Top 10 # Vi Sao Phu Nu Yeu Sinh Ly Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Phòng Coronavirus: Vì Sao Phải Cách Ly 14 Ngày?

Số người mắc và tử vong do bệnh viêm đường hô hấp do chủng mới của Coronavirus vẫn đang tăng lên một cách chóng mặt. Sự gia tăng số ca mắc bệnh là do virus corona có thể lây lan trực tiếp từ người sang người thông qua việc tiếp xúc với dịch cơ thể của người bệnh. Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, biện pháp cách ly trong vòng 14 ngày là đặc biệt quan trọng đối với những người có tiếp xúc gần với các trường hợp bị bệnh, các trường hợp nghi ngờ và các trường hợp đi về từ vùng có dịch, đặc biệt là những người trở về từ Trung Quốc.

Dịch bệnh viêm đường hô hấp cho chủng mới của virus corona bắt nguồn từ thành phố Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc từ tháng 12/2019, sau đó lan rộng ra toàn bộ 31 tỉnh, thành phố của Trung Quốc. Cho đến 18h00 ngày 17/02/2020 ngoài Trung Quốc đại lục đã có tới 29 quốc gia và vùng lãnh thổ khác ghi nhận các trường hợp mắc bệnh.

Cũng tính đến 18h00 ngày 17/02/2020, trên toàn thế giới có 71.441 trường hợp mắc bệnh viêm đường hô hấp do COVID-19 (chủng mới của virus corona), trong đó riêng Trung Quốc đại lục ghi nhận có 70.553 trường hợp. Tổng số ca tử vong là 1.775 trường hợp, riêng Trung Quốc đại lục là 1.770 cả, tập trung chủ yếu ở tỉnh Hồ Bắc nơi khởi phát dịch bệnh. Như vậy cho đến nay mới chỉ có 5 ca tử vong do corona ở ngoài Trung Quốc lục địa.

Sự nguy hiểm của dịch bệnh viêm đường hô hấp do COVID-19 nằm ở tốc độ lây lan nhanh chóng của virus khiến cho việc kiểm soát dịch bệnh gặp nhiều khó khăn. Virus có thể lây lan trực tiếp từ người nhiễm virus ngay từ giai đoạn ủ bệnh sang người khác. Trong giai đoạn này, người bệnh không có biểu hiện gì, không hề biết là mình đang mang mầm bệnh do đó vẫn sinh hoạt và làm việc bình thường, tiếp xúc với nhiều người. Họ có thể lây bệnh cho những người tiếp xúc với họ trong giai đoạn này.

Chính vì vậy khi một người được xác định là nhiễm virus COVID-19 thì tất cả những người có tiếp xúc gần với họ trong khoảng thời gian ủ bệnh đều có thể đã nhiễm virus. Bởi vậy những người này cần phải được cách lý y tế một cách nghiêm ngặt để phòng chống tình trạng dịch bệnh lây lan nhanh chóng, mất kiểm soát.

Hiện nay, để đảm bảo việc phòng dịch corona, Bộ Y tế đã chỉ đạo thực hiện tổng thể nhiều biện pháp, trong đó có biện pháp cách ly y tế trong vòng 14 ngày đối với những người có tiếp xúc gần với các trường hợp mắc bệnh, các trường hợp nghi ngờ và các trường hợp đi về từ vùng có dịch của Trung Quốc là đặc biệt quan trọng.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đều khuyến cáo cần cách ly y tế 14 ngày. Cho đến hiện nay, tất cả các nước trên thế giới đều áp dụng cách ly y tế 14 ngày.

Việt Nam đã áp dụng biện pháp cách ly y tế 14 ngày nghiêm ngặt để phòng bệnh viêm đường hô hấp do virus corona chủng mới gây ra. Đối với tất cả những ai đi từ tỉnh Hồ Bắc hoặc đi qua đây dù chưa có biểu hiện nhiễm bệnh nhưng vẫn được coi là bệnh nhân, những người này cùng với gia đình của họ đều phải cách ly tại các cơ sở cách ly tập trung. Còn với những người đi từ các vùng khác của Trung Quốc (trừ tỉnh Hồ Bắc) về đều phải cách ly tại nhà hoặc tại nơi lưu trú, không được ra khỏi nhà và nơi lưu trú để tránh lây lan ra cộng đồng.

Bộ Y tế đã ban hành các quyết định hướng dẫn chi tiết về đối tượng cách li, thời gian cách ly và việc thực hiện cách ly. Các quyết định đó bao gồm:

Quyết định số 344/QĐ-BYT ngày 07/02/2020 hướng dẫn về cách ly y tế tại cơ sở cách ly tập trung.

Quyết định số 345/QĐ-BYT ngày 07/02/2020 hướng dẫn về cách ly y tế tại nhà, nơi lưu trú.

Con số 14 ngày cách ly được đưa ra dựa trên thời gian ủ bệnh của virus corona chủng mới. Thời gian ủ bệnh được tính từ khi bị nhiễm virus cho tới khi người bệnh xuất hiện các triệu chứng đầu tiên của bệnh. Hiện nay, thời gian ủ bệnh của COVID-19 ước tính nằm trong khoảng 2 – 12 ngày, và thời gian này sẽ được cập nhật chính xác hơn khi có thêm các dữ liệu. Đồng thời dựa trên thông tin về các bệnh do virus corona khác đã từng gây bệnh trước đây như MERS và SARS, thì thời gian ủ bệnh của virus corona chủng mới có thể dưới 14 ngày.

