Mạng Máy Tính Là Gì? Lợi Ích? Vì Sao Cần Mạng Máy Tính

--- Bài mới hơn ---

  • Nốt Ruồi Hình Thành Thế Nào?
  • Tại Sao Lại Có Nốt Ruồi?
  • Tại Sao Dưa Chuột Đôi Khi Lại Bị Đắng? Cách Khắc Phục Khi Dưa Chuột Bị Đắng
  • Lý Do Dưa Chuột Bị Đắng Và Cách Trồng Dưa Leo Không Bị Đắng
  • Vì Sao Da Mặt Bị Vàng Thưa Bác Sĩ
  • Mạng máy tính là một hệ thống gồm nhiều máy tính và các thiết bị được kết nối với nhau bởi đường truyền vật lý theo một kiến trúc (Network Architecture) nào đó nhằm thu thập, trao đổi dữ liệu và chia sẽ tài nguyên cho nhiều người sử dụng.

    -Các máy tính, máy chủ Server, tường lửa, các switch, máy in…

    -Các thiết bị, linh kiện, dây mạng,… kết nối cả hệ thống lại với nhau;

    -Phần mềm cho phép thực hiện việc trao đổi thông tin giữa các máy tính.

    Dù bạn là ai? thì bạn cũng phải Sử dụng mạng máy tính để tìm kiếm những thông tin khi cần thiết, vì vậy rủi ro Virus kèm theo trong các file tài liệu khi chúng ta tải xuống máy tính là điều khó tránh khỏi.

    Vậy bạn có biết Cách ngăn chặn virus tấn công vào máy tính của mình hay không?

    Để trả lời được câu hỏi này bạn cần phải hiểu Virus là gì?

    Virus máy tính là một chương trình phần mềm nhỏ phát tán vào máy tính của bạn, chúng có thể phá hỏng hoặc xóa dữ liệu trên máy tính, sử dụng một chương trình email để phát tán virus tới các máy tính khác hoặc thậm chí là xóa mọi thứ trên ổ cứng. Có những Virus nó mã hóa toàn bộ dữ liệu và bắt bạn phải đóng tiền vào số tài khoản của họ để họ mở khóa cho bạn. (Không cam kết là họ có mở ra cho mình hay ko sau khi đã nhận tiền). Điều này rất nhiều các công ty lớn bị gặp phải như các bài viết sau, ngay cả như: Google tại Mỹ, tấn công vào tất cả các CTY xuất nhập khẩu, tấn công luôn cả toàn cầu….

    Vậy cách nào để ngăn chặn Virus tấn công vào máy tính của mình?

    Bạn muốn biết hãy xem bài viết về: Cách ngăn chặn virus tấn công vào máy tính.

    Lợi ích của mạng máy tính ngày nay như thế nào?

    Tạo một mạng chung và tất cả mọi người có thể dùng chung tài nguyên với nhau.

    Đây là lợi ích to lớn mang lại của mạng máy tính cho người dùng, nhờ mạng máy tính người dùng có thể sử dụng mọi tài nguyên như các dữ liệu mọi người ở nhiều bộ phận có thể truy cập và dùng chung nhau.

    Sử dụng chung 1 máy in cho tất cả các phòng ban đều đươc. Tiết kiệm tiền khi mua máy in.

    Tăng hiệu suất làm việc của nhóm

    Dùng chung mạng dữ liệu trên máy tính có thể điều chỉnh các thông tin cần thiết để tiết kiệm thời gian, gửi các file báo cáo một cách nhanh chóng, gửi mail cho Khách hàng không ngại khoảng cách xa xôi, bất cứ nơi đâu cũng chỉ cần qua 1 nốt nhạc.

    Vậy để cho mạng máy tính luôn hoạt động trơn tru bạn cần phải làm gì?

    Để cho mạng máy tính trong công ty cũng như tại gia đình luôn hoạt động trơn tru bạn cần:

    Biết cách sử dụng máy tính để Virus khỏi tấn công gây nhiều thiệt hại cho bạn.như:

      Trong quá trình làm việc của Windows như soạn thảo văn bản, cài phần mềm, sửa hay xóa file thì máy tính sẽ tự động tạo ra các tập tin rác, lâu ngày nó sẽ làm máy tính của bạn trở nên chậm chạp và chiếm nhiều tài nguyên hơn. Do đó mà công việc đầu tiên là xóa tập tin rác định kỳ.

    • Khi bạn cài đặt hoặc tải về các phần mềm xuống máy tính, có một số chương trình sẽ tự động kích hoạt chế độ khởi động cùng hệ thống. Đây là nguyên nhân khiến chiếc máy tính của bạn khởi động chậm và tắt máy lâu vì vậy bạn cần phải biết vô hiệu hóa 1 số chức năng trên máy tính của mình.
    • Công việc cần thực hiện tiếp theo là bạn nên gỡ những phần mềm không cần thiết để giải phóng ổ cứng làm trống đi dung lượng của ổ cứng nhằm sử dụng nhanh hơn
      Cài đặt phần mềm diệt virus Kaspersky cho máy tính của mình sẽ giúp ngăn chặn các nguy hại từ internet đến máy tính của bạn. Các phần mềm này không làm tăng tốc độ máy tính của bạn nhưng nó sẽ giữ cho chiếc máy tính luôn ổn định, tránh sự xâm nhập của các loại virus từ môi trường internet.

    • Bạn nên vệ sinh máy tính của mình, đây là cách giúp máy tính luôn hoạt động ổn định. Theo các chuyên gia của CTY bên mình thì bạn nên vệ sinh máy tính laptop 6 tháng 1 lần, máy tính bàn thì 3 tháng 1 lần… để làm sạch bụi bẩn bám ở quạt làm mát, thay keo tản nhiệt (keo làm mát), giúp máy tính luôn thoát khí và bảo vệ các linh kiện bên trong.

    CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ HKC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bão Hình Thành Thế Nào, Vì Sao Mắt Bão Lại Là Nơi ‘bình Yên’ Nhất?
  • Lũ Lụt Miền Trung: Thiệt Hại Nhân Mạng, Vì Sao?
  • Lũ Lụt Là Gì Và Vì Sao Lại Có Lũ Lụt?
  • 2 Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục Bánh Flan Bị Rỗ
  • Tại Sao Chân Tôi Lúc Nào Cũng Lạnh?
  • Vì Sao Máy Tính Có Mạng Nhưng Không Vào Được Web Và Cách Sửa Lỗi

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Khắc Phục Lỗi Check Update Windows Win 7
  • Tại Sao Xe Ô Tô Không Khởi Động Được?
  • Tại Sao Xe Ô Tô Đề Không Nổ? Nguyên Nhân Ô Tô Đề Không Nổ
  • Những Nguyên Nhân Phổ Biến Khiến Xe Ô Tô Không Khởi Động Được
  • Xuất Tinh Sớm Là Gì? Tại Sao Bị Xuất Tinh Sớm?
  • Máy tính có mạng nhưng không vào được web cũng là một vấn đề thường gặp trong sinh hoạt, học tập và làm việc, gây nhiều bất tiện cho người dùng, đặc biệt là khi bạn muốn Mua card điện thoại online, nạp tiền vào game… Rất nhiều khi máy tính rơi vào tình trạng có biểu tượng mạng nhưng không vào được mạng win 7, win 8, hay trên các hệ điều hành khác. Tuy nhiên lỗi này lại không khó để sửa chữa.

    1. Nguyên nhân vì sao máy tính có mạng nhưng không vào được web

    Máy tính có hiển thị kết nối mạng nhưng lại không thể truy cập được vào các trang web là lỗi xảy ra khá thường xuyên. Với các trường hợp như vậy, nguyên nhân có thể đến từ nhiều yếu tố như:

    – Máy tính đặt sai lịch

    Đây là nguyên nhân đầu tiên khiến máy tính có mạng nhưng không vào được một số trang web. Lí do là vì mạng Internet sẽ không nhận diện máy và không cho phép máy tính kết nối với các trang mạng.

    – Thiết lập Internet Options bị sai

    Có thể do vô tình thiết lập sai Internet Options nhưng lại không nhớ các bước mình đã làm. Với trườnh hợp này, bạn vẫn có thể sử dụng các dịch vụ internet khác được nhưng không thể truy cập vào các trang web trên trình duyệt được.

    – Địa chỉ IP của máy tính có vấn đề

    Nguyên nhân thứ 3 đến từ địa chỉ IP – một yếu tố cực kì quan trọng kết nối mạng Internet và máy tính. Địa chỉ IP đôi khi sẽ chặn khiến các loại máy tính có mạng nhưng không vào được facebook và một số trang web phổ biến khác

    – Cài đặt chế độ Disable

    Trong lúc cài đặt mạng có thể bạn sơ ý đổi từ Enable sang Disable khiến máy tính không thể kết truy cập mạng Internet, khiến cho việc sử dụng mạng để làm việc, học tập, giải trí hay thực hiện các giao dịch online như Nạp tiền Mobifone online, mua thẻ điện thoại trực tuyến… bị gián đoạn.

    Tuy nhiên không phải cứ biết nguyên nhân là có thể dễ dàng sửa vì mạng Internet thuộc phần mềm, khá phức tạp và chúng ta cần có chỉ dẫn cụ thể mới có thể làm được.

    – Với lỗi thiết lập Internet Options, cách khắc phục rất đơn giản vói 2 cách:

    – Thiết lập lại địa chỉ IP của máy tính: Lần lượt thực hiện theo các bước sau:

    + Bước 1: Kích chuột phải vào biểu tượng mạng chọn “Open Network and Sharing Center”.

    + Bước 2: Nhấn vào “Change Adapter Settings” để truy cập vào “Locar Area Connection”.

    Với các bước trên, bạn đã có thể dễ dàng thay đổi địa chit IP và khắc phục lỗi có biểu tượng wifi nhưng không vào được mạng cho máy tính.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Việt Nam Có Thiên Thời, Địa Lợi, Nhưng Tại Sao Ngành Nông Nghiệp Vẫn Chưa Cất Cánh?
  • Vì Sao Tuyết Rơi Bất Thường Ở Việt Nam, Ai Cập Và Trung Đông?
  • 6 Kiểu Tóc Nam Uốn Xoăn Đẹp Hot Nhất Năm 2022
  • Uốn Tóc Giả Để Được Bao Lâu Mà Vẫn Còn Đẹp Và Quyến Rũ
  • Cách Giữ Nếp Tóc Uốn Giả Luôn Đẹp Và Bền Lâu
  • Học Ngành Mạng Máy Tính ? Tương Lai Ra Sao ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Tố Chất Cần Có Để Học Ngành Quản Trị Mạng Máy Tính?
  • Khái Niệm Quản Trị Mạng Là Gì? Tìm Hiểu Về Ngành Quản Trị Mạng
  • Rom Là Gì? Phân Biệt Ram Và Rom
  • Hướng Dẫn Đọc Thông Số Máy Tính Cho Người Mới
  • Tìm Hiểu Sâu Hơn Về Bàn Phím Cơ Máy Tính
  • 1 LỜI NÓI ĐẦU

    Internet luôn là lựa chọn hàng đầu với người học ngành CNTT như chúng ta khi cần tìm hiểu kiến thức mới nhưng không phải lúc nào ta cũng có kết quả như mong muốn.

    Tìm hiểu về nghề quản trị mạng qua các thông tin trên internet là một ví dụ điển hình, càng tìm hiểu thì chúng ta càng lạc lối không biết đi đâu về đâu bởi khái niệm về nghề này khá rộng, phạm vi công việc của cũng khác nhau tùy yêu cầu của từng doanh nghiệp.

    Do vậy, để giúp các bạn có một định hướng đúng và lâu dài đối với nghề nghiệp đã chọn tôi đã thực hiện bài viết này và hy vọng có thể giúp ích cho các bạn sinh viên ngành quản trị mạng.

    2 CÁC PHÂN NGÀNH TRONG QUẢN TRỊ MẠNG

    2.1 PHÂN CHIA THEO HƯỚNG CÔNG VIỆC

    2.1.1 HƯỚNG TRIỂN KHAI THIẾT KẾ HỆ THỐNG

    Đây là một công việc hết sức thú vị với các bạn sinh viên mới ra trường còn ít kinh nghiệm, đặc điểm của hướng công việc này như sau:

    • Tận dụng tất cả các kiến thức đã học trên trường vào thực tế
    • Thường xuyên tìm hiểu, cập nhật tiếp thu các công nghệ mới có xu hướng phát triển trong thị trường.
    • Có tầm nhìn đa hướng về ngành quản trị mạng
    • Tiếp xúc được nhiều khách hàng khác nhau với các mô hình triển khai đa dạng
    • Thiết kế các hệ thống theo nhu cầu của khách hàng

    Thông thường sau 5 – 7 năm làm việc tại các công ty SI chúng ta đã tích lũy được rất nhiều kiến thức cũng như mối quan hệ và chuyển sang làm quản trị ở doanh nghiệp hoặc chuyển lên các hãng như HP, IBM, Dell… để làm việc

    2.1.2 HƯỚNG QUẢN TRỊ CHUYÊN SÂU

    Quản trị chuyên sâu là một công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn và am hiểu hệ thống.

    Nếu như hướng triển khai đi về chiều rộng, biết càng nhiều càng tốt thì người quản trị chuyên sâu đòi hỏi rất nhiều thời gian tìm hiểu quan sát suy nghĩ sáng tạo những kiến thức công nghệ vào hệ thống.

    Đặc điểm của công việc này như sau:

    • Đi sâu vào phát triển nghiên cứu ứng dụng vào công việc
    • Tiếp xúc và làm việc với các quản lý cấp cao của công ty để cùng phát triển hạ tầng CNTT phục vụ cho phát triển doanh nghiệp
    • Kết hợp hài hòa giữa hệ thống và quy trình vận hành của doanh nghiệp

    Thông thường khi làm ở vị trí này công việc sẽ ổn định và lâu dài và có cơ hội học tập thêm kiến thức về quản trị doanh nghiệp một nền tảng cần thiết để trở thành lãnh đạo doanh nghiệp tương lai.

    2.2 PHÂN CHIA THEO HƯỚNG CHUYÊN MÔN HÓA

    2.2.1 QUẢN TRỊ HẠ TẦNG MẠNG

    Kỹ sư quản trị hạ tầng mạng chịu trách nhiệm triển khai thực hiện, duy trì hỗ trợ hệ thống mạng. Mục tiêu của công việc là đảm bảo tính toàn vẹn ở mức sẵn sàng cao nhất, hạ tầng mạng có thể bao gồm:

    Các chức danh công việc để chỉ về công việc này bao gồm:

    Nhiệm vụ chung của công việc bao gồm:

    2.2.2 QUẢN TRỊ HẠ TẦNG HỆ THỐNG

    Kỹ sư Hạ tầng hệ thống chịu trách nhiệm xây dựng, bảo trì, xử lý sự cố hạ tầng hệ thống nhằm đảm bảo độ sẵn sàng cao nhất cho hệ thống, hạ tầng hệ thống có thể bao gồm:

    • Máy chủ, thiết bị lưu trữ
    • Hệ điều hành, và tất cả ứng dụng hoạt động bên trên máy chủ.

    Các chức danh công việc thường bao gồm

    Nhiệm vụ của công việc bao gồm:

    2.2.3 BẢO MẬT – KIỂM SOÁT HỆ THỐNG

    Kỹ sư bảo mật là vị trí đòi hỏi kiến thức sâu rộng và khó nhất trong ngành, họ phải phân tích đánh giá các rủi ro an ninh mạng qua đó để tiến hành sửa chữa nâng cấp nhằm đảm bảo an toàn thông tin của doanh nghiệp.

    Bảo mật hệ thống có rất nhiều chuyên môn khác nhau thường nằm trong các linh vực:

    • Mobile telephone & application technologies
    • The Payment Card Industry (PCI);
    • Cloud computing.

    Nhiệm vụ của công việc bao gồm:

    • Phân tích thông tin, các mối nguy hiểm và quản lý rủi ro: hỗ trợ việc bảo vệ phía trước của mạng, bảo vệ thông tin khỏi những truy cập trái phép và vi phạm. Các kỹ sư làm điều này bằng cách phân tích và đánh giá rủi ro an ninh tiềm ẩn, phát triển các kế hoạch để đối phó với các sự cố bằng các biện pháp như tường lửa mã hóa, giám sát và sử dụng hệ thống kiểm toán cho hoạt động bất thường. Nhờ vậy họ luôn có thể chuẩn bị cũng như có các hành động khắc phục
    • Kiểm tra xâm nhập và tấn công: thực hiện các bài kiểm tra trên hệ thống để tìm điểm yếu trong bảo mật. Về cơ bản, họ làm tất cả mọi thứ một hacker sẽ làm, nhưng họ làm điều đó trên danh nghĩa tổ chức những người sở hữu hệ thống. Điều này có nghĩa là họ sẽ cố gắng để truy cập thông tin mà không cần tên người dùng và mật khẩu, và sẽ cố gắng để vượt qua bất cứ ứng dụng bảo mật. Các báo cáo về những phát hiện của họ sau đó là căn cứ để nâng cấp sửa chữa hệ thống.

    3 LỜI KHUYÊN CHO CÁC BẠN SINH VIÊN

    3.1 ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP

    Định hướng chuyên môn sẽ đi theo là một lựa chọn cực kỳ quan trọng, chúng ta bắt buộc phải nhớ nguyên tắc thành công đó là chỉ làm những gì mình thích và thích những gì mình làm.

    Có nhiều bạn sẽ băn khoăn mức thu nhập của các công việc ra sao, tôi xin chia sẻ như sau (Cty Việt Nam):

    • Cấp nhân viên

      • Mới ra trường: 5-7tr
      • Dưới 3 năm kinh nghiệm: 12tr
      • Trên 3 năm kinh nghiệm: 13-28tr
    • Cấp giám sát, nhóm trưởng

      • Dưới 3 năm kinh nghiệm: 10 – 17tr
      • Trên 3 năm kinh nghiệm: 18-25tr
    • Cấp quản lý

      • Dưới 3 năm kinh nghiệm: 18-25tr
      • Trên 3 năm kinh nghiệm: 26-42tr

    3.2 CHUYÊN MÔN CỨNG

    Tùy từng công việc mà có yêu cầu chuyên môn khác nhau, nhưng thường một kỹ sư giỏi bắt buộc phải có đủ các yếu tố:

    • Am hiểu kiến thức chuyên môn về linh vực mình làm

    3.3 CHUYÊN MÔN MỀM

    Khả năng giao tiếp, xử lý tình huống là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của công việc.

    Một kỹ sư có khả năng giao tiếp tốt, xử lý tình huống khéo léo và có nhiều mối quan hệ sẽ giải quyết được phần lớn các công việc khó khan vì vậy hãy tạo mối quan hệ gắn thiết với những người bạn cùng nghề bằng cách chia sẻ kiến thức lẫn nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Trị Mạng Là Gì? Tìm Hiểu Về Ngành Quản Trị Mạng
  • Tìm Hiểu Công Dụng Các Phím Chức Năng Trên Bàn Phím
  • Cách Sử Dụng Bàn Phím Của Máy Tính
  • Tìm Hiểu Về Cấu Hình Máy Tính Văn Phòng 2022 Bạn Không Nên Bỏ Qua
  • Kinh Nghiệm Nâng Cấp Phần Cứng Máy Tính Laptop & Pc
  • Vì Sao Pate Minh Chay Gây Nguy Hiểm Tính Mạng?

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Pate Minh Chay Đắt Gấp 2
  • Bốn Lý Do Cốt Yếu Để Lịch Sử Phải Là Môn Bắt Buộc
  • Dạy Lịch Sử Địa Phương Góp Phần Giáo Dục Truyền Thống, Đạo Đức Học Sinh
  • Bàn Thêm Về Việc Giảng Dạy Học Phần Lịch Sử Văn Minh Thế Giới Trong Môi Trường Đại Học (Trần Xuân Hiệp)
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Lịch Sử Văn Minh Thế Giới
  • Từ ngày 13/7 đến 18/8, ít nhất 9 bệnh nhân ngộ độc botulinum phải vào viện điều trị, trong đó 7 người phải thở máy. Các bệnh nhân này đều đã ăn pate Minh Chay nhiễm vi khuẩn Clostridium botulinum type B, độc tố là botulinum.

    Bộ Y tế cảnh báo khẩn pate Minh Chay chứa độc tố mạnh

    Chỉ trong vòng một tháng (từ 13.7 đến 18.8.2020) đã xuất hiện 9 ca bệnh phải điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai (2 ca bệnh), Bệnh viện Chợ Rẫy (5 ca) và Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP.Hồ Chí Minh (2 ca) từ một số tỉnh/thành phố trong cả nước với triệu chứng mệt mỏi, sụp mi mắt, yếu cơ tứ chi, khó nuốt, liệt cơ, khó thở… Qua điều tra cho thấy các bệnh nhân đều sử dụng sản phẩm Pate Minh Chay của Công ty TNHH Hai Thành viên Lối sống mới có địa chỉ tại tổ 2, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, Hà Nội sản xuất và kinh doanh trực tiếp qua mạng.

    Các bệnh nhân này đều đã ăn pate Minh Chay nhiễm vi khuẩn Clostridium botulinum type B, độc tố là botulinum.

    Ông Nguyễn Hùng Long – Phó Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) – cho biết, kết quả kiểm nghiệm ban đầu một số sản phẩm “Pate Minh Chay” của các lô khác nhau của Viện Kiểm nghiệm An toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia và Viện Y tế công cộng TP.Hồ Chí Minh đã phát hiện vi khuẩn Clostridium botulinum typ B. Đây là vi khuẩn kị khí tuyệt đối, sinh bào tử; độc tố của vi khuẩn Clostridium botulinum có độc lực rất mạnh, ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe, kéo dài và dễ tử vong.

    Bác sĩ Trần Văn Phúc – Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn (Hà Nội) cho biết: Rất may mới có 9 bệnh nhân, đây cũng là bài học cần tuân thủ chặt chẽ hơn về quy định chống nhiễm khuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Tất cả các bác sĩ, chuyên gia thực phẩm đều sợ khi nói tới vi khuẩn Clostridium botulinum và độc tố của nó là botulinum. Với liều 0,004μg/kg cân nặng, botulinum sẽ giết chết một người trưởng thành. Ngộ độc botulinum không phải là cá biệt, do vi khuẩn tồn tại tương đối phổ biến, ngộ độc chủ yếu vẫn xảy ra ở thịt bảo quản trong điều kiện thiếu không khí. Tuy nhiên, ngộ độc có thể vô tình xảy ra ở bất cứ thực phẩm nào. Giữ gìn vệ sinh an toàn thực phẩm, nghĩa là từ khâu nuôi trồng đến chế biến và vận chuyển, cuối cùng là ăn uống, cần phải thực hành sạch sẽ.

