Đường Mòn Hồ Chí Minh

--- Bài mới hơn ---

  • Đường Hồ Chí Minh Thông Xe Toàn Tuyến Năm 2021
  • Đường Mòn Hồ Chí Minh Qua Tài Liệu Của Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa
  • 5 Đường Mòn Hồ Chí Minh
  • Kỳ Tích, Lịch Sử Hình Thành, Đường Hồ Chí Minh Trên Biển
  • Tư Tưởng Nhân Văn – Một Trong Những Nội Dung Cơ Bản Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • (VBSP News) Đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh góp phần to lớn kết thúc thắng lợi vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, thu non sông về một mối.

    Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã từng khai thông nhiều con đường để mở mang bờ cõi, bảo vệ non sông, vượt lên sự bao vây, ngăn chặn… Nhưng có lẽ con đường Trường Sơn – đường mòn Hồ Chí Minh là con đường vĩ đại nhất, cả trong ý tưởng và thực tế. Đó là con đường sáng tạo, đột khởi, làm thay đổi cục diện thế lực cách mạng và đi tới thắng lợi vẻ vang… Đó cũng là con đường của những con đường, con đường của gợi mở, tiếp nối những con đường…

    Đại văn hào người Trung Quốc Lỗ Tấn có câu nói với đại ý: Trên thế giới này làm gì có đường. Người ta đi mãi rồi thành đường.

    Không hẳn thế. Trước khi có con đường hằn trên mặt đất, đã có những con đường trong ý tưởng, con đường của ý chí. Con đường Trường Sơn 55 năm trước, trước khi thành con đường mòn có dấu chân lớp lớp chiến sỹ giải phóng hằn in trên đó, đã là con đường trong tâm tưởng của những người lãnh đạo, trong khát vọng mỗi người dân Việt Nam. Đó chính là con đường thống nhất đất nước, con đường vũ trang cách mạng. Cùng tắc biến. Con đường đi đến thống nhất hai miền Nam – Bắc bằng hiệp thương chính trị, tổng tuyển cử theo tinh thần Hiệp định Geneva đã không thể thực hiện, do đối phương tráo trở, thì con đường vũ trang cách mạng phải được tiến hành, và đường Trường Sơn mở ra, là một tất yếu lịch sử.

    Đường Trường Sơn, mà sau này, chính đối phương định danh đường mòn Hồ Chí Minh, là con đường của tinh thần sáng tạo, đột khởi, bất ngờ và biến hóa không ngừng. Từ một nhóm nhỏ cán bộ soi đường, đến tiểu đoàn giao liên đầu tiên dẫn quân, đã hình thành một binh đoàn mang tên Binh đoàn Trường Sơn – Đoàn 559. Từ lối mòn men theo dãy Trường Sơn, đã hình thành hệ thống đường trục dọc, trục ngang, với đường bộ, đường sông, đường ống, dài gần 2 vạn km. Trên hệ thống giao thông này, hơn một triệu tấn hàng hóa, vũ khí được đưa vào các chiến trường; hơn 2 triệu lượt người, 10 lượt sư đoàn, 3 quân đoàn, 90 đơn vị binh chủng kỹ thuật vào Nam ra Bắc.

    Với đối phương, đây là con đường mang đến thảm họa, báo trước sự sa lầy và thất bại. Hơn 4 triệu tấn bom đạn, chất độc hóa học đã đổ xuống; nhiều đời Tổng thống đối phương huy động nhiều bộ não siêu phàm để đối phó, ngăn chặn, nhưng đường Hồ Chí Minh vẫn cứ như gọng kìm siết chặt sào huyệt kẻ thù, chạy thẳng cả vào giấc ngủ, bữa ăn mỗi ngày của đối phương… Chiều sâu kỳ tích và chất huyền thoại của con đường được xây đắp bằng trí tuệ, mồ hôi, xương máu của hàng ngàn, vạn nhân dân, cán bộ, chiến sĩ. Tính từ ngày mở đường đến ngày thống nhất đất nước, con đường tồn tại gần 60.000 ngày đêm. Hơn 20.000 bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân giao thông đã hy sinh; hơn 3 vạn người bị thương…

    Đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, góp phần to lớn kết thúc thắng lợi vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, thu non sông về một mối. Nhưng tính chiến lược, bất ngờ, sức sáng tạo, gợi mở của con đường có giá trị lâu bền, vượt thời gian…

    Từ mấy chục năm trước, nhà thơ Tố Hữu đã cảm nhận về tầm vóc và sức lan tỏa con đường: “Đường mòn Hồ Chí Minh” là con đường sáng tạo/Trường Sơn cao hay địa đạo âm thầm/Cũng là linh hồn ta, từ bốn nghìn năm/ Tự xây đắp để ngang tầm thế kỷ”. Và nhà thơ Tố Hữu, trong một bài thơ sau này – Cảm nghĩ đầu xuân 2002, đã lại dự cảm: “Mở rộng con đường huyền thoại Hồ Chí Minh/Cho Tổ Quốc mai sau lên tuyến đầu nhân loại”.

    Từ con đường mòn trong chiến tranh, con đường Hồ Chí Minh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa dài hơn, rộng hơn và hiện đại gấp nhiều lần đã được các thế hệ lớn lên sau chiến tranh dựng xây, sẽ là một kỳ tích mới trong hòa bình. Nhưng, như thế chưa đủ, 55 năm trước, nếu Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương không có quyết định dũng cảm mở đường Trường Sơn, thì sự nghiệp thống nhất đất nước sẽ cam go, quanh co như thế nào! Khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc về con đường Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, đó là con đường trí tuệ, đột khởi, dũng cảm vượt lên tư duy giáo điều mòn cũ, không ngừng đổi mới, sáng tạo, nâng tầm dân tộc “ngang tầm thế kỷ”, đưa dân tộc “lên tuyến đầu nhân loại”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Tịch Hồ Chí Minh Và Hai Cuộc Hội Ngộ Với Anh, Chị Ruột
  • Gia Đình Bác Hồ, Một Gia Đình Lương Y
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Gia Đình Và Giáo Dục Gia Đình
  • Chuyện Kể Về Gia Đình Bác Hồ
  • Cuộc Thi “tìm Hiểu 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh”: Thiết Thực Và Lan Tỏa
  • 5 Đường Mòn Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỳ Tích, Lịch Sử Hình Thành, Đường Hồ Chí Minh Trên Biển
  • Tư Tưởng Nhân Văn – Một Trong Những Nội Dung Cơ Bản Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Thân Thế Và Sự Nghiệp Cách Mạng Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Thân Thế Và Sự Nghiệp Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Cuộc Thi Tìm Hiểu Về Cuộc Đời, Thân Thế Và Sự Nghiệp Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • LỜI TÁC GIẢ

    Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước (theo cách gọi của Việt Nam), hay chiến tranh Việt Nam (theo cách gọi của người Mỹ và đồng minh), là một trong những cuộc chiến tranh khốc liệt nhất, để lại những dấu ấn sâu sắc nhất trong dư luận và tâm linh của nhân loại thế kỷ XX. Những dấu ấn đó có nhiều chiều và nhiều ý nghĩa khác nhau: Là niềm tự hào nơi người chiến thắng, là sự bẽ bàng và khủng hoảng trong đời sống chính trị và tâm linh Mỹ, là sự day dứt nơi những người đã từng tham gia quân đội và Chính quyền Việt Nam Cộng hòa…

    Cuốn sách này không nhằm tham gia vào cuộc “chiến tranh” đó, và cũng không chọn một chỗ đứng nào trong ba góc nhìn kể trên.

    Mục đích của cuốn sách này là trình bày một khía cạnh lịch sử quan trọng của cuộc chiến tranh mà nhiều chỗ vẫn còn chưa được biết tới, hoặc biết rất không đầy đủ: Đó là những hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh.

    Cho đến nay, có biết bao nhiêu tài liệu đã được công bố từ cả ba phía, biết bao nhiêu cuốn sách đã được viết ra nhưng vẫn chưa nói hết được những câu chuyện về các con đường mòn Hồ Chí Minh đó, thậm chí có những con đường hầu như chỉ ai đã đi thì mới biết.

    Sách báo Mỹ đã biết khá rõ về con đường Hồ Chí Minh trên bộ, tức là đường Trường Sơn. Nhưng cả những tài liệu đã được giải mật lẫn những sách báo đã được viết ra vẫn chưa giúp người đọc thỏa mãn một câu hỏi: Vì sao mà những phương tiện hiện đại nhất của Mỹ, dù đã được huy động tối đa vào đây, vẫn bị vô hiệu hóa bởi những con người mà xét về cả tiền bạc lẫn kỹ thuật đều thua kém nhiều lần? Những biện pháp để làm đường, những cách tổ chức vượt đường, hệ thống quản lý các cung đường, hệ thống các kho tàng, các trạm quân y, quân nhu, dịch vụ, sửa chữa và nhất là những cách để tránh bom đạn và “đánh lừa” kỹ thuật Mỹ… mà đến nay chính là những chuyện lý thú nhất, thì hình như sách báo Mỹ vẫn chưa nói được bao nhiêu, thậm chí cho đến gần đây nhất vẫn có những chuyện hiểu lầm (như chuyện hoang đường mới được phía Mỹ công bố đầu năm 2008 về việc “tình báo Việt cộng” lọt được vào hệ thống thông tin quân sự của Mỹ để “ra lệnh” cho máy bay Mỹ ném bom các căn cứ quân sự Mỹ).

    Con đường thứ hai là con đường xăng dầu, với tổng chiều dài tới 5.000 km, để vận chuyển nhiên liệu suốt từ biên giới Việt – Trung và các cảng biển miền Bắc vào đến tận Nam Bộ, có chỗ vượt qua cả những độ cao tới gần ngàn mét là điều có vẻ là bất khả thi đối với kỹ thuật đường ống. Con đường này người Mỹ dường như cũng biết rằng có và cũng đã đánh phá được một số điểm. Nhưng nó có bằng cách nào và nó đã đóng vai trò ra sao trong việc cung cấp nhiên liệu cho các đoàn xe vận tải vũ khí, cung cấp nhiên liệu cho xe tăng trong các trận đánh lớn ở miền Nam, thì hình như trong những tài liệu đã giải mật gần đây nhất cũng không có được những thông tin cụ thể.

    Con đường thứ ba là con đường trên biển, thì hải quân, không quân của Mỹ và của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng đã cảm thấy hình như có chuyện và đã tổ chức đề phòng. Nhưng trong suốt 7 năm đầu hoạt động, các đoàn tàu không số đã đưa được hàng chục ngàn tấn vũ khí vào Nam rồi mà đối phương vẫn không bắt được vụ nào. Chỉ đến năm 1966 họ mới giật mình khi bắt được một vài vụ. Nhưng họ vẫn không sao tìm ra manh mối. Một số con tàu chớm bị phát hiện, sắp bị vây bắt, thì thuỷ thủ đoàn đã tự đánh đắm và tự thủ tiêu. Do đó nó vẫn là một con đường “phi tang”. Nếu lại so sánh những hải đồ do phía hải quân Mỹ vẽ về các tuyến đi của các con tàu không số và hải đồ thật của Lữ đoàn 125 thì khoảng cách sai biệt vẫn rất lớn. Rồi khi những “con tàu đánh cá giả” bị họ theo dõi sít sao, thì những “con tàu đánh cá thật”, hoàn toàn hợp pháp mà họ quen mặt từ lâu, lại bắt đầu chuyển sang chở vũ khí, còn công nhiên chở cả những cán bộ lãnh đạo quan trọng như Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh ra Bắc, vào Nam…, thì cho đến ngày giải phóng đối phương cũng chưa hề biết đến.

    Con đường thứ tư là con đường hàng không, bí mật trong công khai, đi từ Phnom Penh, bay qua lãnh thổ miền Nam Việt Nam, thậm chí bay qua chính Sài Gòn, tới Hồng Kông hoặc Quảng Châu, rồi về Hà Nội. Con đường này đã từng vận chuyển hàng ngàn lượt tướng tá của miền Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc, vận chuyển hàng triệu đô la cho cơ quan Kinh-Tài của miền Nam, vận chuyển rất nhiều thứ máy móc, thuốc men và hóa chất quan trọng, vận chuyển thương binh, vận chuyển vợ con những chiến sĩ và cán bộ của miền Nam ra Bắc để học tập và điều dưỡng… Nhưng phía Mỹ và Chính quyền Sài Gòn hình như cũng hoàn toàn chưa biết gì.

    Không riêng người Mỹ, không riêng những người nước ngoài, ngay cả những người Việt Nam, thậm chí cả những chiến sĩ, những cán bộ và cả những người lãnh đạo cấp cao trong hệ thống các con đường Hồ Chí Minh kể trên cũng không biết hết được những gì ngoài phạm vi mình phụ trách. Người phụ trách đường bộ không biết được bao nhiêu về hệ thống đường biển. Người phụ trách đường biển không biết bao nhiêu về hệ thống đường hàng không. Và tất cả những lực lượng đó hoàn toàn không biết đến hệ thống đường chuyển ngân bí mật qua các ngân hàng. Sự “không biết” đó của cả bên này lẫn bên kia càng chứng tỏ rằng ngoài những điều thần kỳ của ý chí, tài năng và cách tổ chức, còn có một điều thần kỳ nữa: Sự bí mật!

    Ở Việt Nam đến nay cũng đã có rất nhiều sách viết về đường Trường Sơn, một số sách viết về con đường trên biển. Nhưng do những sách đó vẫn còn nặng về biểu dương thành tích, về lòng tự hào và ngợi ca, nhẹ về mô tả lịch sử và đúc kết lịch sử, mà có đúc kết thì cũng không ngoài mấy bài học đã thuộc từ lâu, nên tuy số trang thì kể ra đã có tới hàng ngàn, hàng vạn, mà người đọc vẫn khó thu lượm được những điều mà họ thực sự cần tìm.

    Có thể nói, cho đến nay chưa có một sự trình bày tổng hợp nào về cả 5 đường mòn Hồ Chí Minh đó cũng như tính liên hoàn của chúng, để làm sao trong vòng hai, ba trăm trang thôi, có thể nói lên được những nét chính yếu của hệ thống chi viện vừa đa phương, vừa đa dạng cho miền Nam suốt trong 20 năm chiến tranh. Đó đang là nhu cầu của cả những thế hệ đương thời lẫn những thế hệ hậu chiến, ở Việt Nam cũng như ở Hoa Kỳ.

    Đó chính là lý do thúc đẩy tác giả viết nên tập sách nhỏ này.

    Cũng xin nói rõ rằng tác giả không hề có cương vị nào trong sự nghiệp lớn lao này, nên không hề dám làm điều gì vượt trội những tác giả tiền bối mà chỉ xin khiêm tốn nhặt nhạnh lại của những người đi trước (cả những người đã viết lẫn những người đã làm, cả phía bên này và phía bên kia), lại dựa thêm vào những tài liệu mới được giải mật của Mỹ, cộng với việc phỏng vấn nhiều nhân vật quan trọng đương thời, rồi sau đó tuyển chọn, sắp xếp lại một cách có hệ thống những gì mà người viết hiểu rằng người đọc ngày nay thực sự cần biết.

    Còn về tên gọi, xin có đôi lời giải trình: Con đường trên bộ qua Trường Sơn, gồm toàn bộ hệ thống đường vận tải bộ và sau đó là hệ thống đường ống xăng dầu, đương nhiên đã được đặt tên từ lúc khai sinh 19-5-1959 là “Đường Hồ Chí Minh”. Còn con đường trên biển thì thậm chí, như trong sách này viết, nó đã ra đời ngay từ thời kháng chiến chống Pháp và đã được những “con cá kình” đầu đàn thời đó đặt tên là “Đường Hồ Chí Minh trên biển”. Còn con đường chuyển ngân thì ban đầu vốn cũng đi theo đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ, sau đó hai vị “cha đẻ” của sáng kiến chuyển ngân là Mười Phi và Mai Hữu Ích gặp nhau ở Phnom Penh để quy định những mật ước, cũng đã đặt tên cho nó là “Đường Hồ Chí Minh FM”, tức là Đường Hồ Chí Minh theo phương pháp mới. Riêng con đường bí mật trên không thì quả chưa thấy ai đặt tên cho nó là gì. Nhưng xét về tính chất, về chức năng và tác dụng, nó đều giống như các con đường kia: Đều là vận chuyển người, vận chuyển tiền một cách bí mật để chi viện cho miền Nam. Tác giả thấy nó hoàn toàn đáng được xếp vào hệ thống chung của các con đường mòn mang tên Hồ Chí Minh, nên nhân đây xin mạn phép thỉnh vấn các nhà nghiên cứu cùng đông đảo bạn đọc.

