Top 9 # Vi Sao Toi Theo Dao Phat Dien Vien Viet Trinh Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Vien Chien Luoc Phat Trien

Tại buổi sinh hoạt, Ths. Nguyễn Quỳnh Trang đã giới thiệu đến các nghiên cứu viên trong Viện về phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng; đặc điểm, nguyên tắc, công cụ và lợi ích sử dụng phương pháp PRA; áp dụng phương pháp PRA ở Việt Nam. PRA là viết tắt của Participatory Rural Appraisal. Phương pháp PRA là cách tiếp cận từ dưới lên, khai thác các nguồn thông tin từ người dân, giúp họ tự tìm ra vấn đề và biện pháp khắc phục. Phương pháp này xuất hiện từ năm 1980 tại Ấn Độ và Châu Phi, do các nhà hoạt động trong công tác xóa đói giảm nghèo của Anh (Robert Chamber) nghiên cứu. Phương pháp PRA được phát triển từ phương pháp RRA (Rapid Rural Appraisal).

Nguyên tắc của phương pháp PRA là chủ yếu sử dụng kết quả định tính, kết quả định lượng chỉ mang tính hỗ trợ; kiểm tra chéo các nguồn thông tin từ các nhóm đối tượng khác nhau; vận dụng linh hoạt, sử dụng các phương tiện đơn giản, dễ hiểu; bình đẳng trong sự tham gia, tránh phân biệt giới và đối xử thiếu công bằng.

Phương pháp PRA cũng mang lại một số lợi ích như: nâng cao được tính xác thực, tính hiệu quả, bền vững cho quá trình xóa đói giảm nghèo và phát triển; tạo ra công bằng xã hội trong xóa đói giảm nghèo và phát triển; làm giảm bớt đi được sự phụ thuộc vào nguồn lực của nhà nước vì thông qua quá trình PRA sẽ phát huy được trách nhiệm của người dân trong phát triển cộng đồng.

Chủ đề sinh hoạt cũng đã nhận được nhiều ý kiến trao đổi xoay quanh vấn đề làm thế nào để có thể áp dụng phương pháp này vào Việt Nam một cách hiệu quả cũng như lồng ghép phương pháp vào các quy hoạch, chiến lược mà Viện thực hiện trong thời gian tới.

Kết thúc buổi sinh hoạt, Ths. Nguyễn Thu Lan, Phó trưởng ban Ban Phát triển nhân lực và xã hội cảm ơn bài chia sẻ của Ths. Nguyễn Quỳnh Trang và mong muốn sẽ có nhiều buổi sinh hoạt khoa học như thế này để các nghiên cứu viên trong Viện cùng tìm hiểu, nghiên cứu và chia sẻ những thông tin bổ ích./.

Nguồn: Viện Chiến lược phát triển.

Vì Sao Tôi Theo Đạo Phật 18: Diễn Viên Việt Trinh

Các hành giả đã rất xúc động khi nghe Việt Trinh kể về tuổi thơ của mình.Tuy tuổi thơ rất cực và dữ dội nhưng rất hạnh phúc mà mãi mãi Việt Trinh tự hào trong suốt cuộc đời.

Ai cũng thích thú nghe cô kể về những đam mê, đam mê nghe kịch, đam mê hát cải lương, đam mê làm ca sĩ, đến nỗi ngoài con chó ra thì cô chuyên trị chui” lỗ chó” chỉ để đi xem kịch, xem hát, nhưng rồi chỉ một nhân duyên nho nhỏ lại đam mê làm diễn viên. Khi học hết 12 thì Việt Trinh đăng ký xin vào trường điện ảnh và làm nghề diễn viên từ đó.

