Top 2 # Vì Sao Zimbabwe Lạm Phát Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Imf: Zimbabwe Có Nguy Cơ Quay Lại Siêu Lạm Phát

Đồng tiền của Zimbabwe đã mất giá mạnh, từ tỷ giá 1 USD đổi 1 đôla Zimbabwe hồi tháng 2 xuống 1 USD đổi 16,5 đôla Zimbabwe (tính đến ngày 23/9), theo đó mức lạm phát tính theo năm tong tháng 8 là gần 300% và là mức cao nhất thế giới.

Lạm phát tính theo năm ở Zimbabwe được đo ở mức 175,66% trong tháng 6, so với mức 97,85% trong tháng 5. Trong một tuyên bố được đưa ra ngày 26/9, Tiến sĩ Gene Leon, Trưởng phái đoàn IMF tại Zimbabwe, cho biết quốc gia châu Phi này đang trải qua điều mà ông mô tả là những khó khăn kinh tế nghiêm trọng.

IMF cho biết, đồng tiền của Zimbabwe đã mất giá mạnh, từ mức 1 USD đổi 1 đôla Zimbabwe hồi tháng 2 xuống 1 USD đổi 16,5 đôla Zimbabwe (tính đến ngày 23/9), điều đẩy lạm phát (theo năm) trong tháng 8 lên gần 300%.

Bộ trưởng Tài chính của Zimbabwe, ông Mthuli Ncube. Nguồn ảnh: weforum

Bộ trưởng Tài chính của Zimbabwe, ông Mthuli Ncube, đã cấm công bố số liệu lạm phát hàng năm vào tháng 7. Cơ quan thống kê quốc gia Zimbabwe sẽ biên soạn dữ liệu giá mới và công bố vào tháng 2/2020, ông Ncube cho biết.

Đây không phải là lần đầu tiên Zimbabwe trải qua lạm phát cao. Số liệu của chính phủ cho thấy tỷ lệ lạm phát cao nhất của Zimbabwe là 79,6 tỷ % theo tháng và 89,7 sextillion (một triệu lũy thừa 6)% theo năm vào giữa tháng 11/2009. Tình trạng lạm phát này dừng lại khi nước này từ bỏ đồng nội tệ năm 2010, và sử dụng đồng USD.

Lạm phát càng ngày càng tăng

Trong khi Cơ quan thống kê quốc gia Zimbabwe không xác nhận ước tính lạm phát từ IMF, nhiều người dân Zimbabwe đang vô cùng khó khăn khi giá trị đồng đô la Zimbabwe đang ngày càng giảm.

Ông Chenjerai Varugu, một nhà cung cấp bán bộ sạc điện thoại di động và cáp USB trên đường phố Harare, nói rằng lạm phát cao đã khiến cuộc sống của ông trở nên khó khăn hơn.

“Cuộc sống của tôi bây giờ rất khó khăn” ông nói với Al Jazeera. “Bây giờ, tôi đang phải vật lộn để mua thức ăn. Giá một ổ bánh mì bây giờ là 10 đô la Zimbabwe. Mọi thứ đã tăng lên”. Trước kia, khi đồng đô la Zimbabwe được neo với USD, một ổ bánh mì chỉ có giá 1 USD.

“Đồng nội tệ suy yếu cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của tôi vì các giao dịch đa phần là bằng USD. Giờ thì USD lại tăng giá mạnh so với đồng nội tệ”, ông Varugu nói. Chi phí kinh doanh tăng khiến ông phải tăng giá bán, nhưng ông thừa nhận đây không phải là một giải pháp bền vững. “Khách sẽ không mua nhiều khi bạn tăng giá.”

Tiến sĩ Gene Leon nhấn mạnh quốc gia châu Phi này sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn kinh tế trong những tháng còn lại của năm 2019, và thậm chí tình hình sẽ còn trầm trọng hơn do tác động của thời tiết khắc nghiệt.

“Các điều kiện xã hội đang xuống cấp, với hơn một nửa dân số của Zimbabwe (khoảng 8,5 triệu người) sẽ rơi vào tình trạng thiếu thực phẩm trong giai đoạn 2019 – 2020. Niềm tin suy yếu, sự không chắc chắn về chính sách, sự méo mó của thị trường ngoại hối và lập trường nới lỏng tiền tệ gần đây đã tăng áp lực lên tỷ giá hối đoái”, ông Gene Leon nói thêm.

