn bầy tỏ.

     

    Việc chuyển dịch Kinh Thánh sẽ được nghiên cứu chi tiết về sau. Điều hiển nhiên bây giờ là Kinh Thánh phải được dẫn giải. Có những người nói rằng chúng ta có thể phân biệt Kinh Thánh chỉ bởi chữ viết. Nhưng đoạn văn của hàng ngàn năm trước và Kinh Thánh được viết bằng ngôn ngữ cho các văn hóa khác nhau có nghĩa sự nghiên cứu và dẫn giải là điều cần thiết nếu chúng ta muốn hiểu biết đúng đắn về Kinh Thánh.

     

    Để minh họa thêm điểm này, chúng ta chỉ cần nhìn đến một vài đoạn trích từ Kinh Thánh. Thánh Vịnh 144:1 nói về Thiên Chúa: “Chúc tụng Chúa, đá tảng của tôi.” Có phải điều này có nghĩa Thiên Chúa là khoáng sản cứng rắn hay nó có nghĩa Thiên Chúa là đấng tạo hóa toàn năng mà chúng ta có thể nương tựa vào? Sự dẫn giải thì cần thiết. Một thí dụ khác có thể tìm thấy trong Luca 14:26, Chúa Giêsu nói, “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em, và ngay cả chính mình, thì không thể là môn đệ của tôi.” Có phải Chúa Giêsu muốn nói theo nghĩa đen là chúng ta phải bỏ tất cả bà con thân thích của chúng ta? Hay tiếng Aramaic mà Chúa Giêsu nói thì có một ý nghĩa nào đó? Một lần nữa, sự dẫn giải thì tuyệt đối cần thiết!

     

    Nghiên Cứu của Học Giả và Kinh Thánh

     

    Ý tưởng dẫn giải Kinh Thánh làm cho một số người Công Giáo cảm thấy bứt rứt. Có thể họ nghe rằng một số đoạn Kinh Thánh từng được cho là có tính cách lịch sử nhưng bây giờ lại được dẫn giải một cách khác. Có phải điều này có nghĩa là toàn bộ Kinh Thánh chỉ là một loại chuyện thần tiên?

     

    Chắc chắc không. Trong những năm gần đây có những thay đổi về sự hiểu biết của chúng ta về các phần của Kinh Thánh. Những thay đổi này là vì những khám phá mới của các học giả trong các lãnh vực ngôn ngữ, khảo cổ, và lịch sử.

     

    Ngôn ngữ: Trong thế kỷ mười chín và hai mươi, các tài liệu chưa từng biết từ thời Kinh Thánh đã được đem ra ánh sáng. Các nguyên bản bằng tiếng Ai Cập, Assyria, Babylon, Ba Tư, Aramaic, và nhiều ngôn ngữ khác đã giúp các học giả giải đoán cách hành văn và suy nghĩ cổ xưa. Những khám phá như của “Dead Sea Scrolls” (các bản sao Kinh Thánh và các văn chương khác được tìm thấy trong các hang động ở sa mạc vùng đông nam Giêrusalem) vào năm 1947 đã giúp các nhà nghiên cứu tiến bộ đáng kể về sự hiểu biết Cựu và Tân Ước.

     

    Khảo cổ. Trong hai thế kỷ gần đây, các nhà khảo cổ đã chiếu rọi ánh sáng mới trên Kinh Thánh. Các lăng tẩm và toàn thành phố được đào xới và nghiên cứu ở Ai Cập, Palestine, và các vùng quan trọng khác đối với Kinh Thánh. Hầu như mọi góc cạnh của đời sống được nhắc đến trong Kinh Thánh thì đều được sáng tỏ cách nào đó.

     

    Lịch sử. Được trợ giúp bởi các khám phá của khảo cổ học, các sử gia có được một hình ảnh chính xác hơn về thời cổ xưa. Họ có thể ghi nhận những sự kiện có thật về lịch sử trong Kinh Thánh và phân biệt với những phần Kinh Thánh không có tính cách lịch sử.

     

    Kết quả là có lẽ chúng ta ở một vị thế tốt hơn để hiểu được ý nghĩa nguyên thủy của các tác giả Kinh Thánh hơn bất cứ ai kể từ thời Đức Giêsu. Có lẽ chúng ta phải duyệt lại cách nhìn đến một số phần của Kinh Thánh, nhưng điều này không ám chỉ rằng toàn bộ Kinh Thánh là chuyện thần tiên. Trong Kinh Thánh có lịch sử. Nhưng cũng có các dụ ngôn, thơ văn, chuyện ngắn, bài hát, kịch, truyện phiếm, và các loại thể văn khác.

     

    Tất cả những điều này dường như ngút ngàn. Thật đúng là để hiểu về ngôn ngữ, văn hóa, và lịch sử thời xưa cần có một phương pháp nghiên cứu vượt quá khả năng của rất nhiều người. Nhưng các học giả Kinh Thánh đã đặt được nền tảng này cho chúng ta. Với sự giúp đỡ của họ, chúng ta có thể học cách nhận biết và hiểu được các hình thức văn chương của Kinh Thánh cũng như chúng ta nhận biết và hiểu được các loại văn chương phổ thông ngày nay.

     

    Mỗi lần mở những bản dịch hiện nay về Kinh Thánh, chúng ta được hưởng những ích lợi từ những nghiên cứu của các học giả. Những bản dịch như thế thì gần với các bản viết tay nguyên thủy hơn là bản dịch Douay của Công Giáo hay King James của Tin Lành. Chúng ta có thể thấy phần dẫn nhập của các sách trong Kinh Thánh cũng như những ghi chú về lịch sử đã qua và giải thích những đoạn khó hiểu.

     

    Một điểm cần lưu ý. Sách này thường nhắc đến các học giả Kinh Thánh và đề cập đến các công trình của họ. Ở đây, mọi nỗ lực là trung thành với những giảng dậy của Giáo Hội Công Giáo và trình bày các quan điểm theo chiều hướng được Giáo Hội đặt ra. Nhưng quan điểm của các học giả có thể thay đổi khi có chứng cớ mới được khám phá bởi các nhà khảo cổ, ngôn ngữ, và sử gia. Điều này không làm chúng ta hoảng hốt. Đức tin của chúng ta không dựa vào những suy đoán của các học giả, nhưng dựa trên sự khôn ngoan và thẩm quyền của Thiên Chúa. Trong khi các lý thuyết và quan điểm của học giả thay đổi, các học thuyết căn bản mà Giáo Hội Công Giáo dựa vào đó thì vững chắc và tồn tại vì chúng xuất phát từ Đức Giêsu Kitô, là Chúa của chúng ta, đấng “vẫn như vậy, hôm qua và ngày nay và muôn đời” (Dt 13:8).

     

    Những Bản Dịch Kinh Thánh Hiện Đại

    Không có bản viết tay của các tác giả nguyên thủy còn tồn tại cho đến ngày nay. Các bản viết tay xưa nhất hiện có là các bản sao và bản dịch, một số có từ hai ngàn năm, một số còn xưa hơn nữa. Trong các thế kỷ qua, có nhiều bất đồng về những gì các sách nguyên thủy nói. Nhưng sự tiến bộ trong ngành khảo cổ, ngôn ngữ học, và lịch sử đã giúp các học giả đạt được sự đồng ý về thực chất của các bản văn nguyên thủy.

     

    Kết quả là nhiều sự khác biệt quyết liệt trước đây trong các bản dịch Kinh Thánh của Tin Lành và Công Giáo đã được giảm bớt. Thí dụ, phần thêm vào kinh Lậy Cha không có trong Kinh Thánh, “For thine is kingdom, the power, and the glory” (Vì vương quyền, uy lực và vinh hiển là của Ngài) được lấy ra khỏi các bản dịch Tin Lành sau này. Tuy nhiên, hiện thời có nhiều bản dịch Anh Ngữ của Tin Lành cũng như Công Giáo khiến người ta thường hỏi, “Tại sao lại nhiều như vậy?” và “Tôi phải dùng bản dịch nào?”

     

    Có nhiều bản dịch chỉ vì một chữ có nhiều nghĩa và được dịch khác nhau. Một dịch giả muốn dùng chữ “help” (giúp đỡ), trong khi người khác có thể thích chữ “assist” (phụ giúp). Với một nhà ngôn ngữ học, chữ “love” (tình yêu) có vẻ thích hợp trong một số hoàn cảnh hơn chữ “charity” (bác ái), trong khi với một số người khác, chữ “charity” có vẻ hợp hơn.

     

    Một số bản dịch theo sát ngôn ngữ gốc, trong khi những bản dịch tự do hơn lại đổi chữ và định nghĩa lại các ý tưởng. Cách thứ nhất có thể đem lại một ấn bản trung thực trình bày ý tưởng của tác giả nguyên thủy, nhưng ngôn ngữ có thể gập ghềnh. Cách thứ hai có thể được lợi khi tạo ra một văn bản dễ đọc, nhưng nó cũng có thể áp đặt các thành kiến của dịch giả trên nội dung.

     

    Có nhiều ấn bản tiếng Anh đã được phê chuẩn cho người Công Giáo ở Hoa Kỳ ngày nay. Trong đó là Jerusalem Bible, New American Bible, và New Revised Standard Version of the Bible. Đó là những bản dịch hay, đáng tin cậy mà một đàng không bị gập ghềnh và đàng khác không chỉ là những chú giải dài dòng. Bản dịch New Revised Standard Version of the Bible (được dùng cho Catechism of the Catholic Church , nhưng đôi khi là dấu phẩy hay chấm phẩy [Việt Nam]), sau đó là các số biểu thị các câu. Vậy, Mt 2:19-23 có nghĩa Phúc Âm Mátthêu, chương 2, câu 19 đến 23.

     

    Nếu trích dẫn ám chỉ nhiều hơn một chương, nó được viết Mt 2:19 — 3:6, có nghĩa Phúc Âm Mátthêu, chương 2 câu 19 cho đến chương 3 câu 6.

     

    Đôi khi các câu trong cùng một chương được đề cập đến, trong khi các câu khác không cần để ý. Một dấu phẩy được dùng để cho biết các câu không cần để ý. Thí dụ, 1 Cv 2:1-4, 10-11 ám chỉ Sách Các Vua quyển I, chương 2, câu 1 đến câu 4 và câu 10 đến câu 11. (Các câu 5 đến 9 bị bỏ qua).

     

    Lúc đầu hệ thống này có vẻ lộn xộn, nhưng nó trở nên dễ hơn khi người đọc quen thuộc với Kinh Thánh và với cách tìm kiếm các đoạn. Từ đây trở đi, các trích dẫn Kinh Thánh trong sách này sẽ dùng các chữ tắt.

     

    Giúp Đọc Kinh Thánh

     

    Có hàng ngàn sách cung cấp thông tin về Kinh Thánh. Một số sách rất hữu ích và phù hợp với sự giảng dậy của Công Giáo. Một số tài liệu khác, ngay cả tự cho rằng không thuộc giáo phái nào, thì trái với giáo lý Công Giáo và tấn công đức tin Công Giáo. Độc giả có thể đánh giá các tài liệu này bằng sách đọc sơ trong thư viện hoặc lướt qua các sách về Kinh Thánh trong một tiệm sách Công Giáo.

     

    Đức Tin và Kinh Thánh

    Kinh Thánh từng là cuốn sách được đọc nhiều nhất trong hai ngàn năm. Sách đề cập đến mọi hoàn cảnh của con người, phản ánh mọi cảm xúc, và vẽ ra những bức tranh sống động của mọi loại người — tốt và xấu. Đó là sách văn chương vĩ đại, sách sử sống động, sách thơ anh dũng, và những câu chuyện không thể quên. Những đoạn như “Chúa là mục tử của tôi” (Thánh Vịnh 23) và dụ ngôn Người Con Hoang Đàng của Chúa Giêsu (Luca 15:11-32) thường nổi tiếng và được yêu mến bởi hàng trăm triệu người trên toàn thế giới.

     

    Nhưng lý do chính tại sao Kinh Thánh lại được đọc nhiều nhất là vì nó được linh ứng bởi Thiên Chúa. Điều này có nghĩa Thiên Chúa ảnh hưởng đến các tác giả người trần để dậy bảo các chân lý cần thiết cho sự cứu độ chúng ta. Sau đó, Thiên Chúa ban cho chúng ta cuốn Kinh Thánh để trả lời câu hỏi lớn lao nhất trong cuộc đời. “Tại sao chúng ta lại ở đây?” “Đâu là nguồn của tạo vật?” “Có Thiên Chúa không, và nếu có, Thiên Chúa giống như gì?” “Chúng ta phải sống như thế nào?” “Điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta chết?”

     

     

    Kinh Thánh mời gọi một đáp trả. Chúng ta có thể thích thú đọc một cuốn tiểu thuyết thật hay mà không phải thay đổi gì trong lối sống. Nhưng khi đọc Kinh Thánh, chúng ta bị thách đố để tin và hy vọng, để yêu mến và để cho đi, để hy sinh và chia sẻ, để tha thứ và được thứ tha, để lớn lên và tín thác. Chúng ta có thể quý trọng Kinh Thánh như một tác phẩm vĩ đại, nhưng chúng ta chỉ thực sự hiểu Kinh Thánh khi chúng ta coi đó như một phương tiện để đối thoại với Thiên Chúa sống động.

     

    Một vài năm trước đây tôi gặp một cụ bà bị bệnh ung thư ở giai đoạn cuối. Sau khi chúng tôi nói về căn bệnh, tôi hỏi cụ là có sợ chết không. Cụ trả lời, “Ồ, không. Chúa Giêsu sẽ cầm tay con dẫn con lên thiên đường. Con muốn ở với chồng con, cha mẹ của con. Con biết rằng Thiên Chúa sẽ lo cho con.”

     

    Cụ biết rõ Kinh Thánh! Có thể cụ không trích dẫn được một câu Kinh Thánh nào, nhưng cụ biết Chúa Giêsu hứa những gì, và cụ tin như thế! Ngược lại, rất có thể một học giả biết rõ những gì Chúa Giêsu nói về sự sống đời đời nhưng lại không tin vào lời ấy. Mục tiêu của chúng ta trong sự học hỏi Kinh Thánh là biết những gì Thiên Chúa nói trong Kinh Thánh và tin và sống những lời ấy.

     

    Có lúc chúng ta quay về với Kinh Thánh để học hỏi nội dung. Có lúc chúng ta mở Kinh Thánh như điểm khởi đầu của sự cầu nguyện. Có lúc chúng ta tìm đến Kinh Thánh để được hướng dẫn. Nhưng trong mọi trường hợp, chúng ta hãy mở đầu với lời cầu xin khiêm tốn: “Lậy Chúa, xin giúp con hiểu những lời của Ngài. Xin giúp con tin vào lời của Ngài. Xin ban ơn thêm sức để con có thể sống lời Ngài. Amen.”

     

    Câu Hỏi để Thảo Luận và Suy Tư

     

    Đoạn Kinh Thánh nào bạn ưa thích? Tại sao? Phần nào của cuốn Kinh Thánh làm bạn bối rối nhất? Tại sao?

    Khi bạn cầm cuốn Kinh Thánh, hay khi Kinh Thánh được đọc trong một nghi thức thờ phượng, bạn có ý thức rằng Thiên Chúa đang nói với bạn hay không? Phương cách nào có thể nhắc nhở bạn về thực tại này? (tỉ như tưởng tượng ra Chúa Kitô đang đứng ở tòa giảng và đọc Kinh Thánh cho bạn nghe).

    Sinh Hoạt

     

    Suy nghĩ về những câu hỏi quan trọng trong đời. Sau đó viết xuống lời cầu nguyện của bạn, xin Chúa giúp bạn tìm ra những câu trả lời trong Kinh Thánh. Hãy giữ lời cầu nguyện này trong cuốn Kinh Thánh và sử dụng nó mỗi khi bạn học hỏi hay đọc Kinh Thánh.

    NHỮNG CÂU TRẮC NGHIỆM

    Trả Lời       &       Câu Hỏi

    Kinh Thánh được viết xuống trong khoảng thời gian mười ngàn năm

    Thiên Chúa là tác giả của Kinh Thánh trong ý nghĩa Thiên Chúa đọc cho tác giả con người viết xuống những gì Thiên Chúa nói với họ

    Giáo Hội Công Giáo dạy rằng Thiên Chúa linh ứng các tác giả con người, cho phép họ dùng các tài năng riêng, và kiểu cách hành văn riêng

    Sự nghiên cứu và dẫn giải Kinh Thánh thì cần thiết nếu chúng ta muốn hiểu biết các ý nghĩa cách thích hợp

    Vì Kinh Thánh là lời của Thiên Chúa, nên không đúng để người Công Giáo phát triển hay thay đổi sự hiểu biết về các đoạn Kinh Thánh

    Các cuộc đào xới của khảo cổ gần đây đã giúp các học giả có được sự tiến bộ lớn lao trong sự hiểu biết Kinh Thánh; một khám phá quan trọng trong năm 1947 là (a) các bản viết tay nguyên thủy của Kinh Thánh; (b) cuốn Kinh Thánh Gutenberg; (c) các cuộn giấy Kinh Thánh tìm thấy trong vùng Biển Chết; (d) các bản sao Kinh Thánh thời trung cổ

    Nhờ những khám phá khảo cổ học mới đây, có lẽ chúng ta ở vào một vị thế để hiểu ý nghĩa nguyên thủy của các tác giả Kinh Thánh hơn bất cứ ai kể từ thời Chúa Kitô

    Vì Kinh Thánh là lời của Thiên Chúa, nó không thể chứa đựng những câu truyện tưởng tượng

    Được trợ giúp bởi sự nghiên cứu của các học giả, một người trung bình có thể nhận biết các thể loại văn chương của Kinh Thánh

    Ngày nay, giữa các học giả Tin Lành và Công Giáo có nhiều sự thỏa thuận về thực chất của các bản văn Kinh Thánh nguyên thủy hơn là trong quá khứ

    Kinh Thánh là một tổng hợp của nhiều cuốn sách

    Những phân chia chính của Kinh Thánh được gọi là Cựu Ước và Tân Ước, và toàn thể Cựu Ước được viết xuống trước khi Đức Kitô giáng sinh

    Trong hệ thống phổ thông được dùng để tìm các câu trong Kinh Thánh, 1 Pr 2:10 là một câu giới thiệu độc giả đến Thư I của T. Phêrô, chương 1, câu 2 đến câu 10

    1 Cv 2:1-4, 10-11 ám chỉ sách Các Vua quyển thứ nhất, chương 2, các câu 1 đến 4 và 10 đến 11

    Lý do chính mà Kinh Thánh là sách được nhiều người đọc nhất bởi vì nó được Thiên Chúa linh ứng

    Cách tiếp cận Kinh Thánh tốt nhất là hãy coi đó như một tác phẩm văn chương vĩ đại để nghiên cứu theo cùng một phương cách như các cuốn sách vĩ đại khác

    Kinh Thánh được Thiên Chúa ban cho chúng ta để giúp chúng ta trả lời những câu hỏi quan trọng trong đời sống

    Kinh Thánh phải được coi như một phương tiện để đối thoại với Thiên Chúa sống thực

    Mục đích của chúng ta khi nghiên cứu Kinh Thánh là tìm hiểu những gì Thiên Chúa nói trong Kinh Thánh và tin những gì Thiên Chúa dạy và hãy sống những điều đó

    Khi mở cuốn Kinh Thánh, chúng ta có thể đúng khi có mục đích (a) nghiên cứu; (b) cầu nguyện; (c) xin sự dẫn dắt; (d) a, b, hay c.

    Bất cứ mục đích của chúng ta là gì khi mở cuốn Kinh Thánh, chúng ta luôn bắt đầu với sự cầu nguyện

    Còn tiếp …

    https://www.nguoitinhuu.org/sachtruyen/CatholicGuideBible/ch01.html

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Bí Ẩn Của Kim Tự Tháp Ai Cập Chưa Có Lời Giải
  • Vòng Chung Kết Và Trao Giải Cuộc Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu Pháp Luật Về An Toàn Giao Thông Trong Đoàn Viên, Thanh Niên
  • Giáo Án Vật Lý 6
  • Giáo Án Môn Học Vật Lý Lớp 6
  • Jack Là Ai? Tiểu Sử Ca Sĩ Jack Trịnh Trần Phương Tuấn
  • Tìm Hiểu Kinh Thánh Tân Ước

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Tân Ước
  • Hội Thi Tìm Hiểu Luật Giao Thông Đường Bộ Và Kỹ Năng Lái Xe Mô Tô An Toàn Cho Sinh Viên Các Trường Đh Khu Vực Hà Nội Năm 2022
  • Lịch Sử Đồng Nai 2013, Sở Giáo Dục, Văn Bản, Thpt
  • Tìm Hiểu Cấu Hình Máy Tính Như Thế Nào Là Mạnh
  • Giáo Án Một Số Đồ Dùng Trong Gia Đình
  • Ki-tô Giáo

    Tìm hiểu Kinh Thánh Tân Ước

    Kinh Thánh Tân Ước có tổng cộng 27 sách, ra đời trong khoảng hai thế kỷ đầu sau Công nguyên. Khác với Kinh Thánh Cựu Ước, Kinh Thánh Tân Ước được trước tác trong một quãng thời gian tương đối ngắn, khoảng chừng một thế kỷ hoặc hơn. Nội dung chủ yếu của Kinh Thánh Tân Ước đề cập đến Đức Chúa Giê-su và công cuộc truyền giáo của Ngài cũng như các Thánh Tông đồ.

    Dẫn vào Tân Ước

    I. THIÊN CHÚA NÓI VỚI CON NGƯỜI

    Con người thời nay ngây ngất trước những vật thể vô cùng nhỏ và vô cùng lớn trong vũ trụ. Họ nghiên cứu những hạt tử nhỏ bé nhất và dự đoán được tuổi của vũ trụ. Ðối với nhiều người, vũ trụ mang dấu vết của Thiên Chúa, đó là nơi Thiên Chúa tỏ mình cho con người (x. Rm 1,19-20). Nhưng hình ảnh Thiên Chúa ta thấy qua vũ trụ còn nhiều nét chưa rõ ràng. Thiên Chúa khôn ngoan và nhân hậu không chỉ bằng lòng với việc tỏ mình qua tự nhiên, Người còn muốn ngõ lời với con người đã được dựng nên theo hình ảnh Người và đã gieo vào lòng họ nỗi khao khát khôn nguôi là được nhìn thấy Thiên Chúa.

    Ðể tỏ mình cho toàn thể nhân loại, Người đã chọn một nhóm người để làm thành một dân tộc, dân Ítraen. Người huấn luyện họ để họ cảm nhận được tình thương của Người và đáp lại bằng một lòng trung tín sắt son. Người đã đi vào dòng lịch sử của dân Ítraen để mặc khải bằng Lời và bằng các biến cố. Thưở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã nói với cha ông chúng ta qua các ngôn sứ (Dt.1,1). Thiên Chúa đã nói với con người qua con người và bằng ngôn ngữ loài người. Những nghiên cứu mới về ngữ học trong các thập niên vừa qua đã làm nổi bật tầm quan trọng của động từ “nói”. Thật vậy, khi khám phá ra những giá trị độc đáo của ngôn ngữ và những chiều kích phong phú của nó, con người mới thấy sự khôn ngoan của Thiên Chúa khi Người muốn mạc khải bằng ngôn ngữ loài người.

    Thiên Chúa đã nói qua miệng các ngôn sứ, nhưng những lời đó lại nhằm chuẩn bị cho Ngôi Lời, Con của Người xuất hiện vào thời viên mãn. Ngay cả những biến cố trong lịch sử dân Ítraen, tuy có giá trị và thế đứng riêng biệt, nhưng lại hướng về cái sắp đến. Chính Thiên Chúa đã đặt trong mỗi biến cố một mầm mống siêu vượt chính mình, để chuẩn bị cho Biến cố của mọi biến cố là Ðức Kitô. Dường như, nhờ một thời gian dài suy tư, chính người Do-thái cũng nhận ra điều đó. Họ thấy rằng những biến cố quá khứ chỉ là sự biểu lộ một phần ý định của Thiên Chúa ở một cấp độ bất toàn và càng lúc Người càng mặc khải trọn vẹn hơn ý định của Người. Biến cố xuất Aicập hướng đến việc giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Giao Ước Xinai bằng máu những con bò hướng đến một giao ước mới được ghi khắc trong lòng người (Gr. 31,31-34). Ðất hứa Canaan chỉ là hình bóng mờ nhạt của Thành Giêrusalem mới. Ngay cả những nhân vất trong lịch sử như vua, ngôn sứ, thủ lãnh, tư tế cũng xuất hiện như những người dọn đường cho một Ðấng khác cao vượt hơn họ.

    II. CÁC SÁCH TÂN ƯỚCVÀ NHỮNG THỂ VĂN CHÍNH

    Trong lịch sử dân Ítraen, Thiên Chúa đã lập giao ước với tổ phụ Ápraham (St. 15,18) và qua ông Môsê, Người đã lập giao ước với cả dân tộc này (Xh. 24,8). Trong niềm tin vào Ðức Giêsu Kitô, các nhà thần học Kitô giáo đầu tiên đều có chung một xác tín, đó là Ðức Giêsu khai mở giai đoạn chung cục của lịch sử cứu độ. Nơi Người mọi lời hứa với cha ông được thành tựu, và niềm hy vọng từ bao đời nay được Thiên Chúa cho thành hiện thực. Một giao ước mới đã thành hình, giao ước trong máu Ðức Kitô (1 Cr. 11,25), đổ ra một lần là đủ (Dt. 9,23-26). Thánh Phaolô đã gọi luật Môsê là giao ước cũ (2 Cr 3,14). Giao ước cũ và giao ước mới có một sự duy nhất, vì do cùng một Thiên Chúa là tác giả. Giao ước cũ đạt được sự hoàn tất viên mãn của mình nơi Ðức Giêsu.

    Các Kitô hữu thế hệ đầu tiên, cũng như các người Dothái bây giờ, coi Kinh Thánh là lời của Thiên Chúa; nhưng Kinh Thánh lúc đó mới chỉ là phần mà ngày nay chúng ta gọi là Cựu Ước thôi. Phải đợi một thời gian lâu sau, những sách mà nay ta gọi là các sách Tân Ước mới được nhìn nhận là Lời Chúa, ngang hàng với các sách khác của Cựu Ước. Chúng ta sẽ bàn về diễn tiến của việc xác định thư quy trong phần sau.

    Tập sách Tân Ước gồm 27 cuốn, được viết bằng tiếng Hylạp phổ thông trong thời bấy giờ. tuy gọi là cuốn, nhưng thực ra có những thư chỉ dài khoảng một hai trang (2 Gioan, 3 Gioan, Philêmôn). Ta có thể tạm chia các sách Tân Ước làm bốn loại, dựa trên bốn thể văn khác nhau.

    1. Thể văn TIN MỪNG

    Bốn sách đầu tiên của bộ Tân Ước được viết theo thể văn này, đó là các sách Tin Mừng (còn gọi là sách Phúc Âm) theo thánh Matthêu, thánh Máccô, thánh Luca và thánh Gioan. “trong toàn bộ Kinh Thánh và thậm chí ngay cả Tân Ước nữa, các sách Tin Mừng có tính ưu việt trên hết, vì những sách đó là những chứng từ tuyệt vời về cuộc đời và lời giáo huấn của Ngôi Lời nhập thể, Ðấng Cứu Ðộ chúng ta” (MK 18). Công đồng Vaticanô II đã coi các sách Tin Mừng như những chứng từ thành văn của các Tông Ðồ hay của những vị đã sống bên các Tông Ðồ ghi chép lại do ơn linh hứng của Thánh Thần. Ðó là một chứng từ đức tin mang hai đặc điểm sau đây. Trước hết, chứng từ này được viết lại sau những biến cố nền tảng của Kitô giáo: phục sinh, thăng thiên và hiện xuống. Các biến cố này như những luồng sáng chiếu dọi vào toàn bộ cuộc đời Ðức Giêsu, khiến cho các Tông Ðồ có một hiểu biết thâm trầm hơn về các việc làm và lời nói của Người. Kế đó, chứng từ này mang đậm nét đặc thù của từng tác giả. Khi soạn thảo các sách Tin Mừng, mỗi tác giả đã phải chọn lựa những yếu tố đã được truyền khẩu hay được ghi lại thành văn, cộng thêm những hiểu biết riêng của mình mà làm nên một tác phẩm. Tác phẩm này được viết cho một giáo đoàn nhất định và với một mục đích nhất định.

    Có một câu hỏi được đặt ra một cách gay gắt trong suốt thế kỷ XX, đó là câu hỏi về lịch sử tính của các sách Tin Mừng, hay nói khác đi: những gì các sách Tin Mừng kể lại có thật không? Công đồng Vaticanô II đã long trọng khẳng định lịch sử tính của các sách Tin Mừng: các sách này trung thành truyền lại những gì Ðức Giêsu thực sự đã làm và đã dạy, các tác giả thánh luôn luôn truyền đạt cho chúng ta những điều chân thật về Ðức Giêsu (x. MK 19). Nhưng vì các sách Tin Mừng là những chứng từ đức tin, nên ta đừng hiểu lịch sử tính ở đây theo nghĩa là các tác giả đã ghi âm hay chụp lại những gì Ðức Giêsu đã nói và làm vào chính lúc xảy ra. Các sách Tin Mừng còn có một bề dày phong phú hơn nhiều. Ðó vừa là chứng từ về Ðức Giêsu lịch sử, vừa là chứng từ về niềm tin của các Tông Ðồ sau phục sinh, và cũng là công trình soạn thảo của các tác giả thánh.

    Vậy thể văn Tin Mừng là một thể văn đặc biệt, nó có lịch sử tính nhưng lại không phải là một bài phóng sự hay tường thuật tại chỗ những gì đang xảy ra. Các sách Tin Mừng được viết sau những năm dài nghiền ngẫm, cầu nguyện và sống, không phải của một cá nhân, mà thường là của cả một cộng đoàn Giáo Hội địa phương. Bốn sách Tin Mừng là bốn cái nhìn về cùng một thực tại là Ðức Giêsu, bốn cái nhìn khác nhau nhưng bổ túc cho nhau, để ta có một cái nhìn trọn vẹn về Con Thiên Chúa.

    2. Thể văn LỊCH SỬ TÔN GIÁO

    Sách Công Vụ Tông Ðồ thuộc thể văn này. Sách này kể lại buổi đầu của Giáo Hội và công cuộc loan báo Tin Mừng cho các dân tộc. Ðây không phải là một tài liệu thuần túy lịch sử như kiểu hồi ký hay niên sử, nhưng cũng không phải là một sách giáo lý thuần túy, vì mang nhiều yếu tố lịch sử. Có thể nói Công Vụ là một lịch sử nhằm giáo huấn. Tác giả Luca đã viết sách này cho những tín hữu gốc dân ngoại để nói lên rằng sứ điệp cứu độ được gởi đến cho mọi người, trước hết là người Dothái, sau là dân ngoại. Các diễn từ chiếm gần một phần ba sách Công Vụ, dĩ nhiên đây không phải là nguyên văn các bài giảng, bởi vì chúng quá ngắn, lắm khi lại quá giống nhau. Thánh Luca đã soạn ra những diễn từ này dựa trên những yếu tố trong các bài giảng của các Tông Ðồ. Còn các trình thuật cũng được ghi lại một cách khá tự do vì thời xưa các sử gia không quá bận tâm đến tính chính xác của biến cố xảy ra. Luca cho chúng ta một hình ảnh tốt đẹp về Giáo Hội sơ khai, ông cố tránh nhắc đến những khía cạnh kém đẹp của Giáo Hội, như vụ bất đồng ý kiến giữa hai Tông Ðồ Phêrô và Phaolô ở Antiôkhia (Gl 2,11-14) chẳng hạn. Thế nên có lẽ phải coi những bản tóm lược ở Cv 2,42-47; 4,32-35; 5,12-16 là những bức họa lý tưởng hơn là một mô tả về thực tại của Giáo Hội ở Giêrusalem.

    3. Thể văn THƯ TÔN GIÁO CHÍNH THỨC

    Tân Ước có 21 lá thư, một số lớn của thánh Phaolô, số còn lại của các vị Tông Ðồ khác. Ðây là những lá thư thực sự vì được gửi đến cho những cá nhân như Timôthê, Titô, Philêmôn, hay cho những Giáo Hội ở đó đây trong đế quốc Rôma. Các thư phát xuất từ những hoàn cảnh cụ thể, nhằm đáp ứng những nhu cầu cụ thể như cũng cố niềm tin, khích lệ trong cơn bách hại, xác định những điểm giáo lý, uốn nắn những lệch lạc, ngăn ngừa những sai lầm… Các thư này thường được đem đọc công khai trong buổi họp cộng đoàn tín hữu (1 Tx 5,27), và cũng có thể được trao đổi giữa các Giáo Hội (Cl 4,16). Vì các thư trong Tân Ước không phải chỉ là những thư thuần túy riêng tư, cũng không phải là những luận thư (épitre) theo kiểu của các triết gia Hylạp, nên chúng ta có thể coi chúng thuộc về thể văn “thư tôn giáo chính thức”. Ðây là tài liệu do một nhóm hay một vị có thế giá gửi cách chính thức và công khai cho những cá nhân hay cho những cộng đoàn nhất định, nhằm một mục đích chủ yếu có tính tôn giáo.

    Như các sách Tin Mừng, các thư được soạn thảo do ơn linh hứng của Chúa Thánh thần. Tuy không có những trình thuật về đức Giêsu nhưng các thư lại “trình bày càng ngày càng rõ hơn giáo lý đích thực của Người” (MK 20). Có thể nói các thư phản ánh việc sống lời Chúa của các cộng đoàn dân Chúa ở thế kỷ đầu, với những khó khăn riêng; tuy nhiên ta vẫn có thể khám phá thấy nơi các thư một sứ điệp luôn mới mẻ cho đức tin của mình, miễn là biết thích ứng sứ điệp đó cho thời đại mình đang sống.

    4. Thể văn KHẢI HUYỀN

    Sách cuối cùng trong bộ Tân Ước là sách Khải Huyền. Ðây là một thể văn thịnh hành trong văn chương Dothái trong khoảng thời gian hai thế kỷ trước đến một thế kỷ sau CN. Thể văn này sử dụng nhiều hình ảnh, con số, tên gọi và màu sắc mang ý nghĩa tượng trưng. Ðể hiểu được ý nghĩa của chúng, ta cần quy chiếu về Cựu Ước và các sách Khải Huyền khác, chứ không nên hiểu theo nghĩa đen. Sách Khải Huyền được viết để củng cố niềm hy vọng các tín hữu đang bị bách hại vì đức tin. Tác giả sách này đã phác họa một loạt những thị kiến có tính tượng trưng để mô tả cuộc giao tranh trong vũ trụ giữa sự thiện và sự ác, giữa Ðức Kitô và Xatan, cuối cùng Ðức Kitô và các thánh sẽ toàn thắng. Ðó là động lực giúp người tín hữu vững tâm đợi chờ sự can thiệp của Thiên Chúa. Như thế sách Khải Huyền vẫn có giá trị cho mọi thời, vì lịch sử vẫn còn là cuộc tranh chấp cho đến ngày Ðức Kitô trở lại. Tuy nhiên chúng ta phải tránh thái độ coi sách này như một thứ “Sấm Trạng Trình” và đem áp dụng vào những biến cố lịch sử đang hay sẽ xảy ra trên thế giới.

    III. THƯ QUY TÂN ƯỚC VÀ CÁC SÁCH NGỤY THƯ

    Như đã nói ở trên, các Kitô hữu thời sơ khai coi bộ sách thánh của Dothái giáo là bộ Kinh Thánh duy nhất mà họ tôn kính. Trong khoảng một thế kỷ đầu của Kitô giáo (30-130 sao CN), bộ sách này không hề được gọi là các sách Cựu Ước, bởi lẽ bộ Tân Ước chưa thành hình. Ngày nay, các Kitô hữu, dù là công giáo, chính thống hay tin lành, đều nhìn nhận 27 sách trong bộ Tân Ước là sách thánh, là Kinh Thánh, có giá trị như hay thậm chí còn hơn cả bộ sách thánh mà người Dothái quen gọi là “Luật và các ngôn sứ”. Ðể Giáo Hội Ðông Phương và Tây Phương đi tới việc nhìn nhận này, cần cả một thời gian dài mấy thế kỷ. Chúng ta không ghi lại đây những diễn biến phức tạp của lịch sử, chỉ phác thảo một vài nét chính.

    Trên hết là vị trí trung tâm của Ðức Giêsu trong Kitô giáo. Tất cả đều quy về Người, những lời nói và việc làm của Người bày tỏ khuôn mặt của chính Thiên Chúa ở một mức độ siêu việt chưa từng thấy. Sau khi Ðức Giêsu về trời, nhịp cầu duy nhất nối liền các Kitô hữu với Ðức Giêsu là các Tông Ðồ, những chứng nhân về toàn bộ cuộc đời trần thế của Người. Các Tông Ðồ chủ yếu làm chứng bằng lời rao giảng (Cv 6,2-4; Rm 10,14-15), nhờ đó đức tin được khơi dậy và nuôi dưỡng trong lòng các tín hữu.

    Có hai yếu tố khiến cho các Kitô hữu nghĩ đến chuyện phải viết lại những chứng từ về Ðức Giêsu. Trước hết là sự bành trướng của Kitô giáo sau quyết định của hội nghị ở Giêrusalem năm 49 (Cv 15). Cả một thế giới bao la của dân ngoại mở ra, Giáo Hội không còn chỉ đóng khung ở quanh Giêrusalem, nhưng đã vươn tới những miền xa tắp. Các Tông Ðồ phải liên tục đi nhiều nơi nên việc liên lạc bằng thư từ với các Giáo Hội trở nên cần thiết. Các thư của thánh Phaolô là một thí dụ về việc này. Kế đó là việc các Tông Ðồ dần dần trở nên già yếu và qua đời. Làm sao bảo tồn được những chứng từ về lời nói và việc làm của Ðức Giêsu? Hơn nữa, nhu cầu huấn giáo cũng đòi hỏi việc sắp xếp lại những chứng từ truyền khẩu cho có hệ thống. Thế nên đã có những sưu tập, truyền khẩu cũng như thành văn; đây là những chất liệu cho các tác giả viết Tin Mừng sau này.

    Trong khoảng thời gian hơn một thế kỷ, đã xuất hiện nhiều tác phẩm của các Kitô hữu. Vấn đề được đặt ra rõ nét từ giữa thế kỷ II là vấn đề xác định xem đâu là danh sách những tác phẩm cần được bảo tồn và coi như sách thánh, nói cách khác, đó là xác định thư quy của Tân Ước. Có một vài tiêu chuẩn hướng dẫn công việc này:

        Tác phẩm phải bắt nguồn từ các Tông Ðồ thì mới được nhận vào thư quy. Thư gửi tín hữu Dothái và sách Khải Huyền mãi đến thế kỷ III vẫn còn trong vòng tranh luận, bởi lẽ có nơi không tin thánh Phaolô và thánh Gioan là tác giả của chúng. Ngày nay người ta hiểu “tác giả” ở đây không nhất thiết phải là người đã cầm bút để viết nên tác phẩm, nhưng có thể chỉ là người đã có liên hệ và ảnh hưởng trên tác phẩm. Dù sao, đối với Giáo Hội các thế kỷ đầu, tông đồ tính của tác phẩm là điều quan trọng. Như các ngôn sứ xưa đã loan báo Ðức Giêsu nhờ ơn linh hứng (2 Pr 1,20-21), thì Nhóm Mười Hai (và Phaolô) giờ đây cũng làm chứng về sự hoàn tất viên mãn, nhờ cùng một ơn linh hứng đó (Cv 2,17-18).

        Phần lớn các sách Tân Ước đều được viết cho những cộng đoàn Kitô hữu nhất định, nên lịch sử và tầm quan trọng của một cộng đoàn cũng giúp nhiều cho việc bảo tồn một tác phẩm và thậm chí cho việc nhận tác phẩm đó vào thư quy. Dường như Tin Mừng Matthêu được gửi cho các cộng đoàn ở Xyria, và họ đã làm tốt nhiệm vụ này. Các Giáo Hội ở Hylạp và Tiểu Á có lẽ đã bảo trì các tác phẩm của thánh Phaolô và thánh Gioan. Giáo Hội ở Rôma đã bảo trì Tin Mừng Máccô và thư gửi tín hữu Rôma.

        Tác phẩm phải phù hợp với quy luật đức tin. Chẳng hạn như Tin Mừng của thánh Phêrô không được đưa vào thư quy vì có thể dẫn đến lạc giáo.

        Ðần tiên rất có thể là tập thư Phaolô đã được gom lại và sử dụng trong Giáo Hội. Từ đầu thế kỷ II, nhiều tác giả Kitô giáo cho thấy họ đã biết đến một số lớn các thư Phaolô, có lẽ là nhờ các thư này được thu thập và phổ biến dựa trên uy tín lẫy lừng của ngài. Tuy nhiên, trước đầu thế kỷ II, không có dấu hiệu cho thấy các thư này được coi là sách thánh như các sách Cựu Ước. Dần dần toàn bộ thư Phaolô được các Giáo Hội ở thế kỷ II công nhận, vì có tông đồ tính.

        Ở thế kỷ I, các Tin Mừng chiếm chỗ đứng mờ nhạt so với các thư Phaolô. Trước năm 140, không thấy có tài liệu nào nói đến tập sách Tin Mừng, nhưng từ nửa sau thế kỷ II có nhiều chứng từ hơn. Thánh Giúttinô nói đến sự kiện các Tin Mừng được đọc vào Chúa Nhật, được coi như tác phẩm của các Tông Ðồ (hay những đồ đệ của các ngài) và được dùng như Kinh Thánh. Càng lúc bốn Tin Mừng càng tỏ ra trổi vượt hơn các sách khác vì tính chân thực trong những lời chứng về Ðức Giêsu. Có lẽ khoảng năm 170, bốn Tin Mừng đã được nhận vào thư quy.

        Một thời điểm quan trọng trong lịch sử thư quy là chọn lựa của ông Mácxion (14). Ông này gạt bỏ toàn bộ Cựu Ước, chỉ chấp nhận một Tin Mừng duy nhất (bản ngắn của Luca) và những thư của một Tông Ðồ duy nhất (10 thư của Phaolô). Thái độ của Mácxion rõ ràng là ngược với Giáo Hội xưa nay, nên nó đã gây ra những phản ứng mạnh mẽ, nhất là từ thánh Giúttinô và thánh Irênê. Các Giáo Hội địa phương bắt đầu đưa ra thư quy riêng của mình.

        Vào đầu thế kỷ III, khắp nơi đều nhìn nhận bốn sách Tin Mừng, 13 thư của Phaolô (trong đó không có thư Dothái), Công Vụ, thư thứ nhất của thánh Phêrô và phần nào thư thứ nhất của thánh Gioan nữa. Các sách còn lại chưa đạt được sự nhất trí trọn vẹn. Các cuộc tranh luận còn kéo dài.

        Dần dần có một sự nhất trí. Ở Ðông Phương, năm 367, thánh Athanaxiô, giám mục Alêxanria chấp nhận thư quy gồm 27 cuốn như ta ngày nay. Ở Tây Phương, “sắc lệnh của đức Ðamaxô” do công nghị Rôma công bố (năm 382) cũng chấp nhận như vậy. Thư quy coi như đã được ấn định vào cuối thế kỷ IV. Năm 1546, công đồng Trentô đã tái khẳng định thư quy của toàn bộ Kinh Thánh.

    Ta thấy một tác phẩm được nhận vào thư quy vì nó là bản văn được linh hứng, nhưng ta chỉ biết chắc chắn là nó được linh hứng khi nó được nhận vào thư quy. Giáo Hội trước khi nhận vào đã phải suy nghĩ về truyền thống được coi là bắt nguồn từ các Tông Ðồ, đó là tiêu chuẩn để chọn lựa.

    Khi thư quy được xác định, một số lớn tác phẩm không được kể vào thư quy này. trong đó có cả những tác phẩm nổi tiếng, thậm chí đã từng được một số vị có thẩm quyền công nhận là sách thánh, như sách Giáo Huấn của mười hai Tông Ðồ (cuối thế kỷ I hay đầu thế kỷ II), Người Mục Tử của Hécmát (đầu thế kỷ II, Rôma), thư của Banaba, hai thư của Cơlêmentê. Các tác phẩm này được bảo tồn cẩn thận và ngày nay vẫn được xếp vào các tác phẩm có giá trị của Giáo Hội buổi đầu.

    Nhưng cũng có những tác phẩm khác bị loại bỏ, không được Giáo Hội dùng làm nền tảng cho giáo lý của mình, và vì thế không được dùng trong phụng vụ, ta quen gọi là ngụy thư. Ngụy thư có hình thức và nội dung khá gần với các sách Tân Ước. Tuy nhiên cũng phải nhận là một số ngụy thư có chứa đựng những sai lạc về giáo lý, thí dụ nghiêng về ảo thân thuyết (docétisme, thuyết này không nhìn nhận nhân tính của Ðức Kitô) hay bài bác hôn nhân. Phần nhiều các ngụy thư đều ẩn dưới danh nghĩa các vị Tông đồ.

    Ta có thể chia các ngụy thư thành bốn loại như các sách trong Tân Ước:

        Các sách Tin Mừng: Tin Mừng của thánh Phêrô (tìm thấy một mảnh ở Aicập vào năm 1886), Tin Mừng của thánh Tôma, nay được chia làm 114 câu trong đó có 79 câu gần giống với Tin Mừng Nhất Lãm… Các Tin Mừng này ít nhiều mang dấu vết của phái ngộ giáo (gnosticisme), phái này cho rằng chỉ có việc giác ngộ mới đưa con người đến ơn cứu độ. Ngoài ra còn có Tin Mừng thời thơ ấu của thánh Tôma và Tiền Tin Mừng của thánh Giacôbê, hai tác phẩm này mang nhiều yếu tố huyền hoặc, lạ lùng.

        Các sách Công Vụ: Công Vụ của thánh Anrê chịu ảnh hưởng của ngộ giáo qua việc lên án hôn nhân và nhấn mạnh đến bản tính thiêng liêng của con người. Công vụ của thánh Gioan, Công Vụ của thánh Phaolô, Công Vụ của thánh Phêrô, Công Vụ của thánh Tôma. Nói chung tác giả các sách Công Vụ thích khai thác những yếu tố kỳ diệu, lạ lùng trong cuộc đời vị Tông Ðồ mà họ muốn ca ngợi.

        Các thư: Thư thứ ba gửi tín hữu Côrintô, Thư gửi tín hữu ở Laođikia, Thư của các Tông Ðồ. Nội dung của các thư này không có gì đặc sắc (trừ Thư của các Tông Ðồ) và giống với những bài luận bàn về thần học hơn là những lá thư.

        Các sách khải huyền: sách Khải Huyền của thánh Phêrô kể lại việc Ðức Giêsu chỉ cho các môn đệ thấy những miền ở thế giới bên kia, chỗ ở của kẻ dữ và hình phạt họ phải chịu. Còn sách Khải Huyền của thánh Phaolô lại xoay quanh thị kiến của thánh nhân được nói đến ở 2 Cr 12,2.

    IV. BẢN VĂN TÂN ƯỚCVÀ KHOA PHÊ BÌNH BẢN VĂN

    Hiên nay chúng ta không còn giữ được một bản văn Kinh Thánh nào do chính tác giả viết, hay nói khác đi, bản văn gốc không còn nữa. Tuy nhiên chúng ta lại có rất nhiều bản chép Tân Ước bằng tiếng Hylạp và những bản dịch Tân Ước cổ bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Ðây là những bản chép tay thuộc nhiều thế kỷ trước khi xuất hiện kỹ thuật in. Các bản chép này hiện đang nằm rải rác ở các thư viện trên thế giới.

    Các bản chép tay Tân Ước được viết trên giấy cói hay giấy da.

        Bản P52 (Papyrus Rylands) chỉ gồm Ga 18,31-33.37-38. Ðây là bản chép Tân Ước cổ nhất hiện có. Nó được chép khoảng năm 135, nay được lưu trữ tại thư viện John Rylands (Anh).

        Bản P46, khoảng năm 200, gồm có các thư của thánh Phaolô, trừ những thư mục vụ. Bản này gồm 86 tờ giấy cói được đóng lại thành tập (codex).

        Bản Vaticanô (Codex Vaticanus) mang ký hiệu là B, được chép vào thế kỷ IV. Bản này bằng tiếng Hylạp gồm cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, nhưng Tân Ước thì bị thất lạc phần cuối. Hiện được lưu trữ tại thư viện Vaticanô.

        Bản Xinai (Codex Sinaiticus), thế kỷ IV, tìm thấy tại Tu viện thánh Catarina ở núi Xinai vào năm 1844. Bản này cũng bằng tiếng Hylạp gồm một phần Cựu Ước và toàn bộ Tân Ước, thậm chí còn thêm Thư của Banaba và một phần tác phẩm Người Mục Tử của Hécmát. Bản này mang ký hiệu là S, hiện để tại Luân Ðôn.

    Ðây là hai bản nổi tiếng hơn cả trong số khoảng 250 bản chữ hoa chép trên giấy da, trong khoảng từ thế kỷ III đến thế kỷ X.

    Như thế Lời Chúa trong bộ sách Tân Ước cũng chịu một số phận như những tài liệu cổ khác, đó là bị biến đổi ít nhiều qua dòng thời gian. Nhiêm vụ của khoa phê bình bản văn là phục chế, tái tạo lại hình thức nguyên thủy của bản văn gốc bằng cách dựa vào những bản chép tay hiện có.

    1. trước hết là thu thập mọi bản Tân Ước chép tay, cả những bản Hylạp lẫn những bản dịch cổ bằng tiếng Latinh, Xyria, hay Aicập v.v… Ðôi khi có những bản dịch lại sát với bản gốc hơn cả bản Xinai hay bản Vaticanô, bởi lẽ chúng được dịch từ các bản Hylạp còn cổ hơn hai bản này.

    Các giáo phụ thường trích dẫn Tân Ước trong các tác phẩm của mình. Những trích dẫn này cũng có thể giúp khoa phê bình tìm lại được bản văn Tân Ước ở tình trạng rất gần với bản gốc.

    Tuy nhiên, dựa vào các bản dịch cổ hay các trích dẫn của các giáo phụ để mong tìm lại bản văn gốc là một việc tế nhị. Ðọc một từ trong bản dịch, chúng ta không dễ biết chắc được từ tương ứng bằng tiếng Hylạp trong bản gốc. Còn những trích dẫn thì quá ngắn và nhất là các giáo phụ lại thường trích dẫn dựa theo trí nhớ chứ không trích nguyên văn.

        Bản văn “Aicập” hay còn gọi là bản văn Alêxanria, vì nó bắt nguồn từ vùng Alêxanria bên Aicập, vào trước năm 300. Các bản chữ hoa quan trọng nhất như bản Xinai (S) và bản Vaticanô (B) đều thuộc loại bản văn này. Từ nửa sau thế kỷ XIX, ở Tây Phương, các ấn bản Tân Ước thường dựa theo loại bản văn này. Dù có những khiếm khuyết, nhưng nó được các nhà chuyên môn nhìn nhận là loại bản văn có giá trị cao, ngắn gọn và ít có những sửa đổi hay dung hòa.

        Bản văn “Xyria”, còn gọi là bản văn Antiôkhia hay bản Phổ Thông. Người ta thường cho rằng nó bắt nguồn từ vùng Antiôkhia vào khoảng năm 300. Nhiều bản chữ hoa thuộc thế kỷ IX và thế kỷ X, cũng như phần lớn các bản chữ thảo thuộc loại bản văn này. Ở Ðông Phương ngày nay, bản văn này vẫn được sử dụng. Còn ở Tây Phương, các ấn bản đầu tiên của Tân Ước đều đã dựa trên bản văn này, nó được coi như bản văn được công nhận (textus receptus). Mãi đến thế kỷ XIX, nó mới nhường chỗ cho bản văn Alêxanria nói trên. Ðặc tính của loại bản văn này là trau chuốt và sáng sủa, có những sửa đổi vừa phải, có lẽ để thích nghi với việc dùng trong phụng vụ. Loại bản văn này không có giá trị phê bình cao như loại trên.

        Bản văn “Tây Phương”. Bản văn này được gọi như vậy từ thế kỷ XVIII, thì thoạt tiên người ta biết đến nó qua những bản dịch Latinh cổ (nửa sau thế kỷ II) hay những bản song ngữ Hylạp – Latinh (như bản Bêda, ký hiệu là D, khoảng thế kỷ IV). Nhưng giờ đây người ta khám phá thấy nó cũng đã có mặt ở Ðông Phương từ lâu. Bản văn này thiên về việc giải thích dài dòng để làm rõ nghĩa, và hay sửa đổi bản gốc cho có sự tương hợp giữa các đoạn song song.

    Vậy vấn đề là phải phân loại và lượng giá các bản văn, cũng như xác định vị trí của chúng trong không gian và thời gian. Nhờ đó ta có thể nhận ra đâu là những hình thức cổ nhất của bản văn, nghĩa là những hình thức dễ gần với bản gốc hơn.

        Chọn bản nào khó hiểu hơn, miễn là nó không mâu thuẫn với văn mạch, vì người chép thường có khuynh hướng làm cho bản văn trở nên dễ hiểu hơn.

        Chọn dị bản nào ngắn hơn, vì người chép có khuynh hướng giải thích dài dòng.

        Chọn dị bản phù hợp với ngôn ngữ và tư tưởng của tác giả hơn.

        Trong các bản văn song song, chọn dị bản nào còn giữ lại được nét riêng, hơn là dị bản đã bị dung hòa.

    V. BỐI CẢNH TÂN ƯỚC

    Bộ Tân Ước đã được viết ra trong một hoàn cảnh đặc biệt, vào lúc đế quốc Rôma đang đặt nền đô hộ trên nhiều phần đất, trong đó có xứ Paléttin. Ðể có thể hiểu rõ các bản văn hơn, chúng ta cần biết về bối cảnh xã hội, chính trị, tôn giáo của đế quốc Rôma cũng như của xứ Paléttin, nơi Ðức Giêsu, Ngôi Lời làm người, đã sinh sống.

    1. Ðế quốc RômaÐế quốc Rôma là một đế quốc rộng lớn, gồm những nước vây quanh Ðịa trung Hải. Ðế quốc này trực tiếp kế thừa đế quốc Hylạp do Alêxanđê đại đế gây dựng nên. Tuy mang lớp vỏ Rôma nhưng trong thực chất vẫn là nền văn minh Hylạp.

        Ngôn ngữ. Ngôn ngữ chung của cả đế quốc là tiếng Hylạp phổ thông (koine). Tuy nhiên ở phía tây của đế quốc (Ý, Tây ban nha…) người ta vẫn nói tiếng Latinh. Tại Paléttin, tiếng Aram được dùng trong sinh hoạt thường ngày, còn tiếng Hípri đã trở thành một thứ cổ ngữ, chỉ dùng trong phụng vụ.

        Hành chánh. Ðế quốc chia thành nhiều tỉnh. Có những tỉnh đã được hoàn toàn bình định, đặt dưới quyền một viên thống đốc (proconsul), các tỉnh này được gọi là tỉnh thuộc nghị viện. Có những tỉnh còn chưa ổn định, đặt dưới quyền vị khâm sai do hoàng đế bổ nhiệm, chúng được gọi là tỉnh thuộc hoàng đế. Ngoài ra còn có những vùng ngoại lệ. Aicập là tư hữu của hoàng đế nên trực thuộc vị này. Vùng Giuđê cũng theo một quy chế đặc biệt, nó được giao cho một viên tổng trấn, ông này phải lệ thuộc vị khâm sai xứ Xyria.

        Giao thông. Ðịa Trung Hải tấp nập thuyền bè đi lại, đặc biệt trong khoảng tháng 3 đến tháng 11 là thời gian có gió thuận lợi. Ngoài ra có một hệ thống đường sá hoàn chỉnh trong khắp đế quốc, nhờ đó việc chuyển quân cũng như việc chuyển thư được dễ dàng và nhanh chóng.

        Thuế khóa. Người dân trong đế quốc phải nộp thuế nhà đất, thuế lợi tức, riêng những công dân thường còn phải nộp thuế thân, chỉ trừ người già và trẻ em là được miễn. Ðức Giêsu đã từng được hỏi về vấn đề nộp loại thuế này (Mc 12,14). Ngoài ra còn phải nộp những loại thuế gián thu khác. Riêng người Dothái còn nộp thuế đền thờ hàng năm (một món tiền bằng hai ngày lương, Mt 17,24) và nộp thuế thập phân. Nói chung, gánh nặng thuế khóa không phải là nhỏ.

        Tôn giáo. Trước khi kỷ nguyên Kitô giáo bắt đầu ít lâu, người ta coi hoàng đế Rôma như những bậc thần linh. Có những hoàng đế chỉ khuyến khích việc thờ các hoàng đế đã băng hà, nhưng cũng có những hoàng đế chấp nhận để người dân thờ mình. Việc thờ phượng này hẵn đã đặt các Kitô hữu đầu tiên trước một câu hỏi: làm sao vẫn là một công dân tốt dù không chấp nhận chuyện thờ lạy hoàng đế? Vấn đề nóng bỏng này sẽ được phản ánh trong ch. 17 của sách Khải Huyền.

        Ngoài việc thờ hoàng đế, người dân còn thờ các thần khác. Tuy nhiên tôn giáo chỉ giới hạn ở việc tế tự. Người ta dâng các sản phẩm của đất đai hay sát tế các thú vật. Một phần con vật được thiêu trên bàn thờ, phần khác được chia cho các tư tế và tín đồ hay đem bán ngoài chợ (từ đó nảy sinh vấn đề có được phép mua thịt này để ăn không, 1 Cr 8). Ðời sống tôn giáo còn thấm nhập vào các sinh hoạt của một đô thị. Mỗi thành phố hay quốc gia thường có một vị thần bảo trợ: thần Athêna của Athen, thần Atêni của Êphêxô, thần Baan của Xyria…

        Ngoài ra còn phải kể đến các tôn giáo bí truyền, thí dụ đạo thờ thần Ixít và Ôxirít. Người muốn nhập đạo phải trải qua những thử thách rồi mới được nhận nghi thức khai tâm; qua nghi thức đầy bí mật này, người ấy được coi như đã bước vào cuộc sống mới, được thần hóa nhờ tham dự vào sự sống thần linh.

        Cuối cùng, các hệ thống triết học như chủ nghĩa khoái lạc và chủ nghĩa khắc kỷ cũng đưa ra những giải pháp nhằm giúp con người đạt được hạnh phúc.

    2. Xứ PaléttinVào thời Ðức Giêsu, vùng đất Paléttin gồm có ba phần: Galilê ở phía bắc, Samari ở giữa, và Giuđê ở phía nam. Phía tây là Ðịa Trung Hải, phía đông là dòng sông Giođan chảy từ hồ Galilê xuống biển chết. Thiên Chúa đã chọn mảnh đất nhỏ bé này làm nơi diễn ra lịch sử cứu độ toàn thể nhân loại. Con Thiên Chúa đã trở nên một người Dothái, đảm nhận toàn bộ dòng lịch sử của dân tộc Người, một dân tộc sau khi bị lưu đầy ở Babylon lại rơi vào sự thống trị của người Batư, rồi đến người Hylạp và sau cung là người Rôma.

    a. Chính trịTrước việc vua Antiôkhô IV (175-164 trước CN) xúc phạm đền thờ, anh em nhà Macabê đã vùng lên khởi nghĩa và cuố cùng đã giành lại được độc lập cho đất nước trong khoảng gần một thế kỷ. Ðó là triều đại nhà Átmônê (142-63 trước CN). Vào cuối triều đại này, có sự tranh giành quyền làm vua và làm thượng tế giữa hai anh em Hiếccanô và Aríttôbulô, điều này đã nên cớ cho tướng Pompê của Rôma chiếm thành thánh (năm 63), mở đầu cho giai đoạn Rôma đô hộ.

    Ðức Giêsu mở mắt chao đời khi hoàng đế Augúttô đã trị vì đế quốc Rôma được 20 năm, ông này khai mở một thời kỳ tương đối ổn định trên toàn phần đất của đế quốc rộng hơn ba triệu cây số vuông.

    Riêng ở Paléttin, nghị viên Rôma đã đặt Hêrôđê, còn gọi là Hêrôđê Cả, làm vua từ năm 40 trước CN, nhưng phải đợi đến năm 37 ông này mới chiếm được Giêrusalem và cai trị ở đó. Hêrôđê không phải là người Dothái, ông đã giết những người thân với nhà Átmônê để bảo vệ ngôi vàng. Cũng vì tính đa nghi, ông còn giết cả người vợ Dothái là bà Mariammê cũng như ba trong số các con trai của ông. Dưới thời của ông, thượng hội đồng Dothái mất hết cả ảnh hưởng; chính ông tự cho mình có quyền bổ nhiệm và cách chức thượng tế. Khi Ðức Giêsu sinh ra (vào năm 6 hay 7 trước CN) thì Hêrôđê đã ở vào những năm cuối đời. Theo Tin Mừng Mátthêu, Người đã phải trốn qua Aicập vì bị Hêrôđê lùng bắt (Mt 2,13). Có nhiều công trình được xây dựng ở khắp nơi trong nước dưới thời Hêrôđê; nhất là từ năm 20 trước CN, ông đã cho trùng tu lại đền thờ nhỏ bé được xây sau thời lưu đày (x. Mc 13,1).

    Khi vua Hêrôđê qua đời năm 4 trước CN, vương quốc được chia cho ba người con trai. Hêrôđê Antipa được làm tiểu vương vùng Galilê và vùng Pêrê (Lc 3,1). Chính ông này đã giết Gioan Tẩy Giả vì Gioan không chấp nhận việc ông lấy vợ của người anh là Hêrôđê Philípphê (Mt 14,4). Ông cũng là người nhúng tay ít nhiều vào vụ án Ðức Giêsu (Lc 23,6-16). Ông đã xin Rôma phong vương cho mình, nhưng rốt cuộc ông đã bị hoàng đế Caligula cất chức năm 39 sau CN. Người con khác là Philípphê (không phải là Hêrôđê Philípphê) được làm tiểu vương các vùng Ðông Bắc của hồ Galilê (còn gọi là hồ Tibêria). Cuối cùng là Áckhêlao (Mt 2,22), người mà vua Hêrôđê Cả muốn truyền ngôi vua cho, nhưng Rôma không chấp thuận, chỉ cho ông cai quản vùng Giuđê, Samari và Iđumê. Vì bị người Dothái và Samari khiếu nại, Áckhêlao đã bị Rôma hạ bệ năm 6 sau CN. Phần lãnh thổ của ông được giao cho tổng trấn Rôma, từ đây chế độ cai trị trực tiếp của người Rôma được thiết lập trên đất Giuđê.

    Trong số các tổng trấn đầu tiên, phải kể đến Philatô (26-36 sau CN), ông này chịu trách nhiệm về cái chết của Ðức Giêsu xảy ra vào năm 30. Ông bị người Dothái căm ghét vì có những hành vi khiêu khích, coi thường tôn giáo của họ. Sau vụ ra lệnh tàn sát nhiều người xứ Samari, Philatô bị cách chức. Khi Cơlauđiô lên làm hoàng đế vào năm 41, ông dẹp bỏ chức tổng trấn và đưa một người bạn ông là cháu của Hêrôđê Cả lên làm vua: đó là vua Ácríppa I, Paléttin lại trở về với chế độ tổng trấn và mang tên chính thức là Giuđê. Có hai vị tổng trấn liên hệ ít nhiều đến Phaolô, đó là Phêlích (Cv 23,24) và Phéttô, ông này đã gửi Phaolô đến Rôma để được xét xử ở đó với tư cách là công dân Rôma (Cv 25,12).

    Từ thời tổng trấn Phêlích (52-60), các cuộc nổi loạn trong dân Dothái đã trở nên thường xuyên hơn và mảnh liệt hơn. Tháng sáu năm 66, cuộc xung đột bùng nổ và gặp sự đàn áp mạnh mẽ của người Rôma. Vào lễ Vượt Qua năm 70, tướng Titô đem bốn quân đoàn vây hãm Giêrusalem. Tháng tám năm 70, đền thờ bị chiếm và thiêu hủy. Từ đó Giuđê trở thành một tỉnh thuộc hoàng đế giống như tỉnh Xyria.

    Chỉ hơn nửa thế kỷ sau, người Dothái lại nổi dậy một lần nữa (132-135) khi hoàng đế Hátrianô ban chiếu chỉ cấm việc cắt bì. Cuộc khởi nghĩa bị dẹp tan sau khi đã kháng cự ác liệt với quân Rôma. Chính ở vị trí cũ của đền thờ, người ta xây một ngôi đền kính thần Dớt. Từ năm 135, tỉnh Giuđê được gọi là tỉnh Xyria Paléttin.

    b. Kinh tếPaléttin có diện tích khoảng 20,000 km vuông, với dân số thời đó ước chừng 600,000 người. Dọc theo bờ biển Ðịa Trung Hải là những bình nguyên màu mỡ. Ở Galilê cũng như ở vùng Samari và Giuđê, có những cao nguyên nhiều sỏi đá, không thuận lợi cho việc trồng trọt và chăn nuôi. Ngoài ra phải kể đến vùng thung lũng sông Giođan, có chỗ thấp hơn 200 mét so với mặt biển. Mùa mưa từ tháng mười đến tháng ba, nước mưa được giữ cẩn thận để dùng trong mùa nắng.

    Paléttin là một nước nông nghiệp. Ngũ cốc được trồng chủ yếu ở Galilê. Lúa mì, lúa mạch ở đây còn dùng để cung ứng cho thủ đô Giêrusalem, nhất là vào các dịp lễ lớn. Cũng có nhiều loại cây ăn trái trong số đó phải kể đến cây chà là ở vùng Giêrikhô. Cây vả dễ trồng và được dùng để xuất khẩu. Cây nho trồng ở khắp nơi trong nước, vừa cho trái để ăn vừa dùng để làm rượu nho, một số đồ uống thông dụng. Cây ôliu cũng là một cây hết sức quen thuộc ở Paléttin, cây này cho dầu ăn, dầu thơm và cả dầu dùng trong phụng tự nữa.

