Top 8 # Xác Định Độ Chặt Bằng Phương Pháp Rót Cát Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Tiêu Chuẩn Ngành 22Tcn 346:2006 Về Quy Trình Thí Nghiệm Xác Định Độ Chặt Nền, Móng Đường Bằng Phễu Rót Cát Do Bộ Giao Thông Vận Tải Ban Hành

QUY TRÌNH THÍ NGHIỆM XÁC ĐỊNH ĐỘ CHẶT NỀN, MÓNG ĐƯỜNG BẰNG PHỄU RÓT CÁT

1.1 Quy trình này quy định trình tự thí nghiệm xác định khối lượng thể tích khô của lớp vật liệu (đất, đất gia cố, đá gia cố, cấp phối đá dăm, cấp phối thiên nhiên…) tại hiện trường bằng phễu rót cát làm cơ sở xác định hệ số đầm chặt K của lớp nền, móng đường.

1.2 Hệ số đầm chặt K được xác định trên cơ sở khối lượng thể tích khô xác định theo quy trình này và khối lượng thể tích khô lớn nhất của mẫu vật liệu cùng loại xác định theo “Quy trình đầm nén đất, đá dăm trong phòng thí nghiệm” 22 TCN 333-06. Trường hợp lớp vật liệu thí nghiệm có chứa hạt quá cỡ, việc xác định hệ số đầm chặt K sẽ được tiến hành theo hướng dẫn trong Phụ lục B của quy trình 22 TCN 333-06.

1.3 Quy trình này chỉ áp dụng cho những loại vật liệu có không quá 50% lượng hạt nằm trên sàng 19,0 mm.

1.4 Quy trình này không áp dụng trong những trường hợp sau đây:

Khi thí nghiệm phát hiện có nước chảy vào hố;

Thành hố đào bị biến dạng hoặc sập trong quá trình đào hố.

1.5 Các thuật ngữ, định nghĩa, ký hiệu trong quy trình này tuân theo các quy định của quy trình 22 TCN 333-06.

2.1. Tại vị trí thí nghiệm, tiến hành đào một cái hố vào lớp vật liệu có đường kính và chiều sâu quy định (Khoản 5.3). Lấy toàn bộ vật liệu ở hố đào, tiến hành xác định khối lượng tự nhiên và độ ẩm của vật liệu.

2.2. Dùng phễu rót cát đổ một lượng cát chuẩn có khối lượng thể tích đã xác định trước vào trong hố đào, tính thể tích của hố đào.

2.3. Từ kết quả khối lượng tự nhiên, độ ẩm của vật liệu và thể tích hố đào, sẽ tính được khối lượng thể tích khô thực tế của lớp vật liệu thí nghiệm.

3 Quy định về dụng cụ thí nghiệm

3.1 Bộ phễu rót cát: gồm có 3 phần là bình chứa cát, thân phễu và đế định vị. Các kích thước của bộ phễu rót cát được mô tả tại Hình 1.

3.1.1 Bình chứa cát: làm bằng nhựa hoặc kim loại, có ren ở miệng để có thể lắp chặt khít với phễu. Bình chứa cát có thể tích tối thiểu là 4,0 lít.

3.1.2 Phễu: làm bằng kim loại. Cuống phễu có ren để lắp với bình chứa cát. Miệng phễu có đường kính 165,1 mm, được chế tạo để có thể lắp khít với thành lỗ của đế định vị. Gần cuống phễu có một cái van để cho cát chảy qua. Khi vặn theo chiều thuận kim đồng hồ cho đến khi dừng, van sẽ được mở hoàn toàn, khi vặn theo chiều ngược lại cho đến khi dừng, van sẽ được đóng kín hoàn toàn. Thành phễu tạo với mặt phẳng nằm ngang một góc 60­­­­­­ o để cát được phân bố đều trong phễu.

3.1.3 Đế định vị: là một tấm kim loại hình tròn (hoặc hình vuông) đáy phẳng, có đường kính (hoặc cạnh bên) 304,8 mm. Đế được khoét một lỗ tròn ở giữa với đường kính 165,1 mm, thành lỗ có gờ để có thể lắp vừa với miệng phễu.