Chính vì vậy những người nghi ngờ bị nhiễm virus cần được cách ly y tế 14 ngày. Nếu sau 14 ngày mà không xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào của bệnh thì họ có thể trở lại cuộc sống như bình thường. Còn nếu trong vòng 14 ngày mà ai đó có xuất hiện các triệu chứng của bệnh viêm đường hô hấp do coronavirus chủng mới gây ra như ho, sốt hay khó thở thì người đó cần được làm xét nghiệm kiểm tra xem có nhiễm virus không để có hướng điều trị và cách ly kịp thời.

Để đảm bảo việc cách ly được thực hiện một cách nghiêm ngặt, tránh việc tự ý rời khỏi nơi cách ly trái quy định về phòng, chống dịch Thủ tướng chỉ đạo Bộ Công an, Bộ Quốc phòng tăng cường kiểm soát đối với các đối tượng cách ly đảm bảo theo đúng hướng dẫn của Bộ Y tế.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ đạo các địa phương rút Giấy phép lao động của các công dân nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam thuộc diện cách ly mà không chấp hành cách ly hoặc tự ý rời khỏi nơi cách ly.

Bộ Thông tin và Truyền thông cần đẩy mạnh việc đưa tin lên án các trường hợp không chấp hành các giải pháp theo chỉ đạo của Thủ tướng, đặc biệt là việc tự ý rời khỏi nơi cách ly.

Việc cách ly đối với những người có tiếp xúc với bệnh nhân hoặc đi về từ vùng có dịch là đặc biệt quan trọng để phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19. Thời gian cách ly y tế với những trường hợp này là 14 ngày. Cách ly có thể thực hiện tại nơi cách ly tập trung hoặc tự cách ly tại nhà, nơi lưu trú tùy theo từng trường hợp cụ thể.

XEM THÊM:

Phân Vi Sinh Là Gì? Cách Sử Dụng Phân Vi Sinh Hiệu Quả

Tùy vào mục đích sử dụng và nhu cầu của cây trồng mà chọn loại phân vi sinhcó chủng loại vi sinh khác nhau như: phân vi sinh cố định đạm, phân vi sinh phân giải lân hay phân vi sinh kích thích tăng trưởng…

PHÂN LOẠI PHÂN VI SINH

#1. Vi sinh vật cố định đạm (hay còn gọi là cố định Nitơ)

Nitơ là yếu tố dinh dưỡng căn bản duy trì sự sống của mọi tế bào sống của thực vật và động vật, đóng vai trò quan trọng không thể thiếu đối với cây trồng và cả các VSV có ích khác.

Hàm lượng Nitơ trong đất rất ít, chủ yếu nguồn dự trữ Nitơ tự nhiên có nhiều trong không khí (chiếm 78,16%). Nhưng nguồn Nitơ này không sử dụng được cho cây trồng. Muốn cây trồng sử dụng được nguồn dinh dưỡng này thì Nitơ trong không khí phải được chuyển hóa thông qua quá trình cố định Nitơ dưới tác dụng của các VSV.

Từ vi sinh vật cố định đạm (N) sẽ sản xuất ra phân bón vi sinh vật cố định đạm . Sản phẩm này chứa 1 hoặc nhiều vi sinh vật cố định đạm , có tác dụng

+ Cố định đạm (N) từ không khí chuyển hóa thành các hợp chất chứa N cho đất và cây trồng, bổ sung hàm lượng đạm cho rễ cây.

+ Kết hợp với phân bón giúp lá xanh tốt hơn, cây phát triển nhanh hơn

+ Giảm 30 – 50% chi phí phân đạm hóa học,

+ Giảm tỷ lệ sâu bệnh 25 – 50% so với phân bón truyền thống

+ Tăng khả năng chống chịu cho cây trồng

+ Cải tạo đất, cân bằng dinh dưỡng hữu cơ,

+ Thân thiện với môi trường, an toàn cho sức khỏe vật nuôi và con người.

+ Có thể bón trực tiếp cho cây trồng trước khi thu hoạch

+ Phân bón VSV cố định Nitơ tốt phải có chủng VSV có cường độ cố định Nitơ cao, sức cạnh tranh lớn, thích ứng với PH mở rộng, phát huy được trên nhiều vùng sinh thái khác nhau.

+ Chất lượng của phân bón VSV khó đảm bảo do hàm lượng VSV không ổng định

+ Hiệu quả của phân bón VSV cố định Nitơ còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sống của các VSV có trong phân.

+ Phân bón VSV cố định đạm dễ bị bay hơi, dễ hoa tan và bị rửa trôi khi gặp mưa dầm.

+ Tẩm phân vào hạt hoặc rễ trước khi gieo trồng. Sau khi tẩm hạt giống cần được gieo trồng và vùi vào đất ngay.

+ Bón trực tiếp vào đất

#2. Phân bón vi sinh vật chuyển hóa và phân giải lân (photpho):

Photpho rất cần thiết đối với cây trồng, nó tham gia vào việc hình thành màng tế bào, axit nucleic, làm nhanh quá trình chín quả ở cây, làm tăng sự phát triển của rễ.

