Top 8 # Vì Sao Xã Hội Nguyên Thủy Tan Rã Ngắn Nhất Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Vì Sao Liên Xô Tan Rã

Vì sao Liên Xô tan rã Chủ nghĩa Mac cho những nhà hoạch định kế hoạch tập trung

Trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, các nhà kinh tế thường tranh cãi về những giá trị tương đối của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, Liên Xô từ bỏ kế hoạch hóa tập trung theo chủ nghĩa Marx sau năm 1990 và bắt đầu quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Năm 2003 các cổ động viên của các câu lạc bộ bóng đá Chelsea chào đón ông chủ mới Rorman Abramovitch người đi lên trong kinh tế thị trường, bắt đầu là một nhà buôn bán dầu mỏ và sau đó là chủ tịch một trong những công ty dầu mỏ hàng đầu ở Nga.

Bức tường Berlin sụp đổ vì Liên Xô đã tụt hậu xa so với các nền kinh tế thị trường ở phương Tây. Những khó khăn cốt yếu nảy sinh là:

§Quá tải thông tin: Các nhà hoạch định kế hoạch không thể theo kịp chi tiết của những hoạt động kinh tế. Máy móc thiết bị bị gỉ sét vì không có người lắp đặt sau khi giao hàng, mùa màng thu hoạch bị thối rữa vì lưu kho và phân phối không phối hợp được.

§Động lực kém: Việc đảm bảo việc làm tuyệt đối làm giảm động cơ làm việc. Những người quản lý các nhà máy đặt hàng nguyên vật liệu vượt quá số lượng cần thiết để đảm bảo nguyên vật liệu cho năm kế tiếp vì các nhà hoạch định kế hoạch có thể điều hành số lượng dễ dàng hơn so với chất lượng nên các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu mục tiêu số lượng bằng cách bỏ qua yêu cầu chất lượng. Thiếu những tiêu chuẩn về môi trường, các doanh nghiệp gây ô nhiễm nghiêm trọng. Kế hoạch hóa tập trung dẫn đến hàng hóa chất lượng thấp và làm hại cho môi trường.

§ Cạnh tranh phi hiệu quả: Các nhà hoạch định kế hoạch tin tưởng rằng to lớn là tốt đẹp. Nhưng quy mô lớn làm các nhà hoạch định kế hoạch mất thông tin từ các hãng cạnh tranh, nên rất khó đánh giá hiệu quả. Thiếu sự cạnh tranh để chọn lựa thì không thể tránh được những sai lầm kinh tế.

Theo David Begg, Stanley Fischer, Rudiger Dornbusch. Kinh tế học. Bản dịch tiếng Việt, phiên bản thứ 8. 2008. Nhà xuất bản Thống Kê. Hà Nội.

Tại Sao Liên Xô Tan Rã?

Trong giai đoạn 1918 – 1920, nước Nga Xô viết nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc và bị bọn Bạch vệ (được sự hậu thuẫn của nước ngoài) tấn công từ bốn phía. Trong giai đoạn đặc biệt khó khăn này, nước Nga Xô viết non trẻ lâm vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Dưới sự lãnh đạo của Lênin và Đảng Bonsevich, nước Nga Xô viết đã vượt qua thách thức hiểm nghèo để tiếp tục phát triển.

Cuộc duyệt binh của các chiến sĩ Hồng quân Liên Xô ở Quảng trường Đỏ.

Sau hơn bảy chục năm tồn tại, phát triển không ngừng, vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, Liên Xô đã trở thành một cường quốc hàng đầu thế giới. Với sức mạnh to lớn về quân sự, khoa học công nghệ và kinh tế, Liên xô đủ sức đương đầu với hệ thống tư bản thế giới và có khả năng ngăn chặn mọi âm mưu, hoạt động hiếu chiến của chủ nghĩa đế quốc để bảo vệ hòa bình thế giới.

Liên Xô tan rã khi đã đạt đến đỉnh cao.

Đã có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn bài viết, công trình chuyên khảo và sách lý giải vấn đề này, trong đó các cuốn sách của những người trong cuộc đưa ra lời giải có sức thuyết phục nhất. Nhân kỷ niệm 96 năm Cách mạng tháng Mười Nga (7/11/1917 – 7/11/2013), bài viết này nhằm cung cấp một cái nhìn cận cảnh về sự tan rã của Liên Xô.

1. Hệ thống XHCN hiện thực với Liên Xô làm trụ cột đã có đóng góp hết sức to lớn vào sự phát triển của thế giới.

Trong nửa sau của thế kỷ XX, trên thế giới có hơn một chục Đảng Cộng sản cầm quyền, hình thành một hệ thống XHCN hùng mạnh đủ sức kiềm chế mọi hành động đơn phương, hiếu chiến chống phá cách mạng của chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ.

Chính nhờ sự tồn tại của hệ thống XHCN hùng mạnh, hàng trăm dân tộc bị nô dịch, áp bức đã vùng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc, làm suy sụp chủ nghĩa thực dân cũ, làm thất bại chủ nghĩa thực dân mới. Xét đến cùng, sự hình thành và phát triển của phong trào không liên kết là thành quả của cuộc đấu tranh vô sản – tư sản trên phạm vi toàn cầu, là thành tựu to lớn của các Đảng Cộng sản cầm quyền trong thế kỷ XX. Nói cách khác, chính những người cộng sản, trước hết là các Đảng Cộng sản cầm quyền ở các nước thuộc hệ thống XHCN, đã ghi tạc một mốc son chói lọi vào tiến trình phát triển văn minh nhân loại.

Các Đảng Cộng sản cầm quyền đã xây dựng được một hệ thống xã hội hùng mạnh (hệ thống XHCN), trên nhiều lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội tốt đẹp hơn, ưu việt hơn chủ nghĩa tư bản (CNTB). Cho đến nay, sau 22 năm Liên Xô tan rã, vẫn có 59% người Nga được hỏi ý kiến cho rằng ở chủ nghĩa xã hội nhiều điều tích cực hơn là tiêu cực, và đa số người Nga vẫn nuối tiếc thời Xô viết vàng son.