    Những ngộ nhận về ăn chay trong đời sống hiện đại

    Botulinum là chất độc thần kinh cực mạnh. Nó xâm nhập vào các tế bào thần kinh, rồi ngăn chặn sự giải phóng chất dẫn truyền acetylcholine từ các đầu dây thần kinh. Một khi chất dẫn truyền thần kinh bị chặn, xung thần kinh không thể truyền dẫn được nữa, giao tiếp các tế bào thần kinh không được thực hiện làm cho các cơ bị tê liệt.

    Nguy hiểm như vậy nhưng botulinum không chịu được nhiệt, nếu đun ở 100⁰C, sau 2 phút chất độc bắt đầu biến tính và giảm độc lực, đun đến 10 phút có thể bị phá hủy. Đây là điều may mắn, bởi thực phẩm đun sôi nhiệt độ xấp xỉ 100⁰C, nên đồ ăn tươi nấu chín về cơ bản là yên tâm.

    Biểu hiện ngộ độc botiulinum xuất hiện sau khi ăn từ 12 đến 36 giờ, có thể kéo dài tới vài ngày, thậm chí 4 ngày. Thời gian ủ bệnh càng ngắn, độc tố càng nhiều, bệnh càng nặng và nguy cơ tử vong càng cao.

    Các triệu chứng ban đầu bao gồm mệt mỏi, chóng mặt, chán ăn, tiêu chảy, đau bụng, nôn mửa, biểu hiện viêm dạ dày và ruột. Nếu lượng độc tố vào cơ thể ít, triệu chứng sẽ biến mất trong vài giờ.

    Các chuyên gia cảnh báo, cần phải tham khảo ý kiến bác sĩ ngay lập tức nếu nhận thấy có các triệu chứng ngộ độc Clostridium botulinum. Nếu bệnh không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, người bệnh có thể bị tê liệt ở cánh tay, chân hoặc tê liệt toàn thân và cơ hô hấp. Lúc này, người bệnh có thể phải sử dụng máy thở để hỗ trợ hô hấp.

    Tuệ Lâm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bạn Muốn Sống Hạnh Phúc? Hãy Biết Ơn Tất Cả
  • Nghị Luận Xã Hội Về Văn Hóa Cảm Ơn Và Xin Lỗi
  • Nghị Luận Xã Hội: Phải Biết Nói Lời Cảm Ơn
  • Nghị Luận Về Lòng Biết Ơn Thầy Cô Giáo
  • Nghị Luận Về Lòng Biết Ơn Của Con Cái Đối Với Cha Mẹ
  • Kiến Thức Mạng Máy Tính Cơ Bản: Phần 1: Tổng Quan Về Mạng Máy Tính

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Vấn Máy Tính Để Bàn Có Bao Nhiêu Bộ Phận Chính?
  • Tìm Hiểu Chi Tiết Về Máy Tính Bảng Huawei
  • Tìm Hiểu Chi Tiết Về Lỗi Máy Tính Bảng Surface Không Lên Nguồn
  • Kiến Thức Cơ Bản Về Linh Kiện Pc
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Máy Tính Cần Biết Trước Khi Đi Làm
  • CHƯƠNG 1 : CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ MẠNG MÁY TÍNH

    1.1. ĐịNH NGHĨA MẠNG MÁY TÍNH (COMPUTER NETWORK)

    Mạng máy tính là một tập hợp các máy tính được nối với nhau bởi môi trường truyền (đường truyền) theo một cấu trúc nào đó và thông qua đó các máy tính trao đổi thông tin qua lại cho nhau.

    Môi trường truyền là hệ thống các thiết bị truyền dẫn có dây hay không dây dùng để chuyển các tín hiệu điện tử từ máy tính này đến máy tính khác. Các tín hiệu điện tử đó biểu thị các giá trị dữ liệu dưới dạng các xung nhị phân (on – off). Tất cả các tín hiệu được truyền giữa các máy tính đều thuộc một dạng sóng điện từ. Tùy theo tần số của sóng điện từ có thể dùng các môi trường truyền vật lý khác nhau để truyền các tín hiệu. Ở đây môi trường truyền được kết nối có thể là dây cáp đồng trục, cáp xoắn, cáp quang, dây điện thoại, sóng vô tuyến … Các môi trường truyền dữ liệu tạo nên cấu trúc của mạng. Hai khái niệm môi trường truyền và cấu trúc là những đặc trưng cơ bản của mạng máy tính.

    CHƯƠNG 2 : ỨNG DỤNG CỦA MẠNG MÁY TÍNH

    Tăng độ tin cậy của hệ thống: Người ta có thể dễ dàng bảo trì máy móc và lưu trữ (backup) các dữ liệu chung và khi có trục trặc trong hệ thống thì chúng có thể được khôi phục nhanh chóng. Trong trường hợp có trục trặc trên một trạm làm việc thì người ta cũng có thể sử dụng những trạm khác thay thế.

    Nâng cao chất lượng và hiệu quả khai thác thông tin: Khi thông tin có thể được sữ dụng chung thì nó mang lại cho người sử dụng khả năng tổ chức lại các công việc với những thay đổi về chất như:

    – Đáp ứng những nhu cầu của hệ thống ứng dụng kinh doanh hiện đại.

    – Cung cấp sự thống nhất giữa các dữ liệu.

    – Tăng cường năng lực xử lý nhờ kết hợp các bộ phận phân tán.

    – Tăng cường truy nhập tới các dịch vụ mạng khác nhau đang được cung cấp trên thế giới.

    Với nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội nên vấn đề kỹ thuật trong mạng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà tin học. Ví dụ như làm thế nào để truy xuất thông tin một cách nhanh chóng và tối ưu nhất, trong khi việc xử lý thông tin trên mạng quá nhiều đôi khi có thể làm tắc nghẽn trên mạng và gây ra mất thông tin một cách đáng tiếc.

    Hiện nay việc làm sao có được một hệ thống mạng chạy thật tốt, thật an toàn với lợi ích kinh tế cao đang rất được quan tâm. Một vấn đề đặt ra có rất nhiều giải pháp về công nghệ, một giải pháp có rất nhiều yếu tố cấu thành, trong mỗi yếu tố có nhiều cách lựa chọn. Như vậy để đưa ra một giải pháp hoàn chỉnh, phù hợp thì phải trải qua một quá trình chọn lọc dựa trên những ưu điểm của từng yếu tố, từng chi tiết rất nhỏ.

    Để giải quyết một vấn đề phải dựa trên những yêu cầu đặt ra và dựa trên công nghệ để giải quyết. Nhưng công nghệ cao nhất chưa chắc là công nghệ tốt nhất, mà công nghệ tốt nhất là công nghệ phù hợp nhất.

    CHƯƠNG 3: CÁC THÀNH PHẦN CƠ BẢN TRONG MẠNG MÁY TÍNH

    3.1. TỔNG QUÁT MỘT MẠNG MÁY TÍNH CƠ BẢN :

    Có ít nhất 2 máy tính.

    Một giao tiếp mạng trên mỗi máy (NIC : Network interface Card)

    Môi trường truyền :

    Dây cáp mạng

    Môi trường truyền không dây.

    Hệ điều hành mạng :

    UNIX, Windows 98, Windows NT,…, Novell Netware,…

    3.2. KIẾN TRÚC (CẤU TRÚC) MẠNG CỤC BỘ :

    – Cấu trúc của mạng (hay topology của mạng mà qua đó thể hiện cách nối các mạng máy tính với nhau ra sao).

    – Các nghi thức truyền dữ liệu trên mạng (các thủ tục hướng dẫn trạm làm việc làm thế nào và lúc nào có thể thâm nhập vào đường dây cáp để gửi các gói thông tin ).

    – Các loại đường truyền và các chuẩn của chúng .

    – Các phương thức tín hiệu.

    3.2.1. Cấu trúc của mạng (Topology)

    Hình trạng của mạng cục bộ thể hiện qua cấu trúc hay hình dáng hình học cuả các đường dây cáp mạng dùng để liên kết các máy tính thuộc mạng với nhau. Trước hết chúng ta xem xét hai phương thức nối mạng chủ yếu:

    Với phương thức “một điểm – một điểm” các đường truyền riêng biệt được thiết lâp để nối các cặp máy tính lại với nhau. Mỗi máy tính có thể truyền và nhận trực tiếp dữ liệu hoặc có thể làm trung gian như lưu trữ những dữ liệu mà nó nhận được rồi sau đó chuyển tiếp dữ liệu đi cho một máy khác để dữ liệu đó đạt tới đích.

    Theo phương thức “một điểm – nhiều điểm ” tất cả các trạm phân chia chung một đường truyền vật lý. Dữ liệu được gửi đi từ một máy tính sẽ có thể được tiếp nhận bởi tất cả các máy tính còn lại, bởi vậy cần chỉ ra điạ chỉ đích của dữ liệu để mỗi máy tính căn cứ vào đó kiểm tra xem dữ liệu có phải dành cho mình không nếu đúng thì nhận còn nếu không thì bỏ qua.

    3.2.2. Những cấu trúc chính của mạng cục bộ

    10BASE5: Dùng cáp đồng trục đường kính lớn (10mm) với trở kháng 50 Ohm, tốc độ 10 Mb/s, phạm vi tín hiệu 500m/segment, có tối đa 100 trạm, khoảng cách giữa 2 tranceiver tối thiểu 2,5m (Phương án này còn gọi là Thick Ethernet hay Thicknet)

    10BASE2: tương tự như Thicknet nhưng dùng cáp đồng trục nhỏ (RG 58A), có thể chạy với khoảng cách 185m, số trạm tối đa trong 1 segment là 30, khoảng cách giữa hai máy tối thiểu là 0,5m.

    Dạng kết nối này có ưu điểm là ít tốn dây cáp, tốc độ truyền dữ liệu cao tuy nhiên nếu lưu lượng truyền tăng cao thì dễ gây ách tắc và nếu có trục trặc trên hành lang chính thì khó phát hiện ra.

    Hiện nay các mạng sử dụng hình dạng đường thẳng là mạng Ethernet và G-net.

    b. Dạng vòng tròn (Ring)

    Các máy tính được liên kết với nhau thành một vòng tròn theo phương thức “một điểm – một điểm “, qua đó mỗi một trạm có thể nhận và truyền dữ liệu theo vòng một chiều và dữ liệu được truyền theo từng gói một. Mỗi gói dữ liệu đều có mang địa chỉ trạm đích, mỗi trạm khi nhận được một gói dữ liệu nó kiểm tra nếu đúng với địa chỉ của mình thì nó nhận lấy còn nếu không phải thì nó sẽ phát lại cho trạm kế tiếp, cứ như vậy gói dữ liệu đi được đến đích. Với dạng kết nối này có ưu điểm là không tốn nhiều dây cáp, tốc độ truyền dữ liệu cao, không gây ách tắc tuy nhiên các giao thức để truyền dữ liệu phức tạp và nếu có trục trặc trên một trạm thì cũng ảnh hưởng đến toàn mạng.

    Hiện nay các mạng sử dụng hình dạng vòng tròn là mạng Tocken ring của IBM.

    c. Dạng hình sao (Star)

    Ở dạng hình sao, tất cả các trạm được nối vào một thiết bị trung tâm có nhiệm vụ nhận tín hiệu từ các trạm và chuyển tín hiệu đến trạm đích với phương thức kết nối là phương thức “một điểm – một điểm “. Thiết bị trung tâm hoạt động giống như một tổng đài cho phép thực hiện việc nhận và truyền dữ liệu từ trạm này tới các trạm khác. Tùy theo yêu cầu truyền thông trong mạng , thiết bị trung tâm có thể là một bộ chuyển mạch (switch), một bộ chọn đường (router) hoặc đơn giản là một bộ phân kênh (Hub). Có nhiều cổng ra và mỗi cổng nối với một máy. Theo chuẩn IEEE 802.3 mô hình dạng Star thường dùng:

    10BASE-T: dùng cáp UTP, tốc độ 10 Mb/s, khoảng cách từ thiết bị trung tâm tới trạm tối đa là 100m.

    100BASE-T tương tự như 10BASE-T nhưng tốc độ cao hơn 100 Mb/s.

    Ưu và khuyết điểm

    Ưu điểm: Với dạng kết nối này có ưu điểm là không đụng độ hay ách tắc trên đường truyền, lắp đặt đơn giản, dễ dàng cấu hình lại (thêm, bớt trạm). Nếu có trục trặc trên một trạm thì cũng không gây ảnh hưởng đến toàn mạng qua đó dễ dàng kiểm soát và khắc phục sự cố.

    Nhược điểm: Độ dài đường truyền nối một trạm với thiết bị trung tâm bị hạn chế (trong vòng 100 m với công nghệ hiện đại) tốn đường dây cáp nhiều, tốc độ truyền dữ liệu không cao.

    Hiện nay các mạng sử dụng hình dạng hình sao là mạng STARLAN của AT&T và S-NET của Novell.

    Thông thường có hai phương thức truyền tín hiệu trong mạng cục bộ là dùng băng tần cơ sở (baseband) và băng tần rộng (broadband). Sự khác nhau chủ yếu giữa hai phương thức truyền tín hiệu này là băng tầng cơ sở chỉ chấp nhận một kênh dữ liệu duy nhất trong khi băng rộng có thể chấp nhận đồng thời hai hoặc nhiều kênh truyền thông cùng phân chia giải thông của đường truyền.

    Hầu hết các mạng cục bộ sử dụng phương thức băng tần cơ sở. Với phương thức truyền tín hiệu này này tín hiệu có thể được truyền đi dưới cả hai dạng: tương tự (analog) hoặc số (digital). Phương thức truyền băng tần rộng chia giải thông (tần số) của đường truyền thành nhiều giải tần con trong đó mỗi dải tần con đó cung cấp một kênh truyền dữ liệu tách biệt nhờ sử dụng một cặp modem đặc biệt gọi là bộ giải / Điều biến RF cai quản việc biến đổi các tín hiệu số thành tín hiệu tương tự có tần số vô tuyến (RF) bằng kỹ thuật ghép kênh.

    3.2.4. Các giao thức truy cập đường truyền trên mạng LAN

    Để truyền được dữ liệu trên mạng người ta phải có các thủ tục nhằm hướng dẫn các máy tính của mạng làm thế nào và lúc nào có thể thâm nhập vào đường dây cáp để gửi các gói dữ kiện. Ví dụ như đối với các dạng bus và ring thì chỉ có một đường truyền duy nhất nối các trạm với nhau, cho nên cần phải có các quy tắc chung cho tất cả các trạm nối vào mạng để đảm bảo rằng đường truyền được truy nhập và sử dụng một cách hợp lý.

    Có nhiều giao thức khác nhau để truy nhập đường truyền vật lý nhưng phân thành hai loại: các giao thức truy nhập ngẫu nhiên và các giao thức truy nhập có điều khiển.

    a. Giao thức chuyển mạch (yêu cầu và chấp nhận) b. Giao thức đường dây đa truy cập với cảm nhận va chạm (Carrier Sense Multiple Access with Collision Detection hay CSMA/CD ) c. Giao thức dùng thẻ bài vòng (Token ring) d. Giao thức dung thẻ bài cho dạng đường thẳng (Token bus)

    3.2.5. Đường cáp truyền mạng

    Đường cáp truyền mạng là cơ sở hạ tầng của một hệ thống mạng, nên nó rất quan trọng và ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng hoạt động của mạng. Hiện nay người ta thường dùng 3 loại dây cáp là cáp xoắn cặp, cáp đồng trục và cáp quang.

    a. Cáp xoắn cặp

    Đây là loại cáp gồm hai đường dây dẫn đồng được xoắn vào nhau nhằm làm giảm nhiễu điện từ gây ra bởi môi trường xung quanh và giữa chúng với nhau.

    Hiện nay có hai loại cáp xoắn là cáp có bọc kim loại ( STP – Shield Twisted Pair) và cáp không bọc kim loại (UTP -Unshield Twisted Pair).

    b. Cáp đồng trục

    Cáp đồng trục có hai đường dây dẫn và chúng có cùng một trục chung, một dây dẫn trung tâm (thường là dây đồng cứng) đường dây còn lại tạo thành đường ống bao xung quanh dây dẫn trung tâm (dây dẫn này có thể là dây bện kim loại và vì nó có chức năng chống nhiễu nên còn gọi là lớp bọc kim). Giữa hai dây dẫn trên có một lớp cách ly, và bên ngoài cùng là lớp vỏ plastic để bảo vệ cáp.

    Hình 5.3: Tính năng kỹ thuật của một số loại cáp mạng c. Cáp sợi quang (Fiber – Optic Cable)

    Cáp sợi quang bao gồm một dây dẫn trung tâm (là một hoặc một bó sợi thủy tinh có thể truyền dẫn tín hiệu quang) được bọc một lớp vỏ bọc có tác dụng phản xạ các tín hiệu trở lại để giảm sự mất mát tín hiệu. Bên ngoài cùng là lớp vỏ plastic để bảo vệ cáp. Như vậy cáp sợi quang không truyền dẫn các tín hiệu điện mà chỉ truyền các tín hiệu quang (các tín hiệu dữ liệu phải được chuyển đổi thành các tín hiệu quang và khi nhận chúng sẽ lại được chuyển đổi trở lại thành tín hiệu điện).

    Cáp quang có đường kính từ 8.3 – 100 micron, Do đường kính lõi sợi thuỷ tinh có kích thước rất nhỏ nên rất khó khăn cho việc đấu nối, nó cần công nghệ đặc biệt với kỹ thuật cao đòi hỏi chi phí cao.

    Dải thông của cáp quang có thể lên tới hàng Gbps và cho phép khoảng cách đi cáp khá xa do độ suy hao tín hiệu trên cáp rất thấp. Ngoài ra, vì cáp sợi quang không dùng tín hiệu điện từ để truyền dữ liệu nên nó hoàn toàn không bị ảnh hưởng của nhiễu điện từ và tín hiệu truyền không thể bị phát hiện và thu trộm bởi các thiết bị điện tử của người khác.

    Chỉ trừ nhược điểm khó lắp đặt và giá thành còn cao , nhìn chung cáp quang thích hợp cho mọi mạng hiện nay và sau này.

    d. Các yêu cầu cho một hệ thống cáp

    – An toàn, thẩm mỹ: tất cả các dây mạng phải được bao bọc cẩn thận, cách xa các nguồn điện, các máy có khả năng phát sóng để tránh trường hợp bị nhiễu. Các đầu nối phải đảm bảo chất lượng, tránh tình trạng hệ thống mạng bị chập chờn.

    – Đúng chuẩn: hệ thống cáp phải thực hiện đúng chuẩn, đảm bảo cho khả năng nâng cấp sau này cũng như dễ dàng cho việc kết nối các thiết bị khác nhau của các nhà sản xuất khác nhau. Tiêu chuẩn quốc tế dùng cho các hệ thống mạng hiện nay là EIA/TIA 568B.

    – Tiết kiệm và “linh hoạt” (flexible): hệ thống cáp phải được thiết kế sao cho kinh tế nhất, dễ dàng trong việc di chuyển các trạm làm việc và có khả năng mở rộng sau này.

    CHƯƠNG 4 : GIỚI THIỆU MỘT SỐ THUẬT NGỮ VỀ MẠNG

    4.1. MẠNG CỤC BỘ LANS ( Local Area Networks )

    Có giới hạn về địa lý

    Tốc độ truyền dữ liệu khá cao

    Do một tổ chức quản lý

    Thường dùng multiaccess channels

    Các kỹ thuật thường dùng: Token Ring: 16 Mbps, Mạng hình sao

    4.2. MẠNG DIỆN RỘNG WANS ( Wide Area Networks )

    Không có giới hạn về địa lý

    Thường là sự kết nối nhiều LAN

    Tốc độ truyền dữ liệu khá thấp

    Do nhiều tổ chức quản lý

    Thường dùng kỹ thuật point to point channels

    Các kỹ thuật thường dùng:

    Các đường điện thoại

    Truyền thông bằng vệ tinh.

    4.3. MẠNG MANS ( Wide Area Networks )

    Có kích thước vùng địa lý lớn hơn LAN tuy nhiên nhỏ hơn WAN

    Do một tổ chức quản lý

    Thường dùng cáp đồng trục hay sóng ngắn.

    4.4. INTERNETWORK

    Kết nối hai hay nhiều mạng riêng biệt

    Đòi hỏi có các thiết bị mạng tạo điều kiện thuận lợi cho kết nối này.

    4.5. INTERNET

    Mạng toàn cầu đặt biệt kết nối mạng của các tổ chức , các nhân trên thế giới.

    Kết nối từ máy tính cá nhân đến Internet

    Kết nối các LAN bởi WAN tạo nên Internet

    4.6. INTRANET

    Là mạng LAN có triển khai các dịch vụ trên Internet .

    4.7. PHÂN BIỆT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIỮA MẠNG CỤC BỘ VÀ MẠNG DIỆN RỘNG

    Mạng cục bộ và mạng diện rộng có thể được phân biệt bởi: địa phương hoạt động, tốc độ đường truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền, chủ quản của mạng, đường đi của thông tin trên mạng, dạng chuyển giao thông tin.

    – Tốc độ đường truyền và tỷ lệ lỗi trên đường truyền: Mạng cục bộ có thể truyền dữ liệu với tốc độ cao mà chỉ chịu một tỷ lệ lỗi nhỏ. Ngược lại với mạng diện rộng do phải truyền ở những khoảng cách khá xa với những đường truyền dẫn dài có khi lên tới hàng ngàn km. Do vậy mạng diện rộng không thể truyền với tốc độ quá cao vì khi đó tỉ lệ lỗi sẽ trở nên khó chấp nhận được.