Cây chỉ có thể hút được lân ở dạng dễ tiêu trong đất. Lân ở dạng khó tan trong đất cây không hút được (thông thường hiệu suất sử dụng P của cây trồng không quá 25%). Vì vậy, có nhiều loại đất như đất đỏ bazan, đất đen, v.v.. hàm lượng lân trong đất khá cao, nhưng cây không hút được vì lân ở dưới dạng khó hoà tan.

Muốn cây hút được lân thì cần có các vi sinh vật chuyển hóa, phân giải các hợp chất lân khó tan thành dễ tan. Giúp cây trồng nâng cao năng suất, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và thời tiết khắc nghiệt.

#3. Phân bón vi sinh vật phân giải chất mùn/ hợp chất hữu cơ (xenlulozo):

Là các chủng vi sinh sử dụng xenlulozo để phát triển và sinh trưởng. Các vi sinh vật này phân giải xenlulozo để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, có tác dụng:

+ Tạo điều kiện tăng năng suất,

+ Tăng độ màu mỡ cho đất

#4. Phân bón vi sinh vật kích thích, điều hòa tăng trưởng cây

Gồm một nhóm nhiều loài vi sinh vật khác nhau, trong đó có vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn, v.v.. được chọn lọc để phun lên cây hoặc bón vào đất. Để sản xuất chế phẩm vi sinh vật kích thích tăng trưởng của cây, người ta sử dụng công nghệ lên men vi sinh vật.

+ Làm cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, ít sâu bệnh, tăng năng suất.

+ Tăng khả năng nảy mầm của hạt, tăng trọng lượng hạt,

+ Thúc đẩy bộ rễ cây phát triển mạnh.

+ Tăng tổng hợp các hoạt chất sinh học, kích thích điều hòa quá trình trao đổi chất của cây trồng

Như vậy, chế phẩm này có tác động tổng hợp lên cây trồng.

#5. Phân bón VSV phân giải silicat:

Là các VSV tiết ra hợp chất có khả năng hòa tan các khoáng vật chứa silicat trong đất, đá…để giải phóng ion kali, ion silic vào môi trường.

#6. Phân bón vi sinh tăng cường hấp thu photpho, Kaili, sắt, mangan cho thực vật:

Gồm các VSV (chủ yếu là nhóm nấm rễ, vi khuẩn, xạ khuẩn…) trong quá trình sinh trưởng, phát triển, thông qua hệ sợi cũng như những thể dự trữ, có khả năng tăng cường hấp thu các ion khoáng của cây.

#7. Phân bón vi sinh ức chế VSV gây bệnh:

Chứa VSV tiết ra các hợp chất kháng sinh hoặc phức chất siderophore có tác dụng kìm hãm, ức chế nhóm VSV gây bệnh khác cho cây trồng.

#8. Phân bón vi sinh chất giữ ẩm polysacarit:

Có chứa VSV tiết ra các polysacarit có tác dụng tăng cường liên kết các hạt khoáng, sét, limon trong đất. Loại này có ích trong thời điểm khô hạn. Các chủng vi sinh được dùng bao gồm Lipomyces sp

CÁCH SỬ DỤNG PHÂN BÓN VI SINH HIỆU QUẢ

+ Sử dụng: làm ướt hạt, trộn đều với phân vi sinh (theo tỉ lệ 100 kg hạt giống: 1 kg phân vi sinh). Sau 10 – 20 phút trộn phân và hạt giống thì tiến hành gieo trồng

+ Thời gian sử dụng phân vi sinh tốt nhất từ 1 – 6 tháng (kể từ ngày sản xuất), để bảo đảm các vi sinh vật vẫn hoạt động tốt khi được bón vào đất

+ Nhiệt độ cất giữ phân bón vi sinh không cao hơn 30 độ C, để nơi khoa ráo, thoáng mát tránh ánh nắng trực tiếp của mặt trời làm chết vi sinh vật

+ Phân vi sinh phát huy trốt trong điều kiện chân đất cao, đối với cây trồng cạn

-GFC-

Tính Kết Quả Vi Sinh

Tính kết quả vi sinh là bước quan trọng trong phòng vi sinh, lựa chọn cách tính sai dẫn báo cáo sai kết quả.

Nguyên tắc đếm khuẩn lạc

Khi đếm khuẩn lạc đặc trưng, hay khuẩn lạc giả định, mô tả hình thái khuẩn lạc dựa theo phương pháp thử tương ứng.

Các trường hợp sau được xem là 1 khuẩn lạc:

Khuẩn lạc mọc loang rộng;

Các khuẩn lạc loang tạo thành chuỗi.

Khi phần loang < ¼ đĩa: đếm ở phần không bị loang và tính số đếm tương ứng cho cả đĩa.

Số đếm tổng khuẩn lớn nhất cho phép trên đĩa 90 mm là 300 CFU ;

Số đếm khuẩn lạc đặc trưng hoặc giả định lớn nhất là 150 CFU .

Tính kết quả vi sinh và biểu diễn kết quả (phương pháp đổ đĩa)

1.Trường hợp chung (đếm tổng khuẩn hoặc khuẩn lạc đặc trưng)

Để kết quả có giá trị, yêu cầu chung cho việc đếm các khuẩn lạc là các đĩa phải có ít nhất 10 khuẩn lạc (tất cả các khuẩn lạc, khuẩn lạc đặc trưng hay các khuẩn lạc đã được khẳng định).