Thật trớ trêu, chính các Đảng Cộng sản cầm quyền, trước hết và chủ yếu là Đảng Cộng sản Liên Xô, lại để mất quyền lãnh đạo, làm cho hệ thống XHCN hùng mạnh được họ dẫn dắt hàng trăm triệu người xây dựng nên sụp đổ, tan rã. Cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.

Thực chất, Đảng Cộng sản Liên Xô, trực tiếp và chủ yếu là Bộ Chính trị, BCHTƯ đã tha hóa, đã tự đánh mất mình và làm cho Liên Xô tan rã. Chính những người lãnh đạo cao nhất, các ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSLX đã thừa nhận điều đó. Tất nhiên, hoạt động chống phá của các thế lực chống cộng quốc tế thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” cũng là một nguyên nhân làm cho Liên Xô tan rã, nhưng chắc chắn không phải là nguyên nhân chính, không phải là nguyên nhân chủ yếu.

2. Đảng Cộng sản Liên Xô đã tha hóa, biến chất như thế nào?

Sơ bộ có thể nêu ra một số biểu hiện lớn sau đây:

– Một là, Đảng Cộng sản Liên Xô đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Đi liền với nó là các bệnh tật: độc đoán, chuyên quyền, không chấp nhận những ý kiến khác với mình; coi thường tập thể, coi thường cấp dưới, tự cho mọi ý kiến của mình là chân lý buộc mọi người phải tuân theo, coi những ai có ý kiến ngược lại là chống đối, thậm chí là thù địch, khi cần thiết bảo vệ “cái uy” của mình, họ sẵn sàng đối xử với đồng chí, đồng đội như đối với kẻ thù. Kết quả là trong sinh hoạt, đảng mất hết sinh khí, mất hết tính chiến đấu. Sinh hoạt đảng trở nên tẻ nhạt, khô cứng, độc thoại một chiều. Trong điều kiện đó nhiều đảng viên trung kiên, trong sáng không được trọng dụng, cố nín nhịn để tồn tại, những kẻ cơ hội, nịnh bợ có điều kiện được thăng tiến.

– Hai là, Bộ Chính trị, BCHTƯ Đảng Cộng sản Liên Xô đã quan liêu xa rời thực tiễn, để mất quan hệ máu thịt giữa Đảng CSLX với nhân dân Liên Xô. Tệ quan liêu làm cho những người lãnh đạo các cấp của Đảng CSLX xa rời thực tế, không có hiểu biết đúng đắn hiện trạng xã hội mà mình đang lãnh đạo, quản lý. Họ thờ ơ trước những nguyện vọng chính đáng của quần chúng, thậm chí không có rung động, phản ứng trước những nỗi thống khổ, oan ức của một bộ phận quần chúng nhân dân, trong đó có cả một bộ phận đảng viên, cán bộ cấp dưới.

– Ba là, những suy thoái về đạo đức, lối sống của một số lãnh đạo cấp cao giữ vai trò chủ chốt với những biểu hiện nổi bật: Sống ích kỷ, đặt lợi ích của bản thân, gia đình và người thân lên trên lợi ích của Đảng, của nhân dân; cục bộ địa phương, kéo bè kéo cánh đưa những người thân tín với mình, kể cả những người yếu về năng lực, kém về đạo đức, lối sống vào những vị trí lãnh đạo để làm vây cánh, che chắn bảo vệ mình; tham ô, sống xa hoa, nói một đằng làm một nẻo, cá biệt còn tha hoá, suy đồi về đạo đức, lối sống.

Chỉ khi nào sự thoái hóa, biến chất diễn ra tại trung tâm quyền lực (chóp bu) của Đảng thì mới trở thành nguy cơ đối với Đảng, đó là đêm trước của sự tan rã, sụp đổ. Đảng Cộng sản Liên Xô và các “phiên bản” Đông Âu của nó thuộc trường hợp này.

Thông thường các biểu hiện trên không tồn tại biệt lập, mà luôn song hành, có quan hệ với nhau, tác động với nhau, có lúc cái này làm tiền đề, điều kiện cho cái kia tồn tại và phát triển. Những biểu hiện thoái hoá nói trên, không bỗng nhiên xuất hiện, mà có một quá trình từ chớm nở như một ung nhọt nhỏ rồi phát triển qua nhiều giai đoạn. Những bệnh tật này lặng lẽ tích dồn liên tục trong nhiều tháng, nhiều năm làm Đảng mất sức chiến đấu, thiếu nhạy bén, không đưa ra được đường lối, quyết sách đúng đắn, khả thi. Trong Đảng CSLX đã thực sự có phân hoá: Một bộ phận cán bộ, đảng viên giàu lên nhanh chóng do đặc quyền, đặc lợi, đại bộ phận sống khó khăn; nhiều đảng viên nói một đằng làm một nẻo, trong cuộc họp nói khác ngoài cuộc họp, suy nghĩ một đằng phát biểu một nẻo. Tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng dần dần nguội lạnh, nhiều đảng viên trở nên thờ ơ trước những vấn đề chính trị có quan hệ đến vận mệnh của Đảng CSLX.

Theo Ph. M. Rudinxki, có thể chia 20 triệu đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô làm 4 loại: 1, Những đảng viên chân chính thường chiếm tỷ lệ nhỏ, 2. Những người thực hiện, chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng như cái máy (chiếm khoảng hơn 96 %); 3. Những kẻ cơ hội , xu thời, nịnh bợ (phần lớn trong bộ máy công quyền) ; 4. Những người im lặng (phần lớn họ là những người có hiểu biết nhưng sợ bị trù dập nên họ giữ im lặng, không dám phát biểu).