3.2 Cát chuẩn : là loại cát sạch, hạt cứng, khô, tơi; kích cỡ hạt lọt qua sàng 2,36 mm và nằm trên sàng 0,3 mm; hệ số đồng nhất của cát (C u = D 60/D 10) nhỏ hơn 2,0.

3.3 Cân: cần có 2 chiếc cân. Một chiếc cân có khả năng cân được đến 15 kg với độ chính xác ± 1,0 g (để xác định khối lượng của mẫu từ hố đào). Một chiếc có khả năng cân được đến 1500 g với độ chính xác ± 0,01 g (để xác định độ ẩm mẫu).

3.4 Tủ sấy: loại có bộ phận cảm biến nhiệt để có thể tự động duy trì nhiệt độ trong tủ ở mức 110 ± 5 o C dùng để sấy khô mẫu.

3.5 Sàng: loại sàng mắt vuông, bao gồm 4 chiếc có kích cỡ 2,36, 1,18, 0,6 , 0,3 mm để chế bị cát chuẩn và 2 sàng có kích cỡ là 4,75 mm và 19,0 mm để sàng hạt quá cỡ.

3.6 Các loại dụng cụ khác: dao, cuốc nhỏ, đục, xẻng nhỏ, thìa, đinh to, xô có nắp đậy, hộp đựng mẫu độ ẩm, chổi lông,…

4 Công tác hiệu chuẩn trong phòng

4.1 Hiệu chuẩn bộ phễu rót cát: nhằm mục đích xác định khối lượng của cát chuẩn chứa trong phễu và đế định vị. Khi đã biết khối lượng cát này, sẽ xác định được khối lượng cát chuẩn nằm trong hố đào, là cơ sở để xác định thể tích hố đào. Việc hiệu chuẩn bộ phễu rót cát theo hướng dẫn tại Phụ lục A.

4.2 Xác định khối lượng thể tích của cát chuẩn

4.2.1 Mục đích: để xác định khối lượng thể tích của cát chuẩn, từ đó có thể tính được thể tích hố đào khi đã biết khối lượng cát chuẩn chứa trong hố đào.

4.2.2 Việc xác định khối lượng thể tích của cát chuẩn theo hướng dẫn tại Phụ lục B, được tiến hành định kỳ mỗi tháng hoặc khi độ ẩm không khí thay đổi.

4.2.3 Sau mỗi lần xác định khối lượng thể tích của cát, phải tiến hành hiệu chuẩn lại bộ phễu rót cát (Phụ lục A).

5.1 Đổ cát chuẩn vào trong bình chứa cát. Lắp bình chứa cát với phễu, khoá van. Cân xác định khối lượng tổng cộng ban đầu của bộ phễu có chứa cát (ký hiệu là A).

5.2 Tại vị trí thí nghiệm, làm phẳng bề mặt để sao cho tấm đế định vị tiếp xúc hoàn toàn với và bề mặt. Lấy đinh ghim đế xuống lớp vật liệu để giữ chặt đế định vị trong khi thí nghiệm.

5.3 Đào một cái hố có đường kính khoảng 15 cm qua lỗ thủng của đế định vị. Chiều sâu của hố đào phải bằng chiều dày lớp vật liệu đã được lu lèn. Hố đào có dạng hơi côn, phần trên lớn hơn phần dưới, đáy hố phẳng hoặc hơi lõm. Cho toàn bộ vật liệu từ hố vào khay và đậy kín.

Ghi chú 1:

Trong quá trình thi công, vật liệu có thể được lu lèn theo nhiều lớp và công tác thí nghiệm phải được tiến hành riêng cho từng lớp. Mỗi thí nghiệm chỉ được đào hố có chiều sâu trong phạm vi của một lớp và kết quả khối lượng thể tích thu được sau thí nghiệm chỉ có giá trị cho lớp đó. Không được đào hố qua nhiều lớp vật liệu đã lu lèn để tính khối lượng thể tích chung cho các lớp chỉ sau một lần thí nghiệm.

5.4 Lau sạch miệng lỗ thủng của đế định vị. úp miệng phễu vào lỗ thủng của đế định vị, xoay phễu đến vị trí điểm đánh dấu trên miệng phễu và trên đế định vị trùng nhau (vị trí đã đánh dấu khi hiệu chuẩn phễu theo hướng dẫn tại Phụ lục A). Mở van hoàn toàn cho cát chảy vào hố đào. Khi cát dừng chảy, đóng van lại, nhấc bộ phễu rót cát ra.

5.5 Cân xác định khối lượng của bộ phễu và cát còn lại (ký hiệu là B).

5.6 Cân xác định khối lượng vật liệu lấy trong hố đào (ký hiệu là M w).

5.7 Lấy mẫu để xác định độ ẩm

5.7.1 Trường hợp vật liệu ở hố đào không chứa hạt quá cỡ (theo quy định tại 22 TCN 333-06): trộn đều vật liệu lấy từ hố đào, sau đó lấy một lượng mẫu đại diện để xác định độ ẩm. Độ ẩm mẫu được xác định theo Mục 6.4.1 (công thức 4).

5.7.2 Trường hợp vật liệu ở hố đào chứa hạt quá cỡ: căn cứ vào quy trình đầm nén đất, đá dăm trong phòng thí nghiệm (22 TCN 333-06), lấy loại sàng thích hợp tách mẫu ra thành 2 phần (phần hạt tiêu chuẩn và hạt quá cỡ), xác định khối lượng tự nhiên và độ ẩm của từng phần. Độ ẩm mẫu (bao gồm cả phần hạt tiêu chuẩn và hạt quá cỡ) được xác định theo Mục 6.4.2 (công thức 5).

5.7.3 Khối lượng vật liệu cần thiết để xác định độ ẩm: tuỳ thuộc vào cỡ hạt lớn nhất, theo quy định tại Bảng 1.

Ghi chú 2:

Để nước có trong mẫu vật liệu lấy từ hố đào không bị bay hơi nhiều làm ảnh hưởng đến kết quả xác định độ ẩm của mẫu, toàn bộ các thao tác mô tả tại Khoản 5.7 phải được tiến hành trong bóng râm, hoặc có dụng cụ che nắng, tránh ánh nắng trực tiếp. Việc thí nghiệm phải được tiến hành khẩn trương sao cho khối lượng mẫu tự nhiên được xác định trong vòng 10 phút tính từ lúc bắt đầu lấy mẫu.

Bảng 1. Khối lượng mẫu nhỏ nhất để xác định độ ẩm

5.7.4 Phương pháp xác định độ ẩm: tuỳ thuộc vào loại vật liệu, thí nghiệm độ ẩm được tiến hành theo một trong các tiêu chuẩn sau:

Với đất, đất gia cố: TCVN 4196-95 (Phương pháp xác định độ ẩm của đất).

Với đất cát, cát gia cố: TCVN 341-86 (Phương pháp xác định độ ẩm của cát).

Với đá gia cố, cấp phối đá dăm, cấp phối thiên nhiên: TCVN 1772-87 (Khoản 3.10 – Xác định độ ẩm).

6.1 Thể tích hố đào được tính theo công thức sau:

trong đó:

6.2 Khối lượng thể tích tự nhiên được tính theo công thức sau:

trong đó:

6.3 Khối lượng thể tích khô được tính theo công thức sau:

trong đó:

6.4 Độ ẩm của mẫu

6.4.1 Trường hợp vật liệu trong hố đào không chứa hạt quá cỡ: lấy mẫu xác và định độ ẩm như Mục 5.7.1, độ ẩm của mẫu tính theo công thức sau:

trong đó:

6.4.2 Trường hợp mẫu có chứa hạt quá cỡ: lấy mẫu xác định khối lượng ướt và độ ẩm của phần hạt tiêu chuẩn và hạt quá cỡ như Mục 5.7.2, độ ẩm của mẫu (bao gồm cả hạt tiêu chuẩn và hạt quá cỡ) được tính theo công thức sau:

trong đó:

6.5 Tính hệ số đầm chặt K

6.5.1 Trường hợp vật liệu không chứa hạt quá cỡ, không cần hiệu chỉnh khối lượng thể tích khô lớn nhất:

trong đó:

6.5.2 Trường hợp phải hiệu chỉnh khối lượng thể tích khô lớn nhất thì áp dụng các hướng dẫn chi tiết tại Phụ lục B của 22 TCN 333-06.

Trong Phụ lục B của Quy trình 22 TCN 333-06, có hai phương pháp hiệu chỉnh. Về nguyên tắc, hai phương pháp này có thể áp dụng tương đương nhau. Phương pháp hiệu chỉnh thứ hai thường được áp dụng. Sau khi tiến hành tính toán và hiệu chỉnh, hệ số đầm chặt K sẽ được tính như sau:

a. Nếu hiệu chỉnh theo Phương pháp thứ nhất:

trong đó:

b. Nếu hiệu chỉnh theo Phương pháp thứ hai:

trong đó:

7.1 Trường hợp vật liệu không có hạt quá cỡ, báo cáo kết quả thí nghiệm xác định độ chặt bằng phễu rót cát bao gồm những thông tin sau (Mẫu báo cáo kết quả thí nghiệm số 1và 3):

Công trình, vị trí thí nghiệm, loại kết cấu và vật liệu thí nghiệm, chiều dày lớp vật liệu;

Thể tích hố đào, cm 3;

Khối lượng tự nhiên, khối lượng thể tích tự nhiên của vật liệu trong hố đào, g/cm 3;

Độ ẩm của vật liệu trong hố đào, %;

Khối lượng thể tích khô của vật liệu trong hố đào, g/cm 3;

Phương pháp đầm chặt trong phòng; giá trị khối lượng thể tích khô lớn nhất và độ ẩm đầm chặt tốt nhất trong phòng;

Hệ số đầm chặt K của lớp vật liệu, %.

Khối lượng thể tích của cát chuẩn, g/cm 3;

7.2 Trường hợp vật liệu có hạt quá cỡ, báo cáo kết quả thí nghiệm xác định độ chặt bằng phễu rót cát bao gồm những thông tin tại Khoản 7.1 và bổ sung các thông tin sau (Mẫu báo cáo kết quả thí nghiệm số 2 và 3):

Tỷ lệ hạt quá cỡ, khối lượng thể tích khô lớn nhất đã hiệu chỉnh (theo hướng dẫn tại Phụ lục B và Phụ lục C của quy trình 22 TCN 233-06).

HIỆU CHUẨN BỘ PHỄU RÓT CÁT

A.1 Mục đích: xác định khối lượng của cát chuẩn chứa trong phễu và đế định vị của bộ dụng cụ phễu rót cát dùng trong thí nghiệm xác định độ chặt hiện trường.

A.2 Trình tự tiến hành hiệu chuẩn.

A.2.1 Đổ cát chuẩn vào bình đựng cát, lắp bình đựng cát với phễu.

A.2.2 Xác định khối lượng ban đầu của bộ phễu rót cát có chứa cát (ký hiệu là m 1), g

A.2.3 Đặt tấm đế định vị lên trên một mặt phẳng nằm ngang, sạch và nhẵn. úp miệng phễu vào lỗ thủng của đế định vị. Đánh dấu vị trí tương đối giữa phễu với đế định vị, đồng thời đánh ký hiệu cho bộ phễu và đế đã được lựa chọn. Trong những lần hiệu chuẩn sau, bắt buộc phải sử dụng bộ phễu và đế định vị này cùng nhau.

A.2.4 Mở van hoàn toàn cho cát chảy từ bình chứa cát xuống phễu và đợi cho cát không chảy nữa. Không tác động vào bộ phễu rót cát khi cát đang chảy.

A.2.5 Đóng chặt van lại, nhấc toàn bộ phễu ra khỏi đế định vị. Xác định khối lượng của bộ phễu rót cát và cát còn lại (ký hiệu là m 2).

A.2.6 Xác định khối lượng của cát chứa trong phễu và đế bằng cách lấy giá trị khối lượng của phễu và cát ban đầu trừ đi giá trị khối lượng của phễu và cát sau (m 1 – m 2).

A.2.7 Lặp lại quá trình trên ít nhất là 3 lần. Khác biệt giữa mỗi lần thử so với giá trị trung bình không được vượt quá 1%. Khối lượng của cát trong phễu và đế (ký hiệu là C) sẽ là trung bình của 3 lần thí nghiệm nói trên.

XÁC ĐỊNH KHỐI LƯỢNG THỂ TÍCH CỦA CÁT CHUẨN

B.1 Mục đích: xác định khối lượng thể tích của cát chuẩn dùng trong thí nghiệm xác định độ chặt hiện trường.

B.2 Dụng cụ cần thiết.

B.2.1 Thùng đong cát: được chế tạo bằng kim loại, có đường kính 15 cm, thể tích từ 2000 cm 3 đến 3000 cm 3. Có thể sử dụng cối đầm loại D (22 TCN 333-06)để làm thùng đong.

B.2.2 Bộ dụng cụ phễu rót cát: Sử dụng loại phễu như khi làm thí nghiệm.

B.2.3 Cân: theo Khoản 2.3. của quy trình.

B.2.4 Thanh thép gạt cạnh thẳng: làm bằng kim loại dày 3 mm, rộng 5 cm, dài 22 cm.

B.3 Trình tự tiến hành xác định khối lượng thể tích của cát

B.3.1 Cân xác định khối lượng thùng đong cát (ký hiệu là m 4).

B.3.2 Đổ cát chuẩn vào trong bình chứa cát, lắp bình chứa cát với phễu. Đặt đế định vị lên trên miệng thùng đong, úp phễu rót cát lên đế định vị.

B.3.3 Mở van hoàn toàn cho cát chảy xuống thùng đong, khi cát ngừng chảy thì đóng van lại.

B.3.4 Đưa bộ phễu rót cát ra ngoài. Dùng thanh thép gạt gạt bỏ phần cát nhô lên khỏi miệng bình đong. Lấy bàn chải quét sạch những hạt cát bám phía ngoài thùng đong. Cân xác định khối lượng của thùng đong có chứa cát (ký hiệu là m 3).

B.4 Tính toán

B.4.1 Khối lượng thể tích của cát chuẩn được tính theo công thức sau:

Trong đó: g = khối lượng thể tích của cát chuẩn, g/cm 3;

.m 3 = khối lượng thùng đong và cát, g;

.m 4 = khối lượng thùng đong, g;

V c = thể tích thùng đong cát, cm 3.

B.4.2 Giá trị khối lượng thể tích của cát dùng cho thí nghiệm sẽ là trung bình của 3 lần thí nghiệm.

Mẫu báo cáo kết quả thí nghiệm số 1

Số……../2006/LAS-XD

1. Đơn vị yêu cầu2. Công trình3. Hạng mục4. Vật liệu sử dụng

5. Ngày thí nghiệm6. Ký hiệu bộ dụng cụ: A17. Ngày hiệu chuẩn dụng cụ và cát chuẩn:…..

Kết quả thí nghiệm

Ghi chú : thí nghiệm đầm chặt trong phòng tiến hành theo 22 TCN 333-06, phương pháp I-A

Người thí nghiệm(ký tên)

Người kiểm tra(Ký tên)

Phòng LAS-XD …(ký tên, đóng dấu)

Đơn vị thực hiện thí nghiệm(ký tên, đóng dấu)

Mẫu báo cáo kết quả thí nghiệm số 2

Số……../2006/LAS-XD

1. Đơn vị yêu cầu2. Công trình3. Hạng mục4. Vật liệu sử dụng

5. Ngày thí nghiệm6. Ký hiệu bộ dụng cụ: A17. Ngày hiệu chuẩn dụng cụ và cát chuẩn:…..

Kết quả thí nghiệm

Xác định độ ẩm của mẫu

Hạt quá cỡ

Hạt tiêu chuẩn

Ghi chú : thí nghiệm đầm chặt trong phòng tiến hành theo 22 TCN 333-06, phương pháp I-A

Người thí nghiệm(ký tên)

Người kiểm tra(Ký tên)

Phòng LAS-XD …(ký tên, đóng dấu)

Đơn vị thực hiện thí nghiệm(ký tên, đóng dấu)

Phễu Rót Cát Hiện Trường Bằng Nhôm

Phương pháp thí nghiệm bằng phễu rót cát hiện trường bằng nhôm trên thực tế luôn đòi hỏi thực hiện phải đúng quy trình đã được quy định tại các tiêu chuẩn hiện hành, dùng phếu đo độ chặt k ngoài hiện trường là nhằm xác định khối lượng thể tích khô của lớp vật liệu (đất, đất gia cố, đá gia cố, cấp phối đá dăm, cấp phối thiên nhiên…) tại hiện trường. Thí nghiệm bằng phễu rót cát hiện trường bằng nhôm chỉ áp dụng cho các vật liệu khô rời rạc và có không quá 50% kích cỡ hạt cốt liệu nằm trên sàng 19mm, dùng cho thí nghiệm này là loại cát sạch hạt cứng, khô và tơi, kích cỡ hạt lọt qua sàng 2,36mm và nằm trên sàng 0,3mm, thí nghiệm phễu rót cát hiện trường không áp dụng đối với trường hợp có nước chảy vào hố và thành hố bị biến dạng hoặc bị sập trong quá trình đào hố.

Công ty TNHH thiết bị công nghệ và đầu tư Thuận Phát

– Đổ cát chuẩn vào bình chứa cát, lắp phễu và khóa van

– Cân xác định khối lượng tổng cộng: m 1 (g).

– Làm phẳng mặt bằng nơi thí nghiệm sao cho tấm đế định vị tiếp xúc hoàn toàn với bề mặt.

– Ghim đế chặt lớp vật liệu để cố định đế.

– Dùng đục và búa đào 1 hố lỗ thủng của đế, chiều sâu hố đào bằng chiều sâu lớp vật liệu.

– Cho toàn bộ lớp vật liệu đào được vào khay và đậy kín.

– Cân xác định khối lượng vật liệu trong hố đào và khay đựng mẫu: m­ w (g)­.

– Lau sạch miệng lỗ thủng đế định vị.

– Úp miệng phễu vào lỗ thủng của đế định vị và mở van cho cát chảy vào hố đào.

– Khi cát dừng chảy, khóa van lại và lấy phễu rót cát ra.

– Cân xác định khối lượng của bình chứa, phễu và cát còn lại: m 2 (g).

Các bước tiếp theo của quy trình thí nghiệm phễu rót cát hiện trường quý vị tham khảo tiêu chuẩn 22TCN346-06.

Mọi ý kiến đóng góp hoặc cần tư vấn về phễu rót cát hiện trường hãy liên hệ:

CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ THUẬN PHÁT

36/1C Vạn Hạnh, Trung Chánh, HM, chúng tôi

Tiện Ích Rót Cát Trên Android

Tiện ích rót cát trên Android. Bạn làm thí nghiệm viên công trình. Bạn thường mang theo những gì ra công trường khi thí nghiệm độ chặt? Bạn có cần máy tính cầm tay không? Bạn có tính toán nhầm hay sai kết quả không? Tiện ích của chúng tôi sẽ giúp bạn loại bỏ những phiền toái trên. Nhưng hãy tìm hiểu về nó đã.

1. Giới thiệu bài toán rót cát

Quy trình thí nghiệm xác đinh độ chặt nền, móng đường bằng phễu rót cát (Tiêu chuẩn 22TCN346-06) là tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến nhất trong các tiêu chuẩn tính độ chặt vật liệu đắp vì tính dễ thực hiện ngoài hiện trường và áp dụng được với nhiều loại vật liệu.

Để thực hiện được thí nghiệm này người thí nghiệm viên ngoài việc phải Chuẩn bị dụng cụ thí nghiệm còn phải:

Mang theo giấy bút và máy tính cầm tay để tính toán ngoài công trường

Việc tính toán và ghi chép ngoài công trường sau khi đã “đục đẽo” đất đá, dưới cái nắng 380C và áp lực từ các đơn vị kiểm tra là rất lớn

Việc tính toán qua nhiều bước làm tròn sẽ không chính xác và trong một số trường hợp việc ghi chép sai sẽ dẫn đến các kết quả tính toán bị hủy. Trường hợp xấu nhất là ta lại “to tay” thêm 1 lần nữa.

Giải pháp là gì?

Tiện ích rót cát từ phần mềm phân lớp là tiện ích miễn phí chạy trên hệ điều hành Android được tạo ra để:

Giảm bớt gánh nặng tính toán cho công tác thí nghiệm rót cát

Giảm bớt đồ dùng mang theo ra công trường

Tăng độ chính xác cho kết quả tính toán

Dữ liệu được lưu trữ trên máy và có thể chia sẻ để lập phiếu và kiểm tra đối với các đơn vị quản lý

2. Tiện ích rót cát trên Android

2.2. Hệ số đầm chặt K được xác định trên cơ sở khối lượng thể tích khô xác định theo Tiện ích này và khối lượng thể tích khô lớn nhất của mẫu vật liệu cùng loại xác định theo “Quy trình đầm nén đất, đá dăm trong phòng thí nghiệm” 22 TCN 333-06.

2.3. Trường hợp lớp vật liệu thí nghiệm có chứa hạt quá cỡ, việc xác định hệ số đầm chặt K sẽ được tiến hành theo hướng dẫn trong Phụ lục B của Quy trình 22 TCN 333-06.

2.4. Tiện ích này chỉ áp dụng cho những loại vật liệu có không quá 50% lượng hạt nằm trên sàng 19,0 mm.

2.5. Tiện ích này không áp dụng trong những trường hợp sau đây:

Khi thí nghiệm phát hiện có nước chảy vào hố;

Thành hố đào bị biến dạng hoặc sập trong quá trình đào hố.

2.5. Các thuật ngữ, định nghĩa, ký hiệu trong Tiện ích này tuân theo các quy định của Quy trình 22 TCN 333-06.

3. Link tải và hướng dẫn sử dụng Tiện ích rót cát.

Link tải Tiện ích rót cát Tại đây

Link tải quy trình 22 TCN 346-06 Tại đây.

Xem toàn bộ video hướng dẫn Tại đây

Xem hướng dẫn cài đặt và sử dụng: Cấu hình và HDSD

Trong quá trình sử dụng nếu gặp sự cố kỹ thuật hãy Liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ.

Xem video Tiện ích rót cát:

3 Phương Pháp Định Lượng Của Máy Chiết Rót Dung Dịch

Máy chiết rót dung dịch hay còn gọi là máy định lượng sản phẩm dạng lỏng. Đó chính là việc chiết một thể tích nhất định của sản phẩm lỏng và rót vào trong chai, bình, lọ…

Máy chiết rót sản phẩm lỏng thường được áp dụng cho những trường hợp yêu cầu năng suất cao hoặc các yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm. Tùy theo tính chất của chất lỏng, các máy chiết rót sẽ khác nhau ở các bộ phận làm việc chính, các cơ cấu chiết rót khác nhau. Máy giúp chiết rót dung dịch sệt ra chai nhựa hoặc thủy tinh. Thuận lợi cho người sử dụng, làm tăng cao hiệu suất công việc.

Máy chiết rót dung dịch đặc biệt dùng trong các bệnh viện, phòng thí nghiệm. Hay các tiệm làm đẹp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiết đầy các thiết bị, lý tưởng cho chiết các sản phẩm nhỏ và vừa. Máy phù hợp chiết rót một số sản phẩm không quá đặc, không bị đông cứng, nghiêng hũ có thể chảy được.

Trong công nghiệp thực phẩm: máy chiết rót đựơc áp dụng cho nước giải khát, nuớc trái cây, bia, rượu, nước giải khát có ga, sữa, mứt, các loại dung dịch thực phẩm cô đặc…

Bên cạnh đó, máy chiết rót được thiết kế đơn giản giúp vận hành máy rất nhanh và thuận tiện. Việc lắp đặt máy dễ dàng và dễ di chuyển. Máy có độ ổn định cao, ít hỏng hóc cùng với các chi tiết chiết được thiết kế chuẩn xác và kín đáo khi đưa nguyên liệu được chiết vào. Do đó có khả năng chống nhiễm khuẩn cho nguyên liệu chiết rót. Bởi vì sở hữu nhiều ưu điểm nổi bật như vậy nên máy được sử dụng rất phổ biến trên thị trường hiện nay.

Các chất lỏng hay dung dịch được định lượng chính xác nhờ bình định mức trước khi rót vào chai.

Dung dịch được chiết tới mức cố định trong chai bằng cách chiết đầy. Sau đó lấy khối thể tích bù trừ ra khỏi chai. Khi đó mức lỏng trong chai sẽ sụt xuống một khoảng như nhau bất kể thể tích của các chai có bằng nhau hay không. Ngoài ra, máy còn sử dụng ống thông hơi, chất lỏng đựoc chiết tới khi ngập miệng ống thông hơi sẽ dừng lại. Phương pháp này có độ chính xác không cao, tuỳ thuộc độ đồng đều của chai.

Khi cho chất lỏng chảy vào trong chai với khoảng thời gian xác định, có thể xem như thể tích chất lỏng chảy là không đổi. Phương pháp này chỉ áp dụng cho các sản phẩm có giá tri thấp, không yêu cầu độ chính xác định lượng.