Trường hợp làm thử nghiệm với mẫu thử 1đĩa/nồng độ: Tổng lượng vi sinh vật có trong mẫu thử, N, được lấy trung bình từ hai nồng độ pha loãng kế tiếp nhau được tính theo công thức sau:

N= ∑c/ (v x 1.1x d) (CFU /g)/ (CFU /mL)

Trường hợp làm thử nghiệm với mẫu thử 2 đĩa/nồng độ: Tổng lượng vi sinh vật có trong mẫu thử, N, được lấy trung bình từ hai nồng độ pha loãng kế tiếp nhau được tính theo công thức sau:

N= ΣC/( Vx (n1 + 0.1 x n2) x d)) (CFU /g)/ (CFU /mL)

Trong đó

∑C  tổng số khuẩn lạc đếm được từ hai nồng độ pha loãng liên tiếp, trong đó số khuẩn lạc đếm được ít nhất phải là 10;

V       thể tích mẫu cấy vào mỗi đĩa, mL;

d       hệ số pha loãng ứng với độ pha loãng thứ nhất.

n1     số đĩa ở nồng độ pha loãng thứ nhất.

n2     số đĩa ở nồng độ pha loãng thứ hai .

Làm tròn kết quả tính toán thành hai chữ số có nghĩa.

Nếu chữ số thứ 3 nhỏ hơn 5 thì giữ nguyên chữ số phía trước.

Nếu chữ số thứ 3 lớn hơn hoặc bằng 5 thì tăng 1 đơn vị cho chữ số phía trước.

Lấy chữ số kết quả là từ 1,0 tới 9,9 nhân cho lũy thừa của 10, hoặc số nguyên với hai chữ số có nghĩa.

Biểu thị kết quả như sau: Số vi sinh vật N có trong 1 mL hoặc 1 g mẫu.

2.Trường hợp sau khi được xác nhận lại hoặc khẳng định

Số khuẩn lạc trên mỗi đĩa nghiệm đúng thử nghiệm khẳng định được tính theo công thức sau:

a=C x (b/A)

Trong đó

b:   số khuẩn lạc nghiệm đúng trong số các khuẩn lạc chọn làm khẳng định A;

C:  tổng số khuẩn lạc nghi ngờ đếm được trên đĩa.

Làm tròn kết quả tính toán thành số nguyên gần nhất.

Nếu số đầu tiên sau dấu thập phân nhỏ hơn 5 thì không thay đổi giá trị phía trước.

Nếu số đầu tiên sau dấu thập phân lớn hơn hoặc bằng 5 thì tăng 1 đơn vị cho chữ số phía trước.

Tính toán số vi sinh vật nghiệm đúng có trong mẫu kiểm tra theo công thức:

N= ∑c/ (v x 1.1x d) (CFU /g)/ (CFU /mL)

Trong đó

tổng số khuẩn lạc nghiệm đúng từ hai nồng độ pha loãng liên tiếp, CFU .

V       thể tích mẫu cấy vào mỗi đĩa, mL;

d       hệ số pha loãng ứng với độ pha loãng thứ nhất.

Làm tròn và biểu diễn kết quả như ở phần 2.1.

Giá trị ước lượng.

2.3.1. Số đếm ở độ pha loãng đầu tiên < 10 khuẩn lạc

Nếu đĩa có “4 ≤ a (CFU ) < 10, tính toán kết quả như trường hợp chung ở phần 2.1, báo cáo kết quả là “số ước lượng” vi sinh vật trên g hoặc mL sản phẩm

Nếu đĩa có 1 – 3 CFU , độ chính xác của kết quả thấp, do đó kết quả sẽ được báo cáo: “Số lượng vi sinh vật có trong mẫu < (4/d) CFU /g hoặc CFU /mL

2.3.2. Độ pha loãng đầu tiên không có khuẩn lạc

Nếu đĩa từ mẫu kiểm tra (sản phẩm lỏng), hoặc huyền phù ban đầu (sản phẩm khác), hoặc từ độ pha loãng đầu tiên đã cấy, không có khuẩn lạc nào thì biểu thị kết quả như sau:

Ne< 1/d (CFU / mL) hoặc (CFU /g).

d:  độ ph a loãng của dịch huyền phù ban đầu hoặc độ pha loãng đầu tiên đã cấy.

Các trường hợp đặc biệt khi đếm khuẩn lạc đặc trưng hoặc giả định

1/d1 <Ne<1/d2  (CFU / g) hoặc (CFU /mL)

Ne<1/d2 mL (g)

               d1 và d2 là hệ số pha loãng tương ứng với số đếm khuẩn lạc thu nhận x1 và x2.

Các trường hợp đặc biệt khác

300 ≤ x1 ≤ 334 (hoặc 150 ≤ x1 ≤ 167), áp dụng công thức tính ở 2.1.

3.Tính toán và biểu diễn kết quả phương pháp màng lọc: (Theo ISO 8199)

Đối với phương pháp màng lọc khi đọc kết quả chọn các đĩa có số đếm tổng các khuẩn lạc trong khoảng 10-200 hoặc lựa chọn các đĩa có số đếm khuẩn lạc điển hình trong khoảng 10-100.

Trường hợp chung

Tổng số khuẩn lạc trên màng lọc trong một đơn vị thể tích mẫu lọc sẽ được tính thức công thức:

Cs = Zx Vs/ Vtot

Trong đó:

Cs : số khuẩn lạc có trong thể tích mẫu Vs

Z : số khuẩn lạc trên màng ở độ pha loãng d1, d2,… di

Vs : thể tích được chọn để biểu diễn kết quả

Vtot : tổng thể tích tính được từ mẫu ban đầu trên các màng hoặc là tổng các phần riêng biệt   từ mẫu thử , được tính theo công thức                                 Vtot = n2 x V2 x d2 + n2 x V2 x d2+ … ni x Vi x di

                              Trong đó:

n1, n2, ni :     số màng ở độ pha loãng d1, d2,… di

V1, V2, Vi :    thể tích sử dụng ở độ pha loãng d1, d2,… di

d1, d2, di :     độ pha loãng ở thể tích V1, V2, Vi

(d = 1 đối với không pha loãng, d = 0.1 là mẫu pha loãng 10 lần…)

Trường hợp khuẩn lạc sau khi được xác nhận lại hoặc khẳng định

Số khuẩn lạc trên màng ở các độ pha loãng được tính theo công thức sau:

Z=ka/n

Trong đó:

Z :    Số khuẩn lạc trên màng

k :    Số khuẩn lạc cho kết quả dương tính

n :    Số khuẩn lạc được chọn để khẳng định.

a :    Tổng số khuẩn lạc nghi ngờ trên màng

4.3.2.2. Nếu sau khẳng định, ở nồng độ ban đầu (100), số khuẩn lạc Coliform/ chúng tôi đều <10.

  4.3.2.3. Nếu sau khẳng định, không có khuẩn lạc nghiệm đúng thì kết quả được báo cáo là

< 1/Vtot   (CFU /Vs mL) hay bằng 0 khi không có khuẩn lạc ở nồng độ nguyên (100).

Tính toán và biểu diễn kết quả phương pháp Pettri film 

Theo TCVN 9977:2013; TCVN 9975:2013; TCVN 9980:2013

Chọn và đếm các đĩa có số khuẩn lạc trong khoảng quy định đối với từng phương pháp:

+ TPC: Đếm các đĩa có số khuẩn lạc nằm trong khoảng 30÷300.

+ chúng tôi (AOAC 991.14): Đếm các đĩa có số khuẩn lạc trong khoảng 15 ÷150.

+ Enterobacteriaceae (AOAC OMA 2003.01): Đếm các đĩa có số khuẩn lạc nằm trong khoảng10÷ 150.

+ Staphylococcus aureus (AOAC OMA 2003.11): Đếm các đĩa có số khuẩn lạc trong khoảng 15÷150 khuẩn lạc.

Tổng số khuẩn lạc trên đĩa (hoặc trung bình số khuẩn lạc/đĩa nếu làm 2 đĩa/nồng độ): n.

Kết quả sẽ được tính như sau:

N= n x 1/d

(d là độ pha loãng tương ứng).

Nếu số đếm khuẩn lạc trên tất cả các đĩa ở các nồng độ đều nhỏ hơn cận dưới của khoảng đếm khuẩn lạc ( n< 30,n<10, n<15) thì kết quả được tính như sau:

N= n x 1/d

Với n là số đếm chính xác có trên đĩa ở độ pha loãng thấp nhất, d là độ pha loãng thấp nhất.

Kết quả được báo cáo là số ước lượng.

Cần tư vấn ISO 17025 mời gọi Tel 0919 099 777

Tìm Hiểu Văn Bản: Rừng Xà Nu

Sau ba năm tham gia lực lượng cách mạng, Tnú được về thăm làng. Trong đêm ấy, cụ Mết kể lại cho dân làng nghe về câu chuyện của Tnú. Tnú mồ côi từ nhỏ, được dân làng nuôi lớn và sớm tiếp nối tinh thần cách mạng. Tnú tham gia nuôi giấu chiến sĩ cách mạng và làm liên lạc. Tnú vốn là một cậu bé thông minh, can đảm và gan dạ: “chọn nơi rừng khó đi, nơi sông khó qua” để tránh kẻ thù. Lúc bị bắt dám thách thức quân giặc “nuốt vội lá thư và chỉ tay vào bụng mình”. Tnú bị bắt, bị tra tấn dã man nhưng nhất định không khai. Sau khi ra tù, Tnú về làng cưới Mai và cùng dân làng chuẩn bị chiến đấu. Nghe tin đó, thằng Dục – tay sai của chính quyền Mỹ – Diệm đưa lính đến đàn áp. Không bắt được Tnú chúng đem vợ con anh ra đánh đập đến hết. Tnú đau xót xông ra nhưng không cứu được vợ con mà còn bị chúng thiêu đốt mười đầu ngón tay bằng nhựa cây xà nu. Trong khi đó cụ Mết cùng dân làng mang vũ khí cất giấu trong rừng trở về và chiến đấu thắng lợi. Tnú gia nhập giải phóng quân và chiến đấu dũng cảm nên được cấp phép về thăm làng. Cụ Mết tự hào kể về anh cũng như nhắc nhở bài học xương máu: ”Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cuối truyện là hình ảnh cụ Mết và Dít tiễn Tnú về đơn vị, xa xa là những rừng xà nu, đồi xà nu bạt ngàn, chạy tít tắp đến chân trời.

b. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác

– Truyện ngắn “Rừng xà nu” được viết năm 1965 và in trong tập “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc”.

– Truyện được viết khi tác giả đang tham gia chiến đấu chống Mỹ cứu nước và hoạt động trên chiến trường Tây Nguyên anh hùng.

c. Bố cục

– Phần 1 (phần chữ nhỏ): Tnú sau ba năm theo cách mạng giờ về thăm làng.

– Phần 2 (còn lại): cụ Mết kể câu chuyện về cuộc đời của Tnú và người dân làng Xô Man.

II. Trọng tâm kiến thức

1. Hình tượng cây xà nu

– Cây xà nu là hình tượng bao trùm, là mạch sống mạch hồn của tác phẩm. Khi cầm bút sáng tác thiên truyện này, hình ảnh đầu tiên hiện về trong tâm trí ông là cây xà nu, những cánh rừng xà nu. Hình tượng thiên nhiên ấy đã trở thành chủ âm của tác phẩm, nó chiếm giữ những vị trí quan trọng nhất của truyện ngắn: nhan đề, mở đầu và kết thúc. Hình ảnh cây xà nu còn trở đi trở lại nhiều lần tạo nên không gian đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên.

– Cây xà nu gắn bó mật thiết với cuộc sống con người Tây Nguyên. Cây xà nu hiện lên trong tác phẩm là một loài cây đặc thù, tiêu biểu cho vùng đất Tây Nguyên. Qua hình tượng cây xà nu, nhà văn đã tạo dựng được hình ảnh hùng vĩ và hoang dã mang đậm màu sắc Tây Nguyên cho câu chuyện.

– Cây xà nu gắn bó mật thiết với đời sống của dân làng Xô Man, có mặt trong đời sống hàng ngày của dân làng. Lửa xà nu cháy dần dật trong mỗi bếp, trong đống lửa của nhà ưng tập hợp dân làng, khói xà nu xông bảng nứa để Tnú và Mai học chữ. Khi Tnú trở về đơn vị, cụ Mết và Dít đưa anh ra đến rừng xà nu cạnh con nước lớn.

– Cây xà nu còn tham gia vào những sự kiện trọng đại của dân làng: ngọn đuốc xà nu dẫn đường cho cụ Mết và dân làng vào rừng lấy giáo, mác, dụ, rựa đã giấu kĩ chuẩn bị nổi dậy. Mười ngón tay Tnú bị đốt vì giẻ tẩm nhựa xà nu, và chính vì cảnh tượng đau thương ấy dân làng đã nổi dậy để đống lửa xà nu lớn giữa nhà soi rõ xác mười tên lính giặc nằm ngổn ngang.

– Cây xà nu cũng đã thấm sâu vào nếp cảm, nếp nghĩ của người Tây Nguyên. Tnú cảm nhận về cụ Mết ngực cụ căng như cây xà nu lớn. Trong câu chuyện về Tnú, cụ Mết cũng nói về cây xà nu với tất cả tình cảm yêu thương, gần gũi xen lẫn tự hào: Không có gì mạnh bằng cây xà nu nước ta, cây xà nu đã trở thành máu thịt trong đời sống vật chất và tinh thần của con người Tây Nguyên.

– Cây xà nu tượng trưng cho số phận và phẩm chất con người Tây Nguyên trong chiến tranh cách mạng. Ta có thể thấy ý đồ nghệ thuật này khi tác giả miêu tả song hành hai hình tượng cây xà nu và những con người Tây Nguyên.

+ Thứ nhất, thương tích của rừng xà nu do đại bác của giặc gây ra tượng trưng cho những mất mát đau thương vô bờ mà người dân Tây Nguyên phải chịu đựng. Nếu rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào không bị thương thì con người Tây Nguyên cũng vậy. Những câu xà nu con bị đại bác chặt đứt làm đôi thì tượng trưng cho những đứa con của Tnú và Mai. Còn những cây xà nu trưởng thành đại bác không giết nổi chúng thì cũng giống như Tnú và Dít, những con người trưởng thành từ những đau thương mất mát của chiến tranh.

+ Thứ hai, cây xà nu có đặc tính ham ánh sáng, đặc tính ấy tượng trưng cho niềm khát khao tự do của người dân Tây Nguyên. Nguyễn Trung Thành viết ít có loài cây nào ham ánh sáng mặt trời đến thế… Con người Tây Nguyên cũng vậy, luôn khao khát tự do, mặc dù bọn giặc đã giết bà Nhan, anh Xút và cả anh cán bộ Quyết nhưng Tnú và Mai vẫn kiên trì nuôi giấu cán bộ.

+ Thứ ba, khả năng sinh sôi mãnh liệt của cây xà nu và sự rộng lớn của rừng xà nu giúp ta gợi liên tưởng đến sự tiếp nối của nhiều thế hệ người Tây Nguyên. Nguyễn Trung Thành viết: Trong rừng ít có loại cây nào sinh sôi nảy nở khỏe như vậy, cạnh một cây xà nu mới ngã đã có bốn, năm cây con mọc lên xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Làng Xô Man cũng có những thế hệ tiếp nối như vậy: cụ Mết là cây xà nu lớn. Tnú, Mai và Dít là những cây xà nu trưởng thành và bé Heng là cây xà nu con rắn rỏi.

+ Thứ tư, sự tồn tại của rừng xà nu qua những hành động hủy diệt của kẻ thù tượng trưng cho sức sống bất diệt và khả năng vươn lên mạnh lẽ của con người Tây Nguyên trong chiến đấu.

– Hình tượng rừng xà nu có quan hệ mật thiết với hình tượng nhân vật Tnú. Hai hình tượng này không tách rời nhau mà gắn bó khăng khít với nhau. Rừng xà nu không thể trải mãi tới chân trời trong màu xanh bất diệt khi con người chưa thấm thía bài học chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo.