N. I. Rưscôp, nguyên ủy viên Bộ Chính trị ĐCS Liên Xô, Thủ tướng Liên Xô (1985 – 1990) cho rằng: Tồn tại hai Đảng trong Đảng Cộng sản Liên Xô: Một đảng của hàng chục triệu đảng viên bình thường và một đảng của những quan chức chóp bu trong hệ thống đảng, nhà nước Liên Xô . Những đảng viên nắm quyền lực ở cấp cao ngày càng xa rời, cách biệt với hàng chục triệu đảng viên bình thường. Số đảng viên này, về thực chất, không đại diện và bảo vệ lợi ích của giai cấp, của dân tộc, mà chỉ tìm mọi cách bám giữ quyền lực vì lợi ích cá nhân của họ.

Do những bệnh tật kể trên, đại bộ phận quần chúng nhân dân giảm lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng CSLX, thờ ơ đối với những vấn đề chính trị trọng đại của đất nước, thậm chí có một số trông chờ, mong muốn có sự thay đổi. Chính đó là trạng thái trong Đảng Cộng sản Liên Xô và trong xã hội Liên Xô vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, đêm trước của sự sụp đổ, tan rã (1989 – 1991).

3. Thử bàn về các nguyên nhân.

Về hoạt động chống phá của Mỹ và các thế lực chống cộng quốc tế thì rõ ràng, có đầy đủ thông tin, tư liệu để khẳng định. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác.

Mặt trái của cơ chế thị trường cũng là một nguyên nhân. Nhưng nếu quá nhấn mạnh, cường điệu mặt trái của cơ chế thị trường thì khó lòng giải thích được những thoái hoá của Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời kỳ Mao Trạch Đông, Xtalin và Prêz nép lãnh đạo, vì thời Mao, thời Xtalin, thời Prêz nép chưa có kinh tế thị trường.

– Một là, về mặt tổ chức, trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình, Đảng Cộng sản Liên Xô chưa xây dựng được cơ chế hữu hiệu để đảm bảo dân chủ thực sự trong sinh hoạt Đảng. Đảng CSLX đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong suốt quá trình hoạt động. Theo chúng tôi, đây là điểm khởi thuỷ, nguồn gốc của mọi biểu hiện khác về sự thoái hoá của Đảng CSLX (quan liêu, tha hoá về tư tưởng chính trị, thoái hoá về đạo đức, lối sống, chia rẽ mất đoàn kết…). Ở đâu và khi nào trong sinh hoạt đảng thể hiện sục sôi dân chủ, thì đảng có sức sống mãnh liệt. Đảng Cộng sản Bôn – sê – vích Nga dưới thời lãnh đạo của Lênin là một ví dụ điển hình.

Xét đến cùng, do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng nên cơ quan lãnh đạo của Đảng CSLX thiếu thông tin nhiều mặt về một vấn đề, đặc biệt là những vấn đề hệ trọng quan hệ đến sinh tồn của Đảng. Thiếu dân chủ cho nên trong sinh hoạt đảng thường là độc thoại một chiều từ những người lãnh đạo cao nhất, thiếu hẳn thông tin phản hồi từ dưới lên. Thiếu dân chủ, nên những đảng viên ưu tú, nhạy bén, sắc sảo, thông minh không có chỗ để thể hiện ý tưởng của mình. Trong một tổ chức như vậy, bộ tham mưu cao nhất không có đủ thông tin nhiều chiều, toàn diện, do đó những quyết định về đường lối, sách lược thường không phù hợp với thực tiễn, thậm chí trái ngược với quy luật, ngược với hiện thực khách quan. Phải chăng, đó là một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến tình trạng nghị quyết, chỉ thị rất nhiều nhưng việc đưa vào cuộc sống không được bao nhiêu. Theo ngôn ngữ y học, thuốc rất nhiều nhưng không có loại đặc trị, nên bệnh tình sẽ ngày càng trầm trọng.

Dưới góc độ lý thuyết hệ thống, có thể xem một tổ chức đảng như một hệ thống. Để đảm bảo cho hệ thống đó tồn tại bền vững, nhất thiết phải có trao đổi thông tin. Nếu thiếu trao đổi thông tin (theo 2 chiều thuận – nghịch, từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong) thì sớm muộn hệ thống đó sẽ bị đổ vỡ để chuyển sang một trạng thái khác. Thiếu dân chủ trong sinh hoạt đảng, tức là thiếu trao đổi thông tin (trên xuống, dưới lên, trong đảng ra ngoài xã hội và ngược lại). Nếu trạng thái này kéo dài thì sẽ sinh ra thoái hóa của hệ thống đảng dưới nhiều biểu hiện như đã trình bày ở trên. Nếu không khắc phục được, để kéo dài, thì sớm muộn sự thoái hóa của một số đảng viên ở vị trí chủ chốt sẽ dẫn đến sự thoái hóa của đảng cầm quyền.

Thực tế xác nhận: Đảng CSLX trước đây không có lực lượng nào và không có cơ chế nào thực hiện giám sát và phản biện hoạt động của Tổng Bí thư, của Bộ Chính trị. Một nhóm nhỏ này, có khi chỉ dăm ba người nắm quyền lực tối cao, tự tung tự tác, ai có ý kiến khác sẽ bị họ chụp cho cái mũ là “chống đối”, “là phản động”, “là chống Đảng”, thậm chí là “phản bội Tổ quốc”…

Cũng do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà các thành viên trong tổ chức có quan hệ với nhau rất lỏng lẻo, đảng mất hết sức sống, tính chiến đấu chỉ còn lại trong nghị quyết.