Việt Trinh cũng chia sẻ khi thành công, cô lại không quên cái thời cơ hàn của mình, Việt Trinh vẫn thường xuyên kể với bạn bè, đồng nghiệp về những ngày ở quê. Chỉ vì tàng thức phải làm ra tiền, làm thật nhiều tiền lên có tháng quay tới 4 bộ phim, chính vì say mê phải làm ra thật nhiều tiền, nên cô đã không tôn trọng nghề của mình. Việt Trinh đã mắc rất nhiều sai lầm dẫn đến khán giả quay lưng, nhà làm phim không cần đến mình nữa.

Cô cũng có những lời khuyên cho các bạn trẻ khi có mơ ước được đứng dưới ánh hào quang trên sân khấu thì hãy xác định rõ: khi chưa có ánh hào quang, khi có ánh hào quang và tới khi ánh hào quang đó bỏ mình ra đi thì sẽ như thế nào? Đừng để đến khi mất ánh hào quang rồi mình lại có những việc làm rất là sai. Nên bạn nào muốn bước vào con đường nghệ tuật thì cần phải chuẩn bị cho mình những tư trang thật kỹ để làm nền tảng, để không bị sok, đỡ bị đau khổ hơn.

Các hành giả cũng đã được nghe lời tâm sự của cô trong thời gian cô đi ”ở ẩn”, lúc đó cô đã tắt tất cả mọi thông tin liên lạc và thậm chí tắt ti vi để không nhớ lại nghề để đi làm công tác xã hội. Sau một thời gian dài Việt Trinh đã trở lại nghề, vì lòng yêu nghề chứ không phải vì mong cầu nổi tiếng. Bởi theo cô sự nổi tiếng chỉ có một thời và không lặp lại lần thứ hai.

Nhân tiện trong cuộc trò chuyện Việt Trinh chia sẻ luôn về vấn đề ăn chay. Được biết Việt Trinh cũng tham gia thực hiện rất nhiều các hoạt động từ thiện xã hội.

Trong buổi trò chuyện, Việt Trinh đã lấy đi bao nhiêu nước mắt của các hành giả trực tiếp trong giảng đường và rất nhiều, rất nhiều các bạn đang xem live stram khi nói về mẹ.

TT. Thích Nhật Từ đã có vài nhận xét về cuộc đời Việt Trinh ở hai giai đoạn khác nhau: Việt Trinh trước khi biết đến Đạo Phật và sau khi biết đến Đạo Phật.

Dù đã trải qua thời gian, cô vẫn đẹp nhưng đẹp một cách dịu dàng, khiêm nhường đầy phúc hậu và sống bình an bởi chị đã nhận ra triết lý nhân quả của đức Phật ngay từ chính cuộc đời mình.

So Sánh Dao Nhật Và Dao Đức

Ngày: 10/08/2020 lúc 15:58PM

Khi bạn tìm mua một con dao chất lượng cao, có khả năng bạn sẽ bắt gặp 2 loại dao chính: dao Đức và dao Nhật . 2 trường phái dao trên đã khẳng định được vị thế của mình trên bản đồ thế giới. Vậy làm sao để đưa ra quyết định chọn lựa giữa 2 loại dao này?

Đã đến lúc bạn cần một con dao thực thụ mà đảm bảo được tiêu chí về độ sắc bén và sáng bóng. Hơn nữa, bộ dao bếp được thiết kế mang màu sắc riêng sẽ trở thành điểm nhấn trong gian bếp của bạn. Khi bạn tìm mua một con dao chất lượng cao như vậy, có khả năng bạn sẽ bắt gặp 2 loại dao chính: dao Đức và dao Nhật. Tất nhiên còn rất nhiều loại dao khác, nhưng 2 trường phái thiết kế dao trên đã khẳng định được vị thế của mình trên bản đồ thế giới về dao. Vậy làm sao để đưa ra quyết định chọn lựa giữa 2 loại dao này? Loại nào tốt nhất cho phong cách nấu ăn của bạn?

Sự khác biệt giữa 2 loại dao này chủ yếu nằm ở độ cứng của thép và góc cạnh, từ đó có sự phân biệt với nhau về độ bền và chức năng. Tuy nhiên, để làm sáng rõ câu hỏi ngày hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhìn nhận 2 dòng dao Đức và dao Nhật từ 5 góc cạnh: loại thép, góc cạnh,cấu tạo, tính đối xứng và công dụng.

