Top 11 # Tổng Quan Về Phương Pháp Uv Vis Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Máy Đo Quang Phổ Uv Vis

Hiệu suất quang học vượt trội của máy đo quang phổ UV Vis Excellence của METTLER TOLEDO tuân thủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của ngành dược phẩm; gi…

Hiệu suất quang học vượt trội của máy đo quang phổ UV Vis Excellence của METTLER TOLEDO tuân thủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của ngành dược phẩm; giao diện trực quan, các phương pháp được xác định trước và phép đo màu đều có trong một thiết bị nhỏ gọn, bền chắc. Sự kết hợp giữa công nghệ Array và nguồn sáng Xenon có tuổi thọ cao cho phép quét toàn bộ phổ chỉ trong vài giây và giảm đáng kể chi phí bảo trì. Tận hưởng hoạt động linh hoạt của một thiết bị độc lập, hoặc mở rộng không gian bàn làm việc của bạn với phần mềm máy tính LabX® để đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu, và kết nối các hệ thống đa thông số với các thiết bị khác của METTLER TOLEDO.

Máy đo quang phổ thể tích siêu nhỏ

UV5Nano là máy đo quang phổ thể tích siêu nhỏ chuyên dụng dùng để thực hiện các phép đo thể tích siêu nhỏ chính xác và có thể lặp lại chỉ với 1 µL mẫu. Công nghệ LockPath™ ngăn ngừa mẫu khô và cho phép đo phạm vi nồng độ rộng. Thiết bị nhỏ gọn và mạnh mẽ này tập trung vào các ứng dụng đo quang phổ khoa học sự sống, cung cấp cả phép đo cuvet và thể tích siêu nhỏ trên thiết bị độc lập, hoặc bằng phần mềm máy tính LabX®.

Phần mềm LabX® UV Vis

Phần mềm máy tính LabX® UV Vis bổ sung tính linh hoạt cho quy trình làm việc và hỗ trợ tuân thủ các quy định của FDA như 21 CFR Phần 11. Sự kết hợp của LabX® và máy đo quang phổ Excellence giúp hoàn toàn điều chỉnh các hệ thống tổng hợp UV Vis cho quy trình làm việc trong phòng thí nghiệm. Giải pháp phòng thí nghiệm thực hiện các phép tính, báo cáo và quản lý dữ liệu, tiết kiệm thời gian cho người vận hành cũng như quản lý phòng thí nghiệm, đồng thời loại bỏ nguy cơ xảy ra lỗi xử lý dữ liệu.

Các ứng dụng đo quang phổ UV Vis

Máy đo quang phổ UV Vis Excellence có thể được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp. Tuân thủ các quy định nghiêm ngặt trong ngành Dược phẩm và Mỹ phẩm với máy đo quang phổ UV7, mang lại hiệu suất quang học vượt trội và cùng với phần mềm máy tính LabX®, đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu và tuân thủ theo quy định. Các ngành Khoa học sự sống và Công nghệ sinh học có thể tăng hiệu suất từ các phương pháp được xác định trước của máy đo quang phổ UV5Bio và UV5Nano. Các ngành yêu cầu công suất cao có thể tự động hóa quy trình làm việc của họ và đo tới 303 mẫu với bộ lấy mẫu tự động InMotion.

Hãy truy cập Thư viện ứng dụng đo quang phổ UV Vis của chúng tôi và bổ sung kiến thức từ các ghi chú ứng dụng đã được kiểm chứng và kiểm tra kỹ lưỡng về phép đo quang phổ UV/VIS.

Các tài liệu, hội thảo trực tuyến, tài liệu kỹ thuật và video về phép đo quang phổ UV Vis đều có sẵn trong Thư viện chuyên môn của chúng tôi

Tổng Quan Về Phương Pháp Montessori

Cách giáo dục đối với trẻ trong giai đoạn từ 6 tháng đến 6 tuổi quyết định rất nhiều đến nhận thức cũng như sự phát triển của trẻ sau này.Các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới tập trung và phương pháp giáo dục lấy trải nghiệm làm đầu.Đó là một phương pháp rất tốt cho sự nhận thức của trẻ.Ngày nay nhiều trường mầm non tại Việt Nam cũng đã áp dụng những phương pháp này vào giảng dạy.Montessori là một phương pháp đang được áp dụng rất thành công.Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu như thế nào là Montessori.