    Ngành chăn nuôi chiên, dê, bò cũng được chú trọng vì nhu cầu phụng tự trong đền thờ. Riêng trong lễ Vượt Qua đã cần khoảng 18,000 con chiên để sát tế. Người ta dùng lừa để chở người và đồ, còn bò để kéo cầy, kéo xe. Ngoài ra ngư nghiệp cũng đem lại một nguồn lợi đáng kể. Cá có nhiều ở ven Ðịa trung Hải, ở các sông rạch và nhất là ở hồ Galilê, quanh hồ này có cả một kỹ nghệ làm cá khô bán khắp nơi trong nước.

    Thương mại không phát triển mạnh, trừ ở những đô thị gần biển như Gada, Xêdarê. Ở các đô thị mới lập, có những cửa tiệm và cả những ngân hàng nữa (x. Mt 25,27). Các cuộc hành hương về thánh đô cũng có tầm quan trọng về thương mại, vì đây là dịp trao đổi hàng hóa giữa người trong nước với các kiều dân hải ngoại. Paléttin nhập khẩu các mặt hàng cao cấp như gỗ hương bá từ xứ Libăng, hương liệu và kim loại từ Ảrập, vải vóc từ Ấn Ðộ… và xuất khẩu thực phẩm, da thuộc… Nói chung công nghiệp chưa phát triển, nhưng ngành tiểu thủ công lại có nét khởi sắc.

    * Giới tư tếÐứng đầu giới tư tế là vị thượng tế, vị này là thủ lãnh của dân, là tác viên chính trong phụng tự ở đền thờ và là người chủ tọa thượng hội đồng Dothái gồm 71 thành viên. Trước kia chức vụ này được trao theo lối cha truyền con nối và làm đến mãn đời. Nhưng dưới thời Rôma cai trị và dưới triều đại của vua Hêrôđê Cả, những đặc quyền này đã bị tước mất. Rôma có thể bổ nhiệm hay cách chức vị thượng tế tùy ý họ, thế nên vị thượng tế đang tại chức dễ có thái độ lụy phục đối với Rôma. Dù vậy dân chúng vẫn tỏ lòng tôn kính người mà coi họ là trung gian chính thức giữa Thiên Chúa và dân Người. Mỗi năm một lần, vị thượng tế được vào Nơi Cực Thánh trong đền thờ để làm lễ xá tội cho dân.

    Viên quản đốc đền thờ (Cv 4,1; 5,24) là phụ tá của thượng tế trong phụng tự và thay mặt thượng tế khi cần. Ông này cũng coi sóc an ninh trật tự đền thờ với sự trợ giúp của các đội trưởng toán quân.

    Các tư tế cấp dưới sống ở thánh đô hay rải rác trong nước. Người ta ước chừng có 7,200 tư tế. Mỗi năm họ tụ về Giêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua, lễ Ngũ Tuần và lễ Lều. Họ còn chia làm 24 nhóm, thay phiên nhau phục vụ trong đền thờ, mỗi năm hai lần, mỗi lần kéo dài một tuần (x. Lc 1,5.8-9). Các tư tế sống nhờ của lễ dâng cúng. Tư tế ở thủ đô có đời sống sung túc hơn; còn các tư tế ở những nơi khác sống nhờ thuế thập phân, nhưng thường vẫn phải làm một nghề chân tay mới đủ sống.

    Cuối cùng là các thầy Lêvi. Họ không phải là tư tế nên không được cử hành phụng tự. Họ chỉ lo phận vụ ca hát, sử dụng nhạc khí, giữ cửa, bảo quản và bảo vệ đền thờ.

    Các kinh sư đã đưa ra nhiều luật lệ chi li để giúp con người lúc nào cũng được mời gọi sống trung tín với Thiên Chúa. Tuy nhiên họ cũng dễ rơi vào một thứ óc nệ luật hẹp hòi, khiến cho việc giữ luật trở thành gánh nặng và làm cho người ta quên đi cái cốt yếu của luật. Dù sao chính nhờ các kinh sư mà Dothái giáo còn tồn tại sau biến cố năm 70.

    * Giới kỳ mụcÐây là những người có địa vị trong xã hội, họ là những bậc niên trưởng hay phú ông. Tuy có chân trong thượng hội đồng nhưng họ không có ảnh hưởng là bao. Vì muốn được tại vị nên họ khá gắn bó với Rôma cũng như với các thượng tế. Dường như họ thuộc phái Xađốc.

    * Dân chúngÐa số là nông dân, thợ thủ công hay tiểu thương. Có nghề bị coi là ô uế như nghề thuộc da, có nghề bị coi khinh như nghề thu thuế. Cũng có cả hành khất, trộm cắp và gái điếm ở Paléttin vào thời Ðức Giêsu. Người Dothái được miễn thi hành nghĩa vụ quân sự đối với đế quốc. Nô lệ là giai cấp bị ngược đãi nhất, nhưng các nô lệ gốc Dothái thường được đối xử tử tế hơn và có thể được trả tự do sau sáu năm phục vụ.

    Ở trong nước và nhất là ở hải ngoại, người ta thấy có những người xin gia nhập đạo Dothái (Mt 23,15). Trước khi trở thành tân tòng, nam giới phải chịu cắt bì, được thanh tẩy và đi dâng lễ tại đền thờ. Số phụ nữ tòng giáo luôn đông hơn đàn ông.

    Ở Paléttin thời Ðức Giêsu, người phụ nữ không có giá bằng nam giới. Thế giới của họ chỉ là gia đình với các việc nội trợ. Họ không được đi học cả về mặt đạo lẫn mặt đời. Họ không được mời làm chứng tại tòa án cũng như không được lên tiếng trong các nghi lễ phụng tự. Họ ít khi đi ra ngoài và nếu có ra ngoài thì thường đội khăn che đầu. Theo tập tục thời đó, người đàn ông không nên nhìn một phụ nữ đã có chồng, cũng không nên trò chuyện hay chào hỏi một phụ nữ ở ngoài đường. Các thiếu nữ Dothái lập gia đình rất sớm. Họ làm đám hỏi lúc 12 hay 13 tuổi và thường làm đám cưới khoảng một năm sau. Người vợ có thể bị chồng ly dị chỉ vì những lý do không đáng gì. Sau khi chồng chết, người vợ góa phải chờ xem người anh em chồng có muốn lấy mình không, nếu người này không muốn, người vợ góa mới được đi lấy chồng khác. Chính trong bối cảnh đó mà chúng ta hiểu hơn một số đoạn Tin Mừng như Mt 22,23-32 và Lc 7,36-50. Việc có một nhóm phụ nữ đi theo Ðức Giêsu (Lc 8,2-3) hẳn là một điều lạ thường vào thời đó.

    d. Các nhóm tôn giáoCó bốn nhóm chính:* Nhóm XađốcNhóm này gồm giới giáo sĩ cấp cao, phần lớn các tư tế ở Giêrusalem và nhiều kỳ mục. Nét chung của họ là tính bảo thủ, họ chống lại mọi thay đổi về mặt thần học, phụng tự hay chính trị. Họ có thái độ hòa hoãn với người Rôma, có thể là để duy trì địa vị, bổng lộc. Dầu sao càng ngày họ càng xa rời dân chúng, uy tín của họ chỉ dựa trên chức vụ tư tế mà họ đảm nhận. Bởi vậy khi đền thờ sụp đổ năm 70, nhóm này cũng biến mất khỏi lịch sử.

    Xét về mặt giáo thuyết, nhóm Xađốc phủ nhận thưởng phạt đời sau và sự phục sinh (Mt 22,23; Cv 23,6-8), bởi họ gắn bó với quan niệm truyền thống về âm phủ. Họ không coi trọng các luật truyền khẩu nhu nhóm Pharisêu, nhưng lại hết sức trung thành với nghĩa đen của Kinh Thánh. Họ quý chuộng đặc biệt Ngũ Thư hơn mọi sách thánh khác. Ðức Giêsu cũng đã có lần tranh luận với họ về sự phục sinh (Mc 12,18-27).

    * Nhóm PharisêuÐây là một nhóm gồm đa số là dân thường thuộc giai cấp trung lưu, tuy cũng có các tư tế vùng quê và các thầy Lêvi tham dự. Không phải mọi người Pharisêu đều là kinh sư, nhưng hầu như mọi kinh sư đều là Pharisêu. ý nghĩa của từ pharisaioi còn được tranh luận; nhiền người cho rằng nó có nghĩa là “những kẻ sống tách biệt”, từ đó có lối gọi “biệt phái”. Nhóm này bắt nguồn từ nhóm những người đạo đức (Hassidim) ở thời Macabê. Vào thời Ðức Giêsu, các người Pharisêu rất được kính trọng vì chính đời sống đạo đức của họ. Họ họp thành những cộng đoàn nhỏ, đóng kín. Họ chuyên cần suy niệm Kinh Thánh và quyết tâm tuân giữ tỉ mỉ mọi khoản luật, thành văn cũng như truyền khẩu. So với nhóm Sađốc, họ có tinh thần cởi mở hơn về mặt giáo lý và giải thích Kinh Thánh. Khuôn mặt người Pharisêu được mô tả trong Tin Mừng không phản ảnh hết sự thực về nhóm người này. Có lẽ Ðức Giêsu lúc còn bé đã được các người Pharisêu dạy giáo lý và cầu nguyện ở hội đường Nadarét. Hẳn đã có những người Pharisêu kiêu hãnh và giả hình, nhưng thái độ tưởng mình có thể mua được Nước trời bằng công trạng và sự thánh thiện của mình vẫn là thái độ mà chúng ta có thể rơi vào.

    * Nhóm ÉtxênôNăm 1947 nhờ một khám phá tình cờ ở vùng Cumran (tây bắc Biển Chết), người ta biết đến sự hiện diện của một nhóm người Dothái, sống chung với nhau thành cộng đoàn: có thể đó là nhóm Étxênô mà sử gia Dothái Giôxêphô đã nhắc đến. Có lẽ nhóm này bắt nguồn từ thời Macabê khởi nghĩa. Ðây là một nhóm được tổ chức hết sức chặt chẽ và có tôn ti trật tự. Họ sống nghèo khó, vâng phục những người lãnh đạo và ở độc thân. Những việc chính của họ hằng ngày là: cầu nguyện sáng chiều. lao động chân tay, thanh tẩy theo nghi thức và dành một phần ba đêm để học hỏi Kinh Thánh và các tài liệu của cộng đoàn. Khám phá ở Cumran để lại cho ta nhiều bản chép tay quý giá về Kinh Thánh và các tài liệu của cộng đoàn. Cũng có cả một hệ thống bể chứa nước dùng cho việc thanh tẩy.

    Phải nhìn nhận rằng đời sống thánh thiện của nhóm này quả là một đóa hoa đẹp của Dothái giáo. Tuy họ sống tách biệt nhưng đây là một cộng đoàn năng động, họ mong Chúa đến nên sống trong cầu nguyện và tiết dục để chuẩn bị đón Người. Theo các tác giả xưa như sử gia Giôxêphô thì nhóm Étxênô sống độc thân hoàn toàn. Tuy nhiên người ta lại tìm thấy những bộ xương phụ nữ ở nghĩa địa của họ và cả những tài liệu nói đến việc kết hôn một vợ một chồng. Dù sao điều này không phải là không giải thích được: có thể lúc đầu, họ nhận cả các cặp vợ chồng hay cho phép kết hôn, nhưng dần dần họ đi đến chỗ tiết dục tuyệt đối. Nhóm Étxênô tự coi mình mới là con cháu đích thực của thượng tế Xađốc. Ðối với họ, đền thờ đã bị các tư tế làm ô uế nên họ từ chối không đến đền thờ. Họ mong Thiên Chúa đến để thanh tẩy đền thờ và tái lập một nền phụng tự thanh sạch. Về mặt chính trị, họ là những người Dothái yêu nước. Năm 68 họ lao mình vào cuộc chiến chống Rôma để rồi chấp nhận thất bại.

    Chắc có một liên hệ nào đó giữa ông Gioan Tẩy Giả với nhóm Étxênô ở Cumran, vì lời giảng của ông có những nét tương tự với xác tín của nhóm này: Ðấng Mêsia đã gần đến, sự cần thiết của việc thanh tẩy, sự kinh khủng của ngày thịnh nộ sắp giáng xuống… Chẳng rõ Ðức Giêsu có biết đến nhóm người ở Cumran không, nhưng phải nhận rằng giáo lý của Ngài khác với giáo lý của họ ở một điểm khá quan trọng, đó là tính phổ quát của ơn cứu độ. Khi cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa thì người Étxênô quay ra căm thù những kẻ tội lỗi, ngoại giáo cũng như Dothái, và mong ngày Thiên Chúa tiêu diệt tất cả những kẻ vô đạo trên mặt đất. Còn Ðức Giêsu lại nhấn mạnh đến lòng thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân.

    * Nhóm SamariDân Samari là một nhóm người có gốc Dothái, nhưng sau cuộc lưu đày năm 722 trước CN, họ trở thành một dân có pha trộn nhiều sắc dân ngoại. Sau nhiều biến cố lịch sử đáng tiếc, dân Samari với dân Dothái nuôi mối thù ghét lẫn nhau. Người Dothái coi người Samari là lạc giáo và từ chối có sự liên hệ với họ (x Ga 4,9). Người Samari không thờ phượng ở Giêrusalem, nhưng ở trên núi Garidim, và họ chỉ nhìn nhận Ngủ Thư mà thôi. Thái độ của Ðức Giêsu đối với nhóm người này thật là khác thường trong bối cảnh thời ấy (Lc 10,33; 17,16; Ga 4,5-40). Samari cũng đã trở nên phần đất được rao giảng Tin Mừng (Cv 8,5-25).

    e. Ðền thờ, hội đường và các ngày đại lễ* Ðền thờVào thời Ðức Giêsu, đền thờ đã trải qua một lịch sử dài. Ðền thờ đầu tiên do vua Salômôn xây đã bị quân Babylon phá hủy năm 587 trước CN. Sau khi thoát khỏi cảnh lưu đày trở về, người ta xây đền thờ thứ hai nhỏ hơn (520-515 trước CN). Ðền thờ vua Hêrôđê Cả, đền thờ được trùng tu và nới rộng: công trình bắt đầu năm 20 trước CN, mãi đến năm 64 sau CN mới hoàn tất, nhưng sáu năm sau đền thờ lại bị phá hủy hoàn toàn. Ðền thờ có nhiều tiền đình. Lớn hơn cả là tiền đình dân ngoại, nơi đây người ta buôn bán súc vật và đổi tiền để dâng cúng đền thờ (x. Ga 2,14). Một lan can bằng đá ngăn tiền đình này với tiền đình phụ nữ, người ngoại giáo vượt qua sẽ bị xử tử (x. Cv 21,28). Rồi đến tiền đình Ítraen dành cho nam giới. Sau cùng là tiền đình tư tế, ở giữa có bàn thờ dâng lễ toàn thiêu, cao 7,5 mét, mỗi cạnh dài 25 mét. Ðây là nơi dâng các vật hy sinh, đặc biệt là “hy sinh vĩnh viễn” gồm việc dâng một con chiên vào buổi sáng và buổi chiều mỗi ngày. Cuối cung là phần quan trọng nhất của đền thờ gồm Nơi Thánh và Nơi Cực Thánh. Nơi Thánh (Hêkal) có bàn thờ dâng hương (x. Lc 1,9.11), bàn dâng bánh trưng hiến và chân đèn bảy ngọn. Ði qua một bức màn là vào Nơi Cực Thánh (Debir). trước kia, trong đền thờ do vua Salômôn xây, Nơi Cực Thánh là nơi đặt Hòm Bia Giao Ước. Từ năm 587 trước CN, Hòm Bia không còn nữa nên Nơi Cực thánh hoàn toàn để trống. Người Dothái tin rằng đây là nơi Thiên Chúa hiện diện cách đặc biệt, chỉ có thượng tế tại chức mới được vào mỗi năm một lần trong dịp lễ xá tội.

    Ðền thơ là trung tâm đời sống phụng tự của dân Dothái, nên việc đền thờ bị phá hủy là một mất mát không gì bù đắp nổi. Từ 20 tuổi, mọi người Dothái phái nam đều phải nộp thuế đền thờ. Ði hành hương lên Giêrusalem vào ba dịp đại lễ là một niêm vui lớn cho những người mộ đạo.

    * Hội đườngHiện nay người ta cho rằng từ thời lưu đày ở Babylon, vì đền thờ không còn nữa, nên bắt đầu xuất hiện các hội đường. Từ đó các hội đường phát triển nhanh ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Mỗi cộng đoàn Dothái đều có hội đường. Ở các thành phố lớn có nhiều hội đường.

    Hội đường là một căn nhà hình chữ nhật, hướng về Giêrusalem. Phụng tự ở hội đường chủ yếu là ngày sabát, gồm có cầu nguyện và đọc Kinh Thánh: người ta đọc Kinh Thánh bằng tiếng Hípri, rồi đọc bản dịch bằng tiếng Aram (Targum), sau đó là bài giảng nhằm giải thích và áp dụng vào cuộc sống (Lc 4,16-21). Ông trưởng hội đường có nhiệm vụ tổ chức phụng vụ, chỉ định người đọc sách thánh và mời những người có khả năng lên giải thích (x Cv 13,15).

    Vai trò của hội đường rất quan trọng; đặc biệt sau năm 70, khi không còn đền thờ nữa, nó trở thành nơi sinh hoạt của đạo Dothái. Hội đường không những là nơi phụng tự, mà còn là trường học và là trung tâm văn hóa. Chính nhờ hội đường mà niềm tin của người Dothái được duy trì và lòng đạo đức được nuôi dưỡng.

    * Các ngày đại lễCó ba dịp lễ lớn hàng năm kỷ niệm những lần Thiên Chúa can thiệp trong lịch sử để giải phóng dân Người. Ðó là lễ Vượt Qua, lễ Ngũ Tuần và lễ Lều. Trong các lễ này, trên nguyên tắc, mọi người Dothái phái nam phải đi hành hương Giêrusalem.

    Lễ Vượt Qua là lễ trọng hơn cả, kéo dài trọn một tuần. Chiều ngày 14 tháng Nixan (khoảng tháng ba, tháng tư dương lịch), người ta sát tế chiên tại đền thờ, rồi tư tế sẽ lấy máu chiên mà đổ dưới chân bàn thờ. Khi đêm xuống, người ta sẽ ăn tiệc chiên vượt qua theo gia đình hay theo nhóm. Lễ Vượt Qua được cử hành như một cuộc tưởng niệm nhằm giúp mỗi người sống lại kinh nghiệm của cha ông họ xưa kia được giải phóng khỏi Aicập. Trong bữa tiệc Vượt Qua người ta ăn thịt chiên với bánh không men và rau đắng. Ngoài ra người ta cũng uống với nhau bốn chén rượu đã được vị chủ tọa bữa tiệc chúc lành. Trong bầu khí linh thánh của bữa ăn đặc biệt này, vị chủ tọa sẽ kể lại biến cố Xuất Hành. Lúc tiệc gần tàn, người ta đọc các thánh vịnh ca ngợi (Hallel) tức là Tv 113-118.

    Khi nhớ lại cuộc giải phóng xưa, người ta hy vọng Chúa sẽ giải phóng dân Người trong tương lai. Chính vì lễ Vượt Qua là một lễ có thể khơi dậy lòng ái quốc và vì số người đổ về Giêrusalem rất đông (khoảng 200,000 người), nên dịp này chính quyền Rôma canh phòng cẩn mật hơn nhiều để tránh bạo loạn.

    Lễ Ngũ Tuần được cử hành 50 ngày sau lễ Vượt Qua. Nguyên thủy đây là lễ mùa gặt, người ta dâng cho Chúa những của đầu mùa (Xh 23,16). Sau này lễ Ngũ Tuần (còn được gọi là lễ Các Tuần ở Xh 34,22) trở thành một lễ tưởng niệm việc Chúa ban giao ước và luật trên núi Xinai. Thật là ý nghĩa khi chính trong ngày lễ Ngũ Tuần của người Dothái mà Thánh Thần đã được ban xuống để kết thúc cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô (Cv 2).

    Lễ Lều nguyên thủy là lễ thu hoạch những hoa trái của ruộng đồng (Xh 23,16). Sử gia Giôxêphô cho rằng đây là lễ thánh nhất và trọng nhất của người Dothái. Lễ này cử hành vào mùa thu, khi vụ thu hoạch đã kết thúc (Lv 23,39), trái cây đã được hái xong. Khách hành hương dựng lên những cái lều, họ ở đó trong bảy ngày để nhớ lại thời gian sống trong sa mạc (Lv 23,42-43). Ngoài ra có nhiều cuộc rước tưng bừng, người ta phất cành lá vạn tuế (lulab) để tung hô. Mỗi ngày các tư tế đi rước nước ở hồ Silôa đem về rưới lên bàn thờ. Buổi tối, tiền đình phụ nữ rực rỡ ánh đèn, có ca múa suốt đêm. Tin Mừng Gioan đã minh nhiên nói đến lễ này ở 7,2 và có lẽ đã ám chỉ đến lễ ấy ở 7,37-38 và 8,12.

    Ngoài ba đại lễ trên còn những lễ khác như lễ Xá Tội, lễ Cung Hiến đền thờ (x. Ga 10,22) và lễ Tân Niên. Ngày sabát là ngày cầu nguyện và nghỉ ngơi, ngưng mọi công việc sau sáu ngày lao động. Ngày sabát bắt đầu từ chiều thứ sáu đến chiều thứ bảy, đó là ngày thánh hiến cho Thiên Chúa. Ðức Giêsu không coi thường ngày sabát, Người chỉ phản đối một lối hiểu hẹp hòi về ngày lễ này, bởi lẽ ngày sabát cũng là ngày sống cho tha nhân (Mt 12,12).

    VI. TÂN ƯỚC VÀ CÁC KITÔ HỮU

    Thánh Giêrônimô đã khẳng định: “Không biết Kinh Thánh là không biết Ðức Kitô”. Khẳng định đó còn phù hợp hơn biết bao đối với Tân Ước đến nỗi ta có thể nói: không biết Tân Ước, không biết bốn sách Tin Mừng, là không biết Ðức Kitô. Biết Ðức Kitô thật là mối lợi tuyệt vời mà mọi Kitô hữu ước ao có được trong đời.

    Công Ðồng Vaticanô II đã dành chương cuối của Hiến Chế về Mặc Khải để nói về tầm quan trọng của Kinh Thánh trong đời sống Giáo Hội và đời sống của từng Kitô hữu.

    Công Ðồng muốn lời Chúa được trao gửi đến mọi Kitô hữu thuộc mọi thời đại, mọi ngôn ngữ (MK 22). Ðây là một điều mới mẻ, vì từ thế kỷ XIII và nhất là từ thế kỷ XV, có khuynh hướng không khuyến khích việc dùng Kinh Thánh bằng tiếng bản xứ, và muốn dành riêng cuốn Kinh Thánh cho những nhà thần học.

    Dùng một hình ảnh mạnh mẽ và sâu sắc, Công Ðồng khẳng định việc dân Chúa được dưỡng nuôi bằng bánh ban sự sống từ trên bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Mình Chúa Kitô (MK 21). Như thế, Lời Chúa thật là lương thực hàng ngày cho Kitô hữu, song song với việc họ được nuôi dưỡng bằng bàn tiệc Thánh Thể.

    Công Ðồng khuyến khích đặc biệt mọi Kitô hữu đọc Lời Chúa thường xuyên. Khi nghe đọc Lời Chúa trong phụng vụ thì Chúa Kitô “hiện diện trong Lời của Người, vì chính Người nói khi ta đọc Kinh Thánh trong Giáo Hội” (PV 7). Vậy khi Giáo Hội đọc Kinh Thánh, thì lúc đó Thiên Chúa nói với Dân Người và Ðức Kitô loan báo Tin Mừng cho Giáo Hội (PV 33).

    Tuy nhiên, Công Ðồng còn khuyến khích tín hữu đọc Kinh Thánh một cách riêng tư. Ðây là một hướng mới của lòng đạo đức Kitô giáo. Việc đọc Kinh Thánh có một vị trí trổi vượt trong số các việc đạo đức.

    Kinh Thánh là một tập sách cổ, ngay bộ Tân Ước cũng đã cách xa ta gần 20 thế kỷ. Chính vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi gặp những đoạn văn khó hiểu và xa lạ với nền văn hóa của ta. “Lòng yêu mến nồng nàn và sống động đối với Kinh Thánh” (PV 24) được thể hiện qua việc học hỏi không ngừng. Các bài dẫn nhập, các ghi chú, các sách chú giải và những khóa học về Lời Chúa sẽ giúp ta rất nhiều để hiểu đúng và sâu về Lời Chúa trong truyền thống Giáo Hội.

    Thái độ đầu tiên của người đọc Lời Chúa là thái độ đức tin. Tin rằng chính qua đoạn Kinh Thánh mà tôi đang suy niệm hay chiêm niệm, Thiên Chúa muốn ngỏ lời với tôi: “Trong sách Thánh, Cha trên trời dịu dàng đến với con cái Người và đi vào cuộc đối thoại với họ” (MK 21). Nhưng để có thể đối thoại, ta cần biết mở lòng lắng nghe cách ân cần và khiêm tốn. Tiếng Chúa đến với tôi ở đây, bây giờ; tiếng ấy có thể khác với những dự định của tôi và đòi tôi bước vào một cuộc mạo hiểm của lòng tin phó thác. Cuộc gặp gỡ với Lời Chúa sẽ soi sáng cho từng cá nhân cũng như cho cả tập thể trước những quyết định và chọn lựa trong hoàn cảnh cụ thể hôm nay. Như thế suy niệm Lời Chúa đòi chúng ta phải dấn thân bằng cả cuộc đời.

    Ðọc Lời Chúa với thái độ tin tưởng lắng nghe là đã bắt đầu cầu nguyện. “Cầu nguyện phải đi đôi với việc đọc Kinh Thánh, để cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người được thiết lập” (MK 25). Dĩ nhiên cầu nguyện không nhất thiết phải nói ra lời, nhưng có thể chỉ là sự yên lặng thẳm sâu của người thấy mình sống trong tình yêu Chúa.

    Kinh Thánh sẽ chỉ là mớ chữ vô hồn nếu Chúa Thánh Thần không đến tác động trên người đọc. Nhờ Người mà một bản văn cổ trở thành lương thực nuôi dưỡng các tín hữu mãi cho đến tận thế. Nhờ Người mà Ðức Giêsu lịch sử trở nên gần gũi với chúng ta. Người sẽ dẫn chúng ta vào chân lý trọn vẹn. Vậy để hiểu được một bản văn do Thánh Thần linh hứng, chúng ta cũng cần có Thánh Thần soi sáng và thúc đẩy.

    “Ðối với con cái Giáo Hội, Kinh Thánh là sức mạnh cho đức tin của họ, là lương thực cho linh hồn họ, là nguồn suối trong ngần và thường hằng cho đời sống thiêng liêng của họ” (MK 21).

    Bản dịch Tân Ước mà bạn đang cầm trên tay là một đóng góp nhỏ bé cho nhu cầu đọc, suy niệm và sống Lời Chúa trên quê hương Việt Nam, và trong Giáo Hội.

    Các tin khác

    • 20/04/2015:

      Tìm hiểu tên thánh của người Công giáo Việt Nam

    • 15/04/2015:

      Tầm quan trọng của Kinh Thánh Cựu Ước

    • 13/04/2015:

      Tìm hiểu Kinh Cựu Ước

    • 12/04/2015:

      Hôn nhân và gia đình trong Tin mừng Gio-an

    • 10/04/2015:

      Thần học là gì?

    Câu trả lời

    Góp ý

    Họ và tên:

    *

     

    Email:

    *

     

    Tiêu đề:

    *

     

    Mã xác nhận:

     

    RadEditor – HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.

    RadEditor’s components – toolbar, content area, modes and modules

       

    Toolbar’s wrapper

     

    •  
    •  

    •  

    •  

    •  

    •  

    •  

    •  

     

    Content area wrapper

    RadEditor hidden textarea

    RadEditor’s bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.

    It contains RadEditor’s Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer

    Editor Mode buttons

    Statistics module

    Editor resizer

    • Design

    • HTML

    • Preview

     

     

    RadEditor – please enable JavaScript to use the rich text editor.

    RadEditor’s Modules – special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.

       

    --- Bài cũ hơn ---

  • Json Là Gì? Tìm Hiểu Cách Parse Json Javascript
  • Cách Tốt Nhất Học Lập Trình Java
  • Học Lập Trình Java Từ Đâu Và Như Thế Nào?
  • Bài 1: Giới Thiệu Về Jmeter
  • Học Javascript:tìm Hiểu Javascript Là Gì & Javascript Dùng Để Làm Gì
  • Tìm Hiểu Cách Đọc Kinh Thánh (1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Kinh Doanh Mỹ Phẩm Online Hiệu Quả Tại Luxury Girl
  • Tìm Hiểu Về Đa Cấp Và Bán Hàng Đa Cấp Là Gì?
  • 11 Bước Giúp Bạn Thành Công Trong Kinh Doanh Đa Cấp
  • Tìm Hiểu Về Những Loại Thuế Đối Với Hộ Kinh Doanh Cá Thể
  • Cách Tính Thuế Đối Với Hộ Kinh Doanh Cá Thể, Cửa Hàng Kinh Doanh
  • Thái Hà (27.11.2018) – Trong suốt dòng lịch sử của Hội Thánh, một thực tế cho thấy việc đọc hiểu Kinh Thánh không phải là điều dễ dàng. Chính Kinh Thánh chứng nhận điều này. Ngoài những bản văn sáng sủa, Kinh Thánh còn có nhiều đoạn tối nghĩa. Khi đọc một số bản văn sấm ngôn của ngôn sứ Giêrêmia, ông Đanien đã phải suy nghĩ lâu để xem ý nghĩa của những sấm ngôn đó là gì (x. Đn 9,2). Sách Công vụ 8:30-35 ghi lại lần kia Philip nghe một viên thái giám người Êthióp đang ngồi trên xe trở về nhà và đọc sách ngôn sứ Isaia, Philip hỏi viên thái giám, “Ngài có hiểu điều ngài đọc không?” Viên thái giám trả lời Philip, “Làm sao tôi hiểu được nếu không có người dẫn giải.” Thư 2 Phêrô nói rõ là “không ai được tự tiện giải thích một lời ngôn sứ nào trong Sách Thánh” (2Pr 1,20). Đàng khác, thư ấy còn quả quyết rằng trong các thư của tông đồ Phaolô “có những chỗ khó hiểu, những chỗ ấy cũng như những chỗ khác trong Kinh Thánh bị những kẻ vô học và nông nổi xuyên tạc, khiến chúng phải chuốc lấy họa diệt vong” (3,16).

    Đáp lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng, chúng tôi xin giới thiệu Quý Vị chương trình “Tìm Hiểu Cách Đọc Kinh Thánh.” Chương trình này sẽ dựa trên các văn kiện chính thức của Hội Thánh (Huấn Quyền) hướng dẫn cách giải thích Kinh Thánh cũng như suy tư của các học giả Kinh Thánh Công giáo. Hy vọng chương trình này sẽ góp phần nhỏ bé vào rất nhiều nỗ lực giá trị khác đang có nhằm giúp các tín hữu Việt Nam “củng cố lòng gắn bó với Tin Mừng” (CĐT 8), “vì Tin Mừng là quyền năng Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có lòng Tin” (Rm 1:16).

    Trong suốt dòng lịch sử của Hội Thánh, một thực tế cho thấy việc đọc hiểu Kinh Thánh không phải là điều dễ dàng. Chính Kinh Thánh chứng nhận điều này. Ngoài những bản văn sáng sủa, Kinh Thánh còn có nhiều đoạn tối nghĩa. Khi đọc một số bản văn sấm ngôn của ngôn sứ Giêrêmia, ông Đanien đã phải suy nghĩ lâu để xem ý nghĩa của những sấm ngôn đó là gì (x. Đn 9,2). Sách Công vụ 8:30-35 ghi lại lần kia Philip nghe một viên thái giám người Êthióp đang ngồi trên xe trở về nhà và đọc sách ngôn sứ Isaia, Philip hỏi viên thái giám, “Ngài có hiểu điều ngài đọc không?” Viên thái giám trả lời Philip, “Làm sao tôi hiểu được nếu không có người dẫn giải.” Thư 2 Phêrô nói rõ là “không ai được tự tiện giải thích một lời ngôn sứ nào trong Sách Thánh” (2Pr 1,20). Đàng khác, thư ấy còn quả quyết rằng trong các thư của tông đồ Phaolô “có những chỗ khó hiểu, những chỗ ấy cũng như những chỗ khác trong Kinh Thánh bị những kẻ vô học và nông nổi xuyên tạc, khiến chúng phải chuốc lấy họa diệt vong” (3,16).

    Dường như mẩu đối thoại giữa Philip và viên thái giám cách đây hơn 2000 năm vẫn còn sống động tại Việt Nam hôm nay. Tôi đã hỏi nhiều giáo dân câu hỏi của Philip và nghe nhiều lời than thở là không hiểu đoạn này đoạn kia trong Kinh Thánh nói gì.

    Câu chuyện của Philip và viên thái giám cũng như thực tế của các tín hữu Việt Nam, cách riêng là lời kêu gọi của ĐGH Bênêđictô, thúc bách chúng ta suy nghĩ về sự cần thiết phải học cách để đọc hiểu Kinh Thánh. Nhiều người sẽ than thở là không thể, vì một ngàn lẻ một lý do. Nhưng tôi nghĩ lý do chính đó là thiếu lòng khao khát. Nếu càng không hiểu Kinh Thánh thì chúng ta hãy càng khao khát muốn tìm hiểu. Thánh Augustinô giải thích lòng khao khát này như sau: Vì tâm hồn và trí óc chúng ta quá hạn hẹp cho những điều vĩ đại Chúa dành cho chúng ta, đặc biệt là chính Chúa hiện diện nơi Lời của Ngài trong từng trang Kinh Thánh, nên lòng khao khát là cách Thiên Chúa nới rộng tâm hồn và trí óc chúng ta, để chúng ta dễ dàng đón nhận được Chúa. Ai càng khao khát thì càng dễ được những ơn vĩ đại! Ai không khao khát thì sẽ chẳng được gì! Chúa có muốn ban ơn như mưa từ trời xuống thì cũng chỉ gặp một tâm hồn đóng kín hoặc một chiếc bình đã đậy kín nắp.

    Chúng tôi xin kể câu chuyện thú vị của một trong những học giả Kinh Thánh xuất sắc, Cha Daniel J. Harringtons, SJ. Câu chuyện cho thấy nếu chúng ta có lòng khao khát và quyết tâm muốn học hiểu Kinh Thánh thì Chúa sẽ ban những ơn trợ giúp cần thiết cho chúng ta.

    Cha Harringtons giải thích thêm thật ra người Công giáo có đọc Kinh Thánh, chỉ có điều là hầu hết không nhận ra điều đó. Họ nghe đọc Kinh Thánh trong thánh lễ. Nhưng bản văn Kinh Thánh bằng tiếng Latinh và đa số chỉ có thể hiểu được bản văn ấy nếu họ có một bản dịch tiếng Anh gọi là “missal.” Tuy vậy, phần lớn người Công giáo khoảng năm 1950 (trừ một số linh mục, tu sĩ) không dành thời giờ để đọc Kinh Thánh.

    Dù Cha Harringtons lúc đó còn nhỏ tuổi, nhưng câu chuyện hai người đàn ông kia khiến cho ngài suy nghĩ. Ngài muốn tìm hiểu tại sao người Công giáo không đọc Kinh Thánh. Cùng thời gian đó, ngài đọc trong một tạp chí rằng, theo sách Xuất hành, ông Môsê bị ngọng. Vì cũng bị ngọng nên ngài càng muốn tìm hiểu xem bài báo kia nói đúng không. Ngài liền tìm đọc sách Xuất hành 4:10, trong đó nói rằng ông Môsê đã cưỡng lại lời gọi của Thiên Chúa để lãnh đạo dân Người ra khỏi Aicập. Ông Môsê viện cớ là, “Con không có tài ăn nói vì con cứng miệng cứng lưỡi.” Câu này là một phần của trình thuật trong Xh 3-4 nói về kinh nghiệm của ông Môsê với Thiên Chúa trên núi Khôrếp và ơn gọi lãnh đạo dân Chúa. Theo Cha Harringtons, đây là một trong những bản văn quan trọng nhất của Kinh Thánh. Toàn bộ bản văn chứa đựng tất cả sức năng động của kinh nghiệm tôn giáo: bụi cây bốc cháy, sự tò mò và nỗi sợ hãi của ông Môsê, khái niệm về đất thánh, lời gọi của Chúa, việc Thiên Chúa tự bày tỏ chính Ngài, lệnh truyền đi đến đất Thiên Chúa đã hứa cho Ápraham và con cháu, lời Chúa hứa sẽ thực hiện điều này, những cảnh cho thấy sức mạnh lạ thường của ông Môsê, việc ông tiếp tục từ chối lời Chúa gọi và sau cùng đã chấp nhận.

    Vấn đề nói năng khó khăn của ông Môsê (dù là gì đi nữa) đã được đặt trong bối cảnh Chúa nói với ông, “Ai cho con người có mồm có miệng? Ai làm cho nó phải câm phải điếc… Há chẳng phải là Ta, ĐỨC CHÚA, đó sao?” (Xh 4:11). Cha Harringtons thừa nhận bản văn Kinh Thánh này vẫn mãi là bản văn quan trọng nhất trong cuộc đời ngài, không phải vì nói về ông Môsê ngọng nhưng vì cho thấy kinh nghiệm của bản thân Cha về Thiên Chúa và nỗ lực cả đời của Cha để sống trong tương quan với Chúa. Thật vậy, khi lớn lên, cậu bé Harringtons đã gia nhập Dòng Tên và trở thành một trong những học giả Kinh Thánh xuất sắc nhất trên thế giới.

    Lm. JM. Mười Một, C.Ss.R Từ VRNs

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Cách Kinh Doanh Bán Hàng Hiệu Quả Thu Lại Nhiều Lợi Nhuận
  • Kinh Doanh Gì 2022? 25 Ý Tưởng Kinh Doanh Sẽ Là Xu Hướng Hốt Bạc
  • Tìm Hiểu Các Cách Kinh Doanh Căn Hộ Dịch Vụ Sinh Lời Hiệu Quả Nhất
  • Tư Vấn Thủ Tục Đăng Ký Kinh Doanh Nhanh Năm 2022
  • Tìm Hiểu Cách Kinh Doanh Trên Facebook
  • Sổ Tay Tìm Hiểu Sách Khải Huyền Của Thánh Gioan

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Biến Đổi Của Đạo Tin Lành Ở Việt Nam
  • Iphone 11 Pro Vs Iphone 11 Pro Max: Khác Biệt Không Chỉ Là Kích Thước
  • So Sánh Lãi Suất Tiền Gửi Các Ngân Hàng
  • So Sánh Lãi Suất Tiền Gửi Tiết Kiệm Của 17 Ngân Hàng
  • Đây Là 4 Điểm Khác Biệt Chính Giữa Galaxy Note 20 Và Note 20 Ultra
  • Khoá học này nhằm giới thiệu đến Quý Thầy về cấu trúc, các biểu tượng và nội dung của sách khải huyền Gioan. Qua việc nghiên cứu và chú giải những đoạn văn được chọn lựa, chúng ta sẽ phần nào hiểu hơn ý nghĩa của sứ điệp khải huyền cũng như những vấn đề nhạy cảm dễ bị hiểu sai và lạm dụng.

    SỔ TAY

    TÌM HIỂU 

    SÁCH KHẢI HUYỀN GIOAN

     

    Nội dung khoá học và Thư mục

    Khoá học này nhằm giới thiệu đến Quý Thầy về cấu trúc, các biểu tượng và nội dung của sách khải huyền Gioan. Qua việc nghiên cứu và chú giải những đoạn văn được chọn lựa, chúng ta sẽ phần nào hiểu hơn ý nghĩa của sứ điệp khải huyền cũng như những vấn đề nhạy cảm dễ bị hiểu sai và lạm dụng.

    Trước mỗi bài học, Anh Em được gợi ý chuẩn bị và đọc trước những đoạn kinh thánh có liên hệ.

    Aune, D. E. Revelation, 3 vols. (WBC, vols 52A-C; Dallas: Word, 1997-98).

    Bauckham, R., The Theology of the Book of Revelation (Cambridge 1993).

    Collins, A. Y. Crisis and Catharsis: The Power of the Apocalypse (Philadelphia: Westminster Press 1984).

    Corsini, E. The Apocalypse: The Perennial Revelation of Jesus Christ (Wilmington: Glazier 1983).

    Desrosiers, G. An Introduction to Revelation: A Pathway to Interptation (London: Continuum 2000).

    Harrington, W. Revelation (Sacra Pagina 16; Collegeville: The Liturgical Press 1993).

    Metzger, B. M. Breaking the Code: Understanding the Book of Revelation (Nashville: Abingdon Press 1993).

    Michaels, J. R. Interpting the Book of Revelation (GNTE 7; Grand Rapids, MI: Baker Book House 1992).

    Prévost, J.-P. How to Read the Apocalypse (London: SCM Press 1993).

    Prigent, P., L’Apocalypse de Saint Jean (CNT 14; Geneve 2000).

    Richards, P. Revelation: A People’s Commentary (Maryknoll: Orbis 1999).

    Smalley, S.S. The Revelation to John: A Commentary on the Greek Text of the Apocalypse (London: SPCK 2005).

    Talbert, C.H. The Apocalypse: A Reading of the Revelation of John (Louisville, KY: Westminster John Knox Press 1994).

    Witherington III, B. Revelation (NCBC; Cambridge: Cambridge University Press 2003).

        Nội dung khoá học:

    1.    Tổng quan về Văn Chương Khải Huyền và Sách Khải Huyền Gioan.

    2.    Các Thị Kiến trong bối cảnh phung vụ: 1:4-8 và 22:8-21.

    3.     Sứ điệp gởi cho 7 Hội Thánh và thư gởi cho Laodicea (3:14-22).

    4.    Thị kiến về Đức Kitô – Con Chiên (4:1-5:14) và Kitô học của Khải Huyền Gioan.

    5.    Bí mật các ấn niêm phong và những thị kiến về lịch sử (6:1-8:5).

    6.    7 tiếng kèn – một thị kiến khác về lịch sử ? (8:6-11:19).

    7.    Điềm lạ vĩ đại (12:1-18).

    8.    “Thù địch và bạn hữu”: Hai con mãnh thú và 144.000 “người được chuộc về” (13:1-14:20).

    9.    Những điều sau cùng – Cánh chung học trong Khải Huyền (15:1-20:15).

    10.    Jerusalem mới và biểu tượng Giáo hội học của Khải Huyền.

    11.    “Tin Mừng vĩnh cửu” (14:6): Luân lý và các mối phúc: Một tổng luận của Khải Huyền như là thần học hy vọng.

    12.    Những vần đề đặt ra cho việc chú giải và hiện thực hoá sứ điệp của Khải Huyền. 

     

    1. TỔNG QUAN VỀ VĂN CHƯƠNG KHẢI HUYỀN VÀ SÁCH KHẢI HUYỀN GIOAN

    1.1. Văn chương Khải Huyền trong truyền thống Do Thái. 

    1.2. Tổng quan về nội dung và cấu trúc của Khải Huyền.

    1.3. Tác giả và hoàn cảnh biên soạn và nội dung.  

    1.4. Để chú giải Khải Huyền Gioan. 

        Tài liệu tham khảo chính:

     Corsini, 7-63; Harrington, 1-17; Metzger, 11-20.

     W.C. Weinrich, “Introduction to the Revelation to John,” trong W.C. Weinrich (ed.), Revelation (Ancient Christian Commentary on Scripture: NT 12; Downers Grove IL: InterVarsity Press 2005), xvii-xxix (Sách Khải Huyền trong thời Giáo Hội sơ khai).

     A.Y. Collins, “The Book of Revelation,” trong J. J. Collins (ed.), The Encyclopedia of Apocalypticism, vol. I (NY: Continuum), 384-414.

     Hoàng Văn Khanh, Khải Huyền Gioan (Giáo trình Đại Chủng Viện Thánh Giuse – Tp. HCM), 15-116.

        Chuẩn bị cho buổi học tiếp theo:

     Đọc và so sánh Danien 7-12 với Kh 1 và và 22. 

     

    1.1. VĂN CHƯƠNG KHẢI HUYỀN TRONG TRUYỀN THỐNG DO THÁI

    1.1.1. Bối cảnh lịch sử – Tôn giáo

    Sau những chinh phục lẫy lừng của nhà Makêđonia trên toàn đế quốc Ba tư, nhà vua phân quyền thống trị các nước chư hầu cho hai nhà Lagides (Ptolêmê) và Leucides. Nhà Ptolêmê thống trị trên toàn lãnh thổ Ai cập và nhà Séleucides trên Syria.

    Vương quyền Séleucides trên Palestina dần dà dẫn đến cuộc xung khắc giữa chính quyền và cộng đoàn phượng tự Giêrusalem. Cuộc xung khắc bùng nổ khi chính quyền Séleucides tấn công tàn bạo vào của cải, quyền lợi và trật tự của Đền thờ và cộng đoàn phượng tự Giêrusalem. Điều này trái với đặc quyền mà Antiochus III đã ban cho Cộng đoàn Giêrusalem. 

    Thực ra, thời kỳ này, nhà Séleucides đã bắt đầu suy sụp. Antiochus III (222-187) phải tùng phục La mã. Sau khi ông qua đời (187), con là Séleucos IV lên nối ngôi, tìm cách đưa em mình là Antiochos bấy giờ đang làm con tin tại La mã trở về và hy sinh đưa con mình là Demetrios làm con tin thế cho chú.

    Bối cảnh chính trị và tôn giáo thời ấy được ghi lại trong 1-2 Mcb. 1Mcb trình thuật các biến cố từ 175-134 tcn, cho thấy cái nhìn của một nhà đạo đức, nhiệm nhặt với Lề luật và đề cao công nghiệp của những gương mặt lãnh đạo nhà Maccabêô-Hasmonie. 2Mcb trình thuật các biến cố từ 175-161. Theo đó, cộng đoàn Giêrusalem phải đối diện với những vấn đè nghiêm trọng của phong trào Hy hóa. 

    Từ sau khi đế quốc Hy lạp thống trị trên khắp Địa trung hải, phong trào Hy hóa được đề xướng và lan tràn nhanh chóng trên khắp các dân bị trị. Phong trào này lan tận đến Palestina và các vùng Do thái Diapora. Bản Bảy Mươi bằng tiếng Hy lạp ra đời tại cộng đoàn Do thái tại Alexandrie. Trước việc Hy hóa này, một số lớn người Do thái, đặc biệt những bậc quyền thế, giàu sang, kể cả hàng tư tế đã sẵn sàng hưởng ứng. Nhưng cũng có những nhóm kịch liệt phản đối lối sống xa lạ, bảo vệ những truyền thống tổ tiên và coi việc hy hóa như phản lại với luân thường đạo lý của cha ông và bất trung với niềm tin vào Thiên Chúa. Theo 2Mcb 4,12 thì khoảng năm 175, vị thượng tế đã cho xây tại trung tâm Giêrusalem một gymnasion theo kiểu giải trí của Hy lạp. Một số đông hào hứng đón nhận, trong khi đó những người trung thành tuyệt đối tẩy chay vì cho đó là những thứ sa đọa liên hệ đến việc thờ ngẫu tượng. 

    Antiochus quyết định trừ khử cộng đoàn Giêrusalem phản loạn chống lại phong trào Hy hóa, cấm mọi hoạt động phượng tự, cấm phong tục cắt bì, và đem tượng thần Zeus vào Đền thờ (gọi là đồ ghê tởm). Một cuộc bách hại ghê gớm xảy ra. Những người thà chết chứ không để mình bị nhơ uế vì thức ăn và vi phạm Giao ước (1Mcb 1,63) can đảm chống lại phong trào Hy hóa. Gia đình Mattathias, thuộc dòng Hasmon, đứng lên phất cờ khởi nghĩa. 

    Chính thời kỳ này xuất hiện Daniel nói lên sự trợ lực của Thiên Chúa đối với những kẻ trung thành, biến cố ngày nay là khởi điểm cho sự kết thúc quyền lực thế tục và chuẩn bị cho vương quyền Thiên chúa sẽ đến. Văn chương khải huyền chính thức hình thành trong giai đoạn này, giải thích thế giới và lịch sử quy hướng vào sự kết thúc do chính Thiên Chúa hướng dẫn. 

    1.1.2. Khải huyền 

    Văn chương khải huyền với thể văn riêng biệt ghi dấu phong trào đấu tranh trước sự bành trướng của chủ nghĩa đế quốc và phong trào Hy hóa. Cuộc nổi dậy của anh em nhà Maccabêô nằm trong bối cảnh này. Những tác phẩm khải huyền Do thái được viết ra để an ủi các đồng đạo đang chịu bách hại, nói lên quan niệm về Đấng Messia sẽ đến giải thoát và thiết lập thời cánh chung. Nổi bật nhất là sách Daniel.

        Sách Hénoch 

    Các đoạn cổ nhất 1-36 và 72-110 được viết trước thời Mcb: sa ngã của thiên thần, thẩm phán và thế giới bên kia. Các chương 85-90: thị kiến các thú vật và người mục tử. Các chương 91-93 là Khải huyền về 10 tuần lễ. Các chương 37-71: các dụ ngôn chứa chất nội dung về Đấng Messia và cánh chung. Sách Hénoch quan trọng nhất trong Khải huyền Do thái vì nói về sự chờ đợi Đấng Messia và thời cánh chung với sự chung thẩm, nước trời, hỏa ngục…

        IV Esdras

    IV Esdras viết bằng Hy lạp, nay chỉ còn bản dịch latin, với 17 thị kiến, nói về đối thoại giữa Esdras đang lưu đày với thiên sứ Uriel. Sau gương mặt Edras là Do thái phẫn uất dưới thời Flavien, căm hận Titus tàn phá Đền thờ 70. Vấn đề đặt ra là tại sao Do thái bị đau khổ. Thiên sứ trả lời con người không thể hiểu thấu mầu nhiệm Thiên Chúa. Đấng Messia sẽ đến như con Thiên Chúa, từ dòng vua Đavít, xuất hiện trên Sion vinh quang và đi với Ngài là những ai không nếm sự chết: Môisê, Henoch, Êlia, Esdras… Ngài sẽ chiến thắng sự dữ, kẻ ác và trị vì 400 năm với những người đã được tuyển chọn. Sau đó, Ngài chết và sau thời gian thế giới lặng yên 7 ngày, xuất hiện thế giới mới, mọi người chết sống lại, thẩm phán. 

        Khải huyền Baruch

    Khải huyền Baruch có lẽ cùng thời với Esdras IV. Ngôn sứ Baruc cho thấy những gì xảy ra sau khi Đền thờ bị phá huỷ 587.

        Các sấm ngôn Sibyllin

    Các sấm ngôn Sibyllin gồm 14 tập, trong đó 3 tập mang tư tưởng Do thái. Ch. III phản ánh hy vọng Do thái sau chiến thắng của anh em Maccabê. Tác giả ca tụng vai trò dân Do thái trong thế giới và Đấng messia. Quyển IV nhìn thế giới ngày nay đến ngày núi lửa Vesuve bùng nổ (79) và mô tả cuộc phán xét cánh chung. 

    1.2. TỔNG QUAN VỀ NỘI DUNG VÀ CẤU TRÚC 

    CỦA KHẢI HUYỀN GIOAN

    1.2.1. Khải huyền là gì?

    Khải huyền dịch từ Hy ngữ Ἀποκάλυψις, do động từ Ἀποκάλυπτω tương đương với hai động từ Hipri: “גלה” có nghĩa là tỏ mình ra, mặc khải (1Sam 2:27), mở ra, cất màn che (Xh 20:26) và “ערה” có nghĩa là lột trần ra (Lv 20:19; Is 3:17). 

    Khải huyền là tỏ lộ những điều bí nhiệm về thời cuối cùng đã được mặc khải cho các bậc tiền nhân đáng kính, nhưng đến nay vẫn còn dấu ẩn. Như thế, hoàn toàn khác với quan niệm cho rằng khải huyền là mặc khải về thời cùng tận bi đát với những thảm họa và bất hạnh. 

    Từ trong thế giới hiện tại đang bị khủng hoảng, nhất là về mặt đức tin, nhà khải huyền thị kiến một thế giới mới siêu vời tốt đẹp sẽ xuất hiện trong tương lai vào thời cuối cùng. Hiểu như thế, văn chương khải huyền xuất hiện trong thời thử thách đau thương. Bên kia sự đối kháng với phong trào Hy hóa, lúc mà đức tin Do thái bị thử thách và bách hại, văn chương khải huyền đã phát sinh từ khi Giêrusalem và vương quốc Giuđa sụp đổ và Do thái bị lưu đày (587 tcn). 

    Như thế, văn chương khải huyền xuất hiện như một biến động văn hóa: tiếp nối và biến đổi hoàn toàn nền văn chương ngôn sứ. Từ một Giêrêmia đón nhận Lời nơi miệng (Gr 1:9) đến một Êdêkiel ăn quyển sách ghi chép Lời và thị kiến (Ed 3:1-3), sau đó nhà khải huyền ghi chép Lời và thị kiến như sách Daniel minh tỏ trong câu đầu và câu kết chương 7 (Dn 7:1.28). 

    Sách Daniel kết thúc: “Phần ngươi, Đaniel, hãy giữ những lời này và niêm quyển sách lại” (Dn 12:4). Vừa ngôn sứ lại nhất là vừa khải huyền, Daniel đánh dấu một chuyển tiếp từ văn chương ngôn sứ mà chủ yếu là rao giảng (phát ngôn) dù thị kiến cũng được viết ra (Ed và Dcr 1-8) đến một nền văn chương khải huyền. Điều đó có nghĩa là văn chương khải huyền đã phôi thai ngay từ trong ngôn sứ thời lưu đày, có thể gọi là văn chương ngôn sứ tiền khải huyền. Sự kiện Dn 9 lấy lại Gr 25:11-12; 29:10 (bảy mươi năm lưu đày) chứng tỏ mối tương quan nối kết hai loại văn chương này. Lý do: yếu tố thị kiến đã có mặt trong thể loại ngôn sứ (Is 6:1-11; Gr 1:11-16; 24:1-10; 38:21-22; Am 7:1-9; 8:1-3; 9:1-4). Thị kiến tạo nên trong tâm trí nhà khải huyền một “mặc khải” (Ἀποκάλυψις) như lời mở đầu sách Khải huyền Gioan nói đến (Kh 1:1). Chỉ khác biệt là trong văn chương ngôn sứ, chính vị ngôn sứ giải thích rõ ràng ý nghĩa các thị kiến, trong khi đó khải huyền phải nhờ đến sự giải thích của thần sứ. 

    1.2.2. Thể văn khải huyền

    Ngoài thể văn luật pháp, lịch sử, ngôn sứ và khôn ngoan, người ta còn thấy xuất hiện trong văn chương Dothái một thể văn khác. Ðó là thể văn khải huyền.

    Trong Kinh Thánh, văn chương khải huyền xuất hiện đặc biệt nơi Ðanien, Giôen. Tuy nhiên, Is 24-27; Dcr 9-11 và Êdêkien cũng đã được viết theo thể văn này.

    Ta cũng gặp thể văn này trong Tin Mừng Nhất Lãm Mc 13; Mt 24:1-16; Lc 17:22-37; 21:5-33. Thánh Phaolô với 1Tx 4:15-17; 2Tx 2:1-12.

    Như vậy, thể văn khải huyền xuất hiện trong bối cảnh tôn giáo đang gặp thử thách, khó khăn. Ðể duy trì đức tin và niềm hy vọng cho dân Thiên Chúa, các tác giả khải huyền cố gắng vén tỏ bức màn đang che khuất cái thực tại, những điều bí ẩn đằng sau lịch sử; đồng thời các ông cũng cho thấy lịch sử có giới hạn. Tất cả đều sụp đổ vào thời cánh chung. Sự mặc khải này vừa bi quan đối với hiện tại, vừa lạc quan cho tương lai. Bi quan vì thế giới đang chịu quyền lực sự ác thống trị. Lạc quan vì, sau cùng, Thiên Chúa toàn thắng và Người sẽ tái tạo một thế giới mới tốt đẹp hơn.

    Tất cả sách Khải Huyền đều nói đến cuộc chiến “một mất một còn” giữa Thiên Chúa và ma quỷ vào thời cánh chung. Chiến thắng sau cùng thuộc về Thiên Chúa. Các tác giả thường đưa ra hai thái cực đối lập; chẳng hạn, một bên là thế giới hiện tại, một bên là thế giới tương lai. Bên này là thời của kẻ gian ác; bên kia là tương lai của những kẻ được cứu độ. Một bên là ma quỷ thống trị, bên kia là vương quốc hân hoan, cứu độ, ân sủng của Thiên Chúa.

    Tác giả sách khải huyền Dothái thường giấu tên, mượn danh một nhân vật có uy tín thời xa xưa. Còn tác giả sách Khải Huyền Tân Ước lại tự giới thiệu là ông Gioan. Các biến cố được loan báo không phải còn lâu mới xảy ra, nhưng sắp xảy ra tức thời, đã gần bên 1,3; 3,11; 22,7.10.12.20.

    Nhân vật quan trọng của biến cố nơi các sách khải huyền Dothái hay Cựu Ước là Ðấng Mêsia. Còn nơi Khải Huyền Gioan, chính Ðức Giêsu Kitô là nhân vật quan trọng của các thị kiến. Tất cả lịch sử xoay quanh Ðức Kitô 1:5; 2:21; 7:14; 12:5.11. Người nắm giữ vận mệnh thế giới và tập hợp những kẻ được tuyển chọn quanh ngai tòa Thiên Chúa.

    Cách thức mặc khải thường là thị kiến. Người truyền đạt thông điệp là một thiên sứ hay một sứ giả của Thiên Chúa. Trong Khải Huyền, chính Ðức Kitô tỏ bày thông điệp cho ông Gioan.

    Hình thức diễn tả trong Khải Huyền thường vay mượn những hình ảnh cổ truyền của Cựu Ước, các khải huyền Dothái, thần thoại hay chuyện dân gian ở miền Tiểu Á. Chẳng hạn vai trò của các thiên sứ 7,13; sách được niêm ấn 5,1; sách để nuốt 10,1-11; kèn 8,2; bát 15,8; chớp và sấm 4,5; 10,3; đại chiến vào thời thế mạt 19,11-22,10; Gốc và Magốc 20,8; tiệc cánh chung 19,17-18). “Điều đó cho phép tác giả nhìn hiện tại từ quá khứ và tìm thấy ở đó những đường hướng ý nghĩa mà tác giả dự phóng cho tương lai”, cha Gérard Billon, giám đốc Ban Kinh Thánh Công giáo Tin Mừng và Sự Sống, nhận định.  

    Hình ảnh của Khải Huyền có tính biểu tượng hơn là mô tả; dùng hình ảnh để diễn đạt một ý tưởng hơn là quan tâm đến sự hài hòa của sự vật, chẳng hạn gươm hai lưỡi 1:26; chiên có bảy sừng 5:6.

    Những con số và màu sắc cũng chỉ có giá trị biểu tượng. Số 7 chỉ sự hoàn hảo; số 4 nói đến thế giới; số 12 áp dụng cho Ítraen; số 1000 nói lên thời gian lâu dài. Số ba rưỡi chỉ thời gian ngắn… Màu trắng diễn tả niềm vui, chiến thắng, màu đỏ thể hiện cảnh máu đổ…

    Sách Khải Huyền Gioan được gọi là “apocalyptique” như chính nhan đề sách chứng tỏ. Danh xưng này cho thấy, cách nào đó, Khải huyền Gioan là khuôn mẫu cho một thể loại văn chương khó định nghĩa, một phần vì ta không gặp thấy những tác phẩm loại ấy trong nền văn học hiện đại, dù rất nhiều tác phẩm mang đầy chất giả tưởng và nói đến những thị kiến, đặc biệt thị kiến về Satan đang hoành hành trong lịch sử hôm nay và thời cùng tận; nhưng đó chẳng qua chỉ là những sao chép hoặc biến đổi sách Daniel và Khải Huyền Gioan. 

    1.2.3. Đặc tính Khải huyền

    Pierre Prigent đã đề ra 5 tiêu chuẩn giúp phân biệt và nhận ra đặc tính của thể loại văn chương đặc biệt này: 

        Khung cảnh thị kiến

    Đặc tính đầu tiên của thể văn khải huyền là khung cảnh thị kiến. Thiên thần dẫn đưa nhà thị kiến đến một nơi riêng biệt, chỉ cho thấy thị kiến và giải thích ý nghĩa thị kiến đó. Đôi khi Thiên thần đưa nhà thị kiến vượt xa vạn dặm, đến mút cùng trái đất, hoặc qua các tầng trời. 

        Thế giới mới

    Đặc tính thứ hai là sự biến đổi vũ trụ. Thế giới hiện tại đang trong thảm họa được biến đổi sang một thế giới mới, thế giới siêu nhiên vào một thời mới; và sau đó là sự phán xét chung thẩm của Thiên Chúa trên toàn vũ trụ nhân loại. Ta cần lưu ý khải huyền Tân ước khác biệt với khải huyền Do thái ở chỗ với Đức Kitô xuất hiện, một thời đại mới đã bắt đầu trong nhân loại. 

    Thị kiến về một thế giới siêu việt trong tương lai giúp nhà khải huyền giải thích những hoàn cảnh bi đát hiện tại nơi trần thế. 

    Như đã nói trên, khải huyền bắt rễ từ văn chương ngôn sứ. Các ngôn sứ cũng có một kinh nghiệm siêu nghiệm về Thiên Chúa và chương trình mầu nhiệm của Thiên Chúa (Am 3,7; 1V 22, 19-23; Is 6); thế nhưng trong khải huyền, các thị kiến về một thế giới khác phức tạp hơn nhiều, thường kèm theo những biểu tượng huy hoàng như đền thờ lý tưởng, khung cảnh phụng vụ uy nghi, những hiện tượng vũ trụ, những bức tượng, những quái vật, … và nhũng con số bí nhiệm… 

    Sứ điệp ngôn sứ chỉ đề cập đến những trường hợp hiện tại trong thế giới cụ thể (chính trị quốc nội, quốc tế, việc thực hành tôn giáo, những ưu tư về xã hội). Giải pháp ngôn sứ đề ra cũng hoàn toàn khác biệt với khải huyền. Ông nghiêm nhặt chỉ trích và kết án những sa đọa về mặt thiêng liêng và luân lý trước một cuộc sống thịnh vượng với những tiện nghi vật chất, và đe dọa một thảm cảnh sẽ xảy đến ngay trong lịch sử như bị quân thù xâm lăng, lưu đày, triều đại sụp đổ, đền thờ bị tàn phá. Trong những hoàn cảnh thất vọng do áp bức, lưu đày, ngôn sứ lại gióng lên tiếng nói hy vọng bằng những ngôn từ trở về quê hương, quân thù bị tiêu diệt, việc phục hưng xứ sở và tái lập triều đại… Ngôn sứ vẫn đứng trong quan niệm báo ứng tại thế.

    Ngược lại, Khải huyền nhắm đến những con người đang sống trong những thời buổi đau khổ, bách hại, thất vọng, thời hoành hành của quỷ vương ra đời… Nếu lịch sử được phân chia thành những giai đoạn khác nhau do Chúa xác định, thì đây là giai đoạn cuối cùng mà tác giả muốn nhắm đến. Nơi khải huyền, không có niềm hy vọng về một giải pháp trong lịch sử, vì Chúa đến trực tiếp can thiệp và chấm dứt tất cả. Bằng một cái nhìn nhị nguyên, tác giả khải huyền hình dung điều xảy ra nơi trần thế như một phần của cuộc chiến nơi thế giới bên kia giữa Thiên Chúa hay các thiên thần của Người với Satan và bè lũ của nó. 

        Giả danh

    Đặc tính thứ ba của khải huyền là việc mượn bút danh (giả danh). Tác giả mượn tên một nhân vật nổi danh thời cổ, chẳng hạn Daniel một hiền nhân truyền thuyết hay Hénoch nhân vật được đưa lên trời, Esdras nhà lập pháp vĩ đại. Khải huyền mượn thế giá của nhân vật lừng danh này vì ông có thể tiên báo đúng và chắc những điều xảy ra giữa thời của ông và thời hiện tại khi tác giả viết tác phẩm. Quả thật tất cả những đều ấy đã xảy ra.

        Nhị nguyên và bi quan 

    Khải huyền có cái nhìn nhị nguyên và bi quan về thế giới hiện tại. Quyền lực sự ác thống trị trên nhân loại, nhưng sẽ bị tiêu diệt bởi sức manh vô địch của Thiên Chúa vào ngày thế tận. Cái nhìn bi quan thể hiện ở chỗ thế giới hiện tại không tiến về hạnh phúc nhưng sẽ bị tiêu diệt khi Chúa đến xét xử. Cái bi quan về thế giới hiện tại đó được thay bằng niềm hy vọng xanh tươi và tràn đầy vào cuộc chiến thắng chung cuộc của Đấng đến thiết lập một thế giới mới.

        Định mệnh thuyết 

    Tác giả khải huyền bộc lộ một nhãn quan tin vào định mệnh thuyết: lịch sử nhân loại và tất cả mọi sự đều đã được an bài từ khởi nguyên và đã được ghi trong sách trên trời. Thiên Chúa ban cho mọi sự ngày của chúng (1Hé 92,1) và không gì chuyển lay được ý của Người (4 Edras 4,37).

    1.2.4. Khải Huyền Do thái và văn chương Khôn Ngoan

    Một ít tác phẩm khải huyền Do thái được viết vào thời mà nền văn chương khôn ngoan khá thịnh hành, lúc mà Israel tiếp xúc với nền văn hóa Hy lạp. 