Loại thép

Thép là hợp kim bao gồm Sắt và Các-bon. Cả dao của Đức và Nhật đều được làm từ thép, nhưng là 2 loại thép có tỷ trọng thành phần cấu tạo khác nhau. Thang điểm Rockwell (HRC) được sử dụng để xác định độ cứng của một miếng thép: con số này càng cao tức là lượng Các-bon trong miếng thép đó càng lớn, thép càng cứng.

Lưỡi dao của Đức được rèn bằng loại thép khoảng 57 HRC, trong khi lưỡi dao của Nhật từ loại thép trong khoảng 60 đến 63HRC.

Lưỡi dao Nhật cứng hơn sẽ giữ cạnh tốt hơn, tuy nhiên kém bền hơn và dễ bị sứt mẻ, thậm chí có khả năng bị gãy. Các loại dao bằng thép mềm hơn của Đức bền hơn rất nhiều nhưng đánh đổi vấn đề không duy trì được góc cạnh lâu như dao Nhật. Đó là lý do khiến độ sắc của dao Đức không duy trì được lâu như dao Nhật.

Để khắc phục tình trạng lưỡi dao cứng dễ mẻ, dao Nhật áp dụng phương pháp rèn kiếm samurai – phương pháp ép lớp. Tức là bên ngoài lớp thép cứng, dao Nhật sẽ thường có thêm nhiều lớp thép mềm bên ngoài để cân bằng với độ cứng của dao, khiến dao vừa sắc – vừa giữ cạnh sắc tốt – lại bền, không dễ mẻ. Đây là lý do các dòng dao Nhật 3 lớp, damascus, 37 lớp, 63 lớp thép lại phổ biến hơn với người sử dụng. Vì thiết kế của nó cực kỳ tối ưu.

Góc mài dao 

Lưỡi dao Nhật Bản mỏng hơn các loại dao khác của Đức, thường trong khoảng 15–16 độ, so với 20 độ của dao kiểu phương Tây. Góc cạnh là điểm then chốt đối với độ sắc bén của một con dao; góc càng hẹp, đường cắt càng nhỏ, dao càng ít ảnh hưởng đến chất lượng, hương vị của thực phẩm.

Trong kĩ thuật rèn dao của người Đức, lưỡi dao thường được hoàn thiện bằng máy, thì các loại lưỡi của Nhật Bản hầu như luôn được mài giũa và tinh chỉnh thủ công. Cạnh của hầu hết các loại lưỡi dao Đức đều được làm cong phù hợp với phong cách rocking cut của châu Âu, trong khi lưỡi dao Nhật thì thẳng hơn để tạo các lát cắt sắc ngọt và chính xác.

Cấu tạo

Thường thì các thương hiệu dao đến từ Đức đều thiết kế sản phẩm của mình với cấu tạo nguyên khối dọc từ lưỡi dao đến cán dao. Thậm chí các dòng dao Nhật được ưa chuộng tại thị trường châu Âu như Global cũng có thiết kế nguyên khối. Họ thích thiết kế dao nguyên khối.

Còn dao Nhật thì bộ phận cán dao được điều chỉnh sao cho thon gọn hơn, khiến cho trọng lượng cả con dao Nhật nhẹ hơn dao Đức. Do đó dao Nhật tạo cho người sử dụng một độ linh hoạt cao hơn.

Tính đối xứng

Trừ khi được sản xuất dành riêng cho thị trường Châu Âu, cạnh dao của những con dao Nhật được rèn không đối xứng – cạnh cắt nghiêng về tay thuận (thường là bên phải) của người dùng theo tỉ lệ 70/30. Có nghĩa là, người tiêu dùng thuận tay trái không thể sử dụng con dao đúng cách mà sẽ phải mua một con dao Nhật được thiết kế dành riêng cho người thuận tay trái. Đó gọi là các dòng dao vát một mặt.