Các điều kiện xã hội đang xuống cấp, với hơn một nửa dân số của Zimbabwe (khoảng 8,5 triệu người) sẽ rơi vào tình trạng thiếu thực phẩm trong giai đoạn 2019 – 2020. Nguồn ảnh: CBC

Tệ hơn Venezuela

Giống như Zimbabwe, năm 2018, chính phủ Venezuela đã từng chặn các bài viết về lạm phát. Năm nay, lạm phát hàng năm ở Venezuela, quốc gia có lạm phát cao thứ hai thế giới, được đo ở mức 135,3% trong tháng 8. Trên cơ sở hàng tháng, giá tiêu dùng ở Venezuela đã tăng 65,2% so với tháng trước đó.

Trong khi lạm phát ở Venezuela đã giảm tốc trong những tháng gần đây vì các ngân hàng buộc phải tăng tỷ lệ dự trữ. Dù vậy, việc tăng lãi suất cũng không giúp lạm phát của Zimbabwe giảm xuống.

► Từng giàu có nhất châu Phi, vì sao Zimbabwe rơi vào đói khổ?

► Đông và Nam Phi sẽ dự trữ đồng Nhân dân tệ

Nguồn AI Jazeera

Người Dân Zimbabwe Thời Siêu Lạm Phát: 100 Tỷ Đô Chỉ Mua Được 3 Quả Trứng

Trong năm 2008, tỷ lệ lạm phát hàng tháng ở Zimbabwe đạt 3,5 triệu %. Một quả trứng có giá 50 tỷ đô la Zimbabwe. Một ổ bánh mì bằng giá của khoảng 12 chiếc xe hơi mới 10 năm trước đó.

Tại cửa hàng địa phương, 12 triệu đô la Zimbabwe (50 xu Mỹ) chỉ mua được một bó rau diếp héo. 10 triệu đô chưa chắc mua được ổ bánh mì vì thực phẩm khan hiếm. Mức giá này cũng vượt ngoài tầm với của hầu hết người Zimbabwe.

Lạm phát đã đạt đỉnh điểm 500 tỷ % trước khi đồng nội tệ bị hủy bỏ để thay thế bằng đồng đô la Mỹ. Nền kinh tế Zimbabwe đến nay vẫn chưa thể phục hồi.

Cơn ác mộng lạm phát đeo bám người dân Zimbabwe dưới thời nhà lãnh đạo lâu năm Robert Mugabe giờ đây đã quay lại ám ảnh chính quyền của người kế nhiệm Emmerson Mnangagwa.

Vào tháng Một năm nay, chính quyền của Tổng thống Mnangagwa quyết định tăng mạnh giá xăng (từ 1,24 USD lên 3,31 USD/lít) và dầu diesel (từ 1,36 USD lên 3,11 USD/lít) kể từ ngày 13/1 do tình trạng nguồn cung nhiên liệu thiếu hụt nghiêm trọng, được đánh giá là tồi tệ nhất trong một thập kỷ qua, vì thiếu ngoại tệ.

Các cuộc biểu tình phản đối quyết định này của Chính phủ Zimbabwe đã bùng phát thành bạo loạn đường phố, gây tổn thất về người và tài sản.

Tình hình càng trở nên trầm trọng khi ngân hàng trung ương nước này công bố chính sách tiền tệ mới vào tháng 2/2019, giá cả hàng hóa và dịch vụ đã tăng vọt với tốc độ lạm phát chưa từng thấy trong một thập kỷ qua.

Việc thành lập thị trường hối đoái liên ngân hàng đã khiến sự chênh lệch giữa tỷ giá hối đoái trên thị trường chính thức và trên “chợ đen” đã nhanh chóng nới rộng, khiến giá cả tăng đến 300%. Giá một ổ bánh mì tăng từ 1,8 USD lên 3,5 USD còn giá một hộp bơ tăng từ 8,5 USD lên 17 USD.

