Top 11 # Xuất Kho Theo Phương Pháp Nhập Trước Xuất Trước Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Tính Giá Xuất Kho Phương Pháp Nhập Trước, Xuất Trước (Fifo)

Theo phương pháp này, giả thiết rằng số nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, sản phẩm, hàng hóa nào nhập trước thì xuất trước, xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng lô hàng xuất. Do đó nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, sản phẩm, hàng hóa tồn kho cuối kỳ được tính theo đơn giá của những lần nhập kho cuối cùng.

Ví dụ: Tại công ty cổ phần Thép Thanh Bình trong tháng 7/2017 có số liệu như sau:

– Ngày 15/7/15 xuất bán 150 tấn thép 1,5 ly; 130 tấn thép 2,3ly.

Ngày 12/7/17

– Trị giá xuất bán 120 tấn thép 1,5 ly được xác định như sau: (100 tấn x 11 trđ ) + (20 tấn x 12 trđ) = 1.340 trđ.

– Trị giá xuất bán 40 tấn thép 2,3 ly được xác định như sau: 40 tấn x 10 trđ = 400 trđ.

Ngày 15/7/15

– Trị giá xuất bán 100 tấn thép 1,5 ly được xác định như sau: (30 tấn x 12 trđ) + (70 tấn x 13 trđ) = 1.270 trđ.

– Trị giá xuất bán 130 tấn thép 2,3 ly được xác định như sau: (10 tấn x 10 trđ) + (100 tấn x 11 trđ) + (20 tấn x 12 trđ) = 1.440 trđ.

2. Ưu điểm phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)

Tính giá xuất kho theo phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO) có ưu điểm là giúp cho chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán có ý nghĩa thực tế hơn.

3. Nhược điểm phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)

Tính giá xuất kho theo phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO) có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Theo phương pháp này, doanh thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hoá đã có được từ cách đó rất lâu. Đồng thời nếu số lượng chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều.

Tính Giá Xuất Kho Theo Phương Pháp Nhập Trước, Xuất Trước (Fifo)

Để xác định giá thực tế (giá gốc) ghi sổ của nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, sản phẩm, hàng hóa xuất kho trong kỳ kế toán có thể sử dụng một trong các phương pháp: Phương pháp giá thực tế đích danh; Phương pháp bình quân gia quyền và Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO), việc áp dụng phương pháp nào thì phải nhất quán trong cả niên độ kế toán. Trong bài viết này Kế Toán Hà Nội xin được hướng dẫn cách tính giá Xuất kho theo Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO) và ví dụ cụ thể.

Chỉ từ 17.000 đồng/tháng 

 1. Nội dung phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO).

Theo phương pháp này, giả thiết rằng số nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, sản phẩm, hàng hóa nào nhập trước thì xuất trước, xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng lô hàng xuất. Do đó nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, sản phẩm, hàng hóa tồn kho cuối kỳ được tính theo đơn giá của những lần nhập kho cuối cùng.

Ví dụ: Tại công ty cổ phần Thép Thanh Bình trong tháng 7/2017 có số liệu như sau:

a) Tồn đầu kỳ: Bằng 0

b) Số liệu nhập kho hàng hóa trong tháng:

– Ngày 12/7/17 xuất bán 120 tấn thép 1,5 ly ; 40 tấn thép 2,3ly.

– Ngày 15/7/15 xuất bán 150 tấn thép 1,5 ly; 130 tấn thép 2,3ly.

Ngày 12/7/17  

– Trị giá xuất bán 120 tấn thép 1,5 ly được xác định như sau: (100 tấn x 11 trđ ) + (20 tấn x 12 trđ) = 1.340 trđ.

– Trị giá xuất bán 40 tấn thép 2,3 ly được xác định như sau: 40 tấn x 10 trđ = 400 trđ.

Ngày 15/7/15

– Trị giá xuất bán 100 tấn thép 1,5 ly được xác định như sau: (30 tấn x 12 trđ) + (70 tấn x 13 trđ) = 1.270 trđ.

– Trị giá xuất bán 130 tấn thép 2,3 ly được xác định như sau: (10 tấn x 10 trđ) + (100 tấn x 11 trđ) + (20 tấn x 12 trđ) = 1.440 trđ.