    Tác giả xin chân thành cảm ơn tất cả các vị lão thành đã từng là người trong cuộc (mà tên tuổi đã chú thích trong sách) đã vui lòng cho gặp, cho hỏi, cho tư liệu, cho ảnh, để nhờ đó có được nội dung chính của cuốn sách này.

    Tác giả xin cảm ơn Gs. Đỗ Hoài Nam và Ban lãnh đạo Viện Kinh tế Việt Nam đã chấp nhận công trình này trong khuôn khổ một đề tài khoa học của Viện Kinh tế Việt Nam và tạo những điều kiện tối ưu cho việc thực hiện nó.

    Tác giả cũng không thể nào quên nhắc đến tên và gửi vào đây lời cảm ơn tới các bạn cộng sự trẻ đã hết lòng cộng tác và cộng tác một cách đầy hào hứng trong công việc tìm tư liệu, biên soạn và hoàn tất một bản thảo “khó tính” như bản thảo cuốn sách này: Ngô Huyền Minh, Cao Tuấn Phong, Vũ Ngọc Quyên, Trịnh Thị Hải Yến, Thùy Dương, Phạm Văn Hiếu… thuộc Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đường Mòn Hồ Chí Minh Qua Tài Liệu Của Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa
  • Đường Hồ Chí Minh Thông Xe Toàn Tuyến Năm 2021
  • Đường Mòn Hồ Chí Minh
  • Chủ Tịch Hồ Chí Minh Và Hai Cuộc Hội Ngộ Với Anh, Chị Ruột
  • Gia Đình Bác Hồ, Một Gia Đình Lương Y
  • Tìm Hiểu Sự Thật Về Đường Mòn Hồ Chí Minh Trong Cuộc Chiến Ðông Dương Ii (1955

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Về Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Thân Thế Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Thành Phố Hồ Chí Minh Vài Nét Tổng Quan
  • Tìm Hiểu Về Đội Thiếu Niên Tiền Phong Hồ Chí Minh
  • Lớp học Y Tá cấp tốc chuẩn bị cho Đường Mòn Hồ Chí Minh

    B – CÁN BINH , BỘ ÐỘI BẮC VIỆT TRÊN ÐƯỜNG MÒN HCM

    Với mục đích lường gạt dư luận thế giới , đánh lận con đen , chối bỏ việc trắng trợn xâm lăng Việt Nam Cộng Hoà , nên Cộng Sản Bắc Việt lúc nào cũng tổ chức cuộc chuyển quân vào Nam , thật bí mật . Thêm vào đó là sự phụ họa rất ăn khớp nhịp nhàng của một số báo chí theo Việt Cộng tại miền Nam , nên Hà Nội gần như đâm mù cả nhân loại , khiến ai cũng tin là cuộc chiến tại miền Nam , là do chính người miền Nam vì bất mãn chính phủ độc tài tàn bạo , nên nỗi loạn chống phá , chứ miền Bắc không hề can dự . Thời gian đầu cuộc chiến , việc chuyển quân từ Bắc vào Nam , thật vô cùng khó khăn nguy hiểm . Vì thế chỉ có bộ binh vượt tuyến mà thôi . Còn vũ khí quân dụng , được chuyển vận bằng ghe thuyền tại tuyến đường 559B trên Ðông Hải , do Ðồng văn Cống phụ trách . Trước tết Mậu Thân 1968 , bộ đội Bắc Việt vào Nam , được bồi dưỡng và huấn luyện trong thởi gian 8 tháng , với tiêu chuẩn 2 đồng 40 xu tiền Hồ/1 ngày . Trước khi lên đường ” sanh bắc tử nam “ , các cán binh bộ đội được cấp 5 ngày phép về thăm gia đình . Vì chủ nghĩa xã hội miền bắc rất công bình , con trốn quân dịch , cha mẹ dù có già 100 tuổi vẫn phải đi thế , ngoài ra tất cả tem phiếu , sổ gia đình đều bị tịch thu . Nên trong một xứ mà tất cả nhu yếu phẩm đều phải bó buộc mua tại cửa hàng quốc doanh , chợ nhà nước , thì đâu có ai dám không đi lính , để vừa khổ thân lại làm liên lụy cho gia đình . Ở Bắc Việt , củng không có chùa , nhà thờ và trường đại học , nên cũng không có chế độ hoãn dịch vì tu xuất hay học hành . Còn du học hay xuất ngoại , thì chỉ dành ưu tiên cho con cái và gia đình cán bự cỡ tổng bộ trưởng và hàng trung ưởng đảng , nên sau khi hết phép , ai nấy đều trở lại để lên đường vào Nam theo lệnh Đảng.

    Trên đường tiến quân còn trong lãnh thổ Bắc Việt , các đơn vị chính quy hành quân , vẫn sử dụng quân phục cố hữu bằng vải kaki Nam Ðịnh , với mũ bầu có bọc vải dầu , màu xanh lá cây . Quân xa sẽ chở bộ đội tới Lào , qua một trong ba tuyến đường chiến lược , nối liền hai nhánh Trường Sơn Ðông và Tây , tại Ðồng Lộc (

    Hà Tĩnh ) , Phong Nhạ ( Quảng Bình ) và Vĩnh Linh ( Quãng Trị ) , để tới biên giới Việt Nam Cộng Hoà . Tại đây , bộ đội cộng sản Bắc Việt , sẽ lột xác hoàn toàn thành người ” Giải Phóng Quân “ trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của Anh Thọ , chi Bình , chị Ðịnh Bến Tre lập ra . Tóm lại tất cả những gì có liên hệ tới Cộng Sản miền Bắc , đều phải hoàn trả hết cho cán bộ chính trị đơn vị . Từ đây bộ đội chính quy miền Bắc là giải phóng quân miền Nam , dù cả hai đều là đảng ta đó , nên phải mặc đồ bà ba đen, khăn rằn quàng cổ , mang dép râu , đội mũ tai bèo , y chang như Việt Cộng tại Nam phần đã sắm tuồng từ năm 1960. Cả tới cờ hiệu, cũng phải dùng cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam , nửa xanh nửa đỏ giữa có sao vàng. Còn bài hát thì đã có bản ” Giải phóng miền Nam “ của Nguyễn Minh Siêng ( tức Lưu Hữu Phước ).

    Trước khi hiệp định Ba Lê 1973 ký kết , nhằm hợp thức hóa cũng như cho phép bộ đội chính quy Bắc Việt được công khai đóng ngay trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà , thì sự di chuyển trên đường mòn Hồ Chí Minh rất khó khăn nguy hiểm, kể cả các tuyến giao thông chiến lược nối Bắc Việt với nhánh Trường Sơn Tây, nằm trong lãnh thổ Trung Lào, vì bị phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc ngày đêm liên tục. Nên chỉ riêng đoạn đường, từ điểm xuất phát đầu tiên tại Tân Kỳ (”

    Nghệ An) tới thi trấn Tchepone ( Hạ Lào), cũng phải mất từ 2-3 tháng . Sau đó các đơn vị bộ đội chính quy miền Bắc , được các toán giao liên hướng dẫn vượt tuyến và xâm nhập các trục vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà để hoạt động , tuỳ theo nhiệm vụ được đảng giao phó . Sau tháng 2/1973 , không quân Hoa Kỳ chính thức rút khỏi cuộc chiến , còn Việt Nam Cộng Hoà thì không đủ phương tiện để ngăn chận , nên Bắc Việt gần như công khai hoạt động , không cần che đậy để lừa bịp dư luận như trước . Do trên , con đường mòn được tu bổ thành một xa lộ đất . Dọc đường , thiết lập nhiều khu dưỡng quân , bệnh xá , kho tiếp liệu . Song song là một hệ thống ống dẫn dầu , xăng cùng một đường dây điện thoại cao thế , do Liên Số và các nước Ðông Âu cung cấp viện trợ , bơm dầu từ các tàu nhiên liệu cập bến ở Nghệ An . Tại các mật khu cũng như địa điểm trọng yếu , Bắc Việt cho bố trí một mạng lưới phòng không dầy đặc , với đủ loại súng đại bác do Nga Sô , Ðông Ðức viện trợ như súng cao xạ , hỏa tiễn loại 35 và 57 ly . Từ năm 1965 tới 1967 , ước chừng 7.000 bộ đội chính quy xâm nhập miền Nam hằng tháng . Trong đợt tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 , quân số Cộng Sản Bắc Việt có mặt tại lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà hơn 100.000 người . Ðể chuyên chở người , quân dụng và vũ khí vào Nam trên đường mòn Trường Sơn , Hà Nội đã huy động một số quân xa , từ 1.250- 1.700 chiếc . Những quân xa này đều do Trung Cộng , Liên Xô viện trợ , gồm các hiệu Zills , Molotova….. loại 130 bốn bánh và 157 sáu bánh, có trọng tải từ 4-6 tấn . Ngoài ra có một đoàn dân công khổng lồ , thi hành theo cái gọi là ” nghĩa vụ lao động ” từ 16-55 tuổi , không phân biệt nam nữ, để giữ hộ khẩu và được sống yên trong chế độ công an khu vực . Hàng hóa phần lớn được chuyển vận vào Nam bằng sức người, xe đạp và voi . Ðể bảo vệ và hoạt động được liên tục trên hành lang chuyển quân , Bắc Bộ Phủ đã thí quân một cách vô nhân đạo . Ðó là lý do nhiều lần con đường chính và năm nhánh rẽ vào Nam Việt Nam, tưởng như đã bị phá vỡ hoàn toàn. Nhưng rồi đoàn kiến người cũng tìm đủ mọi ngõ ngách khác để xâm lăng miền Nam

    Sau tháng 5/1975 chiến tranh chấm dứt, có rất nhiều bí mật được bất mí, phần lớn nhằm làm sáng tỏ lý do thất bại của Quân Lực Ðồng Minh, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến Ðông Dương, mà nỗ lực chính là ngăn chận và phá vỡ hệ thống đường mòn Trường Sơn, hành lang chính để cán binh bộ đội Cộng Sản Bắc Việt , xâm lăng Miền Nam. Ðồng thời phơi bày ra ánh sáng , thảm trạng ” Mạng người lá rụng ” vì đường đi không tới , của hằng trăm ngàn người ” sinh bắc tử nam ” . Tất cả nạn nhân chiến tranh trên, chẳng có ai vì nhiệt tình cách mang hoặc ngu ngốc để mà phải chết thảm thê vì đụng độ , máy bay oanh tạc , hải pháo và bệnh tật không có thuốc men chửa trị . Và dù phía Việt Nam Cộng Hoà không đạt được chiến thắng cuối cùng nhưng rõ ràng Họ đã tiêu diệt và phá vỡ gần hết những mật khu quan trọng của Bắc Việt, trên đuờng mòn Trường Sơn , như 604 tại yết hầu Tchépone-Hạ Lào và 611 trong thung lũng Ashau, gồm nhiều binh trạm, hậu cần , ống dẫn dầu cùng các tổng kho tiếp tế. Tác giả Lane Rogers cũng là Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ , từng tham dự nhiều trận chiến trên đường mòn, đã viết :

    . Riêng Thống Tướng Westmoreland , cựu Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ và Ðồng Minh, chiến đấu tại Việt Nam, thì giải thích lý do thất bại của Mỹ , trong nỗ lực hủy diệt con đường này, phần lớn do trở ngại thiên nhiên, là chốn ma thiêng nước độc, gây sự sợ hãi chết chóc nhiều nhất trên thế giới.

    Hai mươi năm chiên cuộc Việt Nam , đã cướp mất đi hằng triệu thanh niên nam nữ hai miền đất nước , cũng như đồng bào vô tội. Sự tủi nhục và đau lòng nhất, riêng chỉ có kẽ trong cuộc và dân chúng xã nghĩa Bắc Việt mới hiểu thấu. Riêng người miền Nam sống tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Huế, Cầ Thơ….. gần hết chỉ hiểu một cách đại khái, mù mờ, qua tài liệu, báo chí và sự tuyên truyền của cả hai phía. Họ đâu có bao giờ biết rằng, trong suốt cuộc chiến , Bắc Việt , Hoa Kỳ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà , đã dành giựt từng thước đất trên đỉnh Trường Sơn , vì một bên thì quyết lòng dùng máu xương người để xây huyết lộ , còn phía bên kia cũng lấy mạng sống , bom để phá hủy cho tận tuyệt . Nói chung cả hai phía đều sử dụng tối đa mạng sống con người Việt, qua các khẩu hiệu hào nhoáng nhưng mặt thật, cũng chỉ để phục vụ cho quyền lợi riêng tư của họ mà thôi .

    C – VỀ PHIÁ CỘNG SẢN BẮC VIỆT

    Sau khi Thủ Tướng Liên Xô Nikita Khrowshchev , phát pháo mở màn cuộc chiến giải phóng toàn cầu vào ngày 6/1/1961 , cũng là thời gian khởi đầu cho tới ngày 30/4/1975 , Bắc Việt xâm lăng cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hoà . Ngoại trừ các chóp bu ngồi tại Bắc Bộ Phủ , không ai có thể biết rõ , đã có bao nhiêu cán binh , dân công và thanh niên xung phong đã bị thương vong vì cuộc chiến . Phần thì Cộng Sản quen bưng bít sự thật , hơn nửa trong chủ nghĩa thiên đàng , không có chế độ thươg binh ngoài mặt trận . Nên tất cả những điều Ðảng tuyên bố , gần như là tuyên truyền láo bịp , nên sự thật đâu biết sao mà mò ? . Nhưng chắc chắn có điều , gần hết các trận đánh khốc liệt , đều xảy ra trên hành lang chiến lược Trường Sơn , từ sự hủy diệt bằng bom mìn , hàng rào điện tử , chiến tranh khí tượng , thuốc khai quang , không quân cho tới những đụng độ trực tiếp giữa Bắc Việt với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà , mà cao điểm là cuộc hành quân Lam Sơn 719 , tại Hạ Lào-1971 .

    Nhưng một biến cố cực kỳ quan trọng trên , gần như làm đảo lộn chiến lược xâm lăng miền nam của Bắc Việt , cũng như chiến thắng gần kề của Việt Nam Cộng Hoà , nếu như Nixon-Kissinger không bán đứng Miền Nam cho Bắc Việt , qua cái gọi là Hiệp định Ba Lê 1973 . Ðó là cuộc chính biến trên đất Miên vào năm 1970 . Ai cũng biết Kampuchia từ năm 1960 , là hậu cứ an toàn của Cộng Sản Bắc Việt , để nhận trực tiếp hàng hóa quân dụng viện trợ của các nước Xã Hội Chủ Nghĩa , tại hải cảng Sihanouk Ville nằm trong vịnh Thái Lan . Ðây cũng là tổng hành dinh của Cục R , đầu não chỉ huy của đảng bộ Cộng Sản miền Nam , qua ngụy danh Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam . Ngày 18/3/1970 , Lonnol lật đổ Sihanouk và theo Mỹ . Quân Miên cũng được lệnh tấn công các mật khu của Bắc Việt trên đất Miên . Chiến tranh đã nổ toàn diện trên đất chùa Tháp . Liên quân Khmer Ðỏ của Polpot và Việt Cộng phản công và bao vây thủ đô Nam Vang , đồng thời người Miên qua sự xúi ngầm của tân chính phủ Lonnol , đã đồng loạt ” CÁP DUỒNG “ Việt Kiều khắp nơi , gây thảm trạng thương đau cho hằng vạn người dân vô tội , bị vạ lây do Bắc Việt gây ra từ mấy năm trước .

    Ðể cưú đồng bào về nước , đồng thời mượn dịp thanh toán các căn cứ địa và cục R tại biên giới Việt-Miên , theo yêu cầu của Lonnol . Do trên , Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã tổ chức cac cuộc hành quân rất qui mô , mang tên Toàn Thắng 41 , 42 , 43 do Quân Đoàn 3 đảm trách . Song song Quân Đoàn 2 cũng hành quân Bình Tây và Quân Đoàn 4 có hành quân Cửu Long . Trừ cuộc hành quân Toàn Thắng 43 , do lưc lượng hỗn hợp Việt-Mỹ , gồm Sư Đoàn 1 Không vận Hoa Kỳ và Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù và Thiết Ðoàn 2 kỵ binh Việt Nam . Tất cả các cuộc hành quân khác , đều đo Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đảm trách , đã giúp Lonnol chiếm lại thủ đô Nam Vang , hải cảng Sihanouk Ville , đồng thời phá vỡ gần như toàn diện các mật khu của Việt Cộng , trong đó có Trung Ương Cục R. Trên biển Ðông , Hải quân Mỹ còn tổ chức cuộc Hành quân Market Timer , để truy đuổi các tàu thuyền của Bắc Việt , trong việc chuyển vận quân trang dụng vào Nam , bằng tuyến đường biển 559B .

    Ðể cứu sống đoàn quân xâm lăng đông đảo , đang có mặt ở miền Nam , trong lúc các căn cứ tiếp vận tại Miên vừa bị phá hủy , nên Cộng Sản Bắc Việt đã gia tăng quân lực , bằng mọi giá giữ vững cho được Huyết lộ Hồ Chí Minh trên đất Lào , mà trọng điểm là Thị trấn hoang tàn Tchépone . Ðây cũng lý do mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã mở cuộc Hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào năm 1971 , một trận chiếm đẫm máu nhất trong Ðông Dương thế chiến lần Thứ II ( 1960-1975 ) . Phía Việt Nam Cộng Hoà có 17.000 quân tham dự , gồm các Sư Đoàn Nhảy Dù , Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến , Sư Đoàn 1 Bộ Binh , Liên Ðoàn 1 Biệt Động quân và Lữ Ðoàn 1 Thiết Giáp . Về phía Cộng Sản Bắc Việt có Quân Ðoàn 70B , các Sư Đoàn 2 , 304 , 308 , Sư Đoàn phòng không….. Quân Mỹ chỉ đóng bên kia biên giới , yểm trợ không vận , hải pháo , pháo binh….. Cuộc hành quân kết thúc ngày 25/4/1971 sau khi Trung Ðoàn 2/SĐ1BB/Việt Nam Cộng Hoà tiến vào thị trấn Tchépone . Dù bị thiệt hại rất nặng nhưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã phần nào đạt được mục tiêu chiên lược , là phá hủy hoàn toàn nhiều căn cứ tiếp liệu của Bắc Việt , tại mật khu 609 và 611 trên đường mòn Hồ Chí Minh .

    D – VỀ PHÍA VIỆT NAM CỘNG HOÀ

    Trong suốt cuộc chiến, hầu như tất cả mọi binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đều có mặt tại đường mòn Trường Sơn , kể cả Cảnh Sát Dã Chiến , Xây Dựng Nông thôn , Địa Phương Quân và Nghỉa Quân … Tuy nhiên đã có một Binh Chủng Ðặc Biệt , từ ngày thành lâp vào năm 1957, tới khi rã ngũ tan hàng , đã đơn độc hoạt động âm thầm trong lòng địch , trên suốt đường mòn Hồ Chí Minh từ đông sang tây , ngay cả trong lãnh thổ của Miên và Lào . Họ là những chiến sĩ ” BIỆT KI’CH-BIỆT CÁCH “ , không có sự yểm trợ nào của đơn vị bạn và hoàn toàn tụ lực cánh sinh để mà sống trong núi rừng , nhiều nơi chưa hề có dấu chân người .

    Binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt có cấp số sư đoàn , bao gồm các đơn vị như Sở liên lạc , Sở công tác , Sở khai thác địa hình , các liên đoàn tác chiến 31 , 77 , 81 Biệt cách nhảy dù và Trung tâm Huấn luyện Lực Lượng Đặc Biệt Ðông Ba Thìn tại Cam Lâm-Khánh Hòa .

    Như Kinh Kha ngày xưa , các chiến sĩ Biệt Kích ra đi ít khi được trở về . Một số ít đã bị bắt tại Bắc Việt và chịu kiếp tội đồ , tới nay nhiều người vẫn còn chưa được thả . Vì họ chính là kẻ thù không đội trời chung và cũng là khắc tinh của Cộng Sản , trên suốt đường mòn . Tóm lại nơi nào có Việt Cộng thì nơi đó có Lực Lượng Đặc Biệt . Hai bên đã trường kỳ đấu trí trong suốt cuộc chiến , qua đủ mọi hình thức . Nhưng vì lý do bảo mật , nên cả hai phía , đều không muốn nhắc tới .

    E – VỀ PHÍA HOA KỲ

    Từ năm 1961, Lào trở thành một quốc gia trung lập, nên chính phủ Mỹ đã bị Quốc Hội, nhất là tên thượng nghị sĩ đảng dân chủ thân cộng William Fullbright và cái gọi là ủy ban ngoại giao , tìm đủ mọi cách ngăn chận cấm đoán quân Mỹ can thiệp vào đất Lào . Trong lúc đó, Cộng Sản Bắc Việt không hề đếm xỉa tới cái gọi là hiệp định Genève 1954, tự tác mở con đường Tây Trường Sơn ngay trên đất Lào, để làm hành lang chuyển quân và tiếp vận xâm lăng miền Nam. Cũng do Quốc Hội trói buộc, nên từ đời Tổng Thống Kennedy cho tới Johnson, cả hai đều dè dặt trong quyết định dùng vũ lực tiêu diệt, ngăn chận sự xâm nhập của cán binh bộ đội, trên đường mòn Hồ Chí Minh .

    Vì không thể sử dụng bộ binh, để tránh né khỏi bị công luận thế giới và quốc hội chỉ trích, người Mỹ đã dùng các phương tiện chiến tranh khác như oanh tạc, khai quang và dùng hàng rào điện tử. Ngay cả việc sử dụng không quân để oanh tạc cũng vô cùng bí mật, lúc đầu đều do các phi công thuê của Thái Lan , Ðài Loan đảm trách. Về sau vì Bắc Việt đã được Liên Xô giúp thiết trí một mạng lưới phòng không dày đặc, với đủ các loại đại bác, hỏa tiễn tối tân 35,57 ly .. làm nhiều thám thính cơ bị bắn hạ. Vì vậy để thích ứng với hoàn cảnh, Hoa Kỳ quyết định xử dụng những phi cơ oanh tạc Thunderchiefs từ Thái Lan , cùng các phi cơ F105 , pháo đài bay B52 từ căn cứ Guam , cũng như các Hàng Không Mẫu Hạm bỏ neo trên Thái Bình Dương , để oanh tạc liên tục con đường mòn Hồ Chí Minh , trên đất Bắc , Lào-Miên và trong lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà . Riêng chủ trương của Tướng Westmoreland , tư lệnh các lực lượng Mỹ và Ðồng Minh tham chiến tại Việt Nam , thì luôn muốn dùng bộ binh , để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh ngay trên đất Lào . Nhưng ông đã bị Quốc Hội Mỹ chống đối kịch liệt vì sợ vi phạm hiệp định Geneve 1961 . Ngoài ra Mỹ cũng luôn lo sợ va chạm quân sự với Trung Cộng , khi tung quân vào Lào để hủy diệt con đường chiến lược Hồ Chí Minh . Ðây cũng là những bí ẩn trong cuộc chiến Việt Nam mới được bật mí . Năm 1968 kế hoạch vượt biên đánh sang Lào để hủy diệt đường mòn Hồ Chí Minh , mang tên EL-PASO sắp được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn , thì xảy ra trận Tết Mậu Thân 1968 nên chiến dịch trên đã bị hủy diệt .

    12 giờ trưa ngày 30/4/1975 , nhờ Tổng thống Dương văn Minh với quyền hạn của Vị Tổng Tư lệnh tối cao , ra lệnh cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà lúc đó đang còn chiến đấu khắp các mặt trận, buông súng đầu hàng giặc. Nhờ vậy mà đoàn xe tăng của Liên Xô, chở quân Cộng Sản Bắc Việt , mới bon bon chạy được trên đoạn chót của đường mòn Hồ Chí Minh, là đại lộ Thống Nhất-Sài Gòn, rồi ủi sập hai cổng sắt để vào dinh Ðộc Lập, trống trơn không có phòng thủ, lính gác.

    Sài Gòn hai mươi năm dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà , gần như lúc nào cũng có biểu tình . Thế nhưng trong ngày ” vinh quang của đảng-bác “, một cơ hội vàng ròng để người miền nam tha hồ xuống đường hoan hô hòa bình, ăn mừng . Tuy nhiên mọi điều xảy ra lại hoàn toàn trái ngược, chứng tỏ người miền nam không phải ai cũng hồ hởi tin hay thân cộng, như một số báo chí thời đó đã xướng. Theo hằng trăm nhà báo ngoại quốc có mặt hôm đó, trong số này có nhiều người thân cộng, cho biết :

    Trưa 30/4/1975 , khi quân Bắc Việt vào Sài Gòn , đã không có cảnh người thủ đô hàng hàng lớp lớp , túa ra đường , miệng la cờ phất….. như họ từng làm qua nhiều biến cố trong quá khứ ” .

    Nói chung chỉ có cán bộ đảng và Sư Đoàn 304 khăn đỏ tân lập ra chào đón quân ta về , còn dân chúng Sài đô lớp thì chạy trối chết theo chân Mỹ đi ngoại quốc, số khác lo chôm đồ….. nên có ai rãnh để mà biểu tình , xuống đường như đảng mong đợi .

    Sau đó Hà Nội cho thu lượm hài cốt cán binh bộ đội đã chết trên đường mòn, tập trung làm nghĩa trang Trường Sơn, tại xã Gio An, quận Gio Linh, tỉnh Quảng Trị . Còn Tỉnh Uỷ Bình-Trị-Thiên thì tổ chức tour du lịch, để du khách trong và ngoài nước tới thăm mấy cái xác xe tăng Mỹ , cây cầu treo Dakrong do công binh Cu Ba làm tặng và đồi Hambuger Hill.. Riêng đường Trường Sơn tây thì bỏ hoang hoàn toàn và mới đây Lào cho phép Trung Cộng trùng tu, nối liền xa lộ Vân-Nam-Bắc Trung Lào mà tương lai con đường này sẽ thông tới hải cảng Kompong Som của Kampuchia , như năm xưa Bắc Việt đã làm .

    Nay ngồi ngẫm nghĩ , mới thấy nhà văn Xuân Vũ viết ” Ðường đi tới mà không tới ” là đúng sự thật :

    Trăng chiến khu não nùng sầu vạn kỹ ;

    núi nghìn năm quên tuổi đứng cô đơn ;

    đoàn quân xưa hào khí ngút mây vờn ;

    trời quái ác làm vỡ tan tận tuyệt ;

    .. đây còn có nhiều bạn bè Phan Thiết ;

    đã vùi thây trong rừng lạnh tây nguyên ;

    họ bây giờ là những cánh chim đơn ;

    hót ảo não nơi lũng đèo khe núi…..

    Viết nhớ bạn hiền Cố Trung Uý Trần Văn Thân , Trưởng Toán Công Tác Nha Kỹ Thuật , mất xác trên nhánh rẽ đường mòn Hồ Chí Minh, Tháng chạp 1974 Xóm Cồn Hạ Uy Di

    HỒ ÐINH-MƯỜNG GIANG

    TĐ1/TrĐ43/SĐ18BB

    Kbc 4424 3435 –

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Nghiệm Tham Quan Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Giá Vé, Quy Định
  • Lịch Sử Ra Đời Ngày Thành Lập Đoàn 26
  • Tìm Hiểu Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Gia Đình
  • Chuyện Kể Về Gia Đình Bác Hồ Vào Một Năm Mậu Tuất
  • Thi Tìm Hiểu 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Về Cuộc Đời Hồ Chí Minh”hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo”

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Dự Thi: “tìm Hiểu Về Cuộc Đời, Sự Nghiệp, Tư Tưởng Và Tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh”
  • Tìm Hiểu Về Cuộc Đời Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Về Chiến Dịch Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Về Chiến Dịch Hồ Chí Minh Tim Hieu Chien Dich Hcm Doc
  • Thi Tìm Hiểu 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Lời người dịch

    “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” (Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh) do Giáo sư Hồ Tuấn Hùng , một người đã tốt nghiệp khoa Lịch sử của Trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan dành nhiều công sức nghiên cứu trong những năm qua, được Nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa ấn hành tại Đài Loan vào ngày 01/11/2008 (mã số ISBN: 9789866820779).

    Hồ Tuấn Hùng sinh năm 1949 (có tài liệu nói là sinh năm 1948), tại Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan, là cháu ruột Hồ Tập Chương (mà ông khẳng định chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh) từng dạy học hơn 30 năm, đồng thời ông còn là viên chức cao cấp Giáo Dục Hành Chính. Theo Giáo sư Hồ Tuấn Hùng, Hồ Chí Minh xuất thân là người thuộc sắc tộc Khách Gia (Hakka, người Việt gọi là Hẹ ) tại huyện Miêu Lật, địa khu Đồng La, Đài Loan.

    Toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của ông được tác giả tìm hiểu kỹ lưỡng trên cơ sở tham khảo nhiều nguồn tư liệu cũng như nhân chứng. Tác phẩm “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” dày 342 trang, khổ 15 x 21 cm, bìa cứng, in chữ nổi.

    Phần mở đầu gồm các bài giới thiệu của tiên sinh Chung Triệu Chính, luật sư Kiệt Chương và của tác giả. Phần chính được chia làm 6 thiên, thứ tự như sau:

    I / Hài kịch tráo rồng đổi phượng (Thâu long chuyển phượng đích hý khúc)II/ Ve sầu lột xác, thật giả kiếp người (Kim thiền thoát xác thực giả nhân sinh)III/ Những năm tháng phiêu bạt (Phiêu bạc lưu lãng đích tuế nguyệt)IV/ Khúc ca buồn về tình yêu, hôn nhân (Hôn nhân luyến tình đích bi ca)V/ Hán văn “Nhật ký trong tù” và “Di chúc” (Hán văn Ngục trung nhật ký dữ Di chúc)VI/ Hạ màn, đôi lời cảm nghĩ (Lạc mạc cảm ngôn)

    Cuốn sách khá dày, công việc chuyển ngữ mất nhiều thời gian và công sức, tuy nhiên, người dịch đã cố gắng dịch trọn vẹn để cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn mới về nhân vật huyền thoại Hồ Chí Minh, còn việc đúng hay sai xin để công luận thẩm định, chúng tôi không dám lạm bàn.

    Lời giới thiệu 1

    Người kỳ lạ, chuyện kỳ lạ, sách kỳ lạ

    Thay lời tựa

    Màn đầu bóc gỡ tấm mạng che huyền bí

    Lời giới thiệu 2

    Tin có bằng chứng, bổ khuyết và dựng lại lịch sử

    THIÊN I

    Hài kịch tráo rồng đổi phượngMàn một

    Sự thật về cái chết của Nguyễn Ái Quốc

    Tấm mạng huyền bí che mặt Hồ Chí Minh

    Hồ Chí Minh có phải đến từ Đài Loan?

    Màn hai

    THIÊN II

    Ve sầu thoát xác, thật giả kiếp ngườiTiết mục Nguyễn Ái Quốc “chết rồi sống lại”

    Những ẩn số về con người Hồ Chí Minh

    Nguyễn Ái Quốc chết thật hay chết giả?

    Báo chí đưa tin Nguyễn Ái Quốc chết bởi bệnh lao phổi

    Bí mật về cái chết của Nguyễn Ái Quốc

    Sai lầm của Hồ Chí Minh về việc tự nhận “mình đã bị chết”

    Hồ sơ bệnh án Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh

    Hồ sơ bệnh lao phổi của Nguyễn Ái Quốc

    Vụ án Nguyễn Ái Quốc bị bắt tại Hương Cảng

    Vụ án “Tòa Hương Cảng thẩm vấn Nguyễn Ái Quốc”

    Viện Khu mật Hoàng gia London xét xử – Chống án

    Vụ án Nguyễn Ái Quốc đến Singapore bị buộc phải quay lại Hương Cảng

    Sự kiện Nguyễn Ái Quốc mất tích ở Hương Cảng

    Nguyễn Ái Quốc trên đường từ hương Cảng đến Hạ Môn

    Sự kiện Hồ Chí Minh từ Hạ Môn đến Thượng Hải

    Bộ phim “Nguyễn Ái Quốc thoát hiểm ở Hương Cảng”.

    THIÊN III

    Những năm tháng Phiêu bạtMàn một

    Màn hai

    THIÊN IV

    Khúc ca buồn về chuyện hôn nhân tình áiHồ Chí Minh ở Trung Quốc (1938 – 1945)Hồ Chí Minh ở Liên Xô (1933- 1938)

    Thời gian và vũ đài hoạt động trùng nhau

    Cùng lên cũ đài, một ẩn một hiện

    Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

    Bệnh phổi trầm trọng, sức khỏe suy giảm

    Cùng tên nên có sự nhầm lẫn

    Hồ sơ Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu

    Những ghi chép về sự kiện Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu

    Lương Ích Tân viết về sự kiện Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu

    Ngô Trọc Lưu ở Đài Loan và trường thiên tiểu thuyết “Hồ Chí Minh”

    Hồ Tập Chương bị bắt ở Hà Nam, giam tại nhà ngục “Nam Thạch Đầu”

    “Hồi ký Trịnh Siêu Lân”: Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu

    Bí mật “Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu”

    Tiểu sử giản lược Hồ Tập Chương

    Tiểu sử Nguyễn Ái Quốc

    Phụ lục1

    Ảnh của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh trong hồ sơ

    Phụ lục 2

    “Hồi ức Trịnh Siêu Lân – Truyện Phó Đại Khánh”

    Chuyện tình giữa Hồ Chí Minh và Đỗ Thị LạcMối tình của Hồ Chí Minh và Nông Thị Xuân

    Hồ Chí Minh đến Mạc Tư Khoa vào thời gian nào?

    Sự thật về sự kiện Hồ Chí Minh bị kết án tử hình

    Quốc tế cộng sản đạo diễn vở kịch “Mượn xác hoàn hồn”

    Vera Vasilieva và Hồ Chí Minh

    Việc cải tạo và học tập của Hồ Chí Minh

    Đại hội đại biểu Quốc tế cộng sản lần thứ VII

    Hồ Chí Minh rời khỏi Mạc Tư Khoa

    THIÊN V

    Chữ Hán “Nhật ký trong tù” và “Di chúc”

    Ngàn dặm xa xôi đến Diên An

    Cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm

    Ban huấn luyện cán bộ chiến tranh du kích Hành Sơn, Hồ Nam

    Đảng bộ Hải ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương

    Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng minh

    Bị bắt ở Quảng Tây và tập thơ “Nhật ký trong tù”

    Trở lại Bắc Pha, tháng tám khải ca

    Con người thật của Hồ Chí Minh

    Hồ Chí Minh chấp hành “nhiệm vụ bí mật”

    “Đài Loan nhật nhật tân báo”

    Bảy bức thư từ Trung Quốc

    Mười một (11) bài viết trong “Cứu vong nhật báo”

    Hồ Chí Minh ngụy tạo sự kiện Nguyễn Ái Quốc sống lại

    THIÊN VI

    Hạ màn và đôi lời cảm nghĩ

    Hồ sơ hôn nhân Hồ Chí Minh

    Chuyện hoang đường về đạo đức thánh nhân

    Cầu trả về cầu đường trả về đường

    Tài liệu tham khảo

    Mối tình đầu của Nguyễn Ái Quốc với cô Breiere

    Breiere và Bourdon

    Mối tình đầu của Nguyễn Ái Quốc

    Nghi án ái tình giả tạo

    Tăng Tuyết Minh, người vợ đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc

    Câu chuyện hôn nhân, ái tình của Nguyễn Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh

    Hồ sơ về hôn nhân, tình ái giữa Nguyễn Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh

    Trung Cộng ẩn giấu chuyện hôn nhân Tăng Tuyết Minh

    Hôn nhân Tăng Tuyết Minh, thật giả – một vụ án kép

    Tăng Tuyết Minh lúc tuổi già – Tấm ảnh chân dung

    Khói lửa chiến tranh chứng kiến tình yêu – Nữ sĩ Nguyễn Thị Minh Khai

    Tự khúc bi ca ái tình

    Hồ sơ hôn nhân của Nguyễn Thị Minh Khai

    Sự thật về quan hệ hôn nhân giữa Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai

    Hôn ước của Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai

    Bí danh chúng tôi của Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc

    Hồ Chí Minh và tri kỷ má hồng – Lâm Y Lan tiểu thư

    Hồ sơ về mối tình Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan

    Mối tình của Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan

    Sự thật về mối tình của Lâm Y Lan

    Tổng kết về hôn nhân và tình ái trong cuộc đời Hồ Chí Minh

    Khả năng Trung văn của Hồ Chí Minh

    Quá trình Nguyễn Ái Quốc học tập ngữ văn

    Trình độ ngữ văn của Hồ Tập Chương

    Tập thơ “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh

    134 bài thơ trong tập “Nhật ký trong tù”

    “Nhật ký trong tù” là tác phẩm của một người thuộc sắc tộc Khách Gia

    Thư pháp chữ Hán của Hồ Chí Minh

    Di chúc của Hồ Chí Minh lúc lâm chung

    Nội dung “Di chúc” của Hồ Chí Minh

    Những nghi vấn về “Di chúc Hồ Chí Minh”

    Những bí mật về việc bảo tồn di thể Hồ Chí Minh

    Lặng lẽ suy tư khi màn hạ

    Ghi nhớ lời dặn, nhìn về tương lai

    Lời giới thiệu 1

    Người kỳ lạ, chuyện kỳ lạ, sách kỳ lạ

    Mấy ngày trước, ngài hiệu trưởng Lý Tú Bằng, một đồng sự đã hồi hưu cùng tác giả cuốn sách “Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh” là Hồ Tuấn Hùng đến thăm tệ xá. Nghe Hồ quân nhẹ nhàng đi tới, khiến tôi càng hiểu rõ về con người kỳ lạ, sự việc kỳ lạ về Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, thực làm cho người ta phải đập bàn kinh sợ, nên đã nhận lời viết mấy dòng thô thiển để bày tỏ lòng mình.

    Điều khiến cho tác giả gọi là “kỳ lạ”, thứ nhất, Hồ Chí Minh đương nhiên là người Đồng La, Miêu Lật, Đài Loan. Cái mà mọi người đều biết ở Hồ Chí Minh là, vào những năm bốn mươi, năm mươi của thế kỷ XX, ông được xem là bậc anh hùng thời đại mà Đài Đảo của chúng ta có vinh dự sinh ra, vốn là con người người bình thường, bỗng nhiên được một nước khác tôn xưng làm Quốc Phụ.

    Thứ hai, Căn cứ vào “Lời nói đầu” của Hồ quân, Hồ Chí Minh và nhà văn hóa nổi tiếng Đài Loan Ngô Trọc Lưu trước đây từng quen biết nhau. Ngô tiên sinh còn được coi là tác gia lớn văn học Đài Loan viết tác phẩm “Đứa con côi châu Á”. Theo cách hiểu của Hồ quân, “Á thư” chính là viết về con người và sự nghiệp Hồ Chí Minh. Trong ký ức các bậc cao niên gia đình tôi, Ngô tiên sinh từng nói, “Á thư” nguyên tên là “Hồ Chí Minh”, nhân vì các thủ lĩnh cộng sản phụ họa theo, ở thời kỳ phản cộng, chống Nga Xô mãnh liệt, nên buộc phải đổi thành “Hồ Thái Minh”. Đến khi cuốn sách được được xuất bản tại Nhật lại đổi tên một lần nữa thành “Đứa con côi châu Á”. Khó mà tưởng tượng Ông và Hồ Chí Minh lại là chỗ quen biết.

    Thật ra trên đời này không thiếu gì chuyện lạ, nhưng chuyện mà tác giả đã kể quả tình làm tôi choáng váng. Để đáp lại lời thỉnh cầu của Hồ quân, tôi viết bài tự này.

    Tháng 7 năm 2008

    Tiền Tổng thống phủ Tư chính

    Chung Triệu Chính

    * * * * *

    Tấm mạng huyền bí che mặt Hồ Chí Minh

    Lời giới thiệu 2

    Tin có bằng chứng, bổ khuyết và dựng lại lịch sử

    Tôi quen biết tác giả Hồ Tuấn Hùng đã hơn ba mươi năm, nói là bạn thân cũng không quá. Mấy năm trước, trong một cuộc trò truyện mà tiếng Khách Gia gọi là “đánh trống miệng”, ông nói đã hoàn thành sự phó thác của gia tộc là tìm hiểu được người chú Hồ Tập Chương đã mất tích nhiều năm trong thời loạn. Thật đáng tiếc là lúc đầu, gia tộc không mấy tin tưởng, vì thế ông phải đầu tư thời gian, công sức sưu tầm tư liệu, dẫn nhiều luận cứ từ các nguồn khác nhau, thậm chí còn nhiều lần ra nước ngoài, tìm hiểu tại các văn khố lớn, cuối cùng đã viết được một công trình khảo cứu nổi tiếng, dựng lại chân tướng lịch sử về con người Hồ Chí Minh. Tấm lòng của ông thật đáng kính, tình cảm của ông thật đáng trân trọng.

    Hồ quân đã lấy tư cách thân tộc, vì người chú mà tìm được lời giải câu đố khó. Về tình, ông đã tận lực làm việc đến nơi đến chốn, về lý, ông luôn giữ được tinh thần khách quan, trung thực. Điều may mắn cho cuốn sách là lý trí đã vượt lên trên tình cảm. Tôi khâm phục tư cách của Hồ quân bèn viết bài tự này.

    Ngày 10 tháng 8 năm 2008

    Văn phòng luật sư pháp luật Kiệt Chương

    Luật sư Ông Nhị Đạo

    * * * * *

    Thay lời tựa

    Màn đầu bóc gỡ tấm mạng che huyền bí

    Hồ Chí Minh có phải đến từ Đài Loan?

    Các nhà lãnh đạo nổi tiếng trong lịch sử hiện đại, ít nhiều đều có những bí mật riêng giống như tấm mạng che mặt. Những bí mật này rất ít khi được công khai minh bạch, trong đó, Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Việt Nam là một trường hợp điển hình. Cho dù hiện giờ đã là thiên niên kỷ thứ hai, kỹ thuật truyền thông hiện đại có mặt khắp nơi, Hồ Chí Minh yên nghỉ trong quan tài thủy tinh tại lăng Ba Đình Hà Nội đã bốn mươi năm, nhưng hoàn cảnh gia đình, lịch trình học tập, khả năng ngôn ngữ, lý tưởng động cơ cách mạng, thực trạng hôn nhân, quá trình hoạt động tại Quốc tế cộng sản, thậm chỉ ngày sinh và ngày mất cũng vẫn còn tồn tại rất nhiều nghi vấn. Mặc cho các tác giả viết truyện ký tìm mọi cách lắp ghép tư liệu, cuối cùng, vẫn không thể nào dựng lại được và trình bày một cách thuyết phục chân dung lịch sử Hồ Chí Minh.

    Nhà sử học Việt Nam, giáo sư Nguyễn Thế Anh, tiến sĩ văn học và nhân văn Đại học Sorbonne, Paris, Pháp, từng là giám đôc Đại học Thuận Hóa, chủ nhiệm khoa Văn Sử Đại học Sài Gòn, giáo sư thỉnh giảng Đại học Harvard Hoa Kỳ, chủ nhiệm khoa Lịch sử văn hóa Đông Dương, Đại học Sorbonne, đã dày công nghiên cứu về Hồ Chí Minh và có những kiến giải độc đáo. Trong tác phẩm “Con đường chính trị của Hồ Chí Minh”, Nguyễn giáo sư từng nói: “Cho dù không thiếu những tác phẩm viết về Hồ Chí Minh, cho dù ông đã mất từ lâu, nhưng vẫn còn tồn tại khá nhiều nghi vấn và mâu thuẫn trong cuộc đời nhân vật chính trị này. Do ông có thói quen che giấu quá khứ và những hoạt động của mình, cố ý xóa sạch các dấu vết, vì thế, mọi cố gắng tìm hiểu những chi tiết chân thực trong cuộc đời hoạt động của ông chẳng khác gì đứng trong đám mây mù vần vụ mà thưởng hoa vậy. Vì thế, ta chỉ có thể suy đoán mà thôi. Hồ Chí Minh có đến 3 cái tên giả, tự mình kể chuyện về mình đầy tràn sắc thái thần bí với nhiều sự hàm hồ, vô vàn tình tiết nghi hoặc, chẳng những không thể phân tích rõ ràng, mà còn bỗng nhiên tự tâng bốc mình với mục đích tuyên truyền cho sự nghiệp chính trị hoặc là một thánh nhân. Tuy vậy, các nhà sử học đã trường kỳ nghiên cứu, nỗ lực bóc gỡ dần lớp màn che phủ vốn làm chân dung Hồ Chí Mịnh bị biến dạng hoặc bị tô vẽ thái quá qua các tác phẩm truyện ký, chỉ có điều là vẫn chưa tìm ra điểm mấu chốt.

    Năm 1962, nhà Việt Nam học Bernard Fall phỏng vấn Hồ Chí Minh, có hỏi đến những chi tiết mập mờ trong cuộc đời của ông, Hồ Chí Minh trả lời: “Các ông già khi vui vẻ thường tự tạo ra cho mình một chút thần bí. Tôi cũng bắt chước người xưa làm ra vẻ thần bí một chút, chắc ngài có thể hiểu được”. Việc này chẳng biết Bernard Fall có hiểu được hay không, nhưng William J.Duiker trong cuốn sách nổi tiếng “Truyện Hồ Chí Minh” đã viết: “Không khí thần bí bao bọc xung quanh Hồ Chí Minh luôn luôn được duy trì, chí ít ra là trong các tác phẩm tự truyện như thế này”.

    1 – Hồ Chí Minh thời kỳ (1890 – 1932) là Nguyễn Ái Quốc của Việt Nam.

    2 – Hồ Chí Minh thời kỳ (1933 – 1969) là Hồ Tập Chương của Đài Loan.

    Nói cách khác, truyền kỳ về Chủ tịch nước Việt nam Hồ Chí Minh, nửa đời trước là lãnh tụ cộng sản Việt Nam Nguyễn Ái Quốc, nửa đời sau là nhân sĩ Quốc tế cộng sản Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan. Hai người cùng có quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng đạt được những thành tựu trong cuộc đời hoạt động.

    Nguyễn Ái Quốc là lãnh tụ sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng là đại biểu Quốc tế cộng sản. Do đảng viên cộng sản Pháp Joseph Ducroix, bí thư Công hội Thái Bình Dương, Quốc tế cộng sản bị bắt tại Singapore, sau khi truy vấn, cảnh sát đã bắt được hai phái viên của Cục Viễn Đông Quốc tế cộng sản là Hilaire Noulens ở Thượng Hải và Nguyễn Ái Quốc ở Hương Cảng. Không may, vào mùa thu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc trên đường trốn chạy từ Hương Cảng đến Thượng Hải bị mắc bệnh lao phổi qua đời.

    Hồ Chí Minh nửa đời về sau (1933 – 1969) là Hồ Tập Chương, người Đài Loan. Tuy nhiên, sự kiện động trời này chưa từng được lịch sử biết đến, khiến các cho các chuyên gia nghiên cứu hoặc độc giả có hứng thú với nhân vật Hồ Chí Minh vừa sững sờ vừa nghi vấn. Các chứng cứ của luận điểm này? Độ tin cậy của thông tin như thế nào? Nguồn gốc của tư liệu ở đâu? Mối quan hệ nhân quả về thời gian, không gian và tính logic của vấn đề?

    1 – “Hài kịch tráo rồng đổi phượng” (Nguyễn Ái Quốc chết mà sống lại).

    2- “Ve sầu thoát xác, thật giả kiếp người” (Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh cùng lên vũ đài lịch sử).

    3 -“Cuộc sống lưu vong phiêu bạt” (Hồ Chí Minh ở Liên Xô và Trung Quốc).

    4- “Khúc bi ca về tình yêu và hôn nhân” (Sự thật về tình yêu, hôn nhân của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh).

    5 – “Nhật ký trong tù và Di chúc” (Làm rõ khả năng Hán văn của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh).

    Từ cách nhìn lịch sử ở những góc độ khác nhau, lật lại sự kiện Nguyễn Ái Quốc chết bệnh vào năm 1932, và Hồ Chí Minh của năm 1933 là Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan tiếp tục tiếp tục đăng đài thực hiện nhiệm vụ Quốc tế cộng sản giao phó, rất mong được các chuyên gia học giả cùng bạn đọc chỉ giáo.

    Nguồn: http://ethongluan.org, 14/01/2013

    www.geocities.ws/xoathantuong

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Chuyên Đề Năm 2021 Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Phong Cách Hồ Chí Minh
  • Bài Thu Hoạch Về Di Chúc Của Bác Được Bạn Đọc Săn Đón
  • Kiến Trúc Bưu Điện Trung Tâm Sài Gòn
  • Lịch Sử Bưu Điện Trung Tâm Sài Gòn
  • Giới Thiệu Chung Về Trưng Bày Thường Xuyên Của Bảo Tàng Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Về Đội Tntp Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Mặt Trời Và Các Hành Tinh Trong Hệ Mặt Trời
  • Tìm Hiểu Ngay Hệ Mặt Trời Tiếng Anh Đầy Đủ Nhất
  • Tìm Hiểu Về Hệ Thống Điện Năng Lượng Mặt Trời
  • Vũ Trụ Là Gì? Hệ Mặt Trời Là Gì? Những Hiểu Biết Về Trái Đất
  • Thứ Tự Của Các Hành Tinh Trong Hệ Mặt Trời: Hành Tinh Nào Gần Mặt Trời Nhất?
    • Ngày 15 tháng 5, 1941: Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh được thành lập bởi Lãnh tụ của Đảng Cộng sản Đông Dương Nguyễn Ái Quốc ở gần hang Pắc Pó, xuôi dòng suối Lênin, dưới chân núi Thoong Mạ, ở thôn Nà Mạ.
    • Các thành viên đầu tiên: Nông Văn Dền (đội trưởng), Nông Văn Thàn, Lý Văn Tịnh, Lý Thị Nạ, Lý Thị Xậu. Bí danh (lần lượt): Kim Đồng, Cao Sơn, Thanh Minh, Thanh Thủy, Thủy Tiên.
    • Mục đích của Đội: “Đánh Tây, đuổi Nhật, giành độc lập cho nước nhà”.
    • Tháng 3, 1951, Đội thiếu nhi cứu quốc được đổi tên thành Đội thiếu nhi tháng Tám.
    • Năm 1954: Các phong trào của Đội phát triển mạnh mẽ với các phong trào “Vì miềnNamruột thịt”, “Đi thăm miềnNam”.
    • Ngày 4 tháng 11, 1956: Sau Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ 2, Đội được đổi tên là Đội Thiếu niên tiền phong.
    • Năm 1961: Các em ở lứa tuổi nhi đồng được tổ chức vào Đội nhi đồng tháng Tám.

    Tuyên ngôn hoạt động

    “Đội là nòng cốt trong các phong trào thiếu nhi, là lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, là lực lượng dự bị của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh” (thường gọi ngắn gọn: Đoàn).

    Các đặc trưng

    • Huy hiệu Đội hình tròn, có hình búp măng trên nền cờ ViệtNamvà khẩu hiệu “Sẵn sàng”.
    • Cờ Đội có nền đỏ và ảnh huy hiệu Đội ở giữa cờ.
    • Khăn quàng đỏ là một đặc trưng của đồng phục đội viên, là một mảnh vải hình tam giác cân, màu đỏ.
    • Đội ca là bài hát Cùng nhau ta đi lên, do nhạc sĩ Phong Nhã sáng tác mang nội dung kêu gọi đội viên theo bước Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, kêu gọi yêu nước, yêu lao động, chăm học…
    • Khẩu hiệu: “Vì tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lý tưởng của Bác Hồ vĩ đại: Sẵn sàng!”
    • Ngày truyền thống là ngày thành lập Đội: 15 tháng 5 hàng năm’;

    Năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng

    Đây là một trong các nội dung của Điều lệ hoạt động của Đội

    1. Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào.
    2. Học tập tốt, lao động tốt.
    3. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt.
    4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt.
    5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.

    Dùng làm mục tiêu: “phấn đấu rèn luyện cho đội viên, giúp đỡ đội viên phát triển mọi khả năng trong học tập, hoạt động, vui chơi, thực hiện quyền và bổn phận theo luật Bảo vệ Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em. Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh đoàn kết, hợp tác với các tổ chức, phong trào thiếu nhi ở khu vực và thế giới vì những quyền của trẻ em, vì hòa bình, hạnh phúc của các dân tộc. Đội ca là bài hát: Cùng nhau ta đi lên của nhạc sĩ Phong Nhã. Lời của bài hát là: cùng nhau ta đi lên theo bước đoàn thanh niên đi lên,cố gắng xứng đáng cháu ngoan Bác Hồ.Lời thề ta ghi sâu mãi mãi trong tim không phai quyết xứng danh thiếu niên anh dũng nước nhà. Tiến quyết tiến Quốc kì thắm tươi anh em ta yêu tổ quuốc suốt đời cùng yêu nhân dân yêu chuộng lao động tăng gia thi đua học hành ngày một tiến xa.

    Khăn quàng đỏ là biểu tượng và đồng phục của đội viên (thành viên của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh). Nó là một miếng vải màu đỏ, hình tam giác, thường từ vải bông, lụa hoặc valise và được xem là một phần của cờ ViệtNam. Khăn quàng đỏ được thắt lên cổ áo của đội viên theo một quy tắc nhất định. Khăn quàng đỏ còn là biểu tượng của Chủ Nghĩa Cộng Sản. Khăn Quàng đỏ được sử dụng cho cấp bậc Tiểu học đến đại học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Đội Thiếu Niên Tiền Phong Hồ Chí Minh
  • Thành Phố Hồ Chí Minh Vài Nét Tổng Quan
  • Bài Dự Thi Tìm Hiểu Thân Thế Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Về Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh
  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Về Chiến Dịch Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Chiến Dịch Hồ Chí Minh Tim Hieu Chien Dich Hcm Doc
  • Thi Tìm Hiểu 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Chuyện Kể Về Gia Đình Bác Hồ Vào Một Năm Mậu Tuất
  • Tìm Hiểu Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Gia Đình
  • Lịch Sử Ra Đời Ngày Thành Lập Đoàn 26
  • Chiến dịch Hồ Chí Minh

    Chiến dịch Hồ Chí Minh

    Một phần của Chiến dịch mùa xuân năm 1975

    Xe tăng QĐNDVN tiến vào Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975

    .

    Thời gian

    26 tháng 4 năm 1974 đến 2 tháng 5 năm 1975

    Địa điểm

    Sài Gòn – Gia Định và Đồng bằng sông Cửu Long

    Kết quả

    Quân đội Nhân dân Việt Nam chiến thắng Chính quyền Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng không điều kiện.

    Tham chiến

    Quân đội Nhân dân Việt Nam, Quân giải phóng miền Nam

    Quân lực Việt Nam Cộng Hòa

    Chỉ huy

    Văn Tiến Dũng Lê Trọng Tấn Vũ Lăng Nguyễn Hòa Hoàng Cầm Nguyễn Hữu An Đinh Đức Thiện Trần Văn Trà Lê Đức Anh

    Dương Văn Minh Cao Văn Viên Trần Văn Đôn Vĩnh Lộc Chung Tấn Cang Nguyễn Hữu Hạnh Nguyễn Văn Toàn Nguyễn Khoa Nam Đổng Văn Khuyến Lâm Văn Phát

    Lực lượng

    250.000 quân chủ lực, 20.000 quân địa phương và du kích, 180.000 quân hậu cần chiến dịch.

    Tổn thất

    6.000 chết và bị thuơng.

    .

    Chiến dịch Hồ Chí Minh, tên nguyên thủy là Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định, là chiến dịch cuối cùng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 và cũng là chiến dịch cuối cùng của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Đây cũng là chiến dịch quân sự có thời gian diễn biến ngắn nhất trong Chiến tranh Việt Nam, diễn ra từ ngày 26 tháng 4 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 (tại Sài Gòn) và kéo theo các cuộc nổi dậy vũ trang của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long trong hai ngày 1 và 2 tháng 5. Chiến dịch này dẫn đến kết quả là chấm dứt hoàn toàn sự chia cắt hai miền Nam – Bắc Việt Nam sau 21 năm, đưa đến việc thống nhất xã hội, chế độ chính trị, dân cư và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trên đất liền, vùng lãnh hải, vùng trời và một số hải đảo.

    Nguồn gốc tên gọi Chiến dịch Hồ Chí Minh

    Ngày 8 tháng 4 năm 1975, tại Lộc Ninh, Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định được thành lập với thành phần: Tư lệnh: Đại tướng Văn Tiến Dũng, Chính uỷ: Phạm Hùng, các Phó Tư lệnh: Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Lê Đức Anh, Trung tướng Đinh Đức Thiện, Quyền Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền, sau đó bổ sung Trung tướng Lê Trọng Tấn làm Phó Tư lệnh và Trung tướng Lê Quang Hòa làm Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị. Có hai nhân vật lãnh đạo không phải là quân nhân tham gia là các ông Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt. Ông Nguyễn Văn Linh được giao phụ trách công tác phát động quần chúng nổi dậy trong thành phố. Ông Võ Văn Kiệt được giao phụ trách công tác tiếp quản các cơ sở kinh tế, kỹ thuật sau khi QĐNDVN chiếm được thành phố. Các thành viên dự hội nghị đã nhất trí đề nghị Bộ Chính trị cho lấy tên gọi “Chiến dịch Hồ Chí Minh” thay cho tên gọi “Chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định”. Ngày 14 tháng 4, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam gửi bức điện số 37/TK cho Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định:

    Đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh

    -Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam, Tình thế trước cuộc tấn công

    Do kết quả của Chiến dịch Phan Rang – Xuân Lộc và các trận tấn công của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại đồng bằng sông Cửu Long, đến ngày 25 tháng 4 năm 1975 Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã mất hầu hết các vị trí then chốt trong tuyến phòng thủ từ xa quanh Sài Gòn. Thành phố lúc này trở thành một ốc đảo chỉ còn giao lưu với bên ngoài bằng đường không. Tuy nhiên, đến ngày 26 tháng 4, các hãng hàng không nước ngoài đã đổi hướng tất cả các chuyến bay quá cảnh Tân Sơn Nhất và hủy bỏ hầu hết các chuyến bay đến và đi từ Sài Gòn. Đại sứ quán các nước lần lượt đóng cửa, hạ cờ. Theo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Cuộc Đời Hồ Chí Minh
  • Bài Dự Thi: “tìm Hiểu Về Cuộc Đời, Sự Nghiệp, Tư Tưởng Và Tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh”
  • Tìm Hiểu Về Cuộc Đời Hồ Chí Minh”hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo”
  • Bài Thu Hoạch Chuyên Đề Năm 2021 Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Phong Cách Hồ Chí Minh
  • Bài Thu Hoạch Về Di Chúc Của Bác Được Bạn Đọc Săn Đón
  • Tìm Hiểu Về Cuộc Đời Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Chiến Dịch Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Về Chiến Dịch Hồ Chí Minh Tim Hieu Chien Dich Hcm Doc
  • Thi Tìm Hiểu 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Chuyện Kể Về Gia Đình Bác Hồ Vào Một Năm Mậu Tuất
  • Tìm Hiểu Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Gia Đình
  • TRANSCRIPT

    • H Tun Hng

      Tm hiu v cuc iH Ch Minh

      Ngi dch: Thi Vn

    • 2Thi Vn http://ethongluan.org

      Li ngi dch

      H Ch Minh sinh bnh kho (Tm hiu v cuc i H Ch Minh) doGio s H Tun Hng, mt ngi tt nghip khoa Lch s ca Trng i HcQuc Lp i Loan dnh nhiu cng sc nghin cu trong nhng nm qua, c Nhxut bn Bch Tng Vn Ha n hnh ti i Loan vo ngy 01/11/2008 (m sISBN: 9789866820779).

      H Tun Hng sinh nm 1949 (c ti liu ni l sinh nm 1948), ti Miu Lt,ng La, i Loan, l chu rut H Tp Chng (m ng khng nh chnh l Chtch H Ch Minh) tng dy hc hn 30 nm, ng thi ng cn l vin chc cao cpGio Dc Hnh Chnh. Theo Gio s H Tun Hng, H Ch Minh xut thn l ngithuc sc tc Khch Gia (Hakka, ngi Vit gi l H ) ti huyn Miu Lt, a khung La, i Loan.

      Ton b cuc i hot ng cch mng ca ng c tc gi tm hiu klng trn c s tham kho nhiu ngun t liu cng nh nhn chng. Tc phm HCh Minh sinh bnh kho dy 342 trang, kh 15 x 21 cm, ba cng, in ch ni.

      Phn m u gm cc bi gii thiu ca tin sinh Chung Triu Chnh, lut sKit Chng v ca tc gi. Phn chnh c chia lm 6 thin, t h t nh sau:

      I / Hi kch tro rng i phng (Thu long chuyn phng ch h khc)II/ Ve su lt xc, tht gi kip ngi (Kim thin thot xc thc gi nhn

      sinh)III/ Nhng nm thng phiu bt (Phiu bc lu lng ch tu nguyt)IV/ Khc ca bun v tnh yu, hn nhn (Hn nhn luyn tnh ch bi ca)V/ Hn vn Nht k trong t v Di chc (Hn vn Ngc trung nht k

      d Di chc)VI/ H mn, i li cm ngh (Lc mc cm ngn)Cun sch kh dy, cng vic chuyn ng mt nhiu thi gian v cng sc,

      tuy nhin, ngi dch c gng dch trn vn cung cp cho bn c mt ci nhnmi v nhn vt huyn thoi H Ch Minh, cn vic ng hay sai xin cng lunthm nh, chng ti khng dm lm bn.

      Thng Ging nm 2013Thi Vn

      Mc lc

    • 3Thi Vn http://ethongluan.org

      Li gii thiu 1Ngi k l, chuyn k l, sch k l

      Li gii thiu 2Tin c bng chng, b khuyt v dng li lch sThay li taMn u bc g tm mng che huyn bTm mng huyn b che mt H Ch MinhH Ch Minh c phi n t i Loan?

      THIN IHi kch tro rng i phng

      Mn mtS tht v ci cht ca Nguyn i QucNhng n s v con ngi H Ch MinhNguyn i Quc cht tht hay cht gi?Bo ch a tin Nguyn i Quc cht bi bnh lao phiB mt v ci cht ca Nguyn i QucSai lm ca H Ch Minh v vic t nhn “mnh b cht”H s bnh n Nguyn i Quc v H Ch MinhH s bnh lao phi ca Nguyn i Quc

      Mn haiTit mc Nguyn i Quc “cht ri sng li”

      V n Nguyn i Quc b bt ti Hng CngV n “Ta Hng Cng thm vn Nguyn i Quc”Vin Khu mt Hong gia London xt x – Chng nV n Nguyn i Quc n Singapore b buc phi quay li Hng CngS kin Nguyn i Quc mt tch Hng CngNguyn i Quc trn ng t hng Cng n H MnS kin H Ch Minh t H Mn n Thng HiB phim “Nguyn i Quc thot him Hng Cng”.

      THIN IIVe su thot xc, tht gi kip ngi

      Thi gian v v i hot ng trng nhauCng ln c i, mt n mt hinNgy thnh lp ng Cng sn Vit NamBnh phi trm trng, sc khe suy gimCng tn nn c s nhm lnH s H Tp Chng b bt Qung ChuNhng ghi chp v s kin H Ch Minh b bt Qung ChuLng ch Tn vit v s kin H Ch Minh b bt Qung ChuNg Trc Lu i Loan v trng thin tiu thuyt “H Ch Minh”H Tp Chng b bt H Nam, giam ti nh ngc “Nam Thch u”

    • 4Thi Vn http://ethongluan.org

      “Hi k Trnh Siu Ln”: H Ch Minh b bt Qung ChuB mt “H Tp Chng b bt Qung Chu”Tiu s gin lc H Tp ChngTiu s Nguyn i QucPh lc1nh ca Nguyn i Quc v H Ch Minh trong h sPh lc 2″Hi c Trnh Siu Ln – Truyn Ph i Khnh”

      THIN IIINhng nm thng Phiu bt

      Mn mtH Ch Minh Lin X (1933- 1938)H Ch Minh n Mc T Khoa vo thi gian no?S tht v s kin H Ch Minh b kt n t hnhQuc t cng sn o din v kch “Mn xc hon hn”Vera Vasilieva v H Ch MinhVic ci to v hc tp ca H Ch Minhi hi i biu Quc t cng sn ln th VIIH Ch Minh ri khi Mc T Khoa

      Mn haiH Ch Minh Trung Quc (1938 – 1945)Ngn dm xa xi n Din AnC quan Bt l qun Qu LmBan hun luyn cn b chin tranh du kch Hnh Sn, H Namng b Hi ngoi ng Cng sn ng DngMt trn Vit Nam c lp ng minhB bt Qung Ty v tp th “Nht k trong t”Tr li Bc Pha, thng tm khi caCon ngi tht ca H Ch MinhH Ch Minh chp hnh “nhim v b mt””i Loan nht nht tn bo”By bc th t Trung QucMi mt (11) bi vit trong “Cu vong nht bo”H Ch Minh ngy to s kin Nguyn i Quc sng li

      THIN IVKhc ca bun v chuyn hn nhn tnh iH s hn nhn H Ch MinhChuyn hoang ng v o c thnh nhnCu tr v cu ng tr v ngMi tnh u ca Nguyn i Quc vi c BreiereBreiere v BourdonMi tnh u ca Nguyn i QucNghi n i tnh gi toTng Tuyt Minh, ngi v u tin ca Nguyn i QucH s v hn nhn, tnh i gia Nguyn i Quc v Tng Tuyt MinhH s v hn nhn, tnh i gia Nguyn i Quc v Tng Tuyt MinhTrung Cng n giu chuyn hn nhn Tng Tuyt MinhHn nhn Tng Tuyt Minh, tht gi – mt v n kp

    • 5Thi Vn http://ethongluan.org

      Tng Tuyt Minh lc tui gi Tm nh chn dungKhi la chin tranh chng kin tnh yu N s Nguyn Th Minh KhaiT khc bi ca i tnhH s hn nhn ca Nguyn Th Minh KhaiS tht v quan h hn nhngia Nguyn i Quc v Nguyn Th Minh KhaiHn c ca L Hng Phong v Nguyn Th Minh KhaiB danh chúng tôi ca H Ch Minh khng phi l Nguyn i QucH Ch Minh v tri k m hng Lm Y Lan tiu thH s v mi tnh H Ch Minh v Lm Y LanMi tnh ca H Ch Minh v Lm Y LanS tht v mi tnh ca Lm Y LanChuyn tnh gia H Ch Minh v Th LcMi tnh ca H Ch Minh v Nng Th XunTng kt v hn nhn v tnh i trong cuc i H Ch Minh

      THIN VCh Hn Nht k trong t v Di chc

      Kh nng Trung vn ca H Ch MinhQu trnh Nguyn i Quc hc tp ng vnTrnh ng vn ca H Tp ChngTp th Nht k trong t ca H Ch Minh134 bi th trong tp Nht k trong tNht k trong t l tc phm ca mt ngi thuc sc tc Khch GiaTh php ch Hn ca H Ch MinhDi chc ca H Ch Minh lc lm chungNi dung Di chc ca H Ch MinhNhng nghi vn v Di chc H Ch MinhNhng b mt v vic bo tn di th H Ch Minh

      THIN VIH mn v i li cm ngh

      Lng l suy t khi mn hGhi nh li dn, nhn v tng lai

      Ti liu tham kho

    • 6Thi Vn http://ethongluan.org

      Li gii thiu 1

      Ngi k l, chuyn k l, sch k l

      My ngy trc, ngi hiu trng L T Bng, mt ng s hi hu cngtc gi cun sch “Tm hiu v cuc i H Ch Minh” l H Tun Hng n thm tx. Nghe H qun nh nhng i ti, khin ti cng hiu r v con ngi k l, s vick l v H Ch Minh, lnh t v i ca dn tc Vit Nam, thc lm cho ngi taphi p bn kinh s, nn nhn li vit my dng th thin by t lng mnh.

      iu khin cho tc gi gi l “k l”, th nht, H Ch Minh ng nhin lngi ng La, Miu Lt, i Loan. Ci m mi ngi u bit H Ch Mi nh l,vo nhng nm bn mi, nm mi ca th k XX, ng c xem l bc anh hngthi i m i o ca chng ta c vinh d sinh ra, vn l con ngi ngi bnhthng, bng nhin c mt nc khc tn xng lm Quc Ph.

      Th hai, cn c vo “Li ni u” ca H qun, H Ch Minh v nh vn hani ting i Loan Ng Trc Lu trc y tng quen bit nhau. Ng tin sinh cnc coi l tc gia ln vn hc i Loan vit tc phm “a con ci chu “. Theocch hiu ca H qun, ” th” chnh l vit v con ngi v s nghip H Ch Minh.Trong k c cc bc cao nin gia nh ti, Ng tin sinh tng ni, ” th” nguyn tnl “H Ch Minh”, nhn v cc th lnh cng sn ph ha theo, thi k phn c ng,chng Nga X mnh lit, nn buc phi i thnh “H Thi Minh”. n khi cunsch c c xut bn ti Nht li i tn mt ln na thnh “a con ci chu “.Kh m tng tng ng v H Ch Minh li l ch quen bit.

      Tht ra trn i ny khng thiu g chuyn l, nhng chuyn m tc gi kqu tnh lm ti chong vng. p li li thnh cu ca H qun, ti vit bi t ny.

      Thng 7 nm 2008Tin Tng thng ph T chnh

      Chung Triu Chnh

    • 7Thi Vn http://ethongluan.org

      Li gii thiu 2

      Tin c bng chng, b khuyt v dng li lch s

      Ti quen bit tc gi H Tun Hng hn ba mi nm, ni l bn thn cngkhng qu. My nm trc, trong mt cuc tr truyn m ting Khch Gia gi l”nh trng ming”, ng ni hon thnh s ph thc ca gia tc l tm hiu cngi ch H Tp Chng mt tch nhiu nm trong thi lon. Tht ng tic llc u, gia tc khng my tin tng, v th ng phi u t thi gian, cng sc sutm t liu, dn nhiu lun c t cc ngun khc nhau, thm ch cn nhiu ln ra ncngoi, tm hiu ti cc vn kh ln, cui cng vit c mt cng trn h kho cuni ting, dng li chn tng lch s v con ngi H Ch Minh. Tm lng ca ngtht ng knh, tnh cm ca ng tht ng trn trng.

      T nhng chng c c c, H qun vt qua s cch tr thi gian, sutm v s ti liu lch s trong v ngoi nc, cc chng ny va su, va rng vi tin cy cao. Sau na l phng php trnh by, din gii ch ng c, H qun s dngphng php so snh. Nhng ch cn nghi ng hoc do s cch tr v khng gian,thi gian th ly a s thng thiu s, t s chng, chp ni s kin, c bit l dng”Nht k trong t” i chng vi tc ng, thnh ng dn gian Khch Gia, c s cnnhc, n o. T , tc gi dng li chn tng lch s qua s sng lc, bkhuyt, khng b st bt c vic ln nh no lin quan n cuc i Nguyn i Quccng nh H Ch Minh bng chng c sc thuyt phc v s phn tch hp l,trnh by khch quan, khoa hc.

      H qun ly t cch thn tc, v ngi ch m tm c li gii cu kh.V tnh, ng tn lc lm vi c n ni n chn, v l, ng lun gi c tinh thnkhch quan, trung thc. iu may mn cho cun sch l l tr vt ln trn tnhcm. Ti khm phc t cch ca H qun bn vit bi t ny.

      Ngy 10 thng 8 nm 2008Vn phng lut s php lut Kit Chng

      Lut s ng Nh o

    • 8Thi Vn http://ethongluan.org

      Thay li ta

      Mn u bc g tm mng che huyn b

      Tm mng huyn b che mt H Ch Minh

      c nh lnh o ni ting trong lch s hin i, t nhiu u c nhngb mt ring ging nh tm mng che mt. Nhng b mt ny rt t khic cng khai minh bch, trong , H Ch Minh, lnh t v i ca

      Vit Nam l mt trng hp in hnh. Cho d hin gi l thin n in k th hai, kthut truyn thng hin i c mt khp ni, H Ch Minh yn ngh trong quan tithy tinh ti lng Ba nh H Ni bn mi nm , nhng hon cnh gia nh, lchtrnh hc tp, kh nng ngn ng, l tng ng c cch mng, thc trng hn nhn,qu trnh hot ng ti Quc t cng sn, thm ch ngy sinh v ngy mt cng vncn tn ti rt nhiu nghi vn. Mc cho cc tc gi vit truyn k tm mi cch lpghp t liu, cui cng, vn khng th no dng li c v trnh by mt cch thuytphc chn dung lch s H Ch Minh.

      Nh s hc Vit Nam, gio s Nguyn Th Anh, tin s vn hc v nhn vni hc Sorbonne, Paris, Php, tng l gim c i hc Thun Ha, ch nhim khoaVn S i hc Si Gn, gio s thnh ging i hc Harvard Hoa K, ch nhimkhoa Lch s vn ha ng Dng, i hc Sorbonne, dy cng nghin cu v HCh Minh v c nhng kin gii c o. Trong tc phm “Con ng chnh tr caH Ch Minh”, Nguyn gio s tng ni: “Cho d khng thiu nhng tc phm vitv H Ch Minh, cho d ng mt t lu, nhng vn cn tn ti kh nhiu nghi vnv mu thun trong cuc i nhn vt chnh tr ny. Do ng c thi quen che giu qukh v nhng hot ng ca mnh, c xa sch cc du vt, v th, mi c gng tmhiu nhng chi tit chn thc trong cuc i hot ng ca ng chng khc g ngtrong m my m vn v m thng hoa vy. V th, ta ch c th suy on m thi.H Ch Minh c n ba ci tn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Dự Thi: “tìm Hiểu Về Cuộc Đời, Sự Nghiệp, Tư Tưởng Và Tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh”
  • Tìm Hiểu Về Cuộc Đời Hồ Chí Minh”hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo”
  • Bài Thu Hoạch Chuyên Đề Năm 2021 Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Phong Cách Hồ Chí Minh
  • Bài Thu Hoạch Về Di Chúc Của Bác Được Bạn Đọc Săn Đón
  • Kiến Trúc Bưu Điện Trung Tâm Sài Gòn
  • Đường Mòn Hồ Chí Minh Qua Tài Liệu Của Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Đường Mòn Hồ Chí Minh
  • Kỳ Tích, Lịch Sử Hình Thành, Đường Hồ Chí Minh Trên Biển
  • Tư Tưởng Nhân Văn – Một Trong Những Nội Dung Cơ Bản Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Thân Thế Và Sự Nghiệp Cách Mạng Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Thân Thế Và Sự Nghiệp Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Ngày đăng: 10/10/2019 – 10:10

    Trong 16 năm xây dựng, bảo vệ và chiến đấu (1959-1975),  đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh đã lập nên kỳ tích vẻ vang, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Có thể nói, đối với người Việt Nam, đường Hồ Chí Minh là kết tinh của sự sáng tạo, tinh thần quật khởi, kiên cường, đã góp phần làm thay đổi cục diện thế cuộc cách mạng; còn đối với đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, vào thời điểm đó, con đường này được xem là “mối đe dọa”, “mối nguy hại” lớn nhất, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Đó là lý do chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã dùng mọi âm mưu, thủ đoạn, quyết tâm “cắt đứt” mạng lưới giao thông quân sự chiến lược trọng yếu này của ta, mà trước hết và quan trọng nhất là chúng đã tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng đường mòn Hồ Chí Minh.

    Ngày 19/5/1959, Binh đoàn Trường Sơn (Đoàn 559) thành lập, đánh dấu sự ra đời của tuyến đường Trường Sơn. (Ảnh: TL)

    Ngày 19/5/1959, theo Chỉ thị của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) tổ chức “Ðoàn công tác quân sự đặc biệt” (Ðoàn 301), sau này gọi là Binh đoàn Trường Sơn (Ðoàn 559), có nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng cho chiến trường miền Nam; đồng thời, đưa bộ đội, cán bộ cơ quan dân – chính – đảng vào Nam ra Bắc. Sự kiện này đánh dấu sự ra đời của đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh lịch sử.

    Theo các tài liệu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, việc phát hiện, đặt tên “đường mòn Hồ Chí Minh” của chính quyền này còn diễn ra trước cả thời điểm Thường trực Tổng Quân ủy Trung ương thành lập “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” và sớm hơn rất nhiều so với những thông tin cho rằng tên gọi “HoChiMinh trail” xuất phát từ các văn bản, tài liệu của Mỹ và phương Tây từ năm 1971.

    Trong Công văn số 4070/VP/CTM  ngày 27/4/1956 của Tòa Đại biểu Chính phủ tại Trung Việt gửi cho các bộ trưởng Phủ Tổng thống, Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng có đoạn viết: “Việt Cộng đã khai phá thêm một con đường xuyên sơn từ vĩ tuyến 17 đến mật khu Thô Lô, con đường này nằm trên con đường chiến lược 14, giáp Đông Miên, Hạ Lào”1. Cũng trong năm 1956, sau nhiều lần nhận lệnh, ngày 5/11, Giám đốc Nha An ninh Quân đội Việt Nam Cộng hòa gửi Công văn số 03353/38/I9/H cho Bộ trưởng phụ tá Bộ Quốc phòng, trong đó nêu rõ: “Con đường xuyên sơn đã có từ lâu, nối liền từ Bắc vào Nam chứ không phải đến Phú Yên mà thôi và Việt Cộng gọi con đường này là đường xuyên sơn Hồ Chí Minh”2. Cũng trong một văn bản của chính quyền Việt Nam Cộng hòa có đoạn viết: “Con đường xuyên sơn này khi hoàn thành sẽ lấy tên là đường Hồ Chí Minh”3. Đến năm 1960, trong Công văn số 518-/VP-CTM của Văn phòng Tòa Đại biểu Chính phủ tại Trung nguyên – Trung phần gửi Đổng lý Văn phòng Phủ Tổng thống trong bảng thống kê đã gọi con đường này là “Đường chiến lược Hồ Chí Minh”4.

    Trong khoảng thời gian 1959-1968, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tiến hành nhiều hoạt động nghiên cứu về đường mòn Hồ Chí Minh. Các tài liệu cho thấy, ngay cả những chi tiết nhỏ nhất như chiếc bếp đun nấu trên đường, mô hình tiếp vận, các trạm tiếp vận, tổ chức Đoàn 559,… đều được nghiên cứu rất kỹ lưỡng.

    Ngay từ đầu năm 1959, những nghiên cứu đầu tiên về mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống tiếp vận miền Bắc trên đường mòn Hồ Chí Minh đã xuất hiện. Lược đồ liên hệ giữa các cấp trong hệ thống tiếp vận cho thấy hệ thống trực tiếp chỉ đạo của miền Bắc bao gồm: từ cấp Đảng, Chính phủ đến cấp ủy ban hành chính các khu ủy, tỉnh ủy và huyện ủy; từ cấp Bộ Tư lệnh Tổng Quân ủy đến cấp quân khu, tỉnh đội, huyện đội; từ cấp Bộ Chỉ huy Mặt trận Chiến dịch đến cấp sư đoàn, trung đoàn và cấp quản lý trực tiếp. Bên cạnh đó, lược đồ cũng cho thấy hệ thống hậu cần được chỉ đạo trực tiếp từ Tổng Công ty Lương thực thuộc Bộ Kinh tế đến công ty lương thực khu, công ty lương thực tỉnh, cán bộ công ty lương thực; từ Tổng cục Hậu cần đến phòng hậu cần các quân khu, ban cung cấp tỉnh đội, quản lý huyện đội; từ Phòng Hậu cần Bộ Chỉ huy Mặt trận Chiến dịch đến phòng hậu cần cấp sư đoàn, ban hậu cần cấp trung đoàn và cấp quản lý hậu cần trực tiếp. Ngoài ra, lược đồ còn thể hiện mối liên hệ trong hệ thống tổ chức Đảng và hệ thống cấp phát ngang do chỉ thị của tổ – cục.

    Những năm 1964-1965, việc nghiên cứu về mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống tiếp vận miền Bắc trên đường mòn Hồ Chí Minh đã được chính quyền Việt Nam Cộng hòa nâng lên một bước. Các quy luật hoạt động của đoàn vận chuyển và cách bố trí các trạm cung cấp của quân ta trên đường mòn Hồ Chí Minh được ghi chép một cách tỉ mỉ và khá chi tiết. Điều này được thể hiện rõ trong Bản nghiên cứu về tình hình xâm nhập của Việt Cộng tính đến hết ngày 31/12/1965 của Phòng Nhì Bộ Tư lệnh Quân đội Việt Nam Cộng hòa5.

    Cũng theo Bản nghiên cứu của Phòng Nhì Bộ Tư lệnh Quân đội Việt Nam Cộng hòa, tính đến hết ngày 31/12/1965, việc bố trí các đơn vị tiếp vận theo lộ trình từ Bắc vĩ tuyến 17 vào Cao nguyên Trung phần của miền Bắc được thực hiện như sau: Đoàn 559 phụ trách vận chuyển từ chân núi 1001 thuộc địa phận tỉnh Quảng Bình đến biên giới Lào – Quảng Nam. Đoàn Bình Sơn phụ trách vận chuyển trong nội địa Việt Nam Cộng hòa từ ranh giới hai tỉnh Thừa Thiên – Quảng Nam vào quốc lộ 14 thuộc tỉnh Quảng Tín. Đoàn Nam Sơn phụ trách từ quốc lộ 14 đến căn cứ Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (vùng Sông Tranh – Đỗ Xá). Từ căn cứ Bộ Tư lệnh Quân khu 5 trở vào các tỉnh Khu T6 và các tỉnh duyên hải, việc vận chuyển do các bộ phận giao bưu địa phương đảm trách. Bản nghiên cứu khẳng định: Như vậy, có nghĩa là số vũ khí, quân nhu chỉ được đưa từ miền Bắc vào tới Quân khu 5, còn sự vận chuyển kế tiếp hoặc sự phân phối do địa phương phụ trách.

    Trong Phiếu trình số 194/P.Th.T/VoP/QV/2 ngày 12/6/1968, Văn phòng Phủ Thủ tướng đã trình bày những nghiên cứu tổng hợp về tổ chức và hoạt động của Đoàn 559, qua đó cho thấy, Đoàn 559 là đoàn hậu cần chiến lược, chiến dịch và chiến đấu với nhiệm vụ đa năng, đa hiệu để vận chuyển người và vũ khí từ miền Bắc vào miền Nam. Đoàn có 3 cơ quan Tham mưu – Chính trị – Hậu cần, gồm 18 phòng ngang với cấp cục. Ngoài ra, Đoàn 559 còn có hệ thống đường tiếp vận qua 4 phía Trường Sơn có thể tiếp vận một khối lượng lớn người và vũ khí đến 6 tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi và Kon Tum. Đường chính vào đến Quảng Nam gọi là “trục”. Dọc theo trục, Việt Cộng tổ chức nhiều trạm tiếp vận gọi là binh trạm và kho trạm, có hầm giấu xe và giấu hàng trong sườn núi để tránh phi pháo. Lực lượng Đoàn 559 gồm 10 tiểu đoàn và 2 đại đội quân vận, ngoài ra còn có lực lượng công binh, quân giới, phòng không, bộ binh, quân y, thông tin, hậu cần, dân công và thanh niên xung phong. Đoàn 559 sử dụng cả phương tiện vận tải cơ giới và nhân lực để vận chuyển.

    Trong những năm 1967-1968, Đoàn 559 đã sử dụng 700 xe vận tải để đưa Sư đoàn 304 vào chiến trường Khe Sanh, vận chuyển hàng nghìn tấn vũ khí vào chiến trường Trị Thiên chuẩn bị cho cuộc tổng công kích.

    Phiếu trình dự báo, mặc dù Đoàn 559 vận tải trong khu vực Bắc Việt Nam Cộng hòa và tại Trung, Hạ Lào, song trong tương lai Đoàn có thể mở rộng khu vực hoạt động xuống miền Nam. Đây là minh chứng hùng hồn cho việc Bắc Việt đang dốc toàn lực chi viện cho miền Nam với một số lượng rất lớn về người và vũ khí.

    Hoạt động tiếp vận trên đường mòn Hồ Chí Minh được các cơ quan chính quyền Việt Nam Cộng hòa mô tả là hoạt động “xâm nhập” cán bộ và vũ khí của Việt Cộng miền Bắc vào miền Nam. Thông qua các tài liệu lưu trữ6, có thể khái quát hoạt động này như sau:

    – Tổ chức xâm nhập: Theo Bản nghiên cứu về tình hình “xâm nhập” của Việt Cộng (1964), miền Bắc Việt Cộng đã thành lập Ủy ban Thống nhất Trung ương để đặc trách về tình hình miền Nam, có nhiệm vụ tuyển mộ, huấn luyện và trang bị cho cán bộ “xâm nhập”. Số cán bộ này chủ yếu là những người thuộc các đơn vị tập kết như Sư đoàn 305, 324, 330, 338. Sau khi được huấn luyện tại Trung tâm Huấn luyện Xuân Mai (Hà Đông), các cán bộ được tổ chức thành đoàn ngũ (mang danh hiệu) tiến hành hoạt động “xâm nhập”.

    – Số lượng, thành phần cán bộ “xâm nhập”: Theo Bản đệ trình Tổng thống của Tham mưu biệt bộ Tổng thống Phủ về nhận định cuộc “xâm nhập” của Việt Cộng vào Việt Nam Cộng hòa đến cuối năm 1962, từ năm 1954-1959, cán bộ “xâm nhập” của ta chủ yếu là cán bộ chính trị và một số ít cán bộ lãnh đạo quân sự. Bản đệ trình này cũng nhận định, mặc dù số lượng “xâm nhập” không nhiều, song Việt Cộng đã đạt được nhiều kết quả như: thiết lập được một hệ thống giao liên an toàn, huấn luyện hiệu quả các lực lượng miền Nam về chiến thuật du kích.

    Đến cuối năm 1963, ước lượng quân số Việt Cộng “xâm nhập” lên tới 27.000 người. Lực lượng “xâm nhập” đều là những người thuộc các sư đoàn, trung đoàn miền Nam tập kết, phù hợp với cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Nam. Theo nhu cầu của chiến trường, bên cạnh cán bộ, đảng viên, lực lượng quân sự, còn có một số chuyên viên về thông tin, quân y, tài xế, đặc biệt là đặc công, pháo binh.

    Có thể nói, về cơ bản, những nghiên cứu về đường mòn Hồ Chí Minh của chính quyền Việt Nam Cộng hòa phản ánh khá đầy đủ, đúng thời gian và địa điểm so với sự kiện lịch sử được ghi nhận trong các nguồn tài liệu chính thống. Tuy nhiên, trong nội dung cụ thể của từng văn bản vẫn có những thông tin chưa chính xác và chưa thật sự rõ ràng. Và có lẽ, hệ quả của những thông tin sai lệch và thiếu khách quan này chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

    Thông qua việc tìm hiểu những tài liệu nghiên cứu của Việt Nam Cộng hòa về đường mòn Hồ Chí Minh, có thể hiểu rõ hơn về sự tồn tại và tầm vóc lớn lao của con đường “huyền thoại”, mà theo cách nhìn nhận, đánh giá của người Mỹ, đây là “một trong những thành tựu vĩ đại của nền kỹ thuật quân sự ở thế kỷ XX”.

    60 năm qua, tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng của ý chí và sức mạnh Việt Nam; là tuyến hậu cần và căn cứ chiến lược cho các chiến trường, góp phần củng cố, phát huy sức mạnh liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung. Mặc dù đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã nghiên cứu kỹ lưỡng và đánh phá ác liệt tuyến đường, song cũng không chiến thắng được tinh thần “chân trần, ý chí thép” của quân ta. Đường mòn Hồ Chí Minh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là cầu nối chiến lược giữa hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ, đây sẽ mãi là một trong những trang sử chói lọi nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. 

    1, 2, 3. Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Phông Phủ Tổng thống Đ1CH, Hồ sơ số 5479.

    4.  Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Phông Phủ Tổng thống Đ1CH, Hồ sơ số 6277.

    5.  Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Phông Phủ Thủ tướng, Hồ sơ số 15230.

    6. Các tài liệu gồm:

    – Bản đệ trình Tổng thống của Tham mưu biệt bộ Tổng thống Phủ về Nhận định cuộc xâm nhập của Việt Cộng vào Việt Nam Cộng hòa đến cuối năm 1962, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Phông Phủ Thủ tướng, Hồ sơ số 14942.

    – Bản nghiên cứu về tình hình xâm nhập của Việt Cộng (Tài liệu đính kèm Phiếu chuyển chung số 01.520/TTL/2/TTQB/3/K ngày 08/6/1964 của Phòng Nhì Bộ Tư lệnh Quân đội Việt Nam Cộng hòa), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Phông Phủ Thủ tướng, Hồ sơ số 14942.

    1. Thanh Mai: “Đôi điều trao đổi về công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ”, Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam, Số 11/2013.

    2. Đồng Sĩ Nguyên: Hồi ký Đường xuyên Trường Sơn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999.

    3. Đặng Phong: Đường mòn Hồ Chí Minh, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2021.

    TRỊNH VIỆT DŨNG

    Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, Bộ Nội vụ

    TRẦN TRUNG HIẾU

    Trường THPT chuyên Phan Bội Châu – Nghệ An

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đường Hồ Chí Minh Thông Xe Toàn Tuyến Năm 2021
  • Đường Mòn Hồ Chí Minh
  • Chủ Tịch Hồ Chí Minh Và Hai Cuộc Hội Ngộ Với Anh, Chị Ruột
  • Gia Đình Bác Hồ, Một Gia Đình Lương Y
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Gia Đình Và Giáo Dục Gia Đình
  • Tìm Hiểu Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử Ra Đời Ngày Thành Lập Đoàn 26
  • Kinh Nghiệm Tham Quan Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Giá Vé, Quy Định
  • Tìm Hiểu Sự Thật Về Đường Mòn Hồ Chí Minh Trong Cuộc Chiến Ðông Dương Ii (1955
  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Về Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh
  • Gia đình là một thiết chế xã hội, dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân, để thực hiện các chức năng sinh sản, tái sản xuất con người; chức năng nuôi dưỡng, giáo dục hình thành nhân cách; chức năng thỏa mãn nhu cầu tinh thần, tâm lý – tình cảm; chức năng kinh tế,…là “cái nôi thân yêu” che chở và nuôi dưỡng để hình thành nhân cách con người. Ở bất kỳ giai đoạn nào, gia đình đều giữ vai trò là tế bào của xã hội, là một trong những nhân tố quyết định sự hưng thịnh của quốc gia.

    Thế nào là một gia đình tốt? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh gia đình tốt là một gia đình trên thuận, dưới hòa, không thiên vị “Về tinh thần, thì phải trên thuận, dưới hòa không thiên tư, thiên ái. Bỏ thói mẹ chồng hành hạ nàng dâu, dì ghẻ ghét bỏ con chồng. Về vật chất, từ ăn mặc đến việc làm phải ăn đều, tiêu song, có kế hoạch, có ngăn nắp” (2).

    Gia đình là nơi nuôi dưỡng, giáo dục để hình thành nhân cách con người, nhân cách con người tốt hay xấu điều do sự giáo dục trong gia đình. Tuy nhiên, trong giáo dục cần có sự kết hợp giữa gia đình – nhà trường – xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, trong giáo dục nếu thiếu sự giáo dục trong gia đình hoặc giáo dục trong gia đình không phù hợp với yêu cầu xã hội sẽ hạn chế việc giáo dục, vì vậy cần kết hợp gia đình với nhà trường và xã hội trong giáo dục. “Tôi cũng mong các gia đình liên lạc chặt chẽ với nhà trường giúp nhà trường giáo dục và khuyến khích con em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh và hăng hái giúp ích nhân dân” (3). Trong gia đình cha mẹ là người có ảnh hưởng lớn đối với trẻ, vì vậy Người dạy “Tôi mong cha mẹ học trò hết sức giúp đỡ nhà trường trong việc giáo dục con em chúng ta cho có kết quả tốt đẹp” (4).

    Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành Giáo dục tháng 6 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ Đảng trong ngành Giáo dục “Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò. Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” (5).

    Giáo dục trong gia đình, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh mỗi người nên nhắc nhở, dạy bảo nhau “Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo” (6).

    Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 4 – 5 – 2001 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ/TTg lấy ngày 28/6 hàng năm là Ngày Gia đình Việt Nam nhằm đề cao trách nhiệm của các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể nhân dân thường xuyên quan tâm xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ và hạnh phúc.

    Trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ và hạnh phúc được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Ngày 21 – 2 – 2005, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 49/CT – TW về “Xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

    Trong Cương lĩnh năm 2011, Đảng ta đã chỉ rõ “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” (7).

    Ngày 29 – 5 – 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 629/QĐ – TTg về “Phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2021, tầm nhìn 2030”. Trong Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc là một trong các mục tiêu quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2021, đồng thời cũng lá trách nhiệm của mọi gia đình trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, tuy nhiên trong thực tế hiện nay tình trạng ly hôn trong xã hội ngày càng gia tăng, gây bất ổn trong cuộc sống gia đình và kéo theo sự bất ổn trong xã hội. Tình trạng bạo lực gia đình và ngược đãi trẻ em ngày càng gia tăng, nhiều gia đình vô trách nhiệm trong chăm sóc con cái, tình trạng con cái ngược đãi cha mẹ ngày càng phổ biến.

    Trên địa bàn tỉnh Bến Tre, trong những năm gần đây tình trạng bạo lực gia đình có chiều hướng ngày càng gia tăng. Trong năm 2013, phát hiện 465 vụ bạo lực gia đình, trong đó bạo lực tinh thần 222 vụ, bạo lực thân thể 174 vụ, bạo lực kinh tế 58 vụ, bạo lực tình dục 11 vụ.

    Gần đây trên địa bàn tỉnh Bến Tre xảy ra tình trạng con ruột thuê người chém cha ở xã Hưng Nhượng – huyện Giồng Trôm (do mâu thuẫn trong gia đình – cha mẹ ly hôn), con ruột dùng xăng đốt cha ruột ở xã Bình Thành – huyện Giồng Trôm (do tranh giành đất đai).

    Bạo lực gia đình, ngược đãi cha mẹ, ly hôn,…dẫn đến cuộc sống gia đình bất ổn, xã hội bất ổn. Vì vậy, mỗi gia đình cần phải xây dựng gia đình thật hạnh phúc, có như vậy xã hội sẽ ổn định.

    Để hạn chế tình trạng bạo lực gia đình, ngược đãi trẻ em và người cha mẹ, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã thành lập Ban chỉ đạo công tác gia đình và ban hành Quyết định số 104/QĐ-UBND ngày 16/1/2014 về “Quy chế làm việc của Ban chỉ đạo công tác gia đình”.

    Tóm lại, gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội tốt, để gia đình tốt thì phải xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ và hạnh phúc. Xây dựng gia đình là trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia đình, đồng thời cũng là trách nhiệm của toàn xã hội. Gia đình phát triển bền vững là nhân tố quan trọng góp phần ổn định xã hội, đồng thời cũng thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

    (1): Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2000, trang 531 – 532(2): Sđd, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2000, trang 337

    (3), (4), (5): Sđd, tập 8, trang 81, 251, 395

    (7): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, trang 77

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyện Kể Về Gia Đình Bác Hồ Vào Một Năm Mậu Tuất
  • Thi Tìm Hiểu 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Về Chiến Dịch Hồ Chí Minh Tim Hieu Chien Dich Hcm Doc
  • Tìm Hiểu Về Chiến Dịch Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Về Cuộc Đời Hồ Chí Minh
  • Xem Tìm Hiểu Về Lịch Sử Đội Tntp Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Đường Hồ Chí Minh: Từ Huyền Thoại Đến Tương Lai
  • Sách Lịch Sử Hình Thành Đường Hồ Chí Minh Trên Biển
  • Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Không Thể Phủ Nhận!
  • Sự Nghiệp Sáng Tác Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Cuộc Thi Tìm Hiểu “90 Năm Truyền Thống Vẻ Vang Của Đoàn Tncs Hồ Chí Minh”
  • 1. Hoàn cảnh lịch sử – xã hội nước ta trước ngày thành lập Đội thiếu nhi cứu quốc:

    Năm 1858, thực dân Pháp đặt chân tại bến cảng Đà Nẵng mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài hơn 80 năm tại Việt Nam. Dưới chế độ thực dân Pháp, Phát xít Nhật và bọn vua quan phong kiến, cuộc sống của nhân dân ta rất khổ cực. Cha mẹ bị nô lệ, bị áp bức, mất tự do, sống trong cảnh nghèo khổ, con cái ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, không được cắp sách đến trường. Nhiều gia đình phải bán vợ đợ con đi làm tôi tớ cho địa chủ, tư bản.

    Trước tình hình đó, Bác Hồ (lúc đó với tên là Nguyễn Tất Thành) đã sớm có chí quyết tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 05 tháng 6 năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã đổi tên là anh Ba, rời bến cảng Nhà Rồng với công việc phụ bếp trên tàu Đô đốc La- tút- sơ Tơ- rê- vin- lơ ra nước ngoài hoạt động cách mạng. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại bán đảo Cửu Long (Trung Quốc) Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập và nhất trí thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Bác Hồ khởi thảo. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta.

    2. Một số hoạt động của thiếu nhi Việt Nam và các tổ chức tiền thân của Đội ta trước ngày thành lập

    Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào cách mạng nước ta phát triển mạnh mẽ. Nơi nào có chi bộ Đảng và tổ chức Đoàn thì nơi đó có tổ chức Đội Thiếu nhi hoạt động giúp cách mạng. Trong phong trào công nông (1930-1931), tại các chi bộ ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thái Bình đã tập hợp được nhiều đội viên thiếu niên cách mạng sinh hoạt trong các đội Đồng Tử quân. Trong các đội Đồng Tử quân có những đội viên gan dạ nhạnh nhẹn được giao nhiệm vụ liên lạc, đưa thư từ, rải truyền đơn. Hai đội viên Trần Quốc Việt và Nguyễn Tư Năm đã có sáng kiến kẹp tờ truyền đơn vào tên tre, dùng cung bắn vào đồn lính ở Dương Liễu. Lợi dụng đêm tối, hai bạn nhỏ bò tới gần đồn rồi bắn truyền đơn vào, khiến cho tinh thần quân lính xôn xao, có tên đã bỏ về. Tại Thái Bình, có một đội viên tên là Ba, con nhà nghèo, đã theo người lớn đi đấu tranh chống thuế vào cuối năm 1930. Ba bị địch bắt, bị đánh đập dã man vẫn nhất quyết không khai. Lúc ở tù không sợ hãi, còn dùng que, dùng mảng gạch non thay phấn để học chữ. Về sau, bọn giặc phải thả Ba về.

    Trong phong trào Dân chủ (1936-1939), dưới sự lãnh đạo của Đoàn Thanh niên Dân chủ, nhiều tổ chức Hồng Nhi đoàn được thành lập ở một số tỉnh như Hà Đông, Nam Định, Hải Phòng….Nhiều đội viên hoạt động rất hăng hái trong các đội kịch, đội múa, đội ca nhạc, đội bóng… Tổ chức Đội Thiếu niên đã từng bước được hình thành.

    3 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thành lập Đội TNTP Hồ Chí Minh

    Đội TNTP Hồ Chí Minh được thành lập theo nhu cầu tất yếu của lịch sử đất nước, bởi lẽ lịch sử Đội TNTP Hồ Chí Minh và phong trào thiếu nhi Việt Nam là bộ phận hữu cơ trong lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, và lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

    Trước ngày thành lập Đội, thiếu nhi cũng đã tập hợp hoạt động theo nhóm nhưng không có sự thống nhất chỉ mang tính chất theo từng địa phương vì một mục đích chung là cùng cha anh tham gia cách mạng. Ngày 15 tháng 5 năm 1941, Đội Nhi đồng cứu quốc ra đời nhằm tập hợp thiếu nhi vào một tổ chức thống nhất từ Trung ương đến từng địa phương dưới sự hướng dẫn, phụ trách của Đoàn Thanh niên, giáo dục các em theo tinh thần cách mạng và coi các em là một lực lượng cách mạng.

    Đội TNTP Hồ Chí Minh thành lập cho thấy thiếu niên, nhi đồng đã có tổ chức của mình, có Điều lệ và nguyên tắc hoạt động riêng của tổ chức mình. Tổ chức Đội được thành lập có vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của thiếu niên nhi đồng.

    Việc thành lập Đội TNTP Hồ Chí Minh còn có tầm quan trọng vì tập hợp các em trong cùng độ tuổi thiếu niên nhi đồng, như vậy các em có cùng chung về mặt tâm lí, yêu thích hoạt động cùng nhau học hỏi, được rèn luyện và trưởng thành.

    4. Ngày thành lập Đội 15 tháng 5 năm 1941

    Tháng 2 năm 1941, Nguyễn ái Quốc- Hồ Chí Minh bí mật về nước ở vùng Pác Pó (Cao Bằng) để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5 năm 1941, Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng do lãnh tụ Nguyễn ái Quốc chủ trì. Từ sự phân tích diễn biến của tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc. Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh và tổ chức ra các đoàn thể cứu quốc của Việt Minh. Hội nghị đã quyết định thành lập Hội Nhi đồng cứu vong là đoàn thể cứu quốc của trẻ em từ 10 – 11 tuổi trở lên đến 15 – 16 tuổi và giao cho Đoàn phụ trách công tác thiếu nhi.

    * Lễ thành lập Đội Nhi đồng cứu quốc (15/ 5/ 1941)

    Ngày 15/5/1941 trở thành mốc son sáng chói trong lịch sử vẻ vang của Đội TNTP Hồ Chí Minh. Ngày ấy, ở gần hang Pác Bó, xuôi dòng suối Lê Nin, dưới chân núi Thoong Mạ, ở thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng có 5 thiếu niên là Nông Văn Dền, Nông Văn Thàn, Lý Văn Tịnh, Lý Thị Nì, Lý Thị Xậu, được các anh Đức Thanh và các anh cán bộ cách mạng giác ngộ, thử thách, tập hợp để thành lập Đội Nhi đồng Cứu quốc theo quyết định của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đội có mục đích là tham gia đánh Tây, đuổi Nhật, giành độc lập cho nước nhà” với nhiệm vụ làm giao thông thông liên lạc, đưa đón, bảo vệ cán bộ, canh gác cho các cuộc họp của Đảng… Để đảm bảo bí mật, tổ chức Đội đã đặt bí danh cho các đội viên: Dền mang bí danh Kim Đồng, Thàn là Cao Sơn, Tịnh là Thanh Minh, Xậu là Thanh Thuỷ, Ni là Thuỷ Tiên. Cuộc họp đã bầu Kim Đồng làm đội trưởng. Cuối buổi lễ cả 5 bạn được kết nạp Đội đã tuyên thệ “Trung thành với Đảng, tuyệt đối giữ bí mật, dù có phải hi sinh cả tính mạng cũng không phản bội lại nhân dân và cách mạng”. Đội Nhi đồng cứu quốc chính thức thành lập (về sau gọi là Đội thiếu nhi cứu quốc).

    5. Câu chuyện về anh Kim Đồng, người đội trưởng đầu tiên của Đội

    Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, người đội trưởng đầu tiên của Đội, sinh năm 1928, người dân tộc Nùng, ở thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Nhà Kim Đồng rất nghèo. Cha bị chết vì nạn phu phen lao dịch của thực dân Pháp. Anh trai đi công tác luôn. ở nhà chỉ có mẹ tàn tật và người em họ mồ côi là Cao Sơn.

    Từ bé, Kim Đồng đã có tinh thần yêu nước, căm ghét giặc Pháp. Vùng quê hương Kim Đồng là nơi có phong trào cách mạng rất sớm. Ngày 15 tháng 5 năm 1941, Đội Nhi đồng cứu quốc được thành lập có 5 đội viên và Kim Đồng được bầu là đội trưởng đầu tiên của Đội. Trong công tác, Kim Đồng luôn tỏ ra dũng cảm và có nhiều mưu trí.

    Một lần, sau khi làm nhiệm vụ dẫn cán bộ vào căn cứ, Kim Đồng đang trên đường trở về nhà thì nghe có tiếng động lạ ở trong rừng. Kim Đồng liền rủ Cao Sơn tìm cách báo động cho các anh cán bộ đang ở trong xóm biết. Sau khi quan sát, Kim Đồng đã nhìn thấy bọn lính đang lợi dụng sương mù phục kích trên đường vào xóm và im lặng đợi bắt người. Kim Đồng bảo Cao Sơn lùi về phía sau, chạy về báo cáo. Đợi cho bạn đi rồi, Kim Đồng ngắm kĩ địa hình, để chạy vọt qua suối, lên phía rừng. Như vậy, bọn lính sẽ phải nổ súng hoặc kêu lên. Chúng nó sẽ bị lộ. Quả nhiên, thấy có bóng người chạy, bọn giặc lên đạn và hô: “Đứng lại!”.

    Kim Đồng không dừng chân. Giặc bắn theo. Anh Kim Đồng đã anh dũng hi sinh. Hôm ấy là sáng sớm ngày 15 tháng 02 năm 1943.

    6. Hoạt động của Đội giai đoạn 1986 đến nay

    Đội TNTP Hồ Chí Minh cũng từng bước đổi mới các hoạt động của mình cho phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước.

    Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ V đã quyết định đổi mới nội dung và mở rộng các hình thức hoạt động Đội nhằm tập hợp đông đảo thiếu nhi cả nước “Nói lời hay, làm việc tốt, phấn đấu trở thành cháu ngoan Bác Hồ”. Các phong trào của Đội phát triển mạnh mẽ với các hình thức đa dạng và luôn đổi mới. Phong trào thi đua học tập, phong trào “Kế hoạch nhỏ”, “Phong trào Trần Quốc Toản” tiếp tục phát triển với những hình thức mới như: “áo lụa tặng bà”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Những viên gạch hồng”, “Thiếu nhi nghèo vượt khó”,… Đại hội cháu ngoan Bác Hồ toàn quốc lần thứ ba, thứ tư, thứ năm lần lượt được tổ chức để biểu dương thành tích của thiếu nhi. Trong giai đoạn này, liên hoan các nhà thiếu nhi là một nét mới trong tổ chức và hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh.

    Tháng 8 năm 1991, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hội thông qua nhằm thúc đẩy mạnh sự nghiệp chăm sóc, giáo dục trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em phát triển và trưởng thành.

    Ngày 25 tháng 7 năm 2003, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đoàn lần thứ 3 (khoá VIII) đã quyết định sửa đổi và ban hành Điều lệ Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Đây là cơ sở quan trọng tạo điều kiện cho Đội phát triển mạnh mẽ, vững bước trong thế kỉ 21, xứng đáng là tổ chức của thiếu nhi Việt Nam, là lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.

    7. Nhiệm vụ của Đội trong giai đoạn 1986 đến nay

    Thực hiện tốt năm điều Bác Hồ dạy, phấn đấu trở thành con ngoan trò giỏi, bạn tốt, đội viên tốt xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ.

    8. Nhiệm vụ qua các thời kì đổi tên của Đội

    – Đội Nhi đồng cứu quốc có nhiệm vụ là làm giao thông liên lạc, canh gác các cuộc họp bí mật cho cán bộ, dự bị đánh Tây đuổi Nhật.

    – Đội Thiếu nhi cứu quốc (1946) có nhiệm vụ làm nhiệm vụ giao thông liên lạc, trinh sát góp phần cùng cha anh tham gia vào các cuộc đấu tranh chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm.

    – Đội Thiếu nhi Tháng Tám (Tháng 3 năm 1951) có nhiệm vụ là làm theo lời Bác dạy “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ”.

    – Đội TNTP Việt Nam (Tháng 11 năm 1956) có nhiệm vụ là thực hiện theo năm điều Bác Hồ dạy.

    – Đội TNTP Hồ Chí Minh (30 tháng 1 năm 1970) có nhiệm vụ thực hiện theo năm điều Bác Hồ dạy:

    1. Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào

    2. Học tập tốt, lao động tốt

    3. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt

    4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt

    5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm!

    9. Ý nghĩa những lần đổi tên của Đội

    – Sau cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời mở ra kỉ nguyên mới cho dân tộc: Kỉ nguyên độc lập – Tự do. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta bước sang thời kì mới. Để phù hợp với nhiệm vụ cách mạng và cũng để khắc ghi mốc lịch sử quan trọng của đất nước, Đội Thiếu nhi cứu quốc được đổi tên gọi là Đội Thiếu nhi Tháng Tám (tháng 3 năm 1951).

    – Thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp (1946- 1954), đất nước bị chia cắt hai miền: Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam dưới ách xâm lược của đế quốc Mĩ không ngại gian khổ, hi sinh đứng lên chống Mĩ cứu nước nhằm mục tiêu thống nhất nước nhà. Tháng 11 năm 1956, Đội được đổi tên là Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam với ý nghĩa “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tuỳ theo sức của mình”, Đội luôn tiên phong xung kích đi đầu trong mọi hoạt động của Đội góp phần nhỏ bé của mình cùng cha anh chống Mĩ cứu nước.

    – Ngày 30 tháng 01 năm 1970, Đội vinh dự được mang tên Bác kính yêu: Đội TNTP Hồ Chí Minh. Điều này có ý nghĩa rất to lớn, đó là để tưởng nhớ đến công ơn vun trồng, dạy dỗ, nâng niu thiếu niên, nhi đồng của Bác Hồ. Đảng ta mong muốn thế hệ trẻ nước ta suốt đời trung thành với lí tưởng của Đảng, của Bác, sống chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ, đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng đến thắng lợi h

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Viếng Lăng Bác Hồ
  • Thuyết Minh Về Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Top 8 Du Lịch Tìm Hiểu Lịch Sử Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Tổ Chức Cuộc Thi “thế Hệ Trẻ Quảng Bình Tìm Hiểu Về Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh”
  • Trao Giải Cuộc Thi “thế Hệ Trẻ Quảng Bình Tìm Hiểu Về Di Chúc Chủ Tịch Hồ Chí Minh”
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100