Do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng, mà một thời gian dài trước khi sụp đổ, tan rã, trong Đảng Cộng sản Liên Xô cũng như trong các Đảng Cộng sản ở các nước XHCN ở Đông Âu đã lặng lẽ diễn ra một quá trình phân hóa trong đảng, cả trong sinh hoạt Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị. Các đảng viên nghĩ một đằng phát biểu một đằng, không dám thể hiện chính kiến của mình ngay cả đối với vấn đề quan hệ đến sinh tồn của Đảng. Trong cuộc họp người ta nói một đằng, mà phần lớn không thật lòng, ngoài cuộc họp người ta nói riêng với nhau lại khác, cấp trên áp đặt, cấp dưới điều chỉnh hành vi cho phù hợp với cấp trên, mọi thông tin chính thức từ trên xuống và đặc biệt là từ dưới lên đều thiếu chân thật. Chưa đến một tháng trước khi tan rã, mất quyền lãnh đạo, những người lãnh đạo của một Đảng Cộng sản cầm quyền vẫn khẳng định sức chiến đấu của đảng mình, vẫn tuyên bố tuyệt đại bộ phận nhân dân còn ơn đảng, theo đảng, tin đảng và tuyệt đại đa số đảng viên là tin cậy, trung thành…!

Cũng do thiếu dân chủ trong sinh hoạt Đảng mà Đảng CSLX đã mắc sai lầm trong việc đánh giá cán bộ, đào tạo cán bộ, tuyển chọn và bố trí, sử dụng cán bộ vào vị trí chủ chốt trong Đảng, trong Nhà nước. Thiếu dân chủ là bà đỡ của thói nịnh bợ, luồn lọt, là điều kiện tốt cho chủ nghĩa thực dụng, cơ hội vị kỷ phát sinh tồn tại trong đảng, nhất là ở các cơ quan lãnh đạo cấp cao. Ai cũng biết cán bộ quyết định tất cả, và thực tiễn cũng xác nhận điều đó. Nhưng Đảng CSLX phạm sai lầm trong công tác sử dụng, bố trí cán bộ.

– Hai là, sự thoái hóa của Đảng CSLX là do các đảng viên, trước hết và chủ yếu là các đảng viên trước hết giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt ở cấp cao, chưa đủ độ chín muồi về mặt chính trị, chưa thực sự giác ngộ về giai cấp, về lý tưởng cộng sản. Khi kết nạp mọi đảng viên đều tuyên thệ về sự giác ngộ lý tưởng cộng sản của mình, hứa hẹn một lòng một dạ phấn đấu vì lợi ích của giai cấp, của những người lao động, nguyện trung thành với lý tưởng cộng sản… Nhưng khi đã vào đảng rồi thì họ thiếu rèn luyện và trong hoạt động thực tiễn, họ dần dần xa rời những lời tuyên thệ, hứa hẹn của mình. Đó là quá trình tha hóa của đảng viên, và kéo theo sự tha hóa của đảng. Tất nhiên, không phải mọi đảng viên đều diễn ra quá trình tha hóa đó.

Tất nhiên, còn nhiều vấn đề thuộc về nguyên nhân và điều kiện làm cho Đảng CSLX thoái hóa, Liên Xô tan rã. Ở đây chúng tôi không có điều kiện để trình bày tất cả, chỉ nêu ra những nhân tố quan trọng nhất, cơ bản nhất. Có thể xem nó là nguồn gốc của mọi thoái hóa của Đảng cầm quyền nói chung, của Đảng CSLX nói riêng.

Sau chừng ấy thời gian, cho phép chúng ta khái quát ba vấn đề lớn sau:

– Một là, từ Cách mạng tháng Mười Nga đến khi Liên Xô tan rã (1917 – 1991) có thể phân kỳ như sau: 1. Thế hệ cách mạng đầu tiên do Lênin lãnh đạo đã đưa nước Nga Xô viết non trẻ vượt qua thử thách “ngàn cân treo sợi tóc” 1917 – 1920 để tồn tại và phát triển; 2. Thế hệ lãnh đạo thứ hai do Stalin lãnh đạo đã tiêu diệt Chủ nghĩa phát xít Đức – Nhật – Ý và đưa Liên Xô trở thành cường quốc thế giới; 3; Thế hệ lãnh đạo thứ ba ở Liên Xô từ Khơrusốp đến Bregiơnép là những người đã tham gia Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941 – 1945) và họ đã đưa Liên Xô trở thành cường quốc hàng đầu thế giới; 4. Thế hệ lãnh đạo thứ tư với hạt nhân là Góocbachop, là những người sinh ra trong thời kỳ chiến tranh vệ quốc vĩ đại và chưa nếm trải thử thách của chiến tranh.

Chính thế hệ lãnh đạo thứ tư đã làm cho Đảng CSLX mất quyền lãnh đạo, làm cho Liên Xô tan rã.

Hóa ra, việc thâu tóm được mọi quyền lực và mọi nguồn lực quốc gia không khó bằng nắm được lòng dân. Những ai không nắm được lòng dân thì họ đã thất bại ngay khi đang nắm quyền lực.

– Ba là, các đảng cộng sản đang cầm quyền và chưa cầm quyền cần rút ra bài học từ thất bại của Đảng CSLX, từ sự tan rã của Liên Xô để vượt qua chính mình vì hạnh phúc của nhân dân và sự hưng thịnh của đất nước.

Sai lầm và khuyết điểm rất khó tránh, nhưng không thực sự nguy hiểm. Điều nguy hiểm nhất là không dám thừa nhận sai lầm, khuyết điểm, đặc biệt là không có quyết tâm chính trị để tránh sai lầm, khắc phục khuyết điểm.