Ngược lại, dao Đức luôn luôn cân bằng và đối xứng, người thuận tay phải và người thuận tay trái sử dụng không cảm nhận được sự khác biệt.

Công dụng

Một con dao Nhật Bản luôn được mài giũa sắc bén, rèn từ những nguyên liệu phù hợp cho những công việc yêu cầu độ chính xác cao và sự tinh tế như thái lát mỏng.

Trong khi đó, dao Đức có xu hướng dày hơn và nặng hơn vì vậy nó trở nên đa dụng hơn phần nào đó.

Vậy kiểu dao Đức hay dao Nhật phù hợp với phong cách nấu ăn của bạn?

Lưỡi dao Nhật Bản mỏng, sắc và nhẹ, đặc biệt lý tưởng cho những công việc chính xác phù hợp với phong cách nấu ăn của các đầu bếp theo phong cách Nhật Bản. Thép cấu thành lưỡi dao Nhật cứng hơn có nghĩa cạnh rất sắc nhưng lại đánh đổi bằng vấn đề lưỡi dao dễ bị mẻ và nứt hơn.

Loại dao Đức nặng hơn, dày hơn và toàn diện hơn, trọng lượng và thép mềm hơn làm cho con dao chắc hơn và bền hơn, và tốt cho cả việc chặt xương. Lưỡi dao của Đức đa năng hơn, dùng để băm, thái và thái sợi, bản chất đa mục đích và độ bền cao đi đôi với nhau.

Bạn vẫn không chắc chắn đâu là con dao phù hợp với mình?

Tóm lại, dao Đức và dao Nhật không quá quan trọng, đặc biệt là hiện nay, khi khoảng cách về sự khác biệt giữa 2 loại dao này ngày càng giảm. Một số loại dao của Đức hiện nay đã được mài sắc bén hơn, và trong khi đó các hợp kim mới đã cải thiện độ bền của dao Nhật Bản.

 

Cùng tham khảo ngay các dòng dao Nhật & Đức chính hãng tại KATANA: 

XEM NGAY

KATANA tự hào là đơn vị hàng đầu trong nhập khẩu, phân phối và bán lẻ sản phẩm dao Đức và Nhật chính hãng. Các thương dao bếp như KATANA, KAI, GLOBAL đến từ Nhật Bản hay ZWILLING đến từ Đức đều đã và đang mang những dấu ấn riêng và chiếm được sự tin cậy của người tiêu dùng quốc tế.

Khi mua hàng tại KATANA bạn được hưởng rất nhiều ưu đãi hấp dẫn và được bảo hành theo chế độ sau:

– Cam kết hàng chính hãng.

– Cam kết chất lượng cao, giá tốt trên thị trường.

BẢO HÀNH 1 ĐỔI 1 TRONG 7 NGÀY – BẢO HÀNH 24 THÁNG VỚI SẢN PHẨM DAO VÀ 12 THÁNG VỚI SẢN PHẨM KHÁC

Gọi ngay hotline: 083.777.8386 để được tư vấn!

:: Lich Su Viet Nam ::

Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là đội tiên phong cách mạng, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ và hy sinh, giành nhiều thắng lợi có ý nghĩa chiến lược và mang tính thời đại, làm cho đất nước, xã hội và con người Việt Nam ngày càng đổi mới sâu sắc. Lịch sử của Đảng là một pho lịch sử bằng vàng. Hồ Chí Minh nói: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: (1. Hồ Chí Minh: Đảng ta thật là vĩ đại!” 1. Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia , Hà Nội, 2002, t.10, tr. 2.)