    Mạng cục bộ thường có tốc độ truyền dữ liệu từ 4 đến 16 Mbps và đạt tới 100 Mbps nếu dùng cáp quang. Còn phần lớn các mạng diện rộng cung cấp đường truyền có tốc độ thấp hơn nhiều như T1 với 1.544 Mbps hay E1 với 2.048 Mbps.

    (Ở đây bps (Bit Per Second) là một đơn vị trong truyền thông tương đương với 1 bit được truyền trong một giây, ví dụ như tốc độ đường truyền là 1 Mbps tức là có thể truyền tối đa 1 Megabit trong 1 giây trên đường truyền đó).

    Thông thường trong mạng cục bộ tỷ lệ lỗi trong truyền dữ liệu vào khoảng 1/107-108 còn trong mạng diện rộng thì tỷ lệ đó vào khoảng 1/106 – 107

    – Tổ chức quản lý và điều hành của mạng: Khi xây dựng mạng diện rộng người ta thường sử dụng các đường truyền được thuê từ các công ty viễn thông hay các nhà cung cấp dịch vụ truyền số liệu. Tùy theo cấu trúc của mạng những đường truyền đó thuộc cơ quan quản lý khác nhau như các nhà cung cấp đường truyền nội hạt, liên tỉnh, liên quốc gia… Các đường truyền đó phải tuân thủ các quy định của chính phủ các khu vực có đường dây đi qua như: tốc độ, việc mã hóa…

    Còn đối với mạng cục bộ thì công việc đơn giản hơn nhiều, khi một cơ quan cài đặt mạng cục bộ thì toàn bộ mạng sẽ thuộc quyền quản lý của cơ quan đó.

    CHƯƠNG 5 : CÁC MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG

    5.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG

    Để một mạng máy tính trở một môi trường truyền dữ liệu thì nó cần phải có những yếu tố sau:

    Mỗi máy tính cần phải có một địa chỉ phân biệt trên mạng.

    Việc chuyển dữ liệu từ máy tính này đến máy tính khác do mạng thực hiện thông qua những quy định thống nhất gọi là giao thức của mạng.

    Khi các máy tính trao đổi dữ liệu với nhau thì một quá trình truyền giao dữ liệu đã được thực hiện hoàn chỉnh. Ví dụ như để thực hiện việc truyền một file giữa một máy tính với một máy tính khác cùng được gắn trên một mạng các công việc sau đây phải được thực hiện:

    Máy tính cần truyền cần biết địa chỉ của máy nhận.

    Máy tính cần truyền phải xác định được máy tính nhận đã sẵn sàng nhận thông tin

    Chương trình gửi file trên máy truyền cần xác định được rằng chương trình nhận file trên máy nhận đã sẵn sàng tiếp nhận file.

    Nếu cấu trúc file trên hai máy không giống nhau thì một máy phải làm nhiệm vụ chuyển đổi file từ dạng này sang dạng kia.

    Khi truyền file máy tính truyền cần thông báo cho mạng biết địa chỉ của máy nhận để các thông tin được mạng đưa tới đích.

    Đầu tiên khi ứng dụng 1 trên máy A cần gửi một khối dữ liệu nó chuyển khối đó cho tầng vận chuyển. Tầng vận chuyển có thể chia khối đó ra thành nhiều khối nhỏ phụ thuộc vào yêu cầu của giao thức của tầng và đóng gói chúng thành các gói tin (packet). Mỗi một gói tin sẽ được bổ sung thêm các thông tin kiểm soát của giao thức và được gọi là phần đầu (Header) của gói tin. Thông thường phần đầu của gói tin cần có:

    Địa chỉ của điểm tiếp cận giao dịch nơi đến (Ở đây là 3): khi tầng vận chuyển của máy B nhận được gói tin thì nó biết được ứng dụng nào mà nó cần giao.

    Số thứ tự của gói tin, khi tầng vận chuyển chia một khối dữ liệu ra thành nhiều gói tin thì nó cần phải đánh số thứ tự các gói tin đó. Nếu chúng đi đến đích nếu sai thứ tự thì tầng vận chuyển của máy nhận có thể phát hiện và chỉnh lại thứ tự. Ngoài ra nếu có lỗi trên đường truyền thì tầng vận chuyển của máy nhận sẽ phát hiện ra và yêu cầu gửi lại một cách chính xác.

    Mã sửa lỗi: để đảm bảo các dữ liệu được nhận một cách chính xác thì trên cơ sở các dữ liệu của gói tin tầng vận chuyển sẽ tính ra một giá trị theo một công thức có sãn và gửi nó đi trong phần đầu của gói tin. Tầng vận chuyển nơi nhận thông qua giá trị đó xác định được gói tin đó có bị lỗi trên đường truyền hay không.

    Bước tiếp theo tầng vận chuyển máy A sẽ chuyển từng gói tin và địa chỉ của máy tính đích (ở đây là B) xuống tầng tiếp cận mạng với yêu cầu chuyển chúng đi. Để thực hiện được yêu cầu này tầng tiếp cận mạng cũng tạo các gói tin của mình trước khi truyền qua mạng. Tại đây giao thức của tầng tiếp cận mạng sẽ thêm các thông tin điều khiển vào phần đầu của gói tin mạng.

    Như vậy thông qua mô hình truyền thông đơn giản chúng ta cũng có thể thấy được phương thức hoạt động của các máy tính trên mạng, có thể xây dựng và thay đổi các giao thức trong cùng một tầng.

    5.2. MỘT SỐ MÔ HÌNH CHUẨN HÓA

    5.2.1. Mô hình OSI (Open Systems Interconnection)

    Mô hình OSI là một cơ sở dành cho việc chuẩn hoá các hệ thống truyền thông, nó được nghiên cứu và xây dựng bởi ISO. Việc nghiên cứu về mô hình OSI được bắt đầu tại ISO vào năm 1971 với mục tiêu nhằm tới việc nối kết các sản phẩm của các hãng sản xuất khác nhau và phối hợp các hoạt động chuẩn hoá trong các lĩnh vực viễn thông và hệ thống thông tin. Theo mô hình OSI chương trình truyền thông được chia ra thành 7 tầng với những chức năng phân biệt cho từng tầng. Hai tầng đồng mức khi liên kết với nhau phải sử dụng một giao thức chung. Trong mô hình OSI có hai loại giao thức chính được áp dụng: giao thức có liên kết (connection – oriented) và giao thức không liên kết (connectionless)

    Giao thức có liên kết: trước khi truyền dữ liệu hai tầng đồng mức cần thiết lập một liên kết logic và các gói tin được trao đổi thông qua liên kết náy, việc có liên kết logic sẽ nâng cao độ an toàn trong truyền dữ liệu.

    Giao thức không liên kết: trước khi truyền dữ liệu không thiết lập liên kết logic và mỗi gói tin được truyền độc lập với các gói tin trước hoặc sau nó.

    Gói tin của giao thức: Gói tin (Packet) được hiểu như là một đơn vị thông tin dùng trong việc liên lạc, chuyển giao dữ liệu trong mạng máy tính. Những thông điệp (message) trao đổi giữa các máy tính trong mạng, được tạo dạng thành các gói tin ở máy nguồn. Và những gói tin này khi đích sẽ được kết hợp lại thành thông điệp ban đầu. Một gói tin có thể chứa đựng các yêu cầu phục vụ, các thông tin điều khiển và dữ liệu.

    Tại bên nhận các gói tin được gỡ bỏ phần đầu trên từng tầng tướng ứng và đây cũng là nguyên lý của bất cứ mô hình phân tầng nào.

    Chú ý: Trong mô hình OSI phần kiểm lỗi của gói tin tầng liên kết dữ liệu đặt ở cuối gói tin

    5.2.2. Mô hình SNA (Systems Netword Architecture)

    Tháng 9/1973, Hãng IBM giới thiệu một kiến trúc mạng máy tính SNA (System Network Architecture). Đến năm 1977 đã có 300 trạm SNA được cài đặt. Cuối năm 1978, số lượng đã tăng lên đến 1250, rồi cứ theo đà đó cho đến nay đã có 20.000 trạm SNA đang được hoạt động. Qua con số này chúng ta có thể hình dung được mức độ quan trọng và tầm ảnh hưởng của SNA trên toàn thế giới.

    Cần lưu ý rằng SNA không là một chuẩn quốc tế chính thức như OSI nhưng do vai trò to lớn của hãng IBM trên thị trường CNTT nên SNA trở thành một loại chuẩn thực tế và khá phổ biến. SNA là một đặc tả gồm rất nhiều tài liệu mô tả kiến trúc của mạng xử lý dữ liệu phân tán. Nó định nghĩa các quy tắc và các giao thức cho sự tương tác giữa các thành phần (máy tính, trạm cuối, phần mềm) trong mạng.

    5.3. CÁC CHỨC NĂNG CHỦ YẾU CỦA CÁC TẦNG CỦA MÔ HÌNH OSI.

    Tầng 1: Vật lý (Physical)

    Tầng vật lý (Physical layer) là tầng dưới cùng của mô hình OSI là. Nó mô tả các đặc trưng vật lý của mạng: Các loại cáp được dùng để nối các thiết bị, các loại đầu nối được dùng , các dây cáp có thể dài bao nhiêu v.v…

    Ví dụ: Tiêu chuẩn Ethernet cho cáp xoắn đôi 10 baseT định rõ các đặc trưng điện của cáp xoắn đôi, kích thước và dạng của các đầu nối, độ dài tối đa của cáp…

    Khác với các tầng khác, tầng vật lý là không có gói tin riêng và do vậy không có phần đầu (header) chứa thông tin điều khiển, dữ liệu được truyền đi theo dòng bit. Một giao thức tầng vật lý tồn tại giữa các tầng vật lý để quy định về phương thức truyền (đồng bộ, phi đồng bộ), tốc độ truyền…

    Các giao thức được xây dựng cho tầng vật lý được phân chia thành phân chia thành hai loại giao thức sử dụng phương thức truyền thông dị bộ (asynchronous) và phương thức truyền thông đồng bộ (synchronous).

    Phương thức truyền dị bộ: không có một tín hiệu quy định cho sự đồng bộ giữa các bit giữa máy gửi và máy nhận, trong quá trình gửi tín hiệu máy gửi sử dụng các bit đặc biệt START và STOP được dùng để tách các xâu bit biểu diễn các ký tự trong dòng dữ liệu cần truyền đi. Nó cho phép một ký tự được truyền đi bất kỳ lúc nào mà không cần quan tâm đến các tín hiệu đồng bộ trước đó.

    Phương thức truyền đồng bộ: sử dụng phương thức truyền cần có đồng bộ giữa máy gửi và máy nhận, nó chèn các ký tự đặc biệt như SYN (Synchronization), EOT (End Of Transmission) hay đơn giản hơn, một cái “cờ ” (flag) giữa các dữ liệu của máy gửi để báo hiệu cho máy nhận biết được dữ liệu đang đến hoặc đã đến.

    Tầng 2: Liên kết dữ liệu (Data link)

    Tầng liên kết dữ liệu (data link layer) là tầng mà ở đó ý nghĩa được gán cho các bít được truyền trên mạng. Tầng liên kết dữ liệu phải quy định được các dạng thức, kích thước, địa chỉ máy gửi và nhận của mỗi gói tin được gửi đi. Nó phải xác định cơ chế truy nhập thông tin trên mạng và phương tiện gửi mỗi gói tin sao cho nó được đưa đến cho người nhận đã định.

    Tầng liên kết dữ liệu có hai phương thức liên kết dựa trên cách kết nối các máy tính, đó là phương thức “một điểm – một điểm” và phương thức “một điểm – nhiều điểm”. Với phương thức “một điểm – một điểm” các đường truyền riêng biệt được thiết lâp để nối các cặp máy tính lại với nhau. Phương thức “một điểm – nhiều điểm ” tất cả các máy phân chia chung một đường truyền vật lý.

    Các giao thức tầng liên kết dữ liệu chia làm 2 loại chính là các giao thức hướng ký tư và các giao thức hướng bit. Các giao thức hướng ký tự được xây dựng dựa trên các ký tự đặc biệt của một bộ mã chuẩn nào đó (như ASCII hay EBCDIC), trong khi đó các giao thức hướng bit lại dùng các cấu trúc nhị phân (xâu bit) để xây dựng các phần tử của giao thức (đơn vị dữ liệu, các thủ tục…) và khi nhận, dữ liệu sẽ được tiếp nhận lần lượt từng bit một.

    Tầng 3: Mạng (Network)

    Tầng mạng (network layer) nhắm đến việc kết nối các mạng với nhau bằng cách tìm đường (routing) cho các gói tin từ một mạng này đến một mạng khác. Nó xác định việc chuyển hướng, vạch đường các gói tin trong mạng, các gói này có thể phải đi qua nhiều chặng trước khi đến được đích cuối cùng. Nó luôn tìm các tuyến truyền thông không tắc nghẽn để đưa các gói tin đến đích.

    Tầng mạng cung các các phương tiện để truyền các gói tin qua mạng, thậm chí qua một mạng của mạng (network of network). Bởi vậy nó cần phải đáp ứng với nhiều kiểu mạng và nhiều kiểu dịch vụ cung cấp bởi các mạng khác nhau. hai chức năng chủ yếu của tầng mạng là chọn đường (routing) và chuyển tiếp (relaying). Tầng mạng là quan trọng nhất khi liên kết hai loại mạng khác nhau như mạng Ethernet với mạng Token Ring khi đó phải dùng một bộ tìm đường (quy định bởi tầng mạng) để chuyển các gói tin từ mạng này sang mạng khác và ngược lại.

    Việc chọn đường là sự lựa chọn một con đường để truyền một đơn vị dữ liệu (một gói tin chẳng hạn) từ trạm nguồn tới trạm đích của nó. Một kỹ thuật chọn đường phải thực hiện hai chức năng chính sau đây:

    Quyết định chọn đường tối ưu dựa trên các thông tin đã có về mạng tại thời điểm đó thông qua những tiêu chuẩn tối ưu nhất định.

    Cập nhật các thông tin về mạng, tức là thông tin dùng cho việc chọn đường, trên mạng luôn có sự thay đổi thường xuyên nên việc cập nhật là việc cần thiết.

    Tầng vận chuyển (transport layer) là tầng cơ sở mà ở đó một máy tính của mạng chia sẻ thông tin với một máy khác. Tầng vận chuyển đồng nhất mỗi trạm bằng một địa chỉ duy nhất và quản lý sự kết nối giữa các trạm. Tầng vận chuyển cũng chia các gói tin lớn thành các gói tin nhỏ hơn trước khi gửi đi. Thông thường tầng vận chuyển đánh số các gói tin và đảm bảo chúng chuyển theo đúng thứ tự.

    Tầng vận chuyển là tầng cuối cùng chịu trách nhiệm về mức độ an toàn trong truyền dữ liệu nên giao thức tầng vận chuyển phụ thuộc rất nhiều vào bản chất của tầng mạng. Người ta chia giao thức tầng mạng thành các loại sau:

    Mạng loại A: Có tỷ suất lỗi và sự cố có báo hiệu chấp nhận được (tức là chất lượng chấp nhận được). Các gói tin được giả thiết là không bị mất. Tầng vận chuyển không cần cung cấp các dịch vụ phục hồi hoặc sắp xếp thứ tự lại.

    Mạng loại B: Có tỷ suất lỗi chấp nhận được nhưng tỷ suất sự cố có báo hiệu lại không chấp nhận được. Tầng giao vận phải có khả năng phục hồi lại khi xẩy ra sự cố.

    Mạng loại C: Có tỷ suất lỗi không chấp nhận được (không tin cậy) hay là giao thức không liên kết. Tầng giao vận phải có khả năng phục hồi lại khi xảy ra lỗi và sắp xếp lại thứ tự các gói tin.

    Tầng 5: Giao dịch (Session)

    Tầng giao dịch (session layer) thiết lập “các giao dịch” giữa các trạm trên mạng, nó đặt tên nhất quán cho mọi thành phần muốn đối thoại với nhau và lập ánh xa giữa các tên với địa chỉ của chúng. Một giao dịch phải được thiết lập trước khi dữ liệu được truyền trên mạng, tầng giao dịch đảm bảo cho các giao dịch được thiết lập và duy trì theo đúng qui định.

    Tầng giao dịch còn cung cấp cho người sử dụng các chức năng cần thiết để quản trị các giao dịnh ứng dụng của họ, cụ thể là:

    Điều phối việc trao đổi dữ liệu giữa các ứng dụng bằng cách thiết lập và giải phóng (m?t cách lơgic) các phiên (hay cịn g?i là các h?i tho?i – dialogues)

    Cung cấp các điểm đồng bộ để kiểm soát việc trao đổi dữ liệu.

    Áp đặt các qui tắc cho các tương tác giữa các ứng dụng của người sử dụng.

    Cung cấp cơ chế “lấy lượt” (nắm quyền) trong quá trình trao đổi dữ liệu.

    Trong trường hợp mạng là hai chiều luân phiên thì nẩy sinh vấn đề: hai người sử dụng luân phiên phải “lấy lượt” để truyền dữ liệu. Tầng giao dịch duy trì tương tác luân phiên bằng cách báo cho mỗi người sử dụng khi đến lượt họ được truyền dữ liệu. Vấn đề đồng bộ hóa trong tầng giao dịch cũng được thực hiện như cơ chế kiểm tra/phục hồi, dịch vụ này cho phép người sử dụng xác định các điểm đồng bộ hóa trong dòng dữ liệu đang chuyển vận và khi cần thiết có thể khôi phục việc hội thoại bắt đầu từ một trong các điểm đó

    Ở một thời điểm chỉ có một người sử dụng đó quyền đặc biệt được gọi các dịch vụ nhất định của tầng giao dịch, việc phân bổ các quyền này thông qua trao đổi thẻ bài (token). Ví dụ: Ai có được token sẽ có quyền truyền dữ liệu, và khi người giữ token trao token cho người khác thi cũng có nghĩa trao quyền truyền dữ liệu cho người đó.

    Tầng giao dịch có các hàm cơ bản sau:

    Give Token cho phép người sử dụng chuyển một token cho một người sử dụng khác của một liên kết giao dịch.

    Please Token cho phép một người sử dụng chưa có token có thể yêu cầu token đó.

    Give Control dùng để chuyển tất cả các token từ một người sử dụng sang một người s? d?ng khác.

    Tầng 6: Trình diễn (Presentation)

    Trong giao tiếp giữa các ứng dụng thông qua mạng với cùng một dữ liệu có thể có nhiều cách biểu diễn khác nhau. Thông thường dạng biểu diễn dùng bởi ứng dụng nguồn và dạng biểu diễn dùng bởi ứng dụng đích có thể khác nhau do các ứng dụng được chạy trên các hệ thống hoàn toàn khác nhau (như hệ máy Intel và hệ máy Motorola). Tầng trình diễn (Presentation layer) phải chịu trách nhiệm chuyển đổi dữ liệu gửi đi trên mạng từ một loại biểu diễn này sang một loại khác.

    Tầng trình diễn cũng có thể được dùng kĩ thuật mã hóa để xáo trộn các dữ liệu trước khi được truyền đi và giải mã ở đầu đến để bảo mật.

    Tầng 7: Ứng dụng (Application)

    Tầng ứng dụng (Application layer) là tầng cao nhất của mô hình OSI, nó xác định giao diện giữa người sử dụng và môi trường OSI và giải quyết các kỹ thuật mà các chương trình ứng dụng dùng để giao tiếp với mạng.

    Để cung cấp phương tiện truy nhập môi trường OSI cho các tiến trình ứng dụng, Người ta thiết lập các thực thể ứng dụng (AE), các thực thể ứng dụng sẽ gọi đến các phần tử dịch vụ ứng dụng (Application Service Element – viết tắt là ASE) của chúng. Mỗi thực thể ứng dụng có thể gồm một hoặc nhiều các phần tử dịch vụ ứng dụng. Các phần tử dịch vụ ứng dụng được phối hợp trong môi trường của thực thể ứng dụng thông qua các liên kết (association) gọi là đối tượng liên kết đơn (Single Association Object – viết tắt là SAO). SAO điều khiển việc truyền thông trong suốt vòng đời của liên kết đó cho phép tuần tự hóa các sự kiện đến từ các ASE thành tố của nó.

    CHƯƠNG 6 : CÁC THIẾT BỊ LIÊN KẾT MẠNG

    6.1. REPEATER (BỘ TIẾP SỨC)

    Repeater là loại thiết bị phần cứng đơn giản nhất trong các thiết bị liên kết mạng, nó được hoạt động trong tầng vật lý của mô hình hệ thống mở OSI. Repeater dùng để nối 2 mạng giống nhau hoặc các phần một mạng cùng có một nghi thức và một cấu hình. Khi Repeater nhận được một tín hiệu từ một phía của mạng thì nó sẽ phát tiếp vào phía kia của mạng.

    Repeater điện nối với đường dây điện ở cả hai phía của nó, nó nhận tín hiệu điện từ một phía và phát lại về phía kia. Khi một mạng sử dụng Repeater điện để nối các phần của mạng lại thì có thể làm tăng khoảng cách của mạng, nhưng khoảng cách đó luôn bị hạn chế bởi một khoảng cách tối đa do độ trễ của tín hiệu. Ví dụ với mạng sử dụng cáp đồng trục 50 thì khoảng cách tối đa là 2.8 km, khoảng cách đó không thể kéo thêm cho dù sử dụng thêm Repeater.

    Repeater điện quang liên kết với một đầu cáp quang và một đầu là cáp điện, nó chuyển một tín hiệu điện từ cáp điện ra tín hiệu quang để phát trên cáp quang và ngược lại. Việc sử dụng Repeater điện quang cũng làm tăng thêm chiều dài của mạng.

    Việc sử dụng Repeater không thay đổi nội dung các tín hiện đi qua nên nó chỉ được dùng để nối hai mạng có cùng giao thức truyền thông (như hai mạng Ethernet hay hai mạng Token ring) nhưng không thể nối hai mạng có giao thức truyền thông khác nhau (như một mạng Ethernet và một mạng Token ring). Thêm nữa Repeater không làm thay đổi khối lượng chuyển vận trên mạng nên việc sử dụng không tính toán nó trên mạng lớn sẽ hạn chế hiệu năng của mạng. Khi lưa chọn sử dụng Repeater cần chú ý lựa chọn loại có tốc độ chuyển vận phù hợp với tốc độ của mạng.