Theo Lê Văn Cương (Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược Bộ Công an)

Nguyên Nhân Nào Đưa Liên Bang Xô Viết Đến Chỗ Tan Rã

Sự sụp đổ có vẻ bất ngờ của Liên Xô đã từng được lý giải bằng nhiều lập luận. Người ta thường đề cập đến các lý do chính trị: sự suy yếu của các Bộ sức mạnh (khối an ninh-quốc phòng), do nội phản hay vì sự tấn công của các thế lực thù địch bên ngoài… Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu ở cả phương Tây và Đông Âu lại cho rằng đây chỉ đơn thuần là cái chết về kinh tế. Bị trượt bánh ở ngã ba đường từ phát triển kinh tế kiểu “quảng canh” sang giai đoạn phải tất yếu “thâm canh”, liên bang chính trị-kinh tế-quân sự có quy mô địa lý lớn nhất hành tinh đã đột ngột tan đàn sẻ nghé ngay sau khúc dạo đầu hùng tráng của các “bản nhạc” Perestroika và Glasnost… Sự tan rã của Liên Xô còn là minh chứng cho lề lối điều hành kinh tế theo kiểu quan liêu bao cấp, tạo điều kiện cho tham nhũng tràn lan, gây nên tình trạng tê liệt trong mọi lĩnh vực sản xuất. Kỷ niệm 20 năm thực hiện công cuộc Đổi mới ở nước ta, chúng tôi xin trích dịch giới thiệu với bạn đọc để tham khảo những bài học đưa đến sự sụp đổ của một cường quốc quân sự nhưng lại không làm chủ được vận mệnh kinh tế của mình. Đây cũng là những bài học cho chúng ta suy ngẫm trước tình trạng tham nhũng hiện nay ở nước ta. Đầu đề là của chúng tôi.

Như một cầu chì cho thời kỳ chiến tranh lạnh, vũ khí hạt nhân có bốn công dụng. Thứ nhất, nó phù hợp với logic đầy nghịch lý của chiến lược, khả năng hủy diệt của vũ khí hạt nhân vượt quá đòi hỏi đề ra cho giới quân sự, nhưng lại có tác dụng răn đe cả hai phía. Thứ hai, những đề xuất áp dụng vũ khí hạt nhân trên chiến trường bằng cách đánh sụt sức công phá của nó đều bị dẹp đi, vì hiệu quả chiến thuật của phương án này sẽ bằng không nếu đối phương đánh trả cũng bằng vũ khí hạt nhân, nhưng với độ công phá cao hơn một tý. Thứ ba, việc ngăn ngừa các hoạt động tác chiến phi hạt nhân giữa các cường quốc hạt nhân vì thế mà trở nên dễ dàng hơn, vì người ta hiểu rằng chiến thắng vừa đạt được nhờ xung đột bằng vũ khí thông thường sẽ lập tức bị đảo ngược, nếu bên vừa thua chuyển sang dùng đòn hạt nhân. Cuối cùng, vũ khí hạt nhân gạt bỏ khí thế bừng bừng đã tạo đà cho một vài cuộc chiến. Vì nếu vũ khí hạt nhân được sử dụng, hiệu quả chiến tranh sẽ không thể khái toán, còn các hậu quả thảm khốc lại nhỡn tiền, tạo ra tác động cảnh tỉnh mạnh tới mức ngay cả những người cứng rắn như Stalin và Mao, từng điềm tĩnh chứng kiến cái chết của hàng triệu, hàng chục triệu đồng bào mình, cũng phải dè chừng, như bất cứ chính khách nào có dục vọng vừa phải, một khi chạm đến vấn đề hạt nhân.

Chiến tranh lạnh đã được tiến hành mà không cần giao chiến trực tiếp. Các cuộc chiến diễn ra ở Triều Tiên, Việt Nam, Afganistan… dưới các thấu kính loại khác sẽ hiển hiện với quy mô lớn hơn, vì có các bên thứ ba đan xen vào. Chiến tranh nóng, buộc nhân loại phải trả giá ghê gớm về người và của, (phần nào do cố đạt bằng được liên minh về chính trị), không thể xem là giải pháp cho chiến tranh lạnh. Các chiến dịch viễn chinh hay xung đột vũ trang trực tiếp giữa các bên can thiệp cũng thế. Còn sự can thiệp hay đánh thuê bởi các đồng minh của mỗi bên cùng lắm chỉ giải quyết được những vấn đề khu vực mà thôi.

Tuy nhiên, các sản phẩm quân sự đủ loại vẫn được chế tác trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, cứ thỉnh thoảng lại rộ lên. Bên yếu hơn thường cần cù hơn trong việc cải tiến, nâng cấp và đa dạng hóa các ứng dụng hạt nhân trong quân sự, vì thế họ thường bị chú ý và chỉ trích nhiều hơn. Vì vũ khí hạt nhân và phụ tùng rất đắt, những ai chống duy trì lực lượng hạt nhân luôn kêu ca rằng nó rất tốn kém mà quên rằng lực lượng chiến đấu không hạt nhân còn tiêu tốn hơn nhiều, chiếm tới bốn phần năm tổng số chi phí cho quân sự. Một số ý kiến chỉ trích tỏ ra có lý hơn khi cho rằng tăng cường vũ khí hạt nhân sẽ hoặc là vô ích, hoặc là nguy hiểm. Họ còn chỉ ra rằng những tính năng cụ thể nào của vũ khí hạt nhân sẽ làm mất đi sự răn đe đối với cả hai bên. Chẳng hạn các tên lửa đạn đạo đạt độ chính xác cao tới mức hủy diệt được hầm chứa tên lửa, nhưng vì phòng thủ chống tên lửa đạn đạo cũng có tính năng chính xác không kém trong việc ngăn chặn đòn trả đũa, nên việc đánh trước đòn hạt nhân trở nên được chú trọng hơn…