Để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và phát huy truyền thống vẻ vang của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng công tác nghiên cứu lịch sử Đảng và tổng kết những bài học lịch sử trong từng thời kỳ cũng như trong toàn bộ tiến trình lãnh đạo cách mạng của Đảng. Nghiên cứu và tổng kết các bài học lịch sử của Đảng là một phương pháp tốt để nâng cao trình độ lý luận của cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, góp phần khắc phục những xu hướng giáo điều và kinh nghiệm chủ nghĩa trong Đảng. Trên cơ sở nghiên cứu và khái quát sâu sắc, toàn diện kinh nghiệm lịch sử đã tích lũy được trong cuộc đấu tranh cách mạng của Đảng, nếu không hiểu được mối liên hệ lịch sử tất yếu và qua đó hiểu tiến trình phát triển có thể có của các sự kiện, Đảng mới có thể đề ra được một đường lối chính trị hoàn chỉnh. Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị có quy luật hình thành, phát triển vai trò lịch sử riêng trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Do đó, lịch sử Đảng là đối tượng nghiên cứu của một khoa học riêng – khoa học lịch sử Đảng. Lịch sử Đảng gắn liền với lịch sử dân tộc. Theo đó, lịch sử Đảng là một khoa học chuyên ngành của khoa học lịch sử và có quan hệ mật thiết với các khoa học về lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Mỗi ngành khoa học có một phạm vi nghiên cứu cụ thể trong mối quan hệ biện chứng với các khoa học khác. Khoa học lịch sử nghiên cứu về xã hội và con người xã hội, nghiên cứu về cuộc sống đã qua của nhân loại một cách toàn diện trong sự vận động, phát triển, với những quy luật phổ biến và đặc thù của nó. Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 là lịch sử đấu tranh cách mạng kiên cường và anh dũng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm xóa bỏ chế độ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, xây dựng chế độ mới. Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của nhân dân ta. Do đó, lịch sử Việt Nam (từ năm 1930 trở đi) và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó hữu cơ với nhau.

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Đảng là người đề ra đường lối cách mạng và tổ chức lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối. Do đó, khoa học lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là một hệ thống tri thức về quá trình hoạt động đa dạng và phong phú của Đảng trong mối quan hệ mật thiết với tiến trình lịch sử của dân tộc và thời đại. Với tư cách là một khoa học, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có đối tượng nghiên cứu là tổ chức và hoạt động của Đảng và các phong trào cách mạng của quần chúng diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Yêu cầu quan trọng trong việc nghiên cứu, biên soạn giáo trình và giảng dạy lịch sử Đảng là phải căn cứ vào các nguồn sử liệu của Đảng, nhất là (1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập và Hồ Chí Minh Toàn tập. Bởi vì “Với bộ Văn kiện Đảng Toàn tập, tất cả những người cần nghiên cứu và sử dụng văn kiện Đảng đều có thể dễ dàng tìm thấy những tài liệu chính thức và xác thực”. “Việc xuất bản Văn kiện Đảng Toàn tập nhằm cung cấp những tư liệu lịch sử xác thực, có hệ thống cho công tác nghiên cứu lý luận, nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng”. “Công bố các văn kiện Đảng cũng là để cung cấp mộtnguồn tư liệu chứa đựng những thông tin chân thực, chống lại những luận điệu xuyên tạc, làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ hơn hoạt động của Đảng vàphong trào cách mạng của nhân dân, đồng thời cũng giới thiệu với bạn bè quốc tế về lịch sử vẻ vang và những bài học kinh nghiệm của Đảng ta 1Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t.1, tr. VI-VII.)

