Top 19 # Tim Hieu Ve Bat Dong San / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Bai Thi Tìm Hieu An Toan Giao Thong Thanh Bai Thi Tim Hieu Pl Ve Atgt2013 Thanh 2 Doc / 2023

BÀI THI TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ “AN TOÀN GIAO THÔNG” 2013

Họ và tên: Thân Thị Thanh sn: 1980

Câu 3 : Kể từ ngày 1/7/2009, Luật Giao thông đường bộ sửa đổi, bổ sung sẽ có hiệu lực. Luật này sẽ thay thế cho Luật Giao thông đường bộ năm 2001, theo đó một số điểm mà ng ười tham gia giao thông cần chú ý nh ư sau:

Không bia r ượu khi lái ô tô

Trẻ em trên 6 tuổi phải đội mũ bảo hiểm

Theo quy định trước đây, trẻ em dưới 14 tuổi không bị bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông. Tuy nhiên, trong thời gian qua, rất nhiều ý kiến cho rằng, quy định này là không hợp lý bởi tai nạn giao thông sẽ không trừ một ai.

Theo đó, sẽ phạt tiền từ 100.000 đến 200.000 đồng với người ngồi trên xe máy, xe gắn máy 2 bánh, xe đạp máy không đội mũ bảo hiểm hoặc không cài quai đúng quy cách (trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi).

Ng ười điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy chỉ được chở một người. Trường hợp đặc biệt sẽ được chở tối đa 2 người là: Chở người bệnh đi cấp cứu; Áp giải người phạm tội hoặc chở trẻ em dưới 14 tuổi.

Luật cũng quy định, đối với người điều khiển xe đạp khi tham gia giao thông chỉ được chở tối đa hai người, trong đó ít nhất có một trẻ em dưới 7 tuổi.

Không điện thoại, không nhạc, không ma tuý

Cấm sử dụng thiết bị âm thanh. Nh ư vậy, hành vi vừa điều khiển xe máy, vừa nghe nhạc cũng sẽ bị phạt.

Trong Luật sửa đổi, mức xử phạt vi phạm hành chính từ 80.000 – 100.000đồng và từ 40.000- 60.000 đồng đối với ôtô, môtô, xe gắn máy chuyển hướng không nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật.

Những ng ười điều khiển xe gắn máy, mà trong cơ thể có chất ma tu ý sẽ bị phạt từ 1-3 triệu đồng. Nếu người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dụng và ôtô mà trong c ơ thể có chất ma tu ý sẽ bị phạt từ 4 – 6 triệu đồng.

1. Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn.

2. Trên đường một chiều có vạch kẻ phân làn đường, xe thô sơ phải đi trên làn đường bên phải trong cùng, xe c ơ giới, xe máy chuyên dùng đi trên làn đường bên trái.

3. Ph ương tiện tham gia giao thông đường bộ di chuyển với tốc độ thấp hơn phải đi về bên phải.

Điều 13 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Nghị định số 71/2012/NĐ-CP ngày 19/9/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 34/2010/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, hành vi đi sai làn đường khi rẽ của bạn bị phạt từ 100.000 đến 200.000 đồng.

Câu 6 . Luật Giao thông đường bộ năm 2008 về vượt xe như thế nào ? Ng ười điều kiển xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy vi phạm về vượt xe th ì xử phạt nh ư thế nào? Nêu h ình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung.

Ðiều 14 trong Luật Giao thông đường bộ Việt Nam quy định về “Vượt xe”:

1. Xe xin v ượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc c òi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22 giờ đến 5 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.

2. Xe xin v ượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đ ã tránh về bên phải.

3. Khi có xe xin v ượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đ ã v ượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt.

4. Khi v ượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây th ì được phép vượt bên phải:

a) Khi xe phía tr ước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái;

b) Khi xe điện đang chạy giữa đường;

c) Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể v ượt bên trái được.

5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:

a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Trên cầu hẹp có một làn xe;

c) Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế;

d) N ơi đường giao nhau, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

đ) Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc v ượt;

e) Xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ.

Hình thức xử phạt hành chính và xử phạt bổ sung.

Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

Tránh xe, v ượt xe không đúng quy định ; không nhường đường cho xe ngược chiều.

Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

V ượt bên phải trong các trường hợp không được phép.

Điều 8. Các hành vi bị cấm.

1. Phá hoại công trình giao thông đường thuỷ nội địa; tạo vật chướng ngại gây cản trở giao thông đường thuỷ nội địa.

2. Mở cảng, bến thuỷ nội địa trái phép; đón, trả người hoặc xếp, dỡ hàng hoá không đúng nơi quy định.

3. Xây dựng trái phép nhà, lều quán hoặc các công trình khác trên đường thuỷ nội địa và phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường thuỷ nội địa.

4. Đổ đất, đá, cát, sỏi hoặc chất thải khác, khai thác trái phép khoáng sản trong phạm vi luồng và hành lang bảo vệ luồng; đặt cố định ngư cụ, phương tiện khai thác, nuôi trồng thuỷ sản trên luồng.

5. Đưa phương tiện không đủ điều kiện hoạt động theo quy định tại Điều 24 của Luật này tham gia giao thông đường thuỷ nội địa; sử dụng phương tiện không đúng công dụng hoặc không đúng vùng hoạt động theo giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi tr ường của cơ quan đăng kiểm.

6. Bố trí thuyền viên không đủ định biên theo quy định khi đưa phương tiện vào hoạt động; thuyền viên, ng ười lái phương tiện làm việc trên phương tiện không có bằng, chứng chỉ chuyên môn hoặc bằng, chứng chỉ chuyên môn không phù hợp.

7. Chở hàng hoá độc hại, dễ cháy, dễ nổ, động vật lớn chung với hành khách; chở quá sức chở ng ười của phương tiện hoặc quá vạch dấu mớn nước an toàn.

8. Làm việc trên ph ương tiện khi trong máu có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc 40 miligam/1lít khí thở hoặc có các chất kích thích khác mà pháp luật cấm sử dụng.

10. Vi phạm báo hiệu hạn chế tạo sóng hoặc các báo hiệu cấm khác.

11. Tổ chức đua hoặc tham gia đua trái phép phương tiện trên đường thuỷ nội địa; lạng lách gây nguy hiểm cho phương tiện khác.

12. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, gây phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ; thực hiện hoặc cho phép thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa.

13. Các hành vi khác vi phạm pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa”.

1. Hành khách có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu được vận chuyển bằng đúng loại phương tiện, đúng giá trị loại vé, từ cảng, bến nơi đi đến cảng, bến nơi đến theo vé đã mua

b) Được miễn cước phí hành lý mang theo với khối l ượng theo quy định của pháp luật;

2. Hành khách có các nghĩa vụ sau đây:

a) Mua vé hành khách và trả c ước phí vận tải hành l ý mang theo quá mức quy định; nếu chưa mua vé và ch ưa trả đủ cước phí vận tải hành l ý mang theo quá mức thì phải mua vé, trả đủ cước phí và nộp tiền phạt;

b) Khai đúng tên, địa chỉ của mình và trẻ em đi kèm khi ng ười kinh doanh vận tải lập danh sách hành khách;

d) Không mang theo hành lý thuộc loại hàng hoá mà pháp luật cấm l ưu thông, cấm vận tải chung với hành khách.

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng đối với hành vi không chấp hành nội quy an toàn trên ph ương tiện hoặc sự hướng dẫn của thuyền trưởng, người lái phương tiện.

2. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Mang hành lý thuộc loại hàng hóa mà pháp luật cấm vận tải chung với hành khách;

b) Gây mất trật tự, an toàn trên ph ương tiện.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu hàng hóa đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.

Theo Điều 7 – Luật Giao thông đường thuỷ nội địa ngày 15/6/2004, khi xảy ra tai nạn trên đường thuỷ nội địa các tổ chức, cá nhân tại khu vực xảy ra tai nạn phải có trách nhiệm như sau:

Vi phạm quy định về trách nhiệm khi xảy ra tai nạn giao thông đường thủy nội địa

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ50.000 đồng đến 100.000 đồng đối với hành vi không báo kịp thời cho c ơ quan Công an hoặc Ủy ban nhân dân địa phương nơi gần nhất khi xảy ra tai nạn giao thông đường thủy nội địa.

2. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian triệu tập của cơ quan nhà n ước có thẩm quyền.

3. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Trốn tránh nghĩa vụ tìm kiếm, cứu nạn khi có điều kiện thực hiện;

b) Gây mất trật tự, cản trở việc tìm kiếm, cứu nạn hoặc xử lý tai nạn;

c) Lợi dụng tai nạn xảy ra để xâm phạm, chiếm đoạt tài sản, ph ương tiện bị nạn.

5. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng 7.000.000 đồng đối với hành vi gây tai nạn mà bỏ trốn.

6. Hình thức xử phạt bổ sung:

T ước quyền sử dụng bằng, chứng chỉchuyên môn từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 5 Điều này.

Năm 2013 được Chính phủ chọn tiếp tục là Năm An toàn giao thông. Đây là quyết định hợp lý nhằm tạo những chuyển biến mang tính căn cơ và toàn diện h ơn, sau những thành công quan trọng của Năm An toàn giao thông 2012. Tuy nhiên, để Năm An toàn giao thông 2013 đạt kết quả tích cực hơn nữa, các ngành các cấp cần quan tâm một số vấn đề sau:

*Giải pháp

Từ thực tế trên, Ban ATGT tỉnh đã đề ra 5 giải pháp chủ yếu để khắc phục những tồn tại, hạn chế và nâng hiệu quả bảo công tác bảo đảm trật tự ATGT trên toàn địa bàn.

Thứ nhất, xây dựng Kế hoạch hành động thực hiện Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Bí th ư TƯ về tăng cường sự l ãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự ATGT.

Thứ hai , phát động phong trào thi đua nâng cao ý thức trách nhiệm của người thực thi công vụ trong lĩnh vực bảo đảm trật tự ATGT.

Thứ ba , nâng cao quản lý Nhà n ước trong lĩnh vực bảo đảm trật tự ATGT (tăng cường cưỡng chế xử l ý vi phạm pháp luật ATGT, giám sát công tác đào tạo, sát hạch, cấp GPLX, đăng kiểm phương tiện…).

Thứ t ư , đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự ATGT (đa dạng hoá sản phẩm truyền thống, tuyên truyền sâu rộng đến cơ sở, x ã, thôn; phát huy hiệu quả truyền thông qua hệ thống thông tin xuyên suốt từ tỉnh đến các địa phương, hệ thống đài truyền thanh xã, ph ường, thị trấn; các cơ quan, đơn vị, trường học, địa phương được thông báo có công dân thuộc quyền quản l ý vi phạm phải tiến hành kiểm điểm và có báo cáo lại với c ơ quan thông báo…).