Cuộc khủng hoảng giá đang gợi lại những ký ức của một thập kỷ trước khi siêu lạm phát lên đến đỉnh điểm 500 tỷ %, làm sụp đổ đồng đô la Zimbabwe.

Việc khan hiếm nguyên liệu thô đã gây ra những khó khăn lớn cho ngành sản xuất. Nhà kinh tế học Gift Mugano cho biết năm ngoái, Zimbabwe đã chi 2,3 tỷ USD để nhập khẩu hàng hóa và thực phẩm như trái cây, rau quả, đậu tương, lúa mỳ… và cả các sản phẩm thiết yếu như kem đánh răng và dược phẩm.

Điều này cho thấy nước này không sản xuất ngay cả những sản phẩm cơ bản phục vụ nhu cầu nội địa. Cùng quan điểm tương tự, người đứng đầu Liên đoàn các ngành công nghiệp của Zimbabwe, Sifelani Jabangwe, cho rằng Zimbabwe cần giảm nhập khẩu và thúc đẩy sản xuất trong nước.

Từng được coi là vựa lúa mỳ thịnh vượng của châu Phi, Zimbabwe đang phải vật lộn với hạn hán, tỷ lệ thất nghiệp cao (hơn 90%), tình trạng thiếu hụt các mặt hàng cơ bản và khủng hoảng ngoại hối.

Nhiều công ty nội địa buộc phải chuyển ra nước ngoài hoặc đóng cửa các cửa hàng, trong khi những công ty vẫn hoạt động hiện nay thì cầm cự với năng suất thấp do thiếu ngoại tệ để nhập nguyên liệu thô hoặc nâng cấp máy móc.

Lạm Phát Là Gì? Nguyên Nhân, Tác Động Và Cách Kiểm Soát Lạm Phát

Trong nền kinh tế, khi xảy ra lạm phát làm cho khu vực đó có một cuộc sống rất khó khăn. Và điển hình cho việc đó là đất nước Venezuela, tại đó đang bị siêu lạm phát lên tới 1.000.000%.

Khi mua một đồ dùng cơ bản như bánh mì, kem đánh răng thì phải mang cả bao tải tiền đi mới đủ đề mua chúng.

Điều đó có thể thấy đây là một vấn đề nan giải đối với nền kinh tế nhiều quốc gia trên thế giới. Nhưng không phải ai cũng hiểu lạm phát là gì? Cách tính toán, đo lường như thế nào?

Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo một khoảng thời gian nhất định, làm cho đồng tiền bị mất giá trị hơn so với trước.

Khi mức giá chung tăng cao, vẫn với một số tiền nhất định thì sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây. Do đó nó còn phản ánh sự suy giảm sức mua của đồng tiền.

Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát được hiểu là sự giảm giá trị đồng tiền của quốc gia này so với đồng loại của quốc gia khác.

Đây là một hiện tượng kinh tế tự nhiên xảy ra ở tất cả nền kinh tế dùng tiền mặt để làm trung gian thanh toán. Đơn vị tính của là phần trăm (%). Hiện nay, lạm phát có 3 mức độ gồm:

Tự nhiên: 0 – dưới 10%

Phi mã: 10% đến dưới 1000%

Siêu lạm phát: trên 1000%

Trên thực tế, các quốc gia chỉ kỳ vọng chỉ xảy ra khoảng 5% trở xuống là con số lý tưởng.

Thuật ngữ “lạm phát” ban đầu được sử dụng để chỉ sự gia tăng số lượng tiền trong lưu thông. Hiện nay một số nhà kinh tế vẫn sử dụng từ này theo cách này.

Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế hiện nay đều sử dụng thuật ngữ “lạm phát” để chỉ một sự gia tăng trong mức giá.

Giảm phát– là sự sụt giảm trong mức giá chung.

Thiểu phát– là làm giảm tỷ lệ.

Siêu lạm phát– là một vòng xoáy ngoài tầm kiểm soát.

Tình trạng lạm phát– là một sự kết hợp của nhiều vấn đề. Tăng trưởng kinh tế chậm và thất nghiệp cao.

Tái lạm phát– là một sự nỗ lực nâng cao mức giá chung để chống lại áp lực giảm phát.