    6.2. BRIDGE (CẦU NỐI)

    Bridge là một thiết bị có xử lý dùng để nối hai mạng giống nhau hoặc khác nhau, nó có thể được dùng với các mạng có các giao thức khác nhau. Cầu nối hoạt động trên tầng liên kết dữ liệu nên không như bộ tiếp sức phải phát lại tất cả những gì nó nhận được thì cầu nối đọc được các gói tin của tầng liên kết dữ liệu trong mô hình OSI và xử lý chúng trước khi quyết định có chuyển đi hay không.

    Khi nhận được các gói tin Bridge chọn lọc và chỉ chuyển những gói tin mà nó thấy cần thiết. Điều này làm cho Bridge trở nên có ích khi nối một vài mạng với nhau và cho phép nó hoạt động một cách mềm dẻo.

    Để thực hiện được điều này trong Bridge ở mỗi đầu kết nối có một bảng các địa chỉ các trạm được kết nối vào phía đó, khi hoạt động cầu nối xem xét mỗi gói tin nó nhận được bằng cách đọc địa chỉ của nơi gửi và nhận và dựa trên bảng địa chỉ phía nhận được gói tin nó quyết định gửi gói tin hay không và bổ xung bảng địa chỉ.

    Khi đọc địa chỉ nơi nhận Bridge kiểm tra xem trong bảng địa chỉ của phần mạng nhận được gói tin có địa chỉ đó hay không, nếu có thì Bridge sẽ cho rằng đó là gói tin nội bộ thuộc phần mạng mà gói tin đến nên không chuyển gói tin đó đi, nếu ngược lại thì Bridge mới chuyển sang phía bên kia. Ở đây chúng ta thấy một trạm không cần thiết chuyển thông tin trên toàn mạng mà chỉ trên phần mạng có trạm nhận mà thôi.

    Hiện nay có hai loại Bridge đang được sử dụng là Bridge vận chuyển và Bridge biên dịch. Bridge vận chuyển dùng để nối hai mạng cục bộ cùng sử dụng một giao thức truyền thông của tầng liên kết dữ liệu, tuy nhiên mỗi mạng có thể sử dụng loại dây nối khác nhau. Bridge vận chuyển không có khả năng thay đổi cấu trúc các gói tin mà nó nhận được mà chỉ quan tâm tới việc xem xét và chuyển vận gói tin đó đi.

    Bridge biên dịch dùng để nối hai mạng cục bộ có giao thức khác nhau nó có khả năng chuyển một gói tin thuộc mạng này sang gói tin thuộc mạng kia trước khi chuyển qua

    Ví dụ : Bridge biên dịch nối một mạng Ethernet và một mạng Token ring. Khi đó Cầu nối thực hiện như một nút token ring trên mạng Token ring và một nút Enthernet trên mạng Ethernet. Cầu nối có thể chuyền một gói tin theo chuẩn đang sử dụng trên mạng Enthernet sang chuẩn đang sử dụng trên mạng Token ring.

    Tuy nhiên chú ý ở đây cầu nối không thể chia một gói tin ra làm nhiều gói tin cho nên phải hạn chế kích thước tối đa các gói tin phù hợp với cả hai mạng. Ví dụ như kích thước tối đa của gói tin trên mạng Ethernet là 1500 bytes và trên mạng Token ring là 6000 bytes do vậy nếu một trạm trên mạng token ring gửi một gói tin cho trạm trên mạng Ethernet với kích thước lớn hơn 1500 bytes thì khi qua cầu nối số lượng byte dư sẽ bị chặt bỏ.

    Mở rộng mạng hiện tại khi đã đạt tới khoảng cách tối đa do Bridge sau khi sử lý gói tin đã phát lại gói tin trên phần mạng còn lại nên tín hiệu tốt hơn bộ tiếp sức.

    Giảm bớt tắc nghẽn mạng khi có quá nhiều trạm bằng cách sử dụng Bridge, khi đó chúng ta chia mạng ra thành nhiều phần bằng các Bridge, các gói tin trong nội bộ tùng phần mạng sẽ không được phép qua phần mạng khác.

    Để nối các mạng có giao thức khác nhau.

    Một vài Bridge còn có khả năng lựa chọn đối tượng vận chuyển. Nó có thể chỉ chuyển vận những gói tin của nhửng địa chỉ xác định. Ví dụ : cho phép gói tin của máy A, B qua Bridge 1, gói tin của máy C, D qua Bridge 2.

    6.3. ROUTER (BỘ TÌM ĐƯỜNG)

    Router là một thiết bị hoạt động trên tầng mạng, nó có thể tìm được đường đi tốt nhất cho các gói tin qua nhiều kết nối để đi từ trạm gửi thuộc mạng đầu đến trạm nhận thuộc mạng cuối. Router có thể được sử dụng trong việc nối nhiều mạng với nhau và cho phép các gói tin có thể đi theo nhiều đường khác nhau để tới đích.

    Khi xử lý một gói tin Router phải tìm được đường đi của gói tin qua mạng. Để làm được điều đó Router phải tìm được đường đi tốt nhất trong mạng dựa trên các thông tin nó có về mạng, thông thường trên mỗi Router có một bảng chỉ đường (Router table). Dựa trên dữ liệu về Router gần đó và các mạng trong liên mạng, Router tính được bảng chỉ đường (Router table) tối ưu dựa trên một thuật toán xác định trước.

    Người ta phân chia Router thành hai loại là Router có phụ thuộc giao thức (The protocol dependent routers) và Router không phụ thuộc vào giao thức (The protocol independent router) dựa vào phương thức xử lý các gói tin khi qua Router.

    Router có phụ thuộc giao thức: Chỉ thực hiện việc tìm đường và truyền gói tin từ mạng này sang mạng khác chứ không chuyển đổi phương cách đóng gói của gói tin cho nên cả hai mạng phải dùng chung một giao thức truyền thông.

    Router không phụ thuộc vào giao thức: có thể liên kết các mạng dùng giao thức truyền thông khác nhau và có thể chuyển đôiø gói tin của giao thức này sang gói tin của giao thức kia, Router cũng ù chấp nhận kích thức các gói tin khác nhau (Router có thể chia nhỏ một gói tin lớn thành nhiều gói tin nhỏ trước truyền trên mạng).

    Các lý do sử dụng Router :

    Router có các phần mềm lọc ưu việt hơn là Bridge do các gói tin muốn đi qua Router cần phải gửi trực tiếp đến nó nên giảm được số lượng gói tin qua nó. Router thường được sử dụng trong khi nối các mạng thông qua các đường dây thuê bao đắt tiền do nó không truyền dư lên đường truyền.

    Router có thể dùng trong một liên mạng có nhiều vùng, mỗi vùng có giao thức riêng biệt.

    Router có thể xác định được đường đi an toàn và tốt nhất trong mạng nên độ an toàn của thông tin được đảm bảo hơn.

    Trong một mạng phức hợp khi các gói tin luân chuyển các đường có thể gây nên tình trạng tắc nghẽn của mạng thì các Router có thể được cài đặt các phương thức nhằm tránh được tắc nghẽn.

    Phương thức véc tơ khoảng cách : mỗi Router luôn luôn truyền đi thông tin về bảng chỉ đường của mình trên mạng, thông qua đó các Router khác sẽ cập nhật lên bảng chỉ đường của mình.

    Phương thức trạng thái tĩnh : Router chỉ truyền các thông báo khi có phát hiện có sự thay đổi trong mạng vàchỉ khi đó các Routerkhác ù cập nhật lại bảng chỉ đường, thông tin truyền đi khi đó thường là thông tin về đường truyền.

    Một số giao thức hoạt động chính của Router

    RIP(Routing Information Protocol) được phát triển bởi Xerox Network system và sử dụng SPX/IPX và TCP/IP. RIP hoạt động theo phương thức véc tơ khoảng cách.

    NLSP (Netware Link Service Protocol) được phát triển bởi Novell dùng để thay thế RIP hoạt động theo phương thức véctơ khoảng cách, mổi Router được biết cấu trúc của mạng và việc truyền các bảng chỉ đường giảm đi..

    OSPF (Open Shortest Path First) là một phần của TCP/IP với phương thức trạng thái tĩnh, trong đó có xét tới ưu tiên, giá đường truyền, mật độ truyền thông…

    OSPF-IS (Open System Interconnection Intermediate System to Intermediate System) là một phần của TCP/IP với phương thức trạng thái tĩnh, trong đó có xét tới ưu tiên, giá đường truyền, mật độ truyền thông…

    6.4. GATEWAY (CỔNG NỐI)

    Gateway dùng để kết nối các mạng không thuần nhất chẳng hạn như các mạng cục bộ và các mạng máy tính lớn (Mainframe), do các mạng hoàn toàn không thuần nhất nên việc chuyển đổi thực hiện trên cả 7 tầng của hệ thống mở OSI. Thường được sử dụng nối các mạng LAN vào máy tính lớn. Gateway có các giao thức xác định trước thường là nhiều giao thức, một Gateway đa giao thức thường được chế tạo như các Card có chứa các bộ xử lý riêng và cài đặt trên các máy tính hoặc thiết bị chuyên biệt.

    6.5. HUB (BỘ TẬP TRUNG)

    Hub thường được dùng để nối mạng, thông qua những đầu cắm của nó người ta liên kết với các máy tính dưới dạng hình sao.

    Người ta phân biệt các Hub thành 3 loại như sau sau :

    Hub bị động (Passive Hub) : Hub bị động không chứa các linh kiện điện tử và cũng không xử lý các tín hiệu dữ liệu, nó có chức năng duy nhất là tổ hợp các tín hiệu từ một số đoạn cáp mạng. Khoảng cách giữa một máy tính và Hub không thể lớn hơn một nửa khoảng cách tối đa cho phép giữa 2 máy tính trên mạng (ví dụ khoảng cách tối đa cho phép giữa 2 máy tính của mạng là 200m thì khoảng cách tối đa giữa một máy tính và hub là 100m). Các mạng ARCnet thường dùng Hub bị động.

    Hub chủ động (Active Hub) : Hub chủ động có các linh kiện điện tử có thể khuyếch đại và xử lý các tín hiệu điện tử truyền giữa các thiết bị của mạng. Qúa trình xử lý tín hiệu được gọi là tái sinh tín hiệu, nó làm cho tín hiệu trở nên tốt hơn, ít nhạy cảm với lỗi do vậy khoảng cách giữa các thiết bị có thể tăng lên. Tuy nhiên những ưu điểm đó cũng kéo theo giá thành của Hub chủ động cao hơn nhiều so với Hub bị động. Các mạng Token ring có xu hướng dùng Hub chủ động.

    Hub thông minh (Intelligent Hub): cũng là Hub chủ động nhưng có thêm các chức năng mới so với loại trước, nó có thể có bộ vi xử lý của mình và bộ nhớ mà qua đó nó không chỉ cho phép điều khiển hoạt động thông qua các chương trình quản trị mạng mà nó có thể hoạt động như bộ tìm đường hay một cầu nối. Nó có thể cho phép tìm đường cho gói tin rất nhanh trên các cổng của nó, thay vì phát lại gói tin trên mọi cổng thì nó có thể chuyển mạch để phát trên một cổng có thể nối tới trạm đích.

    CHƯƠNG 7 : GIAO THỨC TCP/IP

    Giao thức TCP/IP được phát triển từ mạng ARPANET và Internet và được dùng như giao thức mạng và vận chuyển trên mạng Internet. TCP (Transmission Control Protocol) là giao thức thuộc tầng vận chuyển và IP (Internet Protocol) là giao thức thuộc tầng mạng của mô hình OSI. Họ giao thức TCP/IP hiện nay là giao thức được sử dụng rộng rãi nhất để liên kết các máy tính và các mạng.

    Hiện nay các máy tính của hầu hết các mạng có thể sử dụng giao thức TCP/IP để liên kết với nhau thông qua nhiều hệ thống mạng với kỹ thuật khác nhau. Giao thức TCP/IP thực chất là một họ giao thức cho phép các hệ thống mạng cùng làm việc với nhau thông qua việc cung cấp phương tiện truyền thông liên mạng.

    7.1. GIAO THỨC IP

    7.1.1. Tổng quát

    Nhiệm vụ chính của giao thức IP là cung cấp khả năng kết nối các mạng con thành liên kết mạng để truyền dữ liệu, vai trò của IP là vai trò của giao thức tầng mạng trong mô hình OSI. Giao thức IP là một giao thức kiểu không liên kết (connectionlees) có nghĩa là không cần có giai đoạn thiết lập liên kết trước khi truyền dữ liệu.

    Sơ đồ địa chỉ hóa để định danh các trạm (host) trong liên mạng được gọi là địa chỉ IP 32 bits (32 bit IP address). Mỗi giao diện trong 1 máy có hỗ trợ giao thức IP đều phải được gán 1 địa chỉ IP (một máy tính có thể gắn với nhiều mạng do vậy có thể có nhiều địa chỉ IP). Địa chỉ IP gồm 2 phần: địa chỉ mạng (netid) và địa chỉ máy (hostid). Mỗi địa chỉ IP có độ dài 32 bits được tách thành 4 vùng (mỗi vùng 1 byte), có thể biểu thị dưới dạng thập phân, bát phân, thập lục phân hay nhị phân. Cách viết phổ biến nhất là dùng ký pháp thập phân có dấu chấm (dotted decimal notation) để tách các vùng. Mục đích của địa chỉ IP là để định danh duy nhất cho một máy tính bất kỳ trên liên mạng.

    Do tổ chức và độ lớn của các mạng con (subnet) của liên mạng có thể khác nhau, người ta chia các địa chỉ IP thành 5 lớp, ký hiệu là A, B, C, D và E. Trong lớp A, B, C chứa địa chỉ có thể gán được. Lớp D dành riêng cho lớp kỹ thuật multicasting. Lớp E được dành những ứng dụng trong tương lai.

    Netid trong địa chỉ mạng dùng để nhận dạng từng mạng riêng biệt. Các mạng liên kết phải có địa chỉ mạng (netid) riêng cho mỗi mạng. Ở đây các bit đầu tiên của byte đầu tiên được dùng để định danh lớp địa chỉ (0 – lớp A, 10 – lớp B, 110 – lớp C, 1110 – lớp D và 11110 – lớp E).

    Ơû đây ta xét cấu trúc của các lớp địa chỉ có thể gán được là lớp A, lớp B, lớp C

    Cấu trúc của các địa chỉ IP như sau:

    Mạng lớp A: địa chỉ mạng (netid) là 1 Byte và địa chỉ host (hostid) là 3 byte.

    Mạng lớp B: địa chỉ mạng (netid) là 2 Byte và địa chỉ host (hostid) là 2 byte.

    Mạng lớp C: địa chỉ mạng (netid) là 3 Byte và địa chỉ host (hostid) là 1 byte.

    Lớp A cho phép định danh tới 126 mạng, với tối đa 16 triệu host trên mỗi mạng. Lớp này được dùng cho các mạng có số trạm cực lớn.

    Lớp B cho phép định danh tới 16384 mạng, với tối đa 65534 host trên mỗi mạng.

    Lớp C cho phép định danh tới 2 triệu mạng, với tối đa 254 host trên mỗi mạng. Lớp này được dùng cho các mạng có ít trạm.

    Trong nhiều trường hợp, một mạng có thể được chia thành nhiều mạng con (subnet), lúc đó có thể đưa thêm các vùng subnetid để định danh các mạng con. Vùng subnetid được lấy từ vùng hostid, cụ thể đối với lớp A, B, C như ví dụ sau:

    VER (4 bits): chỉ version hiện hành của giao thức IP hiện được cài đặt, Việc có chỉ số version cho phép có các trao đổi giữa các hệ thống sử dụng version cũ và hệ thống sử dụng version mới.

    IHL (4 bits): chỉ độ dài phần đầu (Internet header Length) của gói tin datagram, tính theo đơn vị từ ( 32 bits). Trường này bắt buột phải có vì phần đầu IP có thể có độ dài thay đổi tùy ý. Độ dài tối thiểu là 5 từ (20 bytes), độ dài tối đa là 15 từ hay là 60 bytes.

    Type of service (8 bits): đặc tả các tham số về dịch vụ nhằm thông báo cho mạng biết dịch vụ nào mà gói tin muốn được sử dụng, chẳng hạn ưu tiên, thời hạn chậm trễ, năng suất truyền và độ tin cậy. Hình sau cho biết ý nghĩ của trường 8 bits này.

    D (Delay) (1 bit): chỉ độ trễ yêu cầu trong đó

    D = 0 gói tin có độ trễ bình thường

    D = 1 gói tin độ trễ thấp

    T (Throughput) (1 bit): chỉ độ thông lượng yêu cầu sử dụng để truyền gói tin với lựa chọn truyền trên đường thông suất thấp hay đường thông suất cao.

    T = 0 thông lượng bình thường và

    T = 1 thông lượng cao

    R (Reliability) (1 bit): chỉ độ tin cậy yêu cầu

    R = 0 độ tin cậy bình thường

    R = 1 độ tin cậy cao

    Total Length (16 bits): chỉ độ dài toàn bộ gói tin, kể cả phần đầu tính theo đơn vị byte với chiều dài tối đa là 65535 bytes. Hiện nay giới hạn trên là rất lớn nhưng trong tương lai với những mạng Gigabit thì các gói tin có kích thước lớn là cần thiết.

    Identification (16 bits): cùng với các tham số khác (như Source Address và Destination Address) tham số này dùng để định danh duy nhất cho một datagram trong khoảng thời gian nó vẫn còn trên liên mạng.

    bit 1: (DF) = 0 (May Fragment) = 1 (Don’t Fragment)

    bit 2: (MF) = 0 (Last Fragment) = 1 (More Fragments)

    Fragment Offset (13 bits): chỉ vị trí của đoạn (fragment) ở trong datagram tính theo đơn vị 8 bytes, có nghĩa là phần dữ liệu mỗi gói tin (trừ gói tin cuối cùng) phải chứa một vùng dữ liệu có độ dài là bội số của 8 bytes. Điều này có ý nghĩa là phải nhân giá trị của Fragment offset với 8 để tính ra độ lệch byte.

    Nút trung gian của mạng không được gởi 1 gói tin mà trường này có giá trị= 0.

    Một giao thức có thể ấn định Time To Live để thực hiện cuộc ra tìm tài nguyên trên mạng trong phạm vi mở rộng.

    Một giá trị cố định tối thiểu phải đủ lớn cho mạng hoạt động tốt.

    Protocol (8 bits): chỉ giao thức tầng trên kế tiếp sẽ nhận vùng dữ liệu ở trạm đích (hiện tại thường là TCP hoặc UDP được cài đặt trên IP). Ví dụ: TCP có giá trị trường Protocol là 6, UDP có giá trị trường Protocol là 17

    Header Checksum (16 bits): Mã kiểm soát lỗi của header gói tin IP. Source Address (32 bits): Địa chỉ của máy nguồn. Destination Address (32 bits): địa chỉ của máy đích Options (độ dài thay đổi): khai báo các lựa chọn do người gửi yêu cầu (tuỳ theo từng chương trình).

    Padding (độ dài thay đổi): Vùng đệm, được dùng để đảm bảo cho phần header luôn kết thúc ở một mốc 32 bits.

    Data (độ dài thay đổi): Trên một mạng cục bộ như vậy, hai trạm chỉ có thể liên lạc với nhau nếu chúng biết địa chỉ vật lý của nhau. Như vậy vấn đề đặt ra là phải thực hiện ánh xạ giữa địa chỉ IP (32 bits) và địa chỉ vật lý (48 bits) của một trạm.

    7.1.2. Các giao thức trong mạng IP

    Để mạng với giao thức IP hoạt động được tốt người ta cần một số giao thức bổ sung, các giao thức này đều không phải là bộ phận của giao thức IP và giao thức IP sẽ dùng đến chúng khi cần.

    Giao thức ARP (Address Resolution Protocol): Ở đây cần lưu ý rằng các địa chỉ IP được dùng để định danh các host và mạng ở tầng mạng của mô hình OSI, và chúng không phải là các địa chỉ vật lý (hay địa chỉ MAC) của các trạm trên đó một mạng cục bộ (Ethernet, Token Ring…). Trên một mạng cục bộ hai trạm chỉ có thể liên lạc với nhau nếu chúng biết địa chỉ vật lý của nhau. Như vậy vấn đề đặt ra là phải tìm được ánh xạ giữa địa chỉ IP (32 bits) và địa chỉ vật lý của một trạm. Giao thức ARP đã được xây dựng để tìm địa chỉ vật lý từ địa chỉ IP khi cần thiết.

    Giao thức RARP (Reverse Address Resolution Protocol): Là giao thức ngược với giao thức ARP. Giao thức RARP được dùng để tìm địa chỉ IP từ địa chỉ vật lý.

    Giao thức ICMP (Internet Control Message Protocol): Giao thức này thực hiện truyền các thông báo điều khiển (báo cáo về các tình trạng các lỗi trên mạng…) giữa các gateway hoặc một nút của liên mạng. Tình trạng lỗi có thể là: một gói tin IP không thể tới đích của nó, hoặc một router không đủ bộ nhớ đệm để lưu và chuyển một gói tin IP, Một thông báo ICMP được tạo và chuyển cho IP. IP sẽ “bọc” (encapsulate) thông báo đó với một IP header và truyền đến cho router hoặc trạm đích.

    3. Các bước hoạt động của giao thức IP

    Khi giao thức IP được khởi động nó trở thành một thực thể tồn tại trong máy tính và bắt đầu thực hiện những chức năng của mình, lúc đó thực thể IP là cấu thành của tầng mạng, nhận yêu cầu từ các tầng trên nó và gửi yêu cầu xuống các tầng dưới nó.

    Đối với thực thể IP ở máy nguồn, khi nhận được một yêu cầu gửi từ tầng trên, nó thực hiện các bước sau đây:

    Tạo một IP datagram dựa trên tham số nhận được.

    Tính checksum và ghép vào header của gói tin.

    Ra quyết định chọn đường: hoặc là trạm đích nằm trên cùng mạng hoặc một gateway sẽ được chọn cho chặng tiếp theo.

    Chuyển gói tin xuống tầng dưới để truyền qua mạng.

    Đối với router, khi nhận được một gói tin đi qua, nó thực hiện các động tác sau:

    1) Tính chesksum, nếu sai thì loại bỏ gói tin.