Thứ năm , tăng cường quản lý, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, xử lý những điểm mất ATGT; tập trung giải toả hành lang ATGT trên các tuyến đường tỉnh, với việc giao Chủ tịch UBND cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức cưỡng chế quyết định xử phạt hành chính vi phạm hành lang ATGT đường bộ.

Tìm Hiểu Pháp Luật Về Bảo Hiểm Xã Hội Tim Hieu Phap Luat Ve Bhxh Doc / 2023

I. MỘT SỐ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN KẾ HOẠCH TỔ CHỨC CUỘC THI: “TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI”.

Luật Bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH) được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XI. Đây là một đạo luật quan trọng được Đảng, Nhà nước và người lao động hết sức quan tâm. Việc ban hành Luật BHXH đã tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả việc thực thi chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta.

Tuy vậy, trong quá trình thi hành Luật BHXH cho thấy vẫn còn nhiều bất cập, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tuy đã được mở rộng nhưng số người tham gia chưa nhiều, nhất là số lao động làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh, tình trạng trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH của các doanh nghiệp hoặc chiếm dụng, nợ đọng tiền đóng bảo hiểm xã hội còn xảy ra khá phổ biến. Nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động chưa đầy đủ về quyền lợi và trách nhiệm trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội ; công tác tuyên truyền về bảo hiểm xã hội chưa được coi trọng…

Chính vì vậy, nhằm tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo hiểm xã hội cho toàn thể cán bộ, công chức và nhân dân trên địa bàn tỉnh, nhất là người sử dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp; qua đó giúp mọi công dân nâng cao nhận thức và chấp hành tốt quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội. UBND tỉnh Quảng Ngãi đã Ban hành quyết định số 1197/QĐ-UBND ngày 07/8/2012 thành lập Ban tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về BHXH” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, đồng thời Ban hành kế hoạch phát động cuộc thi trên quy mô toàn tỉnh.

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CUỘC THI:

– Nhằm tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội cho toàn thể cán bộ, công chức và nhân dân trên địa bàn tỉnh, nhất là người sử dụng lao động và người lao động trong các cơ quan, đơn vị, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp; qua đó giúp mọi công dân nâng cao nhận thức và chấp hành tốt quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội.

– Yêu cầu toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đang sinh sống, công tác và học tập trên địa bàn tỉnh tham gia dự thi.

II. NỘI DUNG KẾ HOẠCH:

1. Về tổ chức cuộc thi:

Cuộc thi được tổ chức trên quy mô toàn tỉnh, các ngành, các cấp có trách nhiệm phối hợp triển khai tổ chức cuộc thi theo sự chỉ đạo của Ban tổ chức cuộc thi.

Sở Tư pháp là cơ quan thường trực chịu trách nhiệm tham mưu, tổ chức cuộc thi; chịu trách nhiệm về nội dung, hình thức và tiến độ tổ chức cuộc thi, báo cáo kết quả cuộc thi cho Chủ tịch UBND tỉnh.

2. Thể lệ cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về bảo hiểm xã hội”

2.1. Đối tượng dự thi:

Tất cả cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân đang sinh sống, công tác và học tập trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

Thành viên Ban Tổ chức, Ban giám khảo, Tổ thư ký, cán bộ, công chức Sở Tư pháp (kể cả chồng hoặc vợ, con của các thành viên này) không được tham gia dự thi.

2.2. Hình thức dự thi:

– Không chấp nhận bài dự thi sao chép dưới mọi hình thức.

– Bài dự thi trả lời các câu hỏi theo thứ tự, phải đánh số trang và đóng thành tập, không phải chép lại câu hỏi.

– Bài dự thi phải ghi rõ tên, tuổi, dân tộc, địa chỉ liên lạc, số điện thoại (nếu có) tại trang đầu tiên.

Để trả lời tốt các câu hỏi cuộc thi, người dự thi cần nghiên cứu vận dụng những văn bản sau:

– Luật Bảo hiểm xã hội 2006

– Nghị định số 152 /2006/NĐ-CP ngày 22/1 2 /2006 của Chính phủ h ướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc

– Nghị định số 190 /2007/NĐ-CP ngày 28/12/2007 của Chính phủ h ướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện

– Thông tư 02/2008/TT-BLĐTBXH ngày 31/01/2008 của Bộ Lao động, TB&XH hướng dẫn thực hiện một số Điều của Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28/12/2007 của Chính phủ hướng dẫn một số Điều của Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm xã hội tự nguyện

– Thông tư 19/2008/TT-BLĐTBXH ngày 23/9/2008 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sửa đổi, bổ sung Thông tư 03/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 152/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc.

– Quyết định 902/QĐ-BHXH ngày 26/6/2007 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam b an hành quy định về quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc.

2.4. Thời gian tổ chức cuộc thi:

– Thời gian nhận bài thi: Từ ngày phát động đến hết ngày 15/11/2012.

– Thời gian chấm bài và xếp giải: Từ ngày 16/11/2012 đến ngày 10/12/2012.

– Thời gian tổng kết và trao giải: Dự kiến ngày 15/12/2012.

2.5. Cơ cấu giải và mức thưởng:

a. Giải cá nhân:

– 01 giải nhất x 750.000 đồng/giải = 750.000 đồng

– 02 giải nhì x 500.000 đồng/giải = 1.000.000 đồng

– 03 giải ba x 400.000 đồng/giải = 1.200.000 đồng

– 20 giải khuyến khích x 250.000 đồng/giải = 5.000.000 đồng

b. Giải tập thể:

– 10 giải khuyến khích x 500.000 đồng/giải = 5.000.000 đồng

* Ngoài giải thưởng của Ban Tổ chức, cá nhân hoặc tập thể đạt giải còn được Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Ngãi tặng một phần quà trị giá 50% mức giải thưởng của Ban Tổ chức.

– Ban Tổ chức cuộc thi xem xét tặng giấy khen cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong cuộc thi (03 tập thể, 03 cá nhân) = 2.880.000 đồng.

03 cá nhân x 320.000đ = 960.000đ

03 tập thể x 640.000đ = 1.920.000đ

02 cá nhân x 1.050.000đ = 2.100.000đ

02 tập thể x 2.100.000đ = 4.200.000đ

II. GỢI Ý MỘT SỐ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG CUỘC THI

1. Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) được Quốc hội ban hành ngày, tháng, năm nào, bao gồm mấy chương, mấy điều?

Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006;

Luật BHXH có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007.

2. Các chế độ BHXH, đối tượng áp dụng các chế độ đó như thế nào?

Điều 4 Luật BHXH. Các chế độ bảo hiểm xã hội

1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm các chế độ sau đây:

c) Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

2. Bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây:

3. Bảo hiểm thất nghiệp bao gồm các chế độ sau đây:

a) Trợ cấp thất nghiệp;

b) Hỗ trợ học nghề;

c) Hỗ trợ tìm việc làm.

Điều 2 Luật BHXH. Đối tượng áp dụng

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;

b) Cán bộ, công chức, viên chức;

c) Công nhân quốc phòng, công nhân công an;

d) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;

đ) Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;

e) Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

2. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.

3. Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng với người sử dụng lao động quy định tại khoản 4 Điều này.

4. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người sử dụng lao động quy định tại khoản 2 Điều này có sử dụng từ mười lao động trở lên.

Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện sau đây gọi chung là người lao động.

3. Quyền và trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động trong việc tham gia BHXH.

Người lao động có các quyền sau đây:

2. Nhận sổ bảo hiểm xã hội khi không còn làm việc;

b) Nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng;

c) Đang hưởng trợ cấp thất nghiệp;

7. Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội;

8. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

1. Người lao động có các trách nhiệm sau đây:

a) Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này;

b) Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ bảo hiểm xã hội;

c) Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội theo đúng quy định;

d) Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

2. Ngoài việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp còn có các trách nhiệm sau đây:

a) Đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;

b) Thông báo hằng tháng với tổ chức bảo hiểm xã hội về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp;

c) Nhận việc làm hoặc tham gia khoá học nghề phù hợp khi tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu.

Người sử dụng lao động có các quyền sau đây:

1. Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;

2. Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội;

3. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

1. Người sử dụng lao động có các trách nhiệm sau đây:

c) Trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động khi người đó không còn làm việc;

đ) Trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động;

i) Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

2. Ngoài việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này, hằng tháng người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 102 và trích từ tiền lương, tiền công của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 102 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp .

4. Sau khi nghỉ thai sản, ốm đau theo quy định, người lao động còn được hưởng những chế độ gì?

Điều 26 Luật BHXH. Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi ốm đau

1. Người lao động sau thời gian hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại Điều 23 của Luật này mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày trong một năm.

2. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.

1. Lao động nữ sau thời gian hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 30, khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 31 của Luật này mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày trong một năm.

2. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.

5. Điều kiện để được hưởng chế độ tai nạn lao động, chế độ bệnh nghề nghiệp? Việc nghỉ dưỡng sức được quy định như thế nào?

Người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc;

b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;

c) Trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;

2. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này.

Người lao động được hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

2. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị bệnh quy định tại khoản 1 Điều này.

1. Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh tật do bệnh nghề nghiệp mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khoẻ từ năm ngày đến mười ngày.

2. Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung.

6. Điều kiện hưởng Bảo hiểm thất nghiệp?

Điều 81 Luật BHXH. Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Người thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp;

2. Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;

3. Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều này.

7. Việc tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng?

Người lao động đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng bị tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo;

2. Xuất cảnh trái phép;

3. Bị Toà án tuyên bố là mất tích.

8. Người hiện đang làm công việc tự do và muốn tham gia đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện thì phải làm những thủ tục như thế nào?

– Đối tượng áp dụng BHXH tự nguyện được quy định chi tiết tại Thông tư số 02/2008/TT-BLĐTBXH ngày 31/01/2008 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

9. Anh Nguyễn Văn A sau khi thử việc 01 tháng thì được Công ty C ký hợp đồng lao động với thời hạn 3 tháng. Kết thúc thời hạn trên, Công ty C lại ký tiếp với anh một hợp đồng khác với thời hạn 3 tháng và không đóng BHXH cho anh A. Khi anh A yêu cầu công ty đóng BHXH cho mình thì lãnh đạo Công ty giải thích đó là hợp đồng thời vụ nên không phải đóng BHXH. Theo bạn, hành vi của Công ty C là có đúng quy định của pháp luật hay không, hướng giải quyết như thế nào?

– Tại Điều 2 Luật BHXH quy định:

1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;

– Nêu mục đích, ý nghĩa của việc tham gia BHXH

– Những tồn tại vướng mắc trong việc thực hiện Luật BHXH hiện nay

– Các giải pháp nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động.