    Bối cảnh này giúp khai sáng hai khía cạnh của khải huyền: 

    -    Trước tiên, một số tác giả nghĩ rằng văn chương khải huyền thay thế văn chương ngôn sứ. Điều đó không mấy đúng, vì có những tác phẫm bao gồm cả hai thể văn. Khải huyền Gioan là trường hợp điển hình. Mặc dầu sách mang nhan đề là Khải huyền, nhưng ít là 6 lần nhà thị kiến khải huyền phát ngôn trong cung cách một ngôn sứ, đặc biệt đầu và cuối sách (Kh 1:3; 22:19). Các bức thư gởi các Hội thánh Kh 1:4 – 3:22 gồm nhiều yếu tố loan báo và an ủi theo cách ngôn sứ. Người ta như nghe được trong các thư này như chính Đức Giêsu tự công bố. Đó phải chăng là một trong những nỗ lực của các Kitô hữu ngôn sứ loan báo cho các cộng đoàn ý muốn của Đức Kitô hiển vinh.

    -    Thứ đến, ta cũng gặp thấy những điểm tương đồng giữa trào lưu khải huyền và văn chương khôn ngoan. Von Rad cho rằng khải huyền bắt nguồn từ trào lưu khôn ngoan.

    Từ những nhận định trên, người ta không thể giản lược sự đơm bông của văn chương khải huyền vào một nguồn duy nhất, hay vào phong trào đối kháng Hy hóa. Phải nhìn nhận khải huyền xuất hiện như một thể văn hỗn hợp: vừa khải huyền, vừa ngôn sứ lại vừa khôn ngoan! Nó vừa thừa kế các nền văn chương quá khứ, lại vừa là nơi gặp gỡ gia sản văn hóa Do thái với nền khôn ngoan của các dân tộc Cận Đông. Trong cái đa phức đó, khuôn mặt Daniel, vừa là mẩu hình một hiền nhân, vừa là nhà thị kiến ngôn sứ, trở nên biểu tượng chính thức cho văn chương khải huyền. Chính phong trào chống Hy hóa giúp liên kết các nguồn làm thành thể văn khải huyền.

    1.2.5. Ngôn Sứ và Khải Huyền 

    Các ngôn sứ (những người mang Lời Thiên Chúa, nói nhân danh Chúa cho người đương thời sứ điệp Chúa gởi trao) được Chúa sai đến với sứ mạng làm cho người đương thời sống mạnh, sống tốt thời hiện tại bằng việc đáp ứng những đòi hỏi của Giao ước với tất cà niềm tín thác vào Thiên Chúa. Các ngài loan báo ý định và chương trình của Chúa đang hoạt động trong hiện tại. Những lời loan báo luôn liên kết chặt chẽ với biến cố và bối cảnh hiện tại, đồng thời cũng hướng về tương lai dựa trên một đảm bảo và đoan chắc về phía Thiên Chúa. Vì vậy tương lai mở ra cho hiện tại cái ý nghĩa của nó và nâng đỡ niềm hy vọng trong hiện tại. 

    Để nâng đỡ niềm hy vọng đó, các ngôn sứ loan báo cho dân cái đích điểm cuộc hành trình lịch sử hay cụ thể hơn đích điểm cuộc đời họ. Trong Cựu ước, đích điểm đó là “Ngày của Chúa” (Am, Os, Is, Sop, Jo). Nhưng ngày đó có ý nghĩa gì và xảy đến thế nào, lúc nào… Điều đó hoàn toàn bí ẩn. 

    Nhưng khi xảy ra trong lịch sử những khủng hoảng lớn lao, những hoàn cảnh bi đát, nhà ngôn sứ cảm nhận những lời mình loan báo không còn đủ hiệu lực nâng đỡ niềm hy vọng, vì trước mắt là những biến cố đau thương, những tan nát đổ vỡ hoàn toàn trái ngược điều các ngôn sứ hứa hẹn và với chương trình yêu thương của Thiên Chúa toàn năng. Để đáp ứng lòng mong mỏi khát khao của con người muốn biết đâu là ý định của Chúa trong cái lịch sử rối beng này, đâu là điểm tới của lịch sử, thường thấy xuất hiện các ngôn sứ giả như minh chứng trong Gr 29:1-23. 

    Chính trong thời khủng hoảng này, Thiên Chúa vén bức màn che khuất đích điểm lịch sử và Người trao mặc khải này cho nhà thị kiến khải huyền. Ngôn sứ đổi thành nhà khải huyền là thế! Phong trào này bắt đầu với những đại ngôn sứ thời lưu đày và hậu lưu đày: Êdêkiel, Gioen, Dacaria, Isaia 24-27; 34-35… 

    Nếu nhà khải huyền tiếp vận truyền thống ngôn sứ, ông cũng mang những nét suy tư của các hiền nhân về thân phận con người cũng như về lịch sử Israel. Vì thế mà chúng tôi có lý khi nói rằng thể văn Khải huyền bắt nguồn từ ngôn sứ và có liên hệ với văn chương khôn ngoan.

    Vấn đề đặt ra là nhà khải huyền được Chúa cho “thấy” lịch sử kết thúc thế nào? Nói cách khác, Thiên Chúa mặc khải cho nhà khải huyền đích điểm lịch sử thế nào và ông đã trình bày làm sao?

    Thiên Chúa ban cho tác giả những thị kiến và ông đã sử dụng kỹ thuật hành văn để trình bày, gọi đó là thể văn khải huyền. 

    Tác giả khải huyền không biết gì về thời cùng tận, nhưng hơn hẳn mọi người ở chỗ ông tin chắc một điều là Thiên Chúa luôn trung thành với lời đoan hứa và Người sẽ thực hiện! Để biết điều sẽ xảy đến vào thời cùng tận, ông cố gắng khám phá hành động của Thiên Chúa trong hiện tại. Để làm điều đó, ông đọc lại lịch sử quá khứ của dân tộc, khám phá ra những can thiệp của Chúa cùng với những nguyên tắc hành động của Người. Rồi từ trong hiện tại, ông nhìn vào tương lai, phóng vào thời cùng tận những quy luật chung mà ông vừa khám phá, tức đường lối xử sự của Thiên Chúa trong lịch sử quá khứ. 

    Ta thử nhìn vào Daniel để minh họa điều vừa trình bày. Sách Daniel viết vào thời Antiochus Epiphane IV bách hại đạo (165 –164). Để biết tương lai ra sao, ông đặt mình trong thời khó khăn quá khứ, thời lưu đày Babylone vào những năm 587- 538. Ông rảo qua giai đoạn lịch sử từ năm 538 đến thời hiện tại (164). Từ trong hiện tại, ông phóng về phía trước điều ông đã khám phá qua việc đọc lại lịch sử ấy, không phải theo cung cách sử gia, nhưng theo kiểu văn khải huyền. Không phải ông “ thấy” rõ ràng những biến cố chính xác vị lai, vì những biến cố nói đến đã xảy ra rồi trong dĩ vãng hoặc trong hiện tại, nhưng ông chỉ muốn nói lên cách thức Thiên Chúa dẫn đưa lịch sử đến hoàn tất dựa vào chính sụ trung tín của Người. Hoàn tất cách nào? Điều này chỉ có thể trả lời dựa vào cách thức Thiên Chúa đã dẫn đưa lịch sử trong quá khứ. 

    Tác giả trình bày việc Thiên Chúa dẫn đưa lịch sử đến hoàn tất bằng cách nào? Thưa ông đã tìm cách diễn tả bằng hình ảnh với một kỹ thuật hành văn đặc biệt, gọi đó là thể văn khải huyền. Thật vậy, trong đời thường của con người, lắm lúc ngôn từ không thể diễn tả những cảm xúc thật da diết, phải cần đến các hình ảnh biểu tượng. Cái khó là không thể dừng lại ở hình ảnh, nhưng phải đạt tới những điều mà hình ảnh muốn diễn tả. Hình ảnh biễu tượng là nét đặc sắc trong nền văn hóa Sêmít. Các ngôn sứ đã thưởng hình ảnh tượng trưng, thị kiến biễu tượng để trình bày những biến cố thực (Osê – Isaia – Giêrêmia – Êdêkie). Các hình ảnh tượng trưng kích thích giác quan, đưa trí khôn người tin đi xa hơn vào việc lĩnh hội những điều thuộc giới thiêng, nghĩa là đọc được ý nghĩa của thế giới vô hình trong các biến cố của thế giới hữu hình. Tuyệt nhiên các hình ảnh tượng trưng không có ý báo trước những biến cố hữu hình lịch sử. Các hình ảnh tượng trưng có thể không xác thực, không thích ứng đủ hoặc chỉ tương ứng cách xa xa với tư tưởng muốn nói; lúc đó có thể làm hiểu sai hoặc tạo nên sự mù mờ thêm. Do đó, cần thiết phải có những thỏa thuận, quy ước (màu sắc, con số…) giúp hiểu đúng các biểu tượng.

    1.2.6. Khải Huyền Gioan 

    Để giúp hiểu sách Khải huyền cách cụ thể hơn, tưởng cũng nên so sánh một số điểm then chốt giữa văn chương ngôn sứ – Khải huyền Do thái – Khải huyền Ga.

        Tác giả

    Các Ngôn sứ ý thức sâu sắc mình là sứ giả của Lời Chúa, nói cho người đương thời nhân danh Chúa. Nhưng tác phẩm của các ngài ký chính tên thật của mình. Ngôn sứ tự giới thiệu mình là chứng nhân của Thiên Chúa hằng sống, tra vấn con người trong hiện tại cuộc sống của họ.

    Ngược lại, khải huyền thường dùng giả danh, nghĩa là sách của ông ký tên một nhân vật lừng danh trong quá khứ. Vì muốn đề cập đến trong “thị kiến”, điều ngay từ nguyên thủy đã được ấn định trong chương trình bí nhiệm của Thiên Chúa, nên tác giả gán những mặc khải này cho một nhân vật nào đó đã sống thời kỳ quá khứ: Hênoch được đưa lên trời như Êlia, hoặc Môisê, Ađam, Abraham….. Đồng thời, điều ấy còn tỏ cho thấy chương trình của Chúa luôn bền vững không hề đổi thay, từ lâu xa trước đã được mặc khải cho các vị ấy để đến hôm nay các ngài mới bày tỏ ra. Chính các ngài nói và có thể trình bày với đầy đủ chi tiết chính xác một lịch sử đã phần nào được hoàn thành.

    Khải huyền Gioan không mạo danh, nhưng ký tên thực là Gioan. Ngài tự giới thiệu mình là chứng nhân của Đức Kitô hằng sống. Ngài nối lại hoạt động và sứ điệp của các ngôn sứ: trong khi các tác giả khải huyền bày tỏ một chương trình vĩnh cửu, Gioan trình bày cho ta Đức Kitô đến trong lịch sử con người. Thế giá duy nhất có thể đảm bảo sứ điệp này là chính Đức Kitô.

        Cách diễn đạt

    Ngôn sứ đôi khi dùng các thị kiến hay những hành động tượng trưng, nhưng chủ yếu vẫn là những lời rao giảng và những sấm ngôn để chuyển trao Lời Chúa cho người đương thời.

    Tác giả khải huyền chủ ý bày tỏ những bí mật đã được ủy thác xưa kia cho các tiền nhân, nay được tỏ lộ vì sắp đến ngày cùng tận. Vi thế, ông không dùng diễn từ, mà lại dùng các hình ảnh biểu tượng để diễn đạt. Hình ảnh càng huyền bí bao nhiêu càng tuyệt diệu bấy nhiêu.

    Thoạt nhìn, Khải huyền Gioan cũng làm như thế. Nhưng phần lớn những hình ảnh trong Khải huyền Gioan công bố tin vui đều dễ dịch mã và trở nên khá thông sáng vào thế kỷ I. Còn lại một số hình ảnh mờ tối khó hiểu, thì như Prigent chuyên gia sách Khải huyền nhận định, mọi việc sẽ xuôi chảy, bởi một khi đã giúp độc giả lĩnh hội điều chính yếu, tác giả tự cho mình quyền triển khai phần còn lại một cách bí nhiệm trong cái đam mê khải huyền. Điều nào chưa được ánh sáng Tin Mừng soi tỏ, phải chịu im lìm khép kín chờ ngày rạng tỏ. 

        Niềm hy vọng

    Ngôn sứ rao giảng trong những thời kỳ khó khăn và sứ điệp thường rất cứng cỏi. Nhưng ngay cả những ngôn sứ bi quan nhất như một Amos, cũng toát lên một tia hy vọng! Các ngài khích lệ dân – dĩ nhiên với những kết tội và đe phạt – để họ quay trở về với Giao ước, mời gọi hoán cải để được tha thứ. Chúa sẽ cứu số dư tồn, để từ số sót đó Người sẽ phục hưng lại dân Người. Hình phạt không phải là tiếng nói cuối cùng của Thiên Chúa, nhưng được giải thích như phuơng cách Chúa giáo dục để giúp dân biết hoán cải trở về.

    Các nhà khải huyền ngược lại hầu như bi quan! Đối với họ, thế gian mang ý nghĩa tiêu cực: hoàn toàn dưới ách Satan, bị thủ lãnh thế gian chế ngự. Sự dữ thống trị nhân loại qua trung gian những kẻ ngoại đạo, vô tín và người tín hữu luôn bị bách hại. Người ta chỉ còn biết chờ đợi một điều, đó là Thiên Chúa sẽ thiết lập thế giới mới. Nhưng trước đó, xuất hiện cuộc thẩm phán cánh chung và mọi quyền lực xấu xa sẽ phải bị tiêu diệt. Theo Prigent, các nhà khải huyền mang lại trong những thời buổi khó khăn nhất một tin vui mà điều chính yếu là sự tin tưởng mong chờ ơn cứu độ đến gần. Một trong những hậu quả nghiêm trọng của mong chờ đó chính là thái độ tiêu cực không dấn thân trong cuộc sống: nếu Thiên Chúa làm tất cả, con người chỉ việc chờ đợi, khoanh tay cầu nguyện chờ triều đại Chúa xuất hiện!

    Khải huyền Gioan thoạt nhìn có vẻ cũng theo hướng ấy. Satan bị tiêu diệt và mong đợi cuộc tạo thành mới. Nhưng những thị kiến hoàn toàn tập trung vào Đức Kitô, và do đó tất cả đều thay đổi! Satan thao túng nhân loại, vì Con chiên – Đức Giêsu – bị giết; nhưng Ngài đã đạt toàn thắng cuối cùng vì Ngài là đấng hằng sống. Các vị tử đạo đều được liên kết vào cuộc chiến thắng của Ngài. Như thế, sứ điệp của Khải huyền Gioan thật lạc quan. Thiên Chúa là Đấng chiến thắng, và điều đó thúc đẩy chúng ta, những kẻ tin, dấn thân trong thế giới – như các ngôn sứ cũng đã từng rao giảng cho dân. Nếu thời cánh chung đã điểm trong biến cố mầu nhiệm Vượt qua, những kẻ tin không được khoanh tay bó gối để chờ đợi nữa, nhưng đây chính là lúc cần dấn thân hành động sao cho điều Đức Giêsu Kitô đã hoàn thành một lần thay cho tất cả trở nên hiện thực hơn mỗi ngày trong lịch sử nhân loại chúng ta.

    Sự bách hại và sự chết giờ đây được chiếu sáng niềm hy vọng. Chúng trở thành cuộc vượt qua tiến về sự sống, dĩ nhiên ngang qua đau khổ. Để Thiên Chúa có thể thiết lập vĩnh viễn triều đại của Người, Người phải tiêu diệt những gì đối kháng trong thế gian và trong mỗi con người. Phải chết để được sống. Chết trở thành phương thế dẫn đưa cuộc hiện sinh vào sự sống của Đức Kitô. Những hình ảnh kinh hoàng như động đất và các thảm họa muốn nói cho ta biết rằng trong thời gian chờ đợi ngày Chúa đến, những gì gây trở ngại tung hoành cách đắc thắng. Và điều đó tạo đau khổ cho con cái Chúa. Nhưng đó chỉ là sự chết để được sống, như người mẹ đau đớn để sinh con.

        Ý nghĩa lịch sử

    Các ngôn sứ tuyên bố Thiên Chúa đã có kế hoạch của người về nhân loại; nhưng đó không phải một kế hoạch cứng nhắc, tước bỏ quyền tự do con người. Ngược lại, khi kêu gọi con người hoán cải trở về, các ngôn sứ khẳng định Thiên Chúa “hối vì quyết định phạt” và Người thay đổi để ban tha thứ. Lịch sử là một cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và các thụ tạo của Người, một lịch sử tiến thẳng về một đích điểm, ghi dấu bằng những giao ước, sa ngã và lòng trung thành.

    Khác với các ngôn sứ, các nhà khải huyền lại chủ trương thuyết định mệnh. Đối với họ, mọi sự như đã được tiền định và ghi chép sẵn trong sách thiên quốc, không có chuyện ngẫu nhiên, không có tự do, ngay cả đối với những kẻ bách hại (Fueillet).

    Về điểm này, Khải huyền Gioan hoàn toàn khác khải huyền Do thái và theo sát các ngôn sứ. Cũng như các ngôn sứ, tác giả Khải huyền đe dọa và khích lệ. Ông không mô tả việc thực thi chuơng trình vĩnh cửu mà lại phác họa cuộc hành trình của con người về với Thiên Chúa là Đấng luôn đồng hành bên họ, nói vơi họ và chờ đợi nơi họ câu đáp trả. Và dân Chúa chiếm vị trí ưu việt trong cuộc hành trình này.

    Như thế, ta nhận thấy Khải huyền của Gioan thuộc văn chương khải huyền Do thái, nhưng lại khác với khải huyền Do thái cách sâu xa để giống với sứ điệp ngôn sứ. Giữa khải huyền Do thái và Khải huyền Gioan, biến cố nền tảng thay đổi tất cả, tạo nên sự khác biệt này, đó là sự chết và sống lại của Đức Giêsu Kitô. Ngày cùng tận, ngày Thiên Chúa toàn thắng đang đến phía sau. Còn nhiều điều phải làm để chuẩn bị cho ngày quyết định ấy. Khải huyền Gioan mời gọi ta hiệp thông vào mầu nhiệm Vượt qua của Đức Kitô và cổ vũ ta dấn thân hành động để làm cho công trình Đức Kitô được hoàn thành trong ngày Ngài lại đến. Chúng ta dấn thân với một niềm hy vọng không suy suyển vì tin tưởng mọi sự được hoàn thành trong Đức Kitô.

    1.2.7. Cấu trúc Khải Huyền Gioan 

    Lời tựa     1:1-8.

    I. 1:9-3:22 7     thư gởi các Hội Thánh Tiểu Á.

    II. 4:1-8:1 7     ấn niêm phong: Lịch sử của nhân loại: Tội lỗi và Cứu chuộc.

    4:1-5:14     giới thiệu 7 ấn niêm phong.

    6:1-8 4     ấn niêm phong đầu: Tạo dựng và sa ngã của con người.

    6:9-11     ấn thứ năm: Ơn cứu độ của người công chính.

    6:12-7:17     ấn thứ sáu: Hai thời khắc của ơn cứu độ Thần Linh.

    8:1         ấn thứ bảy: ngày chung tận của “những trật tự cũ”. 

    III. 8:2-11:19 7     tiếng kèn: Ngày cánh chung.

    Giai đoạn đầu tiên của ngày chung thẩm khi Thiên Chúa đến: Sự đấu tranh giữa các sứ thần tốt và xấu.

    8:2-6     Giới thiệu 7 tiếng kèn.

    8:7-13 4    tiếng kèn đầu: Sự sa ngã của các thiên thần.

    9:1-12     tiếng kèn thứ năm: Sự sa ngã của con người.

    9:13-11:1     tiếng kèn thứ sáu: giá trị và những giới hạn của “những trật tự cũ”.

    11:15-19     tiếng kèn thứ bảy: Hoàn tất mầu nhiệm của Thiên Chúa.

    IV. 12:1-22:5 7     chén: Ơn Cứu Độ mới.

    Giai đoạn thứ hai của ngày chung thẩm khi Thiên Chúa đến: Sự chết của Đức Kitô như là sự phán xét của Thiên Chúa, sự tiêu diệt sưc mạnh của ác thần, như là sự quy tụ của nhưng người được chọn. 

    Chương 12-14     giới thiệu 7 chén (hai dấu chỉ đầu tiên)

    Chương 12    Tạo dựng và sự sa ngã của con người: Người Nữ và Người Con (dấu chỉ thứ nhất) + Con mãng xà (dấu chỉ thứ hai)

    Chương 13     Sự sụp đổ của các quyên lực chính trị và tôn giáo: Hai con mãnh thú.

    Chương 14     Sự chết của Đức Kitô

    15:1-22:5 7     chén: Dấu chỉ thứ ba

    Chương 15-16     Sự chết của Đức Kitô như là cuộc phán xét trên quyền lực của Satan.

    17:1-19:10     Phá huỷ Babylon: Sự chết của Đức Kitô như là cuộc phán xét trên lịch sử

    19:11-20:15     Những trận chiến mở cửa Thiên đàng: Sự chết của Đức Kitô như là cuộc phá huỷ tận gốc rrẽ mọi quyền lực của ma quỷ.

    21:1-22:5     Jerusalem thiên quốc: Qua cuộc khổ nạn Đức Kitô, nhưng người thánh thiện được quy tụ trong vương quốc của Đấng Messiah.

    Lời kết 22:6-21     Cùng tận và khởi đầu: “Khải Huyền của Đức Kitô” như là sự tỏ hiện của Ngài và tuôn trào Thánh Thần. 

    1.3. TÁC GIẢ, HOÀN CẢNH BIÊN SOẠN VÀ NỘI DUNG  

    1.3.1. Tác giả

    Theo truyền thống, ngay từ cuối thế kỷ II, người ta đồng hóa tác giả Khải Huyền với tác giả Tin Mừng IV, tức là thánh Gioan tông đồ. Trong số đó có thánh Giúttinô, thánh Irênê, thánh Cơlêmentê Alêxanria, ông téctulianô và ông Ôrigiênê, thư quy Muratori.

    Sang thế kỷ III, một số người không công nhận thánh Gioan là tác giả sách Khải Huyền, vì lạc giáo Môntanô dựa vào Khải Huyền để biện minh cho lập trường của họ.

    Thế kỷ V, Hội Thánh Xyria, Paléttin, Capađốc không nhận sách Khải Huyền vào thư quy Kinh Thánh, vì cho rằng sách này không phải là công trình của các Tông Ðồ.

    – Dựa vào chính sách Khải Huyền, tác giả tự nhận mình là Gioan 1:1.4.9; 22:8-9, là “anh em” của tín hữu 1:9; là ngôn sứ 1:2.20; 22:9. Nhưng không bao giờ ông tự giới thiệu là tông đồ 21:4; là Gioan con của ông Dêbêđê Mc 1:19. Ông được Ðức Giêsu mặc khải 1,1 sau khi xuất thần 1,10. Ông viết sách nầy khi đang bị cầm tù ở đảo Pátmô, vì giảng Tin Mừng 1:9. Ông không hề gợi lại một kỷ niệm nào về Ðức Giêsu như tác giả Tin Mừng thứ IV.

    – Ðem đối chiếu sách Khải Huyền với Tin Mừng thứ IV, người ta nhận ra một số nét tương đồng về từ ngữ, bút pháp, quan điểm thần học. Tuy nhiên, những nét dị biệt giữa hai tác phẩm lại rất nhiều.

    Do đó, ta không thể quyết đoán hai tác phẩm này của cùng một soạn giả. Nhưng ta có thể nói sách Khải Huyền chịu ảnh hưởng Tin Mừng thứ IV. Tác giả sách Khải Huyền có lẽ thuộc trường phái Gioan ở Êphêxô. Mượn danh Gioan, chứ không phải mạo danh, tác giả theo lối cổ điển thường mượn uy tín của một nhân vật được người đồng thời trọng vọng, để độc giả dễ chấp nhận tư tưởng và thông điệp của ông.

    1.3.2. Ðộc giả

    Tác giả viết cho các cộng đoàn Kitô hữu vào cuối thế kỷ I. Ðó là bảy Hội Thánh ở Tiểu Á thuộc tỉnh châu Á của đế quốc Rôma. Qua bảy Hội Thánh này, ông muốn gửi tới tất cả Hội Thánh đang sống cùng một hoàn cảnh như các Hội Thánh ở Tiểu Á. Lúc ấy, các tín hữu đang gặp thử thách, có nguy cơ cho đức tin. Nguy cơ vừa xuất phát từ bên trong Hội Thánh; vừa do bên ngoài đưa tới. bên trong có những kẻ gieo rắc tà thuyết làm lung lạc đức tin chân chính của anh em tín hữu 1-3. Bên ngoài các hoàng đế bách hại tín hữu, vì các tín hữu không chịu tôn thờ hoàng đế như chúa tể 13:12-18; 14:9-13.

     

    1.3.3. Mục đích

    Trước hoàn cảnh khó khăn như thế, tác giả viết sách Khải Huyền không phải tạo mối sợ hãi, nhưng trấn an và củng cố đức tin cho anh em tín hữu. tác giả cho thấy chính ma quỷ là căn nguyên gây nên nỗi khốn khổ, thử thách này 12:10.

    Ông cho họ biết ông đồng cảnh ngộ với họ. Ông đã chứng kiến cuộc bách hại đẫm máu 2:3.9 và là nạn nhân đang bị cầm tù 1:10. Ông báo cho anh em tín hữu biết tai họa lớn lao đã bắt đầu 7:14; máu đổ ra 2:13; 7:14; nhưng những ngày sắp đến còn kinh khủng hơn nữa 2:10; 3:10. Một số tín hữu chán nản, thất vọng trước cơn bách hại, dường như muốn đầu hàng và trở nên nguội lạnh. Một số lo lắng thái quá đến độ mất kiên nhẫn 6:9-11. Vì thế, ông gửi cho họ thông điệp mà chính ông nhận trực tiếp từ lệnh truyền của Ðức Giêsu. Ông khuyên nhủ họ sống dũng cảm, củng cố đức tin, niềm cậy trông và lòng trung thành của họ với Ðức Kitô. Ông cho biết thời đau khổ đang được rút ngắn lại. Ðức Giêsu đang đến và trả công cho mỗi người 22:2. Phải quảng đại đi tới cái chết, vì đó là một đòi hỏi 13:9-10. Muốn chống lại tà thuyết và không tôn thờ hoàng đế, phải cậy trông vào Ðức Kitô, Ðấng chiến thắng ma quỷ và tội lỗi. Phần thưởng chỉ dành cho những ai trung kiên, bền chí.

    Như vậy, các tín hữu hiểu được rằng chiến thắng của quyền lực sự ác chỉ là nhất thời, có tính giai đoạn. Chiến thắng của Ðức Kitô khổ nạn và phục sinh mới toàn diện và vĩnh viễn.

     

    1.3.4. Thời gian và nơi biên soạn

    Cũng như khải huyền của Dothái giáo và Cựu Ước, sách Khải Huyền được biên soạn vào thời kỳ khốn quẫn. Chúng ta biết rằng ngay từ thời Nêrô (54-67) đã xảy ra cuộc cấm đạo và bách hại tín hữu. Vì thế, có người (thư quy Muratori, Công vụ Gioan, Téctulianô) cho rằng sách Khải Huyền được soạn tác trong bối cảnh này. Tuy nhiên, người khác lại cho rằng thời hoàng đế Ðômixianô mới là bối cảnh của sách Khải Huyền. Theo truyền thuyết, người ta tin rằng Nêrô sống lại. Quả thật, khi hoàng đế Ðômixianô cấm đạo gắt gao, bách hại tín hữu không nương tay, và nhất là chính thức lập lễ nghi tôn thờ hoàng đế, thì người ta nghĩ rằng hoàng đế Nêrô đã sống lại nơi ông. Ông buộc mọi công dân Rôma và những ai sống trong đế quốc Rôma đều phải bái lạy trước tượng hoàng đế.

    Anh em tín hữu bất tuân lệnh ông. Họ không thể gọi bất cứ một thụ tạo nào bằng danh xưng “Chúa”. Họ chỉ kêu cầu và tuyên xưng một Chúa duy nhất là Ðức Giêsu Kitô. Họ không chịu nhượng bộ vị hoàng đế phạm thượng và cao ngạo này. Thà bị giết, chứ họ không chối bỏ Ðức Giêsu.

    Có người dựa vào Kh 17:9-11 nói về bảy vị vua mà cho rằng tác giả đã viết sách Khải Huyền vào thời Nêrô. Nếu tính từ thời hoàng đế Augúttô cho đến triều Nêrô là năm vua đã chết; hoàng đế Nêrô là vua đang sống; vua sắp đến là Vétpaxianô, không tính ba vua trong một năm. Nhưng lý chứng này không mạnh đủ, vì biến cố năm 70 Giêrusalem bị sụp đổ đã được nói trong Khải Huyền. Biến cố này có sau các đời vua ấy.

    Chứng cứ cho giả thuyết sách được viết thời Ðômixianô mạnh hơn. Thánh Irênê là người đầu tiên đã cho Khải Huyền một niên hạn. Ngài viết: “Không lâu lắm, hầu như ở thời chúng ta thôi, vào cuối triều đại Ðômixianô”. (Chống lạc giáo, V, 30,2). Như vậy là trước năm 96, vì hoàng đế mất năm 96.

    Như vậy, ta có thể tạm kết luận như sau: sách Khải Huyền được biên soạn vào cuối đời hoàng đế Nêrô. Sách được bổ sung và hoàn chỉnh, như ta có hiện nay, vào thời hoàng đế Ðômixianô.

    Sách được biên soạn để phản ánh tình hình Kitô giáo cuối thế kỷ I. Ông Gioan dùng thể văn khải huyền để bày tỏ bí mật giấu kín về tương lai. Ông muốn cho thấy ý nghĩa đích thực về những sự kiện đang xảy ra mà chỉ một mình Thiên Chúa biết. Nói về thực tại bằng thứ ngôn ngữ diệu kỳ, để tránh nhà cầm quyền dòm ngó: đó là điều tác giả muốn.

    1.3.5. Ðạo lý

        Hội Thánh

    Trước hết, Hội Thánh là một cộng đoàn được Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn thay thế Ítraen. Hội Thánh là dân mới của Thiên Chúa, đã được Ðức Kitô cứu chuộc bằng giá máu của Người 1,5. Dân mới này thuộc về mọi chi tộc, ngôn ngữ, mọi nước mọi dân 5,9. Các mối tương quan giữa Thiên Chúa và Ítraen giờ đây chuyển nhượng cho Hội Thánh 7:3-4.9-15. Hội Thánh là vương quốc Thiên Chúa, là dân tư tế của Người 1:6; 5:10; 7:15; 20:4-6. Hội Thánh trung thành với Ðức Kitô, nên trở thành Hiền Thê của Người 19:7-9.

    Xưa kia Ítraen dựa trên mười hai chi tộc con cái Giacóp. Nay Hội Thánh được xây dựng trên nền tảng các Tông Ðồ 21:14. Ðối với Ítraen, Ðền Thờ là trung tâm thờ phượng Thiên Chúa. Ðền Thờ được xây bằng những đá quý theo như lệnh Ðức Chúa đã truyền cho ông Môsê. Còn đối với Hội Thánh, Ðền Thờ là chính Thiên Chúa và Con Chiên 21:22-23. Lễ tế dâng tiến Thiên Chúa không phải là chiên bò, hương liệu, bánh tiến, mà là chính Con Chiên 5:9 – hoặc là chính các tín hữu tử đạo. Không phải chỉ có dân Ítraen lên Ðền Thờ, nhưng “người muôn nước sẽ về phủ phục trước Tôn Nhan” 15:4, “các dân ngoại sẽ tiến bước theo ánh sáng của thành, đem báu vật và sự giàu sang tới đó” 21:23-24. Trong Ðền Thờ mới, “Hòm Bia Giao Ước sẽ xuất hiện” 11:19. Xưa kia, dân Ítraen lên Ðền Thờ mong muốn gặp thấy Thánh Nhan, nhưng chẳng được thấy, vì bức màn ngăn cản tầm nhìn của họ. Nay dân mới được gặp Thánh Nhan. Họ ca tụng Thiên Chúa, chiêm ngưỡng Thánh Nhan trong ánh sáng vinh quang Người, và được cai trị đời đời với Con Chiên, 22:4-5.

    Tuy nhiên, Hội Thánh ý thức chiều kích trần thế của mình. Hội Thánh lữ hành chờ đón vị Tân Lang 21:2. Trong khi đó, Hội Thánh luôn có những tội nhân, và Hội Thánh là của tội nhân. Ðây là thời kỳ thanh tẩy tội lỗi để gặp Ðức Lang Quân, phải thanh tẩy trong máu Con Chiên 7:14.

    Trên đường lữ hành, Hội Thánh chiến đấu bảo vệ lòng trung tín của mình. Ðứng trước cạm bẫy của ma quỷ, hay sức tấn công bách hại của các hoàng đế Rôma, Hội Thánh kiên nhẫn 1:9; 2:2-3; 3:10-11; 13:10; 14:12 chờ đợi ngày lãnh phần thưởng. Phần thưởng ấy chính là cử hành hôn lễ trong tiệc cưới Con Chiên, Hội Thánh sẽ lộng lẫy trong trang phục ngày hôn lễ trên thiên quốc. Lúc đó, Hội Thánh sẽ được ngự trên ngai của Con Chiên 3:21.

        Chứng nhân – Tử đạo

    Ðức Giêsu đến trần gian làm chứng cho nhân loại về Thiên Chúa, để nhân loại nhận biết Thiên Chúa. Người truyền đạt những gì Người nhận lãnh nơi Chúa Cha 1:5; 3:14; 19:11; x. Tv 89:38; Is 55:4; Ga 18:37; 1Tm 6:13. Người làm chứng, vì Người đến từ Chúa Cha. Chứng của Người là chứng thật 19:11. Người trung thành làm chứng đến độ phải chết 1:5; 5:6. Như vậy, giá cao nhất phải trả cho việc làm chứng là chết. Ðức Giêsu chết vừa để làm chứng Người từ Thiên Chúa, vừa để ban ơn cứu độ cho nhân loại.

    Ðến lượt mình, Hội Thánh là chứng nhân của Ðức Kitô. Sống giữa thế giới không công nhận Thiên Chúa, Hội Thánh chứng tỏ Thiên Chúa cho thế giới khi Hội Thánh trung thành tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa và lời chứng của Ðức Giêsu 12:17. Hội Thánh thi hành sứ mệnh ngôn sứ 11:3-6; 19:10; 22:9. Khi làm chứng cho Tin Mừng, tất nhiên Hội Thánh được chung số phận với Ðức Kitô 6:5; 7:14; 11:7-10; 12:2-4.11; 16:6; 18:24; 20:4-6. Hội Thánh chịu sát tế để làm chứng, đứng dưới chân bàn thờ dâng lễ toàn thiêu 7:9-11. Cho dù không bị bách hại, Hội Thánh vẫn giữ lòng trung thành với Ðức Giêsu 1:3; 2:10.13.26; 3:8; 14:12; 22:77.9. Như vậy, chứng nhân không phải chỉ là tử đạo, nạn nhân của các cuộc bách hại, nhưng còn là người trung thành với Con Chiên.

    Ðọc các thư gửi cho bảy Hội Thánh ở Tiểu Á, chúng ta thấy cuối các thư đều nói đến lời hứa ban thưởng cho người chiến thắng, và cho những ai hoàn tất các điều Ðức Giêsu đã truyền 2:26. Phần thưởng ấy là được ăn quả cây sự sống trồng ở trên thiên đàng 2:7; không hề bị cái chết thứ hai làm hại 2:11. Người chiến thắng được tham dự vào sự sống của Ðức Kitô phục sinh 2:17. Ngày ấy họ được mặc áo trắng và được ghi tên vào Sổ Trường Sinh 3:5; trở thành công dân của Giêrusalem mới trên trời 3:12; được ngự trên ngai của Con Chiên 3:21; được tháp tùng Con Chiên 14:1-5. Họ được hiển trị với Ðức Kitô một ngàn năm 20,4; được an nghỉ như Ðức Kitô đã hứa 14:13. Họ chiến thắng Con Thú 15:2-4, nên được dự tiệc Con Chiên 19:9.

        Cánh chung

    Nhiều người đọc sách Khải Huyền để tìm câu giải đáp cho vấn nạn “bao giờ tận thế?”, “tận thế sẽ ra sao?”. Dựa vào những con số, hoặc những hình ảnh kỳ quái trong Khải Huyền, người ta giải thích hoặc đề xuất “dự báo thời tiết” cho ngày cánh chung. Thật ra, sách Khải Huyền không phải là sách bói toán, nhưng là Sách Thánh, trình bày giáo lý về ngày cánh chung, giúp anh em tín hữu đang gặp thử thách được vững tin. Những cuộc bách hại đẫm máu không phải là dấu hiệu chỉ dẫn về chiến thắng cuối cùng của Xatan.

    Ðức Giêsu đã chiến thắng ma quỷ và thế gian. Nên người tín hữu phải hiên ngang dấn bước, vì phần thưởng đang chờ họ ở cuối hành trình trần thế. Ma quỷ đã thất bại, nhưng cố gắng dùng tàn lực cuối cùng, không phải để quật ngã Ðức Kitô, mà quật ngã những ai đi theo Ðức Kitô, trung thành với giáo huấn của Người. Thế gian vẫn chống đối Hội Thánh. Ðằng sau và bên trong Hội Thánh, vì Người là Anpha và Ômêga 21:6; 22:13. Người còn làm chủ lịch sử và vận mạng của nhân loại. Người biến đổi vũ trụ này thành trời mới đất mới 21:1 và sẽ lau sạch mọi giọt lệ trên khóe mắt loài người 21:4. Mọi sự ác, kể cả sự chết, đều bị tiêu diệt. Ðó chính là lúc cử hành hôn lễ mới giữa Thiên Chúa với dân mới của Người. Người sẽ ngự trị giữa dân.

    Thiên Chúa cho mọi kẻ chết sống lại để phán xét các việc họ đã làm 20:11-15. Trước đó, các dân nước thù nghịch tung ra cuộc chiến toàn diện và cuối cùng chống lại Hội Thánh 19:17-21; 20:7-10. Tất cả kẻ thù nghịch với Thiên Chúa, kể cả Xatan, đều bị thất bại hoàn toàn. Ðó là viễn tượng cánh chung theo sách Khải Huyền. Tuy nhiên, chúng ta không thể giải thích bản văn theo nghĩa đen. Trong Cựu Ước, các ngôn sứ đã từng loan báo “Ngày của Thiên Chúa”. Trong Tin Mừng, Ðức Giêsu cũng loan báo ngày tận cùng của thế giới. Do đó, theo văn mạch, những lời loan báo các hiện tượng vũ trụ thay đổi, các biến cố xảy ra, chỉ là thể văn khải huyền.

    Sách Khải Huyền cho chúng ta biết được rằng lịch sử nhân loại có giới hạn. Lịch sử đang đi tới cùng đích. Giờ đây lịch sử ấy đã được cứu chuộc, Con Chiên bị sát tế mang lại chiến thắng cho những kẻ tin vào Thiên Chúa. Ðối với chúng ta, chiến thắng ấy chưa hoàn tất vì Xatan vẫn còn tấn công. Chúng ta chỉ chiến thắng hoàn toàn vào ngày cánh chung. Ðức Kitô chiến thắng thế gian – hiểu theo nghĩa của Tin Mừng Gioan. Nhưng thế gian vẫn tồn tại và vẫn còn là thù địch của Hội thánh. Chúng ta còn phải chờ đợi tiếng kèn thứ bảy vang lên. Lúc ấy, Ðức Kitô giáng lâm để chấm dứt lịch sử nhân loại, hoàn thành ơn cứu độ. Người cho kẻ chết sống lại và phán xét các dân nước 11:15-19.

    Bao giờ ngày đó xảy ra? Chẳng ai biết, kể cả Người Con Mc 13:32. Người tín hữu không sợ hãi, cũng chẳng coi thường ngày ấy. Trời mới đất mới đã khai mở cho người tín hữu. Chính Ðức Kitô phục sinh đã khai mạc kỷ nguyên mới, lịch sử mới. Chúng ta đang sống trong thời cách chung theo một nghĩa rộng: Ðức Kitô vinh hiển đang ngự giữa Hội Thánh, Người thực sự chiến thắng tội lỗi, ma quỷ và sự chết. Khi từ cõi chết chỗi dậy, Ðức Kitô đã đạp vùi sự chết để đi lên. Giờ đây, Người làm chủ tuyệt đối lịch sử nhân loại. Cuộc chiến thắng, đối với Người, là chung cuộc, không thể đảo ngược được nữa. Riêng chúng ta, chờ ngày Ðức Kitô quang lâm, không phải vào ngày tận thế, mà chính là ngày chúng ta sinh lại trên trời, tức là ngày lìa cõi thế. Lúc ấy chúng ta hoàn toàn được đổi mới.

     

    1.3.6. Ý nghĩa màu sắc và các con số trong Khải Huyền Gioan  

        Ý nghĩa màu sắc

    -    Màu trắng 

        Biểu tượng thế giới của Thiên Chúa (tóc trắng, mây trắng, ngựa trắng, ngai màu trắng). 

        Biểu tượng sự sống lại (đoàn người mặc áo trắng). 

        Biểu tượng sự chiến thắng (sỏi trắng, áo trắng).

    -    Trong suốt, tinh khiết: Biểu tượng sự trang nghiêm, lộng lẫy, xứng đáng. Thành Giê-ru-sa-lem mới bằng vàng ròng, giống như thuỷ tinh trong suốt (21:21). Vị Hôn Thê mặc áo vải gai mịn, sáng chói, tinh tuyền (19:7-8).

    -    Màu đỏ: Gam màu đỏ (đỏ thẫm, đỏ tía, đỏ như lửa, màu lửa, màu huỳnh ngọc) là màu của máu. Gam màu này ám chỉ chiến tranh, thế lực sự ác và tội lỗi. Sách Khải Huyền dùng màu đỏ để ám chỉ thế lực của đế quốc Rô Ma với hai khía cạnh: a) Chiến tranh, bạo lực, bách hại và giết chết. 

    Đời sống xa hoa và sa đọa qua hình ảnh người đàn bà mặc áo đỏ tía và đỏ thẫm (17:4) ngồi trên Con Thú (17:3).

    -    Màu đen: Màu đen biểu tượng những tai hoạ (ngựa đen) và các tai ương (mặt trời đen).

    -    Màu xanh nhạt: Ngựa màu xanh nhạt (6:8) là màu của xác chết, ám chỉ chết chóc.

    -    Các loại ngọc quý và vàng ròng: Màu sắc của các loại đá quý, các loại ngọc được Sách Khải Huyền sử dụng để mô tả Thành Giê-ru-sa-lem mới. Tác giả kể ở 21,10-11: “10bVị Thiên sứ chỉ cho tôi Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem xuống từ trời, từ Thiên Chúa, 11có vinh quang của Thiên Chúa, ánh quang của Thành giống như đá quý, như đá ngọc thạch trong suốt tựa pha lê.” 

    Trong đoạn văn 21,18-21, tác giả mô tả vật liệu để xây dựng Thành Giê-ru-sa-lem mới là vàng ròng và các loại ngọc: “18 Vật liệu của tường Thành là ngọc thạch và Thành bằng vàng ròng giống như thủy tinh trong suốt. 19 Các nền móng của tường Thành được trang trí bằng mọi thứ đá quý: Nền móng thứ nhất, ngọc thạch, thứ hai, lam ngọc; thứ ba, lục ngọc, thứ tư, bích ngọc; 20 thứ năm, mã não; thứ sáu, xích não; thứ bảy, kim châu; thứ tám, lục châu; thứ chín, hoàng ngọc; thứ mười, kim lục; thứ mười một, huỳnh ngọc; thứ mười hai, tử ngọc. 21 Mười hai cổng là mười hai viên ngọc trai, mỗi một cổng làm từ một viên ngọc duy nhất. Quảng trường của Thành bằng vàng ròng như thủy tinh trong suốt.” (21,18-21).

    Mười hai loại đá quý và màu sắc của chúng, cùng với mười hai viên ngọc trai và vàng ròng biểu tượng cho sự vững chắc, huy hoàng, rực rỡ của “vinh quang Thiên Chúa” (21,11); đồng thời diễn tả sự hoàn hảo, thịnh vượng và hạnh phúc của thực tại cánh chung.

    -    Vàng và vật dụng bằng vàng: Trong các màu sắc, kim loại, đá quý và các loại ngọc được nói đến trong Sách Khải Huyền, kim loại vàng (gold) xuất hiện nhiều nhất (22 lần), kế đến là màu trắng (16 lần). Trong thế giới thuộc về Thiên Chúa, các vật dụng được làm bằng vàng: Bàn thờ bằng vàng (8,3b; 9,13), bình hương bằng vàng (8,3a), trụ đèn bằng vàng (1,12.20; 2,1), triều thiên bằng vàng (4,4; 14,14; 9,7). Vật dụng bằng vàng bày tỏ sự phú quý, lộng lẫy, nhằm diễn tả sự trang trọng, uy nghi và uy quyền của Thiên Chúa.

    Cũng như các vua chúa trần gian sử dụng vàng, bạc, đá quý để bày tỏ vương quyền và sức mạnh, các thị kiến mô tả triều đình Thiên Quốc cũng dùng vàng, bạc, đá quý để biểu tượng cho vương quyền và sức mạnh của Thiên Chúa và của Đức Ki-tô. Trong Sách Khải Huyền, Con Chiên là Đức Ki-tô có tước hiệu: “Vua các vua, Chúa các chúa” (19,16). Vì thế, sự giàu có, huy hoàng, uy quyền và sức mạnh của các hoàng đế Rô Ma và của các vua chúa trần gian không thể so sánh được với Người. Quyền năng và uy lực của Đức Ki-tô vượt trên quyền hành và sức mạnh của Xa-tan (12,3) và của Con Thú (13,1).

     

        Ý nghĩa các con số

    Không phải tất cả các con số đều có nghĩa biểu tượng, vì thế khi áp dụng ý nghĩa các con số vào một câu văn cụ thể, cần quan sát bối cảnh văn chương và bối cảnh thần học của mạch văn để tìm ra cách hiểu thích hợp về các con số trong câu văn. 

    “1/3 (một phần ba)” là kiểu nói giảm nhẹ, theo nghĩa 1/3 bị thiêu huỷ, còn hai phần thì không. Hình phạt giáng xuống trên 1/3 loài người, còn hai phần ba được thoát khỏi. Qua kiểu nói 1/3, bản văn mời gọi độc giả sám hối để được cứu. 

    “1 giờ” tượng trưng cho sự chóng qua, ngắn ngủi. Các vua chúa khóc than thành Ba-by-lon sụp đổ như sau: “Khốn thay, khốn thay, thành phố vĩ đại, Ba-by-lon, thành phố hùng cường, vì trong một giờ, án phạt dành cho ngươi đã đến” (Kh 18:19). 

    42 tháng = 1.260 ngày (= 3 năm rưỡi), tương đương kiểu nói: “1 thời, 2 thời và nửa thời”. Những con số thời gian này gợi đến thời kỳ vua An-ti-ô-khô IV Ê-pi-pha-nê đã bách hại người Do Thái ba năm rưỡi (Đn 7:25; 12:7). Những con số trên trong sách Khải Huyền biểu tượng cho cuộc bắt bớ các Ki-tô hữu trong một khoảng thời gian không kéo dài (Lc 4:25; Gc 5:17).

    “Số 3” biểu tượng sự hoàn hảo. Thành Giê-ru-sa-lem mới được mô tả như sau: “Hướng đông ba cổng, hướng bắc ba cổng, hướng nam ba cổng và hướng tây ba cổng” (Kh 21:13). Trong câu này 3+3+3+3 = 12. 

    “Số 4” biểu tượng địa cầu, 4 hướng: đông, tây, nam, bắc; 4 hướng gió. 4 thiên sứ tượng trưng cho bốn thiên sứ cai quản thế giới. Tác giả Sách Khải Huyền kể: “Sau điều ấy, tôi thấy bốn thiên sứ đứng ở bốn phương của mặt đất, giữ lại bốn ngọn gió của đất để không ngọn gió nào thổi trên đất, trên biển cũng như trên mọi cây cối” (7:1).

    “6 cánh” gợi đến các Xê-ra-phim trong Is 6:1-3: “1 Năm vua Út-di-gia-hu băng hà, tôi thấy Chúa Thượng ngự trên ngai rất cao; tà áo của Người bao phủ Đền Thờ. 2 Phía bên trên Người, có các thần Xê-ra-phim đứng chầu. Mỗi vị có sáu cánh: hai cánh để che mặt, hai cánh để che chân và hai cánh để bay. Các vị ấy tung hô với nhau rằng: ‘Thánh, Thánh, Thánh, ĐỨC CHÚA các đạo binh. Cả mặt đất đầy vinh quang của Người’.”

    “số 7”, biểu tượng sự hoàn hảo, trọn vẹn. Chẳng hạn, thư gửi đến 7 Hội Thánh (1:4.11.20a.20b), với 7 hoàn cảnh khác nhau ám chỉ đến tất cả các Hội Thánh qua mọi thời đại. Trong lời tung hô ở Kh 7:12, liệt kê 7 đặc tính của Thiên Chúa: “A-men, lời chúc tụng, vinh quang, khôn ngoan, lời tạ ơn, danh dự, uy quyền và sức mạnh thuộc về Thiên Chúa chúng ta đến muôn thuở muôn đời, a-men” nhằm diễn tả sự trọn hảo nơi Thiên Chúa.

    “Số 12” ám chỉ 12 chi tộc Ít-ra-en, 12 Tông Đồ. Số 12 tượng trưng sự viên mãn, hoàn hảo.12 Tông Đồ của Con Chiên là nền móng của Hội Thánh. Con số 12 biểu tượng của Hội Thánh được dùng để mô tả Thành Giê-ru-sa-lem mới: 12 nền móng thành Giê-ru-sa-lem mới (21:14), 12 cổng, 12 viên ngọc trai (21:21).

    “24 vị Kỳ Mục”, có lẽ ám chỉ 12 chi tộc Ít-ra-en (Cựu Ước) và 12 Tông Đồ (Tân Ước). Các vị “mặc áo trắng” và “đội triều thiên bằng vàng” (4:4) là biểu tượng của những kẻ chiến thắng. Tác giả Sách Khải Huyền mô tả: “Chung quanh ngai có hai mươi bốn ngai khác, và trên những ngai đó có hai mươi bốn vị Kỳ Mục đang ngồi, mình mặc áo trắng, và trên đầu của các vị có triều thiên bằng vàng” (4:4). 

    “1.000 năm” không hiểu theo nghĩa đen (10 thế kỷ) mà hiểu theo nghĩa tượng trưng: 1.000 năm chỉ một giai đoạn lâu dài (Đnl 7,9; Tv 105,8; 2Pr 3,8). Có thể hiểu 1.000 năm ở Kh 20,1-6 là giai đoạn hiện thời, kể từ lúc Đức Giê-su Phục Sinh cho đến nay. Trong giai đoạn này, Đức Giê-su đã ban tặng cho các Ki-tô hữu sự sống mới, sự sống đích thực, sự sống của Thiên Chúa (Kh 2:7; Ga 6:40; 20:31; Cl 2:12; 3:1.3).

    “12.000 người” được đóng ấn (7:5) là số người cho mỗi chi tộc trong 12 chi tộc Ít-ra-en, đây là con số tượng trưng sự viên mãn, hoàn hảo.

    “144.000 người” = 12 chi tộc x 12.000 người, chỉ “số sót” (những người còn sót lại) của dân Chúa và của Hội Thánh. Tác giả Sách Khải Huyền cho biết: “Rồi tôi nghe con số những người được đóng ấn: Một trăm bốn mươi bốn ngàn. Những người được đóng ấn thuộc mọi chi tộc con cái Ít-ra-en” (7:4).

    “12.000 dặm”. Đây là số đo mỗi chiều (dài, rộng, cao) của thành Giê-ru-sa-lem mới (21:16): 12.000 dặm = 12 x 1.000. Trong đó, con số 12 là biểu thị dân Ít-ra-en mới và con số 1.000 chỉ sự đông đảo.

    “200.000.000 kị binh” (9:16), dịch sát: “Một vạn lần hai vạn” = 10.000 x 20.000 = 200.000.000. Có lẽ con số này ám chỉ đạo quân kị binh người Pác-thy. Đây là một số quân quá lớn so với thực tế thời Sách Khải Huyền, vì thế, nên hiểu con số này theo nghĩa biểu tượng, diễn tả một sức mạnh vô cùng lớn.

    “Vạn vạn, ngàn ngàn” (5:11) là kiểu nói diễn tả một số lượng rất lớn, không thể đếm xuể. Tác giả mô tả cảnh hùng vĩ trong thị kiến: “Tôi thấy, và tôi nghe tiếng của nhiều thiên sứ ở chung quanh ngai, các sinh vật và các Kỳ Mục. Số các thiên sứ là vạn vạn, ngàn ngàn” (5:11).

    Con số 666 và 616 (13:18), nói đến mã số của Con Thú là con số 666, tác giả viết: “Ai có trí khôn hãy tính ra mã số của Con Thú, vì đó là mã số của một người, và mã số của người ấy là sáu trăm sáu mươi sáu” (Kh 13:18). Một số thủ bản Hy Lạp như C, Irmss viết con số đó là 616.  Có lẽ dị bản con số 616 xuất hiện muộn thời hơn và đã sửa lại con số 666. 

    Có thể giải thích hai con số 666 và 616 như thế nào? Có nhiều cách giải thích, nhưng tất cả đều ám chỉ các hoàng đế của đế quốc Rô Ma vào thế kỷ I. Điều này phù hợp với bối cảnh sách Khải Huyền: Các Ki-tô hữu bị bắt bớ vì không chấp nhận tôn thờ hoàng đế như một vị thần.

     

        Hai cách hiểu mã số 666 

        Các mẫu tự Híp-ri và Hy Lạp tương đương với một con số. Con số 666 là mã số tên của hoàng đế Nê-rô. Tên Hy Lạp của hoàng đế: “NERON KAISAR”. Tên gọi này chuyển sang phụ âm Híp-ri: QSR NRWN, các con số tương ứng của mẫu tự Híp-ri: (200+60+100) + (50+6+200+50) = 666. 

        Cách hiểu thứ hai là số 6 = 7-1. Số 7 biểu tượng sự hoàn hảo, vì thế, 7-1 = 6 là biểu tượng của sự không hoàn hảo. Số 6 lặp lại 3 lần làm thành 666 cho thấy Con Thú hoàn toàn không có sự hoàn hảo. Nó sẽ thất bại hoàn toàn và phải lãnh án phạt (Kh 19,20).

        Bốn cách hiểu mã số 616

        Tên gọi hoàng đế Nê-rô theo La Tinh: “NERO CAESAR” (hoàng đế năm 54–68), chuyển sang phụ âm Híp-ri: QSR NRW, các con số tương ứng của mẫu tự Híp-ri: (200+60+100) + (6+200+50) = 616.

        Hoàng đế CALIGULA còn được gọi là GAIOS (hoàng đế năm 37–41). Tên gọi “GAIOS KAISAR” có các con số tương đương của mẫu tự Hy Lạp: (3+1+10+70+200) + (20+1+10+200+1+100) = 616. 

        Danh xưng: “THEOS KAISAR” có các con số tương đương theo mẫu tự Hy Lạp: (9+5+70+200) + (20+1+10+200+1+100) = 616. Danh xưng “THEOS KAISAR” có nghĩa: “Hoàng đế Thiên Chúa”, danh xưng này áp dụng cho tất cả các hoàng đế tự xưng mình là một vị thần, là Thiên Chúa. 

        Hoàng đế Đô-mi-xi-a-nô, tiếng La Tinh: DOMITIANUS CAESAR (hoàng đế năm 81–96), có ghi trên con ấn của mình ký hiệu: DC XVI, có nghĩa là trị vì (DC) năm thứ 16 (XVI). Nếu xem DC là con số La Mã, thì DCXVI = 500+100+10+5+1 = 616. 

    Kết luận

    Chẳng hạn, khi bản văn mô tả “Con Mãng Xà có 7 đầu 10 sừng” (Kh 12:3), có thể hiểu bản văn ám chỉ sức mạnh của nó. Số 7 biểu tượng sự hoàn hảo: “7 đầu” nghĩa là rất khôn ngoan. 10 sừng (= 7 + 3 sừng), nói lên sức mạnh tàn phá lớn lao của nó, vì số 3 cũng biểu tượng sự hoàn hảo. Với sức mạnh như thế nó có khả năng “mê hoặc toàn thể địa cầu” (12:9). Tuy thế, sức mạnh và quyền năng của Thiên Chúa vẫn lớn hơn, cụ thể là một thiên sứ đã “Bắt lấy Con Mãng Xà và xích nó lại 1.000 năm…” (20:1-2). 

    Kiểu trình bày trên đề cao quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa. Qua những con số, bản văn vừa là lời cảnh báo về sức tàn phá của thế lực sự dữ, vừa là lời động viên các Ki-tô hữu trong hoàn cảnh khó khăn. Kết luận thần học có thể rút ra là: Dù thế lực sự dữ có mạnh mẽ tới đâu, cũng sẽ thất bại trước quyền năng của Thiên Chúa. Qua đó, các Ki-tô hữu được mời gọi kiên vững trong thử thách. Sách Khải Huyền mặc khải cho độc giả biết về quyền năng của Thiên Chúa, đồng thời thần học Sách Khải Huyền khẳng định: Chiến thắng chung cuộc thuộc về Thiên Chúa và thuộc về những ai trung tín với Người cho đến cùng. Tóm lại, ý nghĩa biểu tượng của các con số góp phần trình bày mặc khải.

    1.4. ĐỀ CHÚ GIẢI KHẢI HUYỀN GIOAN  

    1.4.1. Khải Huyền Gioan đâm rễ trong Cựu Ước

    Nguồn liệu chính của Khải huyền là Cựu ước. Trực tiếp hoặc gián tiếp, Khải huyền nhắc đến Cựu ước trên 500 lần, đặc biệt các ngôn sứ Êdêkiel, Isaia, Giêrêmia, Daniel và các Thánh vịnh. Ta thử đưa ra vài thí dụ:

    -    Kh 8:1: “Khi Con Chiên mở ấn thứ bảy, thì cả trời yên lặng chừng nửa giờ”. Tại sao im lặng? Trong truyền thống ngôn sứ, sự yên lặng loan báo cuộc thần hiện: Thiên Chúa đến can thiệp (cf. Ha 2,20; Dcr 2,17, nhất là Sop 1,7: “Hãy lặng thinh trước nhan Thiên Chúa, vì ngày của Đức Chúa đã gần đến”. Cũng thế, trong Kh 8,1 sự yên lặng loan báo Ngày Chúa gần đến.

    -    Kh 10:3: “Thiên thần đặt chân phải lên biển, chân trái lên đất và kêu lớn tiếng như sư tử gầm”. Trong truyền thống ngôn sứ, Thiên Chúa được ví như sư tử gầm khi quyết định xé xác quân thù của dân Người. (Am 1,2; Jr 25,30); đặc biệt Am 3, 7-8: “Sư tử đã gầm lên, ai mà không sợ hãi. Đức Chúa đã phán, ai chẳng nói tiên tri”. 

    -    Kh 11:19: “Đền thờ Thiên Chúa trên trời mở ra, và Hòm Bia Giao ước xuất hiện trong Đền thờ”. Kh 15,8: “Đền thờ đầy khói từ vinh quang Thiên Chúa và từ quyền năng của Người tỏa ra”. Hai cảnh nhắc đến 2Mcb 2,5-8: “Giêrêmia gặp một nhà giống hình cái hang. Ông đưa Lều, Hòm Bia và bàn thờ vào đấy, rồi bít cửa lại… Nơi ấy chẳng ai được biết cho đến khi Thiên Chúa tập họp dân lại và tỏ lòng thương xót họ. Bấy giờ, vinh quang của Đức Chúa và đám mây sẽ xuất hiện, như dưới thời ông Môisê, cũng như sau này dưới thời Salomon, khi vua cầu cho lễ thánh hiến Đền thờ được cử hành long trọng”. Vậy, trong Kh 11,19 và Kh 15,8 sự tái xuất hiện Hòm Bia và đám mây trong Đền thờ là dấu chỉ thời phục hưng cánh chung đã đến.

    -    Kh 15:2-3: Những người thắng Con Thú hát bài ca ông Môisê, nhắc đến Xuất hành 14-15. Điều này ngụ ý rằng việc giải thoát các tín hữu của Chiên con như một cuộc Xuất hành mới và cuối cùng của dân Thiên Chúa.

    -    Kh 12:1-17: Thị kiến người Nữ trong cơn đau đớn sinh con đưa ta về với những chương đầu sách Khởi nguyên.

     

        Chủ đề Xuất hành 

        Daniel

    Để mô tả những bách hại, Khải huyền nhờ đến các thị kiến Daniel diễn tả cuộc bách hại của Antiochus Epiphane (Dn 7 và Kh 13,1-8; 12,14; 17,12; 20,4. Dn 3, 5-7.15 và Kh 13,15. Dn 8,10 và Kh 12,4). Khải huyền lấy lại thị kiến Daniel về việc Con Người đến trên đám mây (Dn 7,13 và Kh 14,14) và về cuộc phán xét (Dn 7,10.22 và Kh 20,4).

        Edêkien

    Đặc biệt, Khải huyền lấy lại Êdêkiel: Thị kiến mở đầu về ngai Thiên Chúa (Ed 1; 10 cf. Kh 4,1-11); sách niêm phong ( Ed 2, 9 và Kh 5,1); bốn tai ương do mở ấn (Ed 14,21 và Kh 6,8 ); các Thiên thần đứng bốn góc trái đất (Ed 7,2 và Kh 7,1); các tôi tớ Chúa được ghi dấu trên trán (Ed 9,4 và Kh 7,3); những bất hạnh (Ed 7,5.26 và Kh 8,13); những than khóc (Ed 27-28 và Kh 18); sự sống lại (Ed 37 và Kh 20,4); Giêrusalem thời thiên sai (Ed 40-47 và Kh 21,9-22,2).

        Phụng vụ 

    Khải huyền cũng dùng những truyền thống phụng vụ của các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Ta có thể kể đến: 

    -    Các vịnh tụng ca: 1, 5b – 6; 5, 13b – 14; 7, 12

    -    Các lời tung hô: 4,11; 5, 9-10; 5,12

    -    Tạ ơn: 11, 17-18

    -    Ca thương các vị tử đạo: 6, 10

    -    Kinh nguyện thánh thể: 3, 20

    -    Thánh thi chúc tụng: 12,10; 15,3-4; 16,5; 19,1-8. 

    1.4.2. Những đặc trưng của Khải huyền Gioan

        Niềm hy vọng và lời chất vấn

    Tiếp nối văn chương ngôn sứ, văn chương khải huyền xuất hiện lần đầu tiên nơi Do thái giáo, mang nặng chủ nghĩa bi quan trước những hoàn cảnh bi thảm vì Hy hóa và bách hại, chờ mong ngày giải thoát chung cuộc. Sau đó, khải huyền dần dà phát triển và phổ biến vào thời đầu Kitô giáo với nhiều tác phẩm như đã kể trên. Nét độc đáo của sách Khải huyền chính là nhà thị kiến Khải huyền vang lên sứ điệp hy vọng và chất vấn. 

    -    Hy vọng nhắm đến những ai đang chịu thử thách bách hại, đang sống trong những hoàn cảnh mỏng manh, gian khổ và phải đương đầu với biết bao áp bức khổ đau.  

    -    Tra vấn các quyền lực đang tung hoành trong trong xã hội ông đang sống và trong nhân loại mọi nơi, mọi thời. 

        Biểu tượng

    Một trong những đặc tính của văn chương khải huyền là sử dụng các biểu tượng. Khi muốn nói về một thế giới mới, một hành động của Thiên Chúa, một thực tại siêu việt, tác giả phải cần đến biểu tượng để trình bày “điều không diễn tả được”. Biểu tượng mở ra một thực tại sâu xa hơn diễn từ. Bên kia những biểu tượng, tác giả muốn đưa ta đến một nhận thức sâu xa về Thiên Chúa và một thế giới riêng biệt. 

    Thực tế, biểu tượng chỉ dành riêng cho những đối tượng được tuyển lựa. Trong văn chương khải huyền, chỉ những ai được tuyển chọn mói có thể lĩnh hội hình ảnh, biểu tương, thị kiến. Trong Khải huyền Gioan, biểu tượng không mang tính cách huyền bí như trong khải huyền Do thái. Các độc giả thế kỷ đầu quen thuộc với Kinh thánh, nên dễ dàng tiếp thu các hình ảnh, biểu tượng được sử dụng vì chúng mang âm vang Kinh Thánh, và thế giới của các biểu tượng cũng nằm trong bối cảnh lịch sử và văn hóa thới ấy. Tác giả không hề có mục đích trình bày diển tiến của các biến cố theo dòng thời gian. Sâu xa hơn, ông muốn loan báo cuộc chiến thắng vinh quang của Thiên Chúa và của Đức Kitô trên quyền lực Satan và sự dữ đang hoành hành trong lịch sử nhân loại. Cuộc chiến thắng ấy là một thực tại niềm tin mà ngưòi ta chỉ có thể diễn đạt và lĩnh hội nhờ vào biểu tượng mang hình thức đặc biệt của phụng vụ Kitô giáo.

        Khung cảnh thị kiến 

    Cũng như trong tất cả khải huyền Do thái, Khải huyền Gioan nói đến một cuộc chu du thật sự về thế giới bên kia. Nhà thị kiến chiêm ngắm bằng tâm trí những thực tại trên trời (1,10), để thấy điều sẽ xảy đến sau đó. Ông không ngừng nói “ông thấy”. Ông thấy gì và cái nhìn đó bắt nguồn từ đâu? Theo tác giả, cái “thấy” đó bất khả diễn đạt, nhưng lại là sự thật: đó là biến cố chết và sống lại của Đức Kitô. Các thị kiến trong Khải huyền Gioan luôn quy Kitô. Kết quả là các thị kiến ấy không nói lên điều gì khác ngoài việc minh tỏ cuộc chiến thắng khải hoàn của Đức Kitô phục sinh. Qua các thị kiến, Khải huyền nhằm trình bày ‘kerygma’ của Giáo Hội tiên khởi về Đức Kitô chiến thắng sự chết và các quyền lực ma quỷ và thế gian đè nặng trên nhân loại.