Montessori la một phương pháp giáo dục tiếp cận với trẻ. Đây là một cách để nhìn nhận và thấu hiểu thế giới trẻ thơ, và cũng là một cách nhìn tổng thể về sự phát triển và học hỏi của trẻ như thế nào, điều này đã được chuyển thành một phương pháp giáo dục có hệ thống dựa trên những nghiên cứu khoa học cụ thể. Phương pháp giáo dục Montessori đã gặt hái được khá nhiều sự thành công khi có những phát triển không ngừng trong hơn 70 năm qua . Phương pháp giáo dục này đã được sử dụng hiệu quả với trẻ em, từ các trường hợp trí óc chậm phát triển, có những khuyết tật trên cơ thể đến những trường hợp phát triển bình thường và ngay cả với những trường hợp có khả năng tự nhiên đặc biệt trên khắp thế giới.

Phương pháp giáo dục Montessory được phát triển do bà Maria Montessory (1870-1952) một bác sĩ nhi và cũng là một nhà tâm lý sáng lập năm 1907 tại Italy. Đây là phương pháp với tiến trình giáo dục đặc biệt dựa vào việc học qua cảm giác. Năm 1907 bà bắt đầu sự nghiệp là nhà giáo dục khi bà được mời tổ chức một ngôi trường trong khu tái định cư ổ chuột khu vực San Lorenzo, Italia. tiếng Ý gọi là “Casa de Bambini” với 50 trẻ em . Bà nhận thấy rằng những trẻ em mà mọi người chẳng bao giờ có chút hy vọng thành công, lại là những trẻ học tập có tiến triển rất nhanh trong việc học tập trong khi các em làm việc độc lập trong những khu vực danh riêng cho các em. Bà đã phát triển nhiều chất liệu khác nhau nhằm cho phép các trẻ phát triển các kỹ năng thể lý, kỹ năng thần kinh, trong khi vẫn duy trì một mức tự chủ cao độ.

Trong giai đoạn này bà đã quan sát thấy rằng trẻ em hoàn toàn bị cuốn hút bởi các chất liệu được thiết kế để trợ giúp sự cảm nhận của giác quan. Từ đó, Montessori tiếp tục phát triển những sự trợ giúp dạy học chuyên biệt được dùng cho những trẻ trong môi trường thích hợp và tôn trọng những đặc tính riêng biệt của trẻ. Phương pháp Montessori chấp nhận sự duy nhất của mỗi trẻ và cho phép trẻ phát triển tuỳ theo những khả năng riêng của mình và thời gian riêng của mình. Do đó việc tổ chức các lớp học theo mô hình Montessorri phaỉ đảm bảo sự tôn trọng tính riêng biệt của mỗi trẻ và phải bố trí phòng học và bài học phù hợp những nhu cầu và mục đích của mỗi em.

Đây là một cách rất tốt để giúp các nhà giáo dục và các ông bố bà mẹ nhìn nhận và tìm hiểu thế giới trẻ thơ. Đây là một cách nhìn tổng thể về sự phát triển và tiến trình học hỏi của trẻ như thế nào, những điều trên đã được chuyển thành một phương pháp giáo dục có hệ thống dựa trên nghiên cứu khoa học cụ thể của bà Maria Montessori.Phương pháp này đã gặt hái được thành công sau khi đã trải qua sự phát triển không ngừng trong hơn 70 năm qua và phương pháp giáo dục này đã được sử dụng hiệu quả trong việc giáo dục đối với các em ở dạng trí óc chậm phát triển, tật nguyền cơ thể cho đến những trường hợp phát triển bình thường và trường hợp có những khả năng tự nhiên đặc biệt trên khắp thế giới.

“Thông qua sự tương tác của trẻ với môi trường, thông qua hoạt động của đôi bàn tay, thông qua sự hoàn toàn tự động của trẻ hấp thu các khía cạnh đạo đức, xã hội, văn hoá, tri thức về thế giới quanh trẻ và thông qua sự hoàn toàn độc lập của trẻ, trẻ sẽ phát triển bản thân, phát triển cá thể riêng biệt của mình.” Dr. Maria Montessori

Montessori coi trọng hai năng lực nội sinh cho sự phát triển của một đứa trẻ là: Quá trình nhận biết và Khả năng nhận thức. Ba lĩnh vực mà Phương pháp Montessori nhằm tới sự phát triển tổng thể tính cách của trẻ là sự vận động của cơ thể, kích thích giác quan và các phát huy hoạt động trí tuệ.

Phương pháp Montessori được dựa vào những điểm thiết yếu là:

* Trẻ có sự yêu mến đích thực và nhu cầu cho việc làm có chủ đích.

* Trẻ có một không bình thường và năng lực trí tuệ để tiếp thu và học hỏi từ môi trường của trẻ , không giống như năng lực của người lớn xét về mặt khả năng và chất lượng.

* Những năm quan trọng nhất của sự phát triển là khoảng từ 7-8 năm đầu đời của trẻ, khi mà sự học tập không ý thức từ từ biến đổi dần đến mức có ý thức.

* Trẻ em phải được tôn trọng vì chúng khác người lớn và vì mỗi cá thể là một thể khác nhau, không ai giống ai.

Các giáo cụ giảng dạy cần hỗ trợ cho sự hình thành bên trong của trẻ. Giáo cụ phải phù hợp với nhu cầu bên trong của trẻ. Điều này có nghĩa là giáo cụ học tập cần được áp dụng vào đúng thời điểm theo sự phát triển của trẻ.

* Mỗi một giáo cụ cần có một mục đích cụ thể và có ý nghĩa đối với trẻ.

* Các giáo cụ được phát triển từ đơn giản đến phức tạp về nội dung và hình thức.

* Các giáo cụ được thiết kế để chuẩn bị gián tiếp cho việc học tập trong tương lai của trẻ.

* Các giáo cụ được bắt đầu như một biểu hiện ở dạng vật chất về một ý tưởng và sau đó trở nên trừu tượng hơn.

* Chất liệu của giáo cụ được thiết kế cho sự tự học, tự khám phá của trẻ. Sự kiểm soát các lỗi nằm ở chính chất liệu, chứ không phải ở giáo viên.

Phương pháp Motessori tập trung vào 5 lĩnh vực:

Thực hành cuộc sống: Trẻ được học cách thắt dây giầy và mặc áo khoác, tự chuẩn bị đồ ăn và uống đơn giản, tự đi vệ sinh và có thể tự dọn dẹp sau khi dây bẩn.

Giáo dục phát triển giác quan: Các bài tập dành cho trẻ đảm bảo trẻ phải sử dụng cả 5 giác quan để thực hiện.·

Nghệ thuật ngôn ngữ : Trẻ được khuyến khích thể hiện, bày tỏ bản thân mình bằng lời, trẻ được hướng dẫn cách nhận mặt chữ và tô chữ – thời kỳ đầu chuẩn bị để học đọc, đánh vần, ngữ pháp và kỹ năng viết.

Toán học và hình học: Trẻ được làm quen với các con số thông qua các tài liệu giảng dạy do giáo viên phát.

Trẻ học cách tự chăm sóc mình và môi trường của chúng thông qua các công việc “thực tế”. Trước tiên, trẻ được dạy cách đổ nước một cách hoàn chỉnh và học cách lau sạch nếu có giọt nước nào rớt ra hay tràn ra. Ngay khi trẻ thành công trong hoạt động này, chúng sẽ được chuyển đến các hoạt động phức tạp hơn như rửa tay, lau đĩa, đánh giầy, lau gương. .v.v.. Với mỗi bài tập, trẻ sẽ tăng cường được khả năng phối kết hợp giữa các bàn tay, cánh tay và các ngón tay. Khi chúng học các bài học lau và đánh bóng, chúng phải học cách chú ý đến những sự không hoàn thiện nhỏ nhất trong công việc chúng đang làm. Điều này làm tăng sự tập trung của trẻ và thúc đẩy những thói quen làm việc cách trổi vượt đến độ sau đó chúng có thể dùng những kỹ năng này trong các công việc học đường.

Các hoạt động về giác quan hay cảm giác giúp trẻ khám phá thế giới qua các giác quan của chúng. Những miếng màu phải được ghép lại, nhận diện và sắp xếp từ màu tối nhất đến màu sáng nhất. Trẻ phải ghép những thứ có mùi vị giống nhau thông qua việc dùng ống trụ để ngửi….

Trẻ được giới thiệu các âm của chữ cái qua các con chữ cái trên giấy. Chúng sẽ rượt theo mỗi chữ cái và phát cái âm của chữ đó. Sau đó, chúng sẽ bắt đầu ghép các âm này lại với nhau để thành lập các từ với các bảng chữ cái có thể tháo rời và chuyển chỗ được, một bảng chữ cái bằng nhựa. Thậm chí các em có vấn đề về viết còn có thể đánh vần các từ với bảng chữ cái cơ động nếu chúng đã học được các âm của chữ cái. Đồng thời, trẻ cũng được cung cấp giấy, bút nhớ dòng, bút chì màu và đen trắng, bút sáp màu và phấn để trẻ thường xuyên dùng nó để viết chữ và dùng cho kỹ năng vẽ, vẽ chữ để diễn tả những gì trẻ thích. Mỗi ngày trẻ cũng phải vẽ và viết trên những giấy to như tờ báo. Trẻ được vẽ tự do hay viết tự do về những gì làm chúng cảm thấy thích. Vào cuối năm học, các tờ vẽ đó được gưỉ về gia đình của trẻ…

Trẻ sẽ học nhận diện con số từ 1-9, sử dụng các con số cát trên giấy, cũng giống như các chữ cái cát trên giấy. Rất nhiều chất liệu trong gia đình có thể tận dụng làm việc này rất hiệu quả để giúp trẻ đếm và ghép các số lượng với số viết. Khi trẻ đã đạt được một số kỹ năng trong việc đếm đồ vật, trẻ được giới thiệu về phép cộng và trừ, khi đó trẻ sẽ dùng những chất liệu trên để hình dung ra câu trả lời. Khi trẻ đã thành công với phép cộng và trừ, chúng sẽ được dạy nhân và chia, điều này phục thuộc vào mối hứng thú và khả năng của trẻ.. Một lần nữa, trẻ sẽ dùng những đồ vật thật để hình dung ra câu trả lời, do đó trẻ có thể hiểu được quá trình đó diễn ra chứ không chỉ đơn thuần là nhớ các công thức.

Đầu tiên trẻ được giới thiệu quả địa cầu với phần đất phủ bằng giấy màu đất và phần nước sơn màu xanh với bề mặt mịn. Điều này làm cho trẻ có ấn tượng cụ thể đối với lục địa. Tiếp theo là các hình thức chơi đố ô chữ với bản đồ thế giới. Trẻ học tên của các lục địa và chú tâm đến những khác biệt về kích cỡ và hình dạng. Bước tiếp theo là trò đố chữ với từng lục địa riêng biệt, trẻ sẽ học tên và địa điểm của các đất nước trong mỗi lục địa. Chẳng bao lâu sau trẻ sẽ có cảm giác cụ thể giúp cho sự hình dung ra thế giới của chúng và nơi chúng đang sống….

“Mục đích của chúng tôi là không chỉ làm cho trẻ hiểu, nhưng lại không buộc trẻ phải ghi nhớ chúng, trái lại, chúng tôi chạm đến sự tưởng tượng của trẻ để thúc đẩy tiềm năng nội tâm của trẻ.” Dr. Maria Montessori

Tất cả các lĩnh vực này gắn bó chặt chẽ với nhau theo cách bổ xung, hỗ trợ cho nhau. Đồ chơi và các dụng cụ học tập khác được bày trong lớp để trẻ có thể nhìn thấy và có lựa chọn cho riêng mình rồi quyết định một hoạt động – được gọi là “công việc” – theo sở thích của mình. Những sự lựa chọn bao gồm sách, xếp hình, tạo hình, phân vai… Sau khi trẻ làm xong “công việc”, chúng sẽ cất đồ chơi vào giá và chuyển sang “công việc” khác. Lịch sinh hoạt hàng ngày cho phép trẻ có thời gian chơi một mình hoặc theo nhóm.

Khi hướng dẫn trẻ thì giáo viên có thể hướng dẫn từng trẻ một hoặc theo nhóm, nhưng hầu hết tất cả các trao đổi về “công việc” thì là do các trẻ với nhau. Trong các trường áp dụng phương pháp Montessori, giáo viên không phải là Người Hướng Dẫn duy nhất. Trẻ lớn hơn có thể giúp trẻ bé hơn làm thuần thục một kỹ năng mới. Đó là lý do mà mỗi lớp học đều bao gồm 2-3 độ tuổi khác nhau.

Tổng Quan Về Các Phương Pháp Tránh Thai

Tránh thai, hoặc ngừa thai – là việc sử dụng các thiết bị khác nhau, cách sinh hoạt tình dục phù hợp hoặc kỹ thuật, hóa chất, thuốc và/hoặc kèm theo các phương pháp phẫu thuật nhằm mục đích tránh mang thai theo ý muốn trong khi quan hệ tình dục. Biện pháp tránh thai, kiểm soát sinh sản còn được có thể gọi là kế hoạch hóa gia đình, phòng ngừa mang thai và kiểm soát khả năng sinh sản đều muốn nói đến vấn đề này.

Có nhiều phương pháp tránh thai. Và với rất nhiều lựa chọn, nó có thể gây nhầm lẫn nếu chúng ta không tìm hiểu. Tìm hiểu những ưu và nhược điểm của từng loại có thể giúp bạn chọn phương pháp phù hợp với mình. 5 loại phổ biến hiện nay:

Các loại thuốc và dụng cụ tránh thai hiện nay

Dễ hiểu nhất về các loại biện pháp tránh thai khác nhau dựa trên năm loại:

Như đã nêu, có nhiều loại phương pháp tránh thai. Nhưng mỗi phương pháp được thiết kế để hoạt động theo một cách nhất định:

Điều quan trọng nhất về biện pháp tránh thai là bạn sử dụng đúng cách và mỗi khi quan hệ tình dục. Ngoài ra, mặc dù tất cả các phương pháp này rất khác nhau, nhưng có một điểm chung là không có phương pháp nào (ngoại trừ việc kiêng khem) có hiệu quả 100%.

Bạn có quyền sử dụng biện pháp tránh thai hay không và quyết định sử dụng phương pháp nào là lựa chọn cá nhân. Không có phương pháp ngừa thai “tốt nhất”. Sẽ rất hữu ích khi nghiên cứu từng phương pháp, cân nhắc rủi ro và lợi ích, xem xét mức độ hiệu quả mà bạn muốn và chọn phương pháp phù hợp với lối sống, mức độ thoải mái và/hoặc vấn đề tín ngưỡng của mỗi cá nhân. Nên trao đổi với bác sĩ cũng có thể giúp bạn trong quá trình ra quyết định.

Và ngay cả khi bạn đã sử dụng biện pháp tránh thai, đừng cảm thấy như bạn bị phụ thuộc với phương pháp nào đó. Nếu bạn không hài lòng, hãy thay đổi biện pháp tránh thai của bạn. Bạn càng cảm thấy thoải mái và hài lòng với biện pháp tránh thai của mình, bạn càng muốn sử dụng nó và sử dụng nó hiệu quả nhất có thể.

Trong cuộc sống hiện đại hôm nay, tránh thai đã dần trở thành một vấn đề thường thức!

Tổng Quan Các Phương Pháp Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế

Quản lý nhà nước về kinh tế là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực Nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước với tư cách là tổng thể các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về kinh tế

Quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý vĩ mô nền kinh tế

Nhiệm vụ chủ yếu quản lý vĩ mô nền kinh tế là đảm bảo cân đối cơ bản trên bình diện tổng thể nền kinh tế tạo ra môi trường thuận lợi, nhiều cơ hội cho các chủ thể kinh tế trên thị trường đặc biệt là các doanh nghiệp, dẫn dắt nền kinh tế quốc dân phát triển liên tục với tốc độ cao và lành mạnh.

Chức năng chủ yếu của quản lý nhà nước về kinh tế vĩ mô là vạch ra các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và các chính sách kinh tế đồng bộ. Trên bình diện tổng thể, Nhà nước vừa phải điều tiết vĩ mô đối với các doanh nghiệp, vừa phải phục vụ các doanh nghiệp trên nhiều mặt, thực hiện sự thống nhất hưu cơ giữa vi mô và vĩ mô.

Quản lý nhà nước về kinh tế mang tính quyền lực nhà nước

Quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý của Nhà nước đối với hệ thống kinh tế quốc dân, của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, của chính quyền đối với nền kinh tế quốc dân.

Quản lý Nhà nước về kinh tế mang tính quyền lực nhà nước có nghĩa là một mặt, quản lý này lệ thuộc vào chính trị, xuất phát từ chỗ, Nhà nước là bộ phận trung tâm trong hệ thống chính trị xã hội, là công cụ đặc biệt để thực hiện quyền lực chính trị (lập pháp, hành pháp và tư pháp) của giai cấp thống trị đối với giai cấp khác và xã hội. Mặt khác, quản lý này mang tính pháp quyền và thực hiện theo nguyên tắc pháp chế.

Mục tiêu phát triển lấy hiệu quả kinh tế – xã hội là chính

Xuất phát từ hai đặc điểm trên, mục tiêu đặt ra trong quản lý nhà nước về kinh tế là mục tiêu kinh tế – xã hội, mục tiêu này được thể hiện ở mục tiêu tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân bền vững. Hiệu quả kinh tế – xã hội được xem như là tiêu chuẩn để đạt được mục tiêu trên.

Các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.

Tính khoa học nằm ở chỗ, các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế đòi hỏi phải nắm vững đối tượng với những đặc điểm vốn có của nó, để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đối tượng.

Còn tính nghệ thuật biểu hiện ở chỗ, các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế biết lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng và cơ hội của đất nước, đạt mục tiêu quản lý đề ra.

Quản lý kinh tế có hiệu nhất khi nhà quản lý biết lựa chọn đúng đắn phương pháp quản lý và biết kết hợp linh hoạt các phương pháp quản lý đó vào từng trường hợp, từng đối tượng, từng giai đoạn của nền kinh tế. Đó chính là tài nghệ quản lý của nhà nước nói riêng, của các viên chức quản lý nói chung.

Các phương pháp quản lý chủ yếu của Nhà nước về kinh tế bao gồm:

Các phương pháp hành chính

Các phương pháp kinh tế

Các phương pháp giáo dục

Vận dụng tổng hợp các phương pháp quản ký kinh tế của Nhà nước

Nghệ thuật quản lý kinh tế của nhà nước

4. Các công cụ quản lý nhà nước về kinh tế

Công cụ quản lý nhà nước về kinh tế là tổng thể những phương tiện mà Nhà nước sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế của mình nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Thông qua các công cụ quản lý với tư cách là vật truyền dẫn tác động quản lý của Nhà nước mà Nhà nước chuyển tải được ý định và ý chí của mình đến các chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh tế.

4.1. Nhóm công cụ thể hiện mục tiêu quản lý

4.1.1. Đường lối phát triển kinh tế – xã hội

Là khởi đầu của quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước do Đảng cầm quyền của quốc gia xây dựng và thực hiện. Đó là việc xác định trước một cái đích mà nền kinh tế cần đạt đến, sau đó căn cứ vào thực trang của nền kinh tế để tìm ra lối đi, cách đi, trình tự và thời hạn tiến hành để đạt được cái đích đó;

Đường lối phát triển kinh tế – xã hội có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với vận mệnh đất nước, nó được coi là công cụ hàng đầu của Nhà nước trong sự nghiệp quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Đường lối đúng sẽ đưa đất nước đến phát triển, ổn định, giàu mạnh, công bằng và văn minh. Đường lối sai sẽ đưa đất nước đi lầm đường, là tổn thất, đổ vỡ, suy thoái, là hậu quả khôn lương về mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội.

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là một hệ thống các quan điểm cơ bản, các mục tiêu lớn và các giải pháp chủ yếu được lựa chọn nhằm đạt được một bước đường lối phát triển kinh tế – xã hội trong một thời gian đủ dài. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội là sự cụ thể hoá đường lối phát triển kinh tế – xã hội, và cũng do Đảng cầm quyền chỉ đạo và xây dựng.

4.1.3. Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội

Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội là việc định hướng phát triển kinh tế dài hạn, trong đó xác định rõ quy mô và giới hạn cho sự phát triển. Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội là xác định khung vĩ mô về tổ chức không gian nhằm cung cấp những căn cứ khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước để chỉ đạo vĩ mô nền kinh tế thông qua các kế hoạch, các chương trình, dựa án đầu tư bảo đảm cho nền kinh tế phát triển mạnh, bền vững và có hiệu quả.

Thực chất của quy hoạch là cụ thể hoá chiến lược về không gian và thời gian. Trên thực tế, công tác quản lý kinh tế của Nhà nước có các loại quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch ngành.

4.1.4. Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội

Kế hoạch là cụ thể hoá chiến lược dài hạn, gồm có kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn, kế hoạch hàng năm. Thực chất, kế hoạch là một hệ thống các mục tiêu vĩ mô cơ bản được xác định như: tốc độ phát triển nền kinh tế, cơ cấu kinh tế, các cân đối lớn.. Các chỉ tiêu kế hoạch này bao quát các ngành, các vùng, các lĩnh vực và thành phần kinh tế.

4.1.5. Chương trình phát triên kinh tế – xã hội

Chương trình phát triển kinh tế – xã hội là tổng hợp các mục tiêu, các nhiệm vụ, các thủ tục, các bước tiến hành, các nguồn lực và các yếu tố cần thiết để thực hiện một mục tiêu nhất định đã được xác định trong một thời kỳ nhất định. Ví dụ: chương trình cải cách nền hành chính quốc gia, chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, chương trình phát triển kinh tế – xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc..

Chương trình là cơ sở quan trọng để tập trung những nguồn lực hạn hẹp vào việc giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch Nhà nước trong từng thời kỳ và cho phép khắc phục tình trạng tách rời giữa các nhiệm vụ của kế hoạch đã được xác định để thực hiện kế hoạch Nhà nước một cách có hiệu quả.

4.2. Nhóm công cụ thể hiện chuẩn mực xử sự hành vi của các chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh tế

Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền, thực hiện sự quản lý đối với xã hội nói chung và nền kinh tế quốc dân nói riêng chủ yếu bằng pháp luật và theo pháp luật.

Pháp luật kinh tế được hiểu là hệ thống văn bản có tính quy phạm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thể hiện ý chí, quyền lực của Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ trong nền kinh tế.

Chính sách phát triển các thành phần kinh tế;

Chính sách tài chính với công cụ chi tiêu của Chính phủ và chính sách thuế;

Chính sách tiền tệ với công cụ kiểm soát mức cung tiền và lãi suất;

Chính sách thu nhập với các công cụ giá cả và tiền lương;

Chính sách ngoại thương với các công cụ thuế nhập khẩu, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu, tỉ giá hối đoái.

4.4. Nhóm công cụ vật chất làm động lực tác động vào đối tượng quản lý

Đất đai, rừng, núi, sông hồ, các nguồn nước, thềm lục địa. ;

Tài nguyên trong lòng đất;

Dự trữ quốc gia, bảo hiểm quốc gia;

Vốn và tài sản của Nhà nước trong các doanh nghiệp;

Các loại quỹ chuyên dùng vào công tác quản lý của Nhà nước.

4.5. Nhóm công cụ đê sử dụng các công cụ trên

Chủ thể sử dụng các công cụ quản lý của Nhà nước về kinh tế đã trình ở trên là các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế. Đó chính là các cơ quan hành chính nhà nước, các công sở và các phương tinh kinh tế – kỹ thuật được sử dụng trong hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước.

Bài viết trên đã cung cấp những thông tin chi tiết các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế. Hi vọng rằng bạn đọc đã có được cái nhìn tổng quan về vấn đề này. Nếu còn bất cứ thắc mắc nào hãy liên hệ với dịch vụ tư vấn làm luận văn thuê của chúng tôi theo hotline: 0915 686 999 hoặc email qua địa chỉ: luanvanviet.group@gmail.com để được tư vấn và giải đáp.