Top 6 # Tìm Hiểu Nhau In English Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Tìm Hiểu Về Chi Nhánh Wall Street English Thủ Đức

Bên cạnh các tiêu chí về học phí, uy tín, chất lượng thì địa điểm cơ sở đào tạo cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới quyết định lựa chọn trung tâm Anh văn. Một địa chỉ đào tạo thuận tiện cho việc đi lại sẽ giúp bạn có động lực học tập và tham gia đào tạo đầy đủ hơn.

Cơ sở 1: Số 21 Lê Quý Đôn, Phường 6, Q. 3, TP. HCM

Cơ sở 2: Lầu 3, Pico Plaza , 20 Cộng Hòa, Phường 12, Q. Tân Bình, TP. HCM

Cơ sở 3: Lầu 6, Hùng Vương Plaza, 126 Hùng Vương, Phường 4, Q. 5, TP. HCM

Cơ sở 4: Lầu 3, SC VivoCity, 1058 Đại Lộ Nguyễn Văn Linh, Tân Phong, Q. 7, TP. HCM

Cơ sở 5: Vincom Gò Vấp – 12 Phan Văn Trị, Phường 7, Q. Gò Vấp, TP. HCM

Cơ sở 6: Tầng 5 Vincom Mega Mall Thảo Điền – 159 Xa lộ Hà Nội, P. Thảo Điền, Q. 2, TP. HCM

Thương hiệu đào tạo Anh văn quốc tế

Ở khu vực Sài Gòn, một trong số những thương hiệu nổi danh về đào tạo khóa học dành cho người đi làm không thể không nhắc đến cái tên Wall Street English.

Wall Street English là cơ sở đào tạo Anh ngữ dành cho người bận rộn (Nguồn: wallstreetenglish)

Wall Street English là một thương hiệu quốc tế, đã có chi nhánh tại 28 quốc gia. Trung tâm mang tới phương pháp đào tạo mới mẻ cùng môi trường giáo dục quốc tế, giúp người học tiến bộ nhanh chóng trên con đường chinh phục ngoại ngữ.

Tận dụng ưu thế của một chuỗi đào tạo toàn cầu, trung tâm đã thành lập “hội đồng môn” Global Online Community giúp kết nối các học viên Wall Street English toàn cầu. Thông qua cộng đồng này, các học viên sẽ có cơ hội giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm học tập và nhiều vấn đề trong cuộc sống. Với các học viên là doanh nhân thì đây sẽ là một nguồn tìm kiếm khách hàng và đối tác tiềm năng.

Wall Street English kết nối học viên toàn cầu (Nguồn: wallstreetenglish)

Trên thang đánh giá của Edu2Review, các chỉ tiêu về giáo viên, cơ sở vật chất, môi trường học tập… của WSE đều được đánh giá cao, nhưng điểm số về mức học phí lại tương đối thấp. Điều này cho thấy dù nhìn nhận được các ưu điểm vượt trội của trung tâm, nhưng cũng không ít học viên cũng phải công nhận mức học phí cao là một trong những trở ngại của họ khi đăng ký học tại Wall Street English.

Hệ thống chi nhánh của Wall Street English

Có mặt tại Việt Nam từ năm 2013, trung tâm đã nhanh chóng mở nhiều chi nhánh có vị trí đắc địa tại Sài Gòn. Tới nay, WSE đã có 6 cơ sở trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Các cơ sở hiện tại của WSE đều có không gian sang trọng, cơ sở vật chất hiện đại, đặt tại những khu vực đông dân cư, thuận tiện đi lại. Do đó, các học viên có thể dễ dàng tìm kiếm được địa điểm học tập phù hợp.

Khuê Lâm tổng hợp

Tìm Hiểu Sự Khác Nhau Giữa

Đây đều là hai thuật ngữ của ngành sản xuất nước hoa nhưng có phần làm cho người sử dụng bối rối. Vì vậy, việc tìm hiểu các thuật ngữ trong chế tạo và quảng bá sản phẩm nước hoa của ngành sản xuất sẽ có thể giúp các bạn tránh được sự nhầm lẫn.