Nguyên nhân gây ra lạm phát

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó “lạm phát do cầu kéo” và “do chi phí đẩy” được coi là hai nguyên nhân chính.

Cân đối thu chi là việc làm cần thiết để tránh khỏi khi xảy ra. Chi tiết các nguyên nhân như sau”

Do cầu kéo

Khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó mà leo thang. Dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường.

Lạm phát do sự tăng lên về cầu (nhu cầu tiêu dùng của thị trường tăng) được gọi là “lạm phát do cầu kéo”. VD: như giá xăng tăng lên, kéo theo rất nhiều sản phẩm khác tăng theo như giá cước taxi, giá hoa quả…

Do chi phí đẩy

Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các doanh nghiệp chắc chắn cũng tăng lên.

Vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận. Như thế là mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng sẽ tăng.

Với ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền công “danh nghĩa” cho người lao động. Nhưng cũng có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả. Các doanh nghiệp cũng theo xu thế đó buộc phải tăng tiền công cho người lao động.

Nhưng vì những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả. Nên khi phải tăng tiền công cho người lao động, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá thành sản phẩm. Việc này để đảm bảo mức lợi nhuận và phát sinh lạm phát.

Khi thị trường đang giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó. Sẽ dẫn đến lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên. Và nếu thị trường có người cung cấp độc quyền về giá cả có tính chất cứng nhắc (chỉ có thể tăng mà không thể giảm).

Như giá điện ở Việt Nam), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.

Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trường tiêu thụ lượng hàng nhiều hơn cung cấp).

Khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm (hút hàng trong nước) khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu. Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát.

Do nhập khẩu

Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cả trên thế giới tăng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên. Khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát.

Lạm phát tiền tệ

Khi lượng cung tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ.

Hay do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát.

Phương pháp đo lường phổ biến

Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế, thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước,…

Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một chỉ số giá cả đo mức giá cả trung bình, là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này.

Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất cho chỉ số lạm phát. Giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số. Cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện.

Hiện nay, thước đo lạm phát phổ biến nhất chính là chỉ số giá tiêu dùng CPI (consumer price index). Đây là chỉ số đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hóa và dịch vụ. Bao gồm thực phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế…, được mua bởi “người tiêu dùng thông thường”.

Ví dụ: Vào tháng 1 năm 2016, chỉ số giá tiêu dùng CPI của Mỹ là 202,416 USD; và vào tháng 1 năm 2017 thì chỉ sổ CPI là là 211,080 USD. Sử dụng công thức để tính toán tỷ lệ phần trăm lạm phát hàng năm bằng chỉ số CPI trong suốt năm 2017 là:

((211,080 – 202,416)/ 202,416) x 100% = 4.28%

Từ đó ta ra kết quả là tỷ lệ lạm phát đối với CPI trong khoảng thời gian một năm này là 4,28%. Nghĩa là mức giá chung cho người tiêu dùng điển hình của Mỹ trong 2017 đã tăng khoảng hơn 4% so với năm 2016.

Tác động đến nền kinh tế

Ảnh hưởng đến các nền kinh tế theo nhiều cách tích cực và tiêu cực khác nhau. Trong đó:

– Tác động tiêu cực của lạm phát là tạo ra sự gia tăng chi phí cơ hội của việc tích trữ tiền. Sự không chắc chắn về tình hình lạm phát trong tương lai có thể ngăn cản quyết định đầu tư và tiết kiệm.

Nếu lạm phát tăng trưởng đủ nhanh, sự khan hiếm của hàng hóa sẽ khiến người tiêu dùng bắt đầu lo lắng về việc giá cả sẽ tăng cao trong thời gian tới.

– Tác động tích cực trong một vài trường hợp có thể làm giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp dựa trên giá cả cứng nhắc.

Nhưng tác động tích cực không nhiều mà chủ yếu là tác động tiêu cực. Vì vậy mà các chính phủ của các nước luôn tìm cách để khắc phục lạm phát ở mức độ cho phép.

Cách kiểm soát

Có nhiều phương pháp và chính sách đã và đang được sử dụng để kiểm soát lạm phát. Bao gồm:

– Giảm lượng tiền giấy lưu thông để giảm bớt lượng nhà rỗi dư thừa bằng cách:

+ phát hành trái phiếu

+ tăng lãi suất tiền gửi

+ giảm sức ép lên giá cả, hàng hóa dịch vụ,..

– Thi hành chính sách tài chính thắt chặt như:

+ tạm hoãn các khoản chưa chưa cần thiết.

+ cân đối lại ngân sách Nhà nước

+ cắt giảm chi tiêu

– Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng để cân đối với số lượng tiền có trong lưu thông

+ khuyến khích tự do mậu dịch

+ giảm thuế quan

+ các biện pháp hàng hóa từ ngoài vào

– Đi vay viện trợ nước ngoài – Cải cách tiền tệ

Có hay không đồng tiền giảm lạm phát?

Khi mà hầu hết các quốc gia đều tìm cách để đồng tiền của quốc gia không bị lạm phát. Nhưng có một đồng tiền được cho rằng là đồng tiền giảm lạm phát.

Đó chính là đồng tiền ảo Bitcoin!

Điều này cũng dễ hiểu bởi vì nó có các tính chất của nó như:

Nguồn cung cố định

Cơ chế giảm nguồn cung

Chính sự đặt biệt này làm cho nó trở thành đồng tiền đầu tiên giảm lạm phát.

Lời kết

Blogtienao.com tổng hợp

Lạm Phát Là Gì? Nguyên Nhân Gây Ra Lạm Phát Và Tác Động Đến Ktxh

Cùng với thất nghiệp, lạm phát là một trong những vấn đề lớn nhất của nền kinh tế vĩ mô. trong bài này chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết về lạm phát, bao gồm các khái niệm, đo lường, tìm hiểu nguyên nhân và tác động của lạm phát với kinh tế xã hội.

1. Lạm phát là gì?

– Lạm phát (inflation) được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung.

– Lạm phát (inflation) cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua trong nước của đồng nội tệ.

Trường hợp ngược lại của lạm phát là giảm phát (deflation), diễn ra khi mức giá chung liên tục giảm. Khi đó, sức mua trong nước của đồng nội tệ liên tục tăng.

Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ. Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác. Theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế sử dụng loại tiền tệ đó. Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự “ổn định giá cả”.

2. Phương pháp đo lường

3. Phân loại lạm phát

3.1 Theo mức độ

Lạm phát vừa phải (moderate inflation): giá cả tăng chậm, có thể dự đoán được, ở mức một con số một năm

Lạm phát vừa phải không gây ra những tác động nhiều với nền kinh tế, nó còn có khả năng khích thích sản xuất vì giá tăng nhẹ làm tăng lợi nhuận sẽ khuyến khích các DN tăng sản lượng

Lạm phát phi mã (galloping inflation): giá cả tăng nhanh, ở mức hai hoặc ba con số một năm. Lạm phát này nếu kéo dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng, triệt tiêu các động lực phát triển kinh tế.

Siêu lạm phát (hyperinflation): giá cả tăng rất nhanh, mức lạm phát từ 50% một tháng trở lên (khoảng trên 13000% một năm). Siêu lạm phát phá hủy nền kinh tế, gây bất ổn tình hình an ninh – chính trị ở trong nước.

Theo tiêu chuẩn kế toán quốc tế, có bốn tiêu chí để xác định siêu lạm phát

Người dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền;

Giá cả hàng hóa trong nước không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ ổn định;

Các khoản tín dụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thời gian tín dụng là rất ngắn;

Lãi suất, tiền công và giá cả được gắn với chỉ số giá và tỷ lệ lạm phát cộng dồn trong ba năm lên tới 100 phần trăm.

2 Cuộc Siêu lạm phát trong lịch sử thế giới hiện đại:

– Đức: Trong thời gian 9 năm (1914 – 1923), mức lạm phát trung bình mỗi năm là 10 lần (900%) và kết quả là đến cuối năm 1923 thì giá cả đã tăng lên 1 tỉ lần

– Zimbabwe: lạm phát đạt tới hai triệu phần trăm, đồng nghĩa với việc giá sinh hoạt tăng 20 ngàn lần mỗi năm. Với mức lạm phát như vậy, vào tháng 7 năm 2010, một tờ 100 tỉ dollar Zimbabwe chỉ mua nổi… 3 quả trứng gà chưa luộc.

3.2 Phân loại theo tính chất lạm phát

– Lạm phát dự kiến (expected inflation): do yếu tố tâm lý, dự đóan của các câ nhân về tốc độ tăng giá tương lai, vào lạm phát quá khứ. ảnh hưởng không lớn và chỉ tác động điều chỉnh chi phí sản xuất.

– Lạm phát không dự kiến (unexpected inflation): do các cú sốc từ bên ngoài và các tác nhân trong nền kinh tế không dự kiến được và bị bất ngờ.

4. Các nguyên nhân gây nên lạm phát

4.1 Lạm phát do cầu kéo (demand pull inflation)

Các hãng và hộ gia đình lạc quan thái quá vào nền kinh tế

Chính phủ tăng chi tiêu bất thường

Xuất khẩu đột nhiên tăng mạnh

4.2 Lạm phát do chi phí đẩy (cost push inflation)

Giá nguyên vật liệu đầu vào (xăng dầu, điện, nước) tăng mạnh

Giá nhân công tăng

Chính phủ tăng thuế đánh vào sản xuất (thuế gián thu)

Thiên tai chiến tranh, dịch bệnh

4.3 Lạm phát kéo dài: lạm phát ỳ (inertial inflation)

Là lạm phát có mức giá cả chung tăng lên theo tỷ lệ khá ổn định và tương đối thấp trong một thời gian dài

Đây là loại lạm phát hoàn toàn dự tính được và được mọi người tính đến trong các hợp đồng về lao động, cho thuê, cho vay… (lạm phát kỳ vọng)

Bản chất là sự kết hợp giữa lạm phát cầu kéo và chi phí đẩy. Lúc này nền kinh tế khá ổn định, các tác nhân trong nền kinh tế cho rằng sẽ có lạm phát ở tỷ lệ tương tự và điều chỉnh lãi suất danh nghĩa, tiền lương danh nghĩa, giá cả trong các hợp đồng kinh tế, các khoản chi tiêu ngân sách…theo tỷ lệ lạm phát các năm trước đó khiến cho giá cả thực sự tăng lên theo dự đoán của mọi người.

Ngoài ra còn có các dạng lạm phát khác như

Lạm phát nhập khẩu (nguồn gốc: giá cả nguyên vật liệu, hàng hóa nhập khẩu ít có khả năng thay thế tăng cao – lạm phát chi phí đẩy)

Lạm phát cơ cấu (nguồn gốc: sản xuất kém hiệu quả – lạm phát chi phí đẩy)

Lạm phát tiền tệ (nguồn gốc: chi tiêu chính phủ gia tăng được bù đắp bằng cách in tiền – lạm phát cầu kéo)

4.4 Tiền tệ và lạm phát

Milton Friedman: “Lạm phát ở đâu và bao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ….và nó chỉ có thể xuất hiện một khi cung tiền tăng nhanh hơn sản lượng”

Lý thuyết số lượng tiền tệ:

M*V = P*Y hay P = (M*V)/Y

M là lượng cung tiền trong nền kinh tế

V là tốc độ chu chuyển của tiền

P là mức giá cả chung

Y là sản lượng của nền kinh tế

V có tính chất ổn định nên:

Lạm phát xảy ra (P tăng) khi tốc độ tăng M nhiều hơn tốc độ tăng Y

Giảm phát xảy ra (P giảm) khi tốc độ tăng M ít hơn tốc độ tăng Y

Giá cả không đổi (P không đổi) khi tốc độ tăng M bằng với tốc độ tăng Y

Tuy nhiên cũng có trường hơp V thay đổi theo chu kỳ kinh doanh (V cao khi nền kinh tế mở rộng, V thấp khi nền kinh tế suy thoái)

Chính sách tiền tệ (CSTT) chỉ được sử dụng để ổn định mức giá với lập luận M tăng/giảm nhưng V ổn định và Y do cung quyết định thì P sẽ tăng/giảm (giá cả linh hoạt)

→ AS thẳng đứng/Nền kinh tế điều chỉnh rất nhanh về Y* do giá cả linh hoạt→Chính sách chính phủ ít có cơ hội thành công khi điều tiết nền kinh tế trong ngắn hạn

Theo Keynes: CSTK, CSTT có thể có hiệu quả vì V không ổn định theo chu kỳ kinh tế, giá cả có tính cứng nhắc trong ngắn hạn. CSTT chỉ mất hiệu quả khi gặp bẫy thanh khoản

→ Chính sách chính phủ rất có tác dụng khi nền kinh tế gặp suy thoái/phát triển nóng

Lạm phát cầu kéo và lạm phát chi phí đẩy dưới góc nhìn của lý thuyết số lượng tiền tệ

Lạm phát cầu kéo trong dài hạn: nhân tố có thể thúc đẩy AD dịch chuyển sang phải trong dài hạn (nhiều năm) G tăng

5. Những tác động của Lạm Phát tới kinh tế xã hội

5.1 Đối với lạm phát dự tính được

Thuế đúc tiền (seigniorage), thuế lạm phát (inflation tax)

Chi phí mòn giầy (shoeleather cost)

Chi phí thực đơn (menu cost)

Phân bổ sai nguồn lực (resource misallocation)

Biến dạng nghĩa vụ nộp thuế thu nhập (inflation induced tax distortion)

Nhầm lẫn và bất tiện (confusion and inconvenience)

5.2 Đối với lạm phát không dự tính được

Cũng gây nên các tổn thất xã hội giống như lạm phát dự tính được (ở mức độ lớn hơn), ngoài ra còn gây thêm một tổn thất nữa: Lạm phát bất ngờ phân phối lại thu nhập và của cải giữa các thành viên trong xã hội không theo nỗ lực, cống hiến, và nhu cầu của họ

+ NếΠ thực tế< Π dự kiến:người cho vay, công nhân, người đóng thuế lợi

6. Các biện pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam

Hạn chế thâm hụt ngân sách: tăng T, giảm G, huy động thêm nguồn vốn kv tư nhân

Chống tham nhũng toàn diện

Nâng cao khả năng sản xuất của nền kinh tế tránh nhập khẩu lạm phát

Vận động người Việt Nam dùng hàng Việt Nam tránh dòng xoáy đô tăng, lạm phát tăng

7. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp

Đường cong Phillips biểu diễn mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp: Luôn phải đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp

Đường Phillips thoải tại mức thất nghiệp cao, và dốc tại mức thất nghiệp thấp (liên hệ với hình dáng đường SRAS)

Đường Phillips ngắn hạn (Short-runPhillipscurve-SRPC) dịch chuyển khi đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển

+ SRAS dịch chuyển sang trái thì SRPC dịch chuyển sang phải (sự đánh đổi ít thuận lợi hơn)

+ SRAS dịch chuyển sang phải thì SRPC dịch chuyển sang trái (sự đánh đổi thuận lợi hơn)

Đường Phillips dài hạn dịch chuyển khi tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên thay đổi

+) tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên giảm: LRPC dịch chuyển sang trái

+) tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên tăng: LRPC dịch chuyển sang phải

Vào những năm 1960, Friedman và Phellps đã đưa ra kết luận rằng trong dài hạn lạm phát và thất nghiệp không có quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau. Do đó đường Philips trong dài hạn thẳng đứng tại mức thất nghiệp tự nhiên.

Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa (Tác động và AD) có thể có hiệu quả trong ngắn hạn nhưng không có hiệu quả trong dài hạn.

8. Tổng kết thuật ngữ quan trọng về lạm phát

Lạm phát (inflation) giảm phát (deflation)

Lạm phát vừa phải (moderate inflation), lạm phát phi mã (galloping inflation), siêu lạm phát (hyperinflation)

Lạm phát cầu kéo (demand pull inflation), lạm phát chi phí đẩy (cost push inflation), lạm phát ỳ (inertial inflation)

Chi phí thực đơn (menu cost), chi phí mòn giày (shoeleather cost)

Chống lạm phát (disinflation)

Đường Phillips (phillips curve)

Sách và giáo trình kinh tế vĩ mô các trường Đại học.