2. Ưu điểm phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)

Tính giá xuất kho theo phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO) có ưu điểm là giúp cho chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán có ý nghĩa thực tế hơn.

3. Nhược điểm phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)

Tính giá xuất kho theo phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO) có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Theo phương pháp này, doanh thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hoá đã có được từ cách đó rất lâu. Đồng thời nếu số lượng chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều.

Mời các bạn xem:

Tính giá xuất kho theo phương pháp giá thực tế đích danh tại đây

Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền tại đây.

Chuyên trang kế toán:    www.tintucketoan.com

? Fanpage: Tin Tức Kế Toán:    https://www.facebook.com/tintucketoan

? Hoặc tổng đài giải đáp của Kế Toán Hà Nội 1900 6246

▶ THÔNG TIN THAM KHẢO:

⏩  Khóa học kế toán thực tế 

⏩  Dịch vụ Kế toán thuế trọn gói

⏩  Dịch vụ Hoàn thuế GTGT

⏩  Dịch vụ Quyết toán thuế

⏩  Dịch vụ Rà soát sổ sách, Báo cáo tài chính

Phương Pháp Nhập Trước Xuất Trước (Fifo)

FIFO là viết tắt cho “first-in, first-out” (vào trước-ra trước) là một phương pháp kiểm kê chi phí trong đó giả định rằng các mục hàng hoá nhập trước được xuất trước. Điều này nghĩa là mục hàng hóa vào kho lâu nhất sẽ được ghi nhận là đã bán trước nhưng không cần thiết chính xác đối tượng vật lý đó đã được xác định và bán.

Theo đó, hàng tồn kho vào cuối năm sẽ là hàng hoá được nhập gần nhất. FIFO được sử dụng để xác định chi phí hàng bán cho một doanh nghiệp. Nó được sử dụng rộng rãi trên thế giới và đối nghịch với “LIFO” (vào sau-ra trước) vốn chỉ còn sử dụng tại Mỹ.

Khi sử dụng FIFO, số lượng hồ sơ phải duy trì là ít do các mặt hàng lâu nhất được bán ra đầu tiên và không có sự gia tăng bất thường hoặc giảm giá vốn hàng bán do chỉ có các mục mới nhất là vẫn còn tồn kho cũng như chi phí là trong giai đoạn gần đây. Khi lạm phát, nếu giá thành tăng lên thì các mặt hàng mua trước rẻ hơn. Điều này làm giảm giá vốn hàng bán theo FIFO và giúp tăng lợi nhuận dẫn tới việc nộp thuế thu nhập lớn và giá trị hàng tồn kho cao hơn. Nếu sử dụng FIFO trong thời kỳ giảm phát, giá trị hàng tồn kho sẽ thấp hơn.

Nội dung của phương pháp

Hàng tồn kho được chỉ định chi phí khi các mặt hàng được chuẩn bị để bán. Điều này có thể xảy ra thông qua việc mua hàng tồn kho hoặc chi phí sản xuất thông qua việc mua nguyên liệu và sử dụng lao động. Các chi phí được chỉ định này dựa trên thứ tự sử dụng sản phẩm và đối với FIFO, nó dựa trên những gì đã đến trước. Ví dụ: nếu 100 mặt hàng được mua với giá 10 đô la và 100 mặt hàng khác được mua tiếp theo với giá 15 đô la, thì FIFO sẽ chỉ định chi phí cho mặt hàng đầu tiên được bán lại là 10 đô la. Sau khi 100 mặt hàng được bán, chi phí mới của mặt hàng sẽ trở thành 15 đô la, bất kể mua hàng tồn kho bổ sung nào được thực hiện.

Phương pháp FIFO tuân theo logic rằng để tránh lỗi thời, một công ty sẽ bán các mặt hàng tồn kho lâu đời nhất trước tiên và duy trì các mặt hàng mới nhất trong kho. Mặc dù phương pháp định giá hàng tồn kho thực tế được sử dụng không cần phải theo luồng hàng tồn kho thực tế thông qua một công ty, một thực thể phải có khả năng hỗ trợ lý do tại sao công ty chọn sử dụng phương pháp định giá hàng tồn kho cụ thể.

Tác động của FIFO so với các phương pháp định giá khác

Các lựa chọn thay thế cho FIFO

Phương pháp định giá hàng tồn kho đối diện với FIFO là LIFO , trong đó mục cuối cùng là mục đầu tiên được đưa ra. Trong các nền kinh tế lạm phát, điều này dẫn đến chi phí thu nhập ròng giảm phát và số dư cuối kỳ thấp hơn trong hàng tồn kho khi so sánh với FIFO. Các hàng tồn kho chi phí trung bình Phương pháp gán cùng chi phí cho từng hạng mục. Phương pháp chi phí trung bình được tính bằng cách chia giá vốn hàng tồn kho cho tổng số mặt hàng có sẵn để bán. Điều này dẫn đến thu nhập ròng và kết thúc số dư hàng tồn kho giữa FIFO và LIFO. Cuối cùng, theo dõi hàng tồn kho cụ thể được sử dụng khi tất cả các thành phần quy cho một sản phẩm hoàn chỉnh được biết đến. Nếu tất cả các phần không được biết đến, việc sử dụng bất kỳ phương pháp nào trong số FIFO, LIFO hoặc chi phí trung bình là phù hợp.

Ví dụ: Tại một doanh nghiệp trong tháng 3 năm N có tình hình vật tư như sau:

– Vật tư tồn đầu tháng: 4.000 kg, đơn giá 30.000 đồng/kg

– Tình hình nhập xuất trong tháng:

Ngày 03: nhập kho 4.000 kg, đơn giá nhập 30.500 đồng/kg

Ngày 08: xuất sử dụng 5.000 kg

Ngày 15: nhập kho 4.000 kg, đơn giá nhập 30.800 đồng/kg

Ngày 20: nhập 2.000 kg, đơn giá nhập 31.000 đồng/kg

Ngày 21: xuất sử dụng 5.500 kg.

Phương pháp nhập trước xuất trước sử dụng thường được doanh nghiệp áp dụng cho nguyên vật liệu, cung cụ dụng cụ, hàng hóa, thành phẩm ở trong bất kể một loại hình doanh nghiệp nào

Tồn kho 3000 kg giá 20.000 Trong tháng phát sinh – Ngày 3/3 xuất kho 200 kg – Nhập trong ngày 5/3 nhập kho 400 kg đơn giá 19.000 – Ngày 7/3 xuất kho 300 kg – Ngày 9/3 xuất kho 100 kg – Ngày 19/3 nhập kho 500 kg đơn giá 20.000 – Ngày 20/3 xuất kho 400 kg – Ngày 25/3 nhập kho 300 kg đơn giá 21.000 – Ngày 27/3 xuất kho 300 kg – Ngày 28/3 nhập kho 400 kg đơn giá 19.000 – Ngày 29/3 500 kg

Công thức tính giá xuất kho theo phương pháp FIFO Nguyên vật liệu chính xuất kho: – Ngày 3/3: 200*20.000 = 4.000.000 (Lấy đơn giá tồn kho nhân với số lượng xuất kho) – Ngày 5/3: Đến thời điểm này trong kho còn 500 kg gồm 100kg tồn kho với đơn giá 20.000 và 400 kg với đơn giá 19.000 mới nhập vào ngày 5/3 – Ngày 7/3: 100*20.000 + 200*19.000 = 5.800.000 – (Hiện tại đầu kỳ đã được xuất hết hiện giờ còn 200 kg ở lần nhập kho ngày 5/3) – Ngày 9/3: 100*19.000 = 1.900.000 – Ngày 19/3: Đến thời điểm này trong kho có 600 kg gồm 100kg với đơn giá 19.000 và 500 kg với đơn giá 20.000 vừa mới nhập) – Ngày 20/3: 100*19.000 + 300*20.000 = 7.900.000 – (Sau khi xuất trong kho còn lại 200 kg với đơn giá 20.000) – Ngày 27/3: 200*20.000 + 100*21.000 = 6.100.000 – Ngày 29/3: 200*21.000 + 300*19.000 = 9.900.000 Tồn cuối kỳ: 100*19.000 = 1.900.000

Ưu điểm của phương pháp

– Doanh nghiệp ước tính được ngay trị giá vốn hàng hóa xuất kho trong từng lần

– Đảm bảo kịp thời cung cấp số liệu cho kế toán chuyển số liệu thực tế cho các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý.

– Giá trị hàng tồn kho tương đối sát với giá thị trường khi giá cả hàng hóa không đổi hoặc có xu hướng giảm dần giúp cho chỉ tiêu hàng tồn kho trên các báo cáo tài chính mang ý nghĩa thực tế hơn.

Nhược điểm của phương pháp

– Theo phương pháp này doanh thu hiện tại có được tạo ra bởi những giá trị đã có được từ cách đó rất lâu làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại.

– Trong trường hợp doanh nghiệp lớn với số lượng, chủng loại mặt hàng nhiều, nhập xuất phát sinh liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng hạch toán, ghi chép sẽ tăng lên rất nhiều.

Đối tượng áp dụng

– Các doanh nghiệp sẽ áp dụng phương pháp này trong trường hợp giá cả hàng hóa có tính ổn định hoặc giá cả hàng hóa đang trong thời kỳ có xu hướng giảm.

– Thường là các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng có hạn sử dụng nhỏ mà thiết yếu như: thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm,…

Categorised in: Chuyên Mục

This post was written by admin

Tìm Hiểu Về Phương Pháp Nhập Trước Xuất Trước Toàn Tập

Chủ đề tóm tắt trong bài viết

Phương pháp nhập trước xuất trước là gì?

Đây là một trong những phương pháp có đặc điểm hàng xuất ra sẽ được tính theo giá của lô hàng đầu đầu tiên trong kho và nếu không đủ thì bạn có thể lấy giá tiếp theo (theo dạng tính thứ tự từ trước đến sau). Giả sử bạn là người kiểm thì hàng được mua trước ( hoặc là sản xuất trước) thì sẽ được xuất trước và giá trị của nó khi xuất kho sẽ được tính theo giá tiền của lô hàng nhập trước đó ( hoặc sản xuất trước đó)

Phương pháp nhập trước xuất trước áp dụng cho đối tượng nào ?

Ở đây, phương pháp này được các doanh nghiệp sử dụng để áp dụng cho các nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hóa ở trong bất cứ một loại hình doanh nghiệp nào. Những doanh nghiệp này sẽ sử dụng trong trường hợp giá cả hàng hóa có tính ổn định hoặc giá cả hàng hóa đang trong thời kỳ có xu hướng giảm

Để rõ hơn thì những mặt hàng được áp dụng phương pháp nhập trước xuất trước bao gồm mỹ phẩm, thuốc, thực phẩm… Nếu như bạn vẫn thắc mắc về ví dụ ở phía trên thì sau đây mình xin được chia sẻ thêm về các tính giá xuất kho theo phương pháp này ở phía bên dưới.

Cách sử dụng phương pháp nhập trước xuất trước

Trong đề bài này bạn có thể thấy hàng tồn kho là 3000 kg có giá 20.000 và áp dụng đối với các tháng phát sinh như sau

Ngày 3 xuất kho 200 kg

Nhập trong ngày 5 nhập kho 400 kg đơn giá 19.000

Ngày 7 xuất kho 300 kg

Ngày 9 xuất kho 100 kg

Ngày 19 nhập kho 500 kg đơn giá 20.000

Ngày 20 xuất kho 400 kg

Ngày 25 nhập kho 300 kg đơn giá 21.000

Ngày 27 xuất kho 300 kg

Ngày 28 nhập kho 400 kg đơn giá 19.000

Ngày 29 xuất kho 500 kg

Các bạn có thể sử dụng công thức tính giá xuất kho theo phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO) lần lượt như sau :

Ưu và khuyết điểm của phương pháp nhập trước xuất trước

Nhược điểm

Ở nhược điểm các bạn có thể thấy rõ rằng nó làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại (đối với doanh nghiệp nhỏ) còn về phần những doanh nghiệp lớn với nhiều mặt hàng hơn, số lượng cũng nhiều hơn việc hạch toán và ghi chép cũng từ đó mà tăng lên rất nhiều lần.

Ưu điểm

Tất nhiên phương pháp nào ngoài nhược điểm thì cũng có ưu điểm tiêng của nó để nói về ưu điểm của nhập trước xuất trước thì doanh nghiệp có thể tính được luôn giá trị của hàng hóa khi xuất kho trong từng lần với giá trị tương đối sát với giá thị trường (giá cả hàng không đổi) và báo cáo tài chính mang ý nghĩa thực tế hơn. Ngoài ra, đảm bảo việc cung cấp số liệu cho kế toán kiểm soát số liệu thực tế.