“Parfum” là từ tiếng Pháp dành cho “perfume” nghĩa là “nước hoa”. Nhưng trong các thuật ngữ tiếp thị và sản xuất nước hoa, parfum biểu thị một dạng cô đặc hơn của một mùi hương đặc biệt nào đó.

“Perfume” là thuật ngữ chung biểu thị toàn cho bộ thế giới các mùi thơm và hương liệu. Các sản phẩm nước hoa được bán chủ yếu cho khách hàng dưới dạng eau de parfum, eau de toilette và eau de cologne. Các loại nước hoa này có sự khác nhau về nồng độ, độ bền mùi và giá bán.

Cách để không bị nhầm lẫn về sự khác biệt của hai thuật ngữ này

Các sản phẩm nước hoa bao gồm 3 thành phần: Dung môi thường là rượu, nước cất và tinh dầu thơm. Bản thân tinh dầu có thể chứa hàng chục chất thơm được chiết xuất từ hoa, vỏ cây, thảo mộc và động vật. Tinh dầu của nước hoa chiết xuất từ hoa, nồng độ tinh dầu càng cao thì nước hoa sẽ càng bền mùi. Hỗn hợp tinh dầu này hòa tan trong dung môi và dung dịch nước với nồng độ khác nhau. Hoạt động này quy định sản phẩm nước hoa đó là eau de parfum (EDP), eau de toilette (EDT), hay là eau de cologne (EDC).

Quy định về nồng độ nước hoa:

Nồng độ chung cho 3 loại nước hoa này là: 8 đến 15 % tinh dầu thơm với eau de parfum, 4 đến 10 % tinh dầu thơm với eau de toilette và 2 đến 5 % tinh dầu thơm với eau de cologne.

Các sản phẩm nước hoa cho nữ thường xuất hiện dưới dạng EDP và EDT. Còn các sản phẩm nước hoa cho nam lại thường xuất hiện dưới dạng EDT và EDC. Với quy định về nồng độ nước hoa này, nhiều nhà điều hành lại đưa ra một số sản phẩm nước hoa đi chệch “quy luật” nhằm làm nổi bật một thành phần quý hiếm và đắt tiền nào đó trong sản phẩm nước hoa. Ví dụ một số nước hoa có thể được bán dưới hình thức EDP ngay khi tỷ lệ phần trăm tinh dầu của dung dịch ở trong phạm vi của EDT. Hoặc đôi khi nước hoa nam đắt tiền có tỷ lệ phần trăm tinh dầu cao hơn so với các sản phẩm nước hoa EDT dành cho nữ.

Các sản phẩm nước hoa có nồng độ tinh dầu cao hơn sẽ có sự bền mùi nhất khi được xịt lên da. Độ bền mùi phụ thuộc vào các thành phần có trong tinh dầu thơm. Ví dụ nước hoa Eau de toilette có thể lưu mùi trên da vài giờ thì nước hoa eau de cologne sẽ lưu lại trên da mùi hương nhẹ trong một hoặc hai tiếng đồng hồ.

Sự khác nhau về giá bán được khá nhiều người quan tâm. Loại nước hoa đắt tiền nhất là các sản phẩm EDP có nồng độ tinh chất cao nhất, tiếp đến là EDT và đến EDC. Ngoài ra, các nhà sản xuất nước hoa cũng tạo ra các phiên bản hạn chế của các sản phẩm nước hoa cao cấp dành cho những khách hạng sang. Những mùi hương này chứa các phân tử thơm được chế tạo với phiên bản hạn chế và mỗi lọ nước hoa có thể trị giá lên đến hàng trăm đô la.