2. Hình tượng các nhân vật trong tác phẩm

a. Nhân vật Tnú

– Trong dụng ý nghệ thuật của mình, nhà văn Nguyễn Trung Thành muốn nói: Rừng xà nu là truyện của một đời được kể trong một đêm. Người mà cuộc đời được kể trong một đêm ấy chính là Tnú.

– Tnú là người trung thành với cách mạng:

+ Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được dân làng Xô Man nuôi dưỡng, tham gia vào việc nuôi giấu cán bộ cách mạng và luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhiều đêm Tnú phải ngủ trong rừng vì sợ lỡ giặc lùng, ai dẫn cán bộ chạy.

+ Nghe anh Quyết học chữ, Tnú lấy trẻ nứa làm bảng. Tnú đi ba ngày đường tới núi Ngọc Linh mang về một xà lét đầy đá trắng làm phấn. Trong lúc học chữ, Tnú tỏ ra tối dạ, học hoài không nhớ nên tự lấy đá đập vào đầu chảy máu nhưng chỉ một lời động viên của anh Quyết thì Tnú lại càng quyết tâm.

– Gan dạ, dũng cảm và mưu trí:

+ Đi liên lạc, Tnú không bao giờ chịu đi đường mòn. Giặc vây các ngả, Tnú nhìn quanh một lượt xé rừng mà đi. Qua sông, Tnú không lựa chỗ nước êm, mà cứ lựa chỗ thác mạnh để bơi ngang vì Tnú biết rằng qua chỗ nước êm, thằng Mĩ Diệm hay phục, chỗ nước mạnh nó không không ngờ.

+ Khi bị giặc bắt, Tnú nuốt thư vào bụng, chấp nhận bị tra tấn chứ không khai. Khi bị giặc đốt mười đầu ngón tay, Tnú không hề kêu than mà cắn răng chịu đựng.

– Tnú là người yêu thương bản làng:

+ Sinh ra giữa núi rừng Tây Nguyên, Tnú rất yêu thương bản làng của mình. Ba năm đi chiến đấu xa bản làng, khi trở về, Tnú vô cùng xúc động. Anh nhớ từng hàng cây, con đường, dòng suối mát và nhớ nhất là tiếng chày giã gạo.

– Tnú rất yêu thương vợ con:

+ Tnú yêu Mai bằng một tình yêu chân thành và mãnh liệt vì nó bắt nguồn từ tình bạn bè, tình đồng chí. Khi trở về làng, nhìn gốc cây xà nu, những kỉ niệm thời thơ ấu lại ùa về những kỉ niệm đó cắt vào lòng anh như một nhát dao.

+ Ngày con Tnú chào đời, vì bận công tác, Tnú không đi Kon Tum mua vải con con được, anh phải xé đôi tấm đồ của mình ra làm tấm chaonfg cho Mai địu con.

+ Vì bí mật cách mạng, Tnú buộc phải núp sau một cây vả để chứng kiến kẻ thù man rợ dùng cây sắt đánh đập, tra tấn dã man vợ con anh. Tnú đau đớn dữ dội nhưng anh không làm gì được, tay anh bứt hàng chục trái vả mà không hề hay biết. Khi nghe tiếng con ré lên rồi im bặt, căm thù dồn nén không chịu được nữa, anh lao vào lũ giặc với thiết thét lớn. Rồi anh hành động thật đẹp: Anh dang hai cánh tay rộng lớn như lao cánh lim chắc ôm lấy mẹ con Mai, mặc dù anh hiểu rằng sẽ bị giặc bắt và giết chế. Tnú không cứu được hai mẹ con Mai vì anh chỉ có hai bàn tay không.

– Tnú căm thù giặc:

+ Tnú mang trong tim ba mối thù: Mối thù bản thân, lưng Tnú dọc ngang vết dao giặc chém, mười đầu ngón tay bị đốt; mối thù của gia đình, vợ con chết thảm dưới cây roi sắt của giặc; mối thù buôn làng, Tnú không bao giờ quên hình ảnh những cánh rừng xà nu bị tàn phá, những người dân vô tội bị sát hại.

+ Khi nhìn cảnh vợ con bị giặc tra tấn, căm thù dồn nén đã biến đôi mắt anh thành hai cục lửa lớn.

+ Khi giặc đốt mười đầu ngón tay bằng nhựa xà nu, ngay lập tức mười ngón tay Tnú thành mười ngọn đuốc. Anh không cảm thấy lửa mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Tnú thét lên một tiếng, tạo thành sức mạnh căm hờn để dân làng Xô Man vùng lên giết sạch kẻ thù.

+ Tnú dùng chính đôi bàn tay thương tật của mình để cầm súng, để trả thù nhà, trả nợ nước.

– Tnú có tính kỉ luật cao:

+ Ba năm đi bộ đội, Tnú rất nhớ nhà, nhớ quê hương. Được cấp trên cho phép về một đêm và anh cũng chỉ về một đêm đúng như quy định.

– Ý nghĩa đôi bàn tay của Tnú:

+ Bàn tay dám cầm đá đập vào đầu để trừng phạt mình vì học hay quên. Bàn tay đã từng đặt lên bụng mình và nói với giặc cộng sản đây này. Bàn tay ấy cũng đã từng che chở cho mẹ con Mai trước đòn roi của giặc.