Một khi cuộc chạy đua hạt nhân tầm chiến lược có tác dụng ru ngủ cả hai bên, nó không còn là yếu tố quyết định nữa. Và cuộc chiến tranh lạnh đã được sốt sắng tiếp tục bằng các biện pháp khác như tuyên truyền và lật đổ, đặc biệt là ở châu Âu; hoặc phổ biến hơn, gây được hậu quả lớn hơn – là chạy đua kinh tế. Trong tuyên truyền và lật đổ, cả hai bên từng tạo lực lượng hùng hậu cho đến tận hồi kết, và đều đã dựa dẫm các đồng minh tự phát nhưng vô cùng ngoan cường trong hậu địch. Khu vực yếu kém nhất trong tiền đồn của khối Varsava chính là Ba Lan, một đối tác chưa bao giờ thực sự trung thành với Nga, bất chấp màu quân phục mà họ mang và lý tưởng mà họ nhiệt liệt tán thưởng. Về phần mình, Hoa Kỳ cũng phải đấu đá với trào lưu chống Mỹ xuất phát từ chủ nghĩa phản hiện đại (anti-modernism) được cổ súy bởi một số phần tử cực hữu, cũng như phái cực tả, cả cũ lẫn mới. Ngoài các môn đồ của chủ nghĩa cộng sản, Liên Xô từng thu nạp được những cổ động viên ở phương Tây trung thành với tinh thần chống Mỹ hơn là thân Xô, vì họ vẫn kịch liệt chống Mỹ cả khi Liên Xô không còn nữa.

Bây giờ mới rõ ra rằng, cho dù thời chiến tranh lạnh từng có những hy vọng ngắn ngủi hoặc những hồi còi báo động, cả hai phe đã không hề tạo dựng nổi bất cứ phương cách tuyên truyền hay lật đổ nào khả dĩ thay đổi được vạch biên giới ngăn cách đôi bên.

Vậy thì mọi sự quy về thi đua kinh tế. Nói thế không có nghĩa là coi nhẹ uy lực quân sự. Đúng ra, uy lực này đã được bố trí khấm khá ở mỗi bên, đến mức một sự ổn định đáng quý đã được duy trì, do mỗi bên đều ngán tiềm năng của bên kia. Đây được xem là một lợi lộc nữa được vũ khí hạt nhân ban cho, bởi chưng các lực lượng phi hạt nhân của cả đôi bên đều mang tính bất ổn, không dự báo được, và mất cân đối trầm trọng.

Nhiều nhà kinh tế cảm thấy có sự ngụy biện mà vẫn cố tin rằng, ít nhất cho tới cuối những năm 1960, cơ chế kế hoạch hóa tập trung kiểu Xô viết vẫn khá hiệu quả. Niềm tin này có ngọn nguồn của nó: bất chấp những khoản chi khổng lồ để hiện đại hóa quân sự ồ ạt và gấp gáp, cơ chế này vẫn hoàn thành được công cuộc xây dựng dân dụng vĩ đại tới mức thời đó, mỗi gia đình đều được phân căn hộ khép kín thay phòng ở trong những nhà tập thể nhớp nhúa; còn những năm 1970, đã tiến gần tới năng lực sản xuất đủ để bán cho mỗi gia đình một xe ôtô con, thậm chí hai chiếc.

Liên Xô không hề kém về năng lực sản xuất. Vào những năm 1980, sản lượng theo đầu người về điện của nước này cao hơn Ý, về thép cao hơn Mỹ, về phân bón cao hơn Nhật, về máy kéo cao hơn Tây Đức, về xi măng cao hơn Pháp. Đồng thời, mức sống Xô viết thấp ghê gớm so với Pháp, Ý, Nhật, Tây Đức, hay Hoa Kỳ. Các nhà thống kê từng cãi nhau về từng con số, tìm cách quy đổi chúng về dạng so sánh được. Nhưng thực ra các con số thống kê thật vô nghĩa, vì không thể đo lòng kiên trì, hay sự khéo léo, bằng một cân bơ hay một đôi giày. Sự tương phản ghê gớm giữa các con số hoành tráng về tổng sản phẩm với sự nghèo nàn trong đời sống thường ngày được đả thông là do tham vọng đắt giá về quân sự của Liên Xô. Rất nhiều sắt thép đã biến thành xe tăng, tàu chiến, còn xi măng thì biến thành các sở chỉ huy ngầm khổng lồ, thành vô số những đường băng và hầm chứa tên lửa v.v… Nhưng máy cày và phân bón mà sản lượng theo đầu người của Liên Xô đều vượt trội so với Đức, Nhật và Hoa Kỳ thì chẳng được tích sự gì sao?

Trên thực tế, bấy nhiêu máy kéo và phân bón đã không sản xuất ra đủ lúa mì đáp ứng nhu cầu của nhân dân Xô viết, trong khi đó Pháp và Mỹ lại xuất siêu đến mức ngũ cốc của họ tràn ngập thị trường thế giới. Theo những đánh giá mạnh dạn nhất, ngân sách quân sự ngốn mất khoảng 30% tổng sản phẩm quốc nội của Liên Xô; nhưng tỉ suất tiêu hao nguyên nhiên liệu đầu vào so với sản phẩm đầu ra của nền sản xuất này còn ảnh hưởng tới đời sống người dân nghiêm trọng hơn nhiều.