Tài liệu được đăng tải trên Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp: stp.quangngai.gov.vn

Tim Hieu Phap Hanh Thien Tue / 2023

Vipassanāpariyesanā Tỳ khưu HỘ PHÁP(Dhammarakkhita Bhikkhu)

Tổ đình Bửu Long, Long Bình, Q.9, Tp. Hồ Chí Minh Phật lịch 2546 / 2002

-ooOoo-

LỜI CHÂN THÀNH BIẾT ƠN (Tái bản lần thứ nhất)

Lời nói đẩu tiên của bần sư là lời chân thành biết ơn những bạn đọc, bậc thiện trí đã dành thì giờ quý báu của mình để đọc quyển sách “Tìm Hiểu Pháp Hành Thiền Tuệ”, đã phát hiện ra những sơ sót của bần sư, khiến cho bần sư vô cùng cảm kích trước thiện tâm trong sáng, xây dựng của quý vị. Đó là điều thôi thúc trong lòng bần sư, quyết tâm tái bản cho kỳ được, để sửa chữa những sơ sót mà quý vị đã chỉ giáo.

Tái bản lần này, bần sư đã sửa chữa những sơ sót, bớt phần dư, bổ sung vào phần thiếu, trình bày lại cho mạch lạc, để đền đáp một phần công ơn của quý vị đã quan tâm tìm hiểu quyển sách này.

Tuy nhiên, khả năng của bần sư có hạn, dầu cho cố gắng đến đâu đi nữa, chắc chắn cũng không tránh khỏi những sơ sót chưa tìm thấy, thậm chí còn có chỗ sai ngoài khả năng của bần sư.

Bần sư kính xin quý vị xem soạn phẩm này như là của chung, mà mỗi người trong chúng ta ai cũng có phần đóng góp xây dựng để cho quyển sách này được hoàn hảo, đó cũng là công lao giúp duy trì giáo pháp của Đức Phật được trường tồn trên quê hương thân yêu của chúng ta, để đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc lâu dài cho mình, mọi người và chúng sinh.

Bần sư chân thành biết ơn quý vị !

Tỳ Khưu Hộ Pháp Núi rừng Viên Không Phật Lịch 2546-2002

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Ðức Thế Tôn, Bậc Arahán, Bậc Chánh Ðẳng Giác

Paṇāmagāthā

Buddhaṃ Bhagavantaṃ seṭṭhaṃ, Ādaraṃ abhivandiya. Buddhassa Dhammosadhañca, Ādimajjhantakaḷyanaṃ. Buddhasāvakasaṃghañca, Puññakkhettaṃ anuttaraṃ.“Vipassanāpriyesanā”, Katā me aṭṭhasaṅgahā.

KỆ LỄ BÁI TAM BẢO

Chúng con đem hết lòng thành kính, Ðảnh lễ Ðức Thế Tôn cao thượng, Cùng Pháp của Ngài, như linh dược, Hoàn hảo đoạn đầu, giữa và cuối, Cùng chư Thánh Tăng đệ tử Phật, Phước điền cao thượng của chúng sinh. Con xin biên soạn tập sách nhỏ,“Tìm hiểu về Pháp Hành Thiền Tuệ”.

-ooOoo-

Ðức Phật hằng ngày thường giáo huấn chư Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, cận sự nam, cận sự nữ rằng:

“Bhikkhave, appamādena sampādetha, Dullabho Buddhuppādo lokasmiṃ…”. [1]

“Này chư Tỳ khưu, các con hãy nên cố gắng tinh tấn hoàn thành mọi phận sự Tứ thánh đế bằng pháp hành Tứ niệm xứ. Bởi vì, Ðức Phật xuất hiện trên thế gian này là một điều khó!…”.

Thật vậy, trong Chú giải Trường bộ kinh [2] có ghi:

Có khi trải qua khoảng thời gian lâu dài vô số đại kiếp trái đất [3], mà chẳng có một Ðức Phật nào xuất hiện trên thế gian, gọi là suññakappa.

Thật diễm phúc biết dường nào! Trong kiếp trái đất hiện tại mà chúng ta đang sống gọi là Bhaddakappa, có nhiều nhất, đến 5 Ðức Phật xuất hiện trên thế gian:

Thời quá khứ, có 3 Ðức Phật đã xuất hiện trên thế gian là Ðức Phật Kakusandha, Ðức Phật Koṇāgamana, Ðức Phật Kassapa.

Thời hiện tại, Ðức Phật Gotama của chúng ta đã xuất hiện, nay, tuy Ngài đã tịch diệt Niết Bàn, song giáo pháp của Ngài vẫn còn lưu truyền trên thế gian này đến 5.000 năm. Ðến nay, giáo pháp của Ngài đã được lưu truyền trên 2.540 năm rồi và chỉ còn lưu truyền trong một thời gian khoảng 2.560 năm nữa, đủ 5.000 năm sẽ bị hoại diệt hoàn toàn. Bởi vì, loài người chẳng còn ai biết đến Ðức Phật, Ðức Pháp và Ðức Tăng nữa

Thời vị lai, còn Ðức Phật Metteyya sẽ xuất hiện trên thế gian.

Khi có Ðức Phật xuất hiện trên thế gian, thì mới có pháp hành thiền tuệ (vipassanābhāvanā). Khi có pháp hành thiền tuệ, thì chúng sinh có duyên lành mới có thể học và hành theo pháp hành thiền tuệ để dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, là pháp giải thoát mọi cảnh khổ sanh, lão, bệnh, tử… đạt đến sự an lạc tuyệt đối.

Ðức Phật dạy trong Kinh Ðại Niết Bàn [4] có đoạn:

Một thuở nọ, Ðức Thế Tôn ngự đến làng Koṭigāma, Ngài dạy chư Tỳ khưu rằng:

“Này chư Tỳ khưu, bởi vì chưa chứng ngộ, chưa thấu triệt chân lý Tứ thánh đế, nên Như Lai và các con phải chịu tử sanh luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác, trải qua suốt thời gian dài vô tận như thế ấy”.

Vậy, chân lý Tứ thánh đế là gì?

Này chư Tỳ khưu, bởi vì chưa chứng ngộ, chưa thấu triệt Khổ thánh đế, nên Như Lai và các con phải chịu tử sanh luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác trải qua suốt thời gian dài vô tận như thế.

Này chư Tỳ khưu, bởi vì chưa chứng ngộ, chưa thấu triệt Nhân sanh Khổ thánh đế, nên Như Lai và các con phải chịu tử sanh luân hồi…

Này chư Tỳ khưu, bởi vì chưa chứng ngộ, chưa thấu triệt Diệt Khổ thánh đế, nên Như Lai và các con phải chịu tử sanh luân hồi…

Này chư Tỳ khưu, bởi vì chưa chứng ngộ, chưa thấu triệt Pháp hành dẫn đến Diệt Khổ thánh đế, nên Như Lai và các con phải chịu tử sanh luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác, trải qua suốt thời gian dài vô tận như thế.

Này chư Tỳ khưu, nay, Như Lai đã chứng ngộ, đã thấu triệt Khổ thánh đế; Như Lai đã chứng ngộ, đã thấu triệt Nhân sanh Khổ thánh đế; Như Lai đã chứng ngộ, đã thấu triệt Diệt Khổ thánh đế; Như Lai đã chứng ngộ, đã thấu triệt Pháp hành dẫn đến Diệt Khổ thánh đế. Như Lai đã diệt đoạn tuyệt gốc rễ tham ái là nhân sanh khổ rồi, không còn tham ái dắt dẫn đi tái sanh trong kiếp lớn kiếp nhỏ nữa, Như Lai chẳng còn phải tái sanh kiếp nào nữa…”.

Pháp hành dẫn đến pháp Diệt Khổ thánh đế, đó là pháp hành Bát chánh đạo hợp đủ tám chánh: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định; đó là 8 tâm sở: trí tuệ tâm sở, hướng tâm tâm sở, chánh ngữ tâm sở, chánh nghiệp tâm sở, chánh mạng tâm sở, tinh tấn tâm sở, niệm tâm sở, nhất tâm tâm sở cùng với 28 tâm sở khác đồng sanh trong 4 Thánh Ðạo Tâm và 4 Thánh Quả Tâm thuộc về siêu tam giới tâm, có Niết Bàn làm đối tượng.

Như vậy, Pháp hành Bát chánh đạo hợp đủ 8 chánh không phải là pháp hành bắt đầu tiến hành, hoặc đang tiến hành, mà là pháp thành ở giai đoạn kết quả cuối cùng, đã hoàn thành xong mọi phận sự của Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả và Niết Bàn.

Sự bắt đầu của pháp hành Bát chánh đạo là bắt đầu từ chánh niệm; đó là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp gọi là pháp hành Tứ niệm xứ.

Trong kinh Ðại Tứ niệm xứ, Ðức Phật thuyết giảng bắt đầu bằng câu:

“Ekāyano ayaṃ bhikkhave maggo…”.

Này chư Tỳ khưu, đạo này là con đường duy nhất, để dẫn đến sự trong sạch, thanh tịnh hoàn toàn mọi phiền não, ô nhiễm trong tâm bậc Chánh Ðẳng Giác, chư Phật Ðộc Giác, chư Thánh Thanh Văn Giác; để diệt sự sầu não, than khóc; để diệt sự khổ thân, khổ tâm; để chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả; để chứng ngộ Niết Bàn. Ðạo duy nhất này là pháp hành Tứ niệm xứ…“.[5]

Pháp hành Tứ niệm xứ là: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp cũng chính là niệm danh pháp, niệm sắc pháp, mà danh pháp, sắc pháp là đối tượng của pháp hành thiền tuệ.

Như vậy, tiến hành Tứ niệm xứ hoặc tiến hành thiền tuệ đều đưa đến kết quả hoàn toàn giống nhau. Ðó là chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, là pháp siêu tam giới.

Pháp Hành Thiền Tuệ là pháp hành chỉ có trong Phật giáo, hoàn toàn không có ngoài Phật giáo. Pháp hành này có từ khi Ðức Phật xuất hiện trên thế gian và trong giáo pháp của Ngài.

Đức Thế Tôn có danh hiệu là “Sammāsambuddha”: Bậc Chánh Ðẳng Giác, bởi vì chính tự Ngài là Bậc đầu tiên tiến hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh Arahán đầu tiên trong 10 muôn triệu thế giới chúng sinh. Do đó, gọi là bậc Chánh Ðẳng Giác.

Và Ðức Thế Tôn có danh hiệu “Buddha”: Ðức Phật, bởi vì chính tự Ngài là Bậc đầu tiên tiến hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn; rồi đem ra giáo huấn chúng sinh: nhân loại, chư thiên, phạm thiên…, cũng chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn như Ngài đã chứng ngộ. Do đó, gọi là Ðức Phật.

Pháp hành thiền tuệ là pháp hành dẫn đến sự giải thoát khổ tái sanh. Sự giải thoát khổ tái sanh theo khả năng của mỗi bậc Thánh nhân như sau:

Hạng thiện trí phàm nhân tiến hành thiền tuệ có thể dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Nhập Lưu Thánh Ðạo, Nhập Lưu Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Nhập Lưu (Sotāpanna), là bậc Thánh thứ nhất trong Phật giáo. Bậc Thánh Nhập Lưu này, được giải thoát khổ tái sanh trong 4 cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ và súc sanh), chỉ còn tái sanh cõi thiện giới: làm người hoặc chư thiên ở 6 cõi trời dục giới, nhiều nhất đến 7 kiếp. Trong kiếp thứ 7 chắc chắn sẽ chứng đắc Arahán Thánh Ðạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt sự tử sanh luân hồi trong tam giới.