Tổng kết

Độ bền mùi và giá cả là hai yếu tố quan trọng tạo nên sự khác nhau của các dòng nước hoa.

Và khi tiếng Anh đang trở thành ngôn ngữ quốc tế thì thuật ngữ “Parfum” hay “Perfume” đều được dùng cho sản phẩm nước hoa. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng những dòng nước hoa chính hãng có tỉ lệ pha chế khác nhau được phân biệt theo thuật ngữ Parfum, do đó hãy lưu ý một chút khi đi mua nước hoa để lựa chọn được cho mình những mùi hương phù hợp nhất.

Hy vọng bạn sẽ không còn thắc mắc về khái niệm parfum là gì khi sau khi tìm hiểu những thông tin hữu ích trong bài viết này.

Should My Child Learn American English Or British English?

Tại các lớp học của Everest Education, chúng tôi thỉnh thoảng lại được nghe phụ huynh hỏi “Cho con theo học tiếng Anh giọng Anh (British English), hay giọng Mỹ (American English) sẽ tốt hơn?”. Đây là một câu hỏi cực kỳ phổ biến, dù trên thực tế, cho rất nhiều phiên bản tiếng Anh khác tồn tại ngoài hai “loại” tiếng Anh này. Giữa tiếng Anh – Anh và tiếng Anh – Mỹ có một vài điểm khác biệt trong cách phát âm, ngữ pháp, và dĩ nhiên, cũng khác cả về giọng nói và từ vựng. Một số từ vựng, khi dùng trong tiếng Anh – Anh, sẽ mang ý nghĩa hoàn toàn biệt so với tiếng Anh – Mỹ. Chẳng hạn, từ “pants” trong tiếng Anh – Mỹ dùng để chỉ “quần dài”, trong khi đó ở tiếng Anh – Anh nó lại có nghĩa là “quần lót”.

Nếu trẻ đang học tiếng Anh với giáo viên người Anh, Mỹ, hay thậm chí là người Úc, phụ huynh có thể thắc mắc không biết liệu tiếng Anh nào mới được coi là “đúng chuẩn”. Ở bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích tiếng Anh – Anh và Anh – Mỹ khác nhau như thế nào, tại sao lại có sự khác biệt này, và trẻ nên học cái nào mới là tốt.

Vì sao tiếng Anh – Mỹ (American English) và tiếng Anh – Anh lại khác nhau?

Giữa thế kỷ 16 và 17, người Anh đã chính thức giới thiệu ngôn ngữ của mình đến với người Mỹ khi họ đặt chân đến vùng đất này. Vào thời điểm đó, chính tả vẫn còn chưa được chuẩn hóa. Người ta cần phải có từ điển để thống nhất với nhau các từ vựng nên được viết chính xác như thế nào. Ở Anh, từ điển được soạn thảo bởi các học giả tại London. Trong khi đó, ở Mỹ, người có công soạn thảo từ điển là một nhà từ điển học tên Noah Webster.

Webster mong muốn tiếng Anh của người Mỹ không chỉ đơn giản hơn, mà còn phải có cách phát âm khác biệt hơn so với tiếng Anh của người Anh, như là một cách thể hiện sự độc lập của người Mỹ đối với những luật lệ trước đây của người Anh. Ông quyết định bỏ chữ “u” trong các từ như “colour” hay “honour” – những từ sở dĩ hình thành do ảnh hưởng của văn hóa Pháp đến nước Anh – và thay vào đó biến chúng thành “color” và “honor”. Ông cũng đối những từ có hậu tố -ise thành -ize, vì cho rằng ngôn ngữ nên “đọc sao viết vậy”.