    2) Giảm giá trị tham số Time – to Live. nếu thời gian đã hết thì loại bỏ gói tin.

    3) Ra quyết định chọn đường.

    4) Phân đoạn gói tin, nếu cần.

    5) Kiến tạo lại IP header, bao gồm giá trị mới của các vùng Time – to -Live, Fragmentation và Checksum.

    6) Chuyển datagram xuống tầng dưới để chuyển qua mạng.

    Cuối cùng khi một datagram nhận bởi một thực thể IP ở trạm đích, nó sẽ thực hiện bởi các công việc sau:

    1) Tính checksum. Nếu sai thì loại bỏ gói tin.

    2) Tập hợp các đoạn của gói tin (nếu có phân đoạn)

    3) Chuyển dữ liệu và các tham số điều khiển lên tầng trên.

    7.2. GIAO THỨC ĐIỀU KHIỂN TRUYỀN DỮ LIỆU TCP

    TCP là một giao thức “có liên kết” (connection – oriented), nghĩa là cần phải thiết lập liên kết giữa hai thực thể TCP trước khi chúng trao đổi dữ liệu với nhau. Một tiến trình ứng dụng trong một máy tính truy nhập vào các dịch vụ của giao thức TCP thông qua một cổng (port) của TCP. Số hiệu cổng TCP được thể hiện bởi 2 bytes.

    Các thực thể của tầng trên sử dụng giao thức TCP thông qua các hàm gọi (function calls) trong đó có các hàm yêu cầu để yêu cầu, để trả lời. Trong mỗi hàm còn có các tham số dành cho việc trao đổi dữ liệu.

    Các bước thực hiện để thiết lập một liên kết TCP/IP: Thiết lập một liên kết mới có thể được mở theo một trong 2 phương thức: chủ động (active) hoặc bị động (passive).

    Phương thức bị động, người sử dụng yêu cầu TCP chờ đợi một yêu cầu liên kết gửi đến từ xa thông qua một đầu nối TCP/IP (tại chỗ). Người sử dụng dùng hàm passive Open có khai báo cổng TCP và các thông số khác (mức ưu tiên, mức an toàn)

    Với phương thức chủ động, người sử dụng yêu cầu TCP mở một liên kết với một một đầu nối TCP/IP ở xa. Liên kết sẽ được xác lập nếu có một hàm Passive Open tương ứng đã được thực hiện tại đầu nối TCP/IP ở xa đó.

    Bảng liệt kê một vài cổng TCP phổ biến.

    Khi người sử dụng gửi đi một yêu cầu mở liên kết sẽ được nhận hai thông số trả lời từ TCP.

    Thông số Open ID được TCP trả lời ngay lập tức để gán cho một liên kết cục bộ (local connection name) cho liên kết được yêu cầu. Thông số này về sau được dùng để tham chiếu tới liên kết đó. (Trong trường hợp nếu TCP không thể thiết lập được liên kết yêu cầu thì nó phải gửi tham số Open Failure để thông báo.)

    Khi TCP thiết lập được liên kết yêu cầu nó gửi tham số Open Sucsess được dùng để thông báo liên kết đã được thiết lập thành công. Thông báo này dược chuyển đến trong cả hai trường hợp bị động và chủ động. Sau khi một liên kết được mở, việc truyền dữ liệu trên liên kết có thể được thực hiện.

    Các bước thực hiện khi truyền và nhận dữ liệu: Sau khi xác lập được liên kết người sữ dụng gửi và nhận dữ liệu. Việc gửi và nhận dữ liệu thông qua các hàm Send và receive.

    Hàm Send: Dữ liệu được gửi xuống TCP theo các khối (block). Khi nhận được một khối dữ liệu, TCP sẽ lưu trữ trong bộ đệm (buffer). Nếu cờ PUSH được dựng thì toàn bộ dữ liệu trong bộ đệm được gửi, kể cả khối dữ liệu mới đến sẽ được gửi đi. Ngược lại cờ PUSH không được dựng thì dữ liệu được giữ lại trong bộ đệm và sẽ gửi đi khi có cơ hội thích hợp (chẳng hạn chờ thêm dữ liệu nữa để gữi đi với hiệu quả hơn).

    Hàm reveive: Ở trạm đích dữ liệu sẽ được TCP lưu trong bộ đệm gắn với mỗi liên kết. Nếu dữ liệu được đánh dấu với một cờ PUSH thì toàn bộ dữ liệu trong bộ đệm (kể cả các dữ liệu được lưu từ trước) sẽ được chuyển lên cho người sữ dụng. Còn nếu dữ liệu đến không được đánh dấu với cờ PUSH thì TCP chờ tới khi thích hợp mới chuyển dữ liệu với mục tiêu tăng hiệu quả hệ thống.

    Nói chung việc nhận và giao dữ liệu cho người sử dụng đích của TCP phụ thuộc vào việc cài đặt cụ thể. Trường hợp cần chuyển gấp dữ liệu cho người sử dụng thì có thể dùng cờ URGENT và đánh dấu dữ liệu bằng bit URG để báo cho người sử dụng cần phải sử lý khẩn cấp dữ liệu đó.

    Các bước thực hiện khi đóng một liên kết: Việc đóng một liên kết khi không cần thiết được thực hiên theo một trong hai cách: dùng hàm Close hoặc dùng hàm Abort.

    Hàm Close: yêu cầu đóng liên kết một cách bình thường. Có nghĩa là việc truyền dữ liệu trên liên kết đó đã hoàn tất. Khi nhận được một hàm Close TCP sẽ truyền đi tất cả dữ liệu còn trong bộ đệm thông báo rằng nó đóng liên kết. Lưu ý rằng khi một người sử dụng đã gửi đi một hàm Close thì nó vẫn phải tiếp tục nhận dữ liệu đến trên liên kết đó cho đến khi TCP đã báo cho phía bên kia biết về việc đóng liên kết và chuyển giao hết tất cả dữ liệu cho người sử dụng của mình.

    Hàm Abort: Người sử dụng có thể đóng một liên kết bất và sẽ không chấp nhận dữ liệu qua liên kết đó nữa. Do vậy dữ liệu có thể bị mất đi khi đang được truyền đi. TCP báo cho TCP ở xa biết rằng liên kết đã được hủy bỏ và TCP ở xa sẽ thông báo cho người sử dụng cũa mình.

    Một số hàm khác của TCP:

    Hàm Status: cho phép người sử dụng yêu cầu cho biết trạng thái của một liên kết cụ thể, khi đó TCP cung cấp thông tin cho người sử dụng.

    Đơn vị dữ liệu sử dụng trong TCP được gọi là segment (đoạn dữ liệu), có các tham số với ý nghĩa như sau:

    Destination Port (16 bit): Số hiệu cổng TCP của trạm đích.

    Sequence Number (32 bit): số hiệu của byte đầu tiên của segment trừ khi bit SYN được thiết lập. Nếy bit SYN được thiết lập thì Sequence Number là số hiệu tuần tự khởi đầu (ISN) và byte dữ liệu đầu tiên là ISN+1.

    Acknowledgment Number (32 bit): số hiệu của segment tiếp theo mà trạm nguồn đang chờ để nhận. Ngầm ý báo nhận tốt (các) segment mà trạm đích đã gửi cho trạm nguồn.

    Data offset (4 bit): số lượng bội của 32 bit (32 bit words) trong TCP header (tham số này chỉ ra vị trí bắt đầu của nguồn dữ liệu).

    Reserved (6 bit): dành để dùng trong tương lai

    Control bit (các bit điều khiển):

    URG: Vùng con trỏ khẩn (Ucgent Poiter) có hiệu lực.

    ACK: Vùng báo nhận (ACK number) có hiệu lực.

    PSH: Chức năng PUSH.

    RST: Khởi động lại (reset) liên kết.

    SYN: Đồng bộ hóa số hiệu tuần tự (sequence number).

    FIN: Không còn dữ liệu từ trạm nguồn.

    Window (16 bit): cấp phát credit để kiểm soát nguồn dữ liệu (cơ chế cửa sổ). Đây chính là số lượng các byte dữ liệu, bắt đầu từ byte được chỉ ra trong vùng ACK number, mà trạm nguồn đã sẵn sàng để nhận.

    Checksum (16 bit): mã kiểm soát lỗi cho toàn bộ segment (header + data)

    Urgemt Poiter (16 bit): con trỏ này trỏ tới số hiệu tuần tự của byte đi theo sau dữ liệu khẩn. Vùng này chỉ có hiệu lực khi bit URG được thiết lập.

    Options (độ dài thay đổi): khai báo các option của TCP, trong đó có độ dài tối đa của vùng TCP data trong một segment.

    Paddinh (độ dài thay đổi): phần chèn thêm vào header để đảm bảo phần header luôn kết thúc ở một mốc 32 bit. Phần thêm này gồm toàn số 0.

    TCP data (độ dài thay đổi): chứa dữ liệu của tầng trên, có độ dài tối đa ngầm định là 536 byte. Giá trị này có thể điều chỉnh bằng cách khai báo trong vùng options.

    7.3. GIAO THỨC UDP (USER DATAGRAM PROTOCOL)

    UDP (User Datagram Protocol) là giao thức theo phương thức không liên kết được sử dụng thay thế cho TCP ở trên IP theo yêu cầu của từng ứng dụng. Khác với TCP, UDP không có các chức năng thiết lập và kết thúc liên kết. Tương tự như IP, nó cũng không cung cấp cơ chế báo nhận (acknowledgment), không sắp xếp tuần tự các gói tin (datagram) đến và có thể dẫn đến tình trạng mất hoặc trùng dữ liệu mà không có cơ chế thông báo lỗi cho người gửi. Qua đó ta thấy UDP cung cấp các dịch vụ vận chuyển không tin cậy như trong TCP.

    Khuôn dạng UDP datagram được mô tả với các vùng tham số đơn giản hơn nhiều so với TCP segment.

    Trên thế giới có rất nhiều mạng máy tính, chúng được sử dụng để phục vụ cho nhiều lĩnh vực khác nhau như nghiên cứu khoa học, truyền dữ liệu, kinh doanh… Vì vậy nên các mạng này cũng rất đa dạng về chủng loại. Trong phần này ta xem xét một số mạng LAN và WAN thông dụng.

    8.1. MẠNG NOVELL NETWARE

    Được đưa ra bởi hãng Novell từ những năm 80 và đã được sử dụng nhiều trong các mạng cục bộ với số lượng ước tính hiện nay vào khoảng 50 -60%. Hệ điều hành mạng Novell NetWare là một hệ điều hành có độ an toàn cao đặc biệt là với các mạng có nhiều người sử dụng. Hệ điều hành mạng Netware khá phức tạp để lắp đặt và quản lý nhưng nó là một hệ điều hành mạng đang được dùng phổ biến nhất hiện nay. Hệ điều hành mạng Novell NetWare được thiết kế như một hệ thống mạng client-server trong đó các máy tính được chia thành hai loại:

    Những máy tính cung cấp tài nguyên cho mạng gọi là server hay còn gọi là máy chủ mạng.

    Máy sử dụng tài nguyên mạng gọi là clients hay còn gọi là trạm làm việc.

    Các server (File server) của Netware không chạy DOS mà bản thân Netware là một hệ điều hành cho server điều đó đã giải phóng Netware ra khỏi những hạn chế của DOS. Server của Netware dùng một cấu trúc hiệu quả hơn DOS để tổ chức các tập tin và thư mục, với Netware, chúng ta có thể chia mỗi ổ đĩa thành một hoặc nhiều tập đĩa (volumes), tương tự như các ổ đĩa logic của DOS. Các tập đĩa của Novell có tên chứ không phải là chữ cái. Tuy nhiên, để truy cập một tập đĩa của Netware từ một trạm làm việc chạy DOS, một chữ cái được gán cho tập đĩa.

    Với các hệ điều hành Netware 3.x và 4.x các server phải được dành riêng, trong đó chúng ta không thể dùng một file server làm thêm việc cùa Workstation, tuy điều đó tốn kém hơn vì phải mua một máy tính để làm server nhưng nó có hiệu quả hơn vì máy tính server có thể tập trung để phục vụ mạng. Còn với Netware 2.x thì có thể lưa chọn trong đó một file server có thể làm việc như một Workstation như hai tiến trình Server và Workstation tách tời nhau hoàn toàn.

    Các trạm làm việc trên một mạng Netware có thể là các máy tính DOS, chạy OS/2 hoặc các máy Macintosh. Nếu mạng vừa có máy PC và Macintosh thì Netware có thể là sự lựa chọn tốt.

    Tất cả các phiên bản của Netware đều có đặc trưng được gọi là tính chịu đựng sai hỏng của hệ (System Fault Tolerance SFT) được thiết kế để giữ cho mạng vẫn chạy ngay cả khi phần cứng có sai hỏng.

    NetWare là một hệ điều hành nhưng không phải là một hệ điều hành đa năng mà tập trung chủ yếu cho các ứng dụng truy xuất tài nguyên trên mạng, nó có một tập hợp xác định sẵn các dịch vụ dành cho người sử dụng. Tại đây Novell NetWare có một hệ thống các yêu cầu và trả lời mà Client và Server đều hiểu, nó bao gồm:

    Nhóm chương trình trên máy người dùng: Hệ điều hành trạm, các giao diện cho phép nhười sử dụng chi xuất các tài nguyên của mạng như là các tài nguyên của máy cục bộ, chương trình truyền số liệu qua mạng.

    Hệ điều hành trên máy máy chủ: Chương trình thực hiên từ DOS, Lưu các thông số của DOS, chuyển CPU của server qua chế độ protectied mode, quản lý việc sử dụng tài nguyên của mạng cho người sử dụng.

    Các tiện ích trên mạng: dành cho người sử dụng và người quản trị mạng.

    Novell NetWare hỗ trợ các giao thức cơ bản sau:

    Giao thức truy xuất (Access Protocol) (Ethernet, Token Ring, ARCnet, ProNET-10, FDDI)

    Giao thức trao đổi gói tin trên mạng (Internet Packet Exchange -IPX)

    Giao thức thông tin tìm đường (Routing Information Protocol – RIP)

    Giao thức thông báo dịch vụ (Sevice Advertising Protocol – SAP)

    Giao thức nhân NetWare (NetWare Core Protocol – NCP) cho phép người dùng truy xuất vào file server

    Do nhu cầu cần thích nghi với nhiều kiểu mạng và để dễ dàng nâng cấp và quản lý, Novell NetWare cũng được chia thành nhiều tầng giao thức tương tự cấu trúc 7 tầng cuả hệ thống mở OSI.

    Mạng dùng hệ điều hành Windows NT được đưa ra bởi hãng Microsoft với phiên bản mới nhất hiện nay là Windows NT 5.0, cụm từ windows NT được hiểu là công nghệ mạng trong môi trường Windows (Windows Network Technology). Hiện mạng Windows NT đang được đánh giá cao và được đua vào sử dụng ngày một nhiều. Windows NT là một hệ điều hành đa nhiệm, đa xử lý với địa chỉ 32 bit bộ nhớ. Ngoài việc yểm trơ các ứng dụng DOS, Windows 3.x, Win32 GUI và các ứng dụng dựa trên ký tự, Windows NT còn bao gồm các thành phần mạng, cơ chế an toàn, các công cụ quản trị có khả năng mạng diện rộng, các phần mềm truy cập từ xa. Windows NT cho phép kết nối với máy tính lớn, mini và máy Mac.

    Hệ điều hành mạng Windows NT có thể chay trên máy có một CPU cũng như nhiều CPU. Hệ điều hành mạng còn có đưa vào kỹ thuật gương đĩa qua đó sử dụng tốt hệ thống nhiều đĩa nâng cao năng lực hoạt động. Hệ điều hành mạng Windows NT đảm bảo tránh được những người không được phép vào trong hệ thống hoặc thâm nhập vào các file và chương trình trên đĩa cứng. Hệ điều hành mạng Windows NT cung cấp các công cụ để thiết lập các lớp quyền dành cho nhiều nhiệm vụ khác nhau làm cho phép xây dựng hệ thống an toàn một cách mềm dẻo. Windows NT được thiết kế dành cho giải pháp nhóm (Workgroup) khi bạn muốn có kiểm soát nhiều hơn đối với mạng ngang hàng (như Windows For Workgroup, LANtastic hay Novell lite). Ngoài ra chức năng mới của Windows NT server là mô hình vùng (Domain) được thiết lập cho các mạng lớn với khả năng kết nối các mạng toàn xí nghiệp hay liên kết các kết nối mạng với các mạng khác và những công cụ cần thiết để điều hành.

    Vào đầu những năm 1980, khi công ty máy tính Apple chuẩn bị giới thiệu máy tính Macintosh, các kỹ sư Apple đã thấy rằng mạng sẽ trở nên rất cần thiết. Họ muốn rằng mạng MAC cũng là một bước tiến mơí trong cuộc cách mạng về giao diện thân thiện người dùng do Apple khởi xướng. Với ý định như vậy, Apple xây dựng một giao thức mạng cho họ máy Macintosh, và tích hợp giao thức trên vào máy tính để bàn. Cấu trúc mạng mới do Apple xây dựng được gọi là Apple Talk.

    Mặc dù Apple Talk là giao thức mạng độc quyền của Apple, nhưng Apple cũng đã ấn hành nhiều tài liệu về Apple Talk trong cố gắng khuyến khích các nhà sản xuất phần mềm khác phát triển trên Apple Talk. Ngày nay đã có nhiều sản phẩm thương mại trên nền Apple Talk như của Novell, Microsoft…

    Ban đầu AppleTalk chỉ cài đặt trên hệ thống cáp riêng của hãng là LocalTalk và có phạm vi ứng dụng rất hạn chế. Phiên bản đầu của Apple Talk được thiết kế cho nhóm người dùng cục bộ hay được gọi là Apple Talk phase 1. Sau khi tung ra thị trường 5 năm, số người dùng đã vượt quá 1,5 triệu người cài đặt, Apple nhận thấy những nhóm người dùng lớn đã vượt quá giới hạn của Apple Talk phase 1, nên họ đã nâng cấp giao thức. Giao thức đã được cải tiến được biết dưới cái tên Apple Talk phase 2, cải tiến khả năng tìm đường của Apple Talk và cho phép Apple Talk chạy trên những mạng lớn hơn.

    Các giao thức chính của mạng AppleTalk:

    LLAP (Local Talk Link Access) là giao thức do Apple phát triền để hoạt động với cáp riêng của hãng (cũng được gọi là LocalTalk) dưạ trên cáp xoắn đôi bọc kim (STP), thích hợp với các mạng nhỏ, hiệu năng thấp. Tốc độ tối đa là 230,4 Kb/s và khoảng cách các đọan cáp có độ dài giới hạn là 300m, số lượng trạm tối đa là 32.

    ELAP (Ethertalk Link Access) và TLAP (tokentalk Link Access) là các giao thức cho phép sử dụng các mạng vật lý tương ứng là Ethernet và Token Ring.

    AARP (AppleTalk Addresss Resolution Protocol) là các giao thức cho phép ánh xạ giữa các địa chỉ vật lý của Ethernet và Token Ring, là giao diện giữa các tầng cao của AppleTalk với các tầng vật lý của Ethernet và Token Ring.

    DDP (Datagram Delivery Protocol) là giao thức tầng Mạng cung cấp dịch vụ theo phương thức không liên kết giữa 2 sockets (để chỉ 1 địa chỉ dịch vụ; một tổ hợp của địa chỉ thiết bị, địa chỉ mạng và socket sẽ định danh 1 cách duy nhất cho môãi tiến trình). DDP thực hiện chức năng chọn đường (routing) dựa trên các bảng chọn đường cho RTMP bảo trì.

    RTMP (Routing Table Maintenance protocol) cung cấp cho DDP thông tin chọn đường trên phương pháp vector khoảng cách tương tự như RIP (Routing Information Protocol) dùng trong Netware IPX/SPX.

    NBP (Naming Binding Protocol): cho phép định danh các thiết bị bởi các tên lôgic (ngoài điạ chỉ của chúng). Các tên này ẩn dấu điạ chỉ tầng thấp đối với người sử dụng và đối với các tầng cao hơn.

    ATP (AppleTalk Transaction Protocol) là giao thức thức tầng vận chuyển hoạt động với phương thức không liên kết. Dich vụ vận chuyển này được cung cấp thông qua một hệ thống các thông báo nhận và truyền lại. Độ tin cậy cũa ATP dưạ trên các thao tác (transaction) (một thao tác bao gồm một cặp các thao tác hỏi-đáp).

    ASP (AppleTalk Section Protocol) là giao thức tầng giao dịch của AppleTalk, cho phép thiết lập, duy trì và hủy bỏ các phiên liên lạc giữa người yêu cầu dịch vụ và người cung cấp dịch vụ.

    ADSP (AppleTalk Data Stream Protocol) là một giao thức phủ cả tầng vận chuyển và tầng giao dịch, có thể thay cho nhóm giao thức dùng với ATP.

    ZIP (Zone Information Protocol) là giao thức có chức năng tổ chức các thiết bị thành các vùng (zone) để làm giảm độ phức tạp của 1 mạng bằng cách giới hạn sự tương tác của người sử dụng vào đúng các thiết bị mà anh ta cần.

    PAP (Printer Access protocol) cũng là 1 giao thức của tầng giao dịch tương tự như ASP. Nó không chỉ cung cấp các dịch vụ in như tên gọi mà còn yểm trợ các kiểu liên kết giữa người yêu cầu và người cung cấp dịch vụ.

    AFP (AppleTalk Filling Protocol) là giao thức cung cấp dịch vụ File và đảm nhận việc chuyển đổi cú pháp dữ liệu, bảo vệ an toàn dữ liệu (tương tự tầng trình bày trong mô hình OSI).

    8.4. MẠNG ARPANET

    Đây là mạng được thiết lập tại Mỹ vào giữa những năm 60 khi bộ quốc phòng Mỹ muốn có một mạng dùng để ra lệnh và kiểm soát mà có khả năng sống còn cao trong trường hợp có chiến tranh hạt nhân. Những mạng sử dụng đường điện thoại thông thường vào lúc đó tỏ ra không đủ an toàn khi mà một đường dây hay một tổng đài bị phá hủy cũng có thể dẫn đến mọi cuộc nói chuyện hay liên lạc thông qua nó bị gián đoạn, việc đó còn đôi khi dẫn đến cắt rời liên lạc.

    Để làm được điều này khi bộ quốc phòng Mỹ đưa ra chương trình ARPA (Advanced Research Projects Agency) với sự tham gia của nhiều trường đại học và công ty dưới sự quản lý của khi bộ quốc phòng Mỹ.

    Vào đầu những năm 1960 những ý tuởng chủ yếu của chuyển mạch gói đã được Paul Baran công bố và sau khi tham khảo nhiều chuyên gia thì chương trình ARPA quyết định mạng tương lai của khi bộ quốc phòng Mỹ sẽ là mạng chuyển mạch gói và nó bao gồm một mạng liên kết và các trạm (host). Mạng liên kết bao gồm các máy tính dùng để liên kết các đường truyền dữ liệu được gọi là các điểm trung chuyển thôâng tin (IMP – Interface Message Processor).

    Một IMP sẽ được liên kết với ít nhất là hai IMP khác với độ an toàn cao, các thông tin được chuyển trên mạng liên kết dưới dạng các gói dữ liệu tách rời, có nghĩa là khi có một số đường và nút bị phá hủy thì các gói tin tự động được chuyển theo những đường khác. Mỗi nút một máy tính của hệ thống bao gồm một trạm có được kết nối với một IMP trên mạng, nó gửi thông tin của mình đến IMP để rồi sau đó IMP sẽ phân gói, rồi lần lượt gửi các gói tin theo những đường mà nó lựa chọn để đến đích.

    Tháng 10 năm 1968 ARPA quyết định lựa chọn hãng BBN một hãng tư vấn tại Cambridge, Massachsetts làm tổng thầu. Lúc đó BBN đã lựa chon máy DDP-316 làm IMP, các IMP được nối với đường thuê bao 56 Kbps từ các công ty điện thoại. Phần mềm được chia làm hai phần: phần liên kết mạng và phần cho nút, với phần mềm cho liên kết mạng bao gồm phần mềm tại các IMP đầu cuối và các IMP trung gian, các giao thức liên kết IMP với khả năng đảm bảo an toàn cao.

    Phần mềm tại nút bao gồm phần mềm danh cho việc liên kết giữa nút với IMP, các giao thức giữa các nút với nhau trong quá trình truyền dữ liệu.

    Hình 9.4: Cấu trúc ban đầu của mạng ARPANET

    Vào tháng 10 năm 1969 mạng ARPANET bắt đầu được đưa vào hoạt động thử nghiệm với 4 nút là những trường đại học và trung tâm nghiên cứu tham gia chính vào dự án, mạng phát triển rất nhanh đến tháng 3 năm 1971 đã có 15 nút và tháng 9 năm 1972 đã có tới 35 nút. Các cải tiến tiếp theo cho phép nhiều trạm có thể liên kết với một IMP do vậy sẽ tiết kiệm tài nguyên và một trạm có thể liên kết với nhiều IMP nhằm tránh việc IMP hư hỏng làm gián đoạn liên lạc.

    Cùng với việc phát triển các nút ARPA cũng dành ngân khoản cho phát triển các mạng truyền dữ liệu dùng kỹ thuật vệ tinh và dùng kỹ thuật radio. Điều đó cho phép thiết lập các nút tại những điễm các khoảng cách rất xa. Về các giao thức truyền thông thì sau khi thấy rằng các giao thức của mình không chạy được trên nhiều liên kết mạng vào năm 1974 ARPA đã đầu tư nghiên cứu hệ giao thức TCP/IP và dựa trên hợp đồng giữa BBN và Trường đại học tổng hợp Berkeley – California các nhà nghiên cứu của trường đại học đã viết rất nhiều phần mềm, chương trình quản trị trên cơ ở hệ điều hành UNIX. Dựa trên các phần mềm mới về truyền thông trên cơ sở TCP/IP đã cho phép dễ dành liên kết các mạng LAN vào mạng ARPANET. Vào năm 1983 khi mạng đã hoạt động ổn địng thì phần quốc phòng của mạng (gồm khoảng 160 IMP với 110 IMP tại nước Mỹ và 50 IMP ở nước ngoài, hàng trăm nút) được tách ra thành mạng MILNETvà phần còn lại vẫn tiếp tục hoạt động như là một mạng nghiên cứu.

    Vào năm 1990 với sự phát triển của nhiều mạng khác mà ARPANET là khởi xướng thì ARPANET đã kết thúc hoạt động của mình, tuy nhiên MILNET vẫn hoạt động cho đến ngày nay.

    8.5. MẠNG NFSNET

    Mạng NFS được phát triển rất nhanh, sau một thời gian hoạt động đường trục chính được thay thế bằng đường cáp quang 448 Kbps và các máy IBM RS6000 được sử dụng làm công việc kết nối. Đến năm 1990 đường trục đã được nâng lên đến 1.5 Mbps.

    Vào năm 1995 khi các công ty cung cấp dịch vụ liên kết phát triển khắp nơi thì mạng trục ANSNET không còn cần thiết nữa và ANSNET được bán cho công ty America Online. Hiện nay các mạng vùng của NFS mua các dịch vụ truyền dữ liệu để liên kết với nhau, mạng NFS đang sử dụng dịch vụ của 4 mạng truyền dữ liệu là PacBell, Ameritech, MFS, Sprint mà qua đó các mạng vùng NFS có thể lựa chọn để kết nối với nhau.

    CHƯƠNG 9 : HỆ ĐIỀU HÀNH MẠNG WINDOWS NT SERVER

    9.1. GIỚI THIỆU VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA WINDOWS NT SERVER

    Khi khởi động Windows NT Server hộp Begin logon sẽ hiện ra, server chờ đợi để chúng ta bấm Ctrl+Alt +Del để có thể tiếp tục hoạt động. Ở đậy có điểm khác với các hệ điều hành DOS, Windows 95 là tổ hợp Ctrl+Alt +Del không phải là khởi động lại máy. Trong trường hợp này Windows NT loại bỏ mọi chương trình Virus hay không có phép đang hoạt động trước khi bước vào làm việc.

    Hình 10.4: Thông báo gia nhập mạng

    Lúc này chúng ta sẽ thấy hộp Logon Information xuất hiện và yếu cầu chúng ta phải đánh đúng tên và mật khẩu thì mới được đăng nhập vào Server. Nếu là người dùng mới thì phải được người quản trị khai báo tên và mật khẩu trước khi đăng nhập..

    Hình 10.5: Màn hình gia nhập mạng

    Cũng giống như màn hình nền của hệ điều hành Windows 95 khi muốn thực hiện các trình, gọi các menu hệ thống chúng ta dùng nút Start ở cuối màn hình

    Hình 10.6: Điểm khởi đầu của Windows

    Trước muốn kết thúc chương trình và tắt máy chúng ta phải bấm phím Start rồi chọn ShutDown, màn hình kết thúc sẽ hiện ra cho chúng ta lựa chon công yêu cầu về tắt hay khởi động lại…

    Hình 10.7: Màn hình thoát khỏi Windows

    9.2. HỆ THỐNG QUẢN LÝ CỦA MẠNG WINDOWS NT

    Hầu hết các mạng máy tính hiện nay được thiết kế rất đa dạng và đang thực hiện những ứng dụng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó có nghĩa là các thông tin lưu trữ trên mạng và các thông tin truyền giao trên mạng ngày càng mang nhiều giá trị có ý nghĩa sống còn. Do vậy những người quản trị mạng ngày càng phải quan tâm đến việc bảo vệ các tài nguyên của mình.

    Việc bảo vệ an toàn là quá trình bảo vệ mạng khỏi bị xâm nhập hoặc mất mát, khi thiết kế các hệ điều hành mạng người ta phải xây dựng một hệ thống quản lý nhiều tầng và linh hoạt giúp cho người quản trị mạng có thể thực hiện những phương án về quản lý từ đơn giản mức độ thấp cho đến phức tạp mức độ cao trong những mạng có nhiều người tham gia. Thông qua những công cụ quản trị đã được xây dựng sẵn người quản trị có thể xây dựng những cơ chế về an toàn phù hợp với cơ quan của mình.

    Thông thường hệ thống mạng có những mức quản lý chính sau:

    – Mức quản lý việc thâm nhập mạng (Login/Password): Mức quản lý việc thâm nhập mạng (Login/Password) xác định những ai và lúc nào có thể vào mạng. Đối với người quản trị và người sử dụng mạng, mức an toàn này dường như khá đơn giản mà theo đó mỗi người sử dụng (người sử dụng) có một tên login và mật khẩu duy nhất.

    – Mức quản lý trong việc quản lý sử dụng các tài nguyên của mạng: Kiểm soát những tài nguyên nào mà người sử dụng được phép truy cập, sử dụng và sử dụng như thế nào.

    – Mức quản lý với thư mục và file: Mức an toàn của file kiểm soát những file và thư mục nào người sử dụng được dùng trên mạng và được sử dụng ở mức độ nào

    – Mức quản lý việc điều khiển File Server: Mức an toàn trên máy chủ kiểm soát ai có thể được thực hiện các thao tác trên máy chủ như bật, tắt, chạy các chương trình khác… Người ta cần có cơ chế như mật khẩu để bảo vệ.

    9.3. QUẢN LÝ CÁC TÀI NGUYÊN TRONG MẠNG

    Như chúng ta đã biết, mạng LAN cung cấp các dịch vụ theo hai cách: qua cách chia sẻ tài nguyên theo nguyên tắc ngang hàng và thông qua những máy chủ trung tâm. Dù bất cứ phương pháp nào được sử dụng, vấn đề cần phải giải quyết là là giúp người sử dụng xác định được các tài nguyên có sẵn ở đâu để có thể sử dụng.

    Các kỹ thuật sau đây đã được sử dụng để tổ chức tài nguyên mạng máy tính: a. Quản lý đơn lẻ từng máy chủ (Stand-alone Services)

    Với cách quản lý này trong mạng LAN thưòng chỉ có một vài máy chủ, mỗi máy chủ sẽ quản lý tài nguyên của mình, mỗi người sử dụng muốn thâm nhập những tài nguyên của máy chủ nào thì phải khai báo và chịu sự quản lý của máy chủ đó. Mô hình trên phù hợp với những mạng nhỏ với ít máy chủ và khi có trục trặc trên một máy chủ thì toàn mạng vẫn hoạt động. Cũng vì trong mạng LAN chỉ có ít máy chủ, do đó người sử dụng không mấy khó khăn để tìm các tập tin, máy in và các tài nguyên khác của mạng (plotter, CDRom, modem…).

    Việc tổ chức như vậy không cần những dịch vụ quản lý tài nguyên phức tạp. Tuy nhiên khi trong mạng có từ hai máy chủ trở lên vấn đề trở nên phức tạp hơn vì mỗi máy chủ riêng lẻ giữ riêng bảng danh sách các người sử dụng và tài nguyên của mình. Khi đó mỗi người sử dụng phải tạo lập và bảo trì tài khoản của mình ở hai máy chủ khác nhau mới có thể đăng nhập (logon) và truy xuất đến các máy chủ này. Ngoài ra việc xác định vị trí của các tài nguyên trong mạng cũng rất khó khăn khi mạng có qui mô lớn.

    b. Quản lý theo dịch vụ thư mục (Directory Services)

    Hệ thống các dịch vụ thư mục cho phép làm việc với mạng như là một hệ thống thống nhất, tài nguyên mạng được nhóm lại một cách logic để dễ tìm hơn. Giải pháp này có thể được dùng cho những mạng lớn. Ở đây thay vì phải đăng nhập vào nhiều máy chủ, người sử dụng chỉ cần đăng nhập vào mạng và được các dịch vụ thư mục cấp quyền truy cập đến tài nguyên mạng, cho dù được cung cấp bởi bất kể máy chủ nào.

    Người quản trị mạng chỉ cần thực hiện công việc của mình tại một trạm trên mạng mặc dù các điểm nút của nó có thể nằm trên cả thế giới. Hệ điều hành Netware 4.x cung cấp dịch vụ nổi tiếngï và đầy ưu thế cạnh tranh này với tên gọi Netware Directory Services (NDS).

    Giải pháp này thích hợp với những mạng lớn. Các thông tin của NDS được đặt trong một hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ, rộng khắp được gợi là DIB (Data Information Base). Cơ sở dữ liệu trên quản lý các dữ liệu dưới dạng các đối tượng phân biệt trên toàn mạng. Các định nghĩa đối tượng sẽ được đặt trên các tập tin riêng của một số máy chủ đặc biệt, mỗi đối tượng có các tính chất và giá trị của mỗi tính chất. Đối tượng bao hàm tất cả những gì có tên phân biệt như Người sử dụng, File server, Print server, group… Mỗi loại đối tượng có những tính chất khác nhau ví dụ như đối tượng Người sử dụng có tính chất về nhóm mà người sử dụng đó thuộc, còn nhóm có các tính chất về người sử dụng mà nhóm đó chứa.

    c. Quản lý theo nhóm (Workgroup)

    Các nhóm làm việc làm việc theo ý tưởng ngược lại với các dịch vụ thư mục. Nhóm làm việc dựa trên nguyên tắc mạng ngang hàng (peer-to-peer network), các người sử dụng chia sẻ tài nguyên trên máy tính của mình với những người khác, máy nào cũng vừa là chủ (server) vừa là khách (client). Người sử dụngï có thể cho phép các người sử dụng khác sử dụng tập tin, máy in, modem… của mình, và đến lượt mình có thể sử dụng các tài nguyên được các người sử dụng khác chia sẻ trên mạng. Mỗi cá nhân người sử dụng quản lý việc chia sẻ tài nguyên trên máy của mình bằng cách xác định cái gì sẽ được chia sẻ và ai sẽ có quyền truy cập. Mạng này hoạt động đơn giản: sau khi logon vào, người sử dụng có thể duyệt (browse) để tìm các tài nguyên có sẵn trên mạng.

    Workgroup là nhóm logic các máy tính và các tài nguyên của chúng nối với nhau trên mạng mà các máy tính trong cùng một nhóm có thể cung cấp tài nguyên cho nhau. Mỗi máy tính trong một workgroup duy trì chính sách bảo mật và CSDL quản lý tài khoản bảo mật SAM (Security Account Manager) riêng ở mỗi máy. Do đó quản trị workgroup bao gồm việc quản trị CSDL tài khoản bảo mật trên mỗi máy tính một cách riêng lẻ, mang tính cục bộ, phân tán. Điều này rõ ràng rất phiền phức và có thể không thể làm được đối với một mạng rất lớn.

    Nhưng workgroup cũng có điểm là đơn giản, tiện lợi và chia sẽ tài nguyên hiệu quả, do đó thích hợp với các mạng nhỏ, gồm các nhóm người sử dụng tương tự nhau.

    Tuy nhiên Workgroup dựa trên cơ sở mạng ngang hàng (peer-to-peer), nên có hai trở ngại đối với các mạng lớn như sau:

    Đối với mạng lớn, có quá nhiều tài nguyên có sẵn trên mạng làm cho các người sử dụng khó xác định chúng để khai thác.

    Người sử dụng muốn chia sẻ tài nguyên thường sử dụng một cách dễ hơn để chia sẻ tài nguyên chỉ với một số hạn chế người sử dụng khác.

    Điển hình cho loại mạng này là Windws for Workgroups, LANtastic, LAN Manager… Window 95, Windows NT Workstation…

    d. Quản lý theo vùng (Domain)

    Domain mượn ý tưởng từ thư mục và nhóm làm việc. Giống như một workgroup, domain có thể được quản trị bằng hỗn hợp các biện pháp quản lý tập trung và địa phương. Domain là một tập hợp các máy tính dùng chung một nguyên tắc bảo mật và CSDL tài khoản người dùng (người sử dụng account). Những tài khoản người dùng và nguyên tắc an toàn có thể được nhìn thấy khi thuộc vào một CSDL chung và được tập trung.

    Giống như một thư mục, một domain tổ chức tài nguyên của một vài máy chủ vào một cơ cấu quản trị. Người sử dụng được cấp quyền logon vào domain chứ không phải vào từng máy chủ riêng lẻ. Ngoài ra, vì domain điều khiển tài nguyên của một số máy chủ, nên việc quản lý các tài khoản của người sử dụng được tập trung và do đó trở nên dễ dàng hơn là phải quản lý một mạng với nhiều máy chủ độc lập.

    Các máy chủ trong một domain cung cấp dịch vụ cho các người sử dụng. Một người sử dụng khi logon vào domain thì có thể truy cập đến tất cả tài nguyên thuộc domain mà họ được cấp quyền truy cập. Họ có thể dò tìm (browse) các tài nguyên của domain giống như trong một workgroup, nhưng nó an toàn, bảo mật hơn.

    Để xây dựng mạng dựa trên domain, ta phải có ít nhất một máy Windows NT Server trên mạng. Một máy tính Windows NT có thể thuộc vào một workgroup hoặc một domain, nhưng không thể đồng thời thuộc cả hai. Mô hình domain được thiết lập cho các mạng lớn với khả năng kết nối các mạng toàn xí nghiệp hay liên kết các kết nối mạng với các mạng khác và những công cụ cần thiết để điều hành.

    Việc nhóm những người sử dụng mạng và tài nguyên trên mạng thành domain có lợi ích sau:

    Mã số của người sử dụng được quản lý tập trung ở một nơi trong một cơ sở dữ liệu của máy chủ, do vậy quản lý chặt chẽ hơn.

    Các nguồn tài nguyên cục bộ được nhóm vào trong một domain nên dễ khai thác hơn.

    Quản lý theo Workgroup và domain là hai mô hình mà Windows NT lựa chọn. Sự khác nhau căn bản giữa Workgroup và domain là trong một domain phải có ít nhất một máy chủ (máy chủ) và tài nguyên người sử dụng phải được quản lý bởi máy chủ đó.

    9.4. QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC FILE, THƯ MỤC TRONG MẠNG WINDOWS NT

    Thông thường chúng ta phải khai báo các tài nguyên trước khi chúng được người sử dụng khai thác. Ngoài ra người sử dụng cũng được cung cấp quyền sử dụng một cách phù hợp.

    9.4.1. Cơ chế an toàn của File và thư mục trong Windows NT

    Quá trình truy cập tập tin (File hoặc thư mục) trong Windows NT:

    Việc truy xuất tập tin (File hoặc thư mục) được quản lý thông qua các quyền truy cập (right), quyền đó sẽ quyết định ai có thể truy xuất và truy xuất đến tập tin đó với mức độ giới hạn nào. Những Quyền đó là Read, Execute, Delete, Write, Set Permission, Take Ownership.

    Trong đó:

    Read (R): Được đọc dữ liệu, các thuộc tính, chủ quyền của tập tin.

    Execute (X): Được chạy tập tin.

    Write (W): Được phép ghi hay thay đổi thuộc tính.

    Delete (D): Được phép xóa tập tin.

    Set Permission (P): Được phép thay đổi quyền hạn của tập tin.

    Take Ownership (O): Được đặt quyền chủ sở hữu của tập tin.

    Bảng tóm tắt các mức cho phép

    Quyền sở hữu của các tập tin: Người tạo ra tập tin đó có thể cho các nhóm khác hay người dùng khác khả năng làm quyền sở hữu. Administrator luôn có khả năng làm quyền sở hữu của các tập tin.

    Nếu thành viên của nhóm Administrator có quyền sở hữu một tập tin thì nhóm những Aministrator trở thành chủ nhân. Nếu người dùng không phải là thành viên của nhóm Administrator có quyền sở hữu thì chỉ người dùng đó là chủ nhân.

    Những chủ nhân của tập tin có quyền điều khiển của tập tin đó và có thể luôn luôn thay đổi các quyền hạn. Trong File Manager, dưới Security Menu, sau khi xuất hiện hộp thoại Owner, chúng ta lựa chọn tập tin, chủ nhân hiện thời và nhấn nút Take Ownership, cho phép lập quyền sở hữu nếu được cấp quyền đó.

    Để có quyền sở hữu một tập tin chúng ta cần một trong những điều kiện sau:

    Có quyền Full Control.

    Có những quyền Special Access bao gồm Take Ownership.

    Là thành viên của nhóm Administrator.

    9.4.2. Các thuộc tính của File và thư mục

    Archive: Thuộc tính này được gán bởi hệ điều hành chỉ định rằng một File đã được sửa đổi từ khi nó được Backup. Các phần mềm Backup thường xóa thuộc tính lưu trữ đó. Thuộc tính lưu trữ này có thể chỉ định các File đã được thay đổi khi thực thi việc Backup.

    Compss: Chỉ định rằng các File hay các thư mục đã được nén hay nên được nén. Thông số này chỉ được sử dụng trên các partition loại NTFS.

    Hidden: Các File và các thư mục có thuộc tính này thường không xuất hiện trong các danh sách thư mục.

    Read Only: Các File và các thư mục có thuộc tính này sẽ không thể bị xóa hay sửa đổi.

    System: Các File thường được cho thuộc tính này bởi hệ điều hành hay bởi chương trình OS setup. Thuộc tính này ít khi được sửa đổi bởi người quản trị mạng hay bởi các User.

    Ngoài ra các File hệ thống và các thư mục còn có cả hai thuộc tính chỉ đọc và ẩn.

    Lưu ý: Việc gán thuộc tính nén cho các File hay thư mục mà ta muốn Windows NT nén sẽ xảy ra trong chế độ ngầm (background). Việc nén này làm giảm vùng không gian điã mà File chiếm chỗ. Có một vài thao tác chịu việc xử lý chậm vì các File nén phải được giải nén trước khi sử dụng. Tuy nhiên việc nén File thường xảy ra thường xuyên như là các File dữ liệu quá lớn mà có nhiều người dùng chia sẻ.

    9.4.3. Chia sẻ Thư mục trên mạng

    Không có một người sử dụng nào có thể truy xuất các File hay thư mục trên mạng bằng cách đăng nhập vào mạng khi không có một thư mục nào được chia se.

    Việc chia sẻ này sẽ làm việc với bảng FAT và NTFS file system. Để nâng cao khả năng an toàn cho việc chia sẻ, chúng ta cần phải gán các mức truy cập cho File và Thư mục.

    Khi chúng ta chia sẻ một thư mục, thì chúng ta sẽ chia sẻ tất cả các File và các Thư mục con. Nếu cần thiết phải hạn chế việc truy xuất tới một phần của cây thư mục, chúng ta phải sử dụng việc cấp các quyền cho một user hay một nhóm đối với các Thư mục và các File đó.