Giảng dạy và học tập môn lịch sử Đảng phải chú ý sử dụng phương pháp tích hợp, sử dụng những kiến thức đã biết từ các môn học khác. Phương pháp giảng dạy và học tập ở bậc đại học cần không ngừng phát huy tính chủ đạo của giảng viên và tính chủ động của sinh viên.Điều đáng chú ý là sinh viên có khả năng tự nghiên cứu theo sự hướng dẫn của giảng viên, có yêu cầu kiểm tra tính đúng đắn của các thông tin và khả năng cung cấp cho nhau các tri thức trong quá trình học tập. Trong sự nghiệp đổi mới, việc giảng dạy và học tập môn Lịch sử Đảng cần đổi mới mạnh mẽ về phương pháp để đáp ứng yêu cầu đào tạo. – Chức năng, nhiệm vụVới tư cách là khoa học về những quy luật phát triển và hoạt động lãnh đạo của Đảng, lịch sử Đảng có hai chức năng: chức năng nhận thức khoa học và chức năng giáo dục tư tưởng chính trị. Chức năng nhận thức khoa học lịch sử có mục đích trước hết là để phục vụ việc cải tạo xã hội theo đúng quy luật phát triển của xã hội Việt Nam như một quá trình lịch sử – tự nhiên. Việc hiểu biết thấu đáo những kiến thức và kinh nghiệm lịch sử Đảng là cơ sở khoa học để có thể dự kiến những xu hướng phát triển chủ yếu của xã hội và những điều kiện lịch sử cụ thể có tác động đến những xu hướng đó. Bằng cách đó, khoa học lịch sử Đảng cùng với các môn khoa học lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần tích cực tạo cơ sở lý luận để Đảng vạch ra đường lối, chủ trương, chính sách.

Mặt khác, lịch sử Đảng có chức năng giáo dục tư tưởng chính trị, tham gia vào việc giải quyết những nhiệm vụ hiện tại. Những kiến thức khoa học về các quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử cách mạng Việt Nam có tác dụng quan trọng đối với cán bộ, đảng viên, nhân dân trong việc trau dồi thế giới quan, phương pháp luận khoa học, xây dựng niềm tin vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ đó có quyết tâm phấn đấu thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng.

Để thực hiện chức năng đó, trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy và học tập Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam chúng ta có nhiệm vụ làm rõ những quy luật của cách mạng Việt Nam, nghiên cứu, trình bày các điều kiện lịch sử, các sự kiện và quá trình hình thành, phát triển và hoạt động của Đảng, nổi bật là những nhiệm vụ sau đây:

+ Làm sáng tỏ điều kiện lịch sử, quá trình ra đấu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt đời tất yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam – bộ tham mưu chiếnNam.

Trong thời gian đầu không phải là toàn bộ giai cấp công nhân đã tiếp thu được chủ nghĩa Mác – Lênin, mà chỉ có một bộ phận tiên tiến nhất tiếp thu được lý luận đó. Bộ phận này đứng ra thành lập đảng cộng sản, do vậy đảng cộng sản là một bộ phận của giai cấp công nhân và giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lãnh đạo cách mạng thông qua đảng cộng sản là đội tiền phong của mình. Sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân là quy luật chung cho sự ra đời của các đảng cộng sản trên thế giới. Nhưng sự kết hợp đó không theo một khuôn mẫu giáo điều, cứng nhắc, mà nó được thực hiện bằng con đường riêng biệt, tuỳ theo điều kiện cụ thể về không gian và thời gian.

Yêu cầu của cách mạng thuộc địa khác với yêu cầu của cách mạng ở các nước tư bản chủ nghĩa. Đảng cộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phải lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản, còn đảng cộng sản ở thuộc địa trước hết phải lãnh đạo cuộc đấu tranh dân tộc chống chủ nghĩa thực dân. Vấn đề giai cấp ở thuộc địa phải đặt trong vấn đề dân tộc, đòi hỏi sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận Mác – Lênin về đảng cộng sản trong điều kiện một nước thuộc địa.

+ Làm rõ quá trình trưởng thành, phát triển của Đảng gắn liền với hoạt động xây dựng một chính đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Khoa học xây dựng Đảng có nhiệm vụ nghiên cứu những quy luật xây dựng đảng, xác định những nguyên tắc, mục đích, yêu cầu; những nguyên lý và hệ thống các biện pháp phải tuân theo để xây dựng một chính đảng cách mạng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; hình thành nên lý luận về xây dựng đảng.