Về các phát âm, sở dĩ tiếng Anh – Anh và tiếng Anh – Mỹ có sự khác biệt trong cách mà họ phát âm các từ, là bởi nhóm người đầu tiên nhập cư tại Mỹ. Những người này sử dụng cách nói tiếng Anh “rhotic” – đọc rõ âm “r” trong các từ. Trong khi đó, giới thượng lưu tại Anh lại đọc chữ “r” này một cách nhẹ nhàng hơn, để chứng tỏ lối tiếng Anh “sang chảnh” của họ so với tầng lớp thông thường. Cách nói này được đánh giá là sang trọng và là chuẩn mực của sự thời thượng lúc bấy giờ, vậy nên nhiều người đã bắt đầu nói theo, và dần dần nó trở thành thứ tiếng Anh phổ biến ở miền nam nước Anh.

1. Thì hiện tại hoàn thành và thì quá khứ đơnTrong tiếng Anh – Anh, người ta dùng thì hiện tại hoàn thành (present perfect) để nói về một hành động đã diễn ra trong quá khứ và vẫn còn tiếp diễn đến hiện tại.Người Mỹ cũng dùng thì hiện tại hoàn thành với mục đích tương tự, nhưng họ thường sẽ dùng thì quá khứ đơn đối với những hành động mà họ đánh giá là đã “hoàn thành” rồi. Đây cũng là tình huống mà những trạng từ như already, just và yet được sử dụng thường xuyên. already, just và yet.

Tiếng Anh – AnhTiếng Anh – MỹHe isn’t hungry. He has already had lunch.– Have you done your homework yet?– Yes, I’ve just finished chúng tôi isn’t hungry. He already had lunch.– Did you do your homework yet?– Yes, I just finished it.

2. Got và gottenTrong tiếng Anh – Anh, quá khứ phân từ (past participle) của động từ “get” là got.Trong tiếng Anh – Mỹ, họ sử dụng gotten.**Lưu ý rằng “have got” được sử dụng phổ biến ở cả hai tiếng Anh – Anh và Anh – Mỹ khi dùng để chỉ sự sở hữu hay sự khẩn cấp, “have gotten” sẽ không đúng trong các trường hợp này.

Tiếng Anh – AnhTiếng Anh – Mỹ– You could have got hurt!– He’s got very thin.– She has got serious about her career.BUT:– Have you got any money?– We’ve got to go now.– You could have gotten hurt!– He’s gotten very thin.– She has gotten serious about her career.BUT:– Have you got any money? (NOT Have you gotten …)– We’ve got to go now. (NOT We’ve gotten to …)

3. Dạng động từ (verb form) với danh từ tập hợp (collective noun)Trong tiếng Anh – Anh, một động từ số ít hoặc số nhiều có thể dùng với một danh từ chỉ một nhóm người hay nhóm đồ vật (danh từ tập hợp). Họ sử dụng danh từ số nhiều nếu muốn chỉ một nhóm người, và dùng danh từ số ít nếu muốn ám chỉ một tập thể như một cá thể duy nhất.Trong tiếng Anh – Mỹ, những danh từ tập hợp đều sẽ đi với động từ dạng số ít.** Lưu ý rằng từ police luôn theo sau bởi động từ số nhiều.

Tiếng Anh – AnhTiếng Anh – Mỹ– My family is/are visiting Pakistan.– My team is/are winning the match.– The crew is/are on the way to the airport.BUT:– The police are investigating the crime.– My family is visiting Pakistan.– My team is winning the match.– The crew is on the way to the airport.BUT:– The police are investigating the crime.

4. Have và takeTrong tiếng Anh – Anh, các động từ “have” và “take” hay được dùng với các danh từ như bath, shower, wash để chỉ hành động tắm gội giặt giũ, hay với các từ break, holiday, rest cho các kỳ nghỉ, sự nghỉ ngơi.Ở tiếng Anh – Mỹ, người ta chỉ sử dụng từ “take”, không dùng từ “have” cho các trường hợp này.

Tiếng Anh – AnhTiếng Anh – Mỹ– I’m going to have/take a shower.– Let’s have/take a break.– I’m going to take a shower.– Let’s take a break.

5. shall Trong tiếng Anh – Anh, người ta thường dùng Shall I …? để đề nghị làm một việc gì đó hoặc dùng Shall we…? khi muốn “rủ rê” ai đó cùng làm gì. Trong khi đó, người Mỹ thường rất hiếm khi dùng chữ “Shall”. Họ thường dùng các từ, hay mẫu câu thay thế khác như Should / Can I …? hoặc Do you want / Would you like …? hoặc How about …?

Tiếng Anh – AnhTiếng Anh – Mỹ– It’s hot in here. Shall I open the window?– Shall we meet in the café at 5?– Shall we try that again?– It’s hot in here. Can I open the window?– Do you want to meet in the café at 5?– How about we try that again?

Trẻ nên học tiếng Anh – Anh hay tiếng Anh – Mỹ

Tiếng Anh là một ngôn ngữ rất khó để có thể phát âm chính xác hoàn toàn, bởi có vô số những trường hợp ngoại lệ trong cách phát âm. Thêm vào đó, cách viết tiếng Anh – Anh và tiếng Anh – Mỹ cũng có nhiều điểm khác biệt. Ví dụ như colour / color, centre / center, organise / organize, dialogue / dialog. Trẻ có thể đã làm quen với một kiểu tiếng Anh nhất định, tùy thuộc vào những gì con được học ở trường. Và điều này hoàn toàn bình thường. Chẳng có tiếng Anh nào là đúng hay sai cả.

Khi bàn đến các kỳ thì chuẩn hóa như IELTS, TOEFL hay các chứng chỉ tiếng Anh Cambridge khác, thí sinh hoàn toàn có thể sử dụng cả tiếng Anh – Anh, hay tiếng Anh – Mỹ đều được, bởi đây là những kỳ thi mang quy mô toàn cầu, họ sẽ chấp nhận nhiều loại tiếng Anh khác nhau trong quá trình đánh giá. Ví dụ, với các kỳ thi chứng chỉ Cambridge, cả tiếng Anh – Anh và tiếng Anh – Mỹ đều hợp lệ.

Nói được các từ một cách rõ ràng (pronunciation)

Biết nhấn mạnh đúng âm trong từ và đúng từ trong câu (word stress)

Biết lên giọng xuống giọng đúng lúc (intonation)

Tuy nhiên, có một ngoại lệ yêu cầu học sinh cần phải cẩn thận lựa chọn giữa tiếng Anh – Anh và Anh – Mỹ, đó là khi các em làm bài thi viết hoặc nói. Khi đi thi, nếu em đã lựa chọn cách viết, hoặc cách phát âm theo kiểu Anh hoặc kiểu Mỹ, em cần phải sử dụng phong cách đó một cách thống nhất xuyên suốt quá trình làm bài thi – đừng tự ý chuyển sang phong cách khác. Lý do học sinh không nên sử dụng kiểu “trộn lẫn” giữa tiếng Anh – Anh và Anh – Mỹ khi đi thi là bởi đây được đánh giá là hai loại tiếng Anh khác biệt. Khi chúng ta dùng cách viết của người Anh, giám khảo sẽ tự động mặc định ngôn ngữ của chúng ta là tiếng Anh – Anh và lấy đó làm tiêu chuẩn. Vậy nên, khi em đột ngột chuyển sang cách viết kiểu Mỹ, giám khảo sẽ cho đó là một lỗi sai chính tả, và đánh giá điểm từ vựng và ngữ pháp của em thấp hơn.