+ Bàn tay Tnú là bàn tay của sự hận thù, vì bàn tay ấy đã thành thương tật do giặc Mĩ gây ra. Dù thương tật, nhưng bàn tay ấy vẫn cầm súng trả thù nhà, nợ nước.

b. Nhân vật cụ Mết

– Ngoại hình:

+ Ngoài sáu mươi tuổi mà vẫn khỏe mạnh.

+ Bàn tay nặng trịch như cái kìm sắt.

+ Râu dài tới ngực mà vẫn đen bóng.

+ Mắt sáng và xếch ngược.

+ Ngực căng như một cây xà nu lớn.

– Tính cách:

+ Là một già làng có uy tín, khi cụ nói mọi người đều im bặt, đặc biệt cụ không bao giờ khen tốt, giỏi, vừa ý lắm thì cụ nói được.

+ Có kinh nghiệm trong chiến đấu, cụ biết khi nào là phải nhẫn nhịn, là khi mình chỉ có hai bàn tay không (cụ không cho Tnú nhảy vào khi bọn lính đang đánh đập Mai) nhưng cụ lại kịp thời lãnh đạo giết chết mười tên lính.

+ Cụ giáo dục lòng yêu nước và tinh thần cho dân làng Xô Man: Đảng còn, núi nước này còn. Cụ dạy cho dân làng Xô Man chống giặc Mĩ bằng con đường vũ trang: chúng nó cầm súng, mình cầm giáo.

– Tình yêu quê hương bản làng:

+ Cụ rất tự hào về bản làng, về con người Strá, cụ nói: Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Gạo người Strá mình làm ra ngon nhất núi rừng này đấy. Yêu quê hương bản làng, cụ nuôi dấu cán bộ và quyết cùng dân làng Xô Man đấu tranh bảo vệ buôn làng Tổ quốc.

+ Cụ yêu thương dân làng tha thiết: Nhường muối cho người đau. Gặp lại Tnú sau ba năm xa cách, cụ vừa vui vừa cảm động và đãi Tnú ăn những món ăn đặc biệt của bản làng.

c. Nhân vật Mai

– Là một người phụ nữ thông minh, dịu dàng, thủy chung và kiên cường.

– Thuở nhỏ, Mai đã là giao liên cùng Tnú vào rừng tiếp tế và bảo vệ cán bộ. Mai thông minh học chữ giỏi.

– Khi đã trở thành người vợ, người mẹ, Mai dũng cảm lấy thân mình bảo vệ cho đứa con và kiên quyết không khai một lời nào với giặc.

d. Nhân vật Dít

– Thuở nhỏ là một cô bé can đảm, nhanh nhẹn.

– Ngày làng bị khủng bố, Dít bò theo máng nước vào rừng để tiếp tế lương thực cho bộ đội, bị giặc bắt, giắc bắn dọa: đạn sượt qua tai, sém tóc. Dít khóc thét lên nhưng đến viên thứ mười, nó im lặng và bình thản nhìn bọn giặc.

– Dít căm thù giặc thật là lạnh lùng: Ngày Mai chết cả làng đều khóc, cụ Mết và Tnú khóc, riêng Dít không khóc, mà dồn nén yêu thương để nung nấu căm thù bằng cách dã gạo để Tnú đi trả thù cho chị.

– Cô lớn lên trở thành một chi bộ thật vững vàng, nhiệt huyết, công tư rất rõ ràng. Ngày Tnú về thăm làng, cô rất mừng nhưng vẫn hỏi giấy phép.

e. Nhân vật bé Heng

– Là một cậu bé lầm lì, ít nói và là một du kích giữ làng tốt.

– Bé Heng rất rành hầm chông hố chông của làng mình.

III. Tổng kết

1. Giá trị nội dung

Đây là chuyện của một đời người được kể trong một đêm. Đồng thời đó cũng là chuyện về những con người ở một bản làng Tây Nguyên, bên những cánh rừng xà nu bạt ngàn, xanh bất tận. Qua đó, tác giả đặt vấn đề có ý nghĩa lớn lao đối với dân tộc và thời đại: Để cho sự sống của nhân dân và đất nước mãi mãi trường tồn, không có cách nào khác hơn là phải cùng nhau đứng lên, cầm vũ khí chống lại kẻ thù tàn ác.

2. Giá trị nghệ thuật

– Đặc sắc, đậm đà chất sử thi hùng tráng:

 + Đề tài có ý nghĩa lịch sử: Cuộc chiến đấu của dân làng Xô Man

  + Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng. Rừng xà nu làm nền cho bức tranh về cuộc đấu tranh chống giặc “Cả rừng … ào ào rung động, lửa cháy khắp rừng”, ….

+ Các nhân vật tiêu biểu được miêu tả trong bối cảnh trang nghiêm, hùng  vĩ, vừa mang phong cách Tây Nguyên vừa mang phẩm chất của anh hùng  thời đại: Tnú, Dít, Heng,…

+ Giọng điệu và ngôn ngữ trang trọng, mang đậm sắc màu Tây Nguyên.

 – Kết cấu vòng tròn: mở đầu, kết thúc là hình ảnh rừng xà nu.

 – Cách thức trần thuật: kể theo hồi tưởng qua lời kể của cụ Mết (già làng), kể bên bếp lửa gợi nhớ lối kể ” khan”- giống sử thi của các dân tộc Tây Nguyên.