Một lập luận xuất hiện trước khi cơ chế lập kế hoạch tập trung của Liên Xô khởi sự, cho rằng các nhà lập kế hoạch trên trung ương khó mà chỉ đạo nên dùng nhiều thép, hay bê tông cốt thép thì sẽ lợi hơn cho một công trình cụ thể, lại càng không thể dự trù thật chính xác sản lượng của từng loại polime nên đạt là bao nhiêu trong khi có tới hàng trăm loại polime. Cũng thật khó dự kiến được loại máy vi tính nào, hay vặt vãnh hơn, mũ xanh hay giày nâu, sẽ hợp thị hiếu tiêu dùng. Tác giả bài này từng thấy một cửa hiệu ở Leningrad chất đầy giày màu xanh lục chẳng ai thèm mua. Chỉ có thực tiễn tăng hay rớt giá thị trường của từng mặt hàng mới cập nhật được tin chính xác cho nhà sản xuất, và cả người tiêu dùng. Một lý giải nữa là: nền kinh tế Xô viết không biết cách tự hủy hoại – tức là tái tạo, cung ứng nguồn bổ sung ổn định về lao động, vốn đầu tư và mặt bằng sản xuất được giải phóng trong quá trình sa sút, hay phá sản trực tiếp của các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Thiếu vắng cạnh tranh thông qua thị trường, các doanh nghiệp trì trệ, già nua cứ việc tồn tại vui tươi, còn các doanh nghiệp mới, làm ăn năng động và hiệu quả hơn thì không được nhả cho các nguồn nhân tài vật lực bị đóng băng. Vào những ngày cuối đời, Liên Xô vẫn tiếp tục sản xuất các loại ô tô cọc cạch đời 1950, 60 và 70 ở các nhà máy với trình độ tự động hóa lạc hậu hàng vài ba chục năm. Khả năng thanh lý tự giác là điều tối mật của chủ nghĩa tư bản mà KGB đã không phát hiện được.

Bất chấp hai khuyết tật bẩm sinh nói trên, chế độ Xô viết vẫn hào hùng với tư cách một nền công nghiệp chiến tranh sản xuất được vô khối súng ống và xe tăng tàu bò theo mệnh lệnh. Nhưng trong kiến thiết dân sự, hệ thống này đã ngày một hụt hẫng, từ chỗ è cổ lo không nổi nhu cầu ăn ở tối thiểu cho dân tới chỗ trì trệ, để rồi thực sự đình đốn vào cuối thập kỷ 1970. Bông Uzbek, một nguyên liệu phẩm chất cao có thể đem đổi ngoại tệ mạnh trên trường quốc tế, bị biến thành áo xống “môve gu” (2) tới mức ngay cả người Xô viết cũng chẳng muốn xài. Toàn bộ khâu quay tơ, dệt, nhuộm, cắt, may đã biến nguyên liệu quý giá này thành đám giẻ chỉ còn cách dùng làm phế liệu cho ngành giấy. Số phận hẩm hiu cũng đến với da, len, sợi tổng hợp, gỗ, nhựa, cũng như các nguyên liệu khác của nền công nghiệp nhẹ Xô viết. Về sắt thép và xi măng cũng vậy. Nhiều công trình vĩnh hằng trong tình trạng thi công dở dang vì tiến độ xây dựng quá chậm, khiến cho số xi măng được dự trù trước hàng năm bị hóa đá, còn các cuộn thép thì rỉ sét hết dưới mưa dập tuyết vùi.

Vào thập kỷ 1980, nông nghiệp Xô viết trở nên xa xỉ còn hơn cả nền quân sự. Trong khi quân đội Xô viết ít nhất cũng bảo quản nghiêm được tăng pháo của họ để dùng cho hàng chục năm, nhà nước Liên Xô và các nông trang tập thể đã cùng đánh hỏng cơ man là máy cày, máy kéo và gặt đập liên hợp có chất lượng gần như hàng hiệu Tây Âu, chỉ sau một năm sử dụng, vì việc bảo dưỡng bị xem nhẹ, xe cộ bị bỏ mặc ngoài trời giữa ngày đông giá. Các rơ moóc chở phân bón cũng phơi ngổn ngang giữa đồng, phân bón mất hết phẩm chất trước khi sử dụng.

Về cuối đời, cơ chế quản lý kiểu Xô viết trở nên phản tác dụng đến mức bọn ăn cắp của công và bọn phe phẩy gặt hái ghê gớm. Bông tơ từ mạng phân phối nhà nước bị bẻ ghi tuồn ra ngoài cho các tay thợ vườn, hay các xưởng may lậu chuyên nhái hàng ngoại biến thành các sản phẩm dễ tiêu thụ. Các hạng mục công trình xây dựng trường kỳ bị moi ruột trước khi vật liệu xây dựng kịp thoái hóa, rồi biến thành dạng nhà lầu hoặc datcha (nhà nghỉ nông thôn) nhờ thuê nhân công bất hợp pháp hoặc tự xây cất. Tình trạng tùy tiện sử dụng xe công là nguồn chính cấp xăng dầu cho các phi vụ “chuyển đổi mục đích sử dụng tài sản XHCN” bất hợp pháp, hoặc thuần túy dùng để chạy việc riêng.