Lời kết…

Tiếng Anh có rất nhiều phiên bản và cách dùng khác nhau. Việc dạy con ý thức được những điểm khác biệt này để con có thể nhận dạng, phân biệt, cũng như không bị hoang mang khi mỗi người dạy mỗi kiểu là điều rất tốt, nhưng cha mẹ không nhất thiết phải quá lo lắng về vấn đề này. Tiếng Anh – Anh và tiếng Anh – Mỹ hoàn toàn có thể hiểu và sử dụng qua lại: người Anh có thể hiểu 95% những điều người Mỹ nói và ngược lại, trong hầu hết các trường hợp. Ngay cả khi bắt gặp những từ có nghĩa không giống nhau, họ vẫn hoàn toàn có thể suy ra được dựa vào ngữ cảnh câu nói. Vì vậy, vô tình sử dụng một từ kiểu Anh sẽ không dẫn đến tình trạng người Mỹ hiểu sai hoàn toàn.

Quay lại câu hỏi “Con nên học tiếng Anh – Anh hay tiếng Anh – Mỹ”, lời khuyên duy nhất mà chúng tôi có thể đưa ra cho cha mẹ, đó là: hãy cứ để con học thật tự nhiên! Hãy để con tự do khám phá ngôn ngữ, tìm thấy những niềm vui văn hóa khi học cách nhận biết sự khác biệt của hai loại ngôn ngữ này, và tự hoàn thiện giọng nói của mình theo thời gian. Xét cho cùng, con nói giọng Anh hay giọng Mỹ không quá quan trọng, điều quan trọng hơn là những gì con học được.

Tìm Hiểu Sự Khác Nhau Giữa Đàn Piano Và Organ

Đàn piano và organ có nhiều điểm tương đồng như đều là nhạc cụ phím, ngoại hình khá giống nhau tuy nhiên về bản chất thì vẫn có rất nhiều điểm khác nhau.

SỰ KHÁC NHAU GIỮA ĐÀN PIANO VÀ ORGAN

Về ngoại hình

Ngoại hình của đàn organ và đàn piano rất dễ dàng để phân biệt, đàn piano có kích thước lớn, thân ngoài được làm từ gỗ, còn đàn organ có hình dáng nhỏ, thân ngoài của đàn organ lại bằng nhựa cứng.

Số lượng phím đàn

Đàn piano khác organ còn ở số lượng phím đàn. Đàn piano chuẩn có 88 phím, bên cạnh đó vẫn có một số cây piano đặc biệt với 92 phím hay lên đến 97 phím. Còn số phím của đàn organ lại thường ít và đa dạng hơn, từ 25 đến 88 phím dành cho nhiều đối tượng. Đàn organ 25 phím là dành cho các bé còn nhỏ, ngoài ra thì còn có các đàn khác gồm có 49, 61, hoặc 76 phím.

@ Top 8 Phần Mềm Học Đàn Piano Trên Điện Thoại Bạn Không Thể Bỏ Qua

Về Bàn phím

Đàn piano và đàn organ có một đặc điểm chung đó là đều sử dụng bàn phím như một phương tiện để tạo ra âm thanh, âm sắc. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa đàn piano và organ lại nằm ở cơ chế hoạt động của phím đàn: Bàn phím đàn piano tạo ra âm thanh chủ yếu thông qua bộ gõ còn bàn phím đàn organ lại tạo ra âm thanh bằng “Woodwin”.

Nói cách khác, đàn piano tạo ra âm thanh bằng lực cơ học trong khi đàn organ sử dụng điện hoặc pin để tạo ra âm thanh. Đây vừa là ưu điểm của đàn organ vì nó tạo ra sự linh hoạt, dễ sử dụng nhưng đôi khi cũng trở thành một khuyết điểm nhỏ so với đàn piano vì nó sẽ không sử dụng được khi không có điện hoặc hết pin.

Bạn cũng có thể dễ dàng nhận thấy thông thường bàn phím của đàn piano sẽ có trọng lượng lớn hơn hẳn so với đàn organ. Khi chơi đàn piano, bạn phải dùng một lực tương đối lớn từ ngón tay, còn khi chơi organ lực này khá nhỏ là bạn có thể điều chỉnh theo ý muốn của mình. Nếu nói chơi đàn piano khó hơn chơi đàn organ cũng không phải là một ý kiến sai.