    Để chia sẻ một Thư mục, ta phải Login như một thành viên của nhóm quản trị mạng hay nhóm điều hành server.

    Tất cả các thủ tục chia sẻ thư mục được thực thi trong Windows NT Explorer.

    Để chia sẻ một thư mục ta phải thực hiện các bước sau:

    Chọn Sharing tab hiện ra hộp đối thoại sau:

    Chọn Shared As để kích hoạt việc chia sẻ.

    Thiết lập giới hạn số lượng các user bằng cách gỏ một con số vào hộp Allow

    Sau khi một thư mục được chia sẻ Icon cho thư mục đó có 1 bàn tay chỉ định rằng thư mục đó đã được chia sẻ.

    9.4.4. Thiết lập quyền truy cập cho một người sử dụng hay một nhóm

    Để thiết lập các quyền truy cập đối với một thư mục đã được chia sẻ cho một người sử dụng hay một nhóm ta thực hiện:

    Chọn Sharing tab để hiện các tính chất của thư mục đó

    Chọn button Add, hiện ra cửa sổ Add User and group.

    Chọn quyền truy xuất trong hộp Type of Access cho các tên đã chọn .

    Khi chúng ta tạo một sự chia sẻ mới, quyền truy cập mặc nhiên cho nhóm Everyone là đầy đủ (Full Control). Giả sử rằng chúng ta sẽ gán giá trị mặc nhiên này cho quyền truy cập của thư mục và File. Khi cần thiết sẽ hạn chế việc truy xuất tới thư mục đó.

    Ở đây có một vài chú ý:

    Các người sử dụng thường chỉ cóù quyền đọc trong các thư mục chứa các chương trình ứng dụng vì họ không cần phải sửa đổi các File.

    Trong một vài trường hợp, các chương trình ứng dụng đòi hỏi các user chia sẻ một thư mục cho các File tạm thời. Nếu thư mục đó nằm trong cùng thư mục chứa trình ứng dụng, chúng ta có thể cho phép user tạo hay xóa các File trong thư mục đó bằng việc gán quyền Change.

    Thông thường các người sử dụng cần quyền Change trong bất kỳ thư mục nào chứa các Files dữ liệu và chỉ trong các thư mục cá nhân của ho là có đầy đủ các quyền truy cậpï.

    Để sửa đổi các quyền truy cập đối với một thư mục đã được chia sẻ ta thực hiện:

    Chọn 1 tên trong hộp Name

    Chọn một quyền khác trong hộp Type of Access mà ta muốn gán.

    Thông qua việc chia sẻ một thư mục cho một user hay một nhóm cũng góp phần vào việc bảo đảm an toàn cho một thư mục không cho user khác hay nhóm khác truy xuất thư mục đó.

    9.4.5. Sử dụng các thư mục mạng

    Muốn sử dụng các thư mục mạng thì trước hết thư mục đó được cho phép chia sẻ, chúng ta phải liên kết thư mục mạng đó với tên một chữ cái tương ứng như một tên đĩa mạng (E,F ,G ,H I,…). Sau khi thư mục được chia sẻ đã kết nối với ký tự ổ điã mạng người dùng có thể truy cập thư mục được chia sẻ, các thư mục và file con của nó như là nó đang ở trên máy tính của mình .

    Có thể dùng Network Neighborhood để thực hiện công việc trên như sau :

    Duyệt qua Network Neighborhood để tìm nơi muốn liên kết.

    Trong trường Drive của hộp thoại Map Network Drive, chọn ổ điã mạng chúng muốn liên kết với thư mục chia sẻ.

    Nếu thấy cần, chọn Path và gõ vào tên theo tổng quát UNC (Universal Naming Convention – xem cấu trúc ở phần dưới) để sửa lại đường dẫn tới tài nguyên được chia sẻ. (Việc này chỉ thực hiện khi sử dụng Network Neighborhood.)

    Nếu chúng ta không được quyền để truy cập vào tài nguyên chia sẻ trên nhưng trong cương vị người dùng khác thì chúng ta được quyền truy cập, trong trường hợp đó hãy gõ tên người dùng đó vào trường Connect As.

    Kích hoạt hộp kiểm tra Reconnect at Logon nếu muốn liên kết lâu dài, đó là loại kết nối được phục hồi mỗi lần chú ta đăng nhập vào mạng.

    Chọn OK để lưu các thông tin trên.

    Ngoài ra ta có thể dùng lệnh NET USE để thực hiện các công việc trên.

    Lệnh NET USE dùng Universal Naming Convention (UNC) để truy cập các tài nguyên dùng chung. Tên UNC bắt đầu bằng một dấu phân cách đặt biệt \, dấu này chỉ sự bắt đầu của tên UNC (tên UNC có dạng “\computer_nameshare_name[sub_directory]”. NET USE được dùng đểû truy cập một nguồn tài nguyên dùng chung. Lệnh NET USE dùng bộ hướng dẫn mạng (Network Redirector) trên máy tính NT để thiết lập sự nối kết dùng nguồn tài nguyên chung.

    Chúng ta có thể xem ai dùng các file dùng chung khi ta đang xem trạng thái của một file dùng chung, File Manager sẽ cung cấp cho ta các thông tin bằng dùng chọn Properties trong thực đơn File

    Khi chúng ta dùng Windows Explorer để xem các tài nguyên chúng ta có thì các ổ đĩa mạng xuất hiện và cho chúng ta khai thác.

    9.5. SỬ DỤNG MÁY IN TRONG MẠNG WINDOWS NT

    Hiện nay máy in trên mạng cũng là một tài nguyên việc chia sẻ của mạng cho người sử dụng. Tuy các máy in đang ngày càng rẻ đi nhưng với nhu cầu về chất lượng đang ngày một cao thì việc chia sẻ các máy in đắt tiền trên mạng vẫn đang cần thiết. Windows NT là một hệ điều hành mạng mà bất kỳ máy tính Windows NT nào cũng có thể cung cấp các dịch vụ in ấn cho người sử dụng trong mạng.

    Khi chia sẻ một máy in trên mạng (cho nhiều người có thể cùng sử dụng) chúng ta cần phải giải quyết những vấn đề sau :

    Máy in không làm được 2 việc một lúc, nếu phải nhận cùng một lúc thì sẽ có va chạm, do vậy mạng phải có cơ chế sắp xếp công việc sao cho máy in có thể thực hiện một cách lần lượt các công việc in.

    Các công việc in được thực hiện bởi những người sử dụng khác nhau có thể cần những mức độ ưu tiên khác nhau và hệ thống quan lý in cần có khả năng thực hiện điều này.

    9.5.1. Cơ chế in trong mạng Windows NT

    Thông thường máy in mạng được quản lý thông qua một máy chủ mà trên đó thực hiện nhiệm vụ quản lý các công việc in, máy chủ đó thường được gọi là máy chủ in (Print server) và chạy chương trình quản lý in. Windows NT cho phép cài đặt máy in tại bất cứ đâu trên mạng, mỗi một máy có cài đặt Windows NT đều có thể thực hiện nhiệm vụ máy chủ in. Nó có thể quản lý máy in gắn trực tiếp vào nó hay một máy in gắn vào máy khác trên mạng.

    Để giải quyết vấn đề nẩy sinh với máy in trong mạng Windows NT tiến hành phân biệt giữa máy in vật lý gọi là Printing device và một thực thể logic của máy in gọi là logic printer. Máy in logic được sử dụng để kiểm soát các tác vụ sau đây :

    Công việc in được gởi đi đâu.

    Công việc in ấn gởi đi khi nào.

    Thứ tự ưu tiên của các tác vụ in.

    Người sử dụng máy in logic như là máy in đang được gắn là máy của họ nhưng thực sự các dữ liệu được in ra máy in logic được chuyển cho mạng và qua đó đến máy chủ in trước khi được đưa ra máy in mạng.

    Hình 14.1: Máy chủ in và spool

    Máy chủ in sẽ liên kết các máy in logic với máy in vật lý, nó phải đảm bảo các công việc in phải được đưa đúng đến máy in vật lý. Tại đây có 3 trường hợp có thể đối với mối quan hệ giữa máy in logic và máy in vật lý

    Một máy in logic liên kết với một máy in vật lý.

    Nhiều máy in logic liên kết với một máy in vật lý.

    Một máy in logic liên kết với nhiều máy in vật lý.

    Hình 14.2: Liên kết giữa máy in Logic và máy in vật lý

    Nếu Server chưa cài đặt máy in logic, ta phải cài đặt máy in logic tương ứng với một máy in thực tế cho Server. Vào menu Start, chọn Settings, chọn Printers, chọn Add Printer như:

    Hộp sau đó hộp hội thoại Add printer winzar hiện ra

    Chọn My Computer nếu máy in của chúng ta không có card mạng và được nối trực tiếp vào Server.

    Chọn Network printer server nếu máy in của chúng ta nối trực tiếp vào mạng.

    Chọn Next, chọn cổng nối với máy in (thường là LPT1). Chọn tên hãng sản xuất và loại máy in ta đang dùng, chọn Next, ta phải trả lời thêm vài câu hỏi phụ như ta có muốn in trang test không? Có muốn đặt máy in này là ngầm định không?

    Sau khi cài đặt, chúng ta sẽ thấy xuất hiện thêm biểu tượng máy in mà vừa được cài đặt trong khung máy in. Chúng ta phải cho phép dùng chung máy in nàybằng cách lựa chọn máy in đó Trong khung Printers

    Ta nhắp chuột phải vào tên máy in đó, chọn Sharing như hình sau:

    Khung Printer properties hiện ra cho chúng ta nhập các thông số như: tên máy in logic (Share namem), các tính chất khác như về an toàn… mà chúng ta muốn khi phục vụ mạng.

    Cuối cùng chọn OK, lúc này, ta sẽ thấy ở dưới biểu tượng máy in có bàn tay đỡ chứng tỏ máy in này đã được phép dùng chung. Nếu trên Server cài đặt nhiều loại máy in với nhiều chế độ khác nhau, ta có thể chọn máy in ngầm định bằng cách đánh dấu vào mục Set As Default.

    Để máy trạm có thể in được qua Server, nếu chưa cài đặt chúng ta phải cài máy in như sau: nhắp đúp vào tên Server có nối với máy in, khung Shared Printers sẽ hiện ra danh sách các máy in đã cài trên Server, chúng ta chọn tên máy in cần nối rồi bấm OK.

    Quay trở lại khung màn hình Print Manager chúng ta nhìn thấy thông báo máy in này đã được phép sử dụng. Thoát ra khỏi Print Manager và chúng ta có thể in qua máy in mạng trên bất cứ một phần mềm nào trên Windows như Winword, Excel, v.v…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tablet Là Gì? Tìm Hiểu Về Tablet Là Gì?
  • Các Loại Virus Máy Tính Và Cách Phòng Chống
  • Trung Tâm Sửa Chữa Máy Tính Acer Chính Hãng, Bảo Hành Tới 36 Tháng
  • Sơ Lược Về Steve Jobs Và Những Đóng Góp Vĩ Đại Với Apple
  • Kinh Nghiệm Chọn Mua Laptop Asus Đồ Họa Tốt Nhất
  • Đặc Điểm Mạng Máy Tính Intranet Và Mạng Extranet

    --- Bài mới hơn ---

  • Intranet Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Intranet, Internet Và Extranet?
  • So Sánh Hệ Thống Thủy Lực Và Khí Nén
  • Hệ Thống Phanh Khí Nén: So Sánh Phanh Khí Nén Và Phanh Thủy Lực
  • Lỵ Amip Là Gì? Triệu Chứng Và Hướng Điều Trị
  • Phân Biệt Bệnh Kiết Lỵ Trực Trùng Và Kiết Lỵ Amíp
  • Mạng máy tính là một hệ thống các máy tính được liên kết với nhau mục tiêu nhằm chia sẻ tài nguyên trên mạng và liên hệ giữa các chủ thể làm việc trên mạng

    Internet: liên hệ nhiều mạng với nhau theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau

    đặc điểm của mang Intranet & extranet :

    Mạng Intranet là mạng máy tính cục bộ dành cho các doanh nghiệp liên kết với khách hàng theo tiêu chuẩn của Internet .các doanh nghiệp sử dụng mạng để quản lý trong nội bộ doanh nghiệp và liên kết với bên ngoàI

    Extranet là mạng máy tính mà nó liên kết những mạng Intranet của những đối tác kinh doanh thông qua Internet

    Ngoài ra còn có các định nghĩa khác về Intranet và extranet như sau:

    Intranet là web (kho thông tin dữ liệu điện tử) sử dụng nội bộ (Internal Web)

    Intranet là một mạng sử dụng nội bộ như LAN hay WAN thực hiện được các ứng dụng, nói cách khác các dịch vụ của Internet, chủ yếu là dịch vụ Web với giao thức truyền siêu văn bản – http(HyperText Transfer Protocol) và dịch vụ truyền File (FTP), E-Mail v.v..

    Intranet là công nghệ của Internet triển khai sau bức tường lửa tạo nên năng suất làm việc cho các công ty.

    Các tổ chức trên thế giới đã tìm ra được một phương pháp để tăng cường thông tin trong nội bộ cũng như với bên ngoài sử dụng công nghệ Web trong một hệ thống dữ liệu thông tin kiểu mới gọi là Intranet.

    Intranet là một mạng nội bộ theo kiểu Internet được sử dụng như một “mạng ảo cá nhân” hiệu quả nhất (VPN-Virtual Private Network).

    Intranet là sự mở rộng mới của công nghệ Internet cung cấp khả năng chia sẻ thông tin trong nội bộ của một tổ chức.

    Có nhiều cách định nghĩa nhưng thực chất Intranet là một mạng nội bộ để các nhân viên trong một công ty hay một tổ chức xây dựng và chia sẻ thông tin chứa trên các cơ sở dữ liệu riêng theo phương pháp của WorldWideWeb của Internet, có nghĩa là sử dụng ngôn ngữ phát triển siêu văn bản – HTML(HyperText Markup Language), giao thức truyền siêu văn bản HTTP và giao thức TCP/IP.

    Tính chất quan trọng của Intranet là phải có kế hoạch để bảo vệ thông tin nội bộ, không cho phép những người không được phép truy nhập cơ sở dữ liệu của mình. Có nhiều cách ngăn chặn như dùng mật khẩu, các biện pháp mã hoá hay bức tường lửa (nhưng bức tường lửa rất khó ngăn chặn “người nhà”). Một biện pháp bảo vệ hữu hiệu truyền thống là chính sách và hệ thống quyết định cho ai được vào lĩnh vực dữ liệu nào.

    Extranet là mạng giữa các doanh nghiệp thực chất sự trao đổi qua mạng thực chất là quá trình kinh doanh thương mại điên tử nó mang đầy đủ những ứng dụng của mạng toàn cầu Internet mặt khắc mạng extranet còn có hệ thống bảo mật những thông tin nội bộ của mạng

    1.2 cấu trúc mạng Intranet :

    Từ các định nghĩa chúng ta thấy rằng:

    Intranet là một mạng lưới sử dụng nội bộ, nó có thể là một mạng cục bộ LAN hay có thể là một mạng diện rộng WAN.

    Intranet có thể chỉ dùng để chia sẻ thông tin nội bộ trong một tổ chức bằng các Web nội bộ nhưng cũng có thể nối với các Web ngoài trên Internet để sử dụng những thông tin chung.

    Từ các định nghĩa chúng ta thấy rằng :

    Do yêu cầu thực tế như vậy nên cấu trúc của Intranet có các kiểu sau:

    Intranet là một mạng sử dụng nội bộ kết nối trên cơ sở của mạng viễn thông.

    Nếu một tổ chức nhỏ trong một toà nhà có thể chỉ dùng LAN.

    Nếu tổ chức lớn có các chi nhánh, văn phòng trên cả nước hay quốc tế dùng mạng diện rông WAN kết nối trên cơ sở của mạng viễn thông, thuê kênh riêng v.v..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Hộ Chiếu Và Visa
  • So Sánh Hộ Chiếu Và Visa
  • So Sánh Mô Hình Quản Lý Công Mới (Hành Chính Phát Triển) Với Mô Hình Hành Chính Truyền Thống
  • So Sánh Thì Hiện Tại Đơn Và Thì Hiện Tại Tiếp Diễn
  • Di Truyền Liên Kết Gen Và Hoán Vị Gen
  • Tìm Hiểu Về Mạng Máy Tính

    --- Bài mới hơn ---

  • Ccleaner Là Gì ? Tìm Hiểu Phần Mềm Dọn Dẹp Máy Tính Ccleaner
  • Tìm Hiểu Phần Mềm Máy Tính Biết Kết Cấu Các Nốt Nhạc
  • Các Kiến Thức Cơ Bản Về Bộ Nhớ Của Máy Tính, Ram Và Rom
  • Cách Nâng Cấp Máy Tính Bàn Đơn Giản
  • Lưu Ý Khi Nâng Cấp Ổ Cứng Máy Tính
  • Hiểu một cách đơn giản và dễ hiểu thì mạng máy tính là một tập hợp các máy tính được kết nối với nhau,trong một mạng chúng trao đổi dữ liệu qua lại với nhau theo những phương thức nhất định.Các máy tính có thể được kết nối với nhau trong phạm vị một tòa nhà, giữa các thành phố với nhau hoặc cũng có thể từ khắp mọi nơi trên toàn thế giới.

    Các loại mạng máy tính hiện nay đang được sử dụng

    Một số đặc điểm nổi bật của mạng LAN:

    Có băng thông tương đối lớn, mạng LAN có thể thực hiện được các ứng dụng như truyền hình trực tuyến (Livestream), truyền hình hội nghị (qua mô hình mạng thế giới nhỏ, mạng ngang hàng Peer – to – Peer….).Phạm vi của mạng tương đối nhỏ, ci phí thấp, công việc quản trị mạng cũng đơn giản hơn những mạng lớn.

    Mạng MAN (Metropolitan Area Network) là mạng dữ liệu băng rộng được thiết kế cho phạm vi trong thành phố, các thị xã, khoảng cách của chúng thường tối đa là 100km.Có quy mô nhỏ hơn mạng WAN nhưng lại lớn hơn mạng LAN do đó mạng MAN có vai trò kết nối 2 mạng bên trên với nhau. Mạng MAN cho phéo tạo ra các kết nối tốc độ cao lên đến hàng tram Mb/s có thể mở rộng đến 1 Gb/s.Chúng đồng thời cũng cung cấp cho doanh nghiệp rất nhiều những loại hình dịch vụ giá trị gia tăng cùng lúc trên một đường kết nối về Voice-Data-Video.Xây dựng hệ thông mạng MAN không quá tốn kém tuy nhiên để quản lý có hiệu quả mô hình mạng này thì cũng không hề đơn giản.

    Mạng WAN (Wide Area Network) còn được gọi là mạng diện rộng , là mạng dữ liệu được thiết kế để kết nối giữa các mạng đô thị (mạng MAN) giữa các khu vực địa lí cách xa nhau.

    Mạng WAN có theerkeest nối thành mạng riên của một tổ chức,hay có thể kết nối qua nhiều hạ tầng mạng công cộng.Mạng WAN có thể dungf đường truyển có giải băng thông thay đổi trong một khoảng rất lớn từ 56Kbps tới 1T với 1,544Mbps hay E1 với 2.048Mbps, đến Giga bít – Gbps là các đường trục nối các quốc gia hay châu lục.Do có băng thông thấp vì vậy kết nối của mạng thường là yếu, dê mất phì hợp với các ứng dụng như Email, Web, chi phí cao, công tác quản lý mạng khó khăn hơn rất nhiều.

    Mạng Internet chính là một trường hợp của mạng WAN phục vụ các dịch vụ Mail, Web,…cho toàn cầu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Main Board Là Gì? Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Main Trong Máy Tính?
  • Tìm Hiểu Cấu Tạo Của Mainboard Máy Tính Cho Người Mới
  • Chuyển Hình Ảnh Từ Iphone Qua Máy Tính Macbook
  • Macbook Là Gì? Tìm Hiểu Về Macbook Là Gì?
  • Tìm Hiểu Về Chiếc Máy Tính Lenovo T410 Cũ Giá Rẻ Nhất Việt Nam
  • Vì Sao Mạng Viettel Yếu

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Cách Để Cải Thiện Hiệu Quả Tốc Độ Wifi Nhà Bạn
  • Vì Sao Iphone 6, 6 Plus Bắt Wifi Yếu, Chập Chờn Và Cách Khắc Phục
  • Khắc Phục Lỗi Iphone 6 Yếu Wifi
  • Làm Ngay 05 Cách Sau Để Xử Lý Việc Laptop Bắt Wifi Yếu
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Khắc Phục Laptop Bắt Wifi Yếu
  • https://tongdaiviettelhcm.com.vn › blogs › news › loi-don…

    Cáp quang Viettel chậm và chập chờn, nguyên nhân cách xử … Vì sao mạng viettel yếu

    https://internetviettel.vn › cap-quang-viettel-cham-va-c…

    1.4.1 Tại sao máy tính bạn bị nhiễm virut: 1.5 5. Nhà cung cấp mạng cáp quang có vấn đề. Có thực sự mạng cáp quang Viettel chậm không?. Cách đơn giản …

    ‎Kiểm tra tốc độ internet … · ‎Nếu mạng cáp quang …

    Bạn đã truy cập trang này vào ngày 04/01/2021.

    Tại sao mạng Viettel chậm một cách bất thường? – Hoàng …

    https://hoangphat360.vn › blogs › news › tai-sao-mang…

    25 thg 2, 2022 – Vậy nguyên nhân do đâu mà tốc độ mạng lại đi xuống? … Cung cấp dịch vụ yếu kém. tôi sẽ đổi sang VNPT, … lạy viettel, làm ơn cho mạng ổn định, đã nghỉ học vì virus, năm nay còn thi tuyển nữa, làm ơn cho tôi học online 1 …

    Mạng Viettel yếu và cách xử lý sự cố mạng Viettel hiệu quả … Vì sao mạng viettel yếu

    https://lapdatwifiviettel.wordpss.com › 2022/12/05

    5 thg 12, 2022 – Có khá nhiều nguyên nhân khiến mạng Viettel bị yếu: … Vì vậy, “sức khỏe” của modem sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ truyền mạng. … bạn phải xác định chính xác nguyên nhân rồi mới tìm ra cách xử lý sao cho phù hợp.

    5 phút để xử lý mạng 3G Viettel chậm, yếu (đã kiểm chứng)

    https://dangky3g4g.com › xu-ly-mang-3g-viettel-cham

    Mạng 3G Viettel chậm khiến cho nhiều người dùng gặp khó khăn khi truy cập internet. … nhưng không hiểu sao mạng 3G trên di động hiển thị chữ E mà không phải … Truy cập mạng Viettel 3G tại các vị trí có sóng 3G cực yếu như vùng sâu, …

    Nguyên nhân khiến Mạng Viettel Yếu Bất Thường Và Cách … Vì sao mạng viettel yếu

    http://fpt.center › … › Thủ thuật máy tính

    Thời gian gần đây khá nhiều khách hàng đang sử dụng mạng Viettel bị tình … không phải không có, bởi vì Viettel đang cung cấp cho khách hàng chủ yếu là các … Viettel yếu đến chảy nhớt thì chúng ta phải làm như thế nào và làm ra sao, hãy …

    https://netviettel.com › kiem-tra-toc-do-internet-viettel

    Cách so sánh, kiểm tra tốc độ lắp mạng internet áp dụng cho tất cả các nhà mạng tại … Viettel cập nhật tình hình các tuyến cáp biển tại: Tin tức mới cập nhật về đứt cáp … Không dùng Wifi vì Tốc độ có thể bị ảnh hưởng bởi vật cản … Tại sao đo thì kết quả đúng nhưng chơi game thì lại giật lag, hôm trước không như vậy ?

    Mạng Viettel chậm? Nguyên nhân và cách kiểm tra tốc độ … Vì sao mạng viettel yếu

    https://tongdaiviettel.webflow.io › post › kiem-tra-toc-d…

    16 thg 5, 2022 – Các đơn vị quản lý tuyến cáp quang này cũng sẽ ra sức sửa chữa, cố gắng hoàn thiện trong thời gian sớm nhất có thể nhằm sớm ổn định lại …

    Tốc độ mạng Viettel chậm vô thời hạn, người dùng đòi giảm …

    https://www.techz.vn › Công nghệ › Nhịp sống số

    14 thg 3, 2022 – (Techz.vn) Tốc độ mạng của Viettel đã trở thành mối quan tâm lớn của … thông báo xin lỗi người dùng và đưa ra lý do giải thích là vì máy chủ quốc … sự cố cáp quang được khắc phục, mạng lại yếu trở lại, thậm chí rất chậm.

    Internet trở lại bình thường sau khi sửa xong tất cả cáp quang … Vì sao mạng viettel yếu

    https://canhme.com › Tin Tức

    30 thg 6, 2022 – Chính vì vậy, nếu thấy mạng chậm, trong lúc chờ đợi hãy tham khảo các cách khắc … Canh Me khuyến khích sử dụng AZDIGI có data center Viettel, hoặc dùng hosting … Đứt nữa hay sao mà mấy nay chập chờn quá vậy sad.

    Đã tìm ra nguyên nhân vì sao internet chậm chạp, chập chờn …

    https://cellphones.com.vn › … › Tin tức › Điện thoại

    1 thg 5, 2022 – Không chỉ AAG, theo thông tin từ nhà mạng Viettel, hai tuyến cáp quang biển khác là IA và AAE-1 cũng đang gặp sự cố. Như vậy, hiện tại cả 3 …

    7 MẸO “đơn giản” khắc phục lỗi wifi yếu, ai cũng … – Viettel Store Vì sao mạng viettel yếu

    Kiểm soát băng thông mạng là cách khắc phục wifi yếu; 5. … cho gia đình bạn, họ thường để lại khá nhiều dây để có thể tùy biến vị trí sao cho thuận lợi nhất.

    Cáp quang biển đứt liên tục, Internet chậm, nhà mạng tính …

    https://tuoitre.vn › cap-quang-bien-dut-lien-tuc-internet…

    6 thg 7, 2022 – Cáp quang biển đứt liên tục, Internet chậm, nhà mạng tính cước sao? … Người dùng điên đầu vì Internet liên tục chập chờn thời gian qua – Ảnh: QUANG ĐỊNH. “Tôi sử dụng mạng Internet của nhà mạng Viettel từ 2 năm nay, khoảng 1 tháng trở lại đây tốc độ … Tôi chủ yếu dùng mạng ở nhà vào buổi tối.

    4G Viettel Chậm Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục – 4G 5G … Vì sao mạng viettel yếu

    https://4g5gviettel.net › 4g-viettel-cham-nguyen-nhan-…

    Chuyển đến Tại sao 4G Viettel bị chậm – Khu vực của bạn sóng điện thoại bị yếu, hoặc nhà … vì vậy nếu mạng của bạn chậm hãy cố gắng khắc …

    Mạng cáp quang Viettel buổi tối kết nối ra quốc tết cực chậm …

    https://tinhte.vn › Máy tính › Máy tính Mac, macOS

    Hiện em đang dùng mạng Viettel cáp quang, trả tiền 6 tháng một. … Giờ em cũng không biết phải nói với họ ra sao nữa, chứ mạng thế này không thể ngửi được ạ. … Nếu nói là do cáp biển đứt do sự cố gì đó thì không hợp lý, vì chả nhẽ tối cáp …

    Cách khắc phục tình trạng sóng 3G yếu và hiển thị chữ E Vì sao mạng viettel yếu

    https://www.thegioididong.com › Tin Tức › Mẹo hay

    27 thg 2, 2022 – Trong quá trình sử dụng smartphone, chắc hẳn có ít nhất một lần các bạn từng thắc mắc tại sao điện thoại dù đã bật chế độ mạng 3G rồi nhưng …

    Mạng chậm: Những nguyên nhân và cách khắc phục hiệu quả …

    https://kingfpt.com › mang-cham

    Bạn đang sử dụng mạng internet của nhà cung cấp FPT, VNPT, Viettel… tại nhà … Bạn không biết nguyên nhân mất chậm là gì và Cách khắc phục ra sao? … Sóng wifi của nhà bên cạnh; Vị trí đặt modem; Download các tệp có dung lượng lớn … là yếu tố quyết định đến tốc độ kết nối, càng đi xa modem thì tín hiệu càng yếu.

    Viettel và VNPT xin lỗi người dùng, giải thích việc đường … Vì sao mạng viettel yếu

    https://saostar.vn › internet › viettel-va-vnpt-xin-loi-ng…

    13 thg 3, 2022 – Hai nhà mạng lớn là Viettel và VNPT đã đồng loạt đăng thông báo xin lỗi … sự cố cáp quang được khắc phục, mạng lại yếu trở lại, thậm chí rất chậm. … Nhiều người tỏ ra khó hiểu, vì sao người phụ nữ lại ăn mặc như thế bên …

    Nguyên nhân mạng yếu là do đâu cách khắc phục chính xác …

    https://viettel-dichvu.com › Hỗ Trợ

    Chào các bạn đến với Viettel dịch vụ! Mạng yếu là một cái gì đó thật sự đáng sợ trong thời buổi hiện nay. Nguyên nhân mạng yếu là gì? tại sao mạng lại yếu và …

    Nguyên nhân làm mạng chậm, sóng wifi yếu & Cách khắc … Vì sao mạng viettel yếu

    https://meta.vn › hotro › cach-khac-phuc-mang-wifi-bi-…

    Vậy nguyên nhân làm mạng chậm là gì và cách khắc phục của nó như thế nào? … về tình trạng mạng Viettel chậm, mạng FPT chậm và cả mạng VNPT cũng chậm. … Một trong những vấn đề gây ra việc này có thể vì đường truyền bị gặp trục …

    Lỗi mạng Viettel hôm nay

    Lỗi mạng Viettel hôm này

    Mạng Viettel chậm bất thường 2022

    Mạng 3G Viettel chậm máy hôm nay

    Cách khắc phục mạng 4G Viettel yếu

    Mạng 4G Viettel chậm máy hôm nay

    Sóng wifi mạnh nhưng vào mạng yếu

    mạng viettel chậm 7/2020

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Mạng Viettel Chậm Một Cách Bất Thường?
  • Lời Đồn Gần Đây Mạng Internet Viettel Yếu Quá Có Đúng Không?
  • Chuyên Gia Anh Quốc Chỉ Ra Vì Sao Sóng Wi
  • Nên Làm Gì Nếu Điện Thoại Bắt Wifi Yếu
  • Vì Sao Giá Vàng Liên Tục Tăng Và Lập Đỉnh Mới?
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Môn Mạng Máy Tính (Có Đáp Án)

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Mã Câu Chuyện: Tự Nhiên Mọc Nốt Ruồi Son Có Điềm Gì?
  • Nổi Chấm Đỏ Trên Da Như Nốt Ruồi Son Là Bị Gì, Có Nguy Hiểm Không?
  • Giải Thích Nốt Ruồi Trên Cơ Thể, Tốt Hay Xấu?
  • Vì Sao Người Có Nốt Ruồi Son Ở Trên Mu Bàn Tay Sẽ Bạc Tình Bạc Nghĩa?
  • Bí Ẩn Về Nốt Ruồi Son Trên Cơ Thể
  • Câu hỏi trắc nghiệm môn Mạng máy tính (Có đáp án)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư:

    d. Router

    162. Để hạn chế sự đụng độ của các gói tin trên mạng người ta chia mạng

    thành các mạng nhỏ hơn và nối kết

    chúng lại bằng các thiết bị:

    a. Repeaters

    b. Hubs

    c. Switches

    d. Cạc mạng (NIC)

    163. Các thiết bị mạng nào sau đây có khả năng duy trì thông tin về hiện

    trạng kết nối của toàn bộ một mạng xí

    nghiệp hoặc khuôn viên bằng cách trao đổi thông tin nói trên giữa chúng

    với nhau:

    a. Bridge

    b. Router

    c. Repeater

    d. Connectors

    167. Phát biểu nào sau đây mô tả đúng nhất cho tầng Application

    a. Mã hoá dữ liệu

    b. Cung cấp những dịch vụ mạng cho những ứng dụng của người dùng

    c. Sử dụng địa chỉ vật lý để cung cấp cho việc truyền dữ liệu và thông báo

    lỗi , kiến trúc mạng và điều

    khiển việc truyền

    d. Cung cấp những tín hiệu điện và những tính năng cho việc liên kết và

    duy trì liên kết giữa những hệ

    thống

  • Modem dùng để:

    a. Giao tiếp với mạng

    b. Truyền dữ liệu đi xa

    c. Truyền dữ liệu trong mạng LAN

    d. a và b

    184. Khi sử dụng mạng máy tính ta sẽ được các lợi ích:

    a. Chia sẻ tài nguyên (ổ cứng, cơ sở dữ liệu, máy in, các phần mềm tiện

    ích, …)

    b. Quản lý tập trung

    c. Tận dụng năng lực xử lý của các máy tính rỗi kết hợp lại để thực hiện

    các công việc lớn

    d. Tất cả đều đúng

    1. Biễu diễn số 125 từ cơ số decimal sang cơ số binary.

      a. 01111101

      b. 01101111

      c. 01011111

      d. 01111110

      202. Thiết bị Bridge cho phép:

      a. Ngăn không cho các packet thuộc loại Broadcast đi qua nó

      b. Giúp định tuyến cho các packets

      c. Kết nối 2 mạng LAN lại với nhau đồng thời đóng vai trò như một bộ lọc

      (filter): Chỉ cho phép các

      packet mà địa chỉ đích nằm ngoài nhánh LAN mà packet xuất phát, đi qua

      d. Tăng cường tín hiệu điện để mở

      rộng đoạn mạng

      203. Thiết bị Router cho phép:

      a. Kéo dài 1nhánh LAN thông qua việc khuyếch đại tín hiệu truyền đến nó

      b. Kết nối nhiều máy tính lại với nhau

      c. Liên kết nhiều mạng LAN lại với

      nhau, đồng thời ngăn không cho các packet thuộc loại Broadcast đi

      qua nó và giúp việc định tuyến cho các packets

      d. Định tuyến cho các packet, chia nhỏ các Collision Domain nhưng không

      chia nhỏ các Broadcast Domain

    2. Để hạn chế sự đụng độ của các gói tin trên 1 đoạn mạng, người ta chia

      mạng thành các mạng nhỏ hơn

      và nối kết chúng lại bằng các thiết bị:

      a. Repeaters

      b. Hubs

      c. Bridges hoặc Switches

      d. Router

    b)hệ thống các môi trường truyền tin dùng để liên kết các thiết bị tin học

    vMẠNG NÂNG CAO: (27 câu)

    76.Các loại Resource Record nào sau đây được mô tả trong DNS

    a)NAMED

    b)NS

    c)SOA

    d)MS

    77.Tên FQDN được hiểu như là tên DNS….. ?

    a)Đầy đủ

    b)Tên gọi tắt

    c)Tên HostName

    d)Server Name

    78.Trong Mail Server thường sử dụng các giao thức nào sau đây(chọn 2)?

    a)SNMP

    b)POP3

    c)SMTP

    d)ICMP

    79.Record nào sau đây hỗ trợ cơ chế chứng thực cho miền?

    a)Một SOV record.

    b)Một SOS record.

    c)Một SRV record.

    d)Một SOA record.

    80.Dịch vụ nào sau đây được yêu cầu khi quản trị AD

    a)DNS

    b)WINS

    c)SMTP

    d)DHCP

    84.Kể tên bốn loại record quan trọng nhất của dịch vụ DNS

    a)………..

    b)………..

    c)………..

    d)………..

    1a 2a 3a 4a 5d 6a 7a 8c 9d 10ac 11b 12a 13a 14a 15a 16a 17b 18a 19a 20a 21a 22a 23a 24a 25a 26a 27c 28a 29a 30a 31a 32a 33a 34a 35a3 6a 37a 38a 39a 40a 41b 42a 43a 44a 45d 46c 47d 48c 49a 50c 51a 52a 53a 54d 55d 56a 57a 58d 59c 60b 61a 62b 63c 64d 65a 66a 67a 68d 69c 70a 71b 72b 73c 74c 75a 76b 77a 78a 79a 80a 81a 82c 83a 84ab 85a 86d 87a 88bd 89a 90a 91b 92b 93c 94a 95cd 96ad 97b 98c 99a 100a

    101c 102b 103b 104b 105b 106c 107a 108d 109a 110a 111c 112a 113ac 114bd 115abc

    116c 117b 118c 119a 120b 121c 122b 123a 124a 125a126a 127c 128c 129ad 130acd

    131ac 132c 133a 134ad 135b 136c 137a 138b 139a 140a 141a 142a 143a 144b 145ad

    146c 147bc 148cd 149a 150ab 151ab 152ab 153abc 154ab 155a 156abc 157ac 158ab

    159abcd 160cd 161abc 162a 163ab 164ab 165a 166abd 167a 168a 169a 170a 171c 172d 173c 174a 175a 176b 177a 178a 179a 180a 181a 182a 183a 184a 185d 186a 187a 188a 189a 190a 191a 192a 193d 194a 195a 196a 197a 198a 199a 200a

    201d 202a 203a 204a 205a 206a 207a 208a 209a 210d 211a 212a 213a 214a 215a 216a 217a 218a 219a 220a 221a 222a 223a 224d 225a 226a 227ad 228a 229c 230a 331b 232b 233a 234a 235a 236a 237b 238a 239a 240c 241b 242d 243a 244c 245a 246a 247a 248a 249c 250d 251a 252a 253a 254a 255c 256a 257b 258a

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Gia Tăng Dân Số Châu Á
  • Vì Sao Đất Nước Ta Còn Nghèo
  • Vì Sao Nước Ta Có Khí Hậu Nhiệt Đới Ẩm Gió Mùa?
  • Bão Là Gì? Vì Sao Lại Có Bão? Ở Việt Nam 1 Năm Có Bao Nhiêu Cơn Bão?
  • Vì Sao Vòng Năm Của Cây Có Thể Phản Ánh Lịch Sử Ô Nhiễm Môi Trường?
  • Ngành Quản Trị Mạng Máy Tính

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Về Ngành Quản Trị Mạng Máy Tính
  • Rom – Ram Phân Biệt Hệ Thống Bộ Nhớ Trong Và Ngoài
  • Những Thông Số Kỹ Thuật Của Laptop Cần Biết Trước Khi Mua
  • Các Thông Số Của Laptop Có Ý Nghĩa Gì Và Cách Đọc
  • Bạn Biết Gì Về Siêu Máy Tính?
  • CDVNgành quản trị mạng tiếng anh gọi là “Netword administator” trong những năm gần đây đang thu hút được rất nhiều bạn trẻ đam mê về công nghệ theo học. Quản trị mạng đóng vai trò thiết kế hệ thống bảo mật với mục đích cuối cùng là bảo vệ dữ liệu của công ty tránh bị đánh cắp và mất do hacker hoặc virut tấn công.

     

    Hướng đi của ngành quản trị mạng

    Người học quản trị mạng có nhiệm vụ cài đặt, hỗ trợ và quản lý mạng và hệ thống máy tính giúp thông tin luôn được lưu thông. Họ thực hiện và duy trì phần cứng và phần mềm mạng, khắc phục sự cố mạng và đảm bảo an ninh mạng, tính khả dụng và các tiêu chuẩn hiệu suất.

     

    Ngành quản trị mạng có 2 hướng để các bạn lựa chọn

     

    1. Quản trị hệ thống:

     

    Để theo quản trị hệ thống thì bạn cần nên đăng ký học: MCSA, MCSE của trong quản trị hệ thống bạn sẽ đc học cách quản trị Windows Server, cách dựng Domain, DNS, Mail Server, DHCP, Web server, Proxy Server… trong 1 công ty, doanh nghiệp như thế nào. Hoặc bạn cũng có thể học quản trị hệ thống theo hướng LINUX.

     

    2. Quản trị hạ tầng:

     

    Theo quản trị hạ tầng thì bạn cần nên đăng ký học: CCNA, CCNP nếu có khả năng thì lên CCIE của CISCO trong quản trị hạ tầng bạn sẽ được học routing trên router, switch, cách cấu hình router, switch…

     

    Kiến thức cần nắm vững của một nhà quản trị mạng

    – Có kiến thức về mạng, kiến thức về các hệ điều hành cả dành cho máy để bàn (Windows NT/2k/xp/vista/98/Linux) và máy chủ (Windows server/Linux/Unix)

    - Có kiến thức về hạ tầng cơ sở, bao gồm phần cứng và phần mềm quản lý

    - Cần nắm rõ từng chi tiết nhỏ nhất của hệ thống, đảm bảo hệ thống phần cứng và phần mềm hoạt động trơn tru.

    - Có khả năng tự thiết lập một mạng máy tính, cấu hình mạng, điều chỉnh hiệu năng hoạt động mạng máy tính, vận hành hệ thống mạng, giải quyết sự cố mạng và nắm được các phương pháp để bảo vệ mạng trước nguy cơ virus, worm, trojan, spam, cũng như các biện pháp chống xâm nhập, ăn cắp thông tin, phá hoại mạng.

    - Đọc được tài liệu tiếng Anh cũng hết sức quan trọng. Vì đa phần tài liệu chia sẻ trên mạng Internet đều dưới dạng ngôn ngữ tiếng Anh, các loại tài liệu nghiên cứu cũng bằng tiếng Anh.

    - Phải có niềm đam mê công nghệ. Nếu không bạn sẽ rất dễ dàng chán nản bởi sự khô cứng đôi lúc làm cho bạn trở thành một người cộc cằn thô lỗ.

     

     

     

    Mức lương ngành quản trị mạng

    Người làm nghề quản trị mạng có mức lương trung bình hàng năm: 69.000 USD

     

     

    – Quản trị mạng: 69.000 USD

    Quản lý mạng: 73.000 USD

    Quản trị mạng Cisco: 80.000 USD

    Thiết kế mạng: 81.000 USD

    Kỹ sư mạng: 86.000 USD

    Kỹ sư mạng Cisco: 88.000 USD

    Quản trị bảo mật mạng: 89.00USD

    Chuyên gia bảo trì mạng: 90.000 USD

    Kiến trúc sư mạng: 105.000 USD

    Kiến trúc sư mạng Cisco: 109.000 USD

    Kỹ sư mạng Cisco CCIE: 114.000 USD

    Mức lương hàng giờ cho các quản trị mạng dao động từ 21 USD đến 60 USD mỗi giờ, tùy thuộc vào vị trí của từng cá nhân, các công nghệ, chứng chỉ và kinh nghiệm thực tế.

     

    Tố chất gì để trở thành một chuyên gia quản trị mạng

    – Làm việc nhóm

    - Đa số, công việc IT đều làm việc theo nhóm. Khả năng để bạn thích ứng, và chia sẻ những ý kiến của bạn tại công ty chiếm vị trí rất quan trọng. Bạn phải biết cách phối hợp công việc với cộng sự, khả năng thuyết trình, giao tiếp, ứng xử của bạn sẽ được sử dụng tối đa trong môi trường làm việc này.

    - Làm việc một mình trong thời gian dài

    - Thời hạn của dự án luôn làm bạn đau đầu. Có đôi lúc, bạn phải ngồi làm việc một mình, do đó, bạn cần phải có tính độc lập cao hơn, biết tổ chức và sắp xếp thời gian để hoàn thành dự án đúng lúc. Để được như vậy, bạn cần phải ghi danh sách những việc bạn phải làm và có ý chí quyết tâm cao khi làm việc một mình.

    - Thực hành thường xuyên

    - Với một lập trình viên, chuyên viên quản trị mạng, điều quan trọng nhất là cọ xát với thực tiễn, máy móc, “sờ tận tay, nhìn tận mắt” các thiết bị. Làm càng nhiều, sai càng nhiều, bạn càng học hỏi và thuần thục các kĩ năng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Nghề Quản Trị Mạng Máy Tính.
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Phần Cứng Máy Tính Thường Dùng
  • Bàn Phím Máy Tính Và Phân Loại Bàn Phím Máy Tính – Chuyên Laptop – Pc – Camera Hà Đông
  • Cách Sử Dụng Bàn Phím Laptop Có Thể Bạn Chưa Biết???
  • Phần Cứng Máy Tính Là Gì? Các Bộ Phận Cơ Bản Gồm Những Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100