        Không mạo danh

    Thông thường như ta đã biết, các khải huyền Do thái đều mượn danh tác giả là các nhân vật nổi tiếng thời xưa. Nét đặc biệt của Khải huyền Gioan là không cần nhờ đến thế giá của một nhân vật nào trong quá khứ. Đối với nhà thị kiến Khải huyền, chỉ một mình Đức Kitô cũng đủ làm cho việc công bố và loan truyền một thế giới mới đang đến giữa lòng thế giới cũ nên vững chắc. Chỉ cần thế giá Đức Kitô, Đấng đã chiến thắng sự chết và đã phục sinh vinh hiển, đủ soi cái quá khứ, chiếu sáng cái hiện tại và loan báo điều tương lai mà Tin Mừng phục sinh công bố. 

    1.4.3. Để đọc Khải Huyền Gioan

    Đọc Khải huyền, người ta dễ có khuynh hướng dừng lại ở các hình ảnh biểu tượng để tìm hiểu xem chúng muốn nói gì, hoặc bị cám dỗ cắt nghĩa các hình ảnh tượng trưng đó theo suy nghĩ của mình và đưa đến những áp dụng sai lạc như đã từng thấy hiện nay nơi nhiều giáo phái. Ta có thể đưa ra vài ví dụ cụ thể:

    -    Kh 20,1-6 nói về triều đại 1000 năm của Đức Kitô trước cuộc chiến thắng cuối cùng. Nhiều người tưởng tượng đó là thời kỳ Đức Kitô trở lại trần gian trước ngày quang lâm. Người ta không hiểu rằng triều đại 1000 năm này diễn tả thời kỳ ưu việt của Giáo hội, cách đơn sơ là thời từ Đức Kitô đến ngày quang lâm.

    -    Khải huyền có nhiều đoạn lặp. Nhiều lần độc giả có cảm tưởng như sách đã đến hồi chấm dứt (11,15-19; 16,17-21), nhưng sau đó các thị kiến lại tiếp tục. Đó cũng là cách để diễn tả điều “không thể diễn tả”! Tác giả không mô tả các biến cố tiếp nối nhau theo thứ tự thời gian, nhưng cùng những biến cố ấy, tác giả trình bày cách khác tùy theo cái nhìn khác.

    -    Về lịch sử nhân loại, có người nghĩ rằng tác giả Khải huyền loan báo trước mọi giai đoạn lịch sử nhân loại cho đến ngày cùng tận. Thật ra tác giả không có ý loan báo các biến cố chính xác, nhưng muốn giúp ta khám phá ý nghĩa các biến cố ấy trong tương quan với việc thiết lập triều đại Thiên Chúa.

    -    Về ngày cánh chung, tác giả Khải huyền nói đến ngày quang lâm gần kề. Cần hiểu rằng các ngôn sứ và đặc biệt tác giả Khải huyền giải thích hiện tại theo cái nhìn về tương lai, vì những biến cố hiện tại chỉ có ý nghĩa thật sự khi đi tới hoàn thành cuối cùng, đó là ngày quang lâm. Vì thế, tác giả mời ta khám phá ra ý nghĩa lịch sử hiện tại dưới ánh sáng một biến cố quá khứ – sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô – nhưng cũng dưới biến cố tương lai – sự trở lại của Ngài, ngày quang lâm.

    -    Cuối cùng, việc tìm hiểu Khải huyền đòi so sánh các biểu tượng trong Khải huyền với các tác phẩm cùng thời, đặc biệt với Cựu ước, từ đó sẽ khám phá ra ý nghĩa các biểu tượng. Fueillet cho rằng Khải huyền là một rà lại Cựu ước để làm sáng tỏ lịch sử Giáo hội từ đầu đến thời cùng tận mà trước hết là hai biến cố trong buổi đầu Kitô giáo: sự cắt đứt giữa Kitô giáo với thế giới Do thái vô tín và sự đối kháng giữa Kitô giáo với quyền lực độc tài bách hại của đế quốc La mã. 

    Ngoài những lưu ý trên, tưởng cũng cần có một số “chìa khoá” giúp khỏi trệch hướng khi đọc Khải huyền Ga.

    Điều cần ghi nhận trước tiên, đó là Khải huyền được viết trong một bối cảnh cụ thể của Giáo Hội đặt niềm tin vững vàng vào Đấng Phục sinh, Đấng đã chiến thắng mọi quyền lực sự dữ và sự chết để khai nguyên nguồn cứu độ cho toàn nhân loại. Lòng tin này phóng tầm nhìn về sự cứu độ vào trong toàn lịch sử để tìm xem sự cứu độ ấy xảy ra thế nào qua các chặng đường lịch sử trần gian. Những điểm mốc mà chúng ta muốn nói đến ở đây, cách nào đó đã được trình bày lan man qua những phần trên, ở đây chỉ đề cập đến một vài điểm căn bản:

        Thiên Chúa hay Hoàng đế

    “Thần” nói đến trong Khải huyền, cụ thể là việc tôn thờ hoàng đế. Thánh Phaolô nhắc nhủ các tín hữu phải biết tùng phục quyền bính. Tùng phục không có nghĩa là tôn thờ như thần thánh. Đây là vấn đề căn bản được đề cập đến trong Khải huyền. Sách Khải huyền được viết vào cuối đời hoàng đế Domitien. Từ lâu, dân Rôma vẫn thường có tập tục tôn lên hàng thần thánh các hoàng đế của họ. Nhưng họ chỉ làm việc này sau khi hoàng đế băng hà. Dần dà sau đó, họ tôn hoàng đế lên bậc thần ngay khi ông còn trị vì bằng một nghi lễ “đăng quang” và tỏ bày lòng tôn sùng thật sự như một vị thần. Riêng Domitien tự xưng mình là “Chúa và Thần”. Trong đời sống cụ thể, tập tục tôn thờ hoàng đế như thần trở thành dấu chỉ và tiêu chuẩn của một công dân tốt; từ đó mới có quyền sống một đời bình thường và có điều kiện tiến thân trong xã hội đế quốc Rôma. Dần dần, đế quốc Rôma đi đến một ý thức hệ về quyền bính thần thánh của hoàng đế và biến việc tôn thờ hoàng đế thành một tôn giáo của toàn thể đế quốc. Và đây chính là vấn đề phức tạp và tế nhị cho các Kitô hữu thời đó: hoặc sống bình thường như mọi người bằng việc tôn thờ hoàng đế, hoặc khước từ và như thế trở thành kẻ phạm pháp, bị loại trừ và dẫn đến bị bách hại! Khải huyền nhắc nhở và khẳng định chỉ tôn thờ một Thiên Chúa độc nhất, đó là long tin căn bản của Kitô giáo và của Hội thánh!

        Chứng nhân

    Trong sách Khải huyền, làm chứng đồng nghĩa với tử đạo (marturios). Làm chứng về Đức Kitô cho đến cùng, đến dâng hiến cả mạng sống, đồng nghĩa với tử đạo. Đây là một chuyển nghĩa rất mạnh và nội dung đó chỉ rõ ràng với sách Khải huyền mà thôi. Trước đó, không rõ ràng như vậy! 

    Người Kitô hữu phải làm chứng cách kiên cường về lòng tin của mình trước thế gian, và trong nhiều trường hợp hoàn cảnh, lời chứng đó tỏ hiện nơi sự tử đạo. Trước một đế quốc Rôma lẫy lừng uy danh về mọi mặt, Kitô hữu làm chứng bằng sự trung tín tuyệt đối của mình vào Đức Kitô và Giáo hội, nhưng không hề bạo động. Họ đành chịu thua thiệt mất mát tất cả vì nhận thức được rằng mình đã được Thiên Chúa cứu độ. Một thái độ sống như thế quả là nghịch lý với mọi nguyên lý thế gian. Nhưng Khải huyền nhắc nhủ chính khi chịu thua thiệt và bách hại, cũng chính là lúc người tin nhận ra mình được đồng nhất với Đấng đã làm chứng trước tòa án Philatô (Ga 18,37; 1Tm 6,13). Vì thế mà chính trong bình an, vui mừng và hy vọng mà Kitô hữu đối đầu với thế gian và với cái chết mà không mang chút bóng dáng hận thù vì biết rằng hôm nay họ được thông dự vào sự chết của Đức Kitô để được nên một với Ngài thì chắc chắn cũng sẽ được thông phần vào vinh phúc khải hoàn của Con Chiên Thiên Chúa đã bị sát tế.

        Thiên Chúa hiện diện trong lịch sử

    Nói chung, tất cả những điều mà Thiên Chúa mặc khải cho ta trong tương lai, người tín hữu không phải chỉ ngồi chờ đợi, nhưng thật sự họ đang sống và nếm trước cách nào đó trong hiện tại, cách riêng trong phụng vụ (biểu tượng qua hình ảnh quay quần quanh Chiên Thiên Chúa). Chính vì vậy mà phụng vụ đích thực là nguồn động lực cho người tín hữu sống cái hiện tại của mình và dấn thân trong trần thế. Chính niềm tin vào Đức Kitô khải hoàn vinh thắng là nguồn động lực linh hoạt và hướng dẫn mọi sinh hoạt và cuộc sống tâm linh của người tín hữu, làm cho họ cảm nhận mọi sinh lực của mình được thúc đẩy và tiến về một đích là chính Đức Kitô, Đấng là Alpha và là Ômêga.

    Sống trong hiện tại, Kitô hữu luôn đặt mình trong dòng lịch sử cứu độ đã được khai nguyên nơi Đức Kitô Thiên sai, Ngôi Lời hằng cửu của Thiên Chúa đã đến trong nhân loại (Ga 1,1.14). Ngài chính là Con Chiên bị sát tế, là Đấng Phục sinh. Chóp đỉnh công trình cứu độ của Ngài là khai nguyên một tạo thành mới, một trời mới đất mời. Cuộc tái tạo đó đã khởi sự như một Xuất hành mới, vĩ đại và toàn diện, của lịch sử nhân loại. Lịch sử trần gian đang là cuộc thành tựu của Xuất hành này. Nơi Chiên Thiên Chúa bị sát tế, cuộc đời Kitô hữu là môt xuất hành, tức là một vượt qua từ cõi chết vào cõi sống. Ý thức rằng trong cuộc vượt qua ngang qua sa mạc trần gian này, được chính Thiên Chúa hướng dẫn và dưỡng nuôi, Kitô hữu can đảm làm chứng vì ngay trong hiện tại, dù phải đương đầu với biết bao nghịch cảnh và bách hại, họ đang được nếm trước hưởng hương vị ngọt ngào của cõi hằng sống.

    1.5. BÀI ĐỌC THÊM

        Khải Huyền và Tân Ước 

    1. 1 Tx 4,13-18 và 2 Tx 2, 1-12

    Hai câu hỏi đặt ra: 

    -    Tại sao tác giả sử dụng khải huyền trong hai đoạn văn trên?

    -    Trong bối cảnh lịch sử và trong niềm xác tín của tác giả cũng như của giáo đoàn, việc sử dụng thể văn này mang ý nghĩa gì?

        1 Tx 4, 13-18

    Phaolô đã thiết lập giào đoàn Thessalonika vào những năm 49-50 (Cv 17,2). Thư Tx được viết khoảng những năm 50 –51 (văn phẩm đầu tiên của Tân ước). Cũng như tất cả các giào đoàn khác được Phaolô thiết lập, giáo đoàn Tx gồm những người Do thái thuộc hạng người “kính sợ Chúa”: Craignant-Dieu (cf. Cv 17, 2-4 ). Đây là một giáo đoàn trẻ vừa noi gương Hội Thánh Makêđônia (1Tx 2,14) vừa chịu sức ép của Do thái giáo (1Tx 2,15).

    Phaolô triển khai ở đây (trong giai đoạn đầu của nền thần học Phaolô) thần học về sự tuyển chọn: “Anh em là những người được Thiên Chúa thương mến, chúng tôi biết rằng Thiên Chúa đã chọn anh em” (1Tx 1,4). “Thiên Chúa không kêu gọi chúng ta sống ô uế, nhưng sống thánh thiện” (4,7) để trong thời gian tiến về cùng tận, chúng ta “không có gì đáng trách trong ngày Đức Giêsu quang lâm” (3,13). 

    1Tx 4, 13-18 đề cập đến ngày Chúa quang lâm và thái độ phải có trong thời gian chờ đợi (5,1-11). Phaolô trình bày về sự sống lại của những kẻ đã chết và ngày của Chúa, nhằm an ủi khích lệ cộng đoàn đang băn khoăn trước sự ra đi của những người anh em trong cộng đoàn. Như thế, đoạn văn tiên vàn không phải là một giáo thuyết về ngày Chúa quang lâm (xảy đến làm sao, lúc nào…), nhưng là một khích lệ các tín hữu đang đau buồn trước cái chết của anh em. Ngôn từ khải huyền được sử dụng nhằm mục đích mục vụ ấy.

    c.13: Để trả lời cho vấn nạn về số phận những người chết trước khi Chúa trờ lại, Phaolô gợi lên niềm hy vọng.

    c.14: Niềm hy vọng đó được xây dựng trên chính niềm tin vào sự sống lại của Đức Kitô (kerygma). Họ sẽ được “đưa về cùng Đức Giêsu”.

    c.15 -17: Phaolô xác nhận mình trả lời “dựa vào Lời của Chúa”. Và câu trả lời của Phaolô ở đây sử dụng thể văn khải huyền. 

    Lời Chúa này là lời nào? Đó là lời truyền thống? hay lời giáo huấn của Đức Giêsu về ngày thế mạt? hoặc lời ngôn sứ hay một mặc khải riêng cho Phaolô? Điều quan trọng là nền tảng Kitô học của điều sắp được nói ra. 

    Phaolô mô tả cảnh ngày quang lâm một cách gợi hình, giàu tưởng tượng. Ngài không nói gì đến cuộc phán xét trước khi chấm dứt thời hiện tại. Người chết sẽ sống lại, còn những kẻ tin đang sống không có gì phải chờ đợi vì được ở với Chúa! Phaolô không có chủ tâm trình bày một thế mạt luận đầy đủ, điểm chính yếu là muốn nói đến việc được ở mãi mãi bên Chúa; và điều này tóm kết toàn vẹn niềm hy vọng Kitô giáo. 

    Như thế, trong các câu 13-18, Phaolô dùng thể văn khải huyền để mô tả biến cố cứu độ cánh chung: lệnh ban ra, tiếng Tổng lãnh thiên thần, tiếng loa kèn, Chúa từ trời ngự xuống, kẻ chết sống lại, cuộc gặp gỡ với Đức Kitô trên không trung… Việc sử dụng khải huyền ở đây nhắm an ủi, khích lệ với niềm xác tín về niềm hy vọng được hiệp thông với Đức Kitô: “chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi”. Giai đoạn chờ đợi tạm thời vì việc Chúa quang lâm gần kề. Do đó, không có gì phải thất vọng lo âu! 

        2 Tx 2,1-12

    Toàn thư nhằm đến sự chậm trễ của ngày Quang lâm, hầu trấn tỉnh những người nôn nóng vì nghĩ ngày Quang lâm gần kề (1Tx) mà gây nên nhiều xáo trộn trong đời thường. 

    Thư dùng thể văn khải huyền trong đoạn mô tả ngày Quang lâm với mục đích đả kích những người quá khích cho rằng ngày Chúa đang đến gần, vì thế gây nên những xáo trộn trong cuộc sống. 

    2. Khải huyền trong Gl 1,12-16

    Trong thư Galata, Phaolô dùng từ “apokalupsis” (Ga 1,11-12) và động từ “apokaluptein” (1,15-16). Do đó mà một ít tác giả nghĩ Phaolô dùng khải huyền tạo khung cho tư tưởng bức thư. Phaolô khẳng định ngài được gọi làm tông đồ không phải do loài người cũng chẳng phải nhờ một người nào (1,1), nhưng bởi Đức Giêsu Kitô, Đấng đã hiến mình giải thoát chúng ta khỏi thế giới xấu xa (1,4) và bởi Thiên Chúa đấng đã phục sinh Đức Giêsu (1,1). Người đã gởi Thần khí của Con mình cho ta (4,6) và biến đổi ta nên thụ tạo mới (6,15). Tin Mừng Phaolô rao giảng không phải do loài người, nhưng chính Đức Giêsu đã mặc khải (11-12). Nội dung của Tin mừng này là Đấng chịu đóng đinh là Con Thiên Chúa (2,15-16). Thiên Chúa đã mặc khải Đức Giêsu Kitô là Con mình và nội dung mặc khải của Thiên Chúa trong Đức Kitô được tóm lại trong 2,15-21: “Con người được nên công chính không phải nhờ làm những gì Luật dạy, nhưng nhờ tin vào Đức Giêsu Kitô”. Có một liên hệ giữa hai giai đoạn lịch sử cứu độ và hai thái độ sống: cố gắng được công chính hóa bởi Lề luật thuộc về thời cũ (1,4; 6,14), trong khi đón nhận Thần Khí bởi đức tin thuộc thời mới (3,1-5; 4,1-7). Đối với Phaolô, chính việc Đức Kitô chiụ đóng đinh và chiụ chết thập giá chấm dứt thời cũ và khai mạc thời mới. Không phải việc Chúa trở lại trong vinh quang, nhưng chính biến cố thập giá là sự biểu lộ cánh chung của Thiên Chúa (cf. 1Cr 1,18-25).

    3. Khải huyền trong Máccô 13

    Máccô 13 tiêu biểu cho thể văn khải huyền trong Nhất lãm. Trong đoạn này, thể văn khải huyền được tỏ lộ trong: 

    -    các câu 7.8.9.12 (bách hại và mọi thứ tai họa),

    -    các câu 14-20 (những ngày gian nan),

    -    các câu 24-27 (Con Người đến). 

    Đây là những đề tài cổ điển trong khải huyền Do thái. Thêm vào cái nền khải huyền trên là cc. 9.13 (của cộng đoàn tiên khởi) loan báo bách hại vì làm chứng cho Đức Giêsu, c.10 (việc rao giảng Tin mừng cho dân ngoại), c.11 (hứa ban Thánh Thần ), cc. 28-30 đưa về các dụ ngôn của Đức Giêsu nói về cơn khủng hoảng và cần tỉnh thức. 

    Từ những nhận định trên, các nhà chuyên môn cho rằng giữa những năm 40 – 60 lưu hành một trào lưu Kitô giáo gốc Do thái, loan báo việc diễn tiến những biến cố tương lai mà đỉnh cao là việc Con Người đến. Trào lưu khải huyền này phát sinh trong bối cảnh khủng hoảng của chiến tranh, đói khát, động đất, bách hại…. Trước tình trạng đó, vào những năm 66 – 70, một số Kitô hữu nôn nóng chờ đợi sự quang lâm. 

    Những nhận định trên cho phép ta xác định Máccô viết đoạn văn này khoảng năm 70, vào thời kỳ các chứng nhân chịu tử đạo dưới cuộc bách hại của Nêrôn, Đền thờ bị phá. Trong thời kỳ này xuất hiện bên trong cộng đoàn phong trào khải huyền nhìn thấy sự sụp đổ Giêrusalem và đền thờ bị phá như dấu hiệu ngày Chúa quang lâm gần kề. 

        Cấu trúc của Mc 13 

    Nhập đề: “Bao giờ sự việc ấy xảy đến?” (c.1-4)

    A. cc 5-23:      Những dấu báo trước.

    a. 5-8:     Những chỉ dẫn về khủng hoảng.

    b. 9-13:     Hậu quả cho các môn đệ.

    a’. 14-20:     Dấu hiệu.

    b’. 21-23:     Hậu quả cho môn đệ.

    B. cc. 24-27:     Con Người đến.

    C. cc. 28-37:     Báo cho các môn đệ.

    a. 28-32:     Khích lệ.    

    b. 33-37:     Kêu gọi tỉnh thức.

    Máccô lấy lại những đề tài và cách diễn tả cổ điển của khải huyền Do thái để viết lên một “đối kháng khải huyền” nhằm đả kích nhóm Kitô hữu cuồng nhiệt quá khích nôn nóng chờ ngày quang lâm. 

    4. Khải huyền trong Matthêu 24-25 

    Matthêu lấy lại Máccô 13 và thay đổi theo nhãn quan thần học của mình. 

    Câu hỏi mở đầu (Mt 24,3): “Xin Thầy nói cho chúng con biết khi nào những sự việc ấy xảy ra, và cứ điềm nào mà biết ngày Thầy quang lâm và ngày tận thế”. 

    Nơi Matthêu, có một liên hệ giữa đền thờ bị phá, ngày quang lâm và ngày tận thế. 

    Matthêu thêm 24, 27-28 và 37-41 về việc phán xét chung gần kề. Đặc biệt, Matthêu thêm vào bản văn Máccô 13 hai dụ ngôn: 10 người trinh nữ (25,1-13) và những nén bạc (25, 14-30) và việc mô tả ngày phán xét cùng tận (25,31-46). Matthêu dùng thể văn khải huyền theo kiểu ngôn sứ: chờ đợi ngày quang lâm và tận thế. Theo ông, cuộc phán xét đã xảy đến cho Israel qua việc đền thờ và thành Giêrusalem bị tàn phá, và rồi sẽ xảy đến cho các dân tộc; vì thế ông chỉ bày phương thế giải thoát bằng việc đảm nhận đầy đủ điều kiện sống hiện tại và theo cách thức những người khôn ngoan tỉnh thức và phục vụ như nói trong các dụ ngôn. Làm như thế tức là sống sự công chính mới trong triều đại Đức Kitô, vượt lên trên sự công chính Cựu ước. 

    5. Khải huyền trong Luca 21

    Luca cũng lấy lại Mc 13 và cũng biến đổi theo nhãn quan thần học riêng của mình. 

    Ngài nhìn Đức Kitô như đấng cứu độ hơn là đấng thẩm phán ngày cánh chung. Thời gian hiện tại, Giáo hội có sứ mệnh mang lời Thiên Chúa cho thế gian, loan báo thời cứu độ và sự nhẫn nại chờ đợi của Chúa. Lịch sử nhân loại trở thành lịch sử cứu độ. Trong dòng chảy của lịch sử này, mọi dân tộc được mời gọi đón nhận tiệm tiến mặc khải của Đấng cứu độ. Đức Giêsu lên trời nhưng vẫn luôn hiện diện trong Giáo Hội nhờ Thánh Thần. Do đó, khi lấy lại Máccô 13, Luca muốn chứng tỏ mọi thực tại trong lịch sử đang diễn tiến theo chương trình của Chúa cho đến lúc được hoàn thành. Lịch sử hiện tại đang tiến bước cho đến ngày tất cả được hoàn thành. Vì thế, tuy lấy lại Máccô 13, nhưng Luca phân biệt rõ đền thờ bị tàn phá với sự cùng tận thế giới: “Thưa Thầy, bao giờ các sự ấy xảy ra, và khi sắp xảy đến thì có điềm gì báo trước?” (Lc 21,7). Ta cũng thấy để kết luận chương này, Luca viết: “Ban ngày, Đức Giêsu giảng dạy trong Đền thờ. Đến tối, Ngài qua đêm tại núi Ôliu. Sáng sớm, toàn dân đến với Ngài trong Đền thờ để nghe Ngài giảng dạy” (21,37-38). Luca đặt tất cả trong sự hoàn tất của thới gian, lúc mà “tất cả những gì đã chép trong Kinh Thánh sẽ được ứng nghiệm” (Lc 21,22), “cho đến khi mãn thời của dân ngoại” (Lc 21, 24). Luca tuy dùng lại thể văn khải huyền cổ điển, hoặc dùng lại khải huyền của Máccô, nhưng đã chuyển đổi viễn tượng của khải huyền thành cánh chung luận: một cánh chung luận được triển khai qua dạng thức khải huyền. 

        “Hội Thánh trong Cầu Nguyện, qua việc đón nhận Lời Chúa, được biến đổi”

    * * *

    Anh chị em thân mến,

    Hôm nay, sau sự gián đoạn của những ngày nghỉ hè, hôm nay chúng ta tiếp tục những cuộc triều yết tại Vatican, và tôi muốn tiếp tục “trường cầu nguyện” mà tôi đang cùng anh chị em sống trong bài giáo lý ngày thứ tư này.

    Hôm nay tôi muốn nói về cầu nguyện trong Sách Khải Huyền, mà như anh chị em đã biết, là cuốn sách cuối cùng của Tân Ước. Nó là một cuốn sách khó hiểu, nhưng rất phong phú. Nó cho chúng ta tiếp xúc với lời cầu nguyện sống động và hứng khởi của cộng đồng Kitô hữu, tụ tập “trong ngày của Chúa” (Kh 1:10): thực sự, đây là hậu trường mà trong đó bản văn được khai triển.

    Một người đọc trình bày một sứ điệp mà Chúa đã trao cho Thánh Sử Gioan. Có thể nói rằng, người đọc và cộng đồng là hai nhân vật chính trong việc khai triển của cuốn sách. Ngay từ lúc đầu, một lời chào hỏi vui mừng được gửi cho họ: “Phúc cho người đọc lớn tiếng, và phúc cho những người nghe những lời tiên tri này” (1:3). Một tấu khúc cầu nguyện phát sinh từ cuộc đàm thoại không gián đoạn này, và phát triển qua rất nhiều hình thức khác nhau cho đến cuối cuốn sách. Qua việc lắng nghe người đọc trình bày sứ điệp, và qua việc nghe cùng quan sát cộng đoàn đáp lại, lời cầu nguyện của họ có vẻ trở thành lời cầu nguyện của chúng ta.

    Phần thứ nhất của Sách Khải Huyền (1:4 -3:22), qua thái độ của cộng đoàn đang cầu nguyện, trình bày ba giai đoạn liên tục. Giai đoạn thứ nhất (1:4 -8) gồm có một cuộc đàm thoại, trường hợp duy nhất trong Tân Ước, diễn ra giữa cộng đoàn vừ tụ họp và người đọc, là người nói với họ bằng một lời chào chúc lành: “Ân sủng và bình an cho anh chị em” (1:4). Người đọc tiếp tục nhấn mạnh đến nguồn gốc của lời cầu chúc này: nó bắt nguồn từ Thiên Chúa Ba Ngôi: từ Chúa Cha, từ Chúa Thánh Thần, từ Chúa Giêsu Kitô, cả ba đều cùng tham dự vào việc thực hiện kế hoạch sáng tạo và cứu độ dành cho nhân loại. 

    Cộng đoàn lắng nghe, và khi họ nghe đến Danh Chúa Giêsu Kitô thì một niềm vui bùng lên và họ nhiệt tình đáp lại bằng cách dâng lên lời cầu nguyện khen ngợi sau đây: “Kính Ðấng đã yêu thương chúng ta và rửa sạch tội lỗi chúng ta trong chính máu của Người, và đã làm cho chúng ta trở nên một vương quốc và các tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người, kính dâng Người vinh quang và chủ quyền đến muôn muôn đời. Amen” (1:5 b-6). 

    Cộng đoàn, được bao phủ bởi tình yêu của Đức Kitô, cảm thấy mình được giải thoát khỏi xiềng xích tội lỗi và tự xưng mình là “vương quốc” của Chúa Giêsu Kitô, là vương quốc hoàn toàn thuộc về Người. Cộng đoàn nhận ra sứ vụ cao cả được trao phó cho mình qua bí tích Rửa Tội, là mang sự hiện diện của Thiên Chúa đến cho thế gian. Và kết thúc cuộc cử hành chúc tụng bằng cách một lần nữa nhìn thẳng vào Chúa Giêsu, và với lòng hăng say đang lớn mạnh, nhìn nhận rằng “vinh quang và quyền lực” để cứu độ nhân loại cũng thuộc về Người. Từ “Amen” cuối cùng kết thúc bài thánh thi chúc tụng Đức Kitô.

    Bốn câu đầu tiên này đã hàm chứa một sự phong phú của những dấu chỉ dành cho chúng ta. Chúng cho chúng ta biết rằng việc cầu nguyện của mình, trước hết và trên hết, phải bao gồm việc lắng nghe Thiên Chúa nói với mình. Bị tràn ngập với quá nhiều lời, chúng ta không mấy quen nghe, và đặc biệt là đặt mình vào tình trạng im lặng bề trong và bề ngoài để chú ý đến điều mà Thiên Chúa muốn nói với mình. Những câu này cũng dạy chúng ta rằng lời cầu nguyện của chúng ta, thường chỉ đầy những lời cầu xin, thay vì đáng lẽ phải đầy những lời chúc tụng Thiên Chúa vì tình yêu của Ngài, vì hồng ân của Chúa Giêsu Kitô, Đấng mang lại cho chúng ta sức mạnh, hy vọng và ơn cứu độ.

    Một can thiệp mới của người đọc sau đó nhắc cho cộng đoàn, là cộng đoàn được tình yêu của Đức Kitô nắm giữ, về cam kết của họ trong việc hiểu ý nghĩa của sự hiện diện của Người trong cuộc đời của họ. Ông nói: “Kìa, Người ngự đến giữa mây trời, và mọi mắt sẽ thấy Người, kể cả những kẻ đã đâm Người. Mọi dân trên mặt đất sẽ than khóc vì Người.” (1:7a). Sau khi được đưa lên Trời trong một “đám mây”, biểu tượng của sự siêu việt (x. Cv 1:9), Chúa Giêsu Kitô sẽ trở lại cùng một cách như Người đã lên Trời (x. Cv 1:11b). Khi ấy, tất cả các dân tộc nhận ra Người và, như Thánh Gioan nhắn nhủ trong Tin Mừng thứ tư “họ sẽ nhìn lên Đấng mà họ đã đâm thâu qua” (19:37). Họ sẽ suy nghĩ về tội lỗi của họ, là nguyên nhân của việc đóng đinh Người trên thập gía, và như những người đã trực tiếp tham dự vào việc ấy trên đồi Calvary, “họ sẽ đấm ngực” (Lc 23:48), cầu xin Người tha thứ để theo Người trong cuộc sống của họ và như thế chuẩn bị cho sự hiệp thông trọn vẹn với Người trong lần trở lại sau hết của Người. Cộng đoàn suy niệm về sứ điệp này và thưa: “Vâng, Amen.” (Kh 1:7b). Với lời thưa “Vâng” họ bày tỏ sự hoàn toàn chấp nhận tất cả những gì được truyền đạt cho họ, và họ cầu xin rằng điều ấy thực sự có thể trở thành sự thật. Chính lời cầu nguyện của cộng đoàn, là lời suy niệm về tình yêu của Thiên Chúa, được thể hiện cách tối cao trên Thánh Giá, và yêu cầu họ phải sống kiên định như những môn đệ của Đức Kitô.

    Sau đó có sự đáp trả của Thiên Chúa: “Ta là Alpha và Ômêga, là Ðấng hiện có, đã có và đang đến, là Ðấng Toàn Năng” (1:8) Thiên Chúa, Đấng tỏ mình ra như khởi điểm và cứu cánh của lịch sử, đón nhận và để tâm đến lời cầu nguyện của cộng đoàn. Ngài đã, đang, và sẽ hiện diện cùng hoạt động với tình yêu của Ngài trong các biến cố của nhân loại, trong hiện tại, trong tương lai, cũng như trong quá khứ, cho đến khi đạt đến cùng đích. Đây là lời hứa của Thiên Chúa. Và ở đây chúng ta tìm thấy một yếu tố quan trọng khác: cầu nguyện liên lỉ làm thức tỉnh trong chúng ta ý thức về sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình và trong lịch sử, và sự hiện diện của Người là một sự hiện diện nâng đỡ chúng ta, hướng dẫn chúng ta và cho chúng ta một niềm hy vọng lớn lao ngay cả giữa sự tối tăm của những biến cố nhất định của nhân loại. Hơn nữa, mỗi lời cầu nguyện, ngay cả lời cầu nguyện dâng lên trong những lúc cô độc nhất, không bao giờ bị cô lập và không bao giờ ra vô ích, nhưng nó là mạch máu nuôi dưỡng một đời sống Kitô hữu quyết tâm và kiên định hơn. 

    Giai đoạn thứ hai của lời cầu nguyện của cộng đồng (1:9 -22) tiếp tục đào sâu mối quan hệ với Chúa Giêsu Kitô: Chúa tỏ mình ra cho chúng ta thấy, Người nói, Người hành động, và cộng đoàn, gần gũi Người hơn bao giờ hết, lắng nghe, trả lời và đón nhận. Trong sứ điệp mà người đọc đã trình bày, Thánh Gioan nhắc đến một trong những kinh nghiệm riêng của chính ngài về một cuộc gặp gỡ Đức Kitô: Ngài đang ở trên đảo Patmos vì “rao giảng Lời Thiên Chúa và lời chứng của Chúa Giêsu” (1:9) và là “ngày của Chúa” (1:10a), ngày Chúa Nhật, ngày cử hành cuộc Phục Sinh. Thánh Gioan “đã xuất thần” (1.10a). Chúa Thánh Thần tràn ngập ngài và đổi mới ngài, làm gia tăng khả năng đón nhận Chúa Giêsu của ngài, là Đấng mời ngài viết. Lời cầu nguyện của cộng đoàn lắng nghe từ từ biến thành một thái độ chiêm niệm được nhấn mạnh bởi những động từ “nhìn thấy”, “xem”: nghĩa là cộng đoàn chiêm niệm điều mà người đọc đề ra, nội tâm hóa nó và làm cho nó thành của riêng mình.

    Thánh Gioan nghe thấy “một tiếng lớn, như một tiếng kèn” (1:10b): Tiếng nói truyền cho ngài gửi một sứ điệp “đến bảy Hội Thánh” (1:11) ở Tiểu Á, và qua những Hội Thánh ấy đến tất cả các Hội Thánh ở mọi thời đại, cùng các mục tử của họ. Cụm từ “Tiếng nói … như một tiếng kèn”, được trích từ Sách Xuất Hành (x. 20:18), nhắc lại việc Thiên Chúa hiện ra với ông Môsê trên núi Sinai, và ám chỉ tiếng nói của Thiên Chúa, Đấng phán ra từ Trời cao, từ sự siêu việt của Ngài. Ở đây tiếng này được gán cho Đức Kitô Phục Sinh, là Đấng mà từ vinh quang của Thiên Chúa, Chúa Cha nói bằng tiếng nói của Thiên Chúa với cộng đoàn tụ tập lại để cầu nguyện. Khi quay lại “để coi tiếng ai nói” (1:12), thì Thánh Gioan thấy “bảy chân nến bằng vàng, và ở giữa các chân nến, có ai giống như Con Người” (1:12 -13), một thuật ngữ đặc biệt quen thuộc với Thánh Gioan, ám chỉ chính Chúa Giêsu. Các chân nến bằng vàng, với những ngọn nến sáng của chúng, ám chỉ Hội Thánh của mọi thời đại, trong một thái độ cầu nguyện trong Phụng Vụ: Chúa Giêsu Phục Sinh, “Con Người”, ở giữa Hội Thánh, và mặc phẩm phục của vị Thượng Tế trong Cựu Ước, Người thực hiện chức năng tư tế làm trung gian hòa giải với Chúa Cha. 

    Trong sứ điệp biểu tượng của Thánh Gioan mà tiếp theo đó có một sự tỏ hiện rạng ngời của Đức Kitô Phục Sinh, với những đặc tính của Thiên Chúa mà chúng ta tìm thấy trong Cựu Ước. Ngài nói về “tóc … trắng như len trắng, trắng như tuyết” (1:14), tượng trưng cho sự vĩnh hằng của Thiên Chúa (x. Dn 7:9) và của sự Phục Sinh. Một biểu tượng thứ nhì là lửa, mà trong Cựu Ước, thường được gán cho Thiên Chúa để ám chỉ hai thuộc tính. Thứ nhất là cường độ ghen tị của tình yêu Ngài, là điều làm sinh động giao ước của Ngài với loài người (x. Dt 4:24). Và chính cùng cường độ nồng cháy của tình yêu mà chúng ta đọc được trong cái nhìn của Chúa Giêsu Phục Sinh: “mắt Người như ngọn lửa cháy” (Kh 1:14a). Thứ nhì là khả năng không thể ngăn cản được để chiến thắng sự dữ như một “lửa thiêu” (Dt 9:3). Vì vậy, ngay cả “đôi chân” của Chúa Giêsu trên đường đương đầu và tiêu diệt sự dữ, tỏa sáng “như đồng đỏ trong lò” (Kh 1:15). Rồi, giọng nói của Chúa Giêsu Kitô như “tiếng nước lũ” (1.15c), có vẻ như tiếng ầm vang của “vinh quang Thiên Chúa của Israel” đang di chuyển về phía Giêrusalem, được ngôn sứ Edekiel nói đến (x. 43:2). Còn ba yếu tố biểu tượng tiếp theo cho thấy những gì mà Chúa Giêsu Phục Sinh đang làm cho Hội Thánh Người: Người giữ Hội Thánh cách vững chắc trong tay hữu của Người – một hình ảnh rất quan trọng: Chúa Giêsu giữ Hội Thánh trong tay Người, Người nói với Hội Thánh bằng quyền năng thấu xuốt của một thanh kiếm sắc bén, và Người tỏ bày sự rạng ngời của Thiên Tính của Người cho Hội Thánh: “dung nhan Người tỏa sáng như mặt trời chói lọi.” (Kh 1:16). Thánh Gioan bị lôi cuốn bởi kinh nghiệm tuyệt vời này của Chúa Phục Sinh, đến nỗi cảm thấy mình đuối sức và ngã xuống như một người chết.

    Sau kinh nghiệm này của mặc khải, Thánh Tông Đồ đã thấy Chúa Giêsu ở trước mặt mình, Người đã nói với ngài, trấn an ngài, đặt bàn tay trên đầu ngài, tỏ lộ căn tính của mình như là Đấng Chịu Đóng Đinh và Đấng Phục Sinh, và trao cho ngài nhiệm vụ truyền một sứ điệp đến các Hội Thánh (x. Kh 1:17 -18). Thiên Chúa, mà trước mặt Người thánh nhân đã ngã như chết, thật đẹp ra sao. Người là bạn của cuộc sống ngài, và Người đặt tay trên đầu ngài. Và như thế, đó cũng sẽ là điều dành cho chúng ta: chúng ta là bạn của Chúa Giêsu. Cho nên, sự tỏ mình ra của Thiên Chúa Phục Sinh, của Đức Kitô Phục Sinh, sẽ không là điều khủng khiếp; nhưng sẽ là một cuộc gặp gỡ với một người bạn. Tuy nhiên, cộng đoàn cùng Thánh Gioan cảm nghiệm giây phút đặc biệt của ánh sáng trước mặt Chúa, trong sự hợp nhất với kinh nghiệm của cuộc gặp gỡ hàng ngày với Chúa Giêsu, mà nhờ đó chúng ta được nếm thử sự phong phú của việc được tiếp xúc với Chúa, là Đấng lấp đầy tất cả những khoảng trống của cuộc đời.

    Trong giai đoạn thứ ba và cuối cùng của phần thứ nhất của Sách Khải Huyền (Rev 2-3), người đọc đề ra một sứ điệp bảy phần trong đó Chúa Giêsu nói ở ngôi thứ nhất. Nói với bảy Hội Thánh ở Tiểu Á trong vùng Êphêsô, bài nói chuyện của Chúa Giêsu mở đầu với tình trạng cụ thể của mỗi Hội Thánh, và sau đó mở rộng đến các Hội Thánh ở mọi thời đại. Chúa Giêsu lập tức đi vào tâm điểm của tình trạng của mỗi Hội Thánh, bằng cách nhấn mạnh đến ánh sáng và bóng tối cùng trình bày chúng với một lời mời gọi khẩn cấp: “Hãy sám hối” (2:5,16; 3:19c); “hãy nắm vững những gì ngươi đang có” (3.11), “hãy làm những công việc ngươi đã làm lúc đầu” (2,5); “hãy sốt sắng và ăn năn hối cải!” (3,19 (b)… Lời này của Chúa Giêsu, nếu nghe bằng đức tin, bắt đầu có hiệu quả ngay lập tức: Hội Thánh trong cầu nguyện, qua việc đón nhận Lời Chúa được biến đổi. Tất cả các Hội Thánh phải chăm chú lắng nghe Chúa, bằng cách mở lòng ra với Chúa Thánh Thần như Chúa Giêsu khăng khăng hỏi, qua việc lặp đi lặp lại lệnh này bảy lần: “Ai có tai, thì hãy nghe những gì Thần Khí nói với các Hội Thánh” (2:7,11,17,29; 3:6,13,22). Cộng đoàn nghe sứ điệp và được đánh động để ăn năn, hối cải, kiên trì, tăng trưởng trong tình yêu, và theo sự hướng dẫn cho cuộc hành trình của họ.

    Các bạn thân mến, Sách Khải Huyền trình bày cho chúng ta một cộng đoàn hiệp nhất trong cầu nguyện, vì chính trong cầu nguyện mà chúng ta càng ngày càng cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Giêsu với mình và trong mình. Càng cầu nguyện nhiều và tốt hơn với lòng kiên trì, với long sốt sắng, thì chúng ta càng trở nên giống Người, và Người thật sự đi vào cuộc đời chúng ta và hướng dẫn chúng, ban cho chúng niềm vui và sự bình an. Và chúng ta càng biết, càng yêu mến và theo Chúa Giêsu nhiều, thì chúng ta càng cảm thấy sự cần thiết phải dành thì giờ cầu nguyện với Người, như thế nhận được sự thanh bình, hy vọng và sức mạnh trong cuộc đời mình.

        “Không có lời cầu nguyện nào là không cần thiết 

    và vô dụng”

    * * *

    Anh chị em thân mến,

    Thứ tư tuần trước tôi đã nói về cầu nguyện trong phần thứ nhất của Sách Khải Huyền, giờ đây chúng ta đi sang phần thừ nhì của sách. Trong lúc ở phần thứ nhất, lời cầu nguyện hướng về đời sống nội tại của Hội Thánh, thì phần thứ nhì chú ý đến toàn thể thế giới. Thực ra, Hội Thánh hành trình qua lịch sử, và là một phần của lịch sử theo kế hoạch của Thiên Chúa.

    Cộng đoàn lắng nghe sứ điệp của Thánh Gioan được người đọc trình bày, đã tái khám phá ra nhiệm vụ hợp tác trong việc phát triển Nước Thiên Chúa của mình như “các tư tế của Thiên Chúa và của Đức Kitô” (Kh 20:6, x. 1:5, 5:10), và nó mở ra cho thế giới của loài người. Ở đây, có hai cách sống trong một mối quan hệ biện chứng giữa họ. Cách sống thứ nhất có thể được gọi là “hệ thống của Đức Kitô,” mà cộng đoàn vui sướng thuộc về, và cách sống thứ nhì là “những hệ thống của thế gian chống lại Nước Trời và giao ước, bị tác động bởi ảnh hưởng của Thần Dữ”, là kẻ qua việc lừa dối con người, muốn xây dựng một thế giới chống lại thế giới mà Đức Kitô và Thiên Chúa muốn (x. Ủy ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh, Thánh Kinh và Luân Lý, Nguồn Gốc Thánh Kinh của Cách Sống Kitô giáo, 70). Cho nên cộng đoàn phải có khả năng giải thích trong chiều sâu lịch sử mà mình đang sống, qua việc học phân biệt các biến cố bằng đức tin để hợp tác bằng hành động trong việc phát triển Nước Thiên Chúa. Công việc giải thích và phân biệt này, cũng như hành động, phải được đi liền với cầu nguyện.

    Trước hết, sau lời kêu gọi kiên trì của Đức Kitô, là Đấng trong phần thứ nhất của Sách Khải Huyền, đã nói bảy lần: “Ai có tai, hãy nghe những gì Chúa Thánh Thần nói với Hội Thánh” (x. Kh 2:7,11,17,29; 3:6,13,22), cộng đoàn được mời lên Thiên Đàng để nhìn vào thực tại qua cặp mắt của Thiên Chúa; và ở đây chúng tôi tìm thấy ba biểu tượng, là những điểm qui chiếu mà từ đó chúng ta có thể giải thích lịch sử: ngai của Thiên Chúa, Chiên Con và cuốn sách (x. Kh 4:1 – 5:14).

    Biểu tượng thứ nhất là cái ngai mà Thánh Gioan không mô tả Đấng ngồi trên đó, bởi vì Ngài siêu vượt bất kỳ cách diễn tả nào của loài người. Thánh nhân chỉ có thể gợi lên ý nghĩa về vẻ đẹp và niềm vui mà Thánh Nhân cảm thấy trước sự hiện diện của Ngài. Đấng bí ẩn này là Thiên Chúa, Thiên Chúa Toàn Năng, Đấng không còn đóng khung trên thiên đàng, nhưng đến gần con người, bước vào vào một giao ước với con người. Thiên Chúa, Đấng làm cho tiếng nói của Mình, biểu tượng bằng sấm sét, được người ta nghe thấy trong lịch sử, một cách bí nhiệm, nhưng có thật. Có một số yếu tố xuất hiện chung quanh ngai Thiên Chúa, như 24 kỳ lão và bốn sinh vật, không ngừng ca ngợi Chúa của lịch sử. 

    Như vậy biểu tượng thứ nhất là cái ngai. Biểu tượng thứ nhì là cuốn sách, trong đó có kế hoạch của Thiên Chúa cho các biến cố và cho loài người. Nó được niêm phong kín bằng bảy ấn tín, và không ai có thể đọc được nó. Trước sự bất lực của con người trong việc tìm biết kế hoạch của Thiên Chúa, Thánh Gioan cảm thấy một nỗi buồn sâu xa, đến nỗi ngài rơi nước mắt. Nhưng có một cách khắc phục sự mất tinh thần của con người trước sự huyền bí của lịch sử: có một người có thể mở cuốn sách và tiết lộ nó. 

    Và đây là biểu tượng thứ ba: Đức Kitô, Chiên Con đã bị giết trong Hy Tế Thập Giá, nhưng đang đứng như một dấu chỉ về sự Phục Sinh của Người. Và chính Chiên Con, là Đức Kitô đã chết và sống lại, từ từ mở niêm phong và tiết lộ kế hoạch của Thiên Chúa, ý nghĩa sâu xa của lịch sử.

    Các biểu tượng này cho chúng ta biết những gì? Chúng nhắc cho chúng ta về cách thức phải biết giải thích những sự kiện bủa lịch sử và của cuộc đời mình ra sao. Bằng cách ngước mắt nhìn lên thiên đàng của Thiên Chúa, trong một quan hệ thường xuyên với Đức Kitô, bằng cách mở lòng trí mình ra cho Ngài trong lời cầu nguyện riêng và chung, chúng ta học nhìn vào những sự vật một cách mới mẻ và hiểu được ý nghĩa chân chính nhất của chúng. Cầu nguyện giống như một cửa sổ mở ra cho phép chúng ta luôn hướng đôi mắt về Thiên Chúa, không những chỉ để nhắc nhở chúng ta về mục tiêu mà mình đang hướng đến, mà còn để cho Thánh Ý Thiên Chúa soi sáng cuộc hành trình trần thế của mình, và giúp chúng ta sống với lòng nhiệt thành và quyết tâm.

    Chúa hướng dẫn cộng đồng Kitô hữu đọc một cách sâu sắc hơn về lịch sử như thế nào? Trước hết và trên hết, qua việc mời gọi cộng đồng để tâm một cách hiện thực đến giây phút hiện tại mà chúng ta đang sống. Vì thế Chiên Con mở bốn ấn tín đầu tiên của cuốn sách và Hội Thánh nhìn thấy thế giới, mà trong đó nó được đưa vào, một thế giới có nhiều yếu tố tiêu cực. Có những sự dữ mà con người vi phạm, như bạo lực, nảy sinh từ ước muốn chiếm hữu, tranh dành ưu thế với nhau, đến nỗi giết nhau (ấn tín thứ nhì); hay bất công, vì con người không tôn trọng luật pháp được ban hành cho họ (ấn tín thứ ba). Sau đó, thêm vào những sự dữ ấy là những sự dữ khác mà con người phải chịu, như sự chết, nạn đói, bệnh tật (ấn tín thứ tư). Phải đương đầu với những thực tại, thường là bi đát, cộng đồng Hội Thánh được mời gọi không bao giờ mất hy vọng, và tin chắc rằng sự toàn năng bề ngoài của Thần Dữ va chạm với sự toàn năng thật, là sự toàn năng của Thiên Chúa.

    Và ấn tín thứ nhất mà Chiên Con mở ra chứa đựng chính thông điệp này. Thánh Gioan nói với chúng ta rằng: “Và tôi đã thấy, kìa một con ngựa trắng, và người cỡi ngựa mang cung. Người ấy được tặng một triều thiên và ra đi như người thắng trận, để chiến thắng” (Kh 6:2). Quyền năng của Thiên Chúa đã bước vào trong lịch sử loài người, một quyền năng không những chỉ có khả năng vô hiệu hóa sự dữ, nhưng thậm chí còn chinh phục nó. Màu trắng nhắc đến biến cố Phục Sinh: Thiên Chúa đã trở thành quá gần gũi với chúng ta đến nỗi Người đi xuống bóng tối của sự chết để chiếu sáng nó bằng ánh sáng huy hoàng của sự sống thần linh của Người: Người đã gánh lấy sự dữ của thế gian trên chính mình, để thanh tẩy nó bằng ngọn lửa tình yêu của Người.

    Chúng ta lớn lên trong sự hiểu biết về thực tại này của Kitô giáo như thế nào? Sách Khải Huyền cho chúng ta biết rằng cầu nguyện nuôi dưỡng cái nhìn về ánh sáng và niềm hy vọng sâu xa này trong mỗi ngưởi chúng ta và trong các cộng đồng của chúng ta: nó mời gọi chúng ta đừng để cho sự dữ khắc phục mình, nhưng thắng vượt sự dữ bằng điều lành, nhìn lên Đức Kitô Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh, là Đấng kết hợp chúng ta trong chiến thắng của Người. Hội Thánh sống trong lịch sử, không khép kín mình; nhưng can đảm đối diện với cuộc hành trình của mình giữa những khó khăn và đau khổ, bằng cách dứt khoát quả quyết rằng, chung cuộc sự dữ không chiến thắng được sự tốt lành, và bóng tối không làm lu mờ vinh quang của Thiên Chúa.

    Đây là một điểm quan trọng đối với chúng ta; như những Kitô hữu, chúng ta không bao giờ có quyền bi quan; chúng ta biết rõ rằng dọc theo cuộc hành trình của cuộc đời, chúng ta thường gặp bạo lực, dối trá, thù hận và khủng bố, nhưng những điều đó không làm chúng ta nản chí. Trên hết, là kinh nguyện này dạy chúng ta nhìn thấy những dấu chỉ của Thiên Chúa, của sự hiện diện và hành động của Ngài; thật ra, [nó dạy chúng ta] trở thành những ánh sáng của sự tốt lành tỏa rộng niềm hy vọng và chỉ về chiến thắng của Thiên Chúa.

    Quan điểm này đưa chúng ta đến việc dâng lời tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa và Chiên Con: 24 kỳ lão và bốn sinh vật cùng hát “bài ca mới” mừng công trình của Đức Kitô, Chiên Con, Đấng làm cho “tất cả thành mới” (Kh 21:5). Nhưng sự đổi mới này trước hết và trên hết là một hồng ân mà chúng ta phải xin. Và ở đây chúng ta tìm thấy một yếu tố khác là nét đặc thù của cầu nguyện: sự tha thiết cầu xin Chúa rằng Nước Ngài trị đến, và xin cho con người có trái tim biết vâng phục chủ quyền của Thiên Chúa, xin cho Thánh Ý Ngài định hướng cuộc đời chúng ta và cuộc sống của thế giới. 

    Trong thị kiến chứa đựng trong Sách Khải Huyền, lời cầu xin này được đại diện bởi một chi tiết quan trọng: “24 kỳ lão” và “bốn sinh vật” cầm trong tay, cùng với cây đàn hạc đi kèm với bài hát của họ, “một cái chén bằng vàng đầy nhũ hương” (5:8 a), như được giải thích, “là những lời cầu nguyện của các thánh” (5:8 b); nghĩa là, nói về những người đã được lên với Thiên Chúa, còn tất cả chúng ta là những người đang lữ hành.

    Và trước ngai Thiên Chúa, chúng ta thấy một thiên sứ đang cầm một bình hương bằng vàng, trong đó thiên sứ liên tục bỏ vào những hạt hương, như những lời cầu nguyện của chúng ta, mà hương thơm ngạt ngào được dâng cùng với những lời cầu nguyện lên trước nhan Thiên Chúa (x. Kh 8:1-4). Đó là một biểu tượng cho chúng ta biết rằng tất cả những lời cầu nguyện của chúng ta, với tất cả những giới hạn, khó khăn, nghèo khổ, khô khan, yếu điểm mà chúng có thể có, được thanh lọc và lên đến tận trái tim của Thiên Chúa. Cho nên, chúng ta phải tin chắc rằng không có lời cầu nguyện nào là không cần thiết và vô dụng; không lời nào bị mất đi. Và chúng sẽ được trả lời, ngay cả thường bí ẩn, bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu và Lòng Thương Xót vô hạn. Thánh Gioan viết rằng Thiên sứ “cầm bình hương, lấy lửa trên bàn thờ bỏ đầy vào và ném xuống đất. Liền có tiếng sấm, tiếng sét, ánh chớp và động đất” (Kh 8:5).

    Hình ảnh này có nghĩa là Thiên Chúa không coi thường lời cầu nguyện của chúng ta. Ngài can thiệp và làm cho người ta cảm thấy quyền lực của Ngài và nghe được tiếng nói của Ngài trên trái đất, Ngài làm cho hệ thống của Sự Dữ bị rung chuyển và phá vỡ chúng. Thông thường thi khi chạm trán với sự dữ, chúng ta cảm thấy bất lực, nhưng cầu nguyện là phản ứng đầu tiên và hiệu quả nhất mà chúng ta có thể dâng lên và điếu ấy củng cố quyết tâm truyền bá sự tốt lành hàng ngày của chúng ta. Quyền năng của Thiên Chúa làm cho sự yếu đuối của chúng ta thành hiệu quả (x. Rm 8:26-27).

    Tôi muốn kết luận bằng cách nhắc đến cuộc đối thoại cuối cùng (x. Kh 22:6-21). Chúa Giêsu lặp lại nhiều lần: “Này, chẳng bao lâu nữa Ta sẽ đến” (Kh 22:7, 12). Lời tuyên bố ấy không những chỉ cho thấy viễn cảnh tương lai của thời sau hết; nhưng còn chỉ về hiện tại: Chúa Giêsu đến, Người thiết lập nơi cư ngụ của Người trong những ai tin vào Người và đón nhận Người. Sau đó, cộng đoàn, được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, lặp đi lặp lại cho Chúa Giêsu lời mời khẩn cấp xin Người đến gần hơn, “Xin hãy đến” (Kh 22:17). Như “nàng dâu” (22:17) đang nóng lòng mong đợi sự viên mãn của cuộc hôn nhân. Lần thứ ba lời cầu xin được nhắc lại: “Amen. Xin hãy đến, Lạy Chúa Giêsu” (22:20 b), và người đọc kết thúc bằng một cụm từ chứng tỏ ý nghĩa của sự hiện diện này: “Nguyện xin ân sủng của Chúa Giêsu với tất cả các Thánh” (22:21).

    Sách Khải Huyền, bất chấp sự phức tạp của các biểu tượng, lôi cuốn chúng ta vào một kinh nguyện rất phong phú. Vì thế, chúng ta cũng được nghe, ngợi khen, cảm tạ, và chiêm ngắm Chúa, cùng cầu xin ơn tha thứ. Cấu trúc của nó như một kinh nguyên phụng vụ cộng đồng cao cả, cũng là một lời nhắc nhở hùng hồn để tái khám phá sự phi thường và quyền năng biến đổi của Bí Tích Thánh Thể. Tôi muốn đặc biệt thôi thúc anh chị em trung thành với Thánh Lễ ngày Chúa Nhật, ngày của Chúa, trung tâm và trái tim thật sự của tuần lễ! Sự phong phú của lời cầu nguyện trong Sách Khải Huyền làm cho chúng ta nghĩ về một viên kim cương, trong đó có hàng loạt những góc cạnh hấp dẫn, nhưng sự quý báu của nó nằm ở độ tinh khiết của cốt lõi của nó. Như thế, các hình thức gợi ý của kinh nguyện mà chúng ta gặp trong Sách Khải Huyền làm cho sự quý giá độc đáo và không thể diễn tả được của Chúa Giêsu Kitô được tỏa sáng.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thánh Kinh Thần Học – Https:
  • Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam Tổ Chức Cuộc Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu Bộ Luật Lao Động Năm 2022 – Bệnh Viện Đa Khoa Long An
  • Tìm Hiểu Những Điểm Mới Của Bộ Luật Lao Động 2022
  • Bạn Cần Có Những Kiến Thức Gì Để Trở Thành Sales Bất Động Sản Chuyên Nghiệp?
  • Nhân Viên Kinh Doanh, Môi Giới Bất Động Sản Làm Những Công Việc Gì ?
  • Tìm Hiểu Thánh Kinh. Cuốn 1: Phần Tổng Quát

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Tk: Các Thư Phao
  • Tim Hieu Cua Nhom Kinh He 700
  • 10 Sự Khác Biệt Giữa Đạo Công Giáo Và Đạo Tin Lành
  • So Sánh Iphone 11 Và 11 Pro: Sự Lựa Chọn Nào Đỉnh Hơn?
  • So Sánh Iphone 11 Và 11 Pro: Anh Em “nội Chiến”
  • Theo Hiến Chế Mặc Khải của công đồng Vaticano II, Thánh Kinh là Lời Chúa nói với loài người để mặc khải cho họ về chính Thiên Chúa, về tình thương, sự an bài săn sóc, ý định và chương trình cứu độ của Người, nhờ đó con người có thể tiếp cận được với Thiên Chúa và thông phần bản tính của Người. Thánh Kinh hay Lời Chúa không chỉ là một bản văn chất chứa tình cảm của Chúa mà còn là chính Chúa (Dei Verbum 25). Có thể nói, tình yêu của con người đối với Thiên Chúa tỉ lệ với độ mến yêu của con người đối với Thánh Kinh. Sở dĩ công đồng Vaticano II dám đồng hoá Lời Chúa với chính Chúa, vì Lời ở đây không phải là một âm thanh vẳng trong không khí, nhưng trước hết là Ngôi Lời

    Công đồng Vaticano II, mong muốn mọi kitô hữu hãy siêng năng học hỏi Thánh Kinh để đi vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa và để tâm hồn được bối dưỡng nơi bàn tiệc Lời Chúa:

    “Mọi kitô hữu, cách riêng các tu sĩ hãy siêng năng đọc Thánh Kinh để học biết khoa học về Thiên Chúa (x. Pl 3,8). Vì không biết Thánh Kinh là không biết Thiên Chúa (S. Hyeronimo). Vậy ước gì họ hăng hái tiếp xúc với chính bản văn Thánh Kinh nhờ Phụng Vụ Thánh chứa đựng dồi dào, hoặc nhờ sốt sắng đọc Kinh Thánh, hay những tổ chức học hỏi thích hợp…” (DV, 25).

    Có thể nói môn học Thánh Kinh là môn học quan trọng nhất trong các môn thần học, vì Thánh Kinh là kim chỉ nam cho tất cả mọi suy luận thần học. Hơn nữa, việc hiểu biết Thánh Kinh sẽ hướng dẫn cho đời sống mọi kitô hữu.

    Chương I. CÁC KHÁI NIỆM A. Khái niệm về mặc khải (mạc khải).

    1. Định nghĩa.

    Chữ Mặc Khải hay Mạc Khải mà người Việt Nam đang dùng là một từ Hán Việt (mạc là màn, mặc là tối, khải là mở), nghĩa là Thiên Chúa vén bức màn hoặc cất đi sự u mê của con người để họ biết về Người, được dịch từ chữ REVELATIO, tiếng Latinh, chữ Revelatio bao gồm: Re (cất lên), velum (khăn voan, cái lúp), tức là cất khăn che để thấy rõ một vật gì.

    Ví dụ: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3, 15). Đây là mặc khải đầu tiên Thiên Chúa hứa ban Đấng Cứu Độ.

    2. Mặc khải và Kitô Giáo.

    Người có tín ngưỡng đi tìm cho mình một sự liên lạc với các thần linh mà họ tôn thờ và khao khát có một sự đối thoại. Vì thế, không lạ gì nhiều tôn giáo cổ xưa đã đặt ra nhiều phương cách để như “ép buộc” thần linh tự mặc khải cho họ qua chiêm mộng, bói toán, lắc quẻ, đồng cốt, cầu cơ… Những phương cách đó là do sáng kiến của con người hơn là do thần linh. Thiên Chúa của Cựu Ước và Tân Ước là một Thiên Chúa mặc khải, Người tỏ mình qua công trình sáng tạo, qua lịch sử cứu độ, qua sự đàm đạo và tác động trên các tổ phụ và các ngôn sứ, đặc biệt qua Đức Giêsu Kitô.

    Như thế, Kitô giáo được xây dựng trên nền tảng mặc khải của Thiên Chúa, nghĩa là trên niềm tin vào những gì Thiên Chúa nói với loài người (qua các kỳ công trong vũ trụ), qua các sứ giả của Người, nhất là qua Đức Giêsu Kitô. Nhờ đó chúng ta sẵn sàng đón nhận và chấp nhận những chân lý mầu nhiệm vượt qua khả năng tri thức và lý luận của người phàm.

    3. Cách thức mặc khải.

    Thiên Chúa tỏ mình và tỏ ý định của Người bằng muôn phương ngàn cách. Chính thánh Phaolô đã viết: “Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được! Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa? Ai đã làm cố vấn cho Người?” (Rm 11, 33-34).

    Nhân loại dùng ngôn ngữ mà truyền đạt tư tưởng, ý muốn và tâm tình của mình. Cũng thế, khi chấp nhận đối thoại, Thiên Chúa đã sử dụng chính ngôn ngữ của nhân loại để mặc khải. Thánh Kinh dùng chữ Dabar và Logos để chỉ Lời mặc khải. Nội dung hai từ này bao gồm việc Thiên Chúa thực hiện mặc khải không những qua lời nói mà còn qua những hành động cụ thể. Hai hình thức này bổ túc cho nhau, nghĩa là lời nói của Chúa giải thích và làm sáng tỏ mầu nhiệm được thể hiện bằng hành động trước đó. Ngược lại, Hành động làm ứng nghiệm những gì được mặc khải qua lời nói.

    Ví dụ: “Ta thấy cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập… Ta xuống giải thoát chúng…” thế rồi Chúa đã dùng cánh tay uy quyền giải phóng dân Israel khỏi nô lệ Ai Cập (x. Xh 3,7-8). “Ta thương đoàn dân này…” và sau lời nói này Chúa đã hoá bánh ra nhiều nuôi dưỡng dân (x. Mt 15,32).

    Nghĩa là Thiên Chúa tuyên phán trực tiếp Lời của Người, hoặc qua miệng các tổ phụ và các ngôn sứ về danh Người hoặc về ý định của Người. Ví dụ: truyền giới răn trên núi Sinai, Đức Giêsu ban bố Hiến Chương Nước Trời…

    Là bằng chính việc làm, Thiên Chúa bày tỏ bản tính của Người và thánh ý của Người là Đấng sáng tạo, quan phòng săn sóc, thương xót con người và luôn trung tín với giao ước Người đã ban cho nhân loại. Ví dụ: Hai chương đầu của sách sáng thế, Tv 33, 6; 1Pr 1,23…).

    – Thiên Chúa cho biết Người là Đấng Sáng Tạo và Quan Phòng (x. Ga 1,3; Rm 1, 19-20).

    – Săn sóc và ban lời hứa cứu độ (x. St 3,8.15).

    – Chọn một dân riêng (kêu gọi Abraham) để chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế ra đời.

    – Dùng các tổ phụ và các ngôn sứ để giáo huấn.

    Thiên Chúa không còn nói với một dân tộc và qua các ngôn sứ nữa, nhưng Người nói với toàn thể nhân loại và nhờ chính Con Một của Người là Đức Giêsu Kitô (x. Ga 3,34; Dt 1,1-2).

    Thiên Chúa hiện thân nơi Đức Giêsu bấy giờ là Emmanuel – ở cùng nhân loại, để không chỉ giúp riêng dân Israel thoát ách nô lệ ngoại bang nữa, mà là cứu chuộc nhân loại thoát ách nô lệ ma quỷ, tội lỗi và sự chết, nâng con người lên địa vị làm Con Thiên Chúa và xứng đáng tham dự vào đời sống vĩnh cửu.

    Tân Ước hoàn tất trọn vẹn chương trình mặc khải được khởi đầu và chuẩn bị trong Cựu Ước.

    4. Các nguồn mặc khải.

    Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận Thánh Kinh và Thánh truyền là hai nguồn mặc khải chính và bổ túc nhau. Điều này khác với Giáo Hội Tin Lành chỉ nhìn nhận Thánh Kinh là mặc khải duy nhất.

    Thánh truyền là những mặc khải tuy không được chép thành văn, nhưng vẫn được các kitô hữu sống và thực hành. Chẳng hạn các phẩm trật, quyền bính của Giáo Hội, quyền thủ lãnh của thánh Phêrô và các đấng kế vị ngài, quyền giáo huấn của các tông đồ…

    Thánh Kinh là một kho tàng mặc khải được chép thành văn và lưu truyền cho hậu thế. Có thể nói, cho đến hôm nay chưa có một sách nào được ấn bản nhiều và có thời gian lưu hành dài như Thánh Kinh.

    c, Thái độ đối với Lời Chúa.

    Các tín hữu sơ khai là những nhân chứng sống động trong việc sống Lời Chúa, họ ý thức tầm quan trọng của Lời Chúa và sùng mộ Lời Chúa.