Bậc Thánh Nhập Lưu, nếu tiếp tục tiến hành thiền tuệ, có thể dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Nhất Lai Thánh Ðạo, Nhất Lai Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Nhất Lai (Sakadāgāmi), là bậc Thánh thứ nhì trong Phật giáo. Bậc Thánh Nhất Lai này, chỉ còn khổ tái sanh một kiếp làm người hoặc làm chư thiên cõi trời dục giới mà thôi. Trong kiếp ấy chắc chắn sẽ chứng đắc Arahán Thánh Ðạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sanh luân hồi trong tam giới.

Bậc Thánh Nhất Lai, nếu tiếp tục tiến hành thiền tuệ, có thể dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Bất Lai Thánh Ðạo, Bất Lai Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Bất Lai (Anāgāmi), là bậc Thánh thứ ba trong Phật giáo. Bậc Thánh Bất Lai này, không còn khổ tái sanh trở lại cõi dục giới, mà chỉ còn tái sanh làm Phạm thiên ở cõi trời sắc giới. Ở tại cõi trời ấy, chắc chắn sẽ chứng đắc Arahán Thánh Ðạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sanh luân hồi trong tam giới.

Bậc Thánh Bất Lai, nếu tiếp tục tiến hành thiền tuệ có thể dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Arahán Thánh Ðạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán (Arahanta), là bậc Thánh thứ tư cao thượng nhất trong Phật giáo.

Bậc Thánh Arahán đã hoàn toàn diệt đoạn tuyệt mọi tham ái, cùng tất cả mọi phiền não, ác pháp không còn dư sót; đã hoàn thành mọi phận sự của Tứ thánh đế, đã hoàn thành xong phạm hạnh; ngay kiếp hiện tại, đến khi hết tuổi thọ, tịch diệt Niết Bàn, giải thoát khổ tái sanh, chấm dứt tử sanh luân hồi trong tam giới.

Vậy, Pháp Hành Thiền Tuệ này đưa đến mục đích cuối cùnglà tịch diệt Niết Bàn, giải thoát khổ tái sanh ở kiếp sau. Vì nếu còn tái sanh dầu cõi dục giới, cõi sắc giới hay cõi vô sắc giới, cũng còn phải chịu khổ của danh pháp, sắc pháp. Giải thoát khổ tái sanh là giải thoát hoàn toàn tất cả mọi cảnh khổ. Ðó là Niết Bàn, Diệt Khổ thánh đế.

Nên Ðức Phật dạy:

“Natthi rāgasamo aggi, Natthi dosasamo kali. Natthi khandhasamā dukkhā, Natthi santiparaṃ sukhaṃ”.

[6]

Không có lửa nào, như lửa tình dục. Không có tội nào, như tội sân hận. Không có khổ nào, như khổ ngũ uẩn. Không có lạc nào, hơn lạc Niết Bàn.

“Nibbānaṃ paramaṃ sukhaṃ” [7]. Niết Bàn là an lạc tuyệt đối.

“Nibbānaṃ paramaṃ vadanti Buddhā…”. [8] Chư Phật Toàn Giác, chư Phật Ðộc Giác, chư Thánh Thanh Văn Giác đồng tán dương ca tụng Niết Bàn cao thượng nhất.

Niết Bàn là mục đích tột cùng của chư Phật Toàn Giác, chư Phật Ðộc Giác, chư Thánh Thanh Văn Giác và cũng là mục đích chung cho các hàng Phật tử xuất gia và tại gia cư sĩ.

Những nguyên nhân xa và gần để chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành Ðức Phật Toàn Giác, Ðức Phật Ðộc Giác, bậc Thánh Thanh Văn Giác, đều tùy thuộc vào sự tròn đủ 10 pháp hạnh ba la mật.

Mười pháp hạnh ba la mật (pāramī) là:

1- Bố thí ba la mật (Dānapāramī). 2- Giữ giới ba la mật (Sīlapāramī). 3- Xuất gia ba la mật (Nekkhammapāramī). 4- Trí tuệ ba la mật (Paññāpāramī). 5- Tinh tấn ba la mật (Vīriyapāramī). 6- Nhẫn nại ba la mật (Khantipāramī). 7- Chân thật ba la mật (Saccapāramī). 8- Chí nguyện ba la mật (Addhiṭṭhānapāramī). 9- Tâm từ ba la mật (Mettāpāramī). 10- Tâm xả ba la mật (Upekkhāpāramī).

Pāramī: ba la mật, có nhiều nghĩa. Nghĩa chính yếu của pháp hạnh ba la mậtlà ṅhân duyên chính để dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn cao thuợng”. Vìvậy, không phải bố thí, giữ giới, xuất gia…, nào cũng trở thành ba la mật được.

Ðiều kiện trở thành ba la mật phải có thiện tâm hoàn toàn trong sạch, không bị ô nhiễm do bởi tham ái (taṇhā), ngã mạn (māna), tà kiến (diṭṭhi), và đồng thời hợp với tâm đại bi (mahākaruṇā) và trí tuệ hướng đến chứng đạt cứu cánh Niết Bàn (upāyakosallañāṇa). Nhờ hợp đủ điều kiện như vậy, thì sự bố thí, giữ giới, xuất gia…, mới trở thành pháp hạnh ba la mật.

Pháp hạnh ba la mật quyết định sự thành tựu nguyện vọng của mỗi vị Bồ Tát như sau:

Ðể trở thành bậc Thánh Thanh Văn bậc thường (Ariyasāvaka): Vị Bồ Tát Thanh Văn ấy (Sāvakabodhisatta) cần phải tạo trọn đủ 10 pháp hạnh ba la mật, trong suốt một thời gian nhanh nhất cũng gần 100 ngàn đại kiếp rồi phải có duyên lành gặp Ðức Phật Toàn Giác hoặc giáo pháp của Ðức Phật ấy, được nghe, được hiểu biết chánh pháp rồi tiến hành thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Thanh Văn.

Ðức Phật Gotama có vô số bậc Thánh Thanh Văn bậc thường.

Ðể trở thành bậc Thánh Ðại Thanh Văn (Mahāsāvaka). Vị Bồ Tát đại Thanh Văn ấy (Mahāsāvakabodhisatta) cần phải tạo trọn đủ 10 pháp hạnh ba la mật, trong suốt thời gian 100 ngàn đại kiếp, rồi chắc chắn phải có duyên lành gặp Ðức Phật Toàn Giác, được nghe từ kim ngôn của Ðức Phật, tiến hành thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán đại Thanh Văn.

Ðức Phật Gotama có 80 vị Thánh đại Thanh Văn.

Ðểtrở thành bậc Thánh Tối thượng Thanh Văn (Aggasāvaka): Vị Bồ Tát tối thượng Thanh Văn ấy (Aggasāvakabodhisatta), cần phải tạo trọn đủ 10 pháp hạnh ba la mật trong suốt thời gian một a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp, rồi chắc chắn có duyên lành gặp Ðức Phật Toàn Giác, được nghe từ kim ngôn của Ðức Phật rồi tiến hành thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán tối thượng Thanh Văn.

Ðức Phật Gotama có 2 vị Thánh tối thượng Thanh Văn. Ðó là: Ðại Ðức Sāriputta và Ðại Ðức Mahāmoggallāna.

* Ðểtrở thành Ðức Phật Ðộc Giác (Paccekabuddha):Vị Bồ Tát Ðộc Giác ấy (Paccekabodhisatta), cần phải tạo trọn đủ 20 pháp hạnh ba la mật: 10 pháp hạnh ba la mật bậc thường và 10 pháp hạnh ba la mật bậc trung, trong suốt thời gian 2 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Vào thời kỳ không có Ðức Phật Toàn Giác xuất hiện trên thế gian, vị Bồ Tát Ðôïc Giác này không cần phải nghe, học hỏi từ một vị thầy nào khác, mà chỉ tự chính mình tiến hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán, gọi là Ðức Phật Ðộc Giác.

Ðức Phật Ðộc Giác, chính Ngài chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, nhưng không thể giáo huấn chúng sinh cùng chứng ngộ chân lý như Ngài. Ðức Phật Ðộc Giác có thể có hàng trăm hàng ngàn vị, song mỗi vị đều tự chính mình chứng đắc.

* Ðể trở thành Ðức Phật Toàn Giác, gọi là Bậc Chánh Ðẳng Giác (Sammāsambuddha): Vị Bồ Tát Chánh Ðẳng Giác ấy (Sammāsambodhisatta), cần phải tạo trọn đủ 30 pháp hạnh ba la mật: 10 pháp hạnh ba la mật bậc thường, 10 pháp hạnh ba la mật bậc trung và 10 pháp hạnh ba la mật bậc thượng. Thời gian để tạo 30 pháp hạnh ba la mật khác nhau tùy theo ba hạng Bồ Tát như sau:

1- Ðối với Ðức Bồ Tát có trí tuệ ưu việt (Paññādhika), tức là trí tuệ có năng lực hơn cả đức tin và tinh tấn. Khi Ðức Bồ Tát đã được Ðức Phật thọ ký xong rồi còn cần phải tạo 30 pháp hạnh ba la mật thêm suốt thời gian 4 a tăng kỳ [9] và 100 ngàn đại kiếp [10] nữa. Ðức Bồ Tát này không cần phải nghe hay học hỏi từ một vị thầy nào khác, mà tự chính mình tiến hành thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán đầu tiên xuất hiện trên thế gian, gọi là Bậc Chánh Ðẳng Giác, hoặc Ðức Phật Toàn Giác, độc nhất vô nhị.

2- Ðốivới Ðức Bồ Tát có đức tin ưu việt (Saddhādhika),tức là đức tin có năng lực hơn cả trí tuệ và tinh tấn. Khi Ðức Bồ Tát đã được Ðức Phật thọ ký xong rồi còn cần phải tạo 30 pháp hạnh ba la mật thêm trong suốt thời gian gấp đôi Ðức Bồ Tát có trí tuệ ưu việt, là 8 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Ðức Bồ Tát này không cần phải nghe hay học hỏi từ vị thầy nào khác, mà tự chính mình tiến hành thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả trở thành bậc Thánh Arahán đầu tiên xuất hiện trên thế gian, gọi là Bậc Chánh Ðẳng Giác, hoặc Ðức Phật Toàn Giác, độc nhất vô nhị.