Lịch sử Đảng có nhiệm vụ làm rõ những hoạt động cụ thể của Đảng để xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ cách mạng. Đó là sự thực hiện các nguyên lý, vận dụng những nguyên tắc, tiến hành các biện pháp để làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đương nhiên giữa hai ngành khoa học đó có mối quan hệ mật thiết với nhau.

+ Trình bày quá trình hoạt động lãnh đạo cách mạng của Đảng qua các thời kỳ, các giai đoạn cách mạng trong những bối cảnh lịch sử cụ thể.

Đó là quá trình đi sâu nắm vững phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác -Lênin, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với bối cảnh quốc tế và thực tiễn của xã hội Việt Nam, để định ra cương lĩnh, vạch ra đường lối, xác định những chủ trương và biện pháp cụ thể cho mỗi giai đoạn cách mạng.

Đó là quá trình đấu tranh về quan điểm tư tưởng trong nội bộ Đảng để xác định một đường lối đúng đắn, đấu tranh bảo vệ đường lối cách mạng của Đảng, chống mọi biểu hiện của tư tưởng hữu khuynh và “tả” khuynh, chống mọi ảnh hưởng của tư tưởng duy ý chí, chủ quan, giáo điều và các loại tư tưởng phi vô sản khác.

Đó cũng là quá trình chỉ đạo và tổ chức quần chúng hành động thực tiễn, giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, thực hiện triệt để các mục tiêu cơ bản của cách mạng Việt Nam do Đảng vạch ra.

+ Trình bày các phong trào cách mạng của quần chúng do Đảng tổ chức và lãnh đạo.

+ Tổng kết những kinh nghiệm lịch sử Đảng

Khoa học lịch sử Đảng có nhiệm vụ góp phần tổng kết những kinh nghiệm từ những thành công và không thành công của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của Đảng.

qua hệ thống công tác tổ chức và tư tưởng của Đảng đối với quần chúng. 3. Phương pháp nghiên cứuPhương pháp nghiên cứu gắn liền với đối tượng nghiên cứu. Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Đường lối chính trị, hoạt động của Đảng là sự biểu hiện cụ thể lý luận đó trong hoàn cảnh Việt Nam với tất cả đặc điểm vốn có của nó. Do đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với khoa học lịch sử nói chung và khoa học lịch sử Đảng nói riêng. Đó là những cơ sở phương pháp luận khoa học để nghiên cứu lịch sử Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam nhờ có hoạt động lý luận dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đã đi đến nhận thức được những điều kiện khách quan và sự chín muồi của những nhân tố chủ quan của sự phát triển xã hội thông

Do đó, đối với khoa học lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, quan niệm duy vật về lịch sử là chìa khóa để lý giải sự xuất hiện và phát triển của Đảng như là một kết quả tất yếu của lịch sử đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Chỉ có đứng trên quan điểm lịch sử mới có thể đánh giá được một cách khoa học các giai đoạn phát triển của Đảng, trên cơ sở làm sáng tỏ địa vị khách quan và vai trò lịch sử của Đảng trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cũng như mới lý giải được rằng lý tưởng cách mạng và những mục tiêu cao cả xuất phát từ lý tưởng đó, mà Đảng đã kiên trì theo đuổi từ ngày mới ra đời không phải là do ý muốn chủ quan của một cá nhân hoặc của một nhóm người tài ba lỗi lạc nào, cũng không phải do “nhập cảng” từ bên ngoài vào, mà xét cho cùng là sự phản ánh khách quan của sự phát triển lịch sử – tự nhiên trong những điều kiện lịch sử nhất định.

Với phương pháp luận khoa học, các nhà sử học chân chính có thể nhận thức được lịch sử một cách chính xác, khoa học. Họ có thể nhận thức và phản ánh đúng hiện thực khách quan khi nghiên cứu bất kỳ một hiện tượng, một quá trình lịch sử nào.