    Các tín hữu sơ khai đón nhận Lời Chúa giữa bao gian truân thử thách, với sự hoan hỷ của Thánh Thần, khiến họ nên mẫu mực cho mọi kẻ tin (1Tx 1, 6). Họ lắng nghe và ngoan ngoãn đem ra thực hành. Thánh Giacôbê viết: “Ai thiết tha và trung thành tuân giữ luật trọn hảo -luật mang lại tự do-, ai thi hành luật Chúa, chứ không nghe qua rồi bỏ, thì sẽ tìm được hạnh phúc trong mọi việc mình làm” (Gc 1, 25). Nhờ trung thành thực thi Lời Chúa nên các tín hữu đầu tiên đã lớn mạnh trong ân sủng. Tác giả sách Công Vụ Tông Đồ dám đồng hoá sự tăng trưởng của Giáo Hội sơ khai với sự tăng trưởng của Lời Chúa. Nói cách khác, một khi các kitô hữu tiếp thu và thực hành Lời Chúa, thì Lời Chúa sẽ làm phát triển sự sống thiêng liêng (x. Cv 6,7; 12,24…). Cuối cùng, các kitô hữu sơ khai đã dám liều chết vì Lời Chúa (x. Kh 6,9) vì Lời Chúa dành cho họ sự toàn thắng cuối cùng (x. Kh 12, 11).

    5. Phân loại mặc khải.

    Mặc khải tư (Private revelation) là chỉ nhắm tới một số người được giới hạn bởi không gian hoặc thời gian, và không phải là nền tảng của đạo.

    Ví dụ: Những tiết lộ Fatima, Mễ Du…

    Mặc khải công (Public Revelatio) là mặc khải nhắm tới lợi ích chung của toàn thể nhân loại, và là nền tảng của đạo.

    Ví dụ: Mặc khải cho Môisê biết Thiên Chúa là Giavê (có); mặc khải cho Phêrô biết Đức Giêsu là Đấng Kitô hằng sống…

    Chữ LINH HỨNG được dịch từ INSPIRATIO (Latinh): Introng, Spirarethổi. Cái gì thổi? Gió thổi. Trong Thánh Kinh, gió hay hơi (ruah) được dùng để chỉ Thần Khí, tức là Chúa Thánh Thần.

    Vậy, Linh hứng hiểu cách đơn giản là “được Thánh Thần thổi cho”.

    Ơn linh hứng là ơn Chúa Thánh Thần tác động trên người viết, là ảnh hưởng siêu nhiên, có công dụng nâng cao và thúc đẩy khả năng của tác giả chép Thánh Kinh để họ chỉ viết những gì Thiên Chúa muốn, đồng thời cũng hướng dẫn họ trong việc sử dụng những từ ngữ và thể văn thích hợp để không làm sai lạc chân lý mà Thiên Chúa muốn mặc khải.

    Đức giáo hoàng Lêô XIII, trong thông điệp Providentissimus Deus (18.11.1893), viết về tác động của Chúa Thánh Thần như sau : “Bằng một sức mạnh siêu nhiên, Thiên Chúa đã khơi động và thúc đẩy các soạn giả viết. Trong khi các vị viết, Người giúp các vị suy tưởng đúng, muốn viết lại cách trung thành và diễn tả cách thích hợp bằng chân lý không sai lầm, hiểu theo nghĩa là đạt tới mục đích cứu rỗi (apte infaillibiti veritate exprimerunt) tất cả những gì Người truyền cho các vị viết và chỉ những điều đó thôi. Nếu không có như thế thì Người không phải là tác giả của tất cả Kinh Thánh” (EB 125 ; Dz 3293). Đây là bản văn rất quan trọng, vẫn được coi là một định nghĩa ơn linh hứng, bởi vì đoạn văn mô tả tác động cụ thể của ơn linh hứng nơi soạn giả khi ông đang làm việc : Thánh Thần hoạt động cùng với soạn giả con người. Người có sáng kiến, nhưng soạn giả thánh không thụ động, trái lại vẫn làm việc và cộng tác bằng trí tuệ, ý muốn và khả năng hành động.

    Đức giáo hoàng Piô XII trong thông điệp Divino afflante Spiritu (30.9.1943), được coi là hiến chương mới của khoa nghiên cứu Kinh Thánh trong Giáo Hội công giáo, và đã có ảnh hưởng rất lớn. Về vấn đề linh hứng, thông điệp nhấn mạnh đến vai trò của soạn giả : “Khi chép Sách Thánh, soạn giả thánh là dụng cụ của Chúa Thánh Thần, một dụng cụ sống và có lý trí”, do đó, “khi được Thiên Chúa tác động, vẫn còn sử dụng những khả năng và sức lực của mình. Thế nên từ cuốn sách do công lao soạn giả làm ra, ai nấy có thể nhận thấy dễ dàng tính cách riêng và những nét đặc thù của mỗi soạn giả” (EB 556).

    Công đồng Vaticano II trong Hiến Chế Mặc Khải đã viết : “Những điều Thiên Chúa măc khải và Kinh Thánh chứa đựng và trình bày, đều đã được ghi chép do ơn Chúa Thánh Thần soi sáng (Spiritu Sancto afflante). Giáo Hội, Mẹ Thánh chúng ta, do niềm tin bắt nguồn từ thời các thánh Tông Đồ, coi là Sách Thánh và thuộc Thư qui toàn bộ các sách Cựu Ước cũng như Tân Ước với tất cả các phần đoạn, vì lý do là các sách đó đã được chép nhờ ơn Chúa Thánh Thần linh hứng (Spiritu Sancto inspirante) nên có Thiên Chúa là tác giả và đã được truyền lại cho Giáo Hội với tư cách đó. Trong việc soạn các Sách Thánh, Thiên Chúa đã chọn một số người và dùng họ, mà họ vẫn sử dụng những khả năng và sức lực của mình, để nhờ chính Người hành động trong họ và qua họ, họ viết ra với tư cách là những tác giả thực sự, tất cả những gì Người muốn và chỉ viết những điều đó thôi” (DV 11).

    Trong trí tuệ : Thiên Chúa soi sáng:

    Để trình bày chân lý như Thiên Chúa muốn, trước tiên cần phải có một quan niệm cho đúng. Ơn linh hứng sẽ giúp trí tuệ soạn giả thánh nhận thức đúng. Một trong những yếu tố góp phần tích cực để hiểu tác động của ơn linh hứng đối với trí tuệ của soạn giả thánh là cách phân biệt phán đoán trừu tượng và phán đoán thực hành cùng vai trò của nó.

    Ơn linh hứng tác động vào trí tuệ, giúp cho soạn giả nhận thức chân lý Thiên Chúa muốn thông ban và biết nên viết điều gì và viết cách nào. Ánh sáng linh hứng đó có tính cách nội tại, để lời viết ra thực sự là của con người, và cũng là Lời của Thiên Chúa nhờ ánh sáng đó, bởi vì nếu là ngoại tại thì việc làm của soạn giả thánh không còn tính cách tự do nữa mà là bị cưỡng bách.

    Trong ý chí : Thiên Chúa thúc đẩy:

    Ơn Thiên Chúa thúc đẩy soạn giả thánh để chỉ muốn viết những gì Thiên Chúa muốn. Vấn đề là sự hài hòa giữa ý muốn của Thiên Chúa với ý muốn của con người như thế nào. Nếu soạn giả thánh là một dụng cụ có lý trí và tự do, thì Thiên Chúa cũng phải sử dụng dụng cụ đó theo bản tính của nó là có tự do. Vì đó ơn linh hứng phải tác động trên ý chí vì đây là quan năng làm cho con người hành động như con người tức là có tự do.

    Trong hành động: Thiên Chúa giúp đỡ:

    Ý chí không những quyết định những gì trí tuệ thấy cần phải viết, nhưng còn vận dụng mọi cơ năng để thực hiện quyết định đó nữa. Vậy ơn linh hứng cũng tác động trên cả những cơ năng thực hành nữa. Khi thực hiện ý định viết, Thiên Chúa sẽ nâng đỡ các khả năng hành động như trí tưởng tượng, trí nhớ, tâm tình, khiếu viết văn và cả những hoạt động thân thể nữa. Vì Sách Thánh là tác phẩm của Thiên Chúa và của con người, nên cũng phải qui những tác động của con người về cho Người, nghĩa là Người ban ơn linh hứng siêu nhiên trợ giúp.

    Như vậy, ai là tác giả Thánh Kinh?

    2. Các tác giả Thánh Kinh.

    Vì chính Thiên Chúa linh hứng cho người ta chép và chỉ chép ra những gì Người muốn bày tỏ với nhân loại, nên tác giả chính của Thánh Kinh là chính Thiên Chúa. Chính vì thế mà Thánh Kinh được gọi là Lời Chúa.

    b, Các thánh ký (người viết).

    Các tác giả chép Thánh Kinh không phải chỉ nghe Chúa Thánh Thần phát âm chữ nào thì viết ra chữ đó, nhưng các vị chép Thánh Kinh là những con người tự do và luôn sử dụng tài năng riêng cùng quan niệm bình dân và tư tưởng thời đại để diễn tả trước hết là cho người đương thời biết những chân lý mặc khải của Thiên Chúa. Vì thế, các vị cũng là những tác giả thực của Thánh Kinh, nhưng chính là những tác giả phụ mà thôi, vì nội dung chính không phải là do sáng kiến của các vị, mà hoàn toàn là Lời mặc khải của Thiên Chúa.

    Thiên Chúa là Đấng thông minh và chân thật tuyệt đối, nghĩa là Người không thể sai lầm và Người cũng không hề lừa dối ai. Vì thế những điều Người linh hứng cho các thánh ký cũng không thể sai lầm được. Điều này cũng có nghĩa là Thánh Kinh không thể sai lầm.

    Sự vô ngộ của Thánh Kinh xuất phát từ Ơn Linh Hứng. Thật vậy, nếu tin rằng chính Thánh Thần linh hứng, tức là soi sáng và hướng dẫn các thánh ký để họ viết ra thì bản văn Thánh Kinh không thể sai lầm, vì Ngài là Thần Chân Lý. Đức Kitô hứa ban Thánh Thần cho các Tông Đồ, như trí khôn và trí nhớ của họ: Là trí khôn, Ngài cho họ thấu hiểu những điều bí nhiệm (x/ Ga 16,13); là trí nhớ, Ngài nhắc cho họ những gì Chúa đã nói với họ (x. Ga 14, 26).

    Tuy nhiên, nếu dừng lại theo phương diện khoa học và lịch sử thì không thiếu những mâu thuẫn và sai lầm. Chẳng hạn tường thuật không logich về việc sáng tạo, hoặc đoạn Tin Mừng Matthêu trích dẫn câu: “Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giêrêmaia: họ đã lượm ba mươi đồng bạc, tức là cái giá mà số con cái Israel đã đặt khi đánh giá Người”. Câu này của sách ngôn sứ Giacaria nhưng Matthêu lại lầm lẫn là của Giêrêmia (x. Mt 27,9

    Chúng ta có lập trường sau đây của Giáo Hội:

    Công đồng Vaticano II trong Hiến Chế Mặc Khải dạy:

    – “Phải xem mọi lời các tác giả được linh hứng viết ra, tức các soạn giả thánh, là những Lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Kinh Thánh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Kinh Thánh ghi lại vì ơn cứu độ của chúng ta…” (DV 11)

    – “… Để tìm ra chủ ý của soạn giả thánh, giữa những phương pháp khác, cũng cần xét đến văn loại. Vì chân lý được trình bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau, như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi phú hoặc những thể văn diễn tả khác. Hơn nữa, nhà chú giải còn có bổn phận tìm hiểu ý nghĩa mà trong những trường hợp nhất định, soạn giả thánh đã muốn diễn tả và thực sự đã diễn tả trong hoàn cảnh thời đại và văn hóa của họ qua các lối văn được dùng trong thời đó. Thực vậy, để hiểu đúng ý nghĩa Kinh Thánh muốn quả quyết trong bản văn, chúng ta phải chú tâm đúng mức đến các cách thức cảm nghĩ, diễn tả, tường thuật do bẩm sinh, được thịnh hành trong thời của họ, cũng như phải để ý đến các hình thức mà người thời ấy thường dùng khi giao tế với nhau” (DV 12).

    Giáo Hội tin Thánh Kinh vô ngộ vì:

    – Giáo Hội thừa kế lòng tin tưởng đó của dân tộc Do Thái.

    – Giáo Hội dựa trên uy tín của Đức Kitô (x. Mt 22,31).

    – Giáo Hội dựa trên thế giá các Tông Đồ (x. Cv 2, 16).

    – Giáo Hội dựa trên lời quả quyết của các giáo phụ: Thánh Clément I viết: “Anh em đừng xuyên tạc Lời Chúa vì đó là Lời chân thật”; thánh Augustine cũng dạy: “Thánh Kinh chân thật và không ai phủ nhận chân lý này, trừ phi kẻ bất lương”.

    – Thánh Kinh là Lời Chúa nói với loài người bằng ngôn ngữ nhân loại (cách nói của loài người), nhờ đó giúp người ta có thể lãnh hội được Lời Chúa cách dễ dàng hơn.

    – Chỉ những mặc khải về Ơn Cứu Rỗi mới là nội dung chính của Thánh Kinh mà thôi. Đối với những chân lý về Ơn Cứu Rỗi thì Thánh Kinh không thể sai lầm được (S. Augustin, S. Thomas d’Aquine).

    – Những chân lý thuộc lãnh vực khoa học, lịch sử, văn phạm… không phải là những chân lý mà Chúa Thánh Thần muốn dạy dỗ loài người qua chương trình mặc khải, nghĩa là những chân lý ấy không thuộc về nội dung chính của Thánh Kinh.

    – Các sai lầm trong các lãnh vực thuộc về nội dung chính của Thánh Kinh không hề ảnh hưởng đến các chân lý mặc khải về Ơn Cứu Rỗi, nghĩa là không làm sai lạc những chân lý mà Thiên Chúa muốn mặc khải cho con người để họ có thể đạt tới Ơn Cứu Rỗi.

    Các tác giả Thánh Kinh có thể sai lầm theo suy nghĩ bình dân, hoặc các ngài phản ảnh những sai lầm của thời đại khi đề cập đến các chân lý ấy.

    C. Khái niệm về giao ước. I, Định nghĩa.

    1, Cấu tạo Thánh Kinh.

    Được gọi là Thánh Kinh hay Sách Thánh là bởi vì:

    – Tác giả là chính Thiên Chúa chí thánh.

    – Vì trong đó chứa đựng những điều thánh thiện.

    – Vì những trang sách này có sức thánh hoá người đọc (S. Thomas Aquino).

    Thánh Kinh là một bộ sách gồm 73 cuốn, được chia làm hai phần: Cựu Ước và Tân Ước. Bộ sách chứa đựng các chân lý mặc khải về Ơn Cứu Rỗi, do nhiều tác giả viết ra dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần (ơn Linh Hứng).

    Thánh Kinh được viết vào những thời kỳ khác nhau, trải dài từ khoảng năm 1350 trước Chúa Giáng Sinh đến năm 100 sau Chúa Giáng Sinh.

    Thánh Kinh cũng được coi là bộ sách Giao Ước, trong đó bao gồm Cựu Ước (giao ước cũ) và Tân Ước (giao ước mới). Cả hai đều gồm ba thể loại: Lịch Sử, Ngôn Sứ và Giáo Huấn.

    2, Định nghĩa giao ước.

    Giao ước là một thoả thuận giữa hai bên, được thiết lập và đóng ấn bằng một nghi lễ công khai. Qua đó mỗi bên đều được hưởng những quyền lợi, kèm theo những ràng buộc và phải thi hành một số điều kiện.

    Theo phong tục cổ thời, các dân vùng Lưỡng Hà Địa thì sau khi hai bên đạt được thoả thuận cho việc ký kết, người ta giết một con vật, rồi phân thây con vật làm hai nửa. Sau đó đại diện hai bên lần lượt đi qua giữa hai phần của con vật đó, ngụ ý nói lên quyết tâm thực hiện điều đã ký kết và sẵn sàng chịu chung số phận như con vật nếu vi phạm điều đã giao ước (x. St 15, 7-20; Gr 31,31; 34,18-22).

    Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa chặt, thì không thể có giao ước đúng nghĩa giữa Thiên Chúa và loài người. Vì giao ước chỉ được thiết lập giữa hai bên ngang hàng với nhau và hai bên đều được hưởng lợi và cùng phải có bổn phận ràng buộc. Trong khi Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo và con người chỉ là thụ tạo được Thiên Chúa dựng nên từ hư vô thì không thể ngang hàng với nhau được. Đồng thời Thiên Chúa cũng chẳng được lợi ích gì và Người cũng không thể bị ràng buộc vào bổn phận phải thi hành, vì mọi sự đều là của Thiên Chúa. Nhưng vì yêu thương Thiên Chúa đã tự hạ cố để thiết lập giao ước, nên đúng hơn phải hiểu giao ước giữa Thiên Chúa với loài người là một Lời Hứa được ban cho con người mà thôi (x. St 9,11; 15,5; Xh 19,5).

    Giao ước khác biệt với mọi bản giao kèo hay hợp đồng giao kết khác, nghĩa là các bản giao kết kia nếu một bên vi phạm thì bên còn lại không bị ràng buộc nữa, trong khi Giao Ước thì không thay đổi, bằng chứng là phía con người bất tín biết bao lần, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn trung tín.

    3. Giao ước cũ và giao ước mới.

    Là Lời Giao Ước Cũ mà Thiên Chúa thiết lập với dân riêng của Người là Israel qua trung gian là các tổ phụ và các ngôn sứ, và được đóng ấn bằng máu con vật sát tế.

    Là Lời Giao Ước Mới mà Thiên Chúa thiết lập với toàn thể nhân loại nhờ chính Con Một Người là Chúa Giêsu và được đóng ấn bằng chính Máu của Người đổ ra trên thập giá (x. Mc 14,22-25; 1Cr 11,23-25).

    II. Các nguồn tài liệu.

    Những truyền thống trên bao gồm nhiều tài liệu khác nhau, lắm lúc có cả những tài liệu không cần thiết. Vì thế, qua những biến cố quan trọng ảnh hưởng đến đức tin vào Thiên Chúa, như việc tìm thấy sách Luật trong đền thờ, cuộc lưu đày… người ta đã hiệu đính lại các truyền thống và loại bỏ những gì không cần thiết, đồng thời đưa ra những chú giải làm căn bản thần học cho các truyền thống ấy.

    Ngày nay các nhà chú giải phân biệt được thành 4 truyền thống khác nhau lẫn lộn trong bộ Ngũ Kinh:

    Truyền thống J xuất hiện ở Miền Nam (Giuđa) vào khoảng thế kỷ X trước Chúa Giáng Sinh, dưới thời Đavít và Salômon trị vì Israel.

    Đặc điểm của truyền thống này là dùng cách thức của con người để diễn tả Thiên Chúa. Chẳng hạn: Kể chuyện Thiên Chúa giống như thợ gốm ngồi lấy đất nặn ra con người, lấy xương sườn đàn ông để đắp thành đàn bà…

    Truyền thống J trình bày giai đoạn lịch sử bao quát kéo dài từ con người khởi thuỷ đến biến cố Xuất Hành. Chủ đề tổng quát của truyền thống J là LỜI HỨA và THỰC HIỆN LỜI HỨA được trình bày qua các trình thuật về các tổ phụ.

    Truyền thống E xuất hiện muộn hơn truyền thống J, thuộc miền Bắc, tức vào khoảng thế kỷ IX trước Chúa Giáng Sinh.

    Đặc điểm của truyền thống này là luôn tránh lối diễn tả về Thiên Chúa theo cách thức con người. Vì thế, khi tường thuật việc Thiên Chúa muốn mặc khải điều gì, thì truyền thống E không dùng hình thức trực tiếp mà dùng các cách thức như: báo mộng, đám mây, ngọn lửa, thiên thần…

    Về mặt luân lý, truyền thống E khắt khe hơn truyền thống J, để đương đầu với lối sống vô luân và phong tục của các bộ tộc ngoại đạo sống xung quanh hoặc lẫn lộn với dân Israel.

    Truyền thống P xuất hiện vào thời lưu đày. Giữa lúc dân Chúa sống giữa thế giới dân ngoại, nên rất dễ bị lung lạc và đồng hoá với các hình thức tôn giáo ngoại đạo. Vì thế, truyền thống P ra đời nhằm bảo vệ đức tin tinh tuyền và cách thờ tự Thiên Chúa của Israel.

    Truyền thống P trình bày lịch sử theo khung cảnh phụng vụ, trình bày lịch sử Israel thành 4 thời kỳ và mỗi thời kỳ được đành dấu bằng một giao ước đặc biệt của Thiên Chúa và được đáp ứng bằng một hình thức tôn thờ đặc biệt.

    Tóm lại, truyền thống P được trình bày theo lối phụng vụ trang trọng với chủ đích giúp dân Israel lưu đày giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa.

    Ba truyền thống J, E và P đan kết lại với nhau làm thành 4 cuốn đầu của bộ Ngũ Kinh.

    viết tắt chữ Deutoronomy (luật thứ hai). Được gọi là truyền thống Đệ Nhị Luật vì nói về luật và là nội dung của sách Đệ Nhị Luật.

    Truyền thống D xuất hiện vào khoảng thế kỷ VII trước Chúa Giáng Sinh, thuộc thời kỳ khủng hoảng tôn giáo, do các vua gian ác làm tổn hại đến việc tôn kính Giavê, cùng với việc Miền Bắc đã bị sụp đổ và Miền Nam đang bị đe doạ trầm trọng bởi đế quốc Assyri. Trước tình trạng ấy, truyền thống D ra đời nhằm khích lệ dân Israel trung thành với giao ước qua việc tuân giữ lề luật.

    Căn bản thần học của truyền thống D là xác tín rằng Giao Ước là lựa chọn đầy yêu thương của Thiên Chúa, do đó tuân giữ giao ước (lề luật) của Thiên Chúa chính là đáp lại sự lựa chọn đầy yêu thương đó.

    Ngôn sứ được hiểu là một sứ giả của Thiên Chúa và chuyển đạt Lời Chúa, chuyển đạt ý định của Thiên Chúa cho dân.

    Các ngôn sứ nhận được sứ điệp từ Thiên Chúa đôi khi qua thị kiến (x Is 6, Ed 1-3…), nhưng thường thì qua ơn linh hứng diễn ra nơi nội tâm. Các vị nhận thức được rõ về linh hứng và xác tín rằng đó là mặc khải của Thiên Chúa và phải được rao giảng cho dân.

    Để phân biệt đâu là một ngôn sứ có thật là do Thiên Chúa sai đến hay không, Thánh Kinh giúp chúng ta biết dựa theo 1 trong 2 tiêu chuẩn sau đây:

    Tiền ngôn sứ và hậu ngôn sứ : Quy điển Thánh Kinh Do Thái thì các sách: Giosuê, Thủ Lãnh, Samuel, Các Vua là sách TIỀN NGÔN SỨ, để phân biệt với HẬU NGÔN SỨ là: Isaia, Giêrêmia, Êdêkien và 12 ngôn sứ nhỏ.

    Tìm kiếm và chiếm hữu được khôn ngoan là một khát vọng lớn lao. Vì thế, đi tìm sự khôn ngoan hiểu biết là một phong trào rất thịnh hành của các dân tộc. Mục đích của công cuộc tìm kiếm khôn ngoan là thâu thập những kinh nghiệm rút từ cuộc sống hằng ngày, rồi đúc kết lại thành một nghệ thuật sống giúp người ta thành công trên đường đời, biết sống hoà hợp với mọi người và vũ trụ, để đạt được hạnh phúc.

    Dân Israel cũng hấp thụ nền văn minh và kho tàng khôn ngoan của các dân tộc, nhưng không chỉ dừng lại ở những gì có tính cách nhân bản mà còn được nâng lên một lãnh vực cao siêu hơn, không chỉ dừng lại ở lãnh vực cuộc sống thường ngày mà thăng hoá lên trong cái nhìn tôn giáo, nghĩa là sự khôn ngoan đích thực xuất phát từ Giavê, được soi sáng bởi Giavê và sự khôn ngoan của mọi khôn ngoan chính là lòng đạo đức và kính sợ Đức Chúa. Có thể so sánh sự khác biệt: Khôn ngoan dân ngoại đưa ra sự đối lập giữa khôn và dại, thì khôn ngoan Isrel đưa ra sự đối lập giữa đạo đức và vô luân, giữa công chính và bất chính…

    Tóm lại: Các nguồn tài liệu lịch sử, ngôn sứ và khôn ngoan đã tạo nên một cuốn Thánh Kinh duy nhất.

    Chương II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ THÁNH KINH.

    : Hiện nay, các thủ bản (bản gốc) nguyên thủy của Thánh Kinh phần lớn đã bị thất lạc và chỉ còn lại các bản sao lục, nghĩa là những bản được sao chép từ bản chính. Căn cứ vào những bản sao lục, thì Thánh Kinh được chép bằng các loại ngôn ngữ sau đây:

    Híp-ri (Do Thái): Hầu hết các sách Cựu Ước được chép bằng tiếng Do Thái, nhất là các sách lịch sử.

    Hi Lạp: Một số ít sách được viết bằng tiếng Hi Lạp, nhất là các sách thuộc văn chương khôn ngoan và viết vào thời kỳ văn hoá Hi Lạp bành trướng (khoảng -333).

    A-ram: Chỉ có một số đoạn và rất ít sách chép bằng tiếng A-ram. Aram là thứ ngôn ngữ gần với tiếng Híp-ri, nó được dùng làm tiếng quốc tế được sử dụng trong khắp đế quốc Ba Tư trong công việc thương mại và ngoại giao (như tiếng Anh ngày nay). Ở Giuđêa, tiếng Aram dần dần thay thế tiếng Híp-ri là thứ tiếng chỉ còn dùng trong phụng vụ. Thời Đức Giêsu dân nói tiếng Aram và không còn hiểu tiếng Híp-ri nữa.

    : Nghệ thuật in ấn mới được phát minh vào thế kỷ XV sau Chúa Giáng Sinh. Thế nhưng, từ thời thượng cổ, con người cũng đã tìm ra những cách để lưu lại, như khắc trên gỗ, trên đá, trên đất sét…

    Các chất liệu được dùng để chép Thánh Kinh là chỉ thảo và da thuộc.

    Chỉ thảo (papyrus): Là loại chất liệu làm bằng ruột cây sậy chẻ mỏng và ép chồng lên nhau rồi phơi khô làm giấy để viết.

    Da thuộc (Parchment): Là chất liệu làm bằng da thú vật ngâm nước vôi, phơi khô và đánh nhẵn ra để làm giấy viết. Loại này xuất hiện vào khoảng thế kỷ VII Trước CSS.

    2. Vấn đề quy điển Thánh Kinh.

    Quy điển Thánh Kinh là tất cả những sách được nhìn nhận là có Linh Hứng và chứa đựng những chân lý mặc khải về Ơn Cứu Rỗi.

    Trước hết, Thánh Kinh không phải là một cuốn sách, do một tác giả chép, xuất hiện cùng một thời kỳ và được in ấn thành sách như ngày nay. Trái lại, là một sưu tập nhiều cuốn sách, do nhiều tác giả khác nhau chép, xuất hiện vào nhiều thời kỳ đôi khi cách xa nhau và hơn nữa còn được sao chép nhiều lần chứ không phải in ấn một lần như ngày nay. Vì thế, việc sưu tầm các tài liệu đó, rồi gom lại thành tập và sao lục lại các tài liệu ấy đã tạo ra nhiều nghi vấn về tính chính xác của một cuốn sách. Chẳng hạn: Cuốn sách ấy có được sao lục đúng với bản gốc không? Có thực sự có linh hứng không…? Cho nên, vấn đề quy điển được đặt ra là nhằm loại bỏ những cuốn sách không thực sự có Ơn Linh Hứng và không được kể là Kinh Thánh.

    Sau cùng, có những sách được một số cộng đoàn Do Thái hoặc cộng đoàn Kitô Giáo nhận là Thánh Kinh, nhưng một số cộng đoàn khác lại không nhìn nhận. Vì thế vấn đề quy điển được đặt ra để phán quyết sách nào là có Linh Hứng và sách nào là không?

    a, Sự khác biệt về quy điển trong Công Giáo và Tin Lành.

    Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành không nhìn nhận một quy điển Thánh Kinh như nhau.

    Cụ thể, 7 cuốn sau đây được Giáo Hội công giáo nhìn nhận là Thánh Kinh, trong khi Tin Lành thì không:

    1. Sách Tobia.

    2. Sách Giuđita.

    3. Sách Khôn Ngoan.

    4. Sách Huấn Ca.

    5. Sách Baruc.

    6. Sách Macabê I.

    7. Sách Macabe II.

    Ngoài ra, Tin Lành cũng không nhìn nhận một số chương trong sách Ette và sách Đanien vào quy điển.

    b, Thẩm quyền phán quyết về quy điển Thánh Kinh.

    Khi phán quyết về một cuốn sách không thể căn cứ vào hình thức văn chương để chân nhận tính linh hứng của nó, vì nhiều cuốn có hình thức văn chương tuyệt tác mà không được công nhận vào quy điển, trong khi một số cuốn có hình thức văn chương rất nghèo nàn và vụng về lại được xếp vào quy điển. Cũng không thể căn cứ vào nội dung cao siêu để phán quyết là có linh hứng, vì không thiếu những tác phẩm viết về những suy luận cao siêu như các tác phẩm của Socrate, Platon, Aristote… nhưng không thể gọi là Thánh Kinh.

    Cần biết rằng, đã nhìn nhận Thánh Kinh là bộ sách chứa đựng các chân lý mặc khải của Thiên Chúa, thì đương nhiên cũng chỉ có mình Thiên Chúa mới là tiêu chuẩn và có thẩm quyền để phán quyết mà thôi.

    Tuy nhiên, Thiên Chúa, qua mầu nhiệm nhập thể, Chúa Giêsu sau khi về trời đã uỷ thác quyền bính cho các Tông Đồ và ban Thánh Thần cho họ, rồi từ các Tông Đồ thông truyền đến cho Giáo Hội của Người. Chúa Thánh Thần hướng dẫn và gìn giữ Giáo Hội khỏi mọi sai lầm về giáo lý và luân lý, vì: “Ai nghe anh em là nghe Thầy” (Lc 10,16).

    Tóm lại, vì được Chúa Kitô uỷ thác để bảo tồn và truyền bá giáo lý mặc khải của Chúa, nên Giáo Hội có đủ thẩm quyền để phán quyết tính cách linh hứng của một cuốn sách. Tiêu chuẩn để Giáo Hội phán quyết có được xếp vào quy điển hay không, chính là sách có phù hợp với giáo lý của các Tông Đồ hay không.

    Ngoài ra, tiếng nói của một số các sử gia và chuyên viên nghiên cứu sách thánh cũng góp phần quan trọng, nhưng chỉ có giá trị làm sáng tỏ vấn đề, chứ không có tính quyết định.

    3. Thánh Kinh và Khoa Học.

    Nếu nhìn theo khao học, chúng ta thấy trong Thánh Kinh có rất nhiều điều trái với khoa học.

    Trình thuật tạo dựng trong 6 ngày (x. St 1).

    Nước được chứa trên trời trong một cái vòm rắn chắc (x. St 1,7; G 37, 18).

    Thỏ rừng là động vật thuộc loài nhai lại (x. Lv 11,6; Đnl 14,4).

    Trái đất bằng phẳng, có cột chống đỡ và bên dưới là nước (Tv 136,6).

    Mặt trời xoay quanh trái đất (Tb 2,7; Et 11,11); Giosuê cho mặt trời đứng lại (Gs 10,12).

    Trước những mâu thuẫn với khoa học như thế đã dẫn đến các lập trường sau đây:

    a, Các lập trường cực đoan.

    : Chủ trương Thánh Kinh hoàn toàn phù hợp với khoa học. Chủ trương này cố gắng giải thích những sự kiện Thánh Kinh cho hợp với khoa học. Chẳng hạn: Để giải thích việc con người trong Thánh Kinh hợp với thuyết tiến hoá theo khoa học, họ giải thích rằng, ông bà nguyên tổ ban đầu ở trần truồng trong vườn địa đàng, chịu tác động của sương gió… nên vẫn lông lá mọc nhiều trên da, và đó là dấu vết còn lại ngày hôm nay nơi con cháu. Hoặc, chuyện sáng tạo vẫn đúng là 6 ngày, nhưng Phái cực hữu ngày ở đây được hiểu là có thể kéo dài hàng trăm triệu hoặc tỉ năm. Những giải thích của phái cực hữu nhiều khi rất gượng ép và bế tắc. Chẳng hạn, họ không thể lý giải việc thứ tự sáng tạo: ngày đầu tiên có ánh sáng, nhưng tới ngày thứ tư mới tạo dựng mặt trời mặt trăng… (x. St 1).

    b, Lập trường của Giáo Hội Công Giáo.

    Tóm lại, Thánh Kinh không phải là bộ sách có mục đích dạy về khoa học, nên có thể có những mâu thuẫn về khoa học, do các tác giả dùng chính quan niệm bình dân để chép, hoặc phản ảnh những sai lầm của thời đại lúc ấy.

    4. Các chủ thuyết.

    Cần biết rằng, tường thuật về sáng tạo không phải là một sự tích lịch sử, nhưng là một cách dựng truyện để diễn tả về những chân lý mặc khải Ơn Cứu Độ. Có nghĩa là, xuyên qua các tường thuật về sáng tạo có vẻ huyền thoại này, mời gọi chuyển đạt những chân lý sau đây:

    * Vũ trụ vạn vật từ đâu mà có?

    – Do Thiên Chúa sáng tạo nên.

    * Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ từ lúc nào và bằng gì?

    – Thiên Chúa tạo dựng từ khởi thuỷ và từ hư vô.

    * Thiên Chúa tạo nên vũ trụ thế nào?

    – Bằng Lời quyền năng, chỉ phán một lời là có.

    * Tình trạng của vũ trụ từ lúc tạo thành thế nào?

    – Hoàn toàn tốt đẹp.

    * Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ để làm gì?

    – Để biểu lộ sự tốt lành của Người.

    * Thiên Chúa sáng tạo hay liên tục sáng tạo?

    – Liên tục sáng tạo vì sau khi sáng tạo, Thiên Chúa chúc phúc cho các sinh vật tiếp tục sinh sản ra nhiều.

    * Có nhiều thần sáng tạo không?

    – Chỉ có một mình Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo duy nhất. Các thần dân ngoại tôn thờ như: Ai Cập có thần mặt trời, Babilon có thần mặt trăng, Assiry có thần các tinh tú… chỉ là thụ tạo do Thiên Chúa dựng nên mà thôi, chứ không phải là thần minh.

    b, Vũ trụ quan theo Thánh Kinh.

    Người xưa quan niệm cơ cấu vũ trụ giống như một cái bát lớn úp xuống mặt đất (chân trời). Có các tinh tú được gắn chặt cố định trên vòm trời. Vì thỉnh thoảng có mưa nên tin rằng có nước được ngăn lại trên trời, khi mưa thì các con đập được mở ra để nước tuôn xuống. Mặt đất thì bằng phẳng như mặt bàn, bên dưới là nước và mặt đất có các cột chống đỡ. Trong lòng đất là Âm Phủ (sheol) là nơi cư ngụ của người chết….

    Để trả lời cho những điều trên, cần hiểu rằng thời thượng cổ, người ta chưa phát minh ra các phương tiện hiện đại như kính lúp và các phương tiện khám phá không gian, mà tất cả chỉ dừng ở việc quan sát các sự luân chuyển trong vũ trụ bằng mắt thường. Tất cả chỉ dừng lại ở mức quan niệm hơn là những thí nghiệm khám phá. Chính vì thế, những quan niệm cổ xưa được chép ra so với thời nay sai với khoa học chứng minh được, nhưng lại rất hợp lý và cho đến ngày nay bằng việc quan sát thường ngày cũng vẫn hợp lý. Người đương thời dùng để chuyển đạt Lời Chúa cũng sử dụng tiếng nói và quan niệm như thế. Vì vậy, cần nắm bắt được điều này để không rơi vào những phán xét cực đoan cho rằng Thánh Kinh là sai lầm.

    c, Độc nguyên và đa nguyên.

    Ngày nay, khi xuất hiện các nghiên cứu về tiến hoá, về các chủng loại người cũng như những khám phá về dấu vết của sự sống sinh vật có thể có nơi các hành tinh ngoài trái đất, người ta bắt đầu đặt vấn đề nguyên tổ: Độc nguyên hay đa nguyên?

    Thuyết độc nguyên (Monogenisme) chủ trương con người phát sinh từ một cha mẹ duy nhất.

    Thuyết đa nguyên (Polygenisme) lại chủ trương phải có nhiều nguyên tổ khác nhau. Thuyết này cho rằng, vì có rất nhiều chủng loại người khác nhau trên các châu lục, cũng như có sự tiến hoá theo nhiều thời kỳ để hình thành con người thông minh. Đồng thời, biết đâu có một chủng người khác ở một hành tinh khác trong vũ trụ ngoài trái đất (người ngoài hành tinh). Vì thế, có nhiều nguyên tổ.

    Vấn đề được đặt ra là câu chuyện về nguyên tổ Ađam – Eva là một sự tích mang màu sắc huyền thoại, mà nguồn văn J để lại không thể hiểu theo nghĩa đen, và như vậy có buộc phải tin là độc tổ hay không?

    Trong khi những bản văn Tân Ước như Rm 5,12-21 và 1Cr 15,21tt xác định về độc tổ: “Vì một người mà tội lỗi đã nhập vào thế gian và vì tội lỗi mà người ta phải chết…”. Giáo Lý của Giáo Hội nói về tội nguyên tổ…. Vậy làm sao dung hoà được chuyện độc tổ hay đa tổ quả là một điều hết sức khó khăn.

    Đức Pio XII trong thông điệp Humani Generis phản bác thuyết đa nguyên vì cho rằng thuyết này không thể dung hoà được tội nguyên tổ.

    Nhà thần học người Đức Karl Rahner cho rằng thuyết đa nguyên có thể chấp nhận được một vài hình thức.

    Dự trù cho vấn nạn tội nguyên tổ, một số nhà thần học ngày nay không không coi Tội Nguyên Tổ như một hành động do Nguyên Tổ loài người phạm một lần và gây ra hậu quả có ảnh hưởng đến toàn nhân loại, nhưng họ đồng hoá tội đó với TỘI TRẦN GIAN nơi thần học Gioan (x. Ga 1,29), nghĩa là do lạm dụng tự do Nguyên Tổ đã vi phạm lệnh truyền của Thiên Chúa, rồi một khi tội lỗi bắt đầu xuất hiện thì đà xuống dốc không thể dừng lại được và kéo theo một môi trường hay một tình trạng hư hoại. Trải qua từ thế hệ này đến thế hệ khác, tội lỗi cứ thêm chồng chất và mọi người đều đóng góp vào “tội trần gian” ấy. Đó là tình trạng khi một người sinh ra đã ở trong môi trường tội lỗi và rồi lệ thuộc tình trạng sẵn có này. Với khả năng nhỏ bé con người không thể lướt thắng mãnh lực tội lỗi nên cần đến Ơn Cứu Rỗi.

    Nếu hiểu tội nguyên tổ theo nghĩa “tội trần gian” thì không còn khó khăn về vấn đề độc tổ hay đa tổ. Tín điều Giáo Hội là vấn đề thuộc đức tin, nhưng việc phát sinh từ một cha mẹ duy nhất thì không thuộc đức tin.

    Đó là những dự trù cho những giải thích có thể trong tương lai, chứ cho đến ngày nay vẫn chưa ai có thể chứng minh được cách chắc chắn là đa nguyên.

    5. Thánh Kinh và thời gian.

    Cách tư duy theo lối Tây Phương, quan niệm thời gian như một thực tại có thể đo lường được. Thật vậy, khi muốn nhắc đến thời gian, người ta dùng các dụng cụ trắc lượng như đồng hồ hay quyển lịch để có thể xác định một thời đại hoặc một biến cố. Thời gian trở thành đặc tính có thể đo lường.

    Nhưng đối với người Do Thái, biết thời gian không phải là cho nó một thời biểu, mà biết thời gian được nói đến là thời gian nào: Đó là thời gian của tiếng cười hay thời gian khóc lóc, thời gian của hoà bình hay thời gian chiến tranh, thời gian để gieo hay thời gian để gặt…

    “Mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời : một thời để chào đời, một thời để lìa thế ; một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây ; một thời để giết chết, một thời để chữa lành ; một thời để phá đổ, một thời để xây dựng ; một thời để khóc lóc, một thời để vui cười ; một thời để than van, một thời để múa nhảy ; một thời để quăng đá, một thời để lượm đá ; một thời để ôm hôn, một thời để tránh hôn ; một thời để kiếm tìm, một thời để đánh mất ; một thời để giữ lại, một thời để vất đi ; một thời để xé rách, một thời để vá khâu ; một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng ; một thời để yêu thương, một thời để thù ghét ; một thời để gây chiến, một thời để làm hoà” (Gv 3,1-8).

    Giống như khi nói: “thời gian tốt”, thời gian xấu”, “thời kì tân tiến”, “thời kỷ khó khăn…” có nghĩa là đánh giá những gì xảy ra trong thời gian, đánh giá phẩm tính của kinh nghiệm con người chứa đựng trong đó.

    Khi nghĩ đến lịch sử, người ta tìm lại quan niệm lượng số về thời gian. Riêng người Do Thái thời xưa không tự đặt mình vào một chỗ nhất định, mà phối trí các biến cố, địa điểm, các thời đại và thấy mình lư thông trong đó. Nguyên tố duy nhất và độc nhất của biến cố đối với Do Thái là Thiên Chúa, vì Người là chủ lịch sử, là Đấng tổ chức thời gian: “… Một thời để ăn chay, một thời để vui chơi, một thời để phán xét, một thời để cứu rỗi…”

    Mười một chương đầu của sách Sáng Thế tường thuật tuổi đời rất dài của các tổ phụ, như: Ađam 930 tuổi (St 5,5), Mơthusêlac 969 tuổi, Nôê 950 tuổi (St 9,29)… Điều này cho ta những thắc mắc:

    Có phải người xưa sống thọ hơn ngày nay?

    Người xưa đã biết tính tuổi (365 ngày) như ngày nay?

    Làm thế nào các tác giả Thánh Kinh biết được tuổi những người sống trước họ hàng trăm thế kỷ?

    Thiết nghĩ, Thiên Chúa không mặc khải những điều như thế, nhưng các tác giả chép thánh Kinh đã định tuổi của họ với những dụng ý sau:

    – Cố gắng bắc nhịp cầu nối liền giữa thời đại đương thời của tác giả với các tổ phụ thời đại xa xưa, để nói lên tính liên tục của lịch sử và chứng tỏ Thiên Chúa là chủ lịch sử và hiện diện hoạt động trong mọi thời đại. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất cho các tác giả là sử liệu truyền khẩu về các vĩ nhân và các biến cố không nhiều trong khoảng thời gian lịch sử rất dài, nên các vị đã phải phân phối tuổi tác các vĩ nhân làm sao cho bao trùm hết được khoảng thời gian lịch sử ấy. Dĩ nhiên, các tác giả Thánh Kinh cũng không biết rõ lịch sử nhân loại bắt đầu từ bao giờ và các vị cũng chỉ dùng quan niệm bình dân của thời đại các vị để chép mà thôi.

    – Quan niệm người xưa cho rằng sống lâu là một ân huệ Chúa ban. Vì thế, việc gán cho các tổ phụ có tuổi đời trường thọ, ngụ ý cho thấy rằng các tổ phụ kia đã sống cuộc sống đầy ân nghĩa với Thiên Chúa.

    Tóm lại: Tuy các tác giả Thánh Kinh thực sự không biết chắc về tuổi thọ của các tổ phụ, nhưng việc gán cho các tổ phụ có tuổi đời rất lớn là nhằm cho thấy dù các vị sống từ thời xa xưa vẫn thuộc gia đình nhân loại, và Thiên Chúa của chúng ta hôm nay cũng là Thiên Chúa của các tổ phụ xưa. Thiên Chúa duy nhất.

    6. Ngày tháng trong Thánh Kinh.

    Người Do Thái tính năm tháng theo hai loại lịch khác nhau:

    : Tính theo dương lịch, nghĩa là mỗi năm có 365 ngày.

    : Tính theo âm lịch, nghĩa là tính theo chu kỳ mặt trăng xoay quanh trái đất một vòng gồm 29 ngày. Như thế, 12 tháng trong 1 năm chỉ có 348 ngày. Vì sự chênh lệch của năm âm lịch và dương lịch, nên cứ hai hoặc ba năm lại phải thêm một tháng nhuận. Cách thêm tháng nhuận do các tiến sĩ luật họp và nghiên cứu thêm vào sau tháng cuối cùng (Adar thứ hai).

    Trước khi về định cư tại Canaan, người Do Thái dùng tên tháng của người Canaal, nhưng sau lưu đày, họ dùng tên tháng của Babilon như sau:

    1. Nisan (khoảng tháng 3 và 4).

    2. Iyyar (khoảng 4 và 5).

    3. Siwan (khoảng 5 và 6).

    4. Tammuz (khoảng 6 và 7).

    5. Ab (khoảng 7 và 8).

    6. Alul (khoảng 8 và 9).

    7. Tiishri (khoảng 9 và 10).

    8. Marsheshwan (khoảng 10 và 11).

    9. Kisleu (khoảng 11 và 12).

    10. Tebet (khoảng tháng 12 và tháng giêng).

    11. Shebat (khoảng tháng giêng và 2).

    12. Adar (khoảng 2 và 3).

    Năm nhuận có thêm tháng Adar thứ hai.

    : Ngày của người Do Thái được tính từ lúc mặt trời lặn. Vì thế, Đức Giêsu chịu chết vào ngày thứ sáu, Người ta phải cho tháo xác Người xuống trước khi mặt trời lặn để khỏi vi phạm ngày Sabát (x. Ga 19,31). Ngày được chia thành 12 giờ và đêm có 4 canh. 7 ngày một tuần, 4 tuần 1 tháng, ngày thứ 7 là sabat – ngày nghỉ.

    7. Các ngày lễ.

    Ba lễ hành hương

    Các ngày lễ thánh (haggim), để kỷ niệm các mốc trong lịch sử Do Thái giáo, như việc thoát khỏi đất Ai Cập, sự mạc khải của Thiên Chúa trong sách Torah, hoặc đôi khi đánh dấu sự chuyển mùa hoặc lúc giao mùa giữa các chu kỳ trồng trọt. Có ba lễ chính, đó là Lễ Vượt qua, Lễ Ngũ Tuần và Lễ Lều tạm. Trong ba dịp lễ này, các tín hữu thường hành hương về Jerusalem để dâng sự hy sinh trong Đền Thánh.

    Lễ Vượt qua là ngày lễ nghỉ kéo dài một tuần, bắt đầu vào chiều tối ngày thứ 14 của Nisan (tháng thứ nhất theo lịch Do Thái), để tưởng nhớ ngày thoát khỏi Ai Cập. Các nước khác ngoài Israel, Lễ Vượt qua được mừng trong tám ngày. Thời xưa, lễ này trùng vào mùa gặt lúa mạch. Đây là lễ duy nhất tập trung cho các nghi thức được thực hiện ngay tại nhà, đó là “Bữa tối lễ Vượt qua”. Thực phẩm có men (chametz) được mang ra khỏi nhà trước ngày lễ và suốt tuần sẽ không dùng thực phẩm có men. Nhà cửa được dọn dẹp sạch sẽ để bảo đảm không còn bánh mì trong nhà và vào buổi sáng của ngày lễ, người ta sẽ đốt tượng trưng chiếc bánh có men cuối cùng trong nhà. Bánh không men (Matzo) sẽ được dùng thay cho bánh mì.

    Lễ Ngũ Tuần (Shavuot) kỷ niệm sự mạc khải của sách Torah cho Con cái Israel trên núi Sinai. Đây còn được gọi là Lễ Bikurim, (Hoa quả đầu mùa), lễ này trùng với mùa thu hoạch lúa mì. Trong ngày lễ Shavuot, người ta tổ chức học suốt đêm (Tikkun Leil Shavuot), ăn thực phẩm làm từ sữa (bánh phô-mai và bánh kếp mỏng được đặc biệt yêu thích), đọc Sách Ruth, trang trí nhà cửa và đền thờ thành màu xanh lá cây, mặc quần áo trắng, tượng trung cho sự thanh khiết.

    Lễ Lều tạm (Sukkot) tưởng nhớ Con cái Israel phải mất 40 năm đi qua sa mạc để trở về miền Đất Hứa. Lễ này kỷ niệm việc dựng các lều tạm (sukkot) khi dân Israel lưu đày trên đất Ai Cập. Lễ này trùng với mùa thu hoạch hoa quả và đánh dấu sự kết thúc một chu kỳ trồng cấy. Người Do Thái khắp nơi trên thế giới ăn ở trong sukkot trong 7 ngày 7 đêm. Lễ Lều tạm kết thúc bằng lễ Shemini Atzeret (lễ người Do Thái cầu mưa) và lễ Simchat Torah, là lễ đánh dấu sự kết thúc của sách Torah và bắt đầu một chu kỳ sách mới.

    Lễ trọng

    Lễ trọng (Yamim Noraim) là các lễ về sự phán xét và tha thứ.

    Rosh Hashanah, (còn gọi là Yom Ha-Zikkaron (“Ngày tưởng niệm,”) và Yom Teruah (“Ngày tiếng kèn Shofar”). Rosh Hashanah là lễ Năm mới của Do Thái giáo, mặc dù nó là ngày thứ nhất của tháng thứ 7 Tishri, theo lịch Do Thái. Rosh Hashanah đánh dấu bắt đầu thời gian 10 ngày để đền bù tội lỗi chuẩn bị cho lễ Yom Kippur, trong thời gian này, người Do Thái sửa soạn tâm hồn, sám hối và làm việc đền bù tội lỗi đã phạm một cách vô tình hay cố ý trong suốt năm qua. Trong ngày lễ này, người ta thổi kèn shofar (kèn sừng cừu), trong đền thờ, người ta ăn táo và uống mật ong, đọc các lời chúc lành trên thực phẩm tượng trưng như quả lựu chẳng hạn.

    Yom Kippur, (“Ngày đền tội”) là một trong những lễ trọng của Do Thái giáo. Đó là ngày cộng đoàn tụ họp lại và cầu nguyện xin tha thứ tội lỗi đã phạm. Các tín hữu cầu nguyện suốt ngày trong đền thờ, đọc kinh từ sách Mahzor, thỉnh thoảng có nghỉ một tí vào buổi chiều. Vào đêm lễ Yom Kippur, trước khi thắp nến, người ta ăn nhẹ (suhoor). Nghi thức trong các đền thờ vào đêm lễ Yom Kippur bắt đầu với lời kinh Kol Nidre. Vào dịp lễ này có thể mặc quần áo trắng nhưng không được mang giày da. Ngày tiếp theo, người ta cầu nguyện từ sáng đến tối. Khi buổi cầu nguyện kết thúc (“Ne’ilah,”) người ta thổi một hồi dài kèn shofar.

    Các ngày lễ khác

    (tiếng Hebrew : çð ), còn gọi là Lễ hội Ánh sáng, là lễ kéo dài tám ngày bắt đầu từ ngày thứ 25 của tháng Kislev theo lịch Do Thái. Trong dịp lễ này, người Do Thái sẽ thắp thêm một ngọn đèn theo số tăng dần của mỗi đêm lễ, đêm thứ nhất thắp một ngọn đèn, đêm thứ hai thắp hai ngọn đèn…cho đến đêm cuối cùng là tám ngọn đèn.

    Lễ Hanukkah có nghĩa là “dâng hiến” vì nó đánh dấu việc tái dâng hiến Đền thờ sau khi đền thờ bị Đức vua Antiochus IV Epiphanes báng bổ. Trong đức tin, Hanukkah nhằm tưởng nhớ “Dầu kỳ diệu”. Theo sách Talmud, khi tái dâng hiến Đền thờ Jerusalem sau chiến thắng của phong trào Macabê đối với Đế chế Seleucid, chỉ còn đủ dầu thánh để đốt lửa vĩnh cửu trong Đền thờ trong một ngày. Kỳ diệu thay, lửa đã cháy trong tám ngày – đó là thời gian đủ để ép, chuẩn bị và thánh hoá dầu mới.

    Hanukkah không được đề cập đến trong Phúc âm và cũng chưa bao giờ được xem là lễ chính của Do Thái giáo nhưng lễ này đã được mừng rộng rãi ở nhiều nơi, chủ yếu là do lễ cũng trùng vào dịp Lễ Giáng sinh.

    (tiếng Hebre w: ơí Prỵm) là lễ mừng, tưởng nhớ việc giải thoát dân Do Thái gốc Iran (Persian Jews) khỏi bị truy sát của Haman, người đã tìm để tiêu diệt họ, theo như Sách Esther đã ghi chép. Trong ngày lễ này, người ta đọc Sách Esther ở nơi công cộng, trao tặng nhau thực phẩm và thức uống, làm việc từ thiện cho người nghèo, và ăn mừng (Esther 9:22). Các tập tục khác bao gồm uống rượu, ăn bánh “hamantash”, mang mặt nạ, tổ chức diễu hành (carnival) và tiệc mừng.

    Purim được kỷ niệm hàng năm vào ngày thứ 14 của tháng Adar theo lịch Do Thái, tương đương với tháng hai hoặc tháng ba của dương lịch.

    8. Ý nghĩa các con số trong Thánh Kinh.

    Trong Thánh Kinh thường sử dụng những con số có tính tượng trưng, cách riêng thể văn khải huyền hay dùng các con số ám chỉ một thực tại nào đó, như:

    – Số 7 ám chỉ sự hoàn hảo.

    – Số 6 ám chỉ sự bất toàn.

    – Số 12 ám chỉ dân Israel.

    – Số 40 ám chỉ sự đầy đủ.

    – Số 1000 ám chỉ tính bao la rộng lớn.

    Ví dụ: “Samson vớ được cái hàm lừa tươi và dùng nó đánh chết một ngàn người Philitinh” (Tl 15,15). “Có một trăm bốn mươi bốn ngàn người được đóng ấn” (Kh 7,4)…

    Thực ra các tác giả chép Thánh Kinh không chủ tâm cung cấp cho độc giả những con số chính xác, nhưng nhằm cho thấy về tầm mức quan trọng của vấn đề được nói tới mà thôi.

    Chương III. CHÚ GIẢI THÁNH KINH.

    1. Định nghĩa.

    Chú giải Thánh Kinh là tìm hiểu ý nghĩa để rồi áp dụng vào cuộc sống. Đây là việc thường ngày của những ai muốn đọc Lời Chúa. Việc chú giải có nhiều trình độ khác nhau:

    – Chú giải một cách khoa học như các nhà chuyên môn về Thánh Kinh.

    – Khám phá những ý nghĩa thiêng liêng sâu sắc như các Giáo Phụ.

    – Rút ra những bài học đơn sơ cho cuộc sống thường ngày.

    Riêng khoa chú giải Thánh Kinh Công Giáo là khoa nhằm giải thích và chuyển đạt Lời Chúa cách trung thành và trọn vẹn, đặt dưới quyền giáo huấn của Giáo Hội.

    Trong Cựu Ước có phong trào Midrash chuyên việc chú giải Cựu Ước; trong Tân Ước, Chúa Giêsu và các Tông Đồ trưng dẫn Cựu Ước và đã đem áp dụng vào thực tế. Đến thời các giáo phụ có hai trường phái với hai đường hướng rõ rệt: trường phái Alexandria với thánh Clément d’Alexandria và Origène thiên về nghĩa bóng, còn trường phái Antiochia thiên về nghĩa của từ. Hai trường phái này ảnh hưởng rất lớn trên các giáo phụ, như thánh Augustino theo lối chú giải của trường phái Alexandria, còn thánh Hieronymo lại thiên về trường phái Antiochia.

    Sở dĩ ngày nay chúng ta đón nhận Thánh Kinh là vì chúng ta dựa trên quan điểm của Giáo Hội. Ngay từ đầu, Giáo Hội có lòng tin tưởng và quý mến đặc biệt đối với Thánh Kinh. Trước hết, các Tông Đồ kêu mời mọi Kitô hữu hãy đến kín múc từ Thánh Kinh những chân lý và sức sống. Thánh Phaolô viết cho Timôthê: “Từ thời thơ ấu, anh đã biết Sách Thánh, sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Đức Ki-tô Giê-su. Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính” (2Tm 3, 15-16). Thánh Phêrô cũng đồng một xác tín: “”Chúng tôi tin tưởng vào lời các ngôn sứ. Anh em chú tâm vào đó là phải, vì lời ấy như chiếc đèn tỏ rạng giữa chốn tối tăm, cho đến khi ngày bừng sáng và sao mai mọc lên soi chiếu tâm hồn anh em. Nhất là anh em phải biết điều này: không ai được tự tiện giải thích một lời ngôn sứ nào trong Sách Thánh. Quả vậy, lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa” (2Pr 1, 19-21).

    Công đồng Vaticano II, quyền tối cao trong Giáo Hội hôm nay, đã tuyên bố: “Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như Thân Thể Chúa… Cùng với Thánh Truyền, Thánh Kinh đã và đang được Giáo Hội xem như Qui Luật Tối Cao hướng dẫn đức tin, được Thiên Chúa linh hứng và được ghi chép một lần cho muôn đời” (DV 21). Lòng tin tưởng của Giáo Hội nơi Thánh Kinh không ngoài thánh ý của Chúa Kitô. Người đã từng quả quyết: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5,17). Quả thật, Chúa Kitô từng trích dẫn Cựu Ước để dạy dỗ và phi bác những ý kiến sai lạc của cấp lãnh đạo đương thời.

    Khoa chú giải cần xem xét: đâu là mối quan hệ giữa một bên là các vấn đề chú giải có tính lịch sử và phê bình đối với các sách khác nhau, và bên kia là ý nghĩa của Thánh Kinh Do Thái đối với đức tin thời hiện đại? Đây không hề là một câu hỏi dễ dàng, vì chỉ cần nghĩ thêm một chút, chúng ta có thể nhận ra rằng việc nghiên cứu bản văn có thể không dính líu gì đến một thái độ dấn thân hay một định hướng đặc biệt nào về tôn giáo cả. Tuy nhiên, từ một quan điểm đức tin, ta sẽ thấy chính những phương pháp này có thể hữu ích cho việc xây dựng thần học hiện đại. Khả năng giải quyết những câu hỏi gay go được nêu lên bởi khoa phân tích phê bình là một dấu cho thấy một niềm tin trưởng thành vào Thiên Chúa, ngay cả dù nó có nghĩa rằng mình phải sống với những câu hỏi còn bỏ ngỏ hay những vấn đề phức tạp. Chẳng hạn, không nhất thiết phải tin vào một con người lịch sử có tên là Abraham để có được một đức tin sâu xa và vững vàng rằng Thiên Chúa không ngừng truyền đạt cho chúng ta qua các câu chuyện về Abraham. Đó là lý do tại sao việc nghiên cứu bản văn vẫn là việc rất quan trọng.

    Một thần học đích thực Kitô giáo không thể được xây dựng tách rời khỏi việc lắng nghe kỹ lưỡng những bản văn này. Thánh Kinh Do Thái vẫn là nguồn chủ yếu cho đức tin của con người hiện đại, và các Kitô hữu hiện đại có thể bắt đầu xây dựng thần học của riêng mình bằng cách nghiêm túc tham chiếu đến vị Thiên Chúa đã giải phóng các nô lệ, lật đổ các vua chúa, ngỏ lời qua các ngôn sứ, và hành động trong lịch sử.

    Chú giải Thánh Kinh nghiên cứu dựa theo ba lãnh vực:

    – Khảo sát bản văn.

    – Tìm hiểu ý nghĩa của bản văn.

    – Những phương tiện giúp hiểu Thánh Kinh.

    2. Khảo sát bản văn.

    Khảo sát bản văn là xác định đâu là bản văn chính thức. Lý do của công việc này là vì hầu hết các thủ bản nguyên thuỷ đã mất và chỉ còn các sao lục, mà các sao lục thì được chép bằng tay nên không thể tránh khỏi những thiếu sót sai lầm, như chép sót, bỏ bớt, chép lặp, hoặc khó hiểu thì tự ý sửa lại hay bổ sung thêm hoặc thêm phần giải thích vào. Chính vì vậy mà nhiệm vụ đầu tiên của các nhà chú giải là phải làm sao để thiết lập lại một bản văn gần giống với bản nguyên thuỷ nhất. Đây là một công việc rất khó khăn, vì có quá nhiều bản sao lục, chẳng hạn chỉ riêng Tân Ước có tới khoảng 5 ngàn bản Hi Lạp, 8 ngàn bản La-tinh và khoảng 1 ngàn bản bằng các ngôn ngữ khác. Các nhà chú giải đã xác lập bản văn gần giống thủ bản nhất theo cách sau:

    a, Tìm số nhiều các bản giống nhau nhất (có khác biệt ít nhất giữa các bản văn với nhau trong số các bản văn).

    b, Gặp chỗ khác biệt thì so sánh:

    – So sánh tất cả các bản với nhau.

    – So sánh với Thánh Truyền.

    – So sánh với những tài liệu các Giáo Phụ.

    – Dùng những nguyên tắc phê bình văn chương.

    3. Các hình thức văn chương.

    Dụ ngôn (Parable) là một câu chuyện giả tạo nhưng có thể xảy ra trong thực tế.

    Người ta dùng dụ ngôn để chuyển đạt ý niệm về một thực tại cao siêu xuyên qua việc so sánh với một thực tại thường nhật.

    Ví dụ: Đức Giêsu nói: “Nước Trời giống như một kho báu chôn trong thửa ruộng…”

    Câu này gồm 3 yếu tố:

    1. Hình ảnh quen thuộc thường nhật: Kho tàng chôn trong thửa ruộng.

    2. Thực tại siêu hình: Nước Trời.

    3. So sánh giữa hai thực tại trên với nhau.

    Nhờ sự so sánh này mà người ta có ý niệm về thực tại siêu nhiên chưa thấy được.

    Tuy nhiên, khi giải nghĩa dụ ngôn không nên quá chú tâm đến từng chi tiết tỷ mỷ và xem các chi tiết đều có ý nghĩa, nhưng chỉ cần nhìn vào những điều dụ ngôn muốn ám chỉ là đủ.

    Ngụ ngôn (Fable) là câu chuyện giả tạo không thể xảy ra trong thực tế, vì gán cho các sinh vật, thực vật, sông nước… những đặc điểm của con người, nhằm diễn tả một sự việc của con người mà tác giả kể ngụ ngôn nhắm tới. Ngụ ngôn chứa đựng những bài học luân lý được diễn tả qua các chi tiết của câu chuyện.

    Thánh Kinh có sử dụng hình thức văn chương này, nhưng không nhiều.

    Ví dụ: “…Bụi gai trả lời cây cối: “Nếu quả thật các ngươi xức dầu phong ta làm vua cai trị các ngươi, thì hãy tới nương náu dưới bóng ta; bằng không, lửa sẽ bốc ra từ bụi gai và sẽ thiêu rụi các cây bá hương Li-băng…” (Tl 9,8-15).

    Tân Ước không sử dụng hình thức văn chương ngụ ngôn.

    Phép ám tỷ (Metaphor) là một kiểu nói bóng bảy, dùng một từ hay một câu nếu hiểu theo nghĩa đen thì ám chỉ điều này, nhưng qua đó lại ám chỉ về điều khác, nhờ có sự tương đồng nào đó giữa hai sự vật.

    Ví dụ ví Chúa Giêsu là Chiên Con (hiền lành, hy tế), Phêrô là Đá (vững chắc), Hêrôđê là Con Cáo (bù nhìn, lén lút trong đêm tối)…

    Đặc điểm của phép ám tỷ là nói lên một thực tại vừa không thực lại vừa thực. Ví dụ: “Thầy là cây nho, anh em là cành nho” (Ga 15,5). Không thực là Chúa Giêsu và các môn đệ không phải là cây nho cành nho thật, nhưng điều thực là Chúa Giêsu là nguồn sự sống thần linh cho những ai kết hợp với Người.

    Ẩn dụ (Allegory) là câu chuyện không có thực, được dựng lên với mục đích diễn tả một chân lý nào đó cách thi vị và gần gũi. Chẳng hạn truyện Nguyên Tổ ăn trái cấm “giữa vườn” và bị phạt nặng. Truyện này nhằm mục đích nói lên ngay từ đầu con người đã vi phạm lệnh Chúa và lãnh lấy hậu quả của sự bất tuân, chứ không phải có chuyện chỉ ăn một trái cây mà bị phạt nặng đến thế.

    Cường điệu (Hyberbole) là kiểu nói phóng đại quá với sự thật nhằm muốn nhấn mạnh điều muốn nói. Chẳng hạn khi nói: Đánh chết nó đi, có nghĩa là không phải đánh chết mà là ngụ ý đánh cho thật đau.

    Ví dụ khi nói về tầm mức lan rộng của giáo lý Đức Giêsu, Gioan viết: “Còn nhiều điều khác Đức Giêsu đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế gian cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra” (x. Ga 21,25).

    Mỹ từ (Euchanism) là kiểu nói dùng các từ thanh lịch để nói tránh một sự việc tế nhị hoặc khó nói, hay không muốn nói thẳng ra.

    Ví dụ: thay vì nói “chết” người ta dùng từ “an nghỉ” hoặc “ngủ”…

    4. Ý nghĩa Thánh Kinh.

    Thánh Kinh có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau, nên cần tìm hiểu các loại nghĩa được sử dụng trong Thánh Kinh mới có thể hiểu được tư tưởng chính của tác giả muốn nhắm tới.

    Đi tìm ý nghĩa của Kinh Thánh là một tiến trình qua nhiều nguyên tắc: Tìm ý nghĩa thực của từ ngữ mà tác giả nhắm tới, đặt chúng vào trong sự liên tục của bản văn và tìm chủ đích của cả tác phẩm muốn nói với mục đích gì?

    Nguyên tắc 1: Tìm ý nghĩa thực mà tác giả nhắm tới. ví dụ: Khi nói “Nhớ chết đi được” có nghĩa là rất nhớ.

    Nguyên tắc 2: Đặt vào mạch văn nếu không sẽ làm cho nội dung bị méo mó hoặc sai lệch. Ví dụ: “Hãy sám hối”. Nếu tách câu này ra thì giáo lý Chúa Giêsu cũng chỉ dừng lại ở mức Cựu Ước như các ngôn sứ, Gioan Tẩy Giả và ngay cả Đức Phật cũng nói thế. Nhưng đặt vào mạch văn: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” thì mới nói lên được nội dung đầy đủ của giáo lý Chúa Giêsu.

    Nguyên tắc 3: Xét chủ đích của tác giả trong mỗi tác phẩm. Chẳng hạn mỗi Tin Mừng mang một sắc thái riêng: Matthêu viết cho Kitô hữu gốc Gio Thái thì cố gắng làm cho họ hiểu những gì tiên báo trong Cựu ước đã ứng nghiệm…

    Mỗi từ ngữ đều ám chỉ một thực tại nào đó, nghĩa là mỗi từ ngữ đều mang ý nghĩa và có thể hiểu theo hai cách:

    – Nghĩa đen: Là điều mà từ ấy nói đến trực tiếp. Ví dụ khi nói “con cáo” tức là người ta nghĩ ngay đến loài động vật rình rập vào ban đêm và được người ta gọi là con cáo…

    – Nghĩa bóng: Là ý nghĩa của từ ngữ nói về sự vật này nhưng lại ám chỉ một sự vật khác cách bóng bảy. Như khi Đức Giêsu nói: “Hãy đi nói với con cáo ấy thế này…”. Con cáo được nói ở đây ám chỉ vua Hêrôđê.

    Là ý nghĩa rút ra từ một thực tại trong Cựu Ước, rồi áp dụng vào Tân Ước. Vì Tân Ước thực hiện và hoàn tất những hình bóng Cựu Ước, nên chỉ những thực tại được đề cập trong Tân Ước mới có mối tương quan ý nghĩa biểu tượng mà thôi.

    Hai thực tại trong nghĩa biểu tượng, có thể là nhân vật, sự vật, biến cố:

    Nhân vật: Melkiseđe là hình bóng Chúa Giêsu linh mục thượng phẩm…

    Sự vật: Manna là hình bóng Thánh Thể…

    Biến cố (hành động): Vượt qua Biển Đỏ là hình bóng Bí Tích Rửa Tội…

    Nghĩa hoàn hảo hay đầy đủ là ý nghĩa rút ra từ một từ ngữ được ám chỉ về thực tại này, nhưng lại được áp dụng cho một thực tại khác.

    Ví dụ: “Các ngươi không được làm gãy một cái xương nào của nó”(Xh 12,46) Câu này được dùng cho con chiên vượt qua, nhưng lại áp dụng cho thực tại là Đức Giêsu không bị đánh giập ống chân (x. Ga 19,36).

    Nghĩa hoàn hảo khác với nghĩa biểu tượng ở chỗ, nghĩa biểu tương là rút từ thực tại này áp dụng vào thực tại khác, trong khi nghĩa hoàn hảo là cùng một từ ngữ được áp dụng cho trường hợp này để áp dụng cho trường hợp khác.

    Đôi khi trong một vài trường hợp một câu vừa có nghĩa biểu tượng, vừa có nghĩa hoàn hảo. Ví dụ: “Như Môisê treo con rắn đồng trong sa mạc thế nào, thì Con Người cũng bị treo lên như vậy”. Nghĩa biểu tượng là hình ảnh con rắn đồng với Đức Giêsu, nhưng sự “treo lên” (nghĩa hoàn hảo) mới diễn tả hết sự Cứu Độ của Đức Giêsu.

    Là ý nghĩa được căn cứ vào nghĩa đen của một chữ, một câu hay một đoạn Kinh Thánh, rồi suy rộng ra và áp dụng vào nhiều lãnh vực khác nhau. Nghĩa này thường được các nhà giảng thuyết, nhất là các nhà đạo đức sử dụng nhiều. Tuy Giáo Hội không cấm, nhưng không thật sự khuyến khích.

    6. Phương pháp nghiên cứu lịch sử.

    Vì mặc khải xảy ra trong lịch sử, cho nên muốn hiểu Thánh Kinh, chúng ta cần “tìm ý nghĩa mà … các thánh sử muốn diễn tả và thực sự đã diễn tả trong thời đại và hoàn cảnh văn hóa của họ, qua những lối văn được dùng trong thời đó” (Dei Verbum 11). Để giúp đạt được mục đích này, Giáo Hội khuyến khích chúng ta dùng phương pháp Phân Tích (Phê Bình) Lịch Sử, vì phương pháp này nghiên cứu các văn bản Thánh Kinh như các tài liệu lịch sử và tìm cách hiểu bản văn trong phạm vi lịch sử. Tuy nhiên phương pháp này không phải là phương pháp duy nhất, cần phải được sử dụng một cách cẩn trọng theo truyền thống Đức Tin của Giáo Hội.

    a, Đại cương về phương pháp phân tích lịch sử

    Trong phương pháp Phân Tích Lịch Sử, ý nghĩa của bản văn được tìm thấy trong cái thế giới lịch sử và văn hóa mà trong đó bản văn được phát sinh, các nhân vật và biến cố trong lịch sử mà từ đó bản văn chính được tạo ra, cũng như các truyền thống được truyền khẩu hoặc được viết thành văn có trước khi bản văn cuối cùng được thành hình.

    Phương pháp này tìm cách xác định ý nghĩa nguyên thủy của bản văn qua việc tái tạo: (1) Khung cảnh nguyên thủy. (2) Môi trường lịch sử và văn hóa đầu tiên mà trong đó bản văn được sáng tác. (3) Những nguồn tài liệu, hoặc truyền khẩu hoặc được ghi chép, dùng để viết bản văn. (4) Các hoàn cảnh lịch sử và văn hóa dẫn đến việc viết bản văn. (5) Các niềm tin về thần học cũng như văn hóa của các tác giả và độc giả đầu tiên của bản văn. (6) Chủ ý của các tác giả đầu tiên.

    Thực ra, có nhiều cách thế khác nhau trong việc nghiên cứu Thánh Kinh theo Phân Tích Lịch sử. Phương pháp phân tích văn thể được dùng để khám phá ra các truyền thống khẩu truyền đằng sau bản văn. Phương pháp phân tích nguồn văn để tìm ra các văn bản được sát nhập vào bản văn Thánh Kinh. Phương pháp phân tích biên tập chú ý đến vai trò của soạn giả hay người viết cuối cùng là người gom góp các tài liệu hoặc truyền khẩu hoặc đã được viết xuống thành bản văn Thánh Kinh. Phương pháp phân tích văn tự chú ý đến lịch sử của việc lưu truyền bản văn sau khi bản chính đã được soạn thảo.

    b, Sự cần thiết của phương pháp phân tích lịch sử

    Đây là một phương pháp cần thiết để nghiên cứu Thánh Kinh vì các bản văn Thánh Kinh xuất hiện trong một hoàn cảnh lịch sử và văn hóa khác với hoàn cảnh của chúng ta. Hiến Chế Tín Lý Mặc Khải (Dei Verbum) của Công Đồng Vaticanô II khẳng định rằng “mặc khải xảy ra trong phạm vi lịch sử nhân loại.” Tài liệu về Giải Thích Thánh Kinh trong Giáo Hội của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh viết: “Thánh Kinh, thực ra, không tự mình xuất hiện như một mặc khải trực tiếp các chân lý vĩnh cửu, nhưng như chứng từ viết về những lần can thiệp của Thiên Chúa mà trong đó Ngài đã tự tỏ mình ra trong lịch sử nhân loại. Bằng một cách thế khác hẳn với các giáo lý của các tôn giáo khác, sứ điệp Thánh Kinh có một chỗ đứng vững chắc trong lịch sử. Cho nên không thể hiểu các bản văn Thánh Kinh cách đúng đắn nếu không nghiên cứu hoàn cảnh lịch sử ảnh hưởng đến các bản văn này.”

    Theo Giáo Hội thì Thiên Chúa đã chọn các tác giả Thánh Kinh, hoạt động trong họ và nhờ họ mà truyền đạt lời của Ngài. Ngài hoàn toàn sử dụng năng lực và khả năng của họ để họ viết như những tác giả thật sự (x. Dei Verbum 11-12). Đức Thánh Cha Piô XII viết trong Divino Afflante Spiritu rằng các tác giả được linh hứng của Thánh Kinh là dụng cụ sống động và hợp lý của Chúa Thánh Thần. Họ đem cá tính của mình vào các bản văn Thánh. Các phương pháp Phân Tích Lịch Sử có thể được dùng để hiểu rõ hơn về các tác giả nhân loại mà Thiên Chúa đã dùng để thông tri Lời Ngài.

    Nhờ phương pháp Phân Tích Lịch sử chúng ta có thể hiểu chính xác hơn nghĩa văn tự của các bản văn Thánh Kinh.

    c, Giới hạn của phương pháp phân tích lịch sử

    Từ ngày Giáo Hội cho phép và khuyến khích dùng phương pháp Phân Tích Lịch Sử trong việc nghiên cứu Thánh Kinh. Nhiều học giả đã cố gắng dùng phương pháp này để chứng minh mọi biến cố trong Thánh Kinh. Từ đó đưa đến việc lạm dụng phương pháp này. Trước hết, phương pháp này thường có khuynh hướng nghiên cứu tiền sử của các bản văn Thánh Kinh mà không tìm hiểu ý nghĩa của toàn thể bản văn. Thứ đến, thay vì tìm hiểu ý nghĩa của lịch sử được tái tạo đằng sau bản văn như các nhà phân tích lịch sử làm, một số người cho rằng phải chú tâm nhiều hơn đến những tường thuật trong bản văn Thánh Kinh. Một số các nhà chú giải dựa vào thuyết duy lý hoặc thuyết tự nhiên để tìm những cách giải thích về các phép lạ xảy ra trong Thánh Kinh theo lịch sử. Vì không tin vào phép lạ hay quyền năng biết trước lịch sử của Chúa, nhiều người đã thay thế những câu truyện được kể trong Thánh Kinh với lịch sử được họ tái tạo dựa theo các tiêu chuẩn lịch sử hiện đại, hoặc loại bỏ những truyền thống lâu đời mà họ cho rằng không phù hợp với khoa học. Thí dụ như nhiều người cho rằng việc Đức Chúa Giêsu được sinh ra bởi Mẹ Đống Trinh là huyền thoại; Tin Mừng Thánh Luca phải đuợc viết sau năm 70 vì trong đó có những đoạn văn nói quá rõ về việc Thành bị phá hủy…. Do đó người đọc Thánh Kinh chỉ còn lại một số dữ kiện tối thiểu có thể được xác nhận cách chắc chắn trong lịch sử, mà mất đi các ý nghĩa phong phú đa dạng được tìm thấy trong chính những câu truyện được diễn tả trong Thánh Kinh.

    Nghiên cứu Thánh Kinh theo phương pháp Phân Tích Lịch Sử thường không vượt qua giai đoạn tìm hiểu xem bản văn có ý nghĩa gì trong vị trí lịch sử nguyên thủy, để đi đến việc tìm hiểu xem bản văn muốn nói gì với chúng ta hôm nay. Vì thế Chú giải Thánh Kinh sẽ không trọn vẹn nếu chỉ phân tích lịch sử. Đức Thánh Cha Phaolô VI, ngày 14 tháng 3, 1974, đã kêu gọi các học giả phải giải thích Thánh Kinh theo giáo huấn Giáo Hội: “Công việc của anh em không phải chỉ giải thích các bản văn cổ để trở lại hình thái sơ khởi của một số bản văn Thánh Kinh. Nhiệm vụ chính yếu của một nhà chú giải Thánh Kinh là trình bày sứ điệp mặc khải cho Dân Thiên Chúa; phơi bày chính ý nghĩa của Lời Chúa ngay trong những Lời ấy trong mối liên hệ với con người hiện đại.”

    Gần đây hơn nữa một số học giả bị lôi cuốn bởi các sách ngoài quy điển và một số truyền khẩu được tái tạo mà cho rằng chúng diễn tả sự bình đẳng của sứ điệp của Chúa Giêsu đúng hơn là sách Tân Ước, vì chúng không bị áp đặt bởi một Giáo Hội chuyên chế. Ngược lại phương thức của Công Giáo là nhấn mạnh sự liên tục và phát triển của của các truyền thống Thánh Kinh từ truyền khẩu và các bài viết về thời tiền sử, đến việc biên soạn cuối cùng và sát nhập vào quy điển, cùng việc liên tục sử dụng và giải thích Thánh Kinh trong đời sống Giáo Hội cho đến hiện nay.

    Đôi khi phương pháp này mạo nhận là có tính cách khoa học khách quan cùng địa vị đặc quyền của mình. Trên thực tế, phương pháp Lịch Sử đã đưa ra những tiếp cận cùng những ước đoán khác nhau, đôi khi còn trái ngược nhau. Còn Giáo Hội tuy xác nhận sự cần thiết của việc nghiên cứu bản văn theo phương pháp Phân Tích Lịch Sử, nhưng không cho nó là phương pháo độc nhất được dùng để hiểu bản văn Thánh Kinh. Thượng Hội Đồng Giám Mục về Lời Chúa vừa qua đã đưa ra hai hậu quả đáng tiếc của việc lạm dụng phương pháp Phân Tích Lịch sử là: (1) “Đối với những độc giả hiện nay, Thánh Kinh trở thành một cuốn sách hoàn toàn trong quá khứ, không có khả năng nói với thời đại chúng ta”; (2) “Hậu quả thứ hai trầm trọng hơn, là sự mất dạng của việc chú giải theo Đức Tin mà ‘Dei Verbum’ vạch ra. Thay vì chú giải theo niềm tin, thì lại lọt vào đó một viêc chú giải theo thực chứng và thế tục chối bỏ cả việc Thiên Chúa có thể hiện diện và lui tới trong lịch sử nhân loại”

    Chính vì những lý do trên mà chúng ta nên đọc các sách chú giải Thánh Kinh theo phương pháp Phân Tích Lịch Sử cách thận trọng, ý thức rằng phương pháp này có thể bị bóp méo bởi những thiên lệch duy lý và chủ quan. Khi giải thích Thánh Kinh, điều chắc chắn nhất là luôn luôn tuyệt đối trung thành với giáo huấn của Huấn Quyền. ĐTC Bênêđictô XVI nhắn nhủ chúng ta trước Kinh Truyền Tin ngay sau Thánh Lễ bế mạc Thượng Hội Đồng Giám Mục ngày 26 tháng 10 năm 2009 rằng: “Một bài chú giải Thánh Kinh hay cần có cả phương pháp Phân Tích Lịch Sử lẫn phương pháp Thần học, bởi vì Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa trong các chữ của loài người. Điều này có nghĩa là mọi đoạn văn phải được đọc trong khi luôn để tâm đến tính duy nhất của tất cả Thánh Kinh, truyền thống sống động của Giáo Hội và ánh sáng Đức Tin. Thánh Kinh đúng là một tác phẩm văn chương, và hơn nữa, là một bộ luật của nền văn hóa phổ quát, nhưng không được cướp mất yếu tố Thiên Chúa của Thánh Kinh, mà trái lại, phải được đọc trong cùng một Chúa Thánh Thần là Đấng viết Thánh Kinh.”

    7. Vai trò của Giáo Hội.

    Dù thời nay có nhiều phương tiện giúp giải thích Thánh Kinh, nhưng vẫn còn rất nhiều câu và nhiều đoạn Thánh Kinh chưa rõ nghĩa, hoặc còn hàm ẩn nhiều nghĩa chưa được khai thác. Điều này là thao thức của các nhà chú giải Thánh Kinh. Tuy nhiên, quyền phán quyết cuối cùng vẫn phải luôn thuộc về Giáo Hội, vì đó là “tôn sư sống động” mà Chúa Kitô uỷ thác cho việc bảo tồn, truyền bá và giải thích Lời Chúa (x. Mt 28,18-20). Bởi vì: “Ai nghe anh em là nghe Thầy” (Lc 10,16).

    1% Thánh Kinh được viết ra nhằm trình bày chương trình mặc khải của Thiên Chúa. Nhưng mặc khải là một thực tại duy nhấtliên tục mà chóp đỉnh là mầu nhiệm Đức Kitô. Do đó mầu nhiệm Đức Kitô là đối tượng duy nhất của Kinh Thánh. Khoa chú giải trước hết nhằm phô bày cách rõ ràng mầu nhiệm căn bản này.

    2% Toàn bộ Thánh Kinh không được chép trong một lúc, nhưng theo nhịp tiến của thời gian. Vì thế, khi chú giải một bản văn Cựu Ước chẳng hạn, ta phải đối chiếu với mầu nhiệm Đức Kitô.

    3% Khi tìm hiểu một đoạn văn nào của Thánh Kinh, ta phải đặt nó vào trong toàn bộ của cuốn sách.

    4% Vì Thiên Chúa đã muốn dùng ngôn ngữ của nhân loại để diễn tả các mầu nhiệm, và vì ngôn từ nhân loại mang dấu vết của một nền văn minh văn hoá, một ý thức hệ, một khung cảnh xã hội… nên ta cần phải thấu hiểu ngôn ngữ mà tác giả đã dùng để chép.

    5% Khi gặp một chữ khó hiểu ta cần nghiên cứu các ý nghĩa khác nhau: nghĩa bóng, nghĩa của từ, nghĩa hoàn hảo…

    6% Khi gặp một kiểu nói khác lạ, ta cần tìm xem kiểu nói ấy thuộc loại thể văn nào (thi ca, lịch sử, giáo huấn, luật, ngôn sứ…).

    7% Ý thức rằng, chỉ có Giáo Hội có bổn phận gìn giữ và có thẩm quyền phán quyết về việc chú giải Lời Chúa.

    Chương IV. LƯỢC SỬ CÁC GIAI ĐOẠN THÁNH KINH. I. Niên biểu giản lược.

    Thế kỷ – XVIII: Abraham, thời này có vương quốc Ai Cập và Babilon.

    (kinh Véda 1500 – 1000).

    Khoảng – 1250: Môsê và cuộc Xuất Hành.

    K -1220: Giosuê: Israel vào Canaal.

    K -1010 : Đavít, kinh đô Giêrusalem.

    (Nhà Chu 1050 – 770).

    K – 970: Salomon, đền thờ Giêrusalem.

    K -930: Nam Bắc phân tranh.

    K -880: Omri, Kinh đô Samari của Israel.

    K -875: Akhab, xuất hiện ngôn sứ Elia và Elisa.

    K -750: Giêrôbôam II, có các ngôn sứ Amos, Hôsê, Isaia, Mikha.

    Các sách ngôn sứ Amos, Hôsê, Isaia (1-39), Mikha.

    (Đời Xuân Thu 722 – 481).

    K -721: Samaria lưu đày qua Assyri.

    K -716: Khítkigia vua Giuđa.

    K -630: Các sách ngôn sứ Sophonia, Giêrêmia.

    K -622: Giosigiahu cải cách tôn giáo.

    Các sách Giosuê, Thủ Lãnh, Samuel, Các Vua.

    K -612: Ninivê bị phá huỷ.

    (Lão Tử 605 – 520)

    K -600: Sách ngôn sứ Habacuc.

    K -587: Lưu đày Babilon.

    Các sách ngôn sứ Êdêkiel, Isaia II (40-55).

    (Đức Phật 563 – 483; Khổng Tử 551- 479).

    K -539: Cyrus vua Batư, chiếm Babilon, ra sắc chỉ cho người Do Thái hồi hương.

    K -515: Giơrúpbabel xây lại đền thờ Giêrusalem.

    Các sách ngôn sứ Khácgai, Giacaria, Isaia III (56-66).

    K -445: Nơkhemia.

    K -420: Sách ngôn sứ Malakia

    Các sách Gióp, Cách Ngôn, Diễm Ca, Rút, phần lớn Thánh Vịnh.

    K -400: San định lần cuối bộ Ngũ Kinh.

    (Chiến Quốc 400 – 256; Trang Tử 380 – 320; Mạnh Tử 372 – 289).

    Các sách Sử Biên Niên, Étra, Nơkhemia.

    K -333: Alexandro chiếm Tiểu Á, bành trướng văn hoá Hi Lạp, Giuđê dưới quyền Ai Cập.

    Sách ngôn sứ Giacaria II (9-11).

    Sau -300: Bản dịch LXX bắt đầu.

    Các sách Giảng Viên, Étte.

    (vạn lý trường thành).

    (Thục An Dương Vương 257; nhà Tần 256; Triệu Đà 207; Lưu Bang lập nhà Hán 202).

    K -198: Giuđê dưới quyền Syria.

    K -170: Antiocus Etiphane cấm đạo Do Thái.

    K -166: Dòng họ Macabê khởi nghĩa. Bắt đầu có bè Pharisiêu, Sađốc, Essenien.

    (Nhà Hán đô hộ Nam Việt).

    K -100: Các sách 2 Macabê, Giuđitha.

    K -63: Tướng Pompê chiếm giêrusalem, Rôma đô hộ Giuđê.

    K -37: Hêrôđê Cả.

    K -4: Hêrôđê chết.

    K năm 6: Giuđê là một tỉnh của Rôma. (kinh Phật vào Trung Quốc).

    K năm 8: Phaolô sinh tại Tarsô.

    (hết thời Tiền Hán).

    K. 14-37 Tibèrius hoàng đế Rôma.

    K. 26-36: Philatô tổng trấn Giuđê.

    (nhà Hậu Hán. 22).

    K. 27: Gioan Tẩy Giả rao giảng, khởi đầu sứ vụ Chúa Giêsu.

    K. 30. Chúa Giêsu chịu đóng đinh (thứ 6, ngày 7 tháng 4).

    K. 30. Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các tông đồ và môn đệ Đức Giêsu. Thánh Phêrô rao giảng ở Jerusalem. Khoảng 3.000 người trở lại xin rửa tội và họp thành cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên.

    36-37 (?). Thánh Stephanus, phó tế, bị ném đá chết tại Jerusalem. Ngài là vị tử đạo đầu tiên của Giáo Hội. Một phần cộng đoàn Giáo Hội tiên khởi phải phân tán đi khắp nơi. Sau đó ít lâu, thánh Phaolô trở lại. Ngài trước tên là Saul, từng bách hại Giáo Hội; sau khi trở lại, ngài nhập đoàn các tông đồ thực hiện 3 cuộc truyền giáo lớn khắp vùng Tiểu Á và được mệnh danh là tông đồ dân ngoại.

    39. Cornelius và gia đình được thánh Phêrô rửa tội. Biến cố này nói lên sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội cho mọi dân tộc.

    (40-43: Trưng Trắc – Trưng Nhị)

    42. Vua Hêrôđê Agrippa bách hại Kitô hữu tại Palestine. Thánh Giacôbê Tiền là vị tông đồ đầu tiên tử đạo.

    44. Thánh Phêrô bị tống ngục; nhiều tín hữu trốn đến Antioch xứ Syria. Chính nơi đây, những người tin theo Đức Kitô được gọi là Kitô hữu.

    45-49. Hành trình truyền giáo đầu tiên của thánh Phaolô đến Antioch, Cyprus, Antioch xứ Pisidia, Listra…

    48-49. Công đồng Chung đầu tiên ở Jerusalem không đòi buộc lương dân trở lại phải giữ luật Môsê.

    49. Hoàng đế Claudius buộc người Do Thái phải rời khỏi Rôma, vì người Do Thái và Kitô hữu tranh chấp với nhau về Đức Kitô (sử gia Sueton).

    K.50. Tin Mừng truyền miệng đầu tiên được biên soạn thành văn bản, đó là bản Tin Mừng theo thánh Matthêu bằng tiếng Aram, nhưng sau đó bị thất lạc. Thư của thánh Giacôbê có lẽ được viết vào dịp này.

    50-52. Hành trình truyền giáo lần thứ 2 của Thánh Phaolô đi Listra, Phrygia, Galatia, Philippi ở Macedonia, Athens, Corinth.

    51. Thánh Phaolô viết các thư gửi tín hữu Thessalonica (1&2).

    53-58. Hành trình truyền giáo thứ 3 của Thánh Phaolô: Ephesus, Corinth, Galatia, Phrygia, Macedonia, Philippi, Jerusalem.

    57: Thư gửi tín hữu Philíp, Côrintô 1&2, Galát, Rôma.

    58-63. Thánh Phaolô bị bắt ở Caesarea, rồi được giải sang Rôma; ngài bị giam giữ ở Rôma từ năm 61-63, sau đó được thả.

    62: Thư gửi tín hữu Côlôsê, Êphêsô, thư gửi ông Philêmôn. Thánh Giacôbê hậu bị ném đá.

    64. Hoàng đế Nero đốt thành Rôma và đổ tội cho người Kitô hữu, dẫn đến cuộc bách hại dã man. Có thể thư 1 Phêrô, thư 1 Timôthê và thư gửi Titô viết giai đoạn này.

    64-67: Thánh Phêrô tử đạo trong dịp này. Có thể thư gửi tín hữu Do Thái và thư 2 Timôthê viết giai đoạn này.

    65. Bản Tin Mừng theo thánh Marcô được biên soạn.

    65-67. Thánh Phaolô đi giảng ở Ephesus, Macedonia; sau đó, bị bắt tại Rôma và bị chém đầu.

    66-70: Do Thái khởi nghĩa chống Rôma.

    70. Titus chiếm đóng thành Jerusalem, sau đó đốt đền thờ.

    K.80. Bản Tin Mừng theo thánh Matthêu, Luca và Công Vụ Tông Đồ được biên soạn. Có thể thư 1 Phêrô, thư Do Thái và thư Giacôbê viết dịp này.

    (85: Phật Giáo chia thành Tiểu Thừa và Đại Thừa).

    88-97. Triều đại Giáo hoàng Clemens I, ngài là giám mục Rôma và đã gửi thư cho tín hữu Corinthô.

    K.95. Sách Khải Huyền, Tin Mừng theo thánh Gioan và 3 thư của ngài, được biên soạn. Có thể thư 1&2 Timôthê và thư Titô được soạn lại, đồng thời có thể thư 2 Phêrô và thư Giuđa cũng được viết trong dịp này. Hoàng đế Domitianus cấm đạo gắt gao ở Rôma.

    K.100. Thánh Gioan Tông Đồ chết ở Ephesus, chấm dứt thời Tông đồ và thế hệ đầu tiên của Kitô giáo.

    Thật không khôn ngoan nếu tách biệt Thánh Kinh Do Thái khỏi dân tộc đã sản xuất ra nó và mảnh đất mà dân tộc này đã sống. Giới nghiên cứu gần đây đã bắt đầu nhấn mạnh đến tầm quan trọng của bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội của sự xuất hiện liên bang It-ra-en vào các thế kỷ 13 và 12 trước Chúa Giáng Sinh. Đất Canaan vào lúc đó vốn đã là một vùng đất tranh chấp lâu dài, đóng vai trò như một cầu nối giữa người Ai Cập ở phía nam , người Hít-ti chủ yếu tập trung ở Tiểu Á, và các cường quốc đang nổi lên ở Mêsôpôtamia phía đông (x. bản đồ số 1 ở cuối sách). Như vậy, lịch sử Thánh Kinh diễn ra trong một “Khu Vực Trung Tâm” của cổ thời.

    Các tư liệu của người Ai Cập cho biết rằng dường như đất Canaan được cư trú bởi “những người dân của một lãnh địa độc lập”, được điều khiển bởi một bậc vị vọng địa phương; họ sống nhờ vào lương thực được cung cấp bởi các nông dân trồng ngũ cốc trên miền bình nguyên và canh tác những vườn cây trái trên các đồi dốc (ôliu, vả và nho). Ý thức hệ nâng đỡ hệ thống này là một tôn giáo đặt nền trên sự bảo đảm mùa màng phong phú và con người sinh sôi nảy nở, đồng thời tôn trọng trật tự hay quyền bính đã được thiết lập dựa trên sự cúng tế hy lễ cho chư thần. Các vị thần chính yếu là: thần giông tố Baal, nữ thần Asherah, và thần El. Tôn giáo Canaan được hậu thuẫn bởi một giới tư tế phụ trách các đền thờ và các trung tâm thờ cúng khác nhau. Đây chính là tình hình ở Canaan khi đám dân Do Thái nô lệ từ Ai Cập kéo đến.

    Căn cứ vào các truyền thống Thánh Kinh thì thật khó xác định những dữ kiện chính xác của cuộc “Xuất Hành”. Chẳng hạn, Xh 10,28-29 kết thúc truyền thống cho đó là một “cuộc trốn thoát” khỏi Ai Cập, trong khi Xh 11-12 thì trình bày biến cố đó như “một sự trục xuất” người Do Thái sau nạn dịch thứ 10, và cũng là cuối cùng, giết chết tất cả con đầu lòng của người Ai Cập. Sách Xuất Hành pha trộn hai truyền thống này bằng cách nêu sự kiện Pharaô đổi ý và đuổi theo người Do Thái, tạo ra những truyền thống về sự giải thoát dân Do Thái tại Biển Đỏ. Nhưng, một lần nữa, ở đây lại có hai truyền thống, một truyền thống mô tả người Do Thái trốn thoát ngang qua những vùng trũng hơi lầy lội (làm cho xa mã của người Ai Cập trở thành vô dụng), còn truyền thống kia, muộn hơn, chuyển tình tiết ấy thành hiện tượng nước biển rẽ ra một cách kỳ diệu, rõ ràng nhằm nêu bật tầm quan trọng thần học của việc Thiên Chúa cứu giúp dân Do Thái trong những khi họ lâm vào cảnh khốn cùng.

    Dù trường hợp nào, thì chúng ta cũng ghi nhận một nhóm người vốn là nô lệ ở Ai Cập đã đến Canaan vào khoảng năm 1250 trước công nguyên, với một tôn giáo hướng về một Thiên Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Tôn giáo này, trong hình thức sơ khai của nó, gắn bó chặt chẽ với Môsê. Đức tin thuở phôi thai của It-ra-en được đặt nền trên những kỳ vọng luân lý căn bản (“Lề Luật”), trên việc thực hành phụng tự trong một cái miếu thờ hay chiếc lều di động, và trên việc tôn thờ một Thiên Chúa được gọi là “Giavê”. Tuy nhiên, yếu tố chính của tôn giáo này, dưới cái nhìn của giới nông dân Canaan đương thời, là sự kiện rằng vị Thiên Chúa Giavê này là một vị thần giải phóng những người nô lệ, và do đó Ngài là một vị thần có liên can tới hoàn cảnh sống của họ. Tôn giáo này, khi đến Canaan, đã gây một ảnh hưởng “bùng nổ”, và đại đa số những người làm nên “mười hai chi tộc It-ra-en” chính là những người Canaan đã cải giáo để theo tôn giáo mới này.

    Như vậy, dường như sự phụng thờ Giavê đã bắt đầu trong tư cách là một tôn giáo của “thiểu số” nơi những người trước kia là nô lệ ở Ai Cập và những người Canaan cải giáo, và rồi về sau có được uy thế lớn hơn trong thời quân chủ (nhất là dưới triều vua Giôsia). Tuy nhiên, lúc bấy giờ, số phận của các quốc gia It-ra-en độc lập bị định đoạt bởi sự nổi lên của các đế quốc ở Mêsôpôtamia, và việc phụng thờ Giavê sẽ dần phát triển thành Do Thái giáo nơi một dân tộc lụy thuộc các đế quốc ấy về chính trị và kinh tế. Nói cách khác, căn tính “con cái It-ra-en” đang nổi lên đã đi vào một bước quặt quan trọng, rứt ra khỏi một căn tính chính trị khi những đế quốc to lớn này (đầu tiên là Assiri, rồi đến Babylon, sau đó là Ba tư) bắt đầu bành trướng ảnh hưởng về phía tây, tiến vào vùng duyên hải Palestine.

    Thời đại quân chủ It-ra-en bắt đầu khoảng năm 1000 trước công nguyên. Đavít là vị lãnh đạo nổi bật nhất; ông đã thành công trong việc thống nhất các dân Do Thái và Canaan thành một mối để chống lại sự đe dọa đang ập đến từ những kẻ xâm lăng ở vùng duyên hải gọi là Philitinh. Đavít cũng thiết lập một thủ đô là Giê-ru-sa-lem, và mở rộng ảnh hưởng chính trị của It-ra-en qua bên kia sông Giođan, đi vào các vùng đất Ammon, Moab, Êđom và tràn lên Syria phía bắc.

    Palestine/Canaan vốn không phải là một môi trường thuần nhất, và những sắc thái nông nghiệp khác nhau dẫn đến những sắc thái xã hội khác nhau, tình hình càng phức tạp hơn nữa do bởi các đòi hỏi đóng góp vào công cuộc xây dựng của Salômôn bằng lao động và thuế má. Khi Salômôn qua đời, các dân phía bắc (gồm 10 trong 12 chi tộc) ly khai ra khỏi triều đình Giê-ru-sa-lem, và thiết lập một nước It-ra-en mới vào năm 922 trước công nguyên. Vì thế, Thánh Kinh Do Thái gọi quốc gia phía bắc là “It-ra-en”, và quốc gia phía nam là “Giuđa”. Nước Giuđa duy trì triều đại của dòng tộc Đavít, trong khi It-ra-en được cai trị bởi một loạt nối tiếp các vua, không vị nào trong đó rốt cục có thể thiết lập một vương triều khả dĩ vững chãi. Vì thế quốc gia phía bắc xem ra bất ổn hơn. Ở phía bắc, các ngôn sứ thỉnh thoảng dấy lên những cuộc cách mạng bằng cách công bố rằng Thiên Chúa đã chọn một vị vua mới trong khi ông vua tại vị vẫn còn đang ngồi trên ngai!

    Trong nửa sau thế kỷ 8 trước CGS, quốc gia phía bắc tham gia vào một khối liên minh các quốc gia nhằm cố gắng chống lại áp lực ngày càng tăng của đế quốc Assiri. Khi vị vua của quốc gia phía nam, vua Akhaz, từ chối tham gia vào liên minh này, các thành viên của liên minh quyết định gây áp lực đối với Akhaz, và phát động một cuộc chiến tranh. Để ứng phó, vua Akhaz kêu gọi sự hỗ trợ của người Assiri – thế là người Assiri bắt đầu xâm lăng về phía tây. Năm 722 trước công nguyên, liên minh nói trên bị tiêu diệt bởi những người Assiri xâm lăng, trong đó có cả quốc gia It-ra-en phía bắc.

    Giữa những năm 640 và 609, nghĩa là, giữa cuộc suy tàn của đế quốc Assiri và sự bành trướng thanh thế của người Babylon, vua Giôsia cai trị ở Giê-ru-sa-lem. Vua Giôsia được nhìn nhận là có công phát động một cuộc cải cách quan trọng, tập trung mọi việc phụng tự về Giê-ru-sa-lem (nghĩa là chấm dứt việc phụng tự trong các đền thờ địa phương, tránh hiện tượng pha tạp với các thực hành tôn giáo của người Canaan), đồng thời phục hồi một hình thức phụng tự Giavê cách tinh ròng hơn, có lẽ để hưởng ứng lời kêu gọi của một số ngôn sứ. Công cuộc của vua Giôsia đặt cơ sở trên Lề Luật được chứa đựng trong Sách Đệ Nhị Luật, và vì thế được gọi là “Cuộc Cải Cách Đệ Nhị Luật”. Phong trào này cũng gợi cảm hứng thêm cho việc trước tác văn chương. Sau cái chết của Giôsia trong một chiến dịch chống lại người Ai Cập (609 trước công nguyên), “Lịch Sử Đệ Nhị Luật” được biên soạn, bắt đầu với Giôsuê và tiếp tục tới cuộc xâm chiếm của người Babylon như được mô tả ở cuối sách 2 Các Vua.

    Cuộc “Lưu Đày Babylon” này là một trong những biến cố rất hệ trọng trong vận mệnh của dân Do Thái; nhưng nhóm người lưu đày đã sống còn và đã tái lập đức tin của họ. Khi rốt cục người Ba tư đánh bại Babylon vào năm 539, hoàng đế Kyrô đã cho phép người Do Thái trở về Palestine. Dù một nhóm khá đông những người Do Thái vẫn còn ở lại Babylon, song “những cuộc hồi hương” khác nhau của người Do Thái (như được mô tả trong Et-ra) đã cho phép tái lập lại đức tin, cộng đoàn, và ngay cả việc phụng tự Đền Thờ.

    Chúng ta không biết nhiều về xã hội Giuđa thời hậu lưu đày. Chỉ có một vài cuốn sách được gán cho thời này, chẳng hạn sách Hacgai, Dacaria, Malaki, và Etra-Nêhêmia. Tình trạng thiếu thông tin này tiếp tục cho tới giai đoạn Hi Lạp (sau năm 333 trước công nguyên) là giai đoạn mà chúng ta lại bắt đầu có những nguồn văn chương/lịch sử như các sách ngụy thư (Apocryphal) khác nhau. Điều mà chúng ta có thể giả đoán, đó là cộng đoàn Do Thái đã hình thành một căn tính và đức tin cộng đoàn mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của các tư tế, là những người xuất hiện như những vị lãnh đạo chủ yếu thay cho vương triều Đavít. Niềm hy vọng về việc khôi phục một quân vương thuộc dòng tộc Đavít đã trở thành căn bản cho một thời đại trong tương lai; niềm hy vọng này đôi khi dấy lên những hoạt động có tính dân tộc chủ nghĩa nơi những người Do Thái ở Palestine. Nhưng vào thời này, nhiều người Do Thái vẫn đang sống trong một “Diaspora” (nghĩa là, tại những nơi không phải là Palestine/It-ra-en) trải rộng từ Ai Cập tới xa bên phía đông qua khỏi lãnh thổ Babylon và Batư. Đối với họ, đức tin không còn có nghĩa là sự tồn vong của đất nước, nhưng là căn tính thuộc chiều kích tinh thần cũng như sự đề kháng lại tình trạng đồng hóa về mặt văn hóa. Từ những cộng đoàn này chúng ta có những câu chuyện về những người Do Thái trung kiên sống ở nước ngoài, chẳng hạn Đanien và Esther.

    Từ thời lưu đày cho đến thế kỷ 20, với chỉ một thời gian tương đối ngắn trước cuộc chiếm đóng của người Rôma vào năm 64 trước công nguyên, dân Do Thái vẫn phải lụy thuộc về chính trị và kinh tế vào những người không phải là Do Thái. Vì thế, Do Thái giáo và Kitô giáo là những tôn giáo có gốc rễ được tìm thấy nơi những con người “bị xâm lăng” về chính trị. Đức Giavê, một vị Thiên Chúa của những người nô lệ được giải phóng, vì thế trở thành vị Thiên Chúa của những người bất lực và là vị Thiên Chúa của sự phán xử đối với những kẻ áp bức, những người giàu có và những người nắm quyền lực.

    Nếu chúng ta không quên rằng hầu như tất cả Thánh Kinh Do Thái đều được biên tập và sắp xếp (nếu như không phải được viết trọn vẹn) bởi một dân tộc bất lực về chính trị, thì các bài thánh ca của Thánh Kinh nói với một “Thiên Chúa của chinh chiến” sẽ – một cách nào đó – mang những âm hưởng khác. Những ý niệm như thế sẽ có một ý nghĩa hoàn toàn khác (và không có tính Thánh Kinh) khi được những người nắm quyền lực trích dẫn nhằm phục vụ cho ích lợi của họ. Còn ở đây, tất cả những nhận thức ấy lại đến với chúng ta từ các loại văn khác nhau trong Thánh Kinh Do Thái, mỗi loại đóng góp những nhãn giới riêng. Chúng ta hãy tìm hiểu vắn tắt một số trong các loại ấy và đồng thời tìm hiểu một số vấn đề bật lên từ việc nghiên cứu những cuốn sách này ngày nay.

    III. Các thời đại về lịch sử Thánh Kinh và Do Thái.

    Do Thái giáo (tiếng Hebrew , Yehudah) là một tôn giáo gắn liền với Thánh Kinh Do Thái và lịch sử dân tộc Israel. Do Thái giáo xem mình là mối quan hệ giao ước giữa con cái Israel (sau này là nhà nước Do Thái) với Thiên Chúa. Và như thế, nhiều người xem đây là tôn giáo thờ độc thần đầu tiên. Nhiều phương diện của Do Thái giáo tuân theo các khái niệm về đạo đức và luật dân sự của phương Tây. Do Thái giáo là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất mà vẫn còn được thực thi cho đến ngày hôm nay, và có rất nhiều sách thánh và truyền thống của đạo này là trung tâm của các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham. Như vậy, lịch sử và những luân lý đạo đức của Do Thái giáo có ảnh hưởng ít nhiều đến các tôn giáo khác, bao gồm cả Kitô giáo và Hồi giáo.

    Vì đại đa số người theo Do Thái giáo là người Do Thái nên tín đồ tôn giáo này cũng còn được gọi là người Do Thái, và gọi như thế là đang nói đến nhóm tôn giáo-dân tộc, vì các lý do trong sách thánh đã xác định họ là một quốc gia, chứ không chỉ riêng những người theo đạo. Năm 2007, dân số Do Thái ước tính khoảng 13.2 triệu người, trong đó có 41% sinh sống ở Israel.

    Trong Do Thái giáo hiện đại, uy quyền không được trao cho một người riêng lẻ hay một cơ quan nào cả mà nó ở trong sách thánh, giáo luật, và các thầy giảng (Rabbi) là những người diễn dịch Thánh Kinh thư Giáo luật. Theo những lời truyền của người Do Thái, Do Thái giáo khởi nguồn bằng giao ước giữa Thiên Chúa và ông Abraham (khoảng năm 2000 trước Chúa Giáng Sinh), tổ phụ và quốc tổ của nhà nước Do Thái. Qua nhiều thời đại, Do Thái giáo gắn liền với rất nhiều luân lý tôn giáo, mà quan trọng nhất là đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất là Đấng Toàn Năng, rất nhân từ, thông biết mọi sự, Người đã tạo dựng vũ trụ và tiếp tục thống trị nó. Theo tục truyền Do Thái, Thiên Chúa thiết lập giao ước với con cái Israel và hậu duệ của nó và cho chúng biết lề luật và giới răn của Người thông qua ông Môsê trên núi Sinai. Do Thái giáo trân trọng việc học hỏi Cựu Ước và tuân giữ các điều răn đã ghi trong Cựu Ước.

    1. Thời tiền sử.

    Palestin là một trong những miền đất được con người cư ngụ sớm nhất (khoảng 40.000 năm trước Chúa Giáng Sinh). Dân Canaan đã sống ở Palestin khoảng 3.000 năm trước CGS và ảnh hưởng của họ còn rất lớn kể cả sau khi bị dân Isrel chinh phục miền đất này (x. Xh 3,8).

    Thật vậy, vùng Cận Đông, trước năm 3,000 trước CN, có hai trung tâm văn minh rất tách biệt nhau. Mỗi nền văn minh đều có văn hóa, tay nghề và hệ thống chữ viết riêng. Một ở vùng Lưỡng Hà, tức vùng đất nằm giữa hai con sông Tích-ra và Êu-phơ-rát, một vùng ‘trăng lưỡi liềm phì nhiêu’. Nền văn minh kia chính là Ai Cập. Câu truyện về loài người bắt đầu với Vườn Ê-đen, tọa lạc đâu đó ở Lưỡng Hà Địa. Ápraham xuất phát từ thành Ur, phía nam Lưỡng Hà. Một số con cháu của ông lập nghiệp tại Kha-ran về phía bắc trong khi ông tiến vào Ca-na-an.

    Như thế, ta thấy tổ tiên khởi thủy của dân tộc Do Thái chính là một trong các vương quốc giầu có và hùng mạnh tại các thung lũng sông ngòi của Ai Cập và Lưỡng Hà. Trong các lãnh thổ nằm giữa, ta thấy nhiều thành phố có vây tường và các vương quốc tí hon. Những thành trì này bảo vệ các người định cư giúp họ an ổn trồng cấy các mảnh đất bên trong. Nhưng cũng có các bộ lạc du mục, luôn luôn chuyển dịch, để tìm ra đồng cỏ tốt tươi cho đoàn vật của họ. Áp-ra-ham và gia đình ông chính là một trong những nhóm du cư khắp vùng ấy.

    2. Thời các bộ tộc.

    Theo sách sáng thế (St 11,27-32) thì gia đình Ápraham phát xuất từ thành Ur, thuộc xứ Canđê, một thành phố ở miền nam thung lũng Euphơrát. Ong di chuyển lên phía bắc và tới lập cư ở Kharan. Tại đây ông được Chúa kêu gọi (St 12,1-3). Sau đó cùng với vợ và cháu là Lot di chuyển đến Sikhem

    Đồng bằng duyên hải và Thung Lũng Gio-đan, những nơi có đất đai canh tác tốt, đã có người định cư từ lâu. Điều ấy lôi cuốn người cháu của Áp-ra-ham là Lót. Lót từ vùng đồi núi di chuyển tới đóng lều gần Xơ-đôm. Nhưng cuộc sống ở đấy có cái nguy hiểm riêng của nó. Lót chỉ là một trong số nhiều người chịu tai vạ khi các vua nổi loạn rấy lên lật đổ quyền kiểm soát của các lãnh chúa xa xôi (St 14).

    Còn Ápraham tiếp tục di chuyển xuống miền nam, qua Nêghép đến tận Ai Cập. Cuối cùng đến lập cư tại Khépron.

    Về Isaac thì Thánh Kinh không đề cập nhiều, ông như cầu nối kế tiếp đền Giacóp là con ông mà thôi.

    Riêng Giacóp thì có nhiều câu chuyện có vẻ ly kỳ và hấp dẫn. Ông phải trốn khỏi đất Canaan vì cướp quyền trưởng nam của Esau. Ông chạy tới Kharan và ở với cậu là Laban và cưới hai cô con gái của Laban là Lêa và Rakhen làm vợ. Sau khi hẹn Esau và giải quyết xong tranh chấp Giacop trở về Canaan.

    Hạn hán và đói kém thường xẩy ra tại Ca-na-an. Nên người du mục đương nhiên phải di chuyển xuống vùng đất phì nhiêu của Ai Cập. Anh em con Giacop cũng đã xuống Ai Cập mua lương thực, một câu chuyện rất hấp dẫn về nhân vật Giuse con Giacop được làm quan trong triều đình Pharaô được truyền tụng. Chẳng bao lâu sau, cả nhà Ít-ra-en (12 con trai của Gia-cóp) đều đã định cư tại Gô-sen, phía đông Đồng Bằng Sông Nin.

    3. Thời nô lệ và xuất hành.

    Dân Ít-ra-en cư ngụ tại Ai Cập trong gần 400 năm. Trong thời gian đó, họ đã phát triển thành cả một dân tộc.

    Thời Pharaô Sêti I (-1317-1290) và Ramset II (-1290-1234) khởi công xây cất các cung điện, các vua này không còn biết đến ông Giuse và bắt đầu bắt dân Do Thái làm nô lệ phục dịch và còn coi người Do Thái như một đe doạ. Họ xiết chặt quyền kiểm soát, cưỡng bức người Do Thái phải làm việc như các nô lệ chuyên sản xuất gạch xây nhà. Để giảm thiểu số người Do Thái, Vua Ai Cập ra lệnh bỏ trôi sông các trẻ trai của Do Thái cho chết đuối hết. Dân kêu van Chúa nên Ngài gửi nhà lãnh đạo đến với họ, đó chính là Mô-sê.

    Phải kinh qua nhiều tai ương, Vua Ai Cập mới chịu để dân Do Thái ra khỏi xứ sở ông. Nhưng vào phút chót, ông lại thay đổi lòng dạ, nên đã cho quân sĩ đuổi theo, nhưng dân Do Thái chạy thoát qua ‘biển sậy’ tới Núi Xi-nai yên ổn. Cuộc ‘xuất hành’ bắt đầu (x. Xh 1-14).

    Cuộc xuất hành kéo dài khoảng 40 năm và tại sa mạc Sinai, dân Do thái đã nhận Thập Điều (mười giới răn – giao ước). Trước khi tiến vào đất hứa, ông Môsê đã chết tại núi Nebo và Giôsuê thay thế ông đưa dân vào đất Canaan.

    4. Thời lập quốc.

    Giô-suê đảm nhiệm quyền lãnh đạo toàn dân khi họ tiến vào lãnh thổ bên kia Sông Gio-đan. Thực ra, cuộc chiến thắng không dễ dàng như tường thuật trong sách Giosuê, nhưng có lẽ diễn ra theo kiểu xâm nhập dần từ phía miền núi xuống. Cuộc hội họp ở Sikem (Gs24) có lẽ nhằm mục đích quy tụ và liên kết toàn dân lại thành một khối duy nhất sau khi đã xâm nhập được một số nơi và hiện các chi tộc đang sống rải rác.

    Các chi tộc định cư tại các vùng được phân chia cho họ. Nhưng giờ đây lại sống rải rác khắp nơi, bị bao vây bởi các lân bang thù nghịch. Khi Giôsuê mất, việc kiểm soát được cả lãnh thổ xem ra là việc khó làm. Dần dà, dân Do Thái mất hết ý niệm chính Thiên Chúa đã chiến đấu cho họ. Họ bắt đầu thỏa hiệp với các nước lân bang, và cả với các thần minh của họ, mong sao được sống yên ổn. Kẻ thù của họ rõ ràng lợi dụng được điểm yếu của họ. Sách Thủ Lãnh thuật lại câu truyện đáng buồn ấy. Các nước lân bang vì thế quay đầu tấn công lại họ: Vua Lưỡng Hà từ hướng bắc; người Mô-áp và Am-mon từ bên kia Sông Gio-đan; người Ma-đi-an từ hướng đông. Người Ca-na-an tại Kha-xo lớn mạnh đủ để thực hiện cuộc tấn công thứ hai vào những người mới định cư. Và từ hướng duyên hải, người Phi-li-tinh đẩy dân Do Thái ngày một lùi dần về phía núi đồi. Cũng như bao nhiêu lần khác trong lịch sử của họ, người Ít-ra-en đều kêu cầu Chúa đến giúp đỡ họ qua cơn bĩ cực. Mỗi vị ‘phán quan’ hay thủ lãnh đều ít nhất cũng đem lại một thời kỳ bớt căng thẳng. Những vị nổi tiếng nhất trong hàng ngũ những người chiến đấu dành tự do này chính là Đơ-vô-ra và Ba-rắc, Ghít-ôn, Gíp-tác và Sam-sôn. Thời kỳ thủ lãnh kéo dài khoảng từ năm – 1200 đến năm – 1050.

    5. Thời quân chủ.

    Vị sau cùng và vĩ đại nhất trong hàng thủ lãnh chính là Sa-mu-en. Ngài vừa là tiên tri vừa là người tạo nên các vị vua. Khi Sa-mu-en về già, dân chúng yêu cầu có một vị vua để cai trị họ, giống như các quốc gia khác. Sa-mu-en cảnh cáo để họ thấy rằng có vua có nghĩa là có quân dịch, có cưỡng bức lao động và có áp chế. Nhưng dân Ít-ra-en bất kể những thứ ấy, họ vẫn cần có một vị vua. Nên cuối cùng Sa-mu-en đã làm theo lời họ yêu cầu. Vị vua đầu tiên là một thanh niên thuộc chi tộc Ben-gia-min, cao ráo và đẹp trai, tên là Sa-un. Buổi đầu, mọi sự đều suôn sẻ, nhưng rồi quyền lực lọt vào đầu óc Sa-un và ông bắt đầu làm ngơ các huấn lệnh rõ rệt của Thiên Chúa. Vì sự bất tuân của Sa-un, nên con trai ông là Giô-na-than không thừa kế được ngai vàng. Thay vào đó, ngay lúc sinh tiền của Sa-un, Thiên Chúa đã sai Sa-mu-en đi xức dầu cho Đa-vít làm vua kế tiếp. Khi còn là một cậu bé chăn chiên, Đa-vít đã giết được tên quán quân người Phi-li-tinh là Go-li-át. Sự nổi tiếng của cậu khiến Vua Sa-un ghen tức. Nên trong nhiều năm, Đa-vít phải sống như một người bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, lúc nào cũng phập phồng cho số phận mình. Nhưng rồi cả Sa-un lẫn Giô-na-than đều bị chết trong lúc chiến đấu với quân Phi-li-tinh. Đa-vít lên làm vua. Ông thống nhất vương quốc, chiếm cứ Giê-ru-sa-lem, một thành trì của người Giơ-vút, làm thủ đô. Ông là một quân vương kiêm chiến sĩ. Ông đã mở mang vương quốc, xua đuổi các kẻ thù xưa.

    Tuy nhiên, dù Đa-vít là một nhà quân sự tài ba, nhưng trong việt tề gia ông lại nhu nhược. Câu chuyện dài ở Sm 9-20 và 1V 1-2 đã cho thấy mặt trái trong triều đại của ông là việc phế trưởng lập thứ, bỏ con chính thức để chọn con ngoại tình kế vị ngai vàng. Đó là mầm mống của gây ra hậu hoạ sau này.

    Gia bảo ông để lại cho Sa-lô-môn. Đa-vít muốn xây một đền thờ cho Chúa tại Giê-ru-sa-lem, nhưng ông chỉ đủ thì giờ thu thập vật dụng. Sa-lô-môn mới là người xây dựng đền thờ ấy và nhiều dinh thự lộng lẫy khác. Một vương quốc hùng mạnh, vững ổn đã giúp Sa-lô-môn thịnh trị qua nhiều liên minh buôn bán. Đức khôn ngoan của ông đã thành huyền thoại. Tại vương triều của Sa-lô-môn, có rất nhiều vui chơi văn hóa và mỹ thuật. Thời ông là hoàng kim thời đại của Ít-ra-en. 1Sm 8 – 1V 11.

    6. Thời phân tranh nam bắc.

    Dưới thời Sa-lô-môn, Ít-ra-en trở thành một vương quốc giầu có và hùng mạnh, nhưng dân chúng thì bị áp chế bằng sưu cao thuế nặng cũng như lao công khổ dịch. Khi con trai của Sa-lô-môn là Rơ-kháp-am lên trị vì, họ thỉnh cầu ông nhẹ gánh cho họ. Nhưng ông cự tuyệt. Nên mười chi tộc miền Bắc đã nổi dậy chống lại. Họ lập ra một vương quốc mới, tức vương quốc Ít-ra-en, với Gia-róp-am I làm vua và thủ đô đặt tại Si-khem. Ở miền Nam, Rơ-kháp-am cai trị vương quốc Giu-đa (gồm hai chi tộc Giu-đa và Ben-gia-min) với thủ đô tại Giê-ru-sa-lem. Gia-róp-am cũng lập ra một trung tâm thờ phượng mới cho vương quốc phía Bắc, hoàn toàn cắt đứt với Giê-ru-sa-lem. Ông ta chọn Đan, ở phía bắc, và Bết-ên, một trung tâm quan trọng lúc Sa-mu-en còn sống. Nhưng rồi các tập tục ngoại giáo mau chóng du nhập vào việc thờ phượng. Các sử gia soạn giả hai sách Các Vua và Sử Biên xếp loại các vua là ‘tốt’ hay ‘xấu’ là tùy họ có chịu canh cải tôn giáo hay để cho các tập tục ngoại giáo tiếp tục hoành hành. Út-di-gia-hu và Khít-ki-gia là hai trong các vua biết đi theo đường lối Thiên Chúa của Giu-đa. Vua A-kháp của Ít-ra-en có thành tích tệ hại hơn cả. Ông và bà vợ ngoại giáo là I-de-ven chống lại tiên tri Ê-li-a và bách hại bất cứ ai thờ phượng Thiên Chúa. Ngày nay, người ta vẫn còn nhìn thấy di tích ‘tháp ngà’ của ông vua này tại Sa-ma-ri. Các biên niên sử của Át-sua ghi lại rằng ông vua này đem 10,000 binh lính và 2,000 chiến xa dự trận đánh Qarqar, nơi ông liên minh với Ai Cập chống lại Vua San-ma-ne-xe của Át-sua (853 trước CN).

    Sự lớn mạnh của thế lực Phương Bắc: Trong vị thế chiến lược giữa hai đại cường Ai Cập và Lưỡng Hà của mình, cả Ít-ra-en lẫn Giu-đa đều là mồi ngon cho xâm lược. Đa-vít và Sa-lô-môn thành công một phần vì không đại cường nào mạnh đủ để tấn công lúc các ông còn trị vì. Nhưng sau khi phân rẽ vương quốc, các quốc gia gần kề như Xi-ri, Am-mon và Mô-áp lập tức đem lại cho các vua Ít-ra-en và Giu-đa đủ thứ rắc rối. Tuy nhiên, chính sự lớn mạnh của các đại cường chính xa hơn về phía đông bắc mới có tính quyết định. Đế quốc Át-sua trước đó từng có thời gian đầy sức mạnh dưới thời Tích-lát Pi-le-xe I. Nhưng cuộc gây hấn tàn bạo khiến ai cũng phải kinh hoàng đối với họ lên đến cực điểm vào các năm 880 và 612 trước CN. Đế quốc này đặt căn cứ tại ba thành phố lớn: Át-sua, Ca-lác và Ni-ni-vê. Từ giữa thế kỷ thứ 9 trước CN, thời A-kháp trị vì Ít-ra-en, các vua Át-sua đã liên tiếp tấn công Ít-ra-en và Giu-đa rồi. Chẳng bao lâu sau, Vua Giê-hu của Ít-ra-en phải triều cống Vua San-ma-ne-xe III của Át-sua. Một trăm năm sau, Vua A-khát của Giu-đa yêu cầu Vua Tích-lát Pi-le-xe III của Át-sua giúp mình chống lại Xi-ri và Ít-ra-en (Is 7; 2V 16). Ông ta đã chiến thắng cả hai nước trên, nhưng cũng vì thế, Giu-đa đã trở thành nước chư hầu của Át-sua. Khi Ít-ra-en từ khước không chịu triều cống hàng năm, vị vua kế tiếp của Át-sua đã chiếm lấy Sa-ma-ri, lưu đầy mọi người và hủy diệt vương quốc phía bắc (7221 trước CN; 2V 17). Không bao lâu sau, Ai Cập bị người Át-sua đánh bại. Năm 701 trước CN, ông vua hùng mạnh là Xan-khê-ríp vây hãm Giê-ru-sa-lem, nhưng nhờ Vua Khít-ki-gia biết tín thác nơi Thiên Chúa, nên thành thánh đã được cứu (2V 19). Người Át-sua phải chiến đấu rất nhiều mới giữ được đế quốc của họ. Trong thế kỷ kế tiếp, nhiều tỉnh nổi lên giành lại độc lập. Đế quốc ấy tồn tại tới lúc Át-sua lọt vào tay người Mê-đi năm 614 trước CN và Ni-ni-vê bị người Mê-đi và Ba-by-lon tiêu hủy năm 612. Tóm lại, vương quốc phía bắc tồn tại ngắn hơn nhưng có tới 20 đời vua, còn vương quốc Giuđa tồn tại 18 đời vua.

    7. Thời lưu đày.

    Lịch sử Do Thái từ ngàn xưa cho thấy cha ông họ đã luôn sống dưới kiếp nô lệ, hết với đế quốc này sang đế quốc khác. Trong thời kỳ này có bốn Đế Quốc cai trị cả vùng Tiểu Á.

    Thời đó (trước đây 2000 năm), người Do Thái nhìn thế giới rất nhỏ, đơn giản là tin có trời tròn đất vuông. Hơn nữa, con người thời này biết rất ít về địa lý của thế giới, cụ thể là với Châu Phi thì họ chỉ biết được những vùng rẻo nhỏ, còn với Châu Á thì cũng chỉ biết được một số vùng nào đó, nhất là với Châu Mỹ thì lại càng hoàn toàn không biết gì (vì mãi đến sau này Kha Luân Bố mới khám phá ra Châu Mỹ). Nói tóm lại, thế giới thời đó chỉ là những vùng xung quanh Địa Trung Hải.

    Với người Do Thái thời đó thì Israel chính là cái rốn của vũ trụ và Giêrusalem là cái rốn của Israel. Có bốn thời đại, đúng hơn là bốn đế quốc đã thay nhau đô hộ Do Thái:

    – Assyri = khoảng năm – 650

    – Babylon = khoảng năm – 550 (thời lưu đày)

    – Đế quốc Ba Tư = khoảng năm – 450.

    – Đế quốc Hy Lạp = khoảng năm – 323.

    Thời đó, ai chiếm được vùng này là chiếm được toàn thể thế giới. Vì thế, nói tới bối cảnh lịch sử thời này là nói nhiều đến các vua chúa đương thời.

    Trong Thánh Kinh, nếu Át-sua có nghĩa là áp bức, thì Ba-by-lon có nghĩa là quyền lực. Nobopolassar, thống đốc khu vực quanh Vịnh Ba Tư, giải phóng Ba-by-lon khỏi Át-sua và năm – 626 lên ngôi vua. Ông tiếp tục chiến thắng người Át-sua và năm – 612, người Ba-by-lon và Mê-đi chiếm được thủ đô của Át-sua là Ni-ni-vê. Họ không chỉ bằng lòng với việc chiếm cứ Át-sua mà còn tìm cách thu tóm toàn bộ Đế Quốc Át-sua nữa. Người Át-sua rút về Kha-ran, nhưng chẳng bao lâu cũng bị bứng khỏi đấy. Người Ai Cập, vì biết đất nước mình lâm nguy, nên đã tự động tiến quân lên phía bắc để hỗ trợ người Át-sua. Vua Giô-si-gia-hu của Giu-đa đụng độ với đoàn quân Ai Cập tại Mơ-gít-đô. Trong trận chiến này, ông bị giết và do đó, Giu-đa trở thành chư hầu của Ai Cập (2V 23:29). Bốn năm sau, tức năm – 605, quân đội Ba-by-lon do Na-bu-cô-đô-nô-xo cầm đầu đã đánh bại quân Ai Cập tại Cá-cơ-mít (Gr 46:1-2). Đế quốc Ba-by-lon mỗi ngày một bành trướng. Giơ-hô-gia-kim của Giu-đa là một trong nhiều vị vua nay phải triều cống cho Na-bu-cô-đô-nô-xo. Sau một trận đánh khốc liệt với quân Ba-by-lon năm – 601, người Ai Cập khích lệ Giu-đa nổi dậy. Na-bu-cô-đô-nô-xo phái quân đội tới dẹp loạn và năm – 597, chỉ sau khi Giơ-hô-gia-kim lên ngôi không lâu, Giu-đa đầu hàng. Vua và nhiều nhà lãnh đạo bị đầy qua Ba-by-lon. Chính sách của kẻ xâm lăng không những là cướp bóc và phá phách, mà còn làm suy yếu các nước chư hầu và ngăn chặn những vụ nổi loạn trong tương lai bằng cách tống xuất các công dân hàng đầu của họ (2V 24:10-17). Dù thế, 10 năm sau, Xít-ki-gia-hu, một ông vua bù nhìn được Na-bu-cô-đô-nô-xo đặt lên ngai vàng Giu-đa, đã cầu viện Ai Cập để nổi dậy. Quân Ba-by-lon bèn xâm lăng Giu-đa và vây hãm Giê-ru-sa-lem. Cuộc vây hãm này kéo dài 18 tháng. Cuối cùng, tường thành bị chọc thủng. Năm – 586, thành bị chiếm. Vua Xít-ki-gia-hu bị bắt và bị làm cho mù. Các báu vật, kể cả châu báu của đền thờ, đều bị đem qua Ba-by-lon. Giê-ru-sa-lem và đền thờ bị phá hủy, còn công dân thì bị tống xuất. Chỉ những người thật nghèo mới được phép ở lại canh tác đất đai (2V 25:1-21).

    8. Thời hồi hương.

    Giữa thế kỷ thứ sáu trước CGS, Ba-by-lon hết sức hùng mạnh. Nhưng các tiên tri lên tiếng nói về một Thiên Chúa mà đối với Người mọi ông vua chỉ là bù nhìn, và Người có thể dùng chính thế lực ngoại giáo để hoàn tất các ý định của mình. Ky-rô, người Ba Tư, thống nhất được hai vương quốc Mê-đi và Ba-tư ở phía đông của Ba-by-lon. Ông chiếm được nhiều lãnh thổ xa xôi tận phía đông như Ấn Độ. Rồi ông tấn công chính Ba-by-lon. Thành này thất thủ năm – 539 và ông thống lãnh toàn bộ đế quốc. Các vua Ba-Tư mở rộng bờ cõi xa hơn cả các đế quốc trước đó. Họ chiếm được cả Ai Cập và trọn vùng nay là Thổ Nhĩ Kỳ. Khi Ba-by-lon thất thủ, Ky-rô bắt đầu tái tổ chức đế quốc. Ông phân chia nó thành các tỉnh, mỗi tỉnh đều có nhà cai trị riêng, gọi là ‘satrap’. Những vị này thường là người Ba Tư, nhưng dưới họ là các nhà cai trị địa phương với một số quyền nhất định. Dân các nước chư hầu được khích lệ duy trì phong tục và tôn giáo riêng của mình. Như một phần của chính sách trên, Ky-rô phái một số người Do Thái trở lại Giê-ru-sa-lem để tái thiết thành phố và đền thờ, như đã được thuật lại trong sách Ét-ra và Nơ-khe-mi-a. Người Do Thái cũng lập nghiệp ở nhiều vùng khác nhau trong đế quốc. Ở Su-san, một trong các thủ phủ của Ba Tư, một vị vua sau này tên là Xéc-xét I, còn tôn một phụ nữ Do Thái làm hoàng hậu, như đã được sách Ét-te thuật lại. ‘Sự tán dân’ (diaspora), một danh từ chỉ chung những người Do Thái sống trên xứ người, sau này trở thành rất quan trọng vào thời Tân Ước.

    Vì họ sống xa đền thờ, nên những người Do Thái này đã phát triển ra hệ thống hội đường làm trung tâm giáo huấn và thờ phượng. Việc đó đã xây nền cho việc phát triển mau lẹ của các giáo hội Ki-tô giáo sau này, là các giáo hội cũng được xây dựng theo khuôn mẫu ấy. Vua Đa-ri-ô I (522-486 trước CGS), người xây dựng nên thủ đô mới hết sức vĩ đại là Persepolis, và là người đã chiếm được miền Tây Ấn Độ, cũng đã đẩy đế quốc xa hơn về phía tây. Năm – 513, ông chiếm Ma-kê-đô-ni-a, phía bắc Hy Lạp. Năm – 490, người Ba Tư bị người Hy Lạp đánh bại tại Marathon, và vũ đài được chuẩn bị sẵn cho những chiến công hiển hách sau này của Hy Lạp cổ điển xưa.

    Đại đế A-lê-xan-đê là con của Vua Philiphê II, vua sứ Makêdonia. Vua Philiphê II có tham vọng tập hợp các xứ xung quanh Địa Trung Hải thành một đế chế Hy Lạp. Trong vòng 23 năm, ông đã chinh phục lại được các thành phố đang chịu sự thống trị của Ba Tư. Không những thế, ông đã huy động được một đội quân hùng mạnh dự định một ngày nào đó sẽ tuyên chiến với Ba Tư. Đang khi đó ông đã bị chính vợ mình là bà Olympias, mẹ của A-lê-xan-đê đại đế giết hại. Bà đã sát hại chồng để giữ ngôi báu cho con mình, vì ngoài bà, ông còn có rất nhiều vợ.

    A-lê-xan-đê trở thành hoàng đế năm 19 tuổi. Ông đã từng học trong trường của Aristote. Ông khao khát được biết về văn hoá, siêu hình học, tâm lý học, y khoa, khoa học, thiên văn, triết học, toán học. v.v.

    Nối nghiệp cha, ông ta có tư tưởng sẽ hình thành một đế quốc bao trùm cả thế giới, và trong thế giới đó, nền văn minh Hy Lạp sẽ trị vì. Vì thế, ở bất cứ nơi nào ông chiếm được, ông điều biến thành những thuộc địa của Hy Lạp để văn minh Hy Lạp được phổ biến và lan rộng.

    Khi chinh phục được Ai Cập, ông có ý định xây dựng đây một thành phố lớn mang tên ông. Ngoài ra, nơi những thành phố hoặc những vùng ông đã chiếm lĩnh được, ông bắt dân đóng thuế cùng vơ vét những tài nguyên bù vào những gì ông đã bỏ ra trước chiến tranh và để nuôi chiến tranh.

    Khi đạo quân của A-lê-xan-đê đến biên giới gần Ấn Độ, đoàn quân vì di chuyển xa xôi nên đã mỏi mệt, và không muốn tiến xa hơn nữa. Vì thế ông đành dừng lại và thu quân về, và đế quốc dừng lại ở đó. Trên đường thu quân về ông qua đời ở Babylon vì một cơn sốt, lúc đó ông được 33 tuổi.

    Công trạng của ông là đã phổ biến văn hoá Hy Lạp trên toàn đế quốc của mình. Ngoài ra, ông còn là người có tính nhân bản và biết thuật dùng người: Người trẻ đi đánh trận, còn người đau yếu và già nua thì ở nhà xây dựng thành phố. Như vậy, ông là người có óc xây dựng chứ không chỉ biết có tàn phá. Hơn thế nữa, quân của ông khi từ Hy Lạp sang Châu Á, đi tới đâu đều cưới người địa phương ở đó. Từ đó tạo nên sự Hy Lạp hoá các vùng mà đế quốc đã đi qua.

    Người ta ước tính rằng chưa đầy 14 năm, ông đã đi hơn 25.000 cây số, và đã xây dựng được một đế quốc rộng hơn cả Babylon thời đó.

    Alexandre đại đế không có con nối dõi, mặc dù trước đó các tướng lĩnh đã thúc giục ông lấy vợ trước khi tấn công vào Châu Á. Người kế ngôi ông là người em cùng cha khác mẹ, tên là Philipphê.

    Nhưng Philipphê lại là người bị tâm thần. Bởi đó, ông này cũng đã bị bà Olympias mẹ của Alexandre đại đế sát hại. Vì tội ác tày đình giết chồng hại con này mà sau đó bà cũng đã bị xử trảm. Đến đây dòng dõi của vua Philipphê II hoàn toàn tuyệt tự. Vì thế, sau đó đế quốc Hy Lạp lớn rộng đã được cai trị bởi 4 chư hầu cũng là 4 vị tướng lãnh của A-lê-xan-đê đại đế.

    Các nhà cai trị Xê-lêu-kít, đặt bản doanh ở An-ti-ô-ki-a bên Xi-ri, kiểm soát vùng Pa-lét-tin. Người Pơ-tô-lê-mai, đặt bản doanh tại A-lê-xan-ri-a cai trị Ai Cập. Tuy nhiên, về văn hóa, thế giới Hy Lạp vẫn là một thể thống nhất với tiếng Hy Lạp làm ngôn ngữ chung và khuôn mẫu văn minh Hy Lạp làm chuẩn. Bối cảnh này đóng một vai trò rất sinh tử trong các biến cố sau này.

    Đến thời Tân Ước, dân Do Thái đã phải sống hết 500 năm dưới ách thống trị ngoại bang kể từ ngày từ lưu đầy trở về. Dưới thời Đế Quốc Hy Lạp, họ nộp sưu thuế cho Pơ-tô-lê-mai của Ai Cập và chấp nhận tiếng Hy Lạp làm ngôn ngữ Đế Quốc. Năm – 198, nhà cai trị gốc Xê-lêu-kít tại Xi-ri là An-ti-ô-khô đại đế đánh bại nhà Pơ-tô-lê-mai và chiếm đóng Pa-lét-tin. Nhưng sau đó ông bị người Rôma đánh bại tại Magnesia vào năm – 190.

    Người Rôma đánh thuế đế quốc Xê-lêu-kít rất nặng và tìm mọi cơ hội để cướp bóc các thành thị và đền thờ. An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê dùng sự chống đối của những người Do Thái đạo hạnh gọi là Khi-si-đim như cái cớ để cướp phá đền thờ Giê-ru-sa-lem. Sau đó, ông cho xây một trung tâm ngoại giáo của Hy Lạp ngay trung tâm thành phố và một bàn thờ trong đền thờ dâng kính thần Zeus (Dớt) trên đó, họ cho dâng heo làm hy lễ (luật thực phẩm Do Thái cấm không được dùng thịt này).

    10. Cuộc khởi nghĩa của nhà Macabê.

    Năm – 167, vào những giai đoạn trước, sứ Giudêa dưới quyền cai trị của tiểu vương đóng tại Ai Cập coi vùng Palestin. Còn với thời đại mới thì Palestin lại dưới quyền cai trị của Syria

    Vị tiểu vương Syria bắt dân đóng thuế và thờ lạy thần ngoại lai. Trong bối cảnh đó xuất hiện một người tên là Mattathias. Ông là tư tế lãnh đạo tôn giáo, Ong từ trối vâng lời tiểu vương cống nộp thuế và thờ thần ngoại. Vì thế, Ong và gia đình trốn lên núi của Giuđê và tổ chức kháng chiến. Cấu kết với một số người do thái chính thống.

    Ông Mattathias chết vào năm – 166 và con ông là Giuđa Maccabée lên thay.

    Cuối cùng ông chiếm được Giêrusalem. Theo lễ nghi, khi chiếm được thành phải làm lễ tẩy uế đền thờ.

    * Ngày 25-12 ông thiết lập nghi thức phượng tự theo nghi lễ Lêvi dâng lên Thiên Chúa. Dân Do Thái coi là lễ cung hiến hay là lễ ánh sáng.

    Quân đội của ông xây dựng một tường thành mới kiên cố hơn (tường thành nơi chiếm đóng). Những người Do Thái chính thống rất hài lòng với những kết quả mà ông Giuda đạt được. Nhất là trên bình diện tôn giáo, và những người Do Thái chính thống (Hassidim) muốn an phận, nghỉ ngơi và không muốn đánh nhau nữa. Nhưng đối với ông Giuđa vẫn muốn tiếp tục giải phóng kể cả mặt tôn giáo và chính trị.

    Năm – 164 Antiochus IV qua đời. Và những người Do Thái thân Hylạp đã bật mí chi tiết này cho một tay tên là Lysias, là một quốc sư của ông vua trẻ Antiochus V mới lên ngôi.

    Ông Giuđa Maccabée bị những người Do Thái này chơi. nên khi ông quốc sư cầm một đạo binh đến vây thành Giêrusalem nhưng sau một thời gian thì triều đình buộc Lysias ra đi. Trước khi đi ông đòi Giuđa Maccabée một thoả hiệp:

    – Bên ngoài tường thành mà Maccabée xây dựng phải để cho quân triều đình đóng giữ, còn bên trong thì cha con nhà Giuđa tự lo liệu

    Vào thời Antiochus V, người Do Thái tuy bị nô lệ nhưng vẫn được tự do tôn giáo.

    Trong khi một bên muốn an phận và một bên muốn đánh tiếp. Từ đó sinh ra những mâu thuẫn. Nhóm Hassidim (do thái chính thống và là tiền thân Pharisêu) có thế lực rất lớn và ảnh hưởng đến cả thế quyền.

    Lysias lợi dụng tình thế sự bất hoà này đã đặt một người tên Alsimus lên làm thượng tế (vì vua tại trị còn trẻ nên ông quốc sư này làm mọi chuyện theo ý của ông ta. Alsimus thuộc dòng tộc tư tế nhưng ở trường phái thân Hy Lạp. Anh em Maccabée chống lại sự đặt để này. Ông Alsimus đã cầu viện lên vua Démétrios I (vua Syria). Nhà vua sai một đạo binh, và người dẫn đầu là Nicanor đến bắt Giuđa Maccabée và khẳng định vị trí của Alsimus. Nhưng quân Maccabée mạnh nên quân của nhà vua thua, và Nicanor bị giết chết, còn Alsimus thì trốn sang Syria.

    Giuđa chết, Jonathan là em ông tiếp tục lãnh đạo kháng chiến. Ông là thủ lãnh của Giuđêa từ -160 đến -142.

    Nhưng ông Alsimus trên nguyên tắc vẫn là thượng tế, trở về sau cuộc chạy trốn và chết năm -159. Sau đó trong vòng 7 năm liền không có thượng tế vì anh em Maccabée không được vua yêu thích nữa.

    Alexandre Balas cậy vào thế của sứ thần Rôma. Cả hai đều ra sức làm vừa lòng Jonathan để nhờ cậy

    Ông Alexandre Balas nói với Jonathan nếu đứng về phía ông thì sẽ được làm thượng tế và là bạn của nhà vua; ngược lại Démétrios I thì hứa sẽ miễn thuế và trả đất bị chiếm đóng. Qua hai sự mời gọi đó. Jonathan đã chọn Balas vì với ông danh xưng làm thượng tế rất quan trọng.

    Sau đó Balas ám sát Démétrios I, và Jonathan thì thần phục Balas. Sau đó Balas bị ám sát ở ẢRập, và khi Balas bị ám sát thì ông Jonathan chạy chọt với Démétrios II để xin vua khẳng định Jonathan là thượng tế hợp pháp. Nhưng Démétrios II đã không giữ lời hứa của Démétrios I, nghĩa là không chấp nhận Jonathan là thượng tế, chính vì vậy Jonathan bực mình và quay sang một người khác tên là Tryphon

    Năm – 63 sứ Giuđa trở thành một tỉnh của Rôma mà họ phân vùng. Ông Hycano II lãnh đạo cả vùng thổ Giuđêa. Các xứ này đã thấm nhuần văn hoá Hy Lạp.

    Vùng Samaria (ven biển) và thập tỉnh bị ảnh hưởng văn hoá Hy Lạp nhiều nhất. Trực tiếp dưới quyền chăm sóc của Syria. Lãnh thổ Do Thái do ông Hycano II lãnh đạo chỉ còn là cộng đồng tôn giáo mà trung tâm của người Do Thái là Giêrusalem.

    Ông Hycano II chịu lỗi trước mặt hoàng đế Rôma. Ong có nhiệm vụ đóng thuế hàng năm.

    Sứ Palestin được bình an (- 57). Nhưng do sự xung đột nội bộ của người Do Thái. Người ta chia vùng này thành 5 tỉnh.

    Năm – 55 Antipale. Được làm tổng trấn Rôma tại Girusalem.

    Năm – 58 Césa được bầu làm hoàng đế của Rôma sau khi chiến thắng Pompée 48

    Antipale theo phò Césa và được phong làm tổng trấn Rôma tại Giuđêa, ông tập hợp các tướng lĩnh. Người Do Thái giúp Césa đánh thắng Pompée. Hoàng đế Césa đã chết vào năm – 44, người Do Thái đã khóc thương ông.

    Năm – 42. Khi Antigone chống Hycano II thì Hêrôđê Cả bênh vực Hycano II nên sau đó Hycano II đã gả đứa cháu gái cho Hêrôđê Cả. Cô ta tên là Mariamne (cô này là con của bà Salomé Alexandra và vua Aristobule I). Đến khi Antigone bị trục xuất ra khỏi Giêrusalem và bị giết ở Ankiokia. Hêrôđê cả trở thành tổng trấn Giêrusalem. Ông là dân biểu của Rôma và được lên làm vua ở Giêrusalem.

    – Vì lấy cháu gái Hycano II, mà Hycano II là thượng tế nên Hêrôđê cũng được làm thượng tế. Tuy nhiên, tổ tiên của Hêrôđê cả và Antipale mang dòng máu Hydome nên dân không ưa gì ông

    Bà mẹ vợ của ông ghét ông vì việc ông làm vua là làm cản trở con ruột của bà là Aristobule III. Biết được điều này, nên trong một bữa tiệc. Hêrôđê cả đã dùng cân vệ của mình để giết Aristobule III bằng cách dìm trong nước.

    Khi biết con của mình là Aristobule III bị giết chết bà mẹ đã thỉnh cầu Nữ hoàng Cléopatre..

    Cléopatre đã rỉ tai hoàng đế Rôma và cho gọi Hêrôđê cả về Rôma để giải trình vụ việc này. Hêrôđê đã nghi ngờ trước sự việc sẽ xảy ra với mình khi về Rôma, nên ông đã bắt bà mẹ vợ giao cho ông Giuse và căn dặn nếu ông không trở về thì sẽ giết bà ta.

    Năm – 31 có một cuộc nổi dậy do Octave cầm đầu đã chiến thắng Anton. Hêrôđê lo lắng không biết mình còn được làm vua xứ Giuđêa nữa không nên kết hợp với Octave.

    Octave thấy Hêrôđê được việc cho mình nên củng cố cho Hêrôđê ở Giuđêa và ban thưởng một số vùng đất ở phía bên kia sông Giođan (phía đông).

    Năm – 25 nhiều cuộc biểu tình chống lại Hêrôđê Cả, vì với tất cả những tội ác mà ông đã gây ra, cho dù ông đã làm xoa dịu dân Do Thái thân Hy Lạp và một số người Do Thái chính thống, nhưng cũng không gây được cảm tình với họ (ông đã cho xây lại đền thờ Giêrusalem và xây cảng ở Césarê) Bởi vì với người Hy Lạp sống ở Giuđêa thì cho rằng Hêrôđê mang một nửa con người Do Thái trong mình và họ đã không chấp nhận. Nhưng ngược lại với dân Do Thái thì không thích nửa người Idumé trong ông, vì thế ông không những không gây được cảm tình với dân mà lại càng làm căng thẳng hơn.

    Hêrôđê cuối đời bị đau nặng về cả thể xác đến tinh thần và qua đời vào năm -4.

    11. Thời phát sinh Kitô Giáo.

    Giu-đê trở thành chư hầu Rôma dưới quyền tổng trấn Xi-ri. Nhưng người Do Thái được tự do thực hành tôn giáo và có nhà cai trị riêng. Hê-rô-đê miền I-đu-mê cai trị từ năm 37 đến năm 4 trước CGS. Bất kể các dự án xây dựng dinh thự nguy nga của ông, trong đó có đền thờ Giê-ru-sa-lem, dân Do Thái vẫn rất ghét Hê-rô-đê Cả, và phần lớn người ta chỉ nhớ đến những tàn bạo và dã man của ông mà thôi. Đó là bối cảnh của việc Chúa Giê-su sinh ra. Thánh Lu-ca ghi lại sự kiện là Chúa Giê-su sinh ra dưới thời đệ nhất Hoàng Đế Rôma, tức Au-gút-tô. Ông này được Ti-bê-ri-ô nối ngôi năm 14. Hành vi Hê-rô-đê sát hại các hài nhi tại Bê-lem hoàn toàn phù hợp với cá tính ông ta. Khi ông ta chết, vương quốc bị ba người con của ông chia nhau. Một tên vì cai trị quá tệ đã bị người Rôma truất phế và thay thế bằng một tổng trấn cho vùng Giu-đê. Phông-xi-ô Phi-la-tô, người đã lên án tử cho Chúa Giê-su, làm tổng trấn từ năm 26 đến năm 36.

    Hội đồng Do Thái, gọi là Sanhedrin, cố gắng sống hòa hoãn với người Rôma để duy trì thế đứng của chính mình. Những người khác, như các viên thu thuế chẳng hạn, cũng lợi dụng sự chiếm đóng của người Rôma để làm đầy túi tham. Nhiều người trông chờ ngày họ được giải thoát khi họ được tự do. Như Si-mê-ôn, người đã có mặt ở đền thờ khi cha mẹ Chúa Giê-su đem dâng con trẻ cho Thiên Chúa, họ ‘chờ đợi ngày Ít-ra-en được cứu vớt’. Bởi thế, Chúa Giê-su rất thận trọng đối với tước hiệu Đấng Được Xức Dầu, đấng giải thoát từng được hứa hẹn xưa nay, vì sợ nâng cao niềm hy vọng của dân muốn Ngài lãnh đạo cuộc nổi dậy chống người Rôma.

    Theo một sử gia người do thái tên: Flavius Josèphe thì Hêrôđê Cả đã trao cho ông Archélaiis một quyền chức (Ethnarque) và một nửa vương quốc của ông ta, trong đó có Giuđêa, Samaria, Iduméa. Một nửa khác được chia cho hai người con của ông là :

    – Hêrôđê Antipa cai trị Galilê và Pérée.

    – Hêrôđê Philipphê cai trị phía đông Galilê và Bétsaida.

    Hêrôđê Cả còn 3 đứa con trai khác nhưng ông thấy chúng có tham vọng chính trị. Để trừ hậu quả sau nàu nên ông đã giết chúng.

    Khi Hêrôđê chết, thì xứ Syria bảo hộ của Rôma nằm trong tay một người tên Barut. Vào thời đó có một người tên Giuđa con ông Ezechias tự xưng mình là đấng thiên sai và cầm đầu một băng nhóm bạo loạn. Băng này lôi kéo một số đông người của Giuđêa và Samaria. Trước tình hình bạo loạn đó, ông Barut xuống dẹp loạn và giết khoảng 2000 người.

    Thời đó xảy ra nhiều cuộc nội chiến . vídụ: như một nhóm Zelote năm 6 trước công nguyên và cũng nhóm Zelote này năm 66 sau CN cũng nổi loạn.

    Sau khi được chia phần, các con trai Hêrôđê sang Rôma để được chuẩn nhận từ hoàng đế Rôma. Trong khi đó những người Do Thái ở Palestin cũng cử một phái đoàn đến hoàng đế Rôma để bày tỏ những bất đồng về sự phong vương này vì họ muốn tẩy chay gia đình Hêrôđê. Để dung hoà Rôma quyết định không gọi Archelaiis là vua (nhưng chỉ là thủ lãnh của một tỉnh).

    Archelaiis lấy tước hiệu là Ethnarque: tuy không được Rôma cho tước hiệu vua nhưng cả hai người con Hêrôđê Cả tuy có quyền hạn nhưng vẫn dưới quyền của Archelaiis.

    Philippê và Antipas có tước hiệu Rôma ban cho là (Tétraque) là tướng của ¼ vùng tiểu vương.

    Khi thánh Giuse và Mẹ Maria trở về từ Aicập đã lập nghiệp ở Galilêa chứ không phải ở Judêa vì họ biết Archelaiis cai trị vùng này.

    Khoảng năm thứ 4-6 ông Archelaiis cai trị dân sống trong một thời kỳ thịnh vượng. Ở đây có hai miền khá khác nhau : xứ Samaria, dân tạp chủng từ thời nô lệ sang Assyria là dân ở miền bắc về đó sinh sống vì dân lưu đày về không còn thuần chủng. Còn Giuđêa gần gũi Galillé và Pérée.

    Về mặt địa lý và chính trị thì xứ Pérée và Galillé là hai địa danh bị chia căt vì một nửa thuộc về Hêrôđê Antipas.

    Triều đại Archelaiis đánh dấu của sự chống đối giữa Sađốc và Pharisiêu. Pharisiêu đòi quyền tự do mà ngày xưa họ được hưởng còn bây giờ con của Hêrôđê Cả không tôn trọng. Có một số người dù sống trong miền thuộc Archelaiis nhưng họ thích Hêrôđê Antipas và Hêrôđê Philipphê hơn.

    Để chỉ sự chống đối này, Archelaiis đặt để các vị tướng và không cần dân bầu điều này làm cho dân giận (ông ta cưới một cô em gái cùng cha khác mẹ).

    Hêrôđê Antipas trị vì Galileé và Pérée. Hai vùng cách biệt bởi Samaria và vùng Thập Tỉnh.

    Galille là một xứ màu mỡ và Hêrôđê Antipas lập thủ phủ của mình tại địa danh Tiberiade để tôn vinh hoàng đế tên là Tibère.

    Tiberiade: là trung tâm giáo dục tôn giáo của thượng tế.

    Antipas là một người tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn trọng đạo Do Thái. Ông trị vì khoảng 30 năm, cưới bà HHêrôđia, bà này ly dị với người chồng trước là Hêrôđê Philipphe để lấy ông này. Bà là cháu gái của Hêrôđê Cả và bà Mariamne và là chắt của Hycano II.

    Hoàng đế Rôma Caligula thấy Antipas tham vọng chính trị nên đày qua xứ Gaule (năm 39 – 40) và đặt ông Agrippa lên thay.

    Hêrôđê Philipphe trị vì bên kia sông Giođan (phía tây) xứ sở này tương đối thanh bình và trong xứ này người ta dùng ngôn ngữ Aram. Hêrôđê Philipphe cũng là một nhà xây dựng, ông đã cho xây hai thành: Césare Philiphe và cái kia là Panéas.

    Hêrôđê Philipphe chết năm 34 và vùng đất của ông được tháp vàp tỉnh Syria vào năm 34 dưới quyền Agrippa I

    Bổn phận tổng trấn là thu thuế và giữ an ninh, thường ông có thể uỷ thu thuế cho một nhóm hay một cá nhân ký hợp đồng với tổng trấn. Những người thu thuế này phải là người Rôma hay người Do Thái làm cho Rôma. Chính những người làm việc thu thuế bị coi là ngoại lai.

    Vào thời các tổng trấn thời Do Thái giữ độc lập một mức độ nào đó, và hoàng đế tôn trọng truyền thống tôn giáo của họ. Đối với người Do Thái quyền bính tối thượng nằm chính trong con người của thượng tế.

    Một vị thượng tế nổi tiếng thời đó tên là Anna nắm quyền từ năm thứ 6 -15 là một người Sađốc giàu có và thông thoáng với Rôma, ông gây ảnh hưởng trện người con rể là Caipha và sau này bốn người con trai của ông tiếp tục lên nắm quyền. Thượng tế Caipha trị vì năm 18 – 36. có dính vào vụ án giết Chúa Giêsu.

    Vào năm 26 Fontio Philatô tổng trấn cai trị Giuđêa. Ông ta có đôi lúc chọc giận người Do Thái rồi kiếm cách làm hoà lòng dân. Chính vì thế, khi vụ án Chúa Giêsu xảy ra, ông tha Banaba để làm yên lòng dân. Nhưng vì không đẹp lòng dân nên một ngày kia ông bị hạ bệ bởi một ông sứ thần của Rôma tên là Vitellius. Vitellius giao chức tổng trấn cho Jonathan con của Caipha.

    Jonathan lên nắm chức thượng tế. Người ta giả thiết vào năm 36 dưới thời Jonathan các thượng tế lên án và giết Stephano mà không có ý kiến của Rôma và một năm sau đó ông Vitellius thay ông Jonathan bằng Théophile.

    Hoàng đế Tibère chết vào năm 37 (ông Théophile lên thượng tế vào năm 37-71). Hoàng đế Caligula là một người Rôma, ông rất yêu thích văn hoá Hy Lạp. Ông đặt xứ Giuđêa dưới quyền của một tổng trấn tên là Maurulus ( 37-71).

    Hoàng đế Caligula: bị ám sát năm 41 và ông Claudius lên thay thế ( 41-44). Claudius đặt Palestin dưới quyền cai trị của Rôma, ông tháp nhập Galillée vào Samaria và đặt Agrippa II con của Agrippa I làm thủ lãnh khắp vùng từ năm 49-54 và người tổng trấn đầu tiên mà hoàng đế Claudius đặt coi sóc toàn bộ Palestin bởi một người Rôma tên là Cuspius Fadus.

    – Cuspius Fadus làm tổng trấn từ năm 44-46

    – Tibère Alexandre…………………………………..46-48

    – Ventidius Cumanus…………………………………..48-52

    – Antoine Félix …………………………………………….52-60

    Chính trong thời Antoine Félix có sự cố: Phaolô bị giam ở Césare và phải ra trước toà Félix.

    – Festus……………………………………………………… 60-62

    – Albinus…………………………………………………….62-64

    – Florus …………………………………………………..64-66.

    Với sự nổi dậy của những người ái quốc Zélote. Những người Kitô hữu bỏ Giêrusalem mà đi. Cuộc di cư của những người kitô hữu tiên khởi trước khi có cuộc bạo loạn của những người Do Thái chống Rôma từ năm 66-70.

    GIÊSU DƯỚI CÁI NHÌN CỦA DO THÁI GIÁO VÀ HỒI GIÁO

    Theo con số thống kê của “Time Almanach 2001” thì Kitô Giáo, tức Cơ Đốc Giáo (Christianity) là tôn giáo có số lượng tín đồ lớn nhất thế giới, chiếm 1/3 dân số toàn thể nhân loại.

    Dân số thế giới hiện nay là 5 tỷ 929 triệu.

    Số lượng tín đồ Kitô Giáo (Christians) là: 1 tỷ 943 triệu.

    Mặc dầu gần hai tỷ người đó đều tự nhận là tín đồ Kitô (Christians) nhưng họ thuộc về nhiều giáo hội khác nhau, với những tín điều và nghi lễ khác nhau. Nói chung, những người theo Kitô Giáo có thể được chia thành 5 nhóm tôn giáo sau đây:

    1. Công Giáo La Mã: 1 tỷ 026 triệu (trực thuộc Vatican)

    2. Các giáo phái Tin Lành: 316 triệu (trên 200 giáo phái chống đối Vatican)

    3. Chính Thống Giáo: 213 triệu (phần lớn ở Đông Âu, Nga và Bắc Phi)

    4. Anh Giáo: 63 triệu (nghi lễ giống Công Giáo nhưng không thuộc Vatican)

    5. Các nhóm Kitô Giáo độc lập: 373 triệu (Unaffiliated Christians)

    Qua gần hai ngàn năm lịch sử, Kitô Giáo đã bị phân hóa trầm trọng và những cuộc thánh chiến tương tàn giữa những người anh em có cùng niềm tin vào Chúa Kitô đã làm tiêu hao nhiều chục triệu sinh linh. Nhưng có một sự kiện nổi bật trong lịch sử là: Dù cho những người Kitô Giáo chống đối nhau, thậm chí giết nhau như cuộc xung đột Công Giáo Tin Lành ở Ái Nhĩ Lan hoặc xung đột giữa Chính Thống Giáo và Công Giáo ở Nam Tư, nhưng họ vẫn có chung một niềm tin: Giêsu là Chúa Cứu Thế (Messiah/Christ).

    Qua lăng kính tâm linh của các tín đồ Kitô Giáo, Giêsu là đấng Messiah với những thuộc tính sau đây:

    1. Ngài là Thiên Chúa hóa thân thành người (God in human form).

    2. Ngài chết để chuộc tội tổ tông của loài người

    3. Ngài sống lại lên trời và sẽ xuống thế gian lần thứ hai vào ngày tận thế để xét xử mọi người sống và chết (mọi người chết sẽ sống lại để được xét xử)

    Như chúng ta đã biết, Do Thái và Hồi Giáo cũng là những đạo thờ Thiên Chúa nhưng cả hai đều phủ nhận Giêsu là Messiah với những thuộc tính nói trên.

    Hai tôn giáo Do Thái và Hồi đã đưa ra những luận cứ nào để bác bỏ tư cách Messiah (Kitô) của Giêsu? Đó là nội dung chính yếu của bài viết này.

    I. QUAN ĐIỂM CỦA DO THÁI GIÁO VỀ GIÊSU

    Giêsu là một người có thật, bằng xương bằng thịt, đã được sinh ra ở Do Thái cách đây gần 2000 năm.

    Nhưng ý niệm về Messiah (Chúa Cứu Thế/ Chúa Kitô) là một sản phẩm đặc biệt trong tư duy của dân tộc Do Thái. Để tìm một định nghĩa xác thực nhất về Messiah, thiết tưởng không có gì đáng tin cậy hơn là Tự Điển Bách Khoa về Đạo Do Thái (The Shengold Jewish Encyclopedia).

    Niềm tin vào Đấng Messiah (Messianism) được định nghĩa như sau: “Niềm tin vào đấng Messiah là niềm tin rằng: dân tộc Do Thái và toàn thể nhân loại được dẫn đến một thời đại hoàng kim, trong đó nền công lý toàn hảo và nền hòa bình thế giới được thực hiện bởi đấng Messiah. Ngài là vị vua lý tưởng và là một người toàn hảo. Danh từ “Messiah” có nghĩa là “Người được xức dầu”, đây là một phương cách cổ xưa để tôn vinh một người được trao trọng trách đặc biệt. Danh từ “Messiah Adonai” có nghĩa là “Người được Thiên Chúa xức dầu”. Đây là một danh hiệu do Cựu Ước dùng để gọi các vị vua của Israel. Các vị tiên tri trong kinh Thánh mô tả Messiah là một người được Thiên Chúa chỉ định, một vị lãnh đạo lý tưởng để đưa toàn thế giới đến nền công chính và hòa bình. Qua nhiều thế kỷ lưu lạc, dân tộc Do Thái vẫn tiếp tục ước mơ về sự xuất hiện của đấng Messiah”.

    (Messianism: The belief that the Jewish people and all humanity would be led to a Golden Age of perfect justice and universal peace by a Messiah, an ideal king and a perfect man. The Hebrew Messiah means “one anointed man with oil”, the ancient way of dedicating a man to a special service. Messiah Donai – The Anointed of God – was a title of honor given in the Bible to the Kings of Israel. The prophets described the Messiah as a pinely appointed man, an ideal ruler who would lead the world in righteousness and in peace.

    During the long centuries of exile, the Jewish people continued to dream of the Messiah).

    Qua định nghĩa “Messiah” nói trên của người Do Thái, ta thấy sứ mạng của “Chúa Cứu Thế” chính danh phải là người thực hiện được nền hòa bình thực sự và nền công chính toàn hảo trên khắp thế giới. Xét theo tiêu chuẩn này, mọi người đều sẽ nhận rõ rằng: Giêsu chỉ là một kẻ vô dụng vì y chưa từng bao giờ góp được một chút công lao nào cho nền công chính và hòa bình của nhân loại.

    Trong Kinh Thánh Cựu Ước có nhiều điều tiên tri về Messiah. Nhưng Giêsu chưa từng bao giờ thực hiện được một điều nào để chứng tỏ ông ta là Messiah cả. Thí dụ:

    – Tiên tri Isaiah (thế kỷ 8 TCN) định nghĩa Messiah là đấng “giải thoát mọi người bị áp bức” (To let the oppssed go free – Isaiah 6: 9 và 6: 1-2). Thử hỏi Giêsu đã giải thoát được một người nào bị áp bức trên thế gian này?

    – Isaiah cũng nói: Đấng Messiah sẽ gom góp toàn dân Do Thái trở về đất Israel (Gather all Jews back to the land of Israel – Isaiah 43: 5-6). Lịch sử Do Thái đã chứng minh ngược lại: Giêsu chết khoảng năm 30. Đến năm 70 thì Israel bị quân La Mã đánh chiếm và tiêu diệt người Do Thái vô số kể. Đến nỗi người Do Thái sợ bi diệt chủng nên đã bỏ xứ lánh nạn khắp nơi trên thế giới. Gần 19 thế kỷ sau (1949) thì Liên Hiệp Quốc (không phải Giêsu) đã gom dân Do Thái về Israel!

    – Tiên tri Zechariah nói: Đấng Messiah là vua cai trị toàn thế giới (King over all the world – Zech. 14: 19) Điều này thì trong 2000 năm qua và cho đến muôn kiếp về sau chẳng bao giờ Giêsu có thể thực hiện được!

    – Tiên tri Isaiah xác định: Messiah phải là người thuộc dòng vua David theo phụ hệ (Messiah must be decended on his father’s side from King David.

    – Isaiah 11: 1) Giêsu có mẹ đồng trinh nên không có cha, vậy y làm sao thuộc dòng David theo phụ hệ được? Do đó, Giêsu không có tư cách Messiah.

    – Người Do Thái hoàn toàn bác bỏ tính cách Thiên Chúa của Giêsu vì Cựu Ước dạy “Thiên Chúa chỉ có Một” (The Lord is One – Dent 6: 4) và “Thiên Chúa là vĩnh cửu, vượt thời gian. Ngài là vô cùng, vượt không gian. Ngài không thể được sinh ra và không thể chết” (God is eternal above time. He is infinite above space. He cannot be born and cannot die – Numbers 23: 19). Giêsu đã được sinh ra bởi bà Maria và đã chết dù chỉ chết 3 ngày 3 đêm) nên Giêsu không thể là Thiên Chúa vì Thiên Chúa không chết dù chỉ trong giây phút.

    Người Do Thái vẫn chờ đợi sự xuất hiện của đấng Messiah. Điều đó có nghĩa là đấng Messiah chưa từng bao giờ xuất hiện trên thế gian này. Đối với họ, Giêsu không hề thực hiện được một điều nào Cựu Ước đã tiên tri về Messiah nên Giêsu không bao giờ được dân tộc Do Thái công nhận. Người Do Thái cũng phủ nhận sự tái lâm của Giêsu vì thần học của đạo Do Thái khẳng định Messiah chỉ đến một lần và không bao giờ trở lại. (No second coming of Messiah).

    Dân tộc Do Thái rất kiên trì trong niềm tin tôn giáo vì họ tin tưởng rằng đạo Do Thái là đạo duy nhất do Thiên Chúa mặc khải cho cả quốc gia (a national revelation). Truyền thuyết về Messiah là sản phẩm tâm linh của cả dân tộc Do Thái. Họ không ngờ truyền thuyết này đã trở thành chiếc boomerang quay ngược lại tiêu diệt dân tộc mình. Trong gần hai ngàn năm qua, họ luôn luôn phủ nhận tư cách Messiah của Giêsu. Hậu quả thảm khốc là nhiều triệu người Do Thái đã bị giết nhưng vẫn chưa đủ đền mạng của một người Do Thái được người ta tôn vinh là Đấng Messiah!

    II. QUAN ĐIỂM CỦA HỒI GIÁO VỀ GIÊSU

    Khi nghiên cứu về Hồi Giáo, chúng ta sẽ ngạc nhiên nhận thấy người Hồi Giáo – nhất là Hồi Giáo Ả Rập – rất quan tâm và viết khá nhiều về Giêsu.

    Tiến sĩ Tarif Khalidi, giáo sư môn ngôn ngữ học Ả Rập tại Đại Học Cambridge, đã thu thập được 303 câu chuyện (stories) qua hàng trăm cuốn sách bằng tiếng Ả Rập viết về Giêsu.

    Ông đúc kết lại thành sách “The Muslim Giêsu”. Nguyên bản bằng tiếng Ả Rập. Bản dịch Anh ngữ 246 trang do Havard University Press xuất bản 2001. Tựa đề của cuốn sách ngụ ý Giêsu không phải là người Do Thái, cũng không phải là giáo chủ đạo Kitô mà là một tín đồ Hồi Giáo. Cũng tương tự như Giêsu, Abraham và Moises đều được người Hồi Giáo coi là những người đồng đạo của họ. Muhammad khẳng định: “Abraham không phải là Do Thái hay Kitô. Abraham, Moises và Giêsu đều là những tín đồ Hồi Giáo. (Abraham was not a Jew nor yet a Christian. Abraham, Moises and Giêsu are Muslims – Koran 3: 67).

    Người Hồi Giáo cho rằng: các tín đồ Kitô đã hiểu sai về Giêsu và chỉ có người Hồi Giáo mới có cái nhìn đích thực về một “Giêsu Thật” (The Real Giêsu).

    Tất cả những quan niệm của người Hồi Giáo về Giêsu đều được Muhammad truyền dạy trong kinh Koran qua những câu thơ rải rác trong 15 chương sách. Chúng ta cũng biết rằng kinh Koran là Kinh Thánh của Hồi Giáo (The Holy Bible of Islam). Đối với các tín đồ Hồi Giáo, Giêsu thật là Giêsu được mô tả trong kinh Koran (Quranic Giêsu). Đó chính là Giêsu trong đức tin Hồi Giáo:

    – Kinh Koran ca ngợi Giêsu là tiên tri của Thiên Chúa (a prophet of God) là sứ giả của Chúa (a messenger of God) là tiếng nói và tinh thần của Thiên Chúa Allah (the Word and the Spirit of Allah) (Koran 3: 45).

    – Kinh Koran ca ngợi Giêsu có tài tranh biện vì được Thiên Chúa ban sức mạnh tinh thần thánh thiện (God gave Giêsu clear arguments and strenghten him with the holy spirit – Koran 2: 87). Thiên Chúa dạy dỗ Giêsu sự khôn ngoan và sự hiểu biết về kinh Thánh Cựu Ước, Tân Ước (Allah taught him the wisdom, and the Tawrah, the Injil – Koran 3: 48) Giêsu có khả năng chữa lành những kẻ mù hoặc những kẻ cùi hủi và khiến cho kẻ chết sống lại với sự cho phép của Thiên Chúa Allah (Giêsu heals the blind and the leprous and bring the death to life with Allah’s permission – Koran 3: 49)

    – Hồi Giáo công nhận Giêsu được sinh ra bởi bà Maria đồng trinh (And She who guarded her chastity – Koran 21: 91). Koran nhắc lại lời của bà I-sa-ve (mẹ của Gioan) chúc mừng bà Maria: “Thiên Chúa Allah đã chọn bà trên hết mọi người nữ ở thế gian này” (Allah has chosen you above the women of the world! – Koran 3: 42).

    – Hồi Giáo tin rằng Giêsu sẽ trở lại thế gian vào ngày phán xét cuối cùng nhưng chỉ với tư cách nhân chứng mà thôi. Vị thẩm phán tối cao xét xử mọi người là Thiên Chúa Allah. (On the day of Resurrection Giêsu shall be a witness – Koran 4: 159).

    – Hồi Giáo không nói Giêsu đã từ kẻ chết sống lại, nhưng tin rằng Thiên Chúa Allah đã đưa Giêsu về trời. (Allah took him up to Himself – Koran 4: 158)

    Mặc dầu Hồi giáo tôn vinh Giêsu như trên nhưng họ hoàn toàn phủ nhận tư cách Thiên Chúa hoặc Con Thiên Chúa của Giêsu. Koran khẳng định: “Thật là nhục mạ Thiên Chúa đối với những kẻ nói Giêsu, con của Maria, là Thiên Chúa. Giêsu không là gì khác hơn là tôi tớ của Thiên Chúa mà thôi” (They do blaspheme who say God is Giêsu, son of Maria. He was no more than a servant of God – Koran 5: 72-75).

    Giêsu không phải là một sinh vật linh thiêng mà chỉ là một người thường như chúng ta. Trước mặt Thiên Chúa Giêsu cũng giống như Adam, tất cả đều được Thiên Chúa dựng lên bằng tro bụi. (Surely, the likeness of Giêsu is with Allah as the likeness of Adam. He created him from dust – Koran 3: 59). Sở dĩ Giêsu được coi là một người đặc biệt vì ông ta được Thiên Chúa Allah ban cho đặc ân và ngài biến ông ta thành một gương sáng cho con cháu của dân tộc Do Thái. (Giêsu, son of Mary, was naught but a servant on whom God bestowed favor and made him an example for the children of Israel – Koran 43: 59).

    – Hồi Giáo kịch liệt chống lại Thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi. Kinh Koran luôn luôn nhắc đi nhắc lại điều quan trọng nhất của đạo Hồi là: Thiên Chúa chỉ có Một. Ngài không sinh con và không do ai sinh ra. Không có một người nào giống Thiên Chúa cả. (Say not three Deists, Allah is One. Koran 4: 117, Say, He, Allah is One. He begets not, nor is He begotten and none is like Him. Koran 112: 1-4)

    Thiên Chúa không bao giờ tha thứ cho bất cứ ai đồng hóa với Ngài – Bất cứ ai gán ghép một cái gì đó vào Thiên Chúa đều phạm tội trọng. (Surely, Allah does not forgive that anything should be associated with him – Whoever associated anything with Allah he devises indeed a great sin – Koran 4: 48)

    – Hồi Giáo phủ nhận việc Giêsu bị đóng đinh trên thập giá (They – the Jews – killed him not nor cruxified him – Koran 3: 59) đồng thời phủ nhận “tội tổ tông” của Adam và Eva, mặc dầu Hồi Giáo cũng tin hai vị này là tổ tiên của loài người. Nói cách khác, Hồi Giáo hoàn toàn phủ nhận lập luận của đạo Kitô cho rằng đã chịu chết trên thập giá chuộc tội tổ tông để cứu loài người.

    Đọc kinh Koran, mọi người sẽ nhận thấy thái độ rất rõ rệt của Hồi Giáo đối với Kitô Giáo:

    Một mặt, người Hồi Giáo rất tôn kính Giêsu. Mặt khác người Hồi Giáo tỏ thái độ thù nghịch đối với các tín đồ Kitô Giáo vì người Kitô vi phạm những điều cấm kỵ hết sức nghiêm ngặt của đạo Hồi là tuyệt đối cấm thờ bất cứ một ai ngoài Thiên Chúa Allah và cấm thờ ảnh tượng. Muhammad qui trách nhiệm cho những người Do Thái lập đạo Kitô đã ngụy tạo Lời Chúa và viết thêm những điều bậy bạ vào Thánh Kinh làm cho Kitô Giáo trở thành một tà đạo. Muhammad viết:

    – “Những người Do Thái (lập đạo Kitô) là những kẻ đã thay đổi Lời Chúa hoặc xuyên tạc Lời Chúa bằng miệng lưỡi của họ và nhạo báng đạo của Chúa” (of those who are Jews there are those who alter the words of God… distorting the words with their tongues and taunting about religion – Koran 4: 46).

    – “Thật là một thảm họa cho những kẻ viết Thánh Kinh bằng bàn tay của họ rồi nói rằng sách đó do Thiên Chúa ban cho” (Woe, then, to those who write the Book with their hands and then say: This is from Allah – Koran 2: 79).

    Muhammad ca ngợi Giêsu là người hết lòng tôn thờ Thiên Chúa Allah – kinh Koran có thuật lại lời cầu nguyện của Giêsu như sau:

    “Vinh danh Chúa Allah. Chúa biết những gì con nghĩ trong đầu nhưng con không biết điều gì trong ý Chúa. Chỉ có chúa là Đấng Thông Biết mọi sự”.

    (Glory to Allah. Thou knowest what is in my mind and I do not know what is in Thy mind. Surely Thou art the great knower of the unseen things – Koran 5:117)

    Đối với đạo Hồi, Giêsu được coi là một người công chính giống như tiên tri Elisha của đạo Do Thái. Kinh Koran viết: “Giêsu và Elisha đều chung một hàng của những người Công Chính”.

    (Giêsu and Elisha were all in the rank of the Righteous. Koran 6: 85)

    PHỤ LỤC II TRUYỀN THỐNG ABRAHAM DƯỚI ÁNH SÁNG KHOA HỌC KHẢO CỔ

    Trải qua 4000 năm lịch sử, nhân vật Abraham đã được coi là biểu tượng cho niềm khát vọng của con người muốn thiết lập một mối giao ước (covenant) với Thượng đế.

    Nói đúng ra, đó là khát vọng tâm linh của phần đông các dân tộc Tây phương, bao gồm Âu châu, Do thái và các chủng tộc Ả rập. Đố với các dân tộc Á châu, ý niệm về sự thiết lập một giao ước với Thượng đế là hoàn toàn xa lạ, nếu không muốn nói là kỳ quặc!

    Chúng ta không thể tưởng tượng nổi là cái ý tưởng kỳ quặc đó đã xâm chiếm tâm linh của hơn một nửa dân số loài người. Hiện nay có tới trên 3 tỉ người tôn vinh nhân vật Abraham là Thánh tổ phụ về huyết thống (Father) hoặc Thánh tổ phụ của đức tin (Spiritual Ancestor of Faith).

    Một điều đáng chú ý là hai tỉ người Ki-tô giáo, 1.3 tỉ người Hồi giáo và 15 triệu tín đồ Do thái giáo từ xưa đến nay luôn luôn thù nghịch nhau, nhưng tất cả đều đồng nhất tự xưng mình là tín đồ độc thàn chân chính của Abraham (True Abrahamic monotheists). Dù là một nhân vật có thật trong lịch sử hoặc hcỉ là một nhân v6ạt thần thoại, Abraham đã hiển nhiên là một “giáo chủ” có đông tín đồ nhất từ xưa đến nay. Có thể nói, Abraham là giáo chủ của các giáo chủ Tây phương, bời lẽ không có một tôn giáo nào của Tây phương mà không tôn vinh Abraham là tổ phụ đức tin của tôn giáo mình.

    Cuốn sách đầu tiên của Bộ Thánh kinh Do thái là sách Sáng thế ký (Genesis II: 27-28) cho biết : Noah sinh ra Shem, Shem sinh ra Terah, Terah sinh ra Abraham. Abraham lấy Sarah sinh ra Isaac, Isaac sinh ra Jacob là tổ tiên của 12 bộ lạc Israel. Abraham lấy cô đầy tớ gái Ai cập sinh ra Ismael là tổ tiên của các giống Ả rập. Kinh thánh Do thái kể lý lịch của Abraham như trên để xác định Abraham chẳng những là ông tổ lập đạo Chúa mà còn là ông tổ của dân tộc Do thái về huyết thống.

    Do thái thuộc dòng dõi chính thức của Abraham còn các dân tộc Ả rập đều thuộc dòng dõi thấp kém vì chỉ là “con rơi con rớt” của Abraham mà thôi.

    Trong sách Phúc âm Tông đồ Công vụ của Ki-tô giáo có bức thư của Phao-lồ gửi cho các tín hữu ở Rome, trong đó có câu: “Đức tin của chúng ta là đức tin của Tổ phụ Abraham” (Epostle to the Romans: Our faith is that faith of our Fatther Abraham). Phao-lồ là “vị đại thánh” có công hàng đầu trong việ lập đạo và truyền đạo ki-tô, vì vậy các nhà chuyên nghiên cứu tôn giáo Tây phương đã gọi Ki-tô giáo là “thần học của Phao-lồ” (The Pauline theology). Phao-lồ đã xác nhận Ki-tô giáo là đạo của Abraham. Ngòai ra, vì Phao-lồ là người Do thái nên ông ta đã gọi Abraham là Tổ phụ (Father).

    Công giáo Việt Nam tránh né không gọi Abraham là “tổ phụ” nhưng cũng tôn vinh Abraham là một vị thánh cao cả ngồi cạnh Đấng chí tôn. 92% dân số Việt-nam ngoại đạo đều là những kẻ chưa biết đến “đạo thánh” của Abraham! Người Công giáo Việt-nam cảm thấy xót thương đồng bào mình nên đã sáng tác bài kinh bất hủ mang tựa đề :

    “Kinh Cầu Cho Dân Nước Việt-nam Trở Lại Đạo Thánh”:

    “Lạy Chúa, thuở Chúa mới giáng sinh, Chúa đã kêu gọi ba vua phương Đông đến thờ lạy Chúa. Chúa đã phán rằng : Ngày sau có nhiều kẻ bởi Đông Tây sẽ đến nghỉ ngơi cùng Thánh Abraham trên nước thiên đàng. Nay nước Việt-nam cũng là một cõi Đông Phương đang còn nhiều kẻ tin vơ thờ quấy chưa hề biết Đấng chí tôn. Xin Chúa hãy làm cho nó tìm đến cùng Chúa hầu ngày sau đặng nghỉ ngơi (cùng thánh Abraham) trên nước thiên đàng, chúc tụng ngợi khen Chúa đời đời kiếp kiếp.” (Kinh Nhựt khóa 143-146).

    Vị giáo chủ sáng lập đạo Hồi là Muhammad viết kinh Koran vào đầu thế kỉ 7 đã tôn vinh Abraham là tín đồ Hồi giáo. “Abraham chẳng phải là người Do thái, cũng chẳng phải người Ki-tô nhưng ngài là một người công chính, một người Hồi giáo.” (Abraham was not a Jew nor a Christian but he was upright man, a Muslim – Koran 3:67). “Chúng ta tin Thiên Chúa và tin những gì đã được Thiên Chúa mặc khải cho Abraham và Ismael” (We believe in Allah and waht eas revealed to Abraham and Ismael – Koran 3:84).

    Nói tóm lại, tất cả các đạo thờ Chúa gồm có Do thái, Ki-tô và hồi đều dành nhau làm “con cái của Abraham” (The children of Abraham). Nhưng điều mỉa mai là từ nhiều thế kỷ qua đến nay, lịch sử của đám con cái Abraham luôn luôn là lịch sử của một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn liên miên bất tận! Vấn đề đựơc đặt ra 12 nguyên nhân nào đã dẫn đến sự nghi kỵ hận thù không thể hàn gắn giữa những người tự nhận là anh em cùng cha là Abrahan?

    Nhà khảo cổ chuyên về Thánh kinh (Biblical archaeologist) Tad Szulc, tác giả bài “Abraham, cuộc hành trình của niềm tin” (Abraham, Journey of faith) đăng trên tạp chí National geographic tháng 12/2001 (trang 90-129), đã trả lời một phần cho vấn đề nêu trên. Tác giả đến Jerusalem quan sát và chụp hình nhiều nhóm tín đồ độc thần. Tất cả đều dùng Thánh kinh như những kịch bản bi kịch (drama). Các người thuyế giảng đều tự coi mình như những diễn viên (actors). Lúc đầu các nhóm đều kể chuyện Thánh kinh giống nhau, nhưng về sau họ rẽ sang những chi tiết của câu chuyện khác nhau. Chính sự khác nhau về những chi tiết này đã làm các tôn giáo và các chủng tộc thù nghịch nhau, mặc dù tất cả đều cùng tôn vinh Abraham làm tổ phụ.

    Màn bi kịch được diễn nhiều nhất tại Jerusalem là chuyện Thiên Chúa dựng lên trời đất cạn vật trong 7 ngày, Chúa đuổi tổ tiên loài người là Adam và Eva ra khỏi vười Địa đàng, Chúa tạo nên trận Đại hồng thủy trong đời Noah. Con út của Noah là Shem sinh ra Terah. Terah sinh ra Abraham và Thiên Chúa ra lệnh cho Abraham thực hiện một sứ mạng lịch sử. Đến đây câu chuyện bắt đầu khác : Người Hồi giáo tin rằng sứ mạng lịch sử của Abraham đã được mặc khải cho loài người qua Muhammad thuộc dòng dõi Ismael, con của Abraham. Trong khi những người Do thái và Ki-tô giáo tin rằng họ được Thiên Chúa mặc khải và ban cho nhiều ân sủng thiêng liêng qua dòng dõi Jacob, con của Isaaac, tức cháu nội của Abraham.

    Đối với các nhà nghiên cứu tôn giáo đứng bên ngoài quan sát đều đưa ra nhận xét : Tất cả các chuyện kể trên đều là bịa đặt, đả đựơc viết ra để tự vinh danh bộ lạc của mình! (these stories are pure fiction, written for tribal self-glorification – Journey of faith, National Geographic 12/2001, page 90).

    Chúng ta hãy duyệt qua Kinh thánh Do thái và Kinh Koran của Hồi giáo để xem hai tôn giáo này đã xử dụng truyền thuyết Abraham để tôn vinh dân tộc của họ như thế nào. Cuối cùng, qua kết quả của các công trình khảo cổ, chúng ta sẽ có một giải đáp khoa học khách quan về truyền thuyết Abraham.

    1. Truyền thuyết Abraham qua Kinh thánh Cựu ước Do thái:

    Sách Sáng thế ký 11: 27-31 cho biết Abraham sinh tại thành phố Ur ở phía Nam xứ Babylon (nước Iraq hiện giờ). Căn cứ vào sự xác định này của Thánh kinh Cựu ước, vào đầu thập niên 1920 hàng ngàn nhà khảo cổ từ khắp mọi nới trên thế giới đã đổ xô đến Ur để khai quật tìm hiểu về sinh quán của Abraham. Ur là một nới tiều điều bụi bặm, khô cằn sỏi đá và không có một người nước nào cả. Hiện chỉ còn một số ụ đất hình kim-tự-tháp, một số ngọn tháp Zigguart được xây để thờ thần Mặt trăng (Sin) vào khoảng năm 2100 TCN (Trước Công nguyên). Toàn cảnh thành phố Ur rộng khoảng 120 mẫu (acres) được tạo dựng lên khoảng 5000 năm TCN. Thành phố Ur được khai quật đợt đầu trong thập niên 1920 và sau đó vào thập niên 1930, dưới sự lãnh đạo của nhà bác học khảo cổ trứ danh người Anh là Leonard Woolley.

    Các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại Ur nhiều ngôi mộ cổ của các vua chúa và di tích của nhiều dãy phố. Đặc biệt là những đồ trang sức bằng vàng, bạc và đá quý rất tinh xảo. Điều đó chứng tỏ Ur là một thành phố giàu có và đạt tới trình độ văn minh cao. Theo các giáo sư chuyên khảo cứu về văn minh Babylon thuộc trường Đại học Michigan thì Ur là thủ đô của vùng Lưỡng Hà châu (Mesopotamia) và là thương cảng của sông Euphrate sát gần với Vịnh Ba tư. Thành phố Ur có tới 12.000 dân và đạt tới điểm cực thịnh vào khoảng năm 2100 TCN.

    Sau đó, bờ biển của Vịnh Ba tư được đất bồi và tiến xa ra biển, đã để thành phố Ur ở lại phía sau cách bờ biển tới hơn một trăm dặm. Ur dần dần biến thành sa mạc hoang vu. Các công trình khai quật thành Ur không phải là vô ích vì nó đã đem lại cho các nhà khảo cổ hàng ngàn tấm đất sét phơi khô (sun-dried clay tablets) có những hàn chữ giống như nêm cối gọi là “Cuneiform”. Lối viết chữ này đã được phát minh từ năm 3200 TCN bởi giống người Sumerians là những cư dân đầu tiên ở vùng Lưỡng Hà châu này.

    Giáo sư Michalowski, chuyên viên khảo cổ về Luỡng Hà châu thuộc Đại học Michigan và là chủ bút tờ báo nghiên cứu về chữ Cuneiform (Kournal of Cuneiform Studies) cho biết : Thành phố Ur là trung tâm thương mại trong vùng Lưỡng Hà châu vào khoảng 2100 TCN, tương đương với thành phố Venice của Ý sau này vì tại UR người ta dùng nhiều thuyền bè chạy trên sông Euphrates, sông Tigris và nhiều sông đào thông qua các con sông lớn này. nếu Abraham là một nhân v6ạt có thật vào thời điểm này và nếu được đi học thì Abraham phải biết toán học, sử học, kế toán và văn chương của người Sumerians. Tại Ur có rất nhiều đền thờ thần Sin, tức thần Mặt trăng (The Moon God). Rất có thể những suy nghĩ về thần Mặt trăng đã dẫn Abraham đến ý tưởng thờ một Thiên Chúa duy nhất.

    Sác Sáng thế ký mô tả thành phố Ur thuộc xứ Chaldes là một điều sai lầm vì các nhà khảo cổ có đầy đủ bằng cớ xác nhận Chaldes là một địa danh xuất hiện ở vùng Lưỡng Hà châu vào thiên niên kỷ I TCN, tức sau thời đại của Abraham tới một ngàn năm.

    Giáo sư Do thái Finkelstein, chủ nhiêm ngành khảo cổ thuộc Đại học Tel Aviv, cho biết : “Trong 20 năm qua, khoa học khảo cổ đã trở thnàh một công cụ chính yếu để khảo cứu các giai đoạn quá khứ của Do thái Cổ. Sau nhiều năm nghiên cứu , ngành khảo cổ chưa xác định được có hay không có Abraham, nhưng sách Sáng thế ký (Genesis) viết về ông ta được ước tính đã được viết trong thế kỷ 7 TCN.” (National Geograpic, p.106-107). Như vậy, sách Sáng thế ký đã được viết để kể chuyện một nhân vật đã sinh ra trước đó tới 13 thế kỷ. Diều này cho thấy chuyện Abraham khó có thể là một chuyện thật.

    – Các tài liệu ghi chép bằng chữ Cuneiform ghi nhận vào khoảng năm 2000 TCN có một trận chiến tranh lớn gây ra bời giống người Elamite (tức Iran ngày nay) đến tàn phá thành phố Ur. Đây có thể là lý do khiến gia đình của Abraham phải dời đi nơi khác.

    – Từ thành phố Ur đến Canaan là cuộc hành trình dài 600 dặm (965 km). Nếu đi đường bộ với đoàn lữ hành có ngựa, lừa, lạc đà … củng phải mất nhiều tháng hặoc cả năm. Sáng Thế ký cho biết Abraham không đến th8ảng Canaan mà đến định cư tại thành phố Haran một thời gian. Thành phố Haran ngày nay là một ngôi làng thuộc Thổ nhĩ kỳ với 500 cư dân. Các ngôi nhà của dân làng này đều làm bằng đất sét giống như tổ ong. Thuở xa xưa, làng này là một thành phố thương mại sầm uất vì nó nằm trên bờ sông Balikh, phía Bắc thung lũng sông Euphrates và là ngã tư quan trọng của vùng Lưỡi Liềm Cận Đông (The firtile crescent of the Near East). Tại đây có nhiều đền thờ thần Mặt trăng giống như ở Ur. Dân cư trở nên thưa thớt vì khí hậu thay đổi càng ngày càng nóng. Hiện tại nhiệt độ trung bình ở đây lên tới 120 độ F.

    Điều đặc biệt đáng chú ý là ở giữa làng Haran có một ngọn đồi, trên đó có một căn nhà mà dân làng này tin rằng đó là căn nhà khá rộng lớn như nhà của những người khá giả. theo chuyện dân gian lưu truyến ở vùng này thì Abraham làm nghề chăn nuôi và thường bán lông cừu cho nông dân trong vùng để đổi lấy nông sản và thực phẩm.

    Những chuyện về Abraham ở Haran chỉ có thế nhưng cũng thu hút khá nhiều du khách từ những vùng lân cận đến bằng xe buýt (bus) vào cuối tuần để viếng thăm những “di tích” của Abraham !

    Ở gần làng Haran có thành phố Urfa cới dân số gần nửa triệu người. Từ xa xưa thành phố này đã được coi là sinh quán của Abraham. Hàng năm người ta tổ chức những đại hội lớn gọi là “Đại hội Abraham” thu hút rất đông du khách từ thập phương kéo tới.

    Truyền thuyết địa phương kể rằng : Abraham sinh ra trong một cái hang đá ở phía nam của thành phố Urfa. Khi mới sinh ra được một ngày, Abraham đã lớn bằng đứa trẻ đầy tháng và sau một năm, Abraham lớn bằng đứa trẻ 12 tuổi. Khi trưởng thành, Abraham đập nát các ảnh tượng của các thần cà khuyên mọi người chỉ thờ một Thiên Chúa mà thôi. Vua Nimrod ra lệnh nắt Abraham và xử tử bằng cách thiêu sống. Nhưng khi ngọn lửa mới bùng lên thì tự nhiên có một vòi nước đổ nước xuống dập tắt ngọn lửa và những thanh củi đang cháy biến thành những con cá, nhờ thế mà Abraham được cứu sống.

    Hiện nay, mỗi tuần có nhiều chuyến xe bus chở khách hành hương từ Iran qua viếng hang đá mà họ tin là nơi sinh của Abraham. Trước khi vào hang đá họ phải đi qua một ngôi đền Hồi giáo có một ngọn tháp nhỏ. Họ ở đây ít phút cầu nguyện Thượng đế trước khi vào viếng thăm hang đá, nơi sinh ra của Abraham, vị thánh tổ vĩ đại của tất cà các đạo thờ Chúa ! Đối với dân chúng ở khắp vùng này thì sinh quán của Abraham là Urfa chứ không phải Ur như sách Sáng thế ký của đạo Do thái đã nói. Dù cho Abraham sinh ra tại Ur hay Urfa cũng không quan trọng, điều quan trọng là sách Sáng thế ký (cuống sach đầu tiên của bộ Kinh thánh Do thái) đã mô tả chi tiết về Haran : Tại Haran, Chúa nói với Abraham hãy tiếp tục lên đường đi đến Đất hứa. Lúc đó Abraham đã 75 tuổi, vợ là Sarah đã 65 tuổi. Abraham lên đường cùng với vợ và người cháu trai tên là Lot. Họ mang theo nhiều tài sản gồm súc vật và đồ đạc. Từ haran đến đất hứa Canaan, Abraham phải đi qua nước Syria. Đất hứa Canaan chính là dải đất của xứ Ai cập. Sáng thế ký mô tả vùng Đất hứa Canaan “chảy ra sữa và mật” (flowing with milk and honey) ngụ ý miền đất này rất phì nhiêu. Trong thực tế vùng đất Canaan khô cằn sỏi đá nên từ hai ngàn năm trước Công nguyên đa số cư dân ở Canaan phải sinh sống bằng nghề buôn bán. Vì thế, từ thuở đó chữ “Canaanites” đã có nghĩa là thương gia (merchants).

    Sechem là tên của một thành phố cổ tại Trung đông đã có từ 2000 năm TCN, tọa lac ở phía tây sông Jordan. Nay thành phố mang tên Nablus, có 130.000 dân và đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền Palestine. Hiện tại thành phố này đang là một bãi chiến trường giữa Palestine và Do thái. Cũng như hàng ngàn năm về trước, nơi đây đã từng là chiến trường giữa hai dân tộc con cháu của Abraham : Do thái và Ả rập !

    Sách Sáng thế ký không nói Abraham ở tại thành phố Sechem bao lâu, chỉ nói Abraham đi về phía nam đến sa mạc Negrev. Ngày nay, vùng Negrev đã được dẫn thủy nhập điền nên nghề nông phát triển. Vào thời Abraham, mỗi khi gặp mùa hạn hán vùng này thường bị lâm vào nạn đói trầm trọng. Chính vì vậy Abraham đã phải bỏ Đất hứa Canaan để đi Ai cập. Nhờ có sông Nil và vùng đồng bằng phì nhiêu màu mỡ nên dân Ai cập có một cuộc sống no đủ thịnh vượng. Mục đích của Abraham đến Ai cập kiếm ăn để khỏi bị chết đói. Khi mới tới biên giới Ai cập , Abraham căn dặn Sarah (lúc đó 65 tuổi) : “Em là một người đàn bà đẹp, nếu em nói là vợ ta thì người Ai cập sẽ giết ta. Vậy em hãy nói là em gái của ta”. Quả nhiên, các cận thần của vua Pharaon thấy Sarah quá đẹp nên đã dẫn nàng “dinh” (“harem”) của nhà vua.

    Tại Canaan, Chúa lại hiện ra với Abraham và xác định lãnh thổ Đất hứa : “Ta sẽ cho dòng dõi của con lãnh thổ từ sông Nil của Ai cập đến sông Euphrates” (nay thuộc Iraq). Nhưng Abraham lo lắng nghĩ về tương lai vì hiện tại Abraham không có một đứa con nào cả. Abraham oán trách Chúa : “Chúa cho tôi những thứ đó để làm gì vì tôi già sắp chết rồi mà vẫn không có con?” (Oh my Lord, what can you give me when I am going to my end childless?). Chúa trả lời : “Con hãy nhìn lên bầu trời và đếm các vì sao. Dòng dõi của con sau này cũng sẽ đông như vậy”.

    Lúc đó, Sarah tin rằng mình không thể nào sinh con được vì đã 75 tuổi nên thuyết phục chồng ăn nằm cới cô đầy tớ gái Ai cập tên Hagar. ít lâu sau, Hagar sinh cho Abraham đứa con trai đầu lòng, đặt tên là Ismael. Khi có đứa con đầu lòng thì Abraham tròn 86 tuổi !

    Mười ba năm sau, tức vào lúc Abraham 99 tuổi, Chúa hứa với Abraham rằng ông ta sẽ là tổ phụ của nhiều quốc gia (father to a multitude of nations). Abraham và Sarah đều phá lên cười và hỏi lại Chúa “Có lẽ nào một ông già trên 100 tuổi và một bà già 90 tuổi sinh con?”. Đúng một năm sau, Sarah sinh ra một bé trai được hai vợ chồng đặt tên là Isaac, có nghĩa là tiếng cười (theo tiếng Hebrew). Sau khi có con, Sarah ghen với Hagar và Ismael nên thuyết phục Abraham đuổi họ ra khỏi nhà. Abraham đưa Hagar và Ismael đến một nơi trong sa mạc. Những người Hồi giáo tin rằng nơi đó chính là Mecca hiện nay.

    Sách Sáng thế ký kể tiếp : Sarah chết năm 127 tuổi tại Quiryat gần Hebron, Abraham đem xác vợ về chôn tại hang Machpelah, thuộc tỉnh Hebron ở gần Biển Chết (the Dead Sea).

    Sau đó, Abraham đến Haran kiếm vợ cho Isaac tên Rebekah. Cưới vợ cho con trai xong, Abraham đi Hebron để kiếm một cô vợ cho riêng ông, lúc này ông đã 137 tuổi. Cô vợ trẻ của Abraham tên Keturah sinh cho ông 6 đứa con. Sách Sáng thế ký cho biết Abraham chết vào năm 175 tuổi. Isaac va Ismael đem xác cha về chôn bên cạnh mộ của bà Sarah tai hang Machpelah. Ngày nay hang này là thánh địa của đạo Do thái va đạo Hồi.

    2. Truyền thuyết về Abraham trong đạo Hồi

    Truyền thuyết về Abraham trong đạo Hồi được thuật lại một cách sơ lược qua 25 câu thơ rải rác trong các chương khác nhau của kinh Koran:

    – Adam là tổ tiên của loài người và là vị tiên tri thứ nhất của Thiên Chúa (Koran 3:33)

    – Trận Đại hồng thủy tiêu diệt cả loài người, chỉ ngoại trừ những người và vật trên tàu của ông Noah được cứu thoát mà thôi. Noah là tiên tri thứ hai của Chúa (Koran 7:59-64)

    – Sau đó loài người sinh sôi nảy nở và thờ nhiều thần nhảm nhí nên Chúa cho tiên tri thứ ba xuất hiện, đó chính Abraham. Với sứ mạng lập đạo thờ một Chúa tức Độc thần giáo (Monotheism), Abraham chống lại cha ruột của minh là Azar (tức Terah) vì ông này làm ra rất nhiều tượng thần để tôn thờ. Abraham chất vấn cha : “Cha sẽ thờ những ảnh tượng này thay vì thờ Chúa sao? Hiển nhiên là cha và những người theo cha là những kẻ sai lầm!” ( Koran 6:74-84 ).

    Đạo Do thái và đạo Hồi đều tự nhận là đạo chân chính của Abraham vì không thờ ảnh tượng.ai đạo này kết án đạo Công giáo và Chính thống giáo là những tà đạo vì hai giáo phái Ki-tô này đều thờ rất nhiều ảnh tượng của Chúa và các thánh!

    Trong thế kỷ I, “thánh” Phao-lồ của Ki-tô giáo gọi Abraham là “tín đồ Ki-tô giáo trước Phúc âm” ( a Christian before Gospel). Đến thế lỷ 7, Muhammad gọi Abraham là “tín đồ hồi giáo trước kinh Koran” ( a Muslim before Koran ).

    Truyền thuyết của Hồi giáo về Abraham trong phần đầu cũng tương tự như trong sách Sáng thế ký của đạo Do thái. Nhưng từ khi bà Sarah nổi ghen và buộc Abraham phải đuổi hai mẹ con Ismael ra khỏi nhà thì câu chuyện bắt đầu đổi khác : Bà Hagar dẫn con đến một nơi ở sa mạc Syro-Arabia, nơi đó chính là địa điểm của thành phố Mecca, thủ đô của xứ Saudi Arabia ngày nay.

    Năm Ismael lên 13 tuổi, Abraham cắt da qui đầu của con trai và sau đó ông tự cắt da qui đầu của mình, mặc dầu lúc đó ông đã 99 tuổi. Đây là hành vi tỏ ý tuân phục Thiên Chúa tuyệt đối. Tục lệ cắt bì (circumcision) bắt đầu từ đó và dần dần biến thành một nghi lễ (tương tự như lễ rủa tội của Ki-tô giao) áp dụng cho mọi tín đồ nam giới của đạo Do thái và đạo Hồi.

    Khi Isamel trưởng thành, Chúa thử lòng Abraham bằng cách ra lệnh cho ông phải giết đứa con trai yêu quí của mình và đốt nó bằng củi lửa như những vật hy sinh khác ( Koran 37:102-112 ). Abraham tuân lệnh Chúa nên dẫn Ismael lên núi Arafat (cách Mecca 16 dặm) để giết. Nhưng khi Abraham vừa mới vung đao lên để giết con thì Thiên Chúa ngăn lại. Chúa hứa cho Ismael sau này trỏ thành tổ phụ của một dân tộc lớn. về sau, Ismael có 12 người con trai là tổ tiên của 12 giống dân Ả rập. (Điều này cũng tương tự như Kinh thánh Cựu ước Do thái chép rằng : cháu nội của Abraham là Gia-cóp có 12 con trai là tổ phụ của 12 bộ lạc Do thái. Kinh thánh Tân ước cũng chép : Chúa Jesus chọn 12 tông đồ để lãnh đạo 12 bộ lạc Do thái chứ không phải để truyền đạo khắp thế gian.)

    Trong thời gian bà Hagar và Ismael sống tại sa mạc, Abraham thường xuyên đến thăm. Giữa chốn sa mạc hoang vu này Chúa đã khiến cho một dòng nước từ dưới những lớp cát phun lên. Đó chính là giếng nước thiêng ở Mecca gọi là giếng Zamzam. Cả hai cha con Abraham đã cùng nhau xây một đền thờ Chúa đầu tiên trên trái đất. Đó chính là đền thờ Kaaba ở Mecca hiện nay. Tiếng Ả rập Kaaba có nghĩa là Tòa nhà hình khối (the Cubic Building). Ismael thọ 137 tuổi.

    Ngày nay, mỗi năm có tới hàng chục triệu người Hồi giáo từ khắp nơi trên thế giới đổ về Mecca hành hương. Địa điểm chính yếu là đền thờ Kaaba. Trước khi tới đền thờ này, người ta phải đi bộ qua các đại lộ Abraham, Hagar, Ismael và Muhammad. Sau đó, các khách hành hương đi thăm giếng nước Zamzam đã nuôi sống hai mẹ con Ismael ở sa mạc. Cuối cùng họ kéo nhau lên núi Arafat, cách Mecca 16 dặm, giết những con cừu làm lễ tế sinh (animal sacrifice offering) để tưởng niệm Abraham toan giết Ismael làm lễ hy sinh tế lễ Thiên Chúa !

    3. Quan điểm của Vatican về Abraham:

    Mặc dầu chỉ đọc qua những truyền thuyết về Abraham của đạo Do thái hay đạo Hồi, chúng ta cũng nhận thấy trong những câu chuyện có đầy dẫy những chi tiết huyền hoặc nhảm nhí. Tuy nhiên, Giáo hoàng John Paul II là người lãnh đạo tối cao của gần một tỉ tín đồ Công giáo tin rằng Abraham là một nhân vật có thật. Năm 1994, John Paul II công bố ý muốn làm một cuộc hành hương đến thành phố Ur để vinh danh thánh tổ phụ Abraham. Giáo hoàng tuyên bố : “Nếu không khởi đầu từ thành phố Ur thì mọi cuộc thăm viếng các vùng đất của Thánh kinh sẽ không thực hiện được, bởi vì mọi sự bắt đầu từ đó” (No visit to the lands of the Bible is possible without a start in Ur, where it all began – national geographic, 12/2001, page 98).

    Vatican đã vận động Saddam Hussein cho phép giáo hoàng đến thăm Ur vì thành phố cổ này hiện thuộc lãnh thổ phía nam của Iraq. Cuối năm 1999, Saddam Hussein dứt khoát bác bỏ lời yêu cầu của Vatican. Giáo hoàng bèn quyết định tổ chức một đại lễ tại đại giảng đường ở Vatican. Ngày 23-2-2000, 6000 người tụ họp tai đại giảng đường Vatican để dự đại lễ tưởng niệm Abraham do giáo hoàng chủ lễ. Nghi thức chủ yếu trong buổi lễ này là giáo hoàng châm lửa đốt một đống củi nhỏ trên bàn thờ để tưởng nhớ hành vi giết con của Abraham làm vật hy sinh tế lễ Thiên Chúa! Khói và mùi hương lan tỏa khắp đại giảng đường. Dĩ nhiên, đối với Do thái giáo và Ki-tô giáo, đứa con trai mà Abraham định giết để tế Chúa là Isaac chứ không phải Ismael. Bà Hagar và Ismael của Hồi giáo hoàn toàn bị quên lãng trong hai tôn giáo này.

    4. Quan điểm của cá nhà khoa học khảo cổ về Abraham

    Sách Sáng thế ký là sách đầu tiên của Bộ Thánh kinh Do thái đã chép : “Terah sinh ra Abraham tại Ur.” Các cuộc khai quật khảo cổ trong thế kỷ 20 đã xác định sự hiện hữu của thành phố Ur, nhưng các kết quả thu lượm được chứng tỏ Abraham chỉ là một nhân vật thần thoại.

    Cuộc khai quật thành phố Ur lần đầu tiên đuợc thực hiện năm 1917 bởi nhà khảo cổ trứ danh người Anh là Sir Leonard Wooley. Con số những hiện vật đào được rất nhiều và rất đa dạng khiến cho các nhà khoa học dễ dàng xác định được hạn tuổi và tìm hiểu các khía cạnh của đời sống người xưa. Báo National Geographic số tháng 5 năm 1999 đã viết về vấ đề như sau: “Những tài liệu khổng lồ thu thập được về những thành tựu của con người đã xác định được lịch sử của Lưỡng Hà châu, nơi sinh quán theo truyền thuyết của một nhân vật cả ba tôn giáo Do thái, Ki-tô giáo và Hồi”.

    “Nơi sinh quán theo truyền thuyết về Abraham là thành phố Ur đã bị bỏ hoang từ thế kỷ 4 trước Công nguyên do sự đổi dòng của con sông Euphrate khiến cho Ur bị vây hãm bởi sa mạc” (Traditional birthplace of Abraham, the city of Ur, was abandoned is the fourth century BC. after the Euphrate changed course, leaving Ur enclosed by desert).

    Các cuộc khai quật khảo cổ tại Ur và các vùng khác thuộc Babylon đã đem đến cho các nhà khoa học hàng chục ngàn tấm đất sét phơi khô có ghi chữ ‘Cuneiform’. Đó là những cuốn sách ghi chép đủ thứ, từ sử liệu, thơ văn, tôn giáo, tóan học, khoa học và rất nhiều chuyện thần thoại. Trong kho chuỵên thần thoại của thành phố Ur có chuyện về Abraham.

    Nhà khảo cổ Mellersh (tác giả Archeological Section của Bộ Đại từ diện Bách khoa Great Encyclopedic Dictionary) cho biết : Tại thành phố Ur có chuyện thần thoại về vị Thần đất Terah. Thần đất sinh con trai đặt tên là Abraham, có nghĩa là một vị nam thần (male god) và một con gái đặt tên là Sarai, có nghĩa là nữ thần (female god). Về sau hai người lớn lên, Abraham đã lấy em gái làm vợ.

    Năm 322 TCN, Hoàng đế Hy lạp là Alexander the Great chiếm Do thái và vùng Lưỡng Hà châu và thiết lập sự cai trị vùng này trong 180 năm (322 TCN – 152 TCN). Các chuyện thần thoại của Do thái và Lưỡng Hà châu đều được dịch sang tiếng Hy lạp và phổ biến tại Âu châu. ngôn ngữ la tinh đã mượn tên thần đất Terah (cha của Abraham) để làm nguyên ngữ cho dnah từ TERRA có nghĩa là đất. Sau đó, Pháp ngữ dùng chữ Terra làm nguyên ngữ cho danh từ của Pháp là La Terre. Như vậy, theo kết quả khảo cổ, Abraham chỉ là tên đọc trại ra từ tên thần thoại. Abraham trong chuyện thần đất Terah của thành phố Ur mà thôi. Abraham là một nhân vật không có thật.

    Chuyên gia Do thái về khảo cổ tại Đại hoc Tel Aviv tuyên bố : “Abraham là vấn đề không thể truy tìm được. Không có một bằng chứng nào về sự hiện hữu của ông ta. Đi tìm một nhân vật Abraham lịch sử còn khó hơn nhiều so với việc đi tìm một Jesus lịch sử. Điều quan trọng là chúng ta hãy giả định Abraham chỉ là một ý tưởng được nhân cách hóa mà thôi.” (Abraham is beyond recovery. Without any prooof of the patriarch’s existence, the search for a historical Abraham is even more difficult than the search for a historical Jesus. The important thing is to assess the meaning and legacy of the ideas of Abraham came to embody. National geographic Dec. 2001, page 96).

    Ý tưởng chính yếu của Abraham là “chỉ tôn thờ một Chúa mà thôi”. Nhà khảo cổ Tad Szule, tác giả bài viết “Abraham, cuộc hành trình của niềm tin” (Abraham Journey of faith – N. Geographic, Dec 2001) kết luận: ” Các tín đồ độc thần nói lên niềm tin của Abraham vao một Thiên Chúa, chính niềm tin đó đã làm thay đổi thế giới từ xưa tới nay” (They spell out his fundamenta belief that there is one Gos. That belief changed the world forever).

    Người đưa ra chủ thuyết “chỉ thờ một Chúa” có thể đã có một mục tiêu vĩ đại là thống nhất các bộ lạc, hoặc các dân tộc trong niềm tin một Thiên Chúa duy nhất.

    MỘT SỐ VẤN NẠN MÀ NGƯỜI CÔNG GIÁO PHẢI BIẾT 1. “Cựu Ước và Tân Ước trái ngược nhau ở nhiều chỗ. Nếu một Thiên Chúa toàn năng linh hứng Thánh Kinh, thì Ngài đã không để cho có sai lỗi.”

    Đây là một luận điệu thông thường, người ta có thể thấy khắp nơi trên Internet (nhất là những websites vô thần và tự do tư tưởng). Một bài trên website của Vô Thần ghi rằng “Điều lạ thường về Thánh Kinh không phải vì tác giả là Thiên Chúa; chính là những mâu thuẫn được bịa đặt vô nghĩa mà người ta có thể tin là được Thiên Chúa thượng trí viết ra.”

    Những câu như thế thường được kèm theo một danh sách những câu “mâu thuẫn” trong Thánh Kinh. Tuy nhiên, những điều cho là mâu thuẫn có ít sai lầm đơn giản. Thí dụ, người phê bình không đọc những sách khác nhau trong Thánh Kinh theo thể văn mà các sách đó được viết. Xét cho cùng, Thánh Kinh là một sưu tập nhiều loại văn tự… lịch sử, thần học, thơ phú, và khải huyền,vv…. Nếu chúng ta đọc các sách này cùng một cách cứng ngắc như chúng ta đọc báo ngày nay, thì chúng ta sẽ bị bối rối kinh khủng.

    Và danh sách “các mâu thuẫn” trong Thánh Kinh minh xác điều này. Thí dụ lấy điều đầu tiên trong danh sách Vô Thần của Mỹ:

    (Xh 20,8) so với “Hãy nhớ ngày Sabát, và giữ nó cách thánh thiện” “Người thì cho rằng ngày này trọng hơn ngày khác; người khác lại cho rằng ngày nào cũng như nhau. Vậy mỗi người phải xác tín trong thâm tâm mình” (Rm 14,5).

    Người vô thần la lên: Đó! rõ ràng là một mâu thuẫn. Nhưng phê bình gia quên không nhắc đến điều mà mọi Kitô hữu đều biết: Khi Đức Kitô thiết lập Giao Ước Mới, thì những đòi hỏi về nghi lễ của Giao Ước Cũ được làm trọn (và qua đi). Vì thế việc những luật lệ trong Cựu Ước về nghi lễ không còn được ứng dụng cho dân của Tân Ước là điều hoàn toàn hợp lý.

    Nếu nhà phê bình hiểu giáo lý đơn giản này của Kitô giáo, thì anh đã không mắc phải một lỗi sơ đẳng như thế.

    Những “mâu thuẫn” khác giữa Cựu và Tân Ước có thể được trả lời cách tương tự. Hầu như với điểm nào, nhà phê bình cũng bị lầm lẫn về mạch văn, không để ý đến thể văn, và không để dành chỗ nào cho việc cắt nghĩa cách hợp lý.

    Không một Kitô hữu biết suy nghĩ nào phải bối rối về những danh sách này.

    2. Kitô giáo không hơn gì các tín ngưỡng khác. Tất cả mọi tôn giáo đều dẫn đến Thiên Chúa.”

    Nếu bạn không nghe đến câu này vài chục lần, bạn không rút ra được bao nhiêu. Đáng buồn là những người nói lên điều này thường lại là Kitô hữu (ít ra trên danh nghĩa).

    Những trở ngại với quan điểm này thật không phức tạp gì cả. Kitô giáo đưa ra một chuỗi những lời xác nhận về Thiên Chúa và con người: Rằng chính Chúa Giêsu Nadareth là Thiên Chúa, và Người đã chết và sống lại – tất cả để chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi. Mọi tôn giáo khác trên thế giới phủ nhận tất cả những điều này. Cho nên, nếu Kitô giáo là đúng, thì đạo này nói cho thế gian biết một chân lý sống còn – một chân lý mà tất cả các tôn giáo khác phủ nhận.

    Chỉ điều này thôi đã làm cho Kitô giáo thành duy nhất.

    Nhưng nó không ngừng ở đó. Hãy nhớ lại lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng Thánh Gioan: “Thầy là đường, sự thật, và sự sống; không ai có thể đến với Chúa Cha, mà không qua Thầy.” Trong Kitô giáo, chúng ta có trọn sự mạc khải của Thiên Chúa cho nhân loại. Đúng là tất cả các tôn giáo chứa đựng một phần chân lý – số lượng thay đổi tùy theo tôn giáo. Tuy nhiên, nếu chúng ta khao khát mong muốn theo và thờ phượng Thiên Chúa, chúng ta có nên làm theo cách Ngài chỉ dạy không?

    Nếu Chúa Giêsu quả thực là Thiên Chúa, thì chỉ Kitô giáo chứa đựng hoàn toàn chân lý này.

    3. “Tôi không cần đến Nhà Thờ. Bao lâu tôi là một người tốt, chỉ có điều đó mới đáng kể.”

    Luận điệu này dược dùng thường xuyên, và rất gian xảo. Khi một người nhận mình là “người tốt,” người đó thật sự ám chỉ rằng họ “không phải là một người xấu.” – người xấu là người sát nhân, hiếp dâm, và trộm cắp. Phần đông người ta không cần cố gắng mấy để tránh các tội này, và đó là tư tưởng: Chúng ta muốn làm một số việc tối thiểu để được thông qua. Điều đó không giống Đức Kitô lắm, phải không?

    Nhưng bỏ qua trạng thái tâm lý đó, có một lý do quan trọng để người Công Giáo đến Nhà Thờ hơn là chỉ để thực hành việc đi thêm một dặm nữa. Thánh Lễ là viên đá góc của đời sống đức tin của chúng ta vì một điều nằm ở trọng tâm của nó: Bí Tích Thánh Thể. Đó là nguồn mạch của tất cả đời sống cho người Công Giáo, là những người tin rằng bánh và rượu trở nên Mình và Máu thật của Đức Kitô. Chứ không phải chỉ là biểu tượng của Thiên Chúa, nhưng là Thiên Chúa hiện diện cách thể lý với chúng ta bằng một phương thế mà chúng ta chỉ có thể cảm nghiệm được bằng cầu nguyện.

    Chúa Giêsu phán, “Thật, Ta bảo các người, trừ khi các người ăn thịt Con Người và uống máu Người, các người không có sự sống trong các người; ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6,53-54). Chúng ta tôn trọng lệnh của Chúa Giêsu và tin tường vào lời hứa của Người mỗi lần chúng ta đi dự Thánh Lễ.

    Hơn nữa, bí tích Thánh Thể, cùng với tất cả các bí tích khác, chỉ dành cho những người ở trong Hội Thánh. Là phần tử của Hội Thánh, nhiệm thể hữu hình của Đức Kitô trên thế gian, đời sống chúng ta liên hệ mật thiết với đời sống của người khác trong Hội Thánh. Liên hệ cá nhân của chúng ta đối với Thiên Chúa thật quan trọng, nhưng chúng ta cũng có nhiệm vụ sống như những phần tử trung thành của nhiệm thể Đức Kitô. Là “người tốt” mà thôi chưa đủ.

    4. “Bạn không cần phải xưng tội với một linh mục. Bạn có thể đến thẳng cùng Thiên Chúa.”

    Như một cựu mục sư Baptist, tôi có thể hiểu việc chống xưng tội của người Tin Lành (họ hiểu về chức linh mục một cách khác). Nhưng một người Công Giáo mà nói một điều như thế… thì thật là thất vọng. Tôi nghi rằng bản tính loài người là thế, người ta thường không thích nói cho người khác biết tội mình, nên đưa ra lý do để biện minh tại sao không làm thế…

    Bí Tích Giải Tội đã có với chúng ta từ đầu, từ chính Lời của Đức Kitô: “Chúa Giêsu lại bảo các ông, ‘Bình an cho các con! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con.’ Nói rồi, Người thổi hơi vào các ông và bảo các ông, ‘Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. Nếu các con tha tội cho ai, thì người ấy được tha; nếu các con cầm buộc ai, thì người ấy bị cầm buộc.'” (Ga 20,21-23)

    Nên ghi nhận rằng Chúa Giêsu ban cho các tông đồ quyền tha tội.. Tất nhiên, họ không biết phải tha tội nào nếu họ không được nói cho biết là tội nào chúng ta phạm.

    Việc xưng tội cũng được chứng minh trong thư thánh Giacôbê: “Có ai trong anh em đau ốm? Hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh, và hãy để họ cầu nguyện trên người ấy, xức dầu cho người ấy nhân danh Chúa; Và lời cầu nguyện do đức tin sẽ cứu người bệnh; và Chúa sẽ nâng người ấy dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha. Anh em hãy xưng tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được chữa lành. Vì lời cầu xin tha thiết của người công chính có hiệu lực rất lớn lao” (Gc 5,14-16)

    Điều đáng quan tâm là không có chỗ nào Thánh Giacôbê (hay Chúa Giêsu) bảo chúng ta là chỉ xưng tội với Thiên Chúa, nhưng các Ngài có vẻ nghĩ là ơn tha tội đến bằng cách xưng tội công khai.

    Và lý do thật dễ hiểu. Khi chúng ta phạm tội, chúng ta làm tổn thương không những mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa, mà còn với Nhiệm Thể Người, là Hội Thánh (vì tất cả mọi người Công Giáo nối kết với nhau như con cùng một Cha). Cho nên khi chúng ta xin lỗi, chúng ta phải xin lỗi tất cả mọi nhóm liên hệ – Thiên Chúa và Hội Thánh.

    5. “Nếu Hội Thánh thật sự theo Chúa Giêsu, thì đã bán các nghệ thuật, tài sản, và các công trình kiến trúc lãng phí, mà cho người nghèo.”

    Khi một người nghĩ đến thành Vatican, họ liên tưởng ngay đến một vương quốc giàu sang, với nơi ở như cung điện cho Đức Giáo Hoàng và các hòm đầy vàng cất ở các xó nhà, chưa kể đến các sưu tầm nghệ thuật và đồ cổ vô giá. Nhìn đến Vatican cách này thì dễ thấy tại sao một số người trở thành bực tức vì những điều họ nghĩ là sự khoe khoang tài sản cách phô trương và phí phạm.

    Nhưng sự thật thì hoàn toàn khác. Các dinh thự chính gọi là “Điện Vatican” không phải được xây làm chỗ ở xa hoa của Đức Giáo Hoàng. Thực ra, khu vực gia cư tương đối nhỏ. Phần lớn điện Vatican được dùng vào việc nghệ thuật, khoa học, điều hành công việc Hội Thánh, và điều hành chung của điện. Có một số đông nhân viên của Hội Thánh và hành chánh sống trong điện Vatican cùng ĐTC, làm cho nó thành trụ sở chính của Hội Thánh.

    Còn về những sưu tầm nghệ thuật, thực sự là sưu tập quý nhất trên thế giới, Vatican coi đó như một “kho tàng không thể thay thế được,” nhưng không phải về diện tài chánh. ĐTC không làm chủ những tác phẩm nghệ thuật này, và nếu ngài muốn, ngài cũng không được phép bán chúng; chúng chỉ được đặt dưới sự săn sóc của Toà Thánh. Các tác phẩm này không đem nguồn lợi đến cho Hội Thánh, mà ngược lại, Tòa Thánh phải đầu tư một số tài nguyên không nhỏ để bảo tồn các sưu tầm này.

    Sự thật của vấn đề này là Tòa Thánh có một ngân sách khá eo hẹp Nếu thế thì tại sao lại giữ những nghệ phẩm này? Vì tin vào một trong các sứ mệnh của Hội Thánh là một động lực truyền bá văn minh trong thế giới. Cũng như các thầy dòng thời trung cổ cẩn thận chép lại các sách cổ để cung cấp cho các thế hệ tương lai – nếu không thì những văn bản này không còn nữa – Hội Thánh tiếp tục bảo trì nghệ thuật để chúng không bị mai một với thời gian. Trong nền văn hóa sự chết ngày nay khi mà từ “văn minh” chỉ được dùng cách lỏng lẻo, sứ vụ truyền bá văn minh của Hội Thánh ngày nay còn quan trọng hơn bao giờ hết.

    6. Nếu giải thích đúng, Thánh Kinh không lên án đồng tính luyến ái. Nhưng đúng hơn là chống lối sống bừa bãi – dù là đồng tính hay giữa nam nữ. Vì vậy, chúng ta không có lý do để chống liên hệ tình yêu đồng tính.”

    Khi hành vi đồng tính luyến ái được chấp nhận rộng rãi hơn trong nền văn hóa của chúng ta, thì sẽ có nhiều áp lực hơn giữa các Kitô hữu để giải thích sự cấm đoán điều này cách tỏ tường trong Thánh Kinh. Hiện thời tiêu chuẩn của phe cấp tiến là cho rằng Thánh Kinh – khi hiểu đúng – không cấm những hành vi đồng tính.

    Nhưng luận điệu này hoàn toàn trái ngược với những câu rõ ràng trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Các câu đầu tiên dĩ nhiên là câu chuyện thời danh về Sođôm và Gômôra. Nếu bạn nhớ lại chuyện hai thiên sứ được Thiên Chúa sai đến thăm ông Lót (x. St 19,4-10).

    Thông điệp của đoạn này thật rõ ràng. Các người Sôđôm là người đồng tính luyến ái muốn liên hệ tính dục với những người thanh niên ở trong nhà. Ông Lót cho họ con gái ông, nhưng họ không thích. Ít giờ sau, Sôđôm bị Thiên Chúa thiêu hủy để đền tội dân chúng phạm – đó là các hành vi đồng tính luyến ái. Sự thật này được Tân Ước xác nhận: “Như Sôđôm, Gômôra và các thành lân cận cũng có cùng một thái độ như họ, buông tuồng trong việc tà dâm, và chạy theo những chuyện xác thịt trái tự nhiên, thì đã được dùng để làm gương, bằng cách chịu phạt trong lửa đời đời” ( Gđ 7).

    Nhưng không phải chỉ có những đoạn này trong Thánh Kinh lên án hành vi đồng tính. Cựu Ước còn có một câu khác lên án cách rõ ràng: “Ngươi không được nằm với đàn ông như nằm với đàn bà: đó là điều ghê tởm” (Lv 18,22).

    Và những câu này không chỉ được giữ trong Cựu Ước mà thôi. “Vì lý do đó mà Thiên Chúa đã để mặc họ theo dục tình đồi bại. Phụ nữ của họ đã đổi những liên hệ tự nhiên lấy những liên hệ trái tự nhiên. Đàn ông cũng thế, bỏ liên hệ tự nhiên với phụ nữ để nôn nao thèm muốn lẫn nhau. Đàn ông làm việc tồi bại với đàn ông, và như thế chuốc vào thân hình phạt xứng với sự suy đồi của họ” (Rm1,26-27).

    7. “Người Công Giáo nên theo lương tâm trong mọi sự… dù là phá thai, ngừa thai, hay phong chức thánh cho phụ nữ.”

    Nhưng điều đó không có nghĩa là lương tâm chúng ta không phải chịu trách nhiệm hay có thể gạt luật của Thiên Chúa ra ngoài. Đây là điều mà Giáo Lý gọi là có “một lương tâm được huấn luyện chu đáo.”

    Sách Giáo Lý trao cho lương tâm con người một trách nhiệm nặng nề: “Lương tâm luân lý, hiện diện trong lòng người, ra lệnh vào lúc thích hợp cho con người làm lành lánh dữ… Lương tâm chứng nhận quyền bính của chân lý bằng cách chiếu theo Sự Thiện Hảo tối thượng (Thiên Chúa), là Đấng mà con người được thu hút và đón nhận mệnh lệnh. Khi nghe theo tiếng lương tâm, người khôn ngoan có thể nghe tiếng Thiên Chúa đang nói” (số 1777).

    Nói cách khác, lương tâm chúng ta không phải chỉ là “cái gì chúng ta cảm thấy đúng”; mà là những gì chúng ta phán quyết là đúng dựa theo những điều chúng ta biết là giáo huấn của Thiên Chúa và Hội Thánh. Và để phán đoán, chúng ta có nhiệm vụ học hỏi và cầu nguyện rất cẩn thận về những giáo huấn này. Sách Giáo Lý có trọn một phần dành riêng cho việc huấn luyện lương tâm cách kỹ lưỡng – và nó quan trọng thế nào trong việc quyết định đúng.

    Và sau cùng, dù đúng hay sai, chúng ta vẫn chịu trách nhiệm về việc chúng ta làm: “Lương tâm giúp chúng ta gánh nhận trách nhiệm đối với việc chúng ta làm” (số 1781). Khi được đào luyện đúng, nó giúp chúng ta thấy khi nào chúng ta làm sai và cần được tha thứ tội lỗi chúng ta.

    Bằng cách cố gắng để có một lương tâm được đào luyện hoàn toàn, chúng ta thật sự cảm nghiệm được sự tự do lớn lao, vì chúng ta được lôi cuốn lại gần chân lý vô cùng của Thiên Chúa. Nó không phải là một gánh nặng hay là một cái gì ngăn cản chúng ta làm điều chúng ta thích; nhưng là một sự hướng dẫn giúp chúng ta làm những gì là đúng. “Việc giáo dục lương tâm đảm bảo sự tự do và đem lại bình an trong tâm hồn” (số 1784).

    8. Phương Pháp Tự Nhiên chỉ là một cách ngừa thai của Công Giáo.”

    Phương Pháp Tự Nhiên (PPTN) có kẻ thù mọi mặt. Có người tin rằng đó là một cách ngừa thai khác thiếu thực tế (mà cách nào họ cũng không cho là có tội) trong khi người khác lại cho rằng nó cũng xấu chẳng khác gì ngừa thai. PPTN phải đi giữa ranh giới của hai cực đoan.

    Trước nhất, vấn đề chính của việc ngừa thai là nó ngược lại với bản chất của cơ thể chúng ta – và cách chung sự tự nhiên. Mục đích của nó là tách rời hành động (tính dục) ra khỏi hậu quả (có thai), chính là hạ sự thánh thiện của tính dục xuống thành sự theo đuổi lạc thú thuần túy.

    Những người khác nghĩ rằng dùng bất cứ phương thức nào để giới hạn số con trong gia đình là đóng vai Thiên Chúa, hơn là để Ngài cung cấp cho chúng ta như Ngài thấy cần. Đúng là chúng ta phải tin tưởng vào Thiên Chúa và luôn chấp nhận sự sống Ngài ban cho chúng ta, nhưng chúng ta không phải hoàn toàn buông xuôi về phương diện này.

    Thí dụ, thay vì phung phí tiền bạc lung tung và nói rằng “Thiên Chúa sẽ cung cấp,” các gia đình cẩn thận dự trù ngân sách tài chánh và cố gắng không tiêu xài quá khả năng của mình. PPTN cũng giống như ngân sách đó, giúp chúng ta suy nghĩ đến hoàn cảnh của chúng ta trong cuộc đời và hành động theo đó trong tinh thần cầu nguyện. Biết mình và dùng trí khôn cùng ý chí tự do, thay vì thụ động mong chờ Thiên Chúa lo liệu mọi sự, là một phần của bản tính con người. Chúng ta được mời gọi để trở nên những người quản lý tốt các hồng ân Chúa ban; chúng ta phải cẩn thận đừng coi thường các ân huệ này.

    Những đoạn sau nói rõ: “Sự sống con người phải được tôn trọng và bảo vệ cách tuyệt đối từ giây phút thụ thai” (số 2270). “Ngay từ thế kỷ thứ nhất Hội Thánh đã xác nhận sự dữ về luân lý của mọi cuộc phá thai cố tình. Giáo huấn này không thay đổi và sẽ không bao giờ thay đổi” (số 2271). “Hợp tác chính thức vào việc phá thai là tội trọng. Hội Thánh gán hình phạt vạ tuyệt thông cho các tội phạm đến sự sống con người” (số 2272).

    Đó là lại là luận “điều đúng cho bạn có thể không đúng cho tôi” mà thôi. Hội Thánh cũng có câu trả lời cho lập luận này: “Những quyền bất khả xâm phạm của con người phải được xã hội dân sự và chính quyền nhìn nhận và tôn trọng. Những quyền này không lệ thuộc vào các cá nhân, hay cha mẹ, cũng không phải là một nhân nhượng của xã hội và của quốc gia, nhưng thuộc về bản tính con người và gắn liền với con người do chính hành động sáng tạo của Thiên Chúa mà từ đó sinh ra con người” (số 2273).

    Tính linh thiêng của sự sống là một chân lý phổ quát không thể coi thường được. Khuyên ai phá thai, hay ngay cả bỏ phiếu cho các chính trị gia cổ võ việc phá thai, là một tội trọng, vì nó đưa người khác đến tội trọng – là điều mà Sách Giáo Lý gọi là làm gương mù (số 2284).

    Hội Thánh mạnh dạn và dứt khoát chống phá thai, và chúng ta là người Công Giáo cũng phải khẳng định lập trường của chúng ta như thế.

    MỤC LỤC THÁNH KINH NHẬP MÔN Dẫn nhập

    CHƯƠNG I. CÁC KHÁI NIỆM

    A. Khái niệm về mặc khải (mạc khải).

    1. Định nghĩa.

    2. Mặc khải và Kitô Giáo.

    3. Cách thức mặc khải.

    4. Các nguồn mặc khải.

    5. Phân loại mặc khải.

    B. Khái niệm về linh hứng và vô ngộ.

    2. Các tác giả Thánh Kinh.

    C. Khái niệm về giao ước. I, Định nghĩa.

    1, Cấu tạo Kinh Thánh.

    2, Định nghĩa giao ước.

    3. Giao ước cũ và giao ước mới.

    II. Các nguồn tài liệu.

    1. Các sách luật (ngũ kinh).

    2. Văn chương ngôn sứ.

    3. Các sách khôn ngoan.

    CHƯƠNG II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ THÁNH KINH.

    1, Ngôn ngữ, chất liệu chép Thánh Kinh.

    2. Vấn đề quy điển Thánh Kinh.

    4. Các chủ thuyết.

    5. Thánh Kinh và thời gian.

    6. Ngày tháng trong Thánh Kinh.

    7. Các ngày lễ.

    8. Ý nghĩa các con số trong Thánh Kinh.

    CHƯƠNG III. CHÚ GIẢI THÁNH KINH.

    1. Định nghĩa.

    2. Khảo sát bản văn.

    3. Các hình thức văn chương.

    4. Ý nghĩa trong Thánh Kinh.

    5. Phương pháp nghiên cứu lịch sử.

    6. Vai trò của Giáo Hội.

    CHƯƠNG IV. LƯỢC SỬ CÁC GIAI ĐOẠN THÁNH KINH.

    I. Niên biểu giản lược.

    II. lược sử Do Thái.

    III. Các thời đại.

    1. Thời nguyên thuỷ.

    2. Thời các bộ tộc.

    3. Thời nô lệ và xuất hành.

    4. Thời lập quốc.

    5. Thời quân chủ.

    6. Thời phân tranh nam bắc.

    7. Thời lưu đày.

    8. Thời hồi hương.

    11. Thời phát sinh Kitô Giáo.

    Đừng phạm tội sát nhân.

    Đừng phạm tội ngoại tình.

    Đừng ăn trộm.

    – Không được cắt bì.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Của Sách Khải Huyền Là Gì?
  • Tìm Hiểu Về Sách Bộ Luật Lao Động Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Thi Trực Tuyến Tìm Hiểu Bộ Luật Lao Động Năm 2022
  • Tìm Hiểu Chi Tiết Từ A
  • Tìm Hiểu Cơ Bản Về Hộp Số Tự Động Trên Ô Tô
  • Sách Kinh Doanh Hay Nên Đọc? Tìm Hiểu Về Kinh Doanh

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Cuốn Sách Những Người Kinh Doanh Nên Đọc Trước Tuổi 30
  • Tìm Hiểu Về Xu Hướng Kinh Doanh Siêu Thị
  • Tìm Hiểu Về Những Kiến Thức Cơ Bản Kinh Doanh Bất Động Sản
  • Tìm Hiểu Về Chi Phí Trong Sản Xuất Kinh Doanh
  • Lý Luận Chung Về Sản Xuất Kinh Doanh Và Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh
  • Top 11 quyển sách nên đọc ít nhất một lần nếu mong muốn mua bán và khởi nghiệp thành công:

    1. Dạy Con làm Giàu – Robert T. Kiyosaki

    2. tuyệt chiêu tư duy Triệu Phú – chúng tôi Eker

    3. Cha Giàu Cha Nghèo – Robert T.Kiyosaki – Sharon L.Lechter

    4. Từ Tốt Đến Vĩ Đại – Jim Collins

    5. Để thiết lập doanh nghiệp kết quả – Michael E. Gerber

    6. khác Biệt Để Bứt Phá – David Heinemeier Hansson, Jason Fried

    7. phương thức Để tạo dựng Cơ Nghiệp Bạc Tỷ – Adam Khoo

    8. Kinh Điển Khởi Nghiệp – Bill Aulet

    9. quốc gia Khởi Nghiệp – Saul Singer, Dan Senor

    10. 13 quy tắc Nghĩ Giàu làm Giàu – Napoleon Hill

    11. hoàn thiện Mọi Việc k Thể Khó – David Allen

    Dạy Con làm Giàu

    Người giàu không sử dụng việc vì tiền. Họ bắt tiền làm việc cho họ. chấp nhận fail là bước đầu của thành công? Quyền lực của sự lựa chọn! Những bài học k có trong nhà trường.

    Hãy tính từ lúc hôm nay “để không có tiền luôn luôn xây dựng tiền”.

    Bộ sách Dạy Con sử dụng Giàu là một trong những quyển sách kinh doanh hay nhất bạn nên đọc trước tiên nếu có ý định bước chân vào con đường mua bán. Bởi điều cốt yếu bạn cần nhớ rằng: “Người giàu k sử dụng việc vì tiền.”

    Tập 1: Để k Có Tiền vẫn tạo ra Tiền

    Tập 2: sử dụng Đồng Vốn

    Tập 3: hướng dẫn Đầu Tư

    Tập 4: Con Giàu Con thông minh

    Tập 5: Để Có Sức Mạnh Về Tài Chính

    Tập 6: Những Câu Chuyện thành công

    Tập 7: Ai đang get tiền tài Tôi

    Tập 8: Để Có Những Đồng Tiền Tích Cực

    Tập 9: Những bí mật Về tiền nong Mà Bạn k Học Ở Trường

    Tập 10: Trước Khi Bạn Thôi Việc

    Tập 11: Trường Dạy kinh doanh Cho Những Người thích thay đổi người xung quanh

    Tập 12: Lời Tiên Tri Của Người Cha Giàu

    Tập 13: Nâng Cao Chỉ Số IQ Tài Chính

    bí mật tìm hiểu Triệu Phú

    “Người giàu nghĩ họ xây dựng cuộc đời. Người nghèo nghĩ cuộc đời toàn những việc ngạc nhiên xảy đến với tôi.”

    Người giàu: Ngưỡng mộ người sự phát triển và giàu tài nguyên khác. Người nghèo: Bực tức với những ai sự phát triển và giàu có.

    Người giàu: Kết giao với người tích cực và thành công. Người nghèo: Giao du với người tiêu cực hoặc fail.

    Người giàu: chuẩn bị tôn vinh chính mình và trị giá của họ. Người nghèo: suy nghĩ tiêu cực về bán hàng, quảng bá.

    Người giàu: chọn được trả công theo hiệu quả. Người nghèo: chọn được trả công theo thời gian.

    Cha Giàu Cha Nghèo

    Một cuốn sách giúp bạn biết được nền móng và chìa kiềm hãm để trở nên màu mỡ. Một quyển sách sử dụng bàn đạp để bạn biết rằng, dấn thân vào con đường kinh doanh chính là khám phá một cuộc sống hoàn toàn mới.

    Ba bài học mà bất kì nhà kinh doanh nào trước khi khởi nghiệp cũng nên cần kiểm soát: Hãy bắt đồng tiền của bạn làm việc, đừng để xúc cảm phá hủy nền tảng thành công và cần bổ sung kiến thức tài chính.

    Cha giàu, cha nghèo sẽ chỉ cho bạn nắm rõ được điều đó, sẽ giúp bạn nhận ra chính mình trước trị giá của đồng tiền và quyết định khả năng kiếm tiền.

    Tổng thể, đây là cuốn sách có ích cùng tiến cùng bạn trên con đường mua bán của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mở Shop Quần Áo Chuẩn Bị Những Gì, Có Cần Giấy Phép Kinh Doanh?
  • Kinh Nghiệm Kinh Doanh Sơn
  • Những Điều Cơ Bản Cho Bước Đầu Trong Quá Trình Tìm Hiểu Về Ngành Spa
  • Tìm Hiểu Về Các Bước Kinh Doanh Spa Và Thẩm Mỹ Viện
  • Dịch Vụ Làm Giấy Phép Kinh Doanh Rượu Tại Quận 1
  • Tìm Hiểu Về Đất Nước Israel, Vùng Đất Của Kinh Thánh

    --- Bài mới hơn ---

  • 12 Cách Người Israel Thay Đổi Nền Nông Nghiệp Thế Giới (P1)
  • Nông Nghiệp Israel: Phép Màu Trên Hoang Mạc
  • Nền Nông Nghiệp Israel Kỳ Tích Trên Hoang Mạc Khô Cằn
  • Gd Cd: Stgt Tìm Hiểu Về Tcct Các Nước Asean
  • Thành Tựu Và Định Hướng Phát Triển Của Việt Nam Trong Trụ Cột Cộng Đồng Kinh Tế Asean
  • Israel là một đất nước của người Do Thái, xứ sở của kinh thánh bản sắc văn hóa, dân tộc và tôn giáo đã được hình thành vào khoảng 4000 năm trước. Ở quốc gia này sự hiện hữu thực thể của người Do thái đã được duy trì trong nhiều thế kỷ, thậm chí ngay cả sau khi phần lớn người Do thái bị bắt ép lưu đày. Với sự thành lập Nhà nước Israel vào năm 1948, nền độc lập của người Do thái đã được khôi phục sau khi bị mất 2000 năm trước. Trong bài viết hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về đất nước Israel, Vùng đất của Kinh Thánh.

    Tìm hiểu về đất nước Israel

    Khí hậu

    Đất nước Israel có đặc điểm là nhiều nắng, mùa mưa diễn ra từ tháng 11 đến tháng 4. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 20 đến 30 insơ tại phía bắc, cho đến dưới nửa insơ xa xuống phía nam. Điều kiện khí hậu giữa các vùng khác nhau rõ rệt như trong khi tại vùng đồng bằng ven biển có mùa hè nóng ẩm, muà đông ôn hòa và ẩm ướt thì tại vùng đồi núi có mùa hè khô ấm áp và mùa đông khá lạnh cùng với mưa.

    Nhờ sự đa dạng về khí hậu Israel có sinh thái động thực vật phong phú với hơn 500 loài chim, khoảng 200 loài bò sát và động vật có vú, và có 2.600 loài cây cỏ. Với hơn 150 khu bảo tồn thiên nhiên và có 65 công viên quốc gia với diện tích gần 1,000 km vuông trên toàn đất nước. Hiện nay quốc gia này đang có những dự án sử dụng các nguồn mới khác như tạo ra mưa từ mây, tái chế sử dụng nước thải và khử độ mặn trong nước biển để sử dụng. Ở Israel khan hiếm nước đã tạo ra nỗ lực cấp bách với mục đích tối đa hóa việc sử dụng những nguồn cung sẵn có và tìm thêm các nguồn nước mới.

    Giới thiệu về kinh tế thị trường của Israel​

    Israel nằm tại khu vực Trung Đông có tổng diện tích khoảng 20.770 km2, dân số có khoảng 7,2 triệu người, trong đó có 76,4% là người Do Thái, còn lại là những dân tộc khác. Tiếng Do thái (Hebrew) là ngôn ngữ chính thức của quốc gia này, ngoài ra tiếng A-rập và tiếng Anh cũng được sử dụng một cách rộng rãi. Về tài nguyên khoáng sản, Israel có rất ít, chỉ có một lượng ít potash, quặng đồng, phốt-phát dạng đá, bromide ma-nhê, đất sét…

    Về kinh tếvào năm 2007, GDP của Israel đã tăng 5,4% và đạt 195 tỷ USD, thu nhập bình quân dựa trên đầu người đạt 28.800 USD. Kim ngạch xuất khẩu đạt mức 48,6 tỷ USD, với những mặt hàng là phần mềm, kim cương, máy móc thiết bị, sản phẩm nông nghiệp, hóa chất, hàng may mặc,… Kim ngạch nhập khẩu đạt mức 52,8 tỷ USD với những mặt hàng là hàng tiêu dùng, dầu mỏ, hạt giống, sắt thép thô, trang thiết bị quân sự, kim cương thô…Nền kinh tế của Israel phát triển mạnh theo cơ chế thị trường, dựa vào những ngành công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ. Cơ cấu kinh tế bao gồm: nông nghiệp là 1,6%, công nghiệp là 30,8%, dịch vụ là 67%. Nông nghiệp của Israel phát triển mạnh với ứng dụng công nghệ sinh học hàng đầu trên thế giới.

    Vào ngày 12/7/1993 Việt Nam và Israel đã thiết lập quan hệ ngoại giao. Củng trông tháng 12 năm đó Israel mở Đại sứ quán tại Hà Nội.

    Văn hóa và tôn giáo

    Israel được biết đến là quê hương lịch sử của người Do Thái xứ sở của Kinh Thánh, thuộc khu vực Trung Đông, nằm dọc theo bờ đông của Địa Trung Hải, và là một phần của cầu lục địa nối ba châu lục với nhau: châu Á, châu Phi và châu Âu.

    Người Do Thái đã phát triển một nền văn hoá và tôn giáo đặc trưng của họ vào khoảng 4.000 năm trước. Trong cuộc hành trình đến với vùng đất thánh lịch sử hình thành những dòng tôn giáo lớn nhất của nhân loại là Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Thành phố Jerusalem của Israel vẫn luôn thu hút du khách đến từ khắp nơi trên thế giới.

    Jerusalem, vùng đất này được xem như là thánh địa thiêng liêng của hơn 1/3 dân số trên toàn thế giới. Khoảng 91% dân số Israel tập trung sống tại các trung tâm thành phố. Một số khác tập trung ở các địa danh cổ nổi tiếng và mang tên gốc như Nazareth, Ashkelon, Akko, Jerusalem, Be’er Sheva, Safed và Tiberias. Đến với Israel chúng ta sẽ thấy hầu hết những khu nhà tại thành thị được xây dựng chủ yếu bằng đá, bê tông khối, vữa stucco và kiểu dáng thì rất đa dạng. Hầu hết những khu dân cư thường tách biệt hẳn với những khu công nghiệp và thương mại, với công viên rộng rãi thoáng mát và một loạt những sân chơi nằm trong giới hạn của thành phố. Trãi qua hàng ngàn năm các tín đồ Kitô giáo trên thế giới đã coi Jerusalem là nơi hình thành lên tôn giáo của họ, vì đây chính là nơi đã chứng kiến những giây phút cuối cùng và phục sinh của đức Chúa Jesus. Jerusalem là thành phố linh thiêng thứ ba nằm sau thánh địa Mecca và Medina.

    Khám phá Israel​

    Đến Israel không nên bỏ qua thành cổ Jerusalem, đặc biệt là Bức tường than khóc di tích còn sót lại ở phía tây của đền thánh Jerusalem, sau khi bị tấn công và tiêu huỷ bởi quân La Mã vào năm 70 sau Công nguyên. Đây được cho là vô cùng đặc biệt vì người ta có thể chứng kiến những tín đồ của mọi tôn giáo cùng cầu nguyện và hôn lên “Bức tường than khóc” dưới bầu không khí thiêng liêng.

    Thăm cây ôliu và giếng nước ngọt có 2.000 năm tuổi, thăm cảnh đẹp trên lưng lạc đà với mức giá 3 USD. Ngắm nhìn những mái vòm và những ngôi nhà đá vôi tại Jerusalem vàng rực và lấp lánh trong hoàng hôn thì chúng ta sẽ hiểu vì sao mảnh đất này lại có sức thu hút kỳ lạ đến thế. Hàng trăm ngàn người trong thời gian qua đã đến thăm Jerusalem, để được sống, được nếm trải cảm xúc vô tận từ vùng đất thánh huyền thoại, linh thiêng và huyền bí xa xưa này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Quốc Gia Israel?
  • Israel: Một Đất Nước Thần Kỳ
  • Tìm Hiểu Israel Và Dân Tộc Do Thái
  • Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (Asean)
  • 3 Resort Hội Nghị Tốt Nhất Gần Hà Nội
  • Tìm Hiểu Chính Sách

    --- Bài mới hơn ---

  • Cuộc Thi Trực Tuyến “Tìm Hiểu Pháp Luật Về Bảo Vệ Môi Trường Và Quy Tắc Ứng Xử Gắn Với Bảo Vệ Môi Trường” – Thcs Nguyễn Trường Tộ
  • Bộ Tư Pháp Tổ Chức Cuộc Thi Tìm Hiểu Pháp Luật Trực Tuyến “Pháp Luật Với Mọi Người”
  • Cuộc Thi Trực Tuyến “tìm Hiểu Pháp Luật Về Bầu Cử”
  • Phú Yên Tổ Chức Cuộc Thi Trực Tuyến “Tìm Hiểu Pháp Luật Về Bầu Cử”
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 6
  •  

    Hỏi: Tôi nhập ngũ năm 1978, trực tiếp tham gia chiến đấu tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, sau đó về phục viên ngày 30/5/1985. Tiếp đó, tôi tham gia Công an xã với thời gian công tác 4 năm 7 tháng. Vậy, trường hợp của tôi có được tính hưởng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ không và thời gian công tác tại Công an xã có được tính nối để hưởng chế độ không?

    Trả lời: Tại Điều 4 Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định cách tính thời gian hưởng chế độ như sau: Thời gian tính hưởng chế độ đối với quân nhân là thời gian thực tế công tác trong Quân đội; đối tượng là Công an xã thời gian tính hưởng chế độ là thời gian trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Trường hợp, đối tượng có thời gian trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế thuộc các nhóm đối tượng khác nhau hoặc có gián đoạn thì được cộng dồn.

    Căn cứ quy định nêu trên, nếu thời gian tham gia Công an xã, ông có trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở địa bàn và thời gian theo quy định thì được cộng thời gian công tác trong Quân đội với thời gian tham gia Công an xã có trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc để tính hưởng chế độ. Nếu thời gian tham gia Công an xã không trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thì ông chỉ được tính hưởng chế độ đối với thời gian thực tế công tác trong Quân đội từ năm 1978 đến tháng 5/1985.

    Phòng NCTH/Cục Chính sách

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngày Mai, 20/10 Bắt Đầu Cuộc Thi Tìm Hiểu Pháp Luật Trực Tuyến “pháp Luật Với Mọi Người”
  • Thể Lệ Cuộc Thi “Tìm Hiểu Pháp Luật Trực Tuyến Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Bình Năm 2022” Đợt 2
  • Triển Khai Cuộc Thi Trực Tuyến “Tìm Hiểu Kiến Thức Pháp Luật Cho Đoàn Viên, Thanh Thiếu Niên”
  • Phú Yên Tổ Chức Cuộc Thi Trực Tuyến ‘tìm Hiểu Pháp Luật Về Bầu Cử’
  • Hội Thi Tuyên Truyền, Tìm Hiểu Pháp Luật Về Phòng Chống Tội Phạm Và Tệ Nạn Xã Hội Trong Đoàn Viên, Thanh Thiếu Niên” Năm 2022
  • Tìm Hiểu Hội Dòng Mến Thánh Giá

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Các Đặc Ngữ Của Dòng Mến Thánh Giá Xưa
  • Hội Dòng Mến Thánh Giá
  • Tìm Hiểu Các Đặc Ngữ Của Dòng Mến Thánh Giá Xưa: Bà Mụ, Câu Rút, Cu Rút, Chị Ả, Dòng
  • Tìm Hiểu Về Docker (Phần1)
  • Giới Thiệu Về Docker Làm Quen Với Docker Tạo Container
  • Tháng 03 năm 1997, một số chị em Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn (Cộng đoàn 42 Tú Xương) cùng một nhóm sinh viên Trường Sư Phạm Kỹ Thuật đã quy tụ hai nhóm trẻ lượm ve chai ở khu vực đường Bùi Đình Túy, quận Bình Thạnh thành một “lớp học tình thương Xóm Cống”.

    Không lâu sau đó, các chị em Nữ Tử Bác Ái đồng hành với lớp học này lại nhận ra một nhu cầu khác từ chính các bạn sinh viên phụ trách lớp tình thương: các bạn cần được trau dồi thêm kiến thức về tâm lý, văn hóa, xã hội,.. Vì vậy, nhận được sự đồng hành và khích lệ của Soeur Giám tỉnh Besatrice Nguyễn Thị Mỹ, ngày 13/11/1997, một nhóm gồm 60 anh chị em sinh viên được quy tụ tại 42 Tú Xương để lắng nghe buổi thuyết trình đầu tiên về “Các tệ nạn xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh”. Bắt đầu từ đây, mỗi tháng một lần, vào Chúa Nhật, cùng với nhóm anh chị em sinh viên trên, có thêm các bạn khác tìm đến 42 Tú Xương để gặp gỡ giao lưu và nghe thuyết trình các chuyên đề.

    Tháng 11/1999, Nhóm có sự hiện diện của hai Thầy Dòng Đa Minh là Thầy Vinh Sơn Martinô Phạm Đình Chiến O.P. và Micae Nguyễn Trung Hiếu O.P. Cũng trong thời gian này, lần đầu tiên, Nhóm có một đại diện chính thức là anh Giuse Nguyễn Minh Tuấn.

    Ngày 01/01/2000, Nhóm hình thành tên gọi “Sinh viên Nữ Vương Hòa Bình” và xin nhận Đức Maria là Đấng Bảo Trợ. Hoạt động và tổ chức Nhóm chặt chẽ và mở rộng hơn nhờ sự điều phối của Ban Đồng Hành (gồm các Soeur Nữ Tử Bác Ái và các Thầy Đa Minh), Ban điều hành (gồm một số bạn sinh viên) và các bạn cộng tác viên. Kể từ đây, Nhóm được biết đến như là một “sân chơi” dành cho các bạn sinh viên đến từ các trường Đại học và Cao Đẳng tại thành phố Hồ Chí Minh, không phân biệt văn hóa – tôn giáo – tín ngưỡng.

    Đây cũng là những năm đầu tiên Nhóm tổ chức trung thu và mùa hè xanh. Đặc biệt, năm 2001, thầy đồng hành Vinh Sơn Martinô Phạm Đình Chiến O.P. được trao tác vụ linh mục. Từ đây, Nhóm bắt đầu có cha linh hướng cùng đồng hành.

    Dấu ấn trong thời gian này là sự ra đời của trang Web nhóm http://nvhb.net/ nhằm cập nhật, lưu trữ thông tin về các sinh hoạt Nhóm, gửi gắm tâm tình giữa các thành viên.

    Những hoạt động nổi bật và thiết thực nhất, thu hút khá nhiều thành viên tham gia là chiến dịch “Mùa hè xanh” và trại AGAPÉ cũng mang về nhiều cảm xúc, trở thành những “đặc sản” rất riêng cho NVHB.

    Chặng đường hình thành và phát triển của Nhóm từ những ngày đầu đến nay có nhiều sự biến động nhưng với sự nhiệt tình, gắn bó, yêu thương, các thế hệ trong Gia Đình NVHB vẫn luôn đồng hành cùng nhau để hành trình phát triển của Nhóm còn vươn cao, vươn xa hơn nữa.

    Mời gọi các bạn sinh viên nhiệt tâm mong muốn chia sẻ với nhau về trách nhiệm học tập, về đời sống ơn gọi Kitô hữu và sống có ích trong môi trường xã hội hôm nay, đặc biệt trong môi trường đại học.

    Thông qua các hoạt động của Nhóm, các bạn sinh viên cũng có cơ hội giúp đỡ nhau hoàn thiện bản thân, cùng nhau trao đổi kiến thức làm hành trang cho cuộc sống.

    Đặc biệt, thông qua các hoạt động xã hội, các bạn sinh viên được mời gọi đến với những cảnh đời còn thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần trong xã hội để thấu hiểu và đồng cảm với họ. Nhờ vậy, các bạn sẽ được cảm nhận nhiều hơn nữa ý nghĩa của hành trình học làm người, học “sống cùng và sống với” mọi người.

    III. BỔN MẠNG

    Nhóm nhận Đức Maria, Nữ Vương Hòa Bình làm vị bảo trợ. Sự khiêm tốn, tinh thần dấn thân phục vụ của Mẹ là mẫu gương tuyệt vời cho tất cả các thành viên của nhóm noi theo.

    Bổn mạng cũng là ngày Truyền thống của Nhóm: Lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, ngày 1/1.

    Chọn Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa làm bổn mạng, Nhóm hi vọng rằng dưới sự bảo trợ của Mẹ, các thành viên không chỉ hoàn thiện bản thân, trau dồi nhân cách mà còn trở thành những sứ giả của hòa bình, đem lại niềm vui và bình an cho mọi người.

    Đoàn kết: Những thành viên trong nhóm được mong đợi sẽ có khả năng cộng tác và liên đới cách chân thành với nhau. Điều quan trọng nhất khi làm việc nhóm chính là tinh thần đồng đội, gắn kết và xây dựng nhóm trở nên vững mạnh. Vì vậy, đoàn kết là sức mạnh lại cũng là mục tiêu của Nhóm.

    Vươn lên: NVHB luôn ước mong cho mọi thành viên trong Nhóm biết khát khao hướng đến sự hoàn thiện. Mỗi một thành viên Nhóm được khuyến khích phát huy khả năng của mình một cách toàn diện nhất có thể, để tất cả cùng thúc đẩy nhau tiến lên phía trước.

    VI. PHÁT TRIỂN

    Nhóm Nữ Vương Hòa Bình nỗ lực trở thành sân chơi bổ ích để giúp các bạn trong Nhóm trưởng thành về cả nhân cách và đạo đức. Đồng thời, Nhóm luôn mở rộng vòng tay thân ái đón nhận tất cả các bạn sinh viên muốn tới tham dự hoạt động của Nhóm.

    Điều kiện để trở thành thành viên chính thức của Nhóm: Các bạn cảm tình viên có lòng nhiệt tình và hăng say, có thiện chí xây dựng Nhóm, không ngại khổ, không ngại khó. Sau 6 tháng tìm hiểu và được một bạn trong Nhóm giới thiệu, sẽ trở thành thành viên chính thức của Nhóm trong nghi thức kết nạp vào dịp Lễ Bổn mạng Nhóm.

    • Thời gian sinh hoạt định kỳ: Tuần 2 và Tuần 4 hằng tháng.
    • Địa điểm sinh hoạt : 42 Tú Xương, Quận 3, TP HCM.

    Ban điều hành: Ban điều hành được tất cả các bạn thành viên bầu cử trong một phiên họp toàn thể và có nhiệm kì 1 năm. Ban điều hành gồm có:

    Trưởng Nhóm: Chịu trách nhiệm điều phối tổng quát các hoạt động chung của Nhóm. Triệu tập và chủ tọa các buổi họp của Ban điều hành và toàn Nhóm. Là đại diện chính thức của Nhóm trong tất cả các hoạt động đối ngoại.

    Phó Nội : Cùng với Trưởng Nhóm tổ chức các sinh hoạt và kỷ luật của Nhóm. Thay mặt Trưởng Nhóm khi Trưởng Nhóm vắng mặt. Triệu tập và chủ tọa bầu Ban điều hành theo quy chế hiện hành vào cuối nhiệm kì.

    Trưởng ban Thư kí: Cùng Trưởng Nhóm và hai Phó Nhóm lên chương trình cho các hoạt động của Nhóm. Ghi chép biên bản các cuộc họp. Nhắc nhở các ngày kỉ niệm. Kết hợp với Trưởng ban Truyền Thông thực hiện Nhật kí của Nhóm.

    Trưởng ban Phụng vụ: Tổ chức và phân chia công tác các buổi cầu nguyện và Thánh lễ của Nhóm. Cộng tác với Phó Ngoại trong các dịp đón tiếp – gặp gỡ của Nhóm.

    Trưởng ban Văn thể mỹ: Tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao. Cộng tác với Phó Ngoại trong những dịp giao lưu với tập thể khác.

    Trưởng ban Thủ quỹ: Giữ ngân quỹ của Nhóm. Thực hiện dự chi cho các hoạt động. Thực hiện thu – chi theo quyết định của Ban điều hành, sau khi tham khảo ý kiến của Ban đồng hành.

    Trưởng ban Truyền thông (kể từ niên khóa 2022 – 2022): Cộng tác với Ban biên tập Web của Nhóm. Soạn thảo, đăng và quản lý tất cả các tin tức, thông báo, hình ảnh, tư liệu trên Web và Facebook. Cộng tác với Thư kí trong việc thực hiện nhật kí Nhóm.

    Việc Bầu cử do Phó Nội triệu tập trước ngày bầu cử một tháng. Phó Nội chủ tọa việc Bầu cử Ban Điều Hành mới.

    Trưởng Nhóm được bỏ phiếu bầu riêng và phải đủ 70% số phiếu trở lên. Nếu sau 3 lần vẫn chưa hội đủ số phiếu cần thiết thì quyền chọn lựa Trưởng Nhóm sẽ thuộc về Ban Đồng Hành.

    Phó Nội và Phó Ngoại sẽ được bỏ phiếu bầu chọn chung một lần bằng phiếu kín và phải đủ 50% số phiếu. Nếu 2 lần vẫn chưa hội đủ số phiếu cần thiết, thì sẽ chọn hai ứng viên có số phiếu cao nhất.

    Các Trưởng ban Thư ký, Phụng vụ, Văn thể mỹ, Thủ quỹ và Truyền thông bầu chọn chung 1 lần và chỉ cần hội đủ số phiếu cao nhất.

    Kết quả bầu cử Ban điều Hành cần được Ban Đồng Hành phê chuẩn.

    Sau khi được Ban đồng hành phê chuẩn, Ban điều hành mới sẽ bắt đầu nhiệm kỳ một năm của mình ngay sau khi Ban đồng hành tuyên bố và giới thiệu trước Nhóm.

    Khi thuận tiện, Nhóm gặp nhau tại một địa điểm thích hợp để tĩnh tâm, picnic. Qua đó, Nhóm củng cố tình thân hữu giữa các thành viên và trao đổi với nhau một cách thân tình hơn những ưu tư về đời sống Đức Tin và đời sống Xã hội.

    Nhóm tổ chức giao lưu với các nhóm bạn khi có cơ hội thuận tiện.

    Quả địa cầu

    Chính là hành tinh xanh, ngôi nhà chung của tất cả nhân loại. Người Sinh viên NVHB ý thức chỗ đứng của mình trong lòng một xã hội nhiều màu sắc và biến động. Bằng nỗ lực của bản thân và tuổi trẻ dạt dào sức sống, người sinh viên NVHB góp sức chung tay xây dựng màu xanh của ngôi nhà chung ấy, góp phần thăng tiến con người, dựng xây hòa bình và thịnh vượng.

    Ngọn lửa hồng

    Trước tiên, ngọn lửa là một hình ảnh gợi cho Nhóm về Chúa Thánh Thần. Như các tông đồ xưa khi nhận lãnh được Thánh Thần đã bước qua khỏi nỗi sợ hãi các quyền lực sự dữ, người sinh viên NVHB hôm nay cũng nguyện xin Chúa Thánh Thần đồng hành trong cuộc sống. Ngọn lửa Thánh Thần sẽ thổi bừng lên trong tâm hồn người sinh viên tình yêu mến Chúa và tha nhân. Ngọn lửa sưởi nóng những tâm hồn lạnh giá và cô đơn để lan tỏa nhiệt năng của lòng hăng say và dấn thân của người trẻ; thiêu đốt những gì là ngu dốt, hận thù, ghen ghét, bất công, chia rẽ để làm bừng lên ánh sáng của sự hiểu biết, yêu thương, vị tha và công lý.

    Chim bồ câu

    Chim bồ câu không chỉ là một biểu tượng của hòa bình. Hình ảnh chim bồ câu sải rộng đôi cánh tượng trưng cho người sinh viên NVHB luôn nỗ lực vươn đến những chân trời bao la của tri thức. Chim bồ câu miệng ngậm nhành lá Ô-liu gợi nhớ hình ảnh chim bồ câu báo hiệu nước rút sau trận đại hồng thủy (St 8, 11), sinh viên NVHB cũng khát vọng trở thành người mang tin vui đến với mọi người trong cuộc sống. Sinh viên NVHB không ngừng trau dồi kiến thức, ấp ủ trong đôi tay dang rộng của mình ngọn lửa của tri thức và nhờ sức mạnh của Thánh Thần để góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

    Toàn thể huy hiệu

    Bằng nỗ lực không mệt mỏi trong việc chinh phục chân trời bao la tri thức, người sinh viên NVHB cùng với bạn bè tự trang bị cho mình hành trang đi vào cuộc sống với khát vọng đem lại hòa bình và thịnh vượng cho dân tộc. Với tình yêu cuộc sống, sự hiểu biết và trí thông minh, họ sẵn sàng dang rộng đôi tay kết giao tình bè bạn với mọi bạn trẻ có cùng chí hướng đắp xây xã hội ngày càng tiến bộ. Lòng hăng say và lửa nhiệt tình của tuổi trẻ được thắp lên bằng ngọn lửa Thánh Thần của Đức Kitô sẽ đẩy lùi bóng đêm của sự vô minh và hờ hững, lan tỏa sức nóng của tình yêu vị tha và dấn thân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chi Đoàn Vksnd Tỉnh Kiên Giang Tổ Chức Cuộc Thi “tìm Hiểu Dịch Bệnh Covid
  • Tổ Chức Cuộc Thi Tìm Hiểu Cải Cách Hành Chính Năm 2022
  • Soạn Bài : Tìm Hiểu Chung Về Văn Tự Sự
  • Tìm Hiểu Bảo Hiểm Nhân Thọ Manulife Hà Nội
  • Cùng Tìm Hiểu Bản Thân Với Hướng Nghiệp Ở Lớp 10
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×