Nguyên tắc tạo ra âm thanh

Đàn piano cổ điển tạo ra âm thanh bằng cách tác động lực vào phím phím để lực truyền đến gõ vào các sợi dây kim loại bằng những chiếc búa bọc nỉ bật lên ngay lập tức cho dây đàn tiếp tục ngân vang ở tần số cộng hưởng của nó. Những rung động này được truyền qua các cầu đến bảng cộng hưởng (soundboard), bộ phận khuếch đại chúng.

Trong khi đó, đàn organ thì lại không hề có lực tác động thay vào đó nó hoạt động dựa trên băng thu. Người ta thu âm thanh của các nhạc cụ khác rồi cài đặt vào trong đàn theo hệ thống phím. Với nguyên lý trên, về mặt lý thuyết đàn organ có thể mô phỏng lại âm thanh của bất kỳ nhạc cụ nào trên thế giới. Với bàn phím cũng được điều chỉnh tần số cụ thể, và các ghi chú cá nhân có thể được lưu trữ trong một khoảng thời gian nhất định mà không cần đến “Restrike bàn phím”. Đây là sự khác nhau giữa đàn piano và organ về bộ gõ mà bạn cần lưu ý kỹ.

Đàn Piano: cách tạo ra âm thanh là dùng lực tác động vào bàn phím sau đó tác động lên búa và các chuỗi kim loại, mỗi chuỗi khác nhau sẽ được gắn với 1 tần số âm thanh khác nhau nên sẽ được các hợp âm và âm thanh khác nhau. Mỗi chuỗi âm thanh sẽ tạo ra một âm thanh trong 1 khoảng thời gian ngắn người nghệ sĩ cần giữ phím lâu để âm ngân vang dài hơn. Và có thể duy trì âm thanh trong một khoảng thời gian ngắn.

Đàn organ: thì cơ chế tạo ra âm thanh hoàn toàn khác vì không hề có lực cơ học tác động vào mà phải sử dụng điện. Các phím cũng được điều chỉnh tần số cụ thể, nhưng các ghi chú cá nhân có thể được lưu giữ trong một thời gian và không gian nhất định mà không cần phải restrike bàn phím. Có thể duy trì âm đó trong một thời gian dài nhất.

Sự phong phú về âm thanh

Đàn piano chỉ có duy nhất âm thanh piano được phát ra nhờ độ rung của dây đàn, ưu điểm là tiếng piano này rất du dương, thanh tao, rất thật và chuẩn. Vì là dụng cụ điện tử nên tiếng piano phát ra từ những cây đàn organ không thể hay và chân thực bằng đàn piano cơ. Tuy nhiên đàn organ khác piano ở chỗ nó có khả năng tái tạo âm thanh của các loại nhạc cụ khác rất tốt. Một cây đàn organ thông thường có thể mô phỏng được khoảng dưới 600 loại nhạc cụ khác nhau trên thế giới. Chính vì ưu điểm này, đàn organ rất phù hợp cho các nghệ sỹ hòa âm phối khí và đôi khi có thể thay thế cho cả 1 band nhạc.

Ngoài âm thanh piano truyền thống, ở một số phím trên đàn piano bạn có thể thay đổi để tạo ra một âm thanh “tinny honky- tonk” hoặc kích thước tổng thể thiết bị tạo ra một tông màu phong phú hơn.

Sử dụng đàn Organ bạn có thể thay đổi thông qua ống dẫn hoặc các thiết bị điện tử hỗ trợ âm thanh như “Woodwind” và tạo ra nhiều cấp độ khác nhau trên từng bàn phím.