Nghiên cứu lịch sử Đảng đòi hỏi phải quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể mới có thể xem xét các sự kiện lịch sử trong những điều kiện và thời điểm cụ thể và trong mối quan hệ giữa chúng với nhau. Việc nắm vững và vận dụng quan điểm lịch sử trong khoa học lịch sử Đảng cho phép lý giải được tính sáng tạo cách mạng trong đường lối, chủ trương của Đảng, cũng như làm rõ được cơ sở phương pháp luận của hoạt động lý luận của Đảng trong quá trình nghiên cứu để quyết định những đường lối, chủ trương.

Khoa học lịch sử Đảng sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học lịch sử nói chung, như các phương pháp lịch sử và lôgích, đồng đại và lịch đại, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, cụ thể hóa và trừu tượng hóa…trong đó quan trọng nhất là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích cùng sự kết hợp hai phương pháp ấy.

Nhiệm vụ đầu tiên của khoa học lịch sử Đảng là phải làm sáng tỏ nội dung các giai đoạn lịch sử đấu tranh của Đảng, với những sự kiện cụ thể sinh động và trong mối liên hệ có tính nhân quả giữa chúng với nhau, cho nên phương pháp được đặt lên hàng đầu trong khoa học lịch sử Đảng là phương pháp lịch sử.Song nếu phương pháp lịch sử không có sự kết hợp với phương pháp lôgích thì sẽ giảm đi tính chất khái quát của nó, không thể vạch ra được bản chất, khuynh hướngchung và những quy luật khách quan chi phối sự vận động lịch sử. Hoạt động của Đảng trong quá khứ cơ bản là hoạt động lãnh đạo, lên lịch sử của Đảng chính là lịch sử của sự lãnh đạo cách mạng, lịch sử của hoạt động nhận thức quy luật, đề ra đường lối, chủ trương cách mạng. Hoạt động đó đã được ghi lại, được thể hiện trong các cương lĩnh, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, qua phát ngôn của các lãnh tụ của Đảng. Hoạt động xây dựng Đảng trong lịch sử về tư tưởng và tổ chức cũng được thể hiện qua Điều lệ của Đảng. Do đó, để nghiên cứu lịch sử của Đảng, phương pháp quan trọng có tính đặc thù, bắt buộc là phải nghiên cứu các văn kiện Đảng, nhất là văn kiện các Đại hội và Hội nghị Trung ương. Nắm vững nội dung các văn kiện Đảng sẽ hiểu được đường lối, chủ trương lãnh đạo cách mạng của Đảng trong các thời kỳ lịch sử, tức là nắm được hoạt động chính yếu của Đảng trong quá khứ, hiểu được lịch sử của Đảng. Tính đúng đắn của sự lãnh đạo của Đảng đã được kiểm nghiệm qua hành động thực tiễn của cán bộ, đảng viên, qua hoạt động của hệ thống chính trị do Đảng tổ chức, qua phong trào cách mạng của quần chúng. Vì vậy, để đánh giá đúng đắn lịch sử của Đảng, rút ra những kinh nghiệm lịch sử phải căn cứ vào phong trào thực tiễn của nhân dân, vào thành bại của cách mạng. Nghiên cứu, học tập, nắm vững tri thức khoa học về lịch sử Đảng có ý nghĩa rất to lớn trong việc giáo dục phẩm chất chính trị, lòng trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, tính kiên định cách mạng trước tình hình chính trị quốc tế có những diễn biến phức tạp và trong việc giáo dục đạo đức cách mạng, mà Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam là một mẫu mực tuyệt vờiViệc nghiên cứu, học tập lịch sử Đảng cũng có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục về truyền thống cách mạng, về chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính, về lòng tự hào đối với Đảng và đối với dân tộc Việt Nam; đồng thời còn có tác dụng bồi dưỡng ý chí chiến đấu cách mạng, thôi thúc ở người học ý thức biết noi gương những người đã đi trước, tiếp tục cuộc chiến đấu dũng cảm ngoan cường, thông minh, sáng tạo để bảo vệ và phát triển những thành quả cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đã tốn biết bao xương máu để giành được, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.