Top #10 ❤️ Vì Sao Nói Thế Kỉ Xxi Là Thế Kỉ Của Châu Á Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Bài 4: Các Nước Đông Nam Á (Cuối Thế Kỉ Xix

Khoảng Cách Giàu Nghèo Ngày Càng Tăng Trên Quy Mô Toàn Cầu

Vấn Đề Chênh Lệch Giàu Nghèo Với Quá Trình Hội Nhập Thương Mại Toàn Cầu

Vì Sao Xe Máy Nhập Không Tắt Đèn Vào Ban Ngày?

Đọc Truyện Tứ Đại Mỹ Nhân Xinh Đẹp Và Tứ Đại Thiếu Gia Hào Hoa

Tứ Đại Mỹ Nhân Xinh Đẹp Và Tứ Đại Thiếu Gia Hào Hoa

Chi tiết Chuyên mục: Bài 4: Các nước Đông Nam Á (Cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX)

– Chính sách đối ngoại “mềm dẻo” ( Chính sách ngoại giao “ngọn tre”).

– Trước sự xâm nhập của các nước phương Tây, Xiêm đã chủ động “mở cửa”, quan hệ với tất cả các nước.

Xiêm liên tiếp kí các hiệp ước hữu nghị và thương mại với các nước phương Tây: năm 1826 kí với Anh, 1833 với Mỹ, 1907 với Pháp…..

– Xiêm còn biết lợi dụng mấu thuẫn giữa các cường quốc để họ tự kiềm chế chúng tôi dựa vào thế lực của Hà Lan để chống lại thế lực đang lớn mạnh của Bồ Đào Nha. Nhưng khi thế lực của Hà Lan ngày càng cho phối mạnh mẽ ở Xiêm thì họ lại dựa vào Anh để chống Hà Lan…

– Cải cách ở Xiêm cuối thế kỉ XIX của Ra-ma V

Cuối thế kỉ XIX, vua Rama V tiến hành cải cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, quân sự……Các chính sách cải cách của Xiêm đi theo hướng “mở cửa”. Chính cuộc cải cách này đã giúp Xiêm hòa nhập vào sự phát triển chung của chủ nghĩa tư bản thế giới.

– Vị trí “nước đệm” của Xiêm

Từ 1858-1893, Đông Dương là thuộc địa của Pháp. Trong khi đó Anh chiếm được Ấn Độ và Miến Điện. Xiêm đứng trước nguy cơ bị xâm lược. Tuy nhiên, Anh-Pháp là 2 nước đối đầu ở Châu Âu, Châu Mĩ, Châu chúng tôi và Pháp không muốn có sự va chạm ở Xiêm. Sự mâu thuẫn của 2 quốc gia này trong vấn đề Xiêm đã buộc Pháp đi đến một đề nghị hòa giải để đảm bảo quyền lợi. Như vậy Xiêm biến thành “vùng đệm” của Anh và Pháp.

– Trong bối cảnh chung của châu Á, Xiêm nhờ đó mà thoát khỏi thân phận thuộc địa giữ được độc lập.

Chi tiết Chuyên mục: Bài 4: Các nước Đông Nam Á (Cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX)

– Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX diễn ra liên tục, sôi nổi với nhiều hình thức: Khởi nghĩa vũ trang, Cải cách,…

Chủ yếu là đấu tranh vũ trang với sự tham gia của các tầng lớp nhân dân.

– Có sự chuyển biến về hình thức đấu tranh vào giai đoạn sau gắn liền với sự ra đời của các tổ chức chính trị.

– Tóm lại :Cuối thế kỉ XX phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á bùng nổ mạnh mẽ nhưng đều thất bại,vì còn mang tính tự phát, nổ ra lẻ tẻ chưa có sự đoàn kết giửa các dân tộc, song sẽ tạo điều kiện tiền đề cho những giai đoạn sau.

Chi tiết Chuyên mục: Bài 4: Các nước Đông Nam Á (Cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX)

– Đông Nam Á là một khu vực có vị trí địa lý quan trọng, giàu tài nguyên, chế độ phong kiến đang lâm vào khủng hoảng, suy yếu nên không tránh khỏi bị các nước phương Tây nhòm ngó, xâm lược.

– Từ nửa sau thế kỷ XIX, tư bản phương Tây đẩy mạnh xâm lược Đông Nam Á: Anh chiếm Mã Lai, Miến Điện; Pháp chiếm 3 nước Đông Dương; Tây Ban Nha rồi Mỹ chiếm Philippin; Hà Lan và Bồ Đào Nha chiếm Inđônêxia.

– Xiêm (Thái Lan) là nước duy nhất ở Đông Nam Á vẫn giữ được độc lập, nhưng cũng trở thành “vùng đệm” của tư bản Anh và Pháp.

Chi tiết Chuyên mục: Bài 4: Các nước Đông Nam Á (Cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX)

– Xóa bỏ được chế độ nô lệ, giải phóng sức lao động, góp phần đưa nền kinh tế phát triển theo con đường Tư bản chủ nghĩa.

– Trong nông nghiệp, hình thái kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp đã bị loại bỏ và thay bằng nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa.

– Xiêm trở thành nước xuất khẩu gạo, gỗ, đường và nhiều mặt hàng quan trọng khác có uy tín trên thế giới.

– Công nghiệp khai khoáng và xây dựng hạ tầng cơ sở, hệ thống đường sắt, đường bộ phát triển mạnh.

– Hệ thống giáo dục Xiêm được chuẩn hóa và hiện đại hóa, tầng lớp tri thức ngày càng được trọng dụng và đề cao.

– Các tôn giáo ổn định, nâng cao trình độ dân trí và nhận thức tốt trong nhân dân.

– Nhờ chính sách đối ngoại mềm dẻo nên bảo vệ được nền độc lập, chủ quyền.

– Tuy đã có những thành công nhất định nhưng Xiêm vẫn còn phải phụ thuộc nhiều đến các nước Phương Tây.

Chi tiết Chuyên mục: Bài 4: Các nước Đông Nam Á (Cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX)

– Giữa thế kỉ XIX đứng trước sự đe dọa xâm lược của phương Tây, Ra-ma IV (Mông-kút ở ngôi từ 1851-1868) đã thực hiện mở cửa buôn bán với nước ngoài.

– Ra-ma V (Chu-la-long-con ở ngôi từ 1868 – 1910) đã thực hiện nhiều chính sách cải cách.

* Nội dung cải cách

– Kinh tế

+ Nông nghiệp: để tăng nhanh lượng gạo xuất khẩu nhà nước giảm nhẹ thuế ruộng, xóa bỏ chế độ lao dịch.

+ Công thương nghiệp: khuyến khích tư nhân bỏ vốn kinh doanh, xây dựng nhà máy, mở hiệu buôn, ngân hàng

– Chính trị

+ Cải cách theo khuôn mẫu Phương Tây.

+ Đứng đầu nhà nước vẫn là vua.

+ Giúp việc có hội đồng nhà nước (nghị viện).

+ Chính phủ có 12 bộ trưởng.

– Quân đội, tòa án, trường học được cải cách theo khuôn mẫu phương Tây.

– Về xã hội: xóa bỏ chế độ nô lệ , giải phóng người lao động.

– Đối ngoại:

+ Thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo.

+ Lợi dụng vị trí nước đệm .

+ Lợi dụng mâu thuẫn giữa 2 thế lực Anh – Pháp đã lựa chiều có lợi để giữ chủ quyền đất nước.

Vì Sao Thái Lan (Xiêm) Là Nước Duy Nhất Trong Khu Vực Ở Đông Nam Á Không Trở Thành Thuộc Địa Của Các Nước Phương Tây?

Sửa Lỗi Không Bắt Được Wifi Trên Điện Thoại Android

Kết Nối Wifi Không Có Mạng Internet: Phải Làm Gì Lúc Này?

Tại Sao Wifi Có Dấu Chấm Than Và 3 Phút Khắc Phục Triệt Để Lỗi Chấm Than Wifi

Cách Đăng Ký Tài Khoản Sina Weibo 2022

Chương 1: Các Cuộc Cách Mạng Tư Sản (Từ Giữa Thế Kỉ Xvi Đến Cuối Thế Kỉ Xviii)

De Thi De Thi Hsg 12 Thpt 2022 Hai Duong

So Sánh Biên Dịch Viên Và Phiên Dịch Viên Đặc Điểm Giống Nhau Và Không Giống Nhau Giữa Họ

Vài Nét Về Hoạt Động Định Hướng Dư Luận Xã Hội

Sự Khác Nhau Giữa Áo Dài Và Sườn Xám 2022

Áo Dài Và Kimono, Bạn Bình Chọn Cho Bộ Quốc Phục Nào?

Chi tiết Chuyên mục: Bài 29: Cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh

– Diến biến chính của cách mạng Anh

+ 1642 -1648: Nội chiến ác liệt (vua – Quốc hội)

+ 1645: Trận Nêdơbi, nhà vua thua.

+ 1449: Xử tử vua, nền cộng hoà ra đời, cách mạng đạt đỉnh cao.

+ 1653: Nền độc tài được thiết lập (một bước tụt lùi)

+ 1688: Quốc hội tiến hành chính biến, sau đó chế độ quân chủ lập hiến được xác lập.

– Kết quả của Cách mạng Anh: Lật đổ chế độ phong kiến mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển. Thiết lập chế độ quân chủ lập hiến.

Chi tiết Chuyên mục: Bài 29: Cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh

– Tính chất: Cách mạng Hà Lan vừa là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, vừa là cuộc cách mạng tư sản, bởi vì nó vừa chống bọn xâm lược Tây Ban Nha vừa mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Ý nghĩa:

+ Là cuộc cách mạng tư sản đầu tiên trên thế giới

+ Lật đổ ách thống trị của thực dân Tây Ban Nha, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

+ Mở ra thời đại mới, thời đại bùng nổ của các cuộc cách mạng tư sản.

Chi tiết Chuyên mục: Bài 29: Cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh

– Kinh tế:

+ Nông nghiệp: Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào trong nông nghiệp

+ Thủ công nghiệp: Công trường thủ công chiếm ưu thế so với phường hội

+ Thương nghiệp: Việc buôn bán phát triển nhất là buôn bán len dạ và nô lệ da đen.

– Xã hội: Xuất hiện tầng lớp quý tộc mới. Tư sản và quý tộc mới giàu lên nhanh chóng. Đời sống nông dân cực khổ.

– Chính trị: Chế độ quân chủ chuyên chế bảo thủ và lạc hậu kìm chế sự phát triển của chủ nghĩa tư bản

– Mâu thuẫn giữa tư sản và quý tộc mới với các thế lực phong kiến phản động trở nên gay gắt.

Chi tiết Chuyên mục: Bài 29: Cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh

– 8/1566, nhân dân miền Bắc Nê-đec-lan khởi nghĩa, lực lượng phát triển mạnh, làm chủ nhiều nơi.

– 8/1567, Tây Ban Nha đưa quân sang đàn áp khởi nghĩa nhưng không ngăn trở được sự phản kháng của quần chúng.

– 4/576, quân khởi nghĩa giải phóng nhiều vùng rộng lớn.

– 4/11/1579, Quân đội Tây Ban Nha tấn công giết 8000 người, phá hủy một trung tâm thương mại.

– 23/1/1579, Hội nghị U-trech gồm đại biểu các tỉnh miền Bắc họp tuyên bố thành lập ” Các tỉnh Liên Hiệp”.

– 1648, Tây Ban Nha chính thức công nhận nền độc lập của “Các tỉnh Liên Hiệp”

Chi tiết Chuyên mục: Bài 29: Cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh

– Tình hình kinh tế: Đầu thế kỉ XVI, Nê-đec-lan là một trong những vùng kinh tế phát triển nhất châu Âu: Nhiều thành phố, hải cảng xuất hiện và trở thành trung tâm thương mại nổi tiếng như U-trếch, Am-xtec-dam,… Nhiều ngân hàng được hành lập có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế.

– Tình hình xã hội: Cùng với sự phát triển công thương nghiệp, giai cấp tư sản Nê-dec-lan sớm hình thành, ngày càng có thế lực về kinh tế nhưng bị cản trở bởi ách thống trị của thực dân Tây Ba Nha.

So Sánh Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình?

Danh Sách Các Công Ty Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ Cập Nhật

So Sánh Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ

9 Cách Phân Biệt Bảo Hiểm Nhân Thọ Và Phi Nhân Thọ Khác Nhau

Bong Gân Và Trật Khớp Trong Chấn Thương Thể Thao

Bài 27 : Khởi Nghĩa Yên Thế Và Phong Trào Chống Pháp Của Đồng Bào Miền Núi Cuối Thế Kỉ Xix

Đột Ngột Thay Thế Cát Tường, Nam Thư Đang Phải Đối Mặt Với Điều Gì?

Vì Sao Cát Tường Là ‘bà Mai Quốc Dân’ Khó Có Thể Thay Thế Trong ‘bạn Muốn Hẹn Hò’?

Vì Sao Cả Thế Giới Ghét Đoàn Thể Thao Trung Quốc?

Vì Sao Thế Giới Ngày Càng Ghét Trung Quốc?

Vì Sao Trung Quốc Bị Thế Giới Oán Ghét?

– Yên Thế ở Tây Bắc tỉnh Bắc Giang, là vùng đất đồi, cây cối, rậm rạp, địa hình hiểm trở,thông sang Tam Đảo, Thái Nguyên, Phúc Yên, Vĩnh Yên

– Thích hợp với lối đánh du kích, dựa vào địa thế hiểm trở và công sự dã chiến, đánh nhanh và rút nhanh lại rất thuận tiện khi bị truy đuổi.

*Nguyên nhân dẫn đến cuộc khởi nghĩa Yên Thế

+ Để mở rộng phạm vi chiếm đóng, Pháp cướp đất của người nông dân ở Yên Thế làm đồn điền, khai mỏ, làm đường giao thông.

* Diễn biến, gồm ba giai đoạn

+ Khởi nghĩa do Đề Nắm chỉ huy, lúc này nghĩa quân hoạt động riêng rẽ, chưa có sự chỉ huy thống nhất.

+ Tháng 4 – 1892 cuộc khởi nghĩa do Đề Thám chỉ huy.

– Giai đoạn II (1893- 1908): nghĩa quân vừa chiến đấu vừa xây dựng cơ sở

+ Nghĩa quân đã chiến đấu quyết liệt, buộc kẻ thù hai lần phải giảng hòa và nhượng bộ một số điều kiện có lợi cho ta.

Lần giảng hòa thứ nhất: sau khi bắt được tên điền chủ người Pháp – Sét-nay. Đề Thám đã thỏa thuận với Pháp, nghĩa quân đã thả tên điền chủ, trong khi đó Đề Thám phải được cai quản 4 tổng: Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ và Hữu Thượng.

Đặc biệt trong thời kì giảng hòa lần thứ hai (12- 1897) Đề Thám cho sản xuất ở Phồn Xương, tích lũy lương thực, xây dựng quân đội, sẵn sàng chiến đấu. Nhiều nhà yêu nước đã tìm đến như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh

+ Giai đoạn III: 1909 – 1913

– Sau vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, Pháp đã dần hiện thấy Đề Thám có dính líu đến vụ đầu độc lính. Vì vậy, Pháp tập trung lực lượng, mở cuộc tấn công quy mô lên Yên Thế.

– Sau nhiều trận càn quét của địch, lực lượng nghĩa quân hao mòn dần

– Ngày 10- 2- 1913 Đề Thám bị sát hại phong trào tan rã.

– Ý nghĩa: Khởi nghĩa Yên Thế là trang sử vẻ vang của dân tộc, chứng minh khả năng hùng hậu của nông dân trong lịch sử chống Pháp xâm lược.

II. Phong trào chống Pháp của đồng bào miền Núi cuối thế kỉ XIX (tham khảo)

– Ở Nam Kỳ, nhân dân các dân tộc thiểu số đã sát cánh cùng người Kinh đánh Pháp từ giữa thế kỷ XIX.

– Ở miền Trung, tiêu biểu là các cuộc đấu tranh do Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước cầm đầu.

– Ở Tây Nguyên, tù trưởng N’Tgang Guh, Ama Kol, Ama Jhao… đã kêu gọi nhân dân rào làng chiến đấu từ 1889 đến 1905.

– Ở Tây Bắc, đồng bào các dân tộc Mường, Thái… tập hợp dưới ngọn cờ của Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Văn Giáp lập căn cứ kháng chiến ở Lai Châu, Sơn La hoạt động mạnh ở sông Đà.

– Trong các năm từ 1884 đến 1890, xuất hiện các toán quân người Thái dưới sự chỉ huy của Đèo Văn Trì, Nông Văn Quang, Cầm Văn Thanh, Cầm Văn Hoan.

– Đồng bào Thái ở Sơn La, Yên Bái do Đèo Chính Lục, Đặng Phúc Thành cầm đầu đã phục kích quân Pháp ở nhiều nơi.

– Đồng bào Mông ở Hà Giang do Hà Quốc Thượng lãnh đạo đã nổi dậy chống Pháp từ năm 1894 đến năm 1896.

– Tại vùng Đông Bắc Kỳ, bùng nổ phong trào của người Dao, người Hoa, tiêu biểu nhất là đội quân của Lưu Kỳ.

– Phong trào chống Pháp của đồng bào miền núi diễn ra muộn hơn nhưng phát triển mạnh mẽ, diễn ra bề bỉ và lâu dài.

– Diễn ra ở khắp các vùng miền núi

– Có sự tham gia của các dân tộc thiểu số như Thái, Mường, Mông, Dao, Hoa, Khơ- me và các dân tộc Tây Nguyên.

– Hỗ trợ cho các cuộc đấu tranh của đồng bào ở vùng đồng bằng

– Góp phần làm chậm quá trình xâm lược và bình định của Pháp.

* Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của khởi nghĩa Yên Thế và phong trào chống Pháp của đồng bào miền núi

– Nguyên nhân thất bại

+ Bó hẹp trong 1 địa phương, bị cô lập, so sánh lực lượng chênh lệch.

+ Bị Pháp và phong kiến đàn áp.

+ Do chưa có sự lãnh đạo của giai cấp tiên tiến.

– Ý nghĩa lịch sử

+ Chứng tỏ sức mạnh to lớn tiềm tàng của nông dân.

+ Làm chậm quá trình xâm lược và bình định của của Pháp.

+ Xứng đáng nối tiếp truyền thống yêu nước của tổ tiên.

* HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI

1. Lập bảng thống kê các giai đoạn của cuộc khởi nghĩa?

Trả lời

2. Em hãy nên các hoạt động của thực dân Pháp ở Việt Nam vào cuối thế kỉ XIX?

Trả lời

Vào cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp bắt đầu thực hiện chính sách bình định quân sự đối với trung du, miền núi nhằm ổn định tình hình chính trị, chuẩn bị cho cuộc khai thác đại quy mô sắp tớ (làm đường, cầu, đường dây điện thoại nối liền các vùng kinh tế, các vùng nguyên liệu và các trung tâm hành chính với nhau,…).

3. Nguyên nhân của phong trào vũ trang kháng Pháp ở các địa phương cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX ?

Trả lời

Nguyên nhân của phong trào vũ trang kháng Pháp ở các địa phương cuối thể XIX – đầu thế kỉ XX là do:

– Chính sách bình định quân sự đối với trung du, miền núi ảnh hưởng tới cuộc sống tự do của nhân dân địa phương.

– Truyền thống yêu nước vốn có của nhân dân Việt Nam.

4. Nguyên nhân bùng nổ cuộc khởi nghĩa Yên Thế?

Trả lời

– Yên Thế là vùng đồi núi trung du ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Giang, thông với nhiều tỉnh ở vùng núi như Lạng Sơn, Thái Nguên và vùng đông bằng như Bắc Ninh, Hà Nội.

– Địa bàn Yên Thế là vùng cây cối rậm rạp, khí hậu khắc nghiệt, rất bất lợi đối với kẻ địch nhưng lại thuận lợi cho cách đánh du kích của nghĩa quân.

5. Em hãy nhận xét về thành phần lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Yên Thế?

Trả lời

– Khác với các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương, phong trào chống Pháp ở Yên Thế không phải do một số người hoặc một cá nhân văn thân, sĩ phu phát động, tập hợp mà là một loạt các cuộc khởi nghĩa nhỏ lẻ do nhiều thủ lĩnh địa phương cầm đầu.

– Những người này đều xuất phát từ nông dân địa phương, ít chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, không có sự gắn bó chặt chẽ với khẩu hiệu Cần vương, mong muốn xây dựng một cuộc sống bình quân, bình đẳng sơ khai về kinh tế và xã hội, một biểu hiện của tính tự phát về mặt tư tưởng của nông dân.

6. Em hãy giới thiệu đôi nét tiểu sử của Hoàng Hoa Thám?

Trả lời

– Hoàng Hoa Thám (Đề Thám), người làng Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ông sinh khoảng năm 1846, trong một gia đình nhà nho nghèo họ Trương. Khi phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân Yên Thế bùng nổ, ông đã tham gia nghĩa quân của Lương Văn Nắm (Đề Nắm). Khi Đề Nắm chết, ông đứng ra lãnh đạo phong trào.

– Hoàng Hoa Thám có vóc người vạm vỡ, tóc thường cắt ngắn, mắt một mí, nói năng nhỏ nhẹ, sống kín đáo, giản dị. Nhưng sự can đảm, lòng kiên trì và tài năng chiến trận của ông đã khiến cho kẻ thù nhiều phen khiếp đảm. Chúng đã phải thừa nhận rằng : “Đề Thám rất can đảm, ưa hành động, bản năng chiến trận của ông thật kì diệu….Ông ta có những tài năng lớn của một chiến binh. Sẽ là hèn hạ nếu không công nhận điều đó.”

– Dựa vào vùng rừng núi hiểm trở, vận dụng linh hoạt chiến thuật đánh du kích, Đề Thám đã lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu chống thực dân Pháp trong suốt 30 năm, gây cho chúng nhiều phen khốn đốn và tổn thất nặng nề.

7. Em hãy nêu tóm tắt diễn biến giai đoạn 1 của cuộc khởi nghĩa Yên Thế?

Trả lời

Trong giai đoạn đầu (1884-1892), nghĩa quân hoạt động riêng lẻ ở Yên Thế, chưa có sự phối hợp và chỉ huy thống nhất. Thủ lĩnh có uy tín nhất lúc đó là Đề Nắm. Sau khi Đề Nắm mất (Tháng 4 – 1892), Đề Thám (Hoàng Hoa Thám) trở thành vị chỉ huy tối cao của phong trào.

8. Em hãy nêu tóm tắt diễn biến giai đoạn 2 của cuộc khởi nghĩa Yên Thế?

Trả lời

Trong giai đoạn hai (1893-1908), đây là thời kì nghĩa quân vừa chiến đấu, vừa xây dựng cơ sở dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hoàng Hoa Thám. Nghĩa quân có những trận đánh tiêu biểu. Nghĩa quân đã hai lần đình chiến với Pháp, tranh thủ thời gian hòa hoãn để xây dựng lại căn cứ và mở rộng phạm vi ra vùng Bắc Ninh, Bắc Giang. Nghĩa quân đã xây dựng căn cứ Phồn Xương vững mạnh, vừa sản xuất, vừa tăng cường, sắm sửa vũ khí, luyện tập võ nghệ, lập thêm một số đồn mới (Tú Nghệ).

9. Vì sao Đề Thám phải hai lần đề nghị giảng hòa và được thực dân Pháp chấp nhận?

Trả lời

– Do tương quan lực lượng quá chênh lệch. Đề Thám phải tìm cách giảng hòa với quân Pháp.

– Pháp chấp nhận thương lượng và giảng hòa để chuộc lại tên Sét-nay và để tạo những điều kiện thuận lợi cho việc khai thác và bóc lột.

– Nghĩa quân Yên Tế giảng hòa để tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng, tích trữ lương thảo, xây dựng đội quân tinh nhuệ để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài.

10. Em hãy nên tóm tắt diễn biến giai đoạn 3 của cuộc khởi nghĩa Yên Thế?

Trả lời

– Trong giai đoạn 3, từ năm 1909 đến năm 1913, sau vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội, phát hiện có sự dính líu của Đề Thám, quân Pháp tập trung lực lượng tấn công căn cứ Yên Thế. Nghĩa quân vừa chống đỡ, vừa di chuyển dần lực lượng sang các vùng lân cận để duy trì cuộc chiến đấu chống Pháp.

– Trải qua nhiều trận càn quét liên tiếp của địch, lực lượng nghĩa quân hao mòn dần. Đến ngày 10-2-1913, khi thủ lĩnh Đề Thám bị sát hại, phong trào tan rã.

11. Chiến thuật chủ yếu của nghĩa quân Yên Thế là gì?

Trả lời

– Phương thức tác chiến của nghĩa quân là đánh du kích, lấy ít đánh nhiều. Nghĩa quân thường đánh những trận nhỏ, dựa vào địa hình hiểm trở và công sự dã chiến để đánh gần, đánh nhanh rồi rút nhanh.

– Nghĩa quân Yên Thế xuất sắc trong cách đánh du kích và đánh trong rừng, hiểu biết một cách kì lạ mọi thuận lợi của địa hình để vận dụng trong chiến đấu.

– Nhờ chiến thuật đánh du kích mà nghĩa quân Yên Thế đã có thể duy trì được cuộc chiến đấu trong gần 30 năm ròng rã.

12. Khởi nghĩa nông dân Yên Thế có đặc điểm gì khác so với các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần vương?

Trả lời

– Đây là cuộc khởi nghĩa lớn nhất, quyết liệt nhất, có thời gian kéo dài nhất, tồn tại dai dẳng suốt 30 năm, gây cho địch nhiều tổn thất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta đến những năm đầu thế kỉ XX.

– Mục tiêu chiến đấu không phải là để khôi phục chế độ phong kiến, bảo vệ ngôi vua như các cuộc khởi nghĩa Cần vương mà là phong trào đấu tranh tự phát của nông dân để bảo vệ quyền lợi thiết thân, giữ đất, giữ làng.

– Lãnh tụ Hoàng Hoa Thám có những phẩm chất đặc biệt: căm thù đế quốc, phong kiến, mưu trí, dũng cảm, sáng tạo, trung thành với quyền lợi của những người cùng cảnh ngộ, hết sức thương yêu nghĩa quân.

– Nghĩa quân đều là những nông dân cần cù, chất phác, yêu cuộc sống tự do nhưng chiến đấu rất quyết liệt, buộc kẻ thù phải hai lần giảng hòa và nhượng bộ một số điều kiện có lợi cho ta.

– Nổ ra ở vùng trung du, có lối đánh linh hoạt, cơ động.

13. Trình bày đặc điểm của phong trào chống Pháp của nhân dân địa phương cuối thế kỉ XIX?

Trả lời

– Phong trào bùng nổ theo vết dầu loang (theo tiến trình bình định trung du và miền núi của thực dân Pháp).

– Phong trào không bị chi phối bởi khẩu hiệu Cần vương (giúp vua) mà xuất phát từ lòng yêu nước, yêu quê hương, chiến đấu để bảo vệ cuộc sống tự do.

– Phong trào nổ ra ở nhiều nơi : Tây Nam, Tây Nguyên, Tây Bắc, Việt Bắc, Đông Bắc, hình thức phong phú, được đông đảo bà con các dân tộc thiểu số tham gia.

– Tuy phong trào đấu tranh diễn ra rầm rộ, sôi nổi nhưng cuối cùng vẫn thất bại do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về tổ chức lãnh đạo, bế tắc đường lối.

15. Vì sao khởi nghĩa Yên Thế tồn tại lâu hơn bất cứ cuộc khởi nghĩa nào trong phong trào Cần vương?

Trả lời

Cuộc khởi nghĩa Yên Thế tồn tại lâu hơn bất cứ cuộc khởi nghĩa nào trong phong trào Cần vương vì:

– Cuộc khởi nghĩa đã tập hợp được lực lượng đông đảo là nông dân, trên một địa bàn rộng lớn.

– Cuộc khởi nghĩa đặt dưới sự lãnh đạo của một thủ lĩnh độc đáo, mưu trí, dũng cảm, trung thành, tận tụy với nguyện vọng của nhân dân, đồng cam cộng khổ, thương yêu đùm bọc nghĩa quân, có cuộc sống giản dị hòa mình với quần chúng.

– Cuộc khởi nghĩa dựa vào địa hình hiểm trở và biết tận dụng thế mạnh của mình tại vùng rừng núi, sử dụng chiến thuật đúng đắn, linh hoạt.

16. Nguyên nhân thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Thế?

Trả lời

Sự thất bại của khởi nghĩa Yên Thế cũng do những nguyên nhân chung của phong trào vũ trang chống Pháp cuối thế kỉ XIX và một số nguyên nhân riêng. Đó là:

– Bó hẹp trong một địa phương, bị cô lập.

– So sánh lực lượng chênh lệch, lại bị thực dân Pháp và phong kiến câu kết đàn áp.

– Sự thất bại của phong trào Yên Thế càng chứng tỏ rằng sức mạnh to lớn của phong trào nông dân bị hạn chế vì chưa có sự lãnh đạo của giai cấp tiên tiến.

17. Cuộc khởi nghĩa Yên Thế có ý nghĩa lịch sử như thế nào?

Trả lời

Mặc dù thất bại song phong trào nông dân Yên Thế vẫn có ý nghĩa vô cùng to lớn:

– Nó tiêu biểu cho tinh thần quật khởi của nông dân Việt Nam.

– Có tác dụng làm chậm quá trình xâm lược, bình định vùng trung du và miền núi phía bắc của thực dân Pháp.

Dấu Hiệu Điển Hình Cảnh Báo Trẻ Chậm Nói

Trẻ Chậm Nói: Cách Dạy Và Điều Trị Từ Chuyên Gia Âm Ngữ

Vì Sao Chúng Ta Nên Ăn Chay?

Vì Sao Mona Lisa Trở Thành Bức Họa Nổi Tiếng Nhất Thế Giới?

Giải Mã Nguyên Nhân Khiến Mắt Ngứa

28. Vài Nét Về Phật Giáo Ở Châu Á Và Châu Âu Trong Thế Kỷ Xx

Bài 1: Nhận Thức Cơ Bản Về Phật Giáo

Hiểu Những Điều Căn Bản Về Đạo Phật Trong 5 Phút Vấn Đáp

5 Vị Chức Sắc Phật Giáo Trúng Cử Đại Biểu Quốc Hội

Tìm Hiểu Về Phẩm Vị Chức Sắc Trong Đạo Cao Đài

Hoàn Cảnh Ra Đời Của Đạo Phật

Phật giáo không còn nằm ở phương Đông nữa. Theo quy luật tiến hóa, giao lưu dần dần Phật giáo đã chuyển đến phương Tây. Phương Tây với những điều kiện xã hội, kinh tế và khoa học tiên tiến nhất trên thế giới sẽ có thể trở thành đầu tàu cho sự chấn hưng của đạo Phật trong thiên niên kỷ mới.

Mồng 8 tháng chạp nữa lại đến, thiêng liêng rộn rã trong niềm hân hoan của những người con Phật, chào đón ngày kỷ niệm Đức Bổn Sư Thích-ca thành đạo, đặc biệt năm nay Hòa Thượng Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung Ương, cùng chư vị Tôn Túc, Thượng Toạ, Đại Đức tăng ni, quý Phật tử Việt Nam đã từ Việt Nam đáp máy bay sang Bồ-đề Đạo Tràng- Ấn Độ, các tăng ni sinh đang du học tại Ấn Độ từ thủ đô Delhi, các thành phố lớn Chandigarh, Varanasi…cũng vân tập tại Bồ-đề Đạo Tràng để cùng tổ chức đại lễ tôn nghiêm nơi chính cội cây Bồ-đề mà Đức Phật đã giác ngộ.

Hầu như tất cả mọi người con Phật chúng ta đều biết chính Hoàng đế A-dục là người đầu tiên đã gởi thông điệp của Đức Thích-ca-mâu-ni Phật vượt ra ngoài biên giới Ấn Độ 3 thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt niết bàn. Từ đó Phật giáo trải qua những biến đổi thăng trầm.

Tại Ấn Độ, quê hương của Đức Phật, Phật giáo đã bị lãng quên trong 800 năm. Ngay cả vùng núi Himalaya nơi Phật giáo đã thịnh hành trong nhiều thế kỷ đã bị suy tàn vì sự nghèo nàn và tình trạng bất ổn. Trường phái Nguyên thủy Phật giáo bị mờ nhạt dần khỏi miền đất này, trong khi trường phái Đại thừa lại được hưng thịnh.

Do hai cuộc chiến tranh thế giới trong suốt thế kỷ vừa qua, cộng với những cuộc khủng hoảng chính trị, các nước như Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam, Lào, Cam Bốt và Miến Điện đã không thể thực hiện tiến trình truyền bá Phật giáo, nhưng quần chúng ở tại các quốc gia này vẫn duy trì Phật giáo với lòng tận tụy. Một số những người quy y theo Phật giáo cũng dần dần gia tăng đáng kể. Một sự kiện đáng kể nữa là việc phát sanh hàng trăm tông phái Phật giáo mới từ trường phái đại thừa Phật giáo. Tại Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan, Trung Quốc, Tây Tạng, các tông phái mới này đã trở thành những tổ chức tôn giáo lớn, nhưng dường như có một cuộc cạnh tranh giành ảnh hưởng đối với tín đồ. Tuy nhiên, điều này là một dấu hiệu tốt của sự kế thừa trong suốt thế kỷ qua.

Ở Nhật Bản, trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, Phật giáo được sự bảo trợ của hoàng gia, nhưng sau chiến tranh và với sự cải tổ quản trị hành chánh mới đã tách Phật giáo ra khỏi chính phủ và mỗi bên có chức năng độc lập riêng.

Suốt thế kỷ vừa qua tại châu Á, các nước như Tích Lan, Bhutan và Miến Điện đã có được sự bảo trợ của chính phủ trong việc truyền bá và duy trì Phật pháp, Phật giáo đã được coi trọng trong hiến pháp của các quốc gia đó.

Trong thế kỷ 20, phương pháp thiền Phật giáo trở nên phổ biến và số người tu tập ngày càng gia tăng. Thiền như là một tinh hoa của Phật giáo phương Đông. Đây là một phương pháp rất bổ ích và phổ biến cả trong đạo lẫn ngoài đời, đã mang đến một tinh thần trong sáng, định tĩnh và một thân thể khỏe mạnh đầy sức sống cho mọi con người thực tập thiền. Phải nói đây là một phương pháp sống hữu hiệu cho tất cả, bất luận là người phương Đông hay Tây, là tôn giáo hay không tôn giáo.

Hai quốc gia chủ yếu theo Phật giáo đại thừa là Nhật Bản và Đại Hàn đã thực hiện một sự đóng góp lớn lao trong việc khởi xướng “Phật giáo quốc tế” bằng việc cúng dường tịnh tài cho Ấn Độ để phục hồi và phát triển những thánh tích Phật giáo như : Bồ-đề Đạo Tràng (Bodhgaya), Lộc Uyển (Sarnath), Câu-thi-na (Kushinagar), Na-lan-đà, núi Linh Thứu (Rajgir), Tỳ-xá-ly (Vaishali) Na-lan-đà (Nalanda) và Xá-vệ (Sravasthi). Họ cũng đã đóng góp to lớn việc xây dựng để xây cất các tự viện lớn và sửa sang những con đường dẫn đến các thánh tích chính. Về phía Việt Nam, có Hòa Thượng Huyền Vi, Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Linh Sơn Thế Giới, đã xây chùa Việt Nam tại Lumbini và Kushinagar; Thượng Tọa Như Điển, viện chủ Chùa Viên Giác, Đức Quốc, đang xây Trung Tâm Tu học Viên Giác tại Bồ-đề Đạo Tràng. Đặc biệt nhất là Thượng Tọa Huyền Diệu người đầu tiên đã xây hai ngôi chùa Việt Nam tại Bồ-đề Đạo Tràng và Lumbini, và cũng như cũng đã đóng góp vào việc xây dựng một chiếc cầu tại Lumbini cho dân làng ở hai bên kênh sông có phương tiện qua lại dễ dàng.

Trong các quốc gia như Singapo, Đài Loan, Tích Lan và Hồng Kông cũng tiến hành công cuộc chấn hưng Phật giáo trong cũng như ngoài nước. Đã xuất bản hàng ngàn bản kinh ấn tống cho giới phật giáo trong và ngoài nước một cách rộng rãi, trong đó phải kể đến như The Corporate Body of the Buddha Educational Foundation, Taipei…

Ở châu Á, trong số các quốc gia mà Hồi giáo có ảnh hưởng lớn như Malaysia và Indonesia thì Phật giáo cũng được phát triển do phật tử từ Tích Lan và Trung Quốc đến xây dựng nhiều tự viện và duy trì Phật giáo suốt thế kỷ vừa qua. Nhưng không có một sự cải thiện Phật giáo ở các nước như là Pakistan và Afganistan nơi mà một số lớn pháp bảo của Phật giáo đã được khai quật khảo cổ. Trong quần đảo Malpes không một ai có thể và được phép xây cất chùa chiền bởi vì sự quản lý chặt chẻ của Hồi giáo.

Nepal, (Lumbini, nơi đản sanh thái tử Tất-đạt-đa) là một quốc gia có hiến pháp tôn trọng Ấn giáo nhưng cộng đồng Phật giáo cũng được phát triển một cách độc lập mạnh mẽ.

Trung Quốc là một quốc gia có truyền thống đại thừa Phật giáo, sau cuộc cách mạng ở thế kỷ qua đã khiến Phật giáo và nhà nước tách biệt. Theo hiến pháp, mội người có quyền không theo tôn giáo nào cả. Nhưng trong suốt ba thập kỷ vừa qua của thế kỷ XX người dân đã biến Phật giáo thành một “tôn giáo bản địa” (chớ không coi là ngoại lai từ Ấn Độ).

Cũng chính trong suốt thế kỷ XX này, các tổ chức Phật giáo mạnh mẽ đại diện cho thế giới như là Hội nghị Tăng già Thế giới ( World Sangha Council), Hội nghị Phật giáo Thế giới ( World Buddhist Conference), Tổ chức Phật giáo Thế giới ( World Buddhist Organization), Hội Tăng già Phật giáo Thế giới ( International Buddhist Brotherhood), Hội nghị Phật giáo Châu Á ( Asian Buddhist Conference), và Hội đồng Tăng già Quốc Tế ( International Sangha Council). Những tổ chức này đã đấu tranh cho quyền lợi của cộng đồng Phật giáo trên khắp thế giới.

Một sự kiện đáng chú ý khác nữa trong thế kỷ qua là việc trân trọng trụ đá hình sư tử của vua A Dục ở Sarnath làm quốc huy của đất nước Ấn Độ, và trên quốc kỳ của Ấn Độ có biểu tượng Chuyển Pháp Luân ở Sarnath.

Tuy nhiên, có người đã cho rằng nếu mà người dân châu Á đã không bị hai cuộc chiến tranh thế giới và cuộc khủng hoảng chính trị suốt thế kỷ qua thì có lẽ Phật giáo sẽ hưng thịnh như thời đại hoàng kim của vua A Dục, phải không? Có lẽ cũng phải, nhưng thực tế mỗi quốc gia mỗi khác, nhìn chung tất cả đang cùng khắc phục những hoàn cảnh khó khăn riêng của từng nước mình và sự nhận thức về Đức Phật và Phật giáo trong quần chúng nhân dân và giới trí thức châu Á đã được gia tăng và có “sự tiến triển phía trước” (forward march) trong việc truyền bá Phật giáo và phát triển cộng đồng Phật giáo ở châu Á trong suốt thế kỷ qua.

Đó là đôi nét về Phật giáo ở Châu Á.Giờ xin phép được giới thiệu tiếp “Vài nét về Phật giáo phương Tây trong thế kỷ XX.”

Như chúng ta đã biết nhờ vào những tiến bộ không ngừng của kỹ thuật truyền thông và vận chuyển, sự giao lưu văn hóa giữa Đông và Tây đã trở thành mỗi ngày một thêm phong phú và mau lẹ. Đó là hiện tượng toàn cầu hóa ( mondialisation) của thế giới về các mặt văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội. Phật giáo cũng thế, lần đầu tiên khi truyền đạt đến phương Tây đã đối mặt với khoa học kỹ thuật là tinh hoa của nền văn minh phương tây, phát xuất từ nền văn minh cổ Hy Lạp; đã đối mặt với khoa học tâm thần, tôn giáo thần khải (Ky-tô Giáo); với nền văn minh vật chất cực thịnh, với kinh tế thị trường, chủ nghĩa tư bản, khuynh hướng tiêu thụ và hưởng thụ đang tràn lan.

Tuy nhiên, thử thách lớn nhất của Phật giáo không phải là khoa học, bởi vì nếu tìm hiểu suy nghĩ về những lời căn bản của Đức Phật dạy, ta thấy đầy đặc tính duy lý và tính khách quan của khoa học; cũng không phải đạo Phật đối mặt với tôn giáo thần quyền, vì xã hội ngày nay đang đi đến chiều hướng mất thiêng liêng ( desacralisation), những gì lỗi thời sẽ bị lùi dần và tan biến trong lịch sử. Cái thử thách lớn nhất của Phật giáo khi đến phương Tây là nền văn minh vật chất đang lan tràn.

Quan niệm hạnh phúc của phương Tây được thiết lập trên cơ sở ảo giác của đầy đủ về vật chất và tiền bạc; và những điều này chi phối toàn bộ đời sống con người. Thế nhưng, Eric Fromm- nhà tâm lý học xã hội Mỹ thật sự có lý khi nhận định rằng:

“Tuy có sự tăng trưởng sản xuất và tiện nghi, con người ngày càng đánh mất ý thức về bản thân, cảm thấy cuộc sống của mình ngày càng vô nghĩa, mặc dù cái cảm giác đó phần lớn không được biết đến.”6

Đúng vậy! Họ đang trở thành những người trống trải trong đời sống tâm linh đến nỗi họ phải than rằng: “Trong thế kỷ XX, vấn đề là con người đã chết.”7Vì vậy, họ bắt đầu đi tìm một lối thoát trong ngõ cụt đó bằng cách hướng về các truyền thống tâm linh của phương Đông mà cụ thể là giáo lý của Đức Phật.

Quay về nguồn cội lịch sử Phật giáo du nhập phương Tây trong thế kỷ XX như thế nào? Trước tiên chúng ta phải nói đến sự truyền bá Phật giáo qua phương tiện văn chương sách vở.

Nói đến tác phẩm sớm nhất viết về Phật giáo trong thế kỷ XX này là phải nói đến tác phẩm ” Eastern Monachism” của Spence Hardy được xuất bản ở Anh vào ngày 1-5-1850.

Công việc phiên dịch những kinh điển của Đức Phật sang các ngôn ngữ châu Âu bắt đầu bởi Ông Burnout và xuất bản tác phẩm ” Manual ofBuddhism” của Hardy vào năm 1860 đã gây cảm hứng cho Fausboll bắt đầu sự nghiệp phiên dịch kinh điển từ nguồn Pali.

Chẳng bao lâu sau tác phẩm nổi tiếng ” The Light of Asia” của Edwin Arnold ra đời năm 1879, Max Muller đã bắt đầu với dịch phẩm đồ sộ của mình là ” Sacred books of the East”(Thánh điển Phương Đông). Đây là bộ sách bán chạy nhất trong tất cả các sách Phật giáo ở phương Tây. Những bài thơ dựa trên ” Lalita Vistara” là một tác phẩm thuộc Bắc Phạn (Sanskrit) mà có lẽ được biên soạn vào thế kỷ thứ V. Đó là sự chỉ dấu đầu tiên đến hàng triệu học giả phương Tây về sự hiện hữu của một tôn giáo mà Edwin Arnold đã nói ” hơn một phần ba nhân lọai đã mang ơn tư tưởng và đạo đức Phật giáo.”

Cùng thời điểm đó sách Phật giáo đã đánh thức sự quan tâm Phật giáo ở người phương Tây. Một trong những cuốn sách đã bán rộng khắp các nước phương Tây kể cả châu Mỹ là cuốn ” The Light of Asia.”8

Vào năm 1880, Rockhill, Oldenberg, Samuel Beal, Childers và một vài người nữa đã cùng nhau trình bày sự cần thiết về hệ thống hóa các kinh điển Pali trước thế giới phương Tây; vì vậy Hội Kinh Điển Pali ( Pali TextSociety) được thành lập năm 1881. Đó là một sự sáng tạo có giá trị bất hủ của học giả Phật giáo nổi tiếng là Ông T.W. Rhys Davids và sau đó là vợ ông đã được cử làm chủ tịch của Hội Pali Text Society từ khi chồng bà mất vào năm 1923.

Thật ra trong số những người phương Tây, thì người Đức là người đầu tiên đã nghe về Đức Phật cao quý tối thượng có thể từ các nhà Thần học, mà các nhà Thần học này đã đọc các tác phẩm của Thánh Hieronymus, một trong các Cha của giáo hội Thiên Chúa đã mô tả về sự đản sanh kỳ diệu của Đức Phật. Nhưng về giáo lý của Đức Phật dường như không ai biết tí nào cả trong suốt thời trung cổ. Mãi cho tới thế kỷ XVII, các nhà triết học người Đức mới biết về Phật giáo. Chính Wilhelm Leibniz Gottfried (1644-1716) đã chọn vài điểm tinh hoa của giáo lý Phật giáo Trung Hoa rồi biên sọan thành những tác phẩm của mình.

Ở Đức, lãnh vực rộng lớn của tri thức Phật giáo là nguồn cảm hứng cho những tác phẩm của Immanuel Kant (1724-1804) nhưng chính Arthur Schopenhaver trong tác phẩm của mình đã giới thiệu một cách chi tiết về Phật giáo như là trí tuệ của người Ấn.9

Giai đoạn chói sáng nhất của Phật giáo ở phương Tây bắt đầu vào năm 1893 khi mà Hội Nghị Tôn giáo thế giới ( The World Parliament of Religions) được tổ chức ở Chicago, Hoa Kỳ.

Ngài Anagarika Dharmapala là người sáng lập ra Hội Đại Bồ-đề ở Ấn Độ vào tháng 5 năm 1891, và đã đại diện cho cộng đồng Phật giáo thế giới. Lần đầu tiên, hầu hết tất cả các đại biểu của các quốc gia phương Tây đã nghe ngài Anagarika Dharmapala đã nói về Đức Phật và giáo pháp cao thượng của Đức Phật. Bài thuyết trình của ngài diễn ra tại Hội Nghị Phật giáo thế giới với đề tài: “Thế giới đã mang ơn Đức Phật” ( The world Debt to the Buddha) đã gây ấn tượng sâu sắc đến các đại biểu tôn giáo thế giới.

Những tác phẩm viết về Đức Phật và Phật giáo ở Anh, Mỹ và Đức trong những giai đọan đầu hầu hết là những người truyền giáo Thiên Chúa. Vào thời buổi đầu, những nhà phương Tây đã thu thập kiến thức về Phật giáo chỉ qua sách vở và văn chương, và lần đầu tiên họ mới chính tai nghe được những pháp thọai nổi tiếng đầu tiên về Phật giáo do ngài Anagarika Dharmapala giảng tại Hội Nghị Tôn giáo thế giới, Chicago.

Sau Hội nghị này, ngài Anagarika Dharmapala được mời thuyết gỉang Phật pháp tại Tòa Thị Sảnh (Town Hall), New York và trong pháp thoại đó, ngài đã trình bày như sau:

“Thông điệp của Đức Phật đem tới cho chúng ta sự giải thoát khỏi thần học, nghi lễ, nghi thức, giáo điều, thiên đàng, địa ngục và các nguyên tắc lỗi thời của thần học. Đức Phật đã dạy cho dân tộc Aryans của Ấn Độ cách đây 25 thế kỷ một tôn giáo khoa học chứa đựng nền đạo đức vị tha vô ngã cao nhất, một triết lý sống xây dựng trên nhân sinh quan và vũ trụ quan hòa hợp với địa lý thiên văn, thuyết điện tử và thuyết tương đối.”

Ông bà Rhys Davids đã đóng một vai trò hướng đạo quan trọng trong việc truyền bá Phật giáo ở phương Tây, trong khi ” The Light of Asian” của Adwin Arnold thì đóng vai trò đã thúc đẩy sự hiểu biết giáo pháp và đời sống của Đức Phật.

Thế kỷ XX bắt đầu với một sự kiện quan trọng trong thế giới phương Tây là ông Charles Henry Allan Bennett (sanh tại Luân Đôn) đã có kiến thức uyên bác về Phật giáo qua việc đọc các bản dịch kinh điển, và đã xuất gia trở thành tỳ-kheo với pháp danh là Ananda Metteya.

Từ đầu thế kỷ XX, Phật giáo đã đánh thức sự quan tâm đáng kể ở phương Tây với những nền tảng như trên và có nhiều người đã tiếp thu những quan điểm của các hiệp hội phương Tây hoặc của Phật giáo hoặc của những người có tình cảm với Phật giáo. Điều này có lẽ được minh họa nhiều nhất từ lời phát biểu của nhà đại khoa học Albert Einstein ở thế kỷ XX rằng mặc dù ông không phải là một người theo tôn giáo, nhưng nếu là người có tín ngưỡng thì ông sẽ chọn là một phật tử.

Phật giáo đã chiếm một vị trí nào đó trong tâm tư của quần chúng và trong nhiều nước, đạo phật đã trở thành một tôn giáo thứ ba sau Ky Tô giáo và Hồi giáo.

Một trong những đặc điểm đầu tiên có thể được đánh giá cao là Phật giáo không bị hạn cuộc bởi văn hóa ( culture-bound), nói như vậy có nghĩa là Phật giáo có thể hòa đồng mà không bị giới hạn bởi bất kỳ xã hội hoặc nhóm chủng tộc nào, trong khi đó có vài tôn giáo khác thì bị hạn cuộc vào văn hóa, chẳng hạn như Do Thái Giáo, Ấn Giáo…

Suốt thế kỷ XX, Phật giáo đã dễ dàng du nhập vào các nước phương Tây từ nền văn hóa này đến nền văn hóa khác, bởi vì trọng tâm của Phật giáo là nhấn mạnh trong sự tu tập nội tâm hơn là các hình thức lễ nghi tôn giáo bên ngoài. Cũng giống như các truyền thống Phật giáo của các nước như Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng, Việt Nam, trong suốt các thế kỷ vừa qua, Phật giáo ở các nước phương Tây như Anh, Pháp, Ý, Mỹ đã được nổi dậy và phát triển. Phật giáo đã trở nên phổ biến ở phương Tây vì các yếu tố như tính thiết thực của Đạo Phật (phương pháp tu tập), cách ứng xử đối với các vấn đề thực tiển và không quan tâm đến các vấn đề học thuật cũng như lý thuyết siêu hình.

Cô Nathalie Verburgh, người Bỉ, hiện là sinh viên của viện Phật giáo quốc tế Karmapa tại New Delhi trong buổi chuyện trò với Jigme Rinpoche đã hỏi ngài nhìn thấy Phật giáo phát triển ở phương Tây như thế nào? Và ngài Rinpoche đã trả lời :

Và phương pháp để giúp người phương Tây đạt được sự trong sáng, chánh niệm trước lối sống vật chất đó thì không gì khác hơn là thiền định. Thiền định Phật giáo đã là một đề tài thu hút người phương Tây suốt thế kỷ vừa qua.

Ngoài ra với khuynh hướng “Thế tục hóa tâm linh,” cho nên đa phần đạo Phật ở phương Tây chủ yếu đạo của những người cư sĩ. Những vị phật tử tại gia này vẫn tiếp tục sống đời sống với gia đình, với xã hội nhưng tuân theo lời Phật dạy. Trong khi áp dụng đạo Phật vào xã hội phương Tây với những đặc điểm đặc thù của nó, người phật tử phương Tây bắt buộc phải sáng tạo, khế cơ, tìm ra những giải pháp thích hợp cho các vấn đề của thời đại, và hợp theo tinh thần của đạo Phật. Đối với họ đó là một vấn đề tự nhiên và tất nhiên, bởi vì không thể nào tránh khỏi đổi thay và chọn lựa, trong khi áp dụng một giáo lý cổ xưa, thuộc vào một nền văn minh xa lạ. Đó là nguồn sinh khí mới mà đạo Phật phương Tây mang lại cho Phật giáo thế giới là một cái nhìn mới về đạo Phật, và những kinh nghiệm mới, trong khi áp dụng đạo Phật vào cuộc sống mới.

Ở Châu Âu và Châu Mỹ, nói chung Phật giáo được tin tưởng bằng niềm tin ( saddha) với chánh kiến hơn là sự sùng tín ( bhakti) vào những vị thần linh đầy những phép mầu cứu vớt họ. Thêm vào đó, nhờ sống quen trong tinh thần khoa học, nên họ nghiên cứu Phật giáo cũng với tinh thần rất khoa học, phê phán và luôn luôn sẵn sàng đặt lại vấn đề.

Phật học cũng trở thành một ngành chuyên môn được giảng dạy trong các trường đại học lớn trên thế giới, và đã có nhiều công trình nghiên cứu phật học nghiêm chỉnh và có giá trị xuất phát từ đây.

Nhà sử học văn minh Arnold Toynbee đã nói rằng: ” Sự kiện có ý nghĩa nhất của thế kỷ XX này là sự gặp gỡ giữa đạo Phật và phương Tây.”

Sự nhận định đó đã được chứng minh một cách hùng hồn bởi sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo tại các nước Âu, Mỹ, và Úc Châu trong mấy thập niên vừa qua. Hàng ngàn tự viện, hiệp hội, đoàn thể, tổ chức đã hình thành tại phương Tây. Điều này xuất phát từ hai lý do chính: một là tính phổ biến của Phật giáo, hai là sự hiện diện của nhiều giới xuất gia và tại gia thuộc trường phái đại thừa đến từ các nước như Đại Hàn, Lào, Việt Nam, Miến Điện, Tây Tạng và Cam Bốt…Hoặc tạm cư hoặc định cư, các vị này cũng đã tổ chức các khóa tu học Phật, khóa thiền, khóa nhập thất ngắn ngày… Với những không khí đầy sinh động đó, khiến cho giới Phật tử theo tu tập ngày càng đông. Ngoài ra, họ còn cho in ấn kinh sách Phật, các lời dạy của các vị Lama tu chứng, các thiền sư, pháp sư nổi tiếng trên thế giới để phổ biến giáo lý Phật. Đặc biệt cuối thế kỷ XX và từ đầu thế kỷ XXI trở đi này với những phương tiện truyền thông điện tử dồi dào, qua các phương tiện viễn thông trên mạng internet hay website…họ đã đóng góp một phần rất lớn, nếu không nói là hàng đầu trên thế giới trong việc truyền bá Phật giáo đến với mọi người trên thế giới rất nhanh chóng mà có năng suất hiệu quả cao.

Tất cả điều này đã chứng tỏ rằng người phương Tây đã rất quan tâm đến Phật giáo.

Hội nghị truyền bá Phật giáo đầu tiên tổ chức tại Kyoto vào tháng 4/1998 đã quyết định truyền bá Phật giáo vào phương Tây trong kế họach của thế kỷ XXI này.

Như vậy Phật giáo không còn nằm ở phương Đông nữa, mà theo quy luật tiến hóa giao lưu dần dần chuyển đến phương Tây. Đạo Phật phương Tây sẽ là đầu tàu cho sự chấn hưng của đạo Phật với những điều kiện xã hội, kinh tế và khoa học tiên tiến nhất trên thế giới.

“Sự gặp gỡ giữa đạo Phật và phương Tây trong thế kỷ 20 là một điều bổ ích, không riêng cho phương Tây mà cho cả thế giới nữa. Đây là một dịp may lớn đối với đạo Phật, sẽ mang lại cho đạo Phật một nguồn sinh khí cần thiết. Đó có thể là một cuộc chuyển pháp luân mới.”

Christmas Humphreys, The Development of Buddhism in England. London: The Buddhist Lodge, 1937. Glasenapp, Helmuth Von,The Influence of Buddhist Philosophy in East and West.

Sautina, Peter Della, Fundamentals of Buddhism. 1997.

Machinery, Arthur, Mahayana Buddhism in the West,1993.

International Buddhist Conference , Delhi, 1992. , vol. 65, May 1957. The Maha Bodhi Journal Maha Bodhi Centenary Volume, ed. Upali Rupasinghe, Mahabodhi of India, chúng tôi Maha Bodhi, March 1895. Báo cáo Tổng Kết công tác Phật Sự năm 1999 của GHPGVN ngày 3-1-2000. số 30 ngày 24-8-2000 và Báo Giác Ngộ Nguyệt San Giác Ngộsố 10, tháng 1-1997.

Trong “Một cuộc chuyển pháp luân mới”, Báo Giác Ngộ số 30, 24-8-2000 trang 3, 6 và 7.

Tìm Hiểu Nét Văn Hóa Phật Giáo Thái Lan

Tìm Hiểu Về Tôn Giáo Ở Hồng Kông

Phật Giáo Có Mối Liên Hệ Với Bà La Môn Giáo Và Ấn Độ Giáo Hay Không?

Tìm Hiểu Phật Giáo Nguyên Thủy

Về Giáo Lý Của Phật Giáo Nguyên Thủy

🌟 Home
🌟 Top