Người chơi đàn

Hiện nay đàn organ được sản xuất và sử dụng phổ biến hơn tại Việt Nam vì giá thành khá rẻ, dễ chơi hơn, phù hợp với những người mới học đàn. Nhìn chung thì mỗi dòng nhạc cụ đều có những điểm giống và khác nhau đối với trình độ mỗi người. Đối với đàn Piano người chơi bắt buộc phải tìm hiểu những hợp âm phức tạp hơn và cũng cần một nền tảng âm nhạc cao hơn so với người chơi đàn Organ. Cũng chính vì những lý do này mà đàn piano sẽ kén người chơi hơn đàn organ.

Đàn organ dễ chơi, được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam và khiến trẻ rất thích thú

NÊN MUA ĐÀN PIANO HAY ORGAN?

Chúng tôi sẽ không đưa ra lời khuyên ngay cho bạn rằng bạn nên chọn loại nào trong 2 loại nhạc cụ này, bởi đó sẽ là ý kiến chủ quan và khó chính xác. Chọn đàn piano hay organ tùy thuộc lớn nhất vào bản thân bạn thực sự thích loại nhạc cụ nào hơn, bởi cả piano và organ đều có những ưu điểm và song song với những nhược điểm nhất định. Piano thì thường đi với cổ điển, những tác phẩm thuộc loại khó, đòi hỏi kỹ thuật ngón, xử lý tác phẩm, cảm thụ âm nhạc tốt, chính vì thế chắc chắn rằng thời gian học đàn piano sẽ kéo dài hơn và bắt buộc bạn phải học thực sự bằng tất cả nhiệt huyết của mình mới có kết quả. Organ thì phổ cập hơn, giá rẻ hơn và cũng dễ sử dụng hơn rất nhiều.

Bạn cần xác định rõ tâm lý ngay từ đầu, xem xét tất cả các yếu tố như mục đích chơi đàn, đam mê và năng khiếu của bản thân, khả năng tài chính,… để đi tới quyết định chọn loại nhạc cụ nào. Nếu bạn đơn giản là chỉ muốn học một loại nhạc cụ phím hoặc cũng chưa xác định rõ được mục tiêu và đam mê của mình thì chúng tôi khuyên bạn trước hết nên mua một cây đàn organ để thử trước. Còn nếu như bạn có đủ tài chính cũng như sự khao khát và quyết tâm với đàn piano, đừng ngại ngần mà hãy sở hữu ngay một chiếc đàn piano mà mình yêu thích.

Hơn hết, cho dù bạn chọn chơi đàn organ hay piano thì điều quan trọng vẫn luôn là phải thực sự kiên trì và chăm chỉ.

NÊN MUA ĐÀN PIANO VÀ ORGAN CỦA HÃNG NÀO?

Có rất nhiều thương hiệu đàn piano nổi tiếng mà bạn có thể lựa chọn. Lựa chọn loại đàn piano nào, của thương hiệu nào còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó có sở thích và khả năng chi trả của bạn. Một số thương hiệu piano hàng đầu thế giới như: Steinway & Sons, Kawai, Boston, Essex, Kolhler & Campbell,…

Nói đến đàn organ 3 thương hiệu hàng đầu trên thế giới chính là Roland, Casio, Yamaha. Cả 3 hãng đàn organ nổi tiếng này đều có đầy đủ chủng loại đàn dành cho nhiều đối tượng chơi khác nhau, nhưng nhìn chung mỗi thương hiệu lại nhắm chủ yếu đến một phân khúc nhất định. Đàn organ của Roland khách hàng nhắm đến đa phần là những người chơi chuyên nghiệp, nhạc sĩ, nhạc công,… Đàn organ Casio đối tượng người chơi chủ yếu là người mới học, sử dụng cho mục đích luyện tập bởi thương hiệu này cung cấp những cây đàn chất lượng, giá phải chăng với tính năng học tập cực kỳ hiệu quả. Còn đàn organ của Yamaha thì thường dành cho người chơi với mục đích giải trí là chủ yếu. Tùy vào mục đích sử dụng và điều kiện tài chính mà bạn sẽ chọn thương hiệu đàn organ thích hợp.