3- Ðối với Ðức Bồ Tát có tinh tấn ưu việt (Vīriyādhika),tức là tinh tấn có năng lực hơn cả trí tuệ và đức tin. Khi Ðức Bồ Tát đã được Ðức Phật thọ ký xong rồi, còn cần phải tạo 30 pháp hạnh ba la mật thêm trong suốt thời gian gấp đôi Ðức Bồ Tát có đức tin ưu việt, là 16 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp nữa. Ðức Bồ Tát này không cần phải nghe hay học hỏi từ một vị thầy nào khác, mà tự chính mình tiến hành thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả trở thành bậc Thánh Arahán đầu tiên xuất hiện trên thế gian, gọi là Bậc Chánh Ðẳng Giác, hoặc Ðức Phật Toàn Giác, độc nhất vô nhị.

Người Phật tử, dầu là bậc xuất gia hay hàng tại gia cư sĩ, có nguyện vọng muốn trở thành Ðức Phật Toàn Giác, Ðức Phật Ðộc Giác, bậc Thánh Thanh Văn Giác bậc nào; người Phật tử ấy cần phải tạo trọn đủ những pháp hạnh ba la mật theo tiêu chuẩn bậc ấy, để làm nhân duyên chính, dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả, đạt đến nguyện vọng của mình.

Trong 10 pháp hạnh ba la mật: bố thí, giữ giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, chí nguyện, tâm từ và tâm xả đều có tính tương quan lẫn nhau tùy theo mỗi ba la mật.

Ví dụ:

Khi thí chủ muốn tạo bố thí ba la mật là chính, thì có thể có một số ba la mật phụ khác như: trí tuệ, tinh tấn, chí nguyện, tâm từ,… cũng thành tựu cùng với bố thí ba la mật.

Ðặc biệt nhất, khi hành giả tiến hành thiền tuệ, tạo trí tuệ ba la mật là chính, thì sẽ có rất nhiều ba la mật phụ khác như: giữ giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, chí nguyện cùng thành tựu với pháp hạnh trí tuệ ba la mật. Ðó là tánh ưu việt của sự tiến hành thiền tuệ.

Ðối với chư Bồ Tát có nguyện vọng muốn trở thành Ðức Phật Toàn Giác, Ðức Phật Ðộc Giác, bậc Thánh tối thượng Thanh Văn hay bậc Thánh đại Thanh Văn, thì chắc chắn không thể thành đạt được trong thời kỳ Ðức Phật đã tịch diệt Niết Bàn, dầu giáo pháp của Ngài hiện còn lưu truyền trên thế gian. Song, sự tiến hành thiền tuệ là một cơ hội quý giá hiếm có, để bồi bổ các pháp hạnh ba la mật. Khi chư Bồ Tát ấy tiến hành thiền tuệ, có khả năng chứng đạt trí tuệ thiền tuệ, nhưng chỉ có thể đạt đến trí tuệ thiền tuệ thứ 14 gọi là saṅkhārupekkhāñāṇa mà thôi, không thể chứng đạt đến trí tuệ thiền tuệ cao hơn. Bởi vì, bị ngăn cản do năng lực phát nguyện trở thành Ðức Phật Toàn Giác, hoặc Ðức Phật Ðộc Giác, hoặc bậc Thánh tối thượng Thanh Văn hoặc bậc Thánh đại Thanh Văn.

Ngoài ra, đối với bậc Thanh Văn hạng thường (Pakatisāvaka), ngay ở thời kỳ chánh pháp của Ðức Phật còn lưu truyền trên thế gian này, vẫn còn là một cơ hội tốt, để cho số Thanh Văn hạng thường này tiến hành thiền tuệ. Nếu có đủ trí tuệ ba la mật từ nhiều đời nhiều kiếp ở quá khứ làm duyên lành hỗ trợ, có thể dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả nào đó, thì thật là diễm phúc biết dường nào! Nếu chưa được chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả, thì âu cũng là duyên lành hi hữu để bồi bổ ba la mật, hầu mong chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả ở vị lai.

Niềm hy vọng đối với tất cả Phật tử chúng ta, theo kinh sách có ghi rõ rằng:

“M ỗi Ðức Phật Toàn Giác có khả năng tế độ một số lượng khoảng 24 a tăng kỳ 600 triệu 100 ngàn chúng sinh, được cứu vớt ra khỏi biển khổ tử sanh luân hồi trong ba giới bốn loài”.[11]

Ðức Phật Gotama của chúng ta đã thuyết pháp tế độ chúng sinh suốt 45 năm, vẫn chưa đủ số lượng 24 a tăng kỳ 600 triệu 100 ngàn chúng sinh ấy. Cho nên, khi Ðức Phật tịch diệt Niết Bàn rồi, giáo pháp của Ngài còn lưu truyền trên thế gian đến 5.000 năm, để cứu vớt chúng sinh có duyên lành còn sót lại, có cơ hội học hỏi theo chánh pháp rồi tiến hành thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả.

Vậy, chúng ta nên có niềm tin và hy vọng ở trong số lượng chúng sinh được tế độ, chúng ta nên cố gắng tinh tấn tiến hành thiền tuệ, chớ nên dễ duôi!

Ðể chứng minh, trong Chú giải Kinh Gotamisutta [12] có ghi rằng: “Giáo pháp của Ðức Phật Gotama tồn tại trên thế gian 5.000 năm, trải qua 5 thời kỳ như sau:

1- Thời kỳ thứ nhất: Gồm có 1.000 năm, sau khi Ðức Phật tịch diệt Niết Bàn, có những bậc Thánh Arahán đầy đủ Tứ tuệ phân tích (Catupaṭisambhidā), bậc Thánh Arahán có đủ Lục thông, Tam minh.

2- Thời kỳ thứ nhì: Gồm có 1.000 năm (từ 1001- 2000 năm), sau khi Ðức Phật tịch diệt Niết Bàn, có thể còn các bậc Thánh Arahán, tận diệt đoạn tuyệt tham ái, phiền não (Sukkhavipassaka) [13], không có đủ Lục thông.

3- Thời kỳ thứ ba: Gồm có 1.000 năm (từ 2001- 3000 năm), sau khi Ðức Phật tịch diệt Niết Bàn, không còn bậc Thánh Arahán, có thể còn bậc Thánh Bất Lai (Anāgāmi).

4- Thời kỳ thứ tư: Gồm có 1.000 năm (từ 3001- 4000 năm), sau khi Ðức Phật tịch diệt Niết Bàn, không còn bậc Thánh Bất Lai, có thể còn bậc Thánh Nhất Lai (Sakadāgāmi).

5- Thời kỳ thứ năm: Gồm có 1.000 năm (từ 4001- 5000 năm), sau khi Ðức Phật tịch diệt Niết Bàn, không còn bậc Thánh Nhất Lai, có thể còn những bậc Thánh Nhập Lưu (Sotāpanna).

Căn cứ vào Chú giải ở trên, năm nay Phật lịch 2546 năm, những người Phật tử chúng ta đang ở vào thời kỳ thứ ba, chúng ta nên có một niềm tin, một hy vọng nơi giáo pháp của Ðức Phật, trong thời kỳ này có thể cứu vớt chúng ta ra khỏi biển khổ trầm luân. Chính chúng ta, là người Phật tử, có quyền được thừa hưởng di sản Pháp bảo quý báu mà Ðức Phật đã để lại.

Những người Phật tử, chắc chắn không một ai có thể biết được ba la mật của mình đã tạo từ nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ, cho đến kiếp hiện tại này. Biết đâu rằng! Người nào đó đã từng tạo pháp hạnh ba la mật, có khả năng dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả nào đó? Nhưng trong kiếp hiện tại này, người ấy không chịu tinh tấn tiến hành thiền tuệ, thì không chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả ấy. Như vậy, người ấy đã bỏ lỡ cơ hội tốt hiếm có, thật đáng tiếc biết dường nào !

Ðể dẫn chứng rằng không một ai có thể biết được ba la mật của mình, trong Chú giải Pháp Cú, tíchÐại Ðức Cūḷapanthakatthera (Trưởng lão Tiểu Bàn-Đặc), [14] tóm lược như sau:

Ðại Ðức Cūḷapanthaka có một sư huynh là Ðại Ðức Mahāpanthaka xuất gia trở thành Tỳ khưu trước, và đã chứng đắc thành bậc Thánh Arahán.

Về sau Ðại Ðức Mahāpanthaka hướng dẫn người em là Cūḷapanthaka xuất gia Tỳ khưu. Khi xuất gia xong, sư huynh Mahāpanthaka dạy sư đệ Cūḷapanthaka học một bài kệ, mà suốt 4 tháng vẫn không học thuộc được.

Ðại Ðức Mahāpanthaka bảo rằng:

– Này Cūḷapanthaka, sư đệ dường như không có duyên lành trong Phật giáo. Ðiều đó dễ thấy rõ, chỉ một bài kệ mà sư đệ học suốt 4 tháng vẫn chưa thuộc, thì nói gì đến việc hành phạm hạnh cao thượng làm sao được? Sư đệ nên rời khỏi chùa đi về nhà.

Ðại Ðức Cūḷapanthaka không muốn hoàn tục, vì tâm còn tha thiết với phạm hạnh xuất gia Tỳ khưu và lưu luyến ngôi chùa Ambavana. Nhưng sư huynh Mahāpanthaka bảo rời khỏi chùa, thì đành phải ra về, để hoàn tục, sống tại gia, làm phước bố thí, giữ giới, v.v…

Vào canh chót đêm hôm ấy, Ðức Phật quán xét chúng sinh có duyên lành nên tế độ, thấy rõ Tỳ khưu Cūḷapanthaka ở trong mạng lưới trí đại bi tế độ của Ngài.

Sáng sớm hôm sau, Ðức Phật ngự ra trước cổng chùa, đi kinh hành để chờ Ðại Ðức Cūḷapanthaka.

Cùng lúc ấy, Ðại Ðức Cūḷapanthaka từ giả ngôi chùa Ambavana để trở về nhà, khi ra đến cổng, Ðại Ðức nhìn thấy Ðức Phật nên đến đảnh lễ Ngài.

Ðức Thế Tôn bèn hỏi:

– N ày Cūḷapanthaka, con đi đâu mà sớm vậy?

Ðại Ðức Cūḷapanthaka thưa rằng:

– Kính bạch Ðức Thế Tôn, sư huynh của con bảo con rời khỏi chùa trở về nhà, hoàn tục, bởi con không có duyên lành xuất gia hành phạm hạnh cao thượng.

– Này Cūḷapanthaka, con xuất gia trở thành Tỳ khưu trong giáo pháp của Như Lai, thì dầu sư huynh của con bảo con rời khỏi chùa, sao con không đến với Như Lai?

Này Cūḷapanthaka, con hãy đến chỗ của Như Lai.

Ðức Thế Tôn đưa bàn tay mềm mại có dấu bánh xe sờ trên đầu Ðại Ðức Cūḷapanthaka dẫn đi về cốc Gandhakuṭi, nơi Ngài đang ngự. Ðức Thế Tôn bảo Ðại Ðức Cūḷapanthaka ngồi trước cửa cốc quay mặt về hướng Ðông, rồi Ngài trao cho một miếng vải mới còn sạch sẽ và truyền dạy:

– Con hãy vò miếng vải này, đồng thời niệm tưởng rằng: “rajoharanaṃ… rajoharanaṃ… rajoharanaṃ…”: “vải lau bụi dơ… vải lau bụi dơ… vải lau bụi dơ…”.

Ðại Ðức quán xét thấy rõ miếng vải sạch sẽ, khi tiếp xúc với sắc thân này, trở thành dơ bẩn như thế ấy!

“Tất cả pháp hữu vi đều vô thường!”.

Ðại Ðức Cūḷapanthaka tiến hành thiền tuệ, trí tuệ thiền tuệ thấy rõ sự sanh, sự diệt của các Pháp hữu vi: danh pháp và sắc pháp.

Ðức Thế Tôn biết rõ tâm của Ðại Ðức Cūḷapanthaka,đang tiến hành thiền tuệ, Ngài dùng thần thông hiện ra ngồi trước mặt Ðại Ðức rồi bảo:

– Này Cūḷapanthaka, con không chỉ thấy bụi dơ dính ở trong miếng vải, mà con nên thấy rõ, biết rõ bụi dơ đó là tham, sân, si dính ở trong tâm của con, làm cho tâm con bị ô nhiễm, con phải nên diệt đoạn tuyệt bụi dơ tham, sân, si ấy.

Rồi Ðức Thế Tôn thuyết dạy ba bài kệ, Ðại Ðức Cūḷapanthaka lắng nghe, đồng thời tiến hành thiền tuệ theo. Khi dứt ba bài kệ ấy, Ðại Ðức Cūḷapanthaka liền chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc từ Nhập Lưu Thánh Ðạo, Nhập Lưu Thánh Quả cho đến Arahán Thánh Ðạo, Arahán Thánh Quả cùng với Tứ tuệ phân tíùch, chứng đắc thần thông, thông suốt Tam Tạng ngay lúc ấy”.

* Câu chuyện thứ hai.

Ðệ tử của Ðại Ðức Sāriputta. [15]

Ðại Ðức Sāriputta có một người đệ tử còn trẻ, Ngài truyền dạy thiền định đề mục asubha (bất tịnh), không thích hợp với căn duyên của người đệ tử. Do đó, người đệ tử tiến hành đề mục asubha (bất tịnh) suốt 4 tháng vẫn chưa phát sanh ấn chứng nào.

Ðại Ðức Sāriputta nghĩ rằng, vị Tỳ khưu này thuộc sự tế độ của Ðức Phật, nên Ngài dẫn người đệ tử đến hầu Ðức Thế Tôn.

Ðức Phật dạy rằng:

– Này Sāriputta, con không có trí tuệ đặc biệt biết được căn duyên và phiền não ngấm ngầm của chúng sinh, nên con truyền dạy đề mục thiền định không thích hợp với tánh riêng biệt của hành giả.

Ðức Phật hoá ra một hồ sen ở trong chùa Ambavana, lại hóa ra thêm một bụi sen lớn, trong đó có một đóa sen xinh đẹp đang nở. Ðức Phật dạy vị Tỳ khưu hãy nhìn đóa hoa sen đang nở ấy.

Vâng lời, vị Tỳ khưu chăm chú nhìn đóa hoa sen ấy. Trong thời gian ấy, Ðức Phật làm cho đóa sen héo dần, thay đổi màu, cánh sen từ từ rơi rụng xuống cho đến khi không còn cánh sen nào, nhụy sen cũng rụng, chỉ còn lại gương sen. Vị Tỳ khưu suy xét: “Ðóa hoa sen xinh đẹp kia, bây giờ chỉ còn trơ lại đài gương, sự suy tàn của hoa sen như thế nào, sự già nua đối với sắc thân của ta cũng như thế ấy”.

“Tất cả các Pháp hữu vi: danh pháp, sắc pháp đều vô thường!”.

Ðức Thế Tôn, lúc ấy đang ngự tại cốc Gandhakuṭi, biết tâm của vị Tỳ khưu đang tiến hành thiền tuệ, Ngài phóng hào quang, dùng thần thông hiện ra ngồi trước mặt rồi truyền dạy một bài kệ. Vị Tỳ khưu lắng nghe, đồng thời tiến hành thiền tuệ theo, khi dứt bài kệ, vị Tỳ khưu chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc từ Nhập Lưu Thánh Ðạo, Nhập Lưu Thánh Quả, đến Arahán Thánh Ðạo, Arahán Thánh Quả, ngay lúc ấy.

Và còn có rất nhiều trường hợp tương tự khác.

Qua 2 câu chuyện lược dẫn ở trên, chứng tỏ rằng, không có một ai biết được ba la mật của mình tròn đủ hay chưa tròn đủ.

Ngoại trừ Ðức Phật ra, không một ai có khả năng biết rõ được căn duyên cao hay thấp của mỗi chúng sinh. Bởi vì, chỉ Ðức Phật mới có hai loại trí tuệ đặc biệt mà bậc Thánh Thanh Văn không có là:

– Indriyaparopariyattiñāṇa: Trí tuệ thấy rõ, biết rõ căn duyên cao thấp của mỗi chúng sinh. – Āsayānusayañāṇa: Trí tuệ thấy rõ phiền não ngấm ngầm và thiện nghiệp, ác nghiệp của mỗi chúng sinh.

Bậc Thánh Thanh Văn, dầu là bậc Thánh Arahán cũng không thể có hai loại trí tuệ đặc biệt này, nên không thể biết rõ được căn duyên của mỗi chúng sinh có thể chứng đắc được Thánh Ðạo, Thánh Quả nào hay không?

Do đó, người Phật tử chớ nên dễ duôi! Chớ nên coi thường chính mình!

Sự thật, chúng ta được sanh làm người, ngày nay gặp được Phật giáo, có đức tin nơi Tam bảo: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo,thật là diễm phúc lớn lao và vô cùng hy hữu! không dễ có được trong kiếp tử sanh luân hồi trong tam giới này.Vậy, chúng ta nên có niềm tin nơi chính mình rằng: chắc chắn ta đã có gieo duyên lành trong Phật giáo, đã có tạo ít nhiều pháp hạnh ba la mật từ nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ rồi.

Cho nên, người Phật tử chớ nên bỏ lỡ cơ hội tốt hiếm có này, hãy nên cố gắng tinh tấn tiến hành thiền tuệ; nếu trong kiếp hiện tại này, được chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả nào, thì thật là một điều hạnh phúc cao thượng biết dường nào! Nếu chưa chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả, trong kiếp hiện tại này; thì việc tiến hành thiền tuệ cũng vẫn là một điều hạnh phúc cao thượng, vì có cơ hội tốt để bồi bổ pháp hạnh ba la mật, hầu chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả ở vị lai.

Ví như một lữ hành có mục đích đi đến kinh đô, cứ mỗi ngày kiên trì, nhẫn nại, tinh tấn không ngừng bước đi đều đều, thì cứ mỗi bước, lại mỗi gần đến kinh đô. Như vậy, không sớm thì muộn, người lữ hành ấy sẽ đến kinh đô, theo nguyện vọng của mình. Cũng như vậy, hành giả có tâm nguyện chứng ngộ Niết Bàn, pháp giải thoát “khổ tái sanh”; hành giả có đức tin trong sạch nơi Ðức Phật, Ðức Pháp, Ðức Tăng, có đức tin nơi pháp hành thiền tuệ; có tánh kiên trì, nhẫn nại, tinh tấn không ngừng; có chánh niệm và trí tuệ tỉnh giác, tinh tấn tiến hành thiền tuệ đúng theo Pháp hành trung đạo, không sớm thì muộn, chắc chắn hành giả sẽ chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả và Niết Bàn, theo nguyện vọng của mình.

Tập sách nhỏ này, dầu chưa đầy đủ, song cũng giúp cho độc giả có một khái niệm về pháp hành thiền tuệ. Nếu hành giả có tâm nguyện tiến hành thiền tuệ, thì điều đầu tiên là cần phải học hỏi và nghiên cứu sâu xa về pháp học của pháp hành thiền tuệ.

Khi thật sự muốn tiến hành thiền tuệ, hành giả nên tìm một vị Thiền Sư, thông thạo pháp học, đầy đủ kinh nghiệm về pháp hành thiền tuệ, để nương nhờ trên con đường tiến hành thiền tuệ. Ðiều này rất cần thiết và cũng là điều tối ư quan trọng, không thể thiếu được!

Nếu hành giả tiến hành, mà không đúng theo pháp hành thiền tuệ, thì về sau dẫn đến sự sai lầm khó sửa.

Ví dụ:

Một người học trò học đàn với một ông thầy dở, không đúng phương pháp, đã quen tay, về sau học với vị thầy dạy đàn tài giỏi, gặp phải hai điều khó khăn:

– Sửa sai lối đánh đàn cũ. – Tập lối đánh đàn mới.

Trong khi người học trò chưa từng học đánh đàn, gặp được ông thầy tài giỏi, thì chỉ có một điều khó khăn lúc ban đầu mà thôi.

Cũng vậy, hành giả thường chịu ảnh hưởng nơi vị Thiền Sư. Nếu gặp vị Thiền Sư không thông thạo pháp học, không có kinh nghiệm đầy đủ về pháp hành, thì hành giả tiến hành không đúng theo pháp hành thiền tuệ, dẫn đến hậu quả sai lầm trở thành thói quen rất khó sửa, như trường hợp người học trò thứ nhất.

Sự thật, thói quen sai lầm ở thân dễ sửa hơn là thói quen sai lầm ở tâm. Khi tâm mắc phải sai lầm nào rồi, thì thật là khó sửa lắm vậy!

Tử sanh luân hồi trong tam giới là lẽ tự nhiên của mỗi chúng sinh vẫn còn tham ái phiền não. Hễ còn tử sanh luân hồi là còn mang khổ; mọi cảnh khổ đều bắt nguồn từ khổ tái sanh. Pháp hành thiền tuệ là pháp hành dẫn đến sự diệt khổ tái sanh.

Muốn đạt đến mục đích như vậy, điều trọng yếu đầu tiên, hành giả cần phải học hỏi, nghiên cứu để hiểu rõ phương pháp tiến hành thiền tuệ cho đúng, rồi thực hành đúng theo pháp hành thiền tuệ. Ðiều này chắc chắn không phải là dễ đối với tất cả mọi người.

Quyển sách nhỏ này, tuy bần sư rất tha thiết với pháp hành thiền tuệ, đã cố gắng hết sức mình, góp nhặt, trình bày giúp độc giả tìm hiểu về pháp hành thiền tuệ. Song vì khả năng có hạn, nên chắc chắn không thể nào tránh khỏi những điều sơ sót, thậm chí có chỗ sai, ngoài ý muốn của bần sư. Kính mong chư bậc Thiện trí từ bi chỉ giáo. Bần sư kính cẩn chấp nhận những lời phê bình xây dựng, và kính xin chư bậc Thiện trí nhận nơi đây lòng chân thành biết ơn sâu xa của bần sư.

Tập sách này được hoàn thành nhờ sự đóng góp của những thí chủ có đức tin trong sạch làm phước thiện pháp thí; nhất là pháp đệ Bửu Ðức, gia đình ông bà Trần Văn Cảnh – Trần Kim Duyên, đặc biệt là pháp huynh Viên Minh, pháp đệ Giới Ðức đã nhiệt tâm trong công việc sửa chữa cú pháp; và trong lần tái bản thứ nhất này, có cô Tu nữ Ngọc Duyên, cô Tu nữ Diệu Liên tận tâm xem lại bản thảo; đệ tử Rakkhitasīla Antevāsika đã tận tụy đánh máy bản thảo, trình bày dàn trang và được Nhà Xuất Bản Tôn Giáo cho phép tái bản, bần sư vô cùng hoan hỷ và biết ơn quý vị.

Nhân dịp này, đệ tử Dhammarakkhita Bhikkhu (Tỳ khưu Hộ Pháp) thành kính dâng phần pháp thí thanh cao này đến Cố Sư Phụ Hộ Tông (Vaṃsarakkhitamahāthera), cùng chư Ðại Trưởng Lão, Ðại Ðức đã dày công đem Phật giáo Nguyên Thủy (Theravāda) về truyền bá trên quê hương thân yêu; và chư Ðại Trưởng Lão Thái Lan, Miến Ðiện như Ngài Ðại Trưởng Lão Dhammānandamahāthera Aggamahāpaṇṇita, Ðại Trưởng Lão Nandikamahāthera, các vị Ācariya như Ajhan Nep Mahānirānond v.v… đã có công giảng dạy đệ tử về pháp học và pháp hành. Kính mong quý Ngài hoan hỉ.

Bần sư thành tâm hồi hướng phần pháp thí thanh cao này đến tất cả chúng sinh từ cảnh địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sanh, cho đến nhân loại, chư thiên cõi Tứ đại thiên vương thiên, cõi Tam thập tam thiên, cõi Dạ ma thiên, cõi Ðâu xuất đà thiên, cõi Hóa lạc thiên, cõi Tha hóa tự tại thiên, các cõi sắc giới Phạm thiên. Trong các hàng chúng sinh ấy, nhất là ông bà, cha mẹ, thầy tổ, những bậc ân nhân từ kiếp hiện tại cho đến vô lượng kiếp trong quá khứ đã quá vãng và hiện tiền; cầu mong tất cả qúy vị hoan hỉ thọ lãnh phần pháp thí thanh cao này, cho được thoát khỏi mọi cảnh khổ, được mọi sự an lạc hạnh phúc cao thượng.

“Idaṃ no dhammadānaṃ āsavakkhayāvahaṃ hotu”.

“Do nhờ pháp thí thanh cao này, làm duyên lành dắt dẫn tất cả chúng con hướng đến sự chứng đắc Arahán Thánh Ðạo, Arahán Thánh Quả, Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi phiền não trầm luân”.

Nếu chúng con chưa được giải thoát cảnh khổ tử sanh luân hồi trong tam giới, thì do năng lực pháp thí này, hỗ trợ cho chúng con kiếp nào cũng được thành tựu đầy đủ 4 pháp:

1- Gatisampatti: Ðược tái sanh cõi thiện giới an lạc.

2- Upadhisampatti: Có sắc thân đầy đủ, xinh đẹp.

3- Kālasampatti: Thời kỳ thiện pháp đang phát triển, như thời kỳ Ðức Chuyển Luân Thánh Vương ra đời, Ðức Phật xuất hiện trên thế gian, Phật giáo đang thịnh hành,

4- Payogasampati: Ðầy đủ ba loại thiện pháp do thân khẩu ý.

Do năng lực pháp thí này, hỗ trợ cho chúng con kiếp nào cũng có chánh kiến, mỗi khi gặp được Ðức Phật hay giáo pháp của Ðức Phật, chúng con liền có đức tin trong sạch nơi Ðức Phật, Ðức Pháp, Ðức Tăng, có đức tin nơi pháp hành thiền tuệ, là pháp hành dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, giải thoát khổ tái sanh.

Tỳ Khưu Hộ Pháp Tổ Ðình Bửu Long Long Bình, Quận 9, Tp. Hồ Chí Minh.

Giới thiệu tác giả, Tỳ khưu Hộ Pháp Dhammarakkhita:

Đáp Án Cuộc Thi Tìm Hiểu Chính Sách, Pháp Luật Về Bình Đẳng Giới Dap An Cuoc Thi Tim Hieu Chinh Sach Phap Luat Ve Binh Dang Gioi Doc / 2023

Họ và tên: Hoàng Minh Hiếu Nam, nữ: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 03/02/1982

Quê quán: Xã Đôn Nhân, Huyện Lập Thạch, Tỉnh Vĩnh Phúc

Nơi thường trú: Xóm 7 Xã Trung Môn, Huyện Yên Sơn, Tỉnh Tuyên Quang

Đơn vị công tác: Trường THCS Kiên Đài, Huyện Chiêm Hoá

Tỉnh Tuyên Quang.

CUỘC THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT

VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

Theo Điều 5 của luật bình đẳng giới quy định 8 thuật ngữ về bình đẳng giới . Nội dung như sau: 1. Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội. 2. Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ. 3. Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. 4. Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ. 5. Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. 6. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được. 7. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh. 8. Hoạt động bình đẳng giới là hoạt động do cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân thực hiện nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới. 9. Chỉ số phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ

Ông bà ngày xưa có câu “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, rõ ràng quan niệm này cho thấy việc xem trọng con trai : 1 con trai thì có, 10 con gái cũng như không . Mặc dù đó là quan niệm sai lầm nhưng còn nặng trong tư tưởng của mỗi người dân Á đông cả trong xã hội hiện đại. Chính vì lẽ đó mà áp lực về việc sinh con trai đối với các gia đình vẫn còn tồn tại, nhiều gia đình sinh quá số con theo khả năng nuôi dưỡng của mình và trái với chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình cũng vì muốn có thêm con trai. Ngay trong đội ngũ giáo viên là những người đi dạy người, tuyên truyền về chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình nhưng cũng có không ít giáo viên vi phạm pháp lệnh dân số không phải vì vỡ kế hoạch mà vì định kiến giới, muốn sinh con trai.

Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009, tỷ lệ sinh giảm từ 2,33 con/phụ nữ vào năm 1999 xuống còn 2,03 con/phụ nữ vào năm 2009. Với mỗi quốc gia, dự báo dân số trong tương lai có ý nghĩa quyết định tới mọi lĩnh vực, đặc biệt là việc hoạch định chính sách, chiến lược. Việt Nam vẫn là nước có qui mô dân số lớn thứ 13 trên thế giới, chất lượng dân số còn hạn chế, chỉ số phát triển con người vẫn ở mức thấp, tầm vóc, thể lực còn hạn chế… Đặc biệt, t ỷ số chỉ số giới tính ở Việt Nam đang trải qua thời kỳ gia tăng bất thường, liên tục và ở mức đáng báo động, từ 106,2 bé trai vào năm 2000 lên tới 110,5 bé trai vào năm 2009. Việc lựa chọn giới tính thai nhi cho thấy sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, định kiến giới tính.

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là gì? Nêu các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trên từng lĩnh vực .

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.

Theo Khoản 5 điều 11 Luật Bình đẳng giới quy định các biện pháp t húc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm: a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm: a) Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật; b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật. Theo Khoản 3 điều 13 Luật Bình đẳng giới quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm: a) Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động; b) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ; c) Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm: a) Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo; b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật. Những biện pháp khác a) Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng; b) Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam; c) Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam; d) Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam; đ) Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam; e) Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;

Việt Nam phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2016 – 2020 từ 25% trở lên; tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái vào năm 2015 và 115/100 vào năm 2020.

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 2351/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 với mục tiêu giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị.

Theo đó, hàng năm, trong tổng số người được tạo việc làm mới, bảo đảm ít nhất 40% cho mỗi giới (nam và nữ). Tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp đạt 30% vào năm 2015 và từ 35% trở lên vào năm 2020. Lao động nữ nông thôn dưới 45 tuổi được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật chiếm 1/4 vào năm 2015 và chiếm 1 nửa vào năm 2020. Tỷ lệ nữ ở vùng nông thôn nghèo, vùng dân tộc thiểu số có nhu cầu được vay vốn ưu đãi từ các chương trình việc làm, giảm nghèo và các nguồn tín dụng chính thức đạt 80% vào năm 2015.

Với mục tiêu này, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đặt chỉ tiêu phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2016 – 2020 từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011- 2015 đạt tỷ lệ từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 – 2020 trên 35%. Bên cạnh đó, phấn đấu đến năm 2015 đạt 80% và đến năm 2020 đạt trên 95% Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ.

Cũng theo Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, một mục tiêu cơ bản khác là bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Cụ thể, tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái vào năm 2015 và 115/100 vào năm 2020. Đến năm 2015, mục tiêu sẽ giảm 60% và đến năm 2020 giảm 80% sản phẩm văn hóa, thông tin mang định kiến giới. Tăng thời lượng phát sóng các chương trình, chuyên mục và số lượng các sản phẩm tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới.

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới cũng đặt chỉ tiêu đến năm 2015 và duy trì đến năm 2020 các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bố trí đủ cán bộ làm công tác bình đẳng giới; hình thành đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia công tác bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ.

Nêu những quy định về nội dung và mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động? Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, chế độ nghỉ thai sản được quy định như thế nào?

Các hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động. 1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập hoặc chênh lệch về mức tiền lương, tiền công của những người lao động có cùng trình độ, năng lực vì lý do giới tính. 2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối với cùng một công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới hoặc đối với các nghề nghiệp đặc thù theo quy định của pháp luật; b) Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động nam hoặc lao động nữ vì lý do giới tính, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ. 3. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp đã bị xâm hại đối với hành vi quy định tại khoản 1 .

Chế độ nghỉ thai sản hiện hành theo quy định của Luật lao động 1 . Người lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con, cộng lại từ bốn đến sáu tháng do Chính phủ quy định, tuỳ theo điều kiện lao động, tính chất công việc nặng nhọc, độc hại và nơi xa xôi hẻo lánh. Nếu sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 30 ngày. 2 . Hết thời gian nghỉ thai sản quy định tại khoản 1, nếu có nhu cầu, người lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với người sử dụng lao động. Người lao động nữ có thể đi làm việc trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, nếu đã nghỉ ít nhất được hai tháng sau khi sinh và có giấy của thầy thuốc chứng nhận việc trở lại làm việc sớm không có hại cho sức khoẻ và phải báo cho người sử dụng lao động biết trước. Trong trường hợp này, người lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản, ngoài tiền lương của những ngày làm việc.

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đặt ra mục tiêu, chỉ tiêu nào nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị? Bằng hiểu biết của mình hãy nêu tên đầy đủ của các vị lãnh đạo

nữ cấp cao hiện nay của Đảng và Nhà nước ta.

Mục tiêu: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị.

– Chỉ tiêu 1: Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2016 – 2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 – 2020 trên 35%. – Chỉ tiêu 2: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 80% và đến năm 2020 đạt trên 95% Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ. – Chỉ tiêu 3: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 70% và đến năm 2020 đạt 100% cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

Bộ Chính trị: Đồng chí Tòng Thị Phóng Ban Bí thư: Đồng chí Hà Thị Khiết Đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân Quốc hội: Đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân – Phó Chủ tịch QH Đồng chí Tòng Thị Phóng – Phó Chủ tịch QH UBTVQH: Bà Trương Thị Mai – Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Bà Nguyễn Thị Nương – Trưởng Ban Công tác đại biểu Phó Chủ tịch nước : Đồng chí Nguyễn Thị Doan Chính phủ: Phạm Thị Hải Chuyền – Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Kim Tiến – Bộ trưởng Bộ Y tế

Từ những tình huống, câu chuyện thực tế trong cuộc sống, hãy viết một bài tối đa 1500 từ về cá nhân hoặc tập thể điển hình hoặc chia sẻ câu chuyện, sự kiện ấn tượng trong việc thực hiện bình đẳng giới.

Theo anh chị, bản thân và cơ quan, tổ chức, địa phương nơi anh chị đang sinh sống nên làm gì để thực hiện bình đẳng giới được tốt hơn.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và hiệu quả quản lý của các cơ quan nhà nước các cấp đối với công tác phụ nữ, nhằm phấn đấu đến năm 2015, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, thu hẹp khoảng cách giới và nâng vị thế của phụ nữ trong một số lĩnh vực có sự bất bình đẳng hoặc nguy cơ bất bình đẳng giới cao, tạo đà cho sự thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đến năm 2020. Về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.

Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị

– Rà soát các quy định của Đảng và Nhà nước về độ tuổi đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, nghỉ hưu. Xác định những bất hợp lý và bất lợi đối với phụ nữ khi thực hiện những quy định này để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Luật Bình đẳng giới.

– Nâng cao vị thế của phụ nữ trong lĩnh vực của cuộc sống thông qua tăng cường sự tham gia lãnh đạo và quản lý của phụ nữ; thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ; lồng ghép cơ chế, chính sách cụ thể về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động nữ. Thực hiện công tác quy hoạch dài hạn cán bộ quản lý, lãnh đạo nữ với các chỉ tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện.

– Xây dựng cơ chế đảm bảo thúc đẩy sự tham gia nhiều hơn của phụ nữ vào các quá trình ra quyết định và tăng tỷ lệ nữ ứng cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016. Quy định trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước từ tỉnh đến cơ sở và từng cơ quan, đơn vị trong việc bảo đảm cho nữ cán bộ, công chức tham gia quản lý nhà nước.

– Tăng cường công tác tuyên truyền về bình đẳng giới trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm nâng cao nhận thức về công tác cán bộ nữ, góp phần xóa bỏ các định kiến, các quan niệm không phù hợp về vai trò của nam và nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Đa dạng hóa các hình ảnh của nữ giới với các vai trò và nghề nghiệp khác nhau.

– Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về bình đẳng giới, trước hết là quy định về độ tuổi đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm.

– Hỗ trợ việc nâng cao năng lực cho nữ lãnh đạo trẻ thông qua việc thực hiện các chương trình, dự án nâng cao năng lực.

Giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộcthiểu số đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động

– Giảm chi phí tiếp cận việc làm và thời gian tìm việc của người lao động thông qua việc xây dựng hệ thống thông tin về thị trường lao động, tư vấn về việc làm và về cơ hội đầu tư. Xây dựng cơ sở dữ liệu về thị trường lao động và đào tạo nghề có tách biệt theo giới tính. Có các biện pháp cụ thể để khuyến khích đầu tư vào việc cung cấp thông tin về thị trường lao động.

– Tiếp tục hoàn thiện chính sách và mở rộng đối tượng tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội, nhất là đối với nhóm lao động mới; thực hiện các biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu của nữ giới và nam giới tham gia bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp, chú ý nhóm dễ bị tổn thương (như lao động di cư, lao động nghèo ở vùng nông thôn, vùng dân tộc).

– Bảo đảm các điều kiện để phụ nữ được tiếp cận đầy đủ và bình đẳng giới các nguồn lực kinh tế (như đất canh tác, các nguồn vốn tín dụng, thông tin thị trường, thông tin về luật pháp, chính sách), bình đẳng về cơ hội tham gia sản xuất kinh doanh.

– Các chính sách, chương trình đào tạo nghề cần tập trung vào khu vực nông thôn, vùng dân tộc; thu hút nhiều lao động nữ; nâng cao tay nghề, kỹ năng, cách quản lý, kinh doanh phát triển tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông sản, sản xuất hàng tiêu dùng cũng như phát triển các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống dân cư ở nông thôn. Có chính sách hỗ trợ các cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đặc biệt là cơ sở thu hút nhiều lao động nữ. Tiếp tục đầu tư phát triển và mở rộng hệ thống cơ sở dạy nghề.

– Bảo đảm các hoạt động khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm sử dụng ngân sách nhà nước thu hút nhiều học viên nữ. Xác định và bảo đảm thực hiện các chỉ tiêu về nữ trong việc bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo cho người dân ở khu vực nông thôn và ven đô thị, vùng dân tộc, hỗ trợ họ áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp và chế biến.

– Có chính sách ưu đãi đối với phụ nữ nghèo vay vốn để phát triển sản xuất. Xây dựng chính sách nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ đối với phát triển kinh tế xã hội. Tăng cường các dự án kinh tế hỗ trợ cho các đối tượng phụ nữ ở những vùng khó khăn; phát triển các mô hình kinh tế trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và triển khai các biện pháp cần thiết để khắc phục tình trạng thiếu việc làm của phụ nữ ở nông thôn.

– Xây dựng và thực hiện chính sách đặc thù đối với lao động nữ làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xã, biên giới và là người dân tộc thiểu số.

– Tăng cường kiểm tra việc thực hiện các chính sách đối với lao động nữ nhằm bảo đảm tính hiệu quả, công bằng trong chính sách đào tạo nghề, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động và chế độ nghỉ hưu.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, từng bước bảo đảm sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

– Đưa nội dung về bình đẳng giới vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục, đặc biệt ở các cấp trung học phổ thông, trung học cơ sở và tiểu học. Đưa nội dung về giới vào các chương trình bồi dưỡng về quản lý nhà nước, đào tạo trung cấp, cao cấp lý luận chính trị nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ lãnh đạo chủ chốt.

– Có những chính sách đặc thù cho một số nhóm đối tượng: chính sách, chương trình học bổng hỗ trợ trẻ em gái và phụ nữ tham gia học tập nâng cao trình độ, đặc biệt có chính sách khuyến khích đối với trẻ em gái, phụ nữ nông thôn và vùng dân tộc thiểu số; chính sách đặc thù cho giáo dục mầm non ở vùng sâu, vùng xa và vùng có điều kiện khó khăn; chính sách thu hút giáo viên tiểu học và mầm non là nam giới.

– Vận động mọi gia đình động viên con em trong độ tuổi đi học, đặc biệt quan tâm giũp đỡ và tạo mọi điều kiện tới trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; củng cố và duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, THCS và xoá mù chữ, thực hiện tốt chính sách giáo dục đối với vùng cao, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn.

– Rà soát để xóa bỏ các thông điệp và hình ảnh mang định kiến giới trong hệ thống sách giáo khoa hiện nay.

– Thực hiện lồng ghép giới trong các chính sách, chương trình, kế hoạch của ngành giáo dục; xây dựng cơ sở dữ liệu có tách biệt theo giới tính, dân tộc ở các cấp học, bậc học.

Bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

– Tăng cường cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho phụ nữ và nam giới. Đặc biệt, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản linh hoạt, dễ tiếp cận và miễn phí đối với phụ nữ và nam giới vùng dân tộc.

– Mở rộng mạng lưới tư vấn về sức khỏe sinh sản cho nam giới. Tăng cường đào tạo bác sỹ chuyên khoa nam tại các bệnh viện đa khoa cấp tỉnh và cấp huyện.

– Tăng cường các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho phụ nữ và nam giới. Tăng cường sự tham gia của nam giới vào việc thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình. Mở rộng các hoạt động truyền thông đối với người chưa thành niên về sức khỏe tình dục, tránh thai an toàn.

– Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và thiết bị cho ngành y tế, nhất là các trạm y tế cơ sở nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân nói chung và phụ nữ nói riêng. Đặc biệt quan tâm bảo vệ, chăm sóc phụ nữ và trẻ em gái có hoàn cảnh khó khăn.

– Yêu cầu các cơ quan, đơn vị hàng năm có kế hoạch tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ công chức; Tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người dân tại trạm y tế các xã, phường, thị trấn.

– Tăng cường đào tạo nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn và đặc biệt trong đào tạo sử dụng các trang thiết bị y tế hiện đại cho cán bộ làm công tác y tế.

– Thực hiện lồng ghép giới trong các chính sách, chương trình, kế hoạch của ngành y tế.

Bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa và thông tin

– Nâng cao nhận thức về giới cho người sản xuất các sản phẩm văn hóa, thông tin. Xóa bỏ các thông điệp và hình ảnh mang định kiến giới trong các sản phẩm văn hóa, thông tin.

– Tăng cường tuyên truyền, giáo dục về giới trên các phương tiện thông tin đại chúng với các hình thức đa dạng, linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng và từng khu vực.

– Thường xuyên theo dõi, kiểm tra các hoạt động và sản phẩm văn hóa, thông tin từ góc độ giới.

Bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia đình, từng bước xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới

– Đẩy mạnh việc xây dựng gia đình văn hóa, trong đó chú trọng tiêu chí bình đẳng giới trong gia đình.

– Chú trọng xây dựng mô hình các câu lạc bộ gia đình hạnh phúc, bình đẳng và không có bạo lực, thu hút sự tham gia tích cực của nam giới vào các hoạt động này.

– Xây dựng và thực hiện thí điểm mô hình tư vấn, hỗ trợ phòng chống bạo lực trên cơ sở giới và buôn bán người; nhân rộng các mô hình thành công.

Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới

– Bố trí đủ cán bộ làm công tác bình đẳng giới ở các cấp; hình thành đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia công tác bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ, đặc biệt ở thôn, xóm, cụm dân cư. Xây dựng mạng lưới chuyên gia về giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

– Bồi dưỡng kỹ năng phân tích, đánh giá và lồng ghép giới cho đội ngũ cán bộ, công chức tham gia hoạch định chính sách và xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Tổ chức các đợt tập huấn kiến thức về giới, phân tích giới và lồng ghép giới cho thành viên ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp.