Top 8 # Vì Sao Quang Trung Chết Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Vì Sao Vua Quang Trung Lại Chết Khi Còn Rất Trẻ?

Công việc xây dựng quốc gia đang tiến hành trôi chảy, thình lình Vua Quang Trung băng hà. Vua băng ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý [79](15-9-1792). Nguyên nhân gây ra cái chết của Vua Quang Trung đã trở thành một nghi án lịch sử. Ðại Nam Chính Biên Liệt truyện ghi rằng: Huệ trong lúc lấy kinh đô Phú Xuân có mạo phạm lăng tẩm của Liệt Thánh. Một ngày kia, đương ngồi, thình lình bắt đầu xây xẩm rồi ngã ra hôn mê. Mơ màng thấy một lão trượng đầu bạc áo trắng, cầm gậy sắt, từ không trung đi đến, mắng rằng: Ông cha mày đều sanh ở đất Vua, mày sao dám mạo phạm đến lăng tẩm?. Nói dứt lời liền lấy gậy sắt đánh nơi trán Huệ. Huệ ngã xuống bất tỉnh, hồi lâu mới tỉnh lại. Từ ấy bịnh càng ngày càng nặng, mới triệu viên Trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về thương nghị việc dời đô ra Nghệ An. Ðó là lời của sử gia Nguyễn Gia Miêu[80] bịa ra để bôi nhọ Vua Quang Trung. Bịa không được khéo, bởi ai kể lại câu chuyện hoang đường ấy cho viết sử chép? Chẳng lẽ Vua Quang Trung kể lại giấc mộng không mấy đẹp của mình? Có người bảo nhà vua bị thượng mã phong. Ðó chỉ là chuyện hài hước. Lại có người độc miệng bảo rằng nhà vua bị Ngọc Hân Công Chúa ám hại bằng cách bỏ thuốc độc vào rượu[81]. Rõ là vu cáo giữa trời! Thiết tưởng Vua Quang Trung chết vì bệnh huyết áp cao, làm việc nhiều, suy nghĩ nhiều, bị đứt mạch máu. Cái chết đột ngột do bệnh huyết áp cao gây nên thường xảy ra và dân gian thường gọi là trúng gió. Chớ nếu quả có điều ám muội thì dễ gì triều đình Tây Sơn đã để yên. Truyền rằng: Mùa xuân năm Nhâm Tý (1792), Vua Quang Trung hay tin Nguyễn Phúc Ánh đã chiếm được Gia Ðịnh và kéo quân ra đánh Quy Nhơn, bèn nổi giận: – Giống cỏ gấu không diệt tận gốc, cứ nảy ra hoài! Liền chuẩn bị kéo đại binh vào đánh. Lục quân từ trên đánh xuống, Thủy quân từ dưới đánh lên. Bao vây mặt biển, cắt đứt đường núi, không cho quân Nguyễn chạy thoát. Mọi việc đã sắp đặt chu đáo thì thình lình nhà vua bị cảm. Bệnh mỗi ngày một nặng. Bèn triệu Trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu thương nghị về việc dời đô ra Nghệ An và việc đi đánh Nguyễn Phúc Ánh. Nhưng rồi biết mình không còn sống lâu được nữa, liền trối: – Ta mở mang bờ cõi gồm cả miền Nam. Nay bênh tình của ta không thể khá được, mà Thái Tử thì còn nhỏ. Phía trong thì bọn quốc cừu hoành hành ở Gia Ðịnh. Còn anh ta thì tuổi già, cầu an, không lo hậu hoạn. Ta chết rồi, trong vòng một tháng phải lo việc tống táng cho xong. Các khanh phải đồng lòng phò Thái tử và sớm lo việc thiên đô để khấu chế thiên hạ. Nếu không vậy, binh Gia Ðịnh kéo đến, các khanh không có đất chôn thây. Nói rồi băng tại điện Trung Hòa, ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý. Thọ 40 tuổi.Ở ngôi 5 năm. Thái Tử Nguyễn Quang Toản nối ngôi.

Vì Sao Vua Quang Trung Qua Đời?

Có thể nguyên nhân chính: Đột QuỵBàn luậnCái chết của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ mãi mãi để lại những nghi vấn cho hậu thế. Đó là cái chết đột ngột, bất ngờ, không bình thường, khi ông mới ở tuổi 40 và đang sung sức. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Quốc sử quán triều Nguyễn) chép: “Huệ trong lúc lấy kinh đô Phú Xuân có mạo phạm vào lăng tẩm Liệt thánh. Một ngày kia, đương ngồi, thình lình bắt đầu xây xẩm rồi ngã ra hôn mê. Mơ màng thấy một lão trượng đầu bạc áo trắng, cầm gậy sắt từ không trung đi đến, mắng rằng: “Ông cha mày đều sinh ở đất vua, mày sao dám mạo phạm vào lăng tẩm?”. Nói dứt lời liền lấy gậy sắt đánh nơi trán Huệ. Huệ ngã xuống bất tỉnh, hồi lâu mới tỉnhlại. Từ ấy bệnh ngày càng nặng…” Gạt bỏ phần hoang đường do các sử gia nhà Nguyễn bịa ra để đề cao triều Nguyễn, ta có thể thấy rõ cốt lõi sự thật về cái chết của Hoàng đế Quang Trung. Đó là: ông đang ngồi làm việc thì bất thình lình bị xây xẩm mặt mày rồi ngã ra hôn mê, một hồi lâu được cấp cứu mới tỉnh lại. Sau đó, bệnh càng ngày càng nặng. Xét triệu chứng của hiện tượng trên, ta có thể suy đoán Nguyễn Huệ bị bệnh cao huyết áp do làm việc quá căng thẳng, suy nghĩ nhiều, dẫn đến tai biến mạch máu não. Đối với căn bệnh này, trình độ y học thời bấy giờ đành phải bó tay, dù triều đình có các lương y tài giỏi bên cạnh như Nguyễn Gia Phan, Nguyễn Hoành (còn với nền y học của thời đại chúng ta, bệnh này nếu có thể cứu sống được cũng để lại di chứng nặng nề cho người bệnh như ngớ ngẩn, mất trí nhớ, liệt nửa người…). Tóm lại, đây là một căn bệnh hiểm nghèo ngay cả với nền y học cuối thế kỷ XX. Về cái chết của Hoàng đế Quang Trung, ta cũng có thể nêu một giả thiết khác. Sách Hoàng Lê nhất thống chí ghi: “… Vừa lúc ấy thì vua Quang Trung bị bệnh rồi mất. Hôm ấy nhằm ngày mùa thu, tháng 8 năm Nhâm Tý (1792), sau khi lên ngôi Hoàng đế được 5 năm. Trước đó, khi sứ nhà Thanh sang phong, vua Thanh đã ban cho vua Quang Trung chiếc áo bào, trong có thêu bảy chữ bằng kim tuyến: Xa tâm chiết trục, đa điền thử. Bấy giờ không ai hiểu ra sao, thì ra đến lúc này mới nghiệm”. “Xa tâm chiết trục, đa điền thử” nghĩa đen là: bụng xe gãy trục, nhiêu chuột đồng. Chữ Xa và chữ tâm hợp lại thành chữ Huệ – tên vua Quang Trung. Chuột thuộc về Tý, ý nói năm Tý vua Quang Trung chết. Không phải ngẫu nhiên mà các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí gắn cái chết của Hoàng đế Quang Trung với chiếc áo bào vua Thanh tặng. Phải chăng người chép sử muốn kín đáo gửi gắm lại cho hậu thế một nghi án rằng: chính chiếc áo bào là nguyên nhân gây nên cái chết của vua Quang Trung? Phải chăng triều đình Tây Sơn và vua Quang Trung đã mất cảnh giác với chiếc áo bào, có thể đã được tẩm một chất độc nào đấy? Và chính chất độc từ áo đã ngấm dần qua lỗ chân lông người mặc và gây nên cái chết của vua Quang Trung? Sau đại thắng mùa xuân Kỷ Dậu (1789), mấy chục vạn quân Thanh bị tiêu diệt, mấy chục vạn gia đình thân nhân của binh lính nhà Thanh phải chịu tang tóc. Trong bối cảnh đó, chẳng lẽ vua Càn Long và triều đình nhà Thanh không có một chút thù hận nào đó với vua Quang Trung? Đành rằng với tài ngoại giao khéo léo của Ngô Thì Nhậm, lại có sự thu xếp bên trong của Phúc Khang An, nhưng sự dễ dãi của Càn Long và triều đình nhà Thanh đối với nhà Tây Sơn vẫn làm chúng ta nghingờ. Triều đình Tây Sơn xin bỏ lệ cống người vàng, liền được chấp thuận. Càn Long lại coi Quang Trung như con (Càn Long hơn Nguyễn Huệ 42 tuổi). Dễ dãi đến mức Quang Trung đòi đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây mà Càn Long cũng chấp thuận thì thật đáng ngờ! Phải chăng sự dễ dãi bên ngoài đó là để làm cho Quang Trung mất cảnh giác nên bị hại ngầm bên trong? Đành rằng khi Càn Long yêu cầu Nguyễn Huệ phải đích thân sang Yên Kinh (1790), triều đình Tây Sơn đã phải dùng kế cho người đóng giả vuaQuang Trung, đó là sự cảnh giác cần thiết. Rồi khi Nguyễn Quang Thuỳ (con Nguyễn Huệ) trong đoàn đi sứ, nửa chừng bị ốm phải trở về (có thể là vờ ốm), đây cũng là sự cảnh giác cần thiết. Nhưng chúng ta vẫn có quyền nghi vấn về sự sơ suất của triều đình Tây Sơn và Hoàng đế Quang Trung đối với chiếc áo này. Sau khi Quang Trung mất, mộ táng ở phái Nam sông Hương. Gia Long lấy được Phú Xuân đã cho quật phá lăng mộ Quang Trung. Vì vậy, vấn đề tìm lại vị trí lăng mộ vua Quang Trung là một việc làm cần thiết, hợp với tình cảm, nguyện vọng và lòng ngưỡng mộ của nhân dân ta đối với vị Hoàng đế anh hùng. Gần đây, qua tìm tòi khảo sát, nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đắc Xuân đã đồng nhất vị trí phủ Dương Xuân của chúa Nguyễn với Đan Dương lăng – lăng Hoàng đế Quang Trung. Đây là một hướng tìm tòi đúng đắn, cần được đầu tư thêm. Sau khi Quang Trung mất, triều đình Tây Sơn không muốn sứ đoàn nhà Thanh sang viếng tangđi sâu vào nội địa nước ta, nên đã làm mộ giả của vua Quang Trung ở làng Linh Đường (thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội ngày nay). Đây là một sự đề phòng đúng đắn bởi khi Quang Trung mất, triều đình Tây Sơn trong lúc bối rối, có thể bộc lộ nhiều sơ hở và nhược điểm, không thể để lộ cho người ngoài biết. Vì vậy, việc làm một ngôi mộ giả ở làng Linh Đường là cần thiết, nhất cử lưỡng tiện. Gần đây, trong cuốn “Bí mật mộ cố Linh Đường” một số tác giả (Nguyễn Tài Học, Nguyễn Mạnh Cường) cho rằng: lăng đá Linh Đường là mộcủa bà Nguyễn Thị Hoa Dung, vợ Trịnh Doanh (mẹTrịnh Sâm, bà nội Trịnh Tông, Trịnh Cán), đã được các triều thần Tây Sơn chọn làm mộ giả của vua Quang Trung. Theo chúng tôi, giả thiết này khó có thể chấp nhận. Một là, khi Quang Trung mất, triều đại Tây Sơn đang ở thời điểm cực thịnh, làm gì không bỏ ra được một ít công của, xây lăng cho vị Hoàng để lừng lẫy của mình (dù là lăng giả) mà lại phải “mượn” lăng của một người phụ nữ? Theo các tác giả cuốn sách trên, để biến mộ bà Hoa Dung thành mộ giả vua Quang Trung, người ta đã cho tu sửa và xây dựng lại toàn bộ cấu trúc bề ngoài của mộ. Nếu thế thì sao người ta không cho xây dựng hẳn một ngôi mộ mới ở một vị tri khác, công của bỏ ra cũng chỉ tốn đến thế mà thôi? Hai là, khi sang viếng tang, không lẽ cả đoàn sứ bộ nhà Thanh và các đại thần triều Tây Sơn lại phải tế lễ, bái lạy và dâng hương trước lăng mộ của một người phụ nữ thuộc một triều đại thù địch đã bị tiêu diệt? Điều đó thật khó chấp nhận đối với các đại thần nhà Tây Sơn. Vì những lẽ trên, lăng đá Linh Đường hiện còn không thể là mộ giả của vua Quang Trung. Mộ giả của vua Quang Trung đã bị Gia Long quật phá saukhi chiếm được thành Thăng Long (1802). Với chính sách tận diệt của triều Nguyễn, không một di tích nào của triều đại Tây Sơn có thể tồn tại được, huống chi là lăng mộ (dù là giả) của vua Quang Trung! Sau khi vua Quang Trung mất, nội bộ triều Tây Sơn lục đục, tranh giành quyền thế. Các đại than gây bè cánh, sát hại lẫn nhau. Vua Cảnh Thịnh còn nhỏ tuổi, nhu nhược, không thể khống chế được các đại thần khiến nội bộ ngày càng rối ren. Triều đại Tây Sơn suy yếu dần, để mất nước mươi năm sau đó. Gia Long – nhờ thế lực của Pháp – lấy lại được bờ cõi. Nước ta càng ngày càng bị lệ thuộc vào Pháp và cuối cùng, bị Pháp thống trị. Có thể nói: cái chết của Hoàng đế Quang Trung đã làm cho lịch sử rẽ sang một huớng khác, hoàn toàn bất lợi cho dân tộc Việt Nam mà những người đương thời chưa thể lường hết được.

Vì Sao Chúa Chết Đau Thương?

Bài 26

Ê sai 53:6. Luca 23:33-46.

Hôm nay là Good Friday. Chúng ta họp nhau đây để thờ phượng Đức Chúa Giê su và kỷ niệm ngày Lễ Thương khó của Ngài. Cách đây hơn 2000 năm, Ngài đã chịu chết khổ hình trên thập tự giá. Vào thời đó, Đế quốc La mã cai trị dân Y sơ ra ên. Cho nên các người Pha ri si và các thầy thông giáo muốn giết Đức Chúa Giê su, họ phải xin lịnh của quan Tổng Đốc Phi lát. Sau khi xét xử Chúa Giê su, Phi lát tuyên bố rằng: “Ta không tìm thấy người có tội lỗi chi.” (Giăng 19:4). Nhưng bọn họ la lên rằng: “Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự, hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự!” (Giăng 19:6).

Phi lát “khiến đánh đòn Đức Chúa Giê su, và giao Ngài ra để đóng đinh trên cây thập tự.” (Mathiơ 27:26). Khi bọn lính La mã dùng dây da có những móc sắt nhỏ làm roi đánh Chúa Giê su, cho nên những móc sắt nhỏ đó xé thịt xé da làm cho máu tươm ra nơi những lằn roi trên thân thể của Ngài.

Đánh nhiều rồi, họ đan cái mão gai nhọn, đội cho Ngài. “Họ bèn nhổ trên mặt Ngài, đấm Ngài, lại có kẻ vả Ngài.” (Mathio 26:67), và nhạo báng Ngài rằng: “Lạy Vua dân Giu đa.” Rôi họ bắt Ngài đi đến đồi Gô gô tha để đóng đinh Ngài.

Đi đến một nơi gọi chỗ cái Sọ, bọn lính đóng đinh hai tay và đóng đinh hai chân của Đức Chúa Giê su vào cây thập tự giá, rồi chúng dựng cây thập giá đứng lên, cây thập tự ngã nghiêng trước khi đứng thẳng, chúng ta thử tưởng tượng xem Chúa Giê su lúc đó bị đau đớn đến mức độ nào? Khi cậy thập tự được dựng lên xong, thân hình Đức Chúa Giê su bị treo chơ vơ trên đỉnh đồi Gô gô tha.

Thời đó, bị đóng đinh trên thập giá là một hình phạt chỉ để dành cho hạng người làm loạn, lừa thầy phản bạn, cướp của giết người, cho nên mọi người đi qua lại khinh bỉ nói những lời gièm chê nguyền rủa. Hình phạt nầy là khổ hình vì người bị đóng đinh muốn chết cũng không chết được, xoay qua đau đớn, xoay lại đớn đau, nhưng không chết, hơi thở mệt nhọc, đứt khoảng nặng nề, phải đợi cho những vết thương máu chảy ra thật nhiều rồi mới chết.

Khi đã bị quân lính đóng đinh vào thập giá, dù đau đớn tột cùng, Chúa Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ.”

Tiếng “Cha” nói lên tình Cha-Con thắm thiết. Đức Chúa Giê-su là Đấng hoàn toàn thánh thiện, cho đến nỗi Đức Chúa Cha đã nói về Ngài rằng: “Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng.” (Ma thi ơ 3:17). Thế mà bây giờ kẻ thì đánh đập, kẻ thì mắng nhiếc, kẻ thì nhục mạ, kẻ thì nhổ vào mặt Ngài, và rồi mấy tên lính đóng những cây đinh to lớn treo Ngài lên thập tự giá khổ hình, đau thương.

Nhìn cảnh đau thương nầy, chúng ta nhớ lại bà Gióp đã nói với Ông trong cảnh khổ rằng: “Ủa? Ông hãy còn bền đỗ trong sự hoàn toàn mình sao? Hãy phỉ báng Đức Chúa Trời, và chết đi!” (Gióp 2:9). Ý bà Gióp nói rằng chịu cảnh nầy mà Ông còn thờ phượng Đức Chúa Trời sao? Hãy nói xấu Ngài, rồi đừng theo Ngài nữa! Và “chết đi!”

Thưa Quý vị, làm con dân của Chúa, khi gặp phải hoàn cảnh khó khăn, Quý vị vẫn bền đổ theo Chúa, hay Quý trách móc Chúa, rồi không thờ phượng Ngài nữa? Xin nhớ Bà Gióp nói: “phỉ báng Ngài, từ bỏ Ngài sau đó được gì? Chỉ là chết đi mà thôi!”

Đức Chúa Giê su cho chúng ta tấm gương là dù cảnh đời quá đau thương đi nữa Ngài vẫn yêu mến Đức Chúa Trời. Vì Ngài biết là dù hoàn cảnh có đổi thay, nhưng Đức Chúa Trời không hề thay đổi. Đức Chúa Trời vẫn nắm quyền tể trị và Ngài vẫn giữ lời hứa rằng: “Ta đã lấy sự yêu thương đời đời mà yêu ngươi.” (Gieremi 31:3). Xin nhớ dù trong hoàn cảnh nào, Chúa vẫn yêu quý vị!

“Lạy Cha, xin tha cho họ.” “Họ” là ai đây? “Họ” là những người Pha ri si, những thầy tế lễ, là Phi Lát, là những kẻ hô to: “đóng đinh hắn trên thập tự giá,” những kẻ đánh đập, nhục mạ Ngài, chưỡi bới Ngài và những kẻ cầm búa, cầm đinh đóng vào hai tay, hai chân Ngài. Nghĩa là những kẻ ghét Ngài, giết Ngài cách đau thương.

Chúng ta nên theo gương Chúa tha thứ cho những người không tốt với chúng ta và cầu nguyện cho họ. Như vậy mới đẹp lòng Chúa.

Khi đóng đinh Đức Chúa Giê su trên thập giá, người ta cũng đóng đinh hai tên trộm cướp bên phải và bên trái của Ngài.

Một tên bị đóng đinh đau đớn quá không biết trách móc ai, nó quay lại mắc mỏ với Chúa Jêsus rằng: Ngươi là Đấng Christ thì “hãy tự cứu lấy mình đi rồi cứu chúng ta với.” (Luca 23:39). Nhưng tên kia nói với nó rằng: Tội chúng ta làm, xứng với hình chúng ta chịu. Ngươi chẳng sợ Đức Chúa Trời sao? (Luca 23:39). Còn người nầy không làm điều ác gì.” Và nó thưa cùng Đức Chúa Giê-su rằng: “Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi!” (Lu ca 23:42). Đức Chúa Giê su phán cùng người rằng: “Hôm nay ngươi sẽ được ở với Ta trong nơi Paradi.” (Lu ca 23:43).

Đây là lời phán của Đấng Cứu Thế. Ngài sẵn sàng tha tội và ban sự cứu rỗi cho bất cứ ai tin nhận Ngài. Thưa quý vị, ngoài Ngài ra, quý vị không thể tìm một Giáo Chủ nào có quyền nói với quý vị là sau khi qua đời linh hồn quý vị sẽ về đâu, vì chính các vị Giáo chủ cũng không biết linh hồn mình về đâu? Chỉ có Đức Chúa Giê su mới có thẩm quyền cứu qúy vị. Vì vậy mà Kinh Thánh nói về Ngài rằng: “Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu.” (Công vụ 4:12). Hãy cầu xin với Đức Chúa Giê su, khi Quý vị qua đời Ngài sẽ dẫn đưa linh hồn Quý vị bình an vào nước Đức Chúa Trời.

Bọn lính đóng đinh Chúa Giê su vào khoảng 9 giờ sáng. Tại đó ánh nắng chói chang của vùng Trung Đông càng về trưa sức nóng trên đồi Gô gô tha càng thêm gay gắt. Những vết thương của Chúa Jêsus càng lúc máu ra càng nhiều. Ngài khát nước quá chừng, nhưng không có một chút thấm ướt môi. Ước chừng lúc 3 giờ chiều, biết mình sắp chết, Đức Chúa Giê su cầu nguyện rằng: “Hỡi Cha, con giao linh hồn lại trong tay Cha! Vừa nói xong thì Ngài tắt hơi.” (Luca 23:46).

Khi sống, Đức Chúa Giê-su đã dạy chúng ta nguyên tắc quý báu để sống. Đó là: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài.” Trước khi chết, Ngài dạy chúng ta nguyên tắc quý báu để chết. Nguyên tắc đó là “con giao linh hồn lại trong tay Cha!” Cha là Đấng Toàn năng gìn giữ linh hồn của chúng ta được an toàn trong vòng tay yêu thương phước hạnh của Ngài.

Bây giờ xin mời Quý vị nhìn lại cái chết của Đức Chúa Giê su. Đây không phải cái chết bình thường. Vì Ngài chịu chết để gánh thay hình phạt cho nhân loại tội lỗi. Mão gai làm cho máu quanh đầu Ngài tuông chảy, vì đầu óc chúng ta có toan tính những điều tội lỗi. Hai tay, hai chân Ngài bị đóng đinh, máu ra không ngớt vì hai bàn tay, chúng ta làm những công việc tội ác và hai bàn chân chúng ta đi con đuờng lầm lạc. Những lằn roi trên thân thể Ngài hằn sâu oằn oại vì thân thể chúng ta dự vào những nơi truy hoan bất khiết. Đức Chúa Giê su thật sự đã lãnh cái chết nhục nhã và đau thương. Tại sao vậy? Vì Đức Chúa Trời là Đấng Thánh khiết. Ngài không chịu được tội lỗi. Tội lỗi phải bị hình phạt dưới cơn thạnh nộ của Ngài. Vì vậy khi Đức Chúa Giê su gánh hình phạt cho tội nhơn, là Đức Chúa Giê su phải gánh cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Nghĩa là tại thập tự giá, “Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người.” (Ê sai 53:6).

Xin quý vị suy nghĩ xem tội lỗi của hết thảy chúng ta gồm có những tội lỗi nào? Nhiều hay ít? Nặng hay nhẹ? Thế mà “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta.” (2 Corinhto 5:21). Cho nên, để chuộc tội cho chúng ta, Chúa Giêsu phải chịu trả giá bằng cái chết vô cùng nhục nhã và tột cùng đớn đau!

Tại sao Đức Chúa Giê su bằng lòng chịu hình phạt nhục nhã như vậy? Tại vì Ngài yêu thương tội nhơn. Vì yêu chúng ta, chẳng những Chúa Giê su bằng lòng, mà Ngài còn thỏa lòng. Như Kinh Thánh chép: “Người sẽ thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình, và lấy làm thỏa mãn.” (Esai 53:11). Và Đức Chúa Giê su “vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục.” (Hê bơ rơ 12:12).

Đức Chúa Giê su thỏa mãn, vui mừng vì nhìn thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình đem đến hằng tỉ người được cứu trong đó có quý vị và tôi. Ngài vui mừng. Quý vị có thấy chính mình ở trong sự vui mừng của Ngài không?

Vì Đức Chúa Giê su vốn là Đấng vô tội. Ngài đã bằng lòng hy sinh chịu chết để cứu nhân loại tội lỗi cách trọn vẹn xong rồi, cho nên ba ngày sau, Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ cõi chết sống lại. Ngài không phải là một Giáo Chủ chết luôn. Nhưng Ngài là Chúa Cứu Thế Hằng Sống của nhân loại. Trong Ngài con dân Chúa dù có qua đời thì sẽ được phước lớn lao là Ngài sẽ ban cho sự “sống lại nơi ngày sau rốt.” (Giăng 6:40).

Thưa Quý vị, nhân vô thập toàn, cuộc đời ai cũng có ít nhiều tội lỗi. Vì yêu chúng ta, Đức Chúa Giê su đã bằng lòng chết khổ hình gánh thay hình phạt cho chúng ta. Đức Chúa Trời bằng lòng làm cho tội tỗi của tất cả chúng ta chất trên Ngài. Bây giờ chúng tôi xin mời quý vị chấp nhận tình yêu của Chúa Giê su để tội lỗi được tha và linh hồn được cứu.

Đức Chúa Trời không đòi công đức gì của quý vị. Quý vị hãy thưa với Ngài rằng: “Lạy Đức Chúa Trời con có tội với Ngài. Nay con xin nhận Đức Chúa Giê su đã chết thay cho con, chịu hình phạt vì tội lỗi của con, Ngài là Cứu Chúa của con. Xin Chúa tha thứ tội cho con. Con cầu xin trong Danh Đức Chúa Giê su. A-men.

Cầu xin Đức Chúa Trời Tứ Ái ban phước và ban bình an cho quý vị.

Mục sư Trần Hữu Thành.

Trường Thpt Quang Trung Đống Đa

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học.Để đảm bảo được điều đó,nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối ‘truyền thụ một chiều” sang dạy cách học,cách rèn luyện kĩ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm,đem lại niềm vui,hứng thú, phát triển phẩm chất, năng lực cho người học;đồng thời phải coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập với với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục.

Để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình SGK , với sự cần thiết phải đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học. Sáng ngày 26 tháng 12 năm 2018, trường THPT Quang Trung- Đống Đa đã tổ chức hội thảo: ” BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC”.

Tham dự buổi báo cáo có Cô giáo Nguyễn Thị Kiều Hạnh- Bí thư Đảng bộ, Hiệu trưởng; cô giáo Đinh Thị Thu Trang- Phó Hiệu trưởng; cùng toàn thể giáo viên, cán bộ CNVC trong hội đồng sư phạm nhà trường.

Mở đầu buổi báo cáo thầy Doãn Ngọc Lân- Tổ trưởng tổ Hóa – Sinh – Công nghệ trình bày tầm quan trọng của việc đổi mới giáo dục cũng như vai trò của giáo viên trong giáo dục 4.0.

Thầy giáo Bế Xuân Hợp- GV Vật Lí

Cuối cùng là bản báo cáo của tổ Văn: “VẬN DỤNG HÌNH THỨC DẠY HỌC DỰ ÁN VÀO GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT” do cô giáo Trương Thị Huyền trình bày. Báo cáo đã nêu khái niệm,ưu điểm, hạn chế khi vận dụng DADH vào bài học. Từ việc cho học sinh tìm hiểu về các món ăn yêu thích của người Hà Nội, những thói quen đi chợ hoa ngày tết hay tìm hiểu về những địa danh nổi tiếng của Hà Nội cô đã giáo dục cho học sinh của mình về những giá trị nhân văn của cuộc sống. Một tiết học vô cùng bổ ích với sự tích cực, chủ động của học sinh.

Cô giáo Vũ Đỗ Quyên- GV Văn

Cuối cùng, Cô giáo Nguyễn Thị Kiều Hạnh- Bí thư Đảng bộ, Hiệu trưởng nhà trường; cô giáo Đinh Thị Thu Trang- Phó Hiệu trưởng lên tổng kết và đánh giá cả 3 báo cáo đều vô cùng chất lượng, như một làn gió mới thổi vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học và khẳng định thêm sức mạnh, lòng nhiệt huyết say nghề của giáo viên trường THPT Quang Trung- Đống Đa.

Ban Giám hiệu chụp ảnh kỉ niệm cùng các thầy cô tham gia báo cáo