Nhờ vào phân bón và công cụ xoáy được của nông trang mà các mảnh ruộng vườn phần trăm cho sản lượng bằng tổng sản lượng nông nghiệp của toàn Liên bang. Sự bất lương ngày càng đẻ số ra, dẫn đến xu thế chia nhỏ tài nguyên làm hệ thống kinh tế Xô viết hoạt động thêm khật khừ. Tuy nhiên, thủ phạm chính lật đổ chế độ Xô viết đâu phải là sự suy đồi về đạo đức: vào thời điểm khâm liệm Liên bang, hãy còn khối thứ khả dĩ để chụp giựt, chia chác. Chính nỗ lực điều trị chế độ đã vô tình đem lại những năm tháng cuối đời cho nó. Những gì xảy ra thời cải tổ đã minh chứng hùng hồn cho luận điểm của Marx, rằng tính tình, nhân cách, hoặc ý chí của lãnh tụ không thể tác động đến các biến đổi của hệ thống, và dù cho các lãnh tụ cải cách có đủ phẩm chất và quyền lực, họ vẫn phá sản hoàn toàn trong thực hiện chủ trương của mình. Trong khi tìm cách làm trong sạch hệ thống bằng cách kỳ cọ những cáu bẩn đã ken lại, các nhà cải tổ vô tình khám phá ra chúng chính là chất mỡ bôi trơn cho sự hoạt động. Chất này còn biến đổi muôn hình vạn trạng, thành chất keo kết dính tham ô tập thể, hay thành thuốc an thần: hàng hóa dồi dào, giá cả phải chăng. Rượu vodka chẳng hạn, giá rất bình dân. Nhân tiện, đối với rượu, các nhà cải tổ từng có một cách tiếp cận rất Stalinist: thay vì tăng dần giá rượu để đánh sụt cầu tiêu dùng, hoặc triển khai các chiến dịch tuyên truyền chống nạn say xỉn, người ta đã dùng mệnh lệnh hành chính đột ngột khoá van các nhà máy rượu trên toàn Liên bang. Hệ quả của giải pháp cộc lốc này là sự tăng trưởng tệ nạn phe phẩy và nấu rượu lậu, làm cuốc lủi xuất hiện thay cho vodka. Tỉ lệ say xỉn được bảo đảm như cũ, nhưng tai ách do ngộ độc cồn và kỹ thuật chưng cất không đảm bảo vệ sinh thì tăng lên. Nếu “các cụ” ngẩn ngẩn ngơ ngơ kia còn tiếp tục lãnh đạo Liên Xô thì cho tới nay siêu quốc gia này hẳn vẫn cùng ta chung sống, có điều nó sẽ cứ tiếp tục lụ khụ, hom hem, chẳng khác gì trò hề trơ trẽn hiện vẫn trêu ngươi thiên hạ năm này qua năm khác ở Saudi Arabia. Còn ở Liên Xô, ngay sau cú mở màn ngoạn mục vở cải lương của gánh hát thiên tài đầu voi đuôi chuột, toàn sân khấu chính trị đổ cái rụp.

Ngược lại, nếu những hứa hẹn của chế độ kế hoạch hóa tập trung biến thành hiện thực (một giả thuyết hão huyền ngay cả trên lý thuyết), mang lại một sự phồn vinh mọi mặt mà nhân loại chưa từng biết, Liên Xô sẽ biến ngay thành miền đất hứa, bất chấp cả bàn tay sắt KGB, lẫn mọi nỗi khổ nhục phải chịu đựng nền độc tài tương tự như cỗ máy áp bức hiện hành ở Saudi Arabia.

Vậy là cuộc thi thố giữa hệ thống kinh tế do thị trường điều tiết và hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung chính là hồi kết của chiến tranh lạnh. Trong cuộc chơi này đã không hề có bàn thắng của các nhà ngoại giao hay các chiến binh, lại càng không có công tích của các gián điệp. Chính các thể chế dân chủ tư sản, vận hành trên những người dân cụ thể của xã hội tư bản để phục vụ cho chính họ, đã tạo ra kết cục cho cuộc chiến tranh lạnh.

LÊ ĐỖ HUY (lược dịch) Chú thích:

Edward Luttwak, “We Managed” (Chúng ta đã xoay xở) đăng trong Times Literary Supplement, tháng 3-2006. Tác giả là cán sự đầu ngành của Viện Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế của chính phủ Mỹ, đã có nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về quan hệ quốc tế.

Mauvais gout: phản thị hiếu.

Phân Biệt Mã Số Bảo Hiểm Xã Hội &Amp; Số Sổ Bảo Hiểm Xã Hội Mới Nhất

Mã số bảo hiểm xã hội và số sổ bảo hiểm xã hội có giống nhau hay không là thắc mắc mà nhiều người lao động đặt ra khi tìm hiểu về sổ BHXH. Để giải đáp về vấn đề này, eBH xin gửi đến người lao động bài viết hướng dẫn chi tiết.

I. Mã số bảo hiểm xã hội và số sổ bảo hiểm xã hội

Căn cứ theo Công văn 3340/BHXH-ST năm 2017 về việc cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế theo mã số bảo hiểm xã hội do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành, quy định chi tiết về mã số BHXH và số sổ BHXH như sau:

Ví dụ: bìa và tờ rời sổ BHXH trước đây in “Số sổ: 0118000001”, nay được in là “Mã số: 0118000001”

Như vậy, theo mẫu sổ BHXH mới sẽ thay thế cụm từ “Số sổ:” in trên bìa và tờ rời của sổ BHXH bằng cụm từ “Mã số:”. Về bản chất thì Số sổ BHXH và Mã số BHXH là như nhau.

Như đã nói ở trên cụm từ “Số sổ” Bảo hiểm xã hội l được thay bằng “Mã số” và mã số BHXH này là mã định danh duy nhất được cấp cho một cá nhân ghi nhận quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN và các chế độ, chính sách được hưởng trọn đời.

1. Nguyên tắc cấp Mã số BHXH

2. Cách kiểm tra số sổ bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm Xã Hội (BHXH) Việt Nam có thay đổi cách hướng dẫn cách tra số bảo hiểm xã hội. Và để tra cứu mã số BHXH người dùng thực hiện theo các bước sau đây:

Bước 1: Truy cập vào Cổng thông tin điện tử BHXH Việt Nam

Người lao động truy cập vào Cổng thông tin điện tử BHXH Việt Nam TẠI ĐÂY và tích chọn Tra cứu trực tuyến:

Người lao động tích chọn ‘Tra cứu trực tuyến’ tại Cổng thông tin điện tử BHXH Việt Nam.

Sau đó, người lao động tích chọn “Tra cứu mã số BHXH”.

Bước 2: Thực hiện tra cứu mã số BHXH

Người lao động điền đầy đủ các thông tin của mình vào các trường có (*) như sau:

Người lao động điền đầy đủ thông tin để tra cứu BHXH.

Bước 3: Kết quả trả về

Người lao động điền đủ 3 thông tin trên thì người lao động nhấn “Tra cứu” khi đó cơ quan BHXH sẽ trả về cho người lao động kết quả về các thông tin sau: