Top 5 # Xuất Ngoại Tệ Theo Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Sansangdethanhcong.com

Tính Giá Xuất Kho Theo Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền

Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền là một trong những phương pháp tính giá xuất kho hiện nay. Vậy Phương pháp này có những ưu, nhược điểm gì? Cách tính theo phương pháp bình quân gia quyền như thế nào? Loại hình sản xuất kinh doanh nào phù hợp để áp dụng tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền? Các bạn cùng tìm hiểu chi tiết ở nội dung tiếp theo.

Thứ nhất: Tính giá xuất kho theo phương pháp thực tế đích danh.

Thứ hai: Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền.

Thứ ba: Tính giá xuất kho theo phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO).

So với trước đây thì hai thông tư này đã bãi bỏ Phương pháp LIFO. Đồng thời thay vào đó là bổ sung Phương pháp giá bán lẻ.

Trong bài viết này các bạn cùng Kế Toán Việt Hưng tìm hiểu về Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền.

1. Khái niệm tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền là gì?

Theo phương pháp bình quân gia quyền, giá trị của các loại hàng hóa tồn kho sẽ được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ.

Mặt khác, tùy vào đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp mà giá trị trung bình có thể được tính bởi 1 trong 2 cách.

Hoặc tính theo từng kỳ.

Hoặc tính sau từng lần nhập hàng.

2. Ưu điểm và nhược điểm của Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền?

Tùy vào kế toán lựa chọn vào cách tính giá trị trung bình. Thì tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền có các ưu và nhược điểm khác nhau. Cụ thể.

* Nếu tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ.

– Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ.

– Nhược điểm: Độ chính xác không cao. Hơn nữa đến cuối tháng kế toán mới tính đơn giá bình quân và giá trị hàng xuất kho nên khối lượng công việc sẽ bị dồn nhiều vào cuối kỳ. Cũng chính đến cuối tháng mới có giá xuất kho do đó mỗi nghiệp vụ xuất kho vì thế mà không được cung cấp kịp thời giá trị xuất kho.

* Nếu tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập.

– Nhược điểm: Theo cách này, sau mỗi lần nhập kế toán phải tính toán, xác định đơn giá bình quân của các loại hàng mua về. Căn cứ vào đơn giá bình quân và khối lượng xuất kho giữa hai lần nhập liên tiếp để xác định giá xuất kho. Qua đây, ta có thể thấy kế toán tính toán đơn giá xuất kho theo cách này sẽ tốn nhiều công sức do phải tính toán nhiều lần.

– Nhưng mặt khác nó lại mang lại ưu điểm là độ chính xác cao. Đồng thời đảm bảo được tính cập nhật, kịp thời cho mỗi lần xuất kho. Điều này đã khắc phục được nhược điểm mà cách tính cả kỳ dự trữ còn mắc phải.

Cách tính như sau:

Giá xuất kho = Số lượng x giá đơn vị bình quân.

Trong đó:

Trường hợp 1: Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ.

Giá đơn vị bình quân (cuối kỳ) = (Giá trị tồn đầu kỳ + giá trị nhập trong kỳ)/(số lượng tồn đầu kỳ + số lượng nhập trong kỳ).

Ví dụ: Tại Công ty Việt Hưng có số liệu của nguyên vật liệu X như sau.

+ Tồn kho đầu kỳ: 1.000 kg, đơn giá 20.000 đồng/kg

+ Nhập trong kỳ: 4.000 kg, có giá trị là: 88.000.000 đồng.

+ Tổng số lượng xuất trong kỳ: 2.500 kg

Giá trị của nguyên liệu X xuất kho trong kỳ là: 2.500kg x 21.600 đồng/kg = 54.000.000 đồng.

Trường hợp 2: Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập.

Ta xác định:

Giá đơn vị bình quân (sau mỗi lần nhập) = Giá trị thực tế sau mỗi lần nhập/ Số lượng tồn sau mỗi lần nhập.

Ví dụ: Tại Công ty Việt Hưng, có số liệu của nguyên liệu M trong tháng 1 như sau:

+ Ngày 01/01: tồn kho đầu kỳ: 5.000 kg, đơn giá 3.000 đồng/kg.

+ Ngày 10/01: Công ty Việt Hưng nhập kho 4.000 kg nguyên liệu M. Với đơn giá 2.000 đồng/kg.

Như vậy, tại ngày 10/01 kế toán phải tiến hành xác định giá đơn vị bình quân 1kg nguyên liệu M. Cụ thể như sau:

Giá đơn vị bình quân (ngày 10/01) = (5.000kg x 3.000 đồng/kg + 4.000kg x 2.000 đồng/kg)/(5.000kg + 4.000 kg) = 2.556 đồng/kg.

Giá trị xuất kho = 1.000kg x 2.556 đồng/kg = 2.556.000 đồng.

Tính Giá Xuất Kho Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền

Tính giá xuất kho phương pháp bình quân gia quyền là một trong 3 phương pháp tính giá theo chế độ kế toán hiện hành. Doanh nghiệp áp dụng cách tính giá bình quân gia quyền có thể áp dụng một trong 2 cách: Một là tính giá xuất kho bình quân gia quyền cả kỳ; Hai là tính giá xuất kho bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (bình quân liên hoàn).

Trong bài viết này chúng ta cùng nghiên cứu Nội dung của Tính giá xuất kho phương pháp bình quân gia quyền theo cả 2 cách; Ví dụ mô tả Tính giá xuất kho phương pháp bình quân gia quyền theo cả 2 cách; Ưu và nhược điểm của phương pháp tính giá bình quân này.

Giá thực tế xuất kho tính theo phương pháp bình quân gia quyền được tính theo công thức sau:

Tại Công ty CP Kế Toán Hà Nội, trong T2/2019 có số liệu sau:

Vật liệu A tồn kho kho đầu T2/2019: 3.000 kg với đơn giá 15.000 đ/kg.

Tổng nhập trong T2/2019 của Vật liệu A là: 4.000 kg với đơn giá 15.500 đ/kg.

Tổng xuất trong T2/2019 của Vật liệu A là: 6.000 kg.

Công ty CP Kế Toán Hà Nội tính giá xuất kho phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ.

Với số liệu trên, Kế Toán Hà Nội tính trị giá xuất kho 6.000 kg Vật liệu A như sau:

Theo phương pháp này, thì sau mỗi lần nhập, phải xác định đơn giá bình quân của từng loại nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, sản phẩm, hàng hóa. Sau đó căn cứ vào đơn giá bình quân và số lượng nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, sản phẩm, hàng hóa xuất kho giữa 2 lần nhập kế tiếp để xác định trị giá thực tế của hàng xuất kho.

Để hiểu rõ hơn về Tính giá xuất kho phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (bình quân liên hoàn). Chúng ta cùng nghiên cứu ví dụ sau:

Tại Công ty TNHH Kế Toán Hà Nội trong tháng 3/2019 có số liệu sau:

– Ngày 7/3/2019, nhập kho nguyên liệu A 5.000 kg, đơn giá: 2.800 đ/kg, trị giá 14.00.000 đ.

– Ngày 15/3/2019 xuất kho 2.000 kg nguyên liệu A.

Công ty Thực hiện Tính giá xuất kho phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (bình quân liên hoàn) như sau:

Tại ngày 4/3/2019, Công ty phải tính được các chỉ tiêu: Giá trị xuất kho, giá trị tồn kho và số lượng tồn kho của nguyên liệu A.

– Ngày 7/3/2019, nhập kho nguyên liệu A 5.000 kg, đơn giá: 2.800 đ/kg, trị giá 14.00.000 đ.

– Ngày 15/3/2019 xuất kho 2.000 kg nguyên liệu A.

Tại ngày 15/3/2019, Công ty phải tính được các chỉ tiêu: Giá trị xuất kho, giá trị tồn kho và số lượng tồn kho của nguyên liệu A.

Ưu nhược điểm.

Phương Pháp Fifo, Lifo Và Bình Quân Gia Quyền

1. Theo phương pháp bình quân gia quyền, giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp.

2. Phương pháp nhập trước, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.

3. Phương pháp nhập sau, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho.

Ví dụ: Tình hình vật liệu của 1 DN trong tháng 9 năm 20×8. – Vật liệu chính (A) tồn kho đầu kỳ 1.000kg, giá thực tế nhập kho 1.010đ/kg. – Vật liệu chính (A) mua vào trong kỳ: + Ngày 01/09 mua 4.000kg x 1.020đ/kg + Ngày 15/09 mua 5.000kg x 1.030đ/kg – Vật liệu chính (A) xuất dùng cho sản xuất trong kỳ: + Ngày 3 xuất cho sản xuất trực tiếp sản phẩm 4.200kg + Ngày 18 xuất cho sản xuất trực tiếp sản phẩm 4.500kg

1. FiFo: First in first out (Nhập trước xuất trước) Theo phương pháp này thì vật liệu nào nhập kho trước, khi xuất vật liệu thì xuất ra trước, giá vật liệu xuất dùng được tính theo giá nhập kho lần trước, xong mới tính theo giá nhập kho lần sau. Theo ví dụ trên giá thực tế vật liệu xuất được tính như sau: Ngày 3: – 1.000kg x 1.010đ = 1.010.000đ – 3.200kg x 1.020đ = 3.264.000đ Tổng cộng: 4.274.000đ Ngày 18: – 800kg x 1.020đ = 816.000đ – 3.700kg x 1.030đ = 3.811.000đ Tổng cộng: 4.627.000đ 2. LiFo: Last in frist out (Nhập sau xuất trước) Theo phương pháp này thì vật liệu nào nhập kho sau, khi xuất vật liệu thì xuất ra trước, giá vật liệu xuất dùng được tính theo giá nhập, phương pháp này ngược với phương pháp trên. Theo ví dụ trên giá thực tế vật liệu xuất được tính như sau: Ngày 3: – 4.000kg x 1.020đ = 4.080.000đ – 200kg x 1.010đ = 202.000đ Tổng cộng: 4.282.000đ Ngày 18: – 4.500kg x 1.030đ = 4.635.000đ Vật liệu chính tồn kho cuối kỳ: – 800kg x 1.010đ = 808.000đ – 200kg x 1.030đ = 515.000đ Tổng cộng: 1.315.000đ 3. Bình quân gia quyền: Theo phương pháp này thì cuối kỳ tính đơn giá thực tế bình quân của vật liệu nhập trong kỳ và tồn đầu kỳ, rồi sau đó suy ra giá thực tế của vật liệu xuất theo công thức sau: Đơn giá thực tế bình quân gia quyền vật liệu tồn và nhập trong kỳ = (Giá thực tế vật liệu tồn đầu kỳ + Giá thực tế vật liệu nhập trong kỳ) : (Số lượng vậy liệu tồn đầu kỳ + Số lượng vật liệu nhập trong kỳ) Đơn giá thực tế vật liệu xuất dùng trong kỳ = Số lượng vật liệu xuất dùng trong kỳ x Đơn giá thực tế bình quân gia quyền. 4. Thực tế đích danh: Phương pháp này thích hợp đối với những doanh nghiệp bảo quản vật liệu theo từng lô nhập riêng biệt, khi xuất ra sử dụng lô nào thì tính giá của lô đó khi nhập. Lấy lại ví dụ trên, giả sử ngày 3, doanh nghiệp xuất 4.200kg vật liệu chính (A) ra sử dụng trong đó 500kg của tồn kho đầu kỳ, số còn lại của lần nhập ngày 1, giá thực tế vật liệu chính (A) xuất ra ngày 3 được tính như sau: – 500kg x 1.010đ = 505.000đ – 3.700kg x 1.020đ = 3.774.000đ Tổng cộng: 4.279.000đ

Tính Nguyên Tắc Xác Định Tỉ Giá Ngân Hàng Theo Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền

Nguyên tắc xác định tỉ giá ngân hàng là gì và tính như thế nào, được hạch toán ra sao trong trong doanh nghiệp. Khi hạch toán nghiệp vụ này kế toán cân chú ý những gì. Ngoài việc cần theo dõi các tài khoản: tiền mặt (111), tiền gửi ngần hàng (112), tiền đang chuyển khoản, và những khoản phát sinh khác như: khoản phải thu khách hàng, phải trả người bán trong các nghiệp vụ sau,hướng dẫn xác định tỉ giá ngân hàng.

Kế toán Lê Ánh sẽ giúp bạn đọc hạch toán cụ thể các trường hợp xảy ra khi xác định tỉ giá ngân hàng.

I. QUY TRÌNH XÁC ĐỊNH TỈ GIÁ NGÂN HÀNG

Khi xác định tỉ giá ngân hàng, kế toán cần thực hiện các bút toán sau:

Bước 1: Đặt mã ngoại tệ là 007 USD : Tiền gửi ngân hàng ngoại tệ USD ( có thể đặt mã USD hoặc những ký hiệu khác dễ nhớ hơn.

Trường hợp doanh nghiệp mua ngoại tệ, thực hiện các nghiệp vụ sau:

Nếu doanh nghiệp mua vào làm phiếu nhập kho xác định, số lượng x Đơn giá ngân hàng niêm yết. Thực hiện hạch toán: học kế toán ngắn hạn

Nợ TK 1122 (tăng tiền ngoại tệ)

Có TK 1121 (giảm tiền Việt)

Ví dụ: Doanh nghiệp mua 300 USD của ngân hàng với đơn giá 22000 vnđ/ 1usd. Kế toán sẽ hạch toán như sau: (tổng tiền: 6.600.000 vnđ)

Số tiền tổng là: 6.600.000 vnđ

Khi xác định tỉ giá ngân hàng trong bước xuất ngoại tệ này xảy ra các trường hợp khác nhau, kế toán cần lưu ý nếu gặp phải.

Ví dụ: Doanh nghiệp mua hàng của công ty X loại hàng hóa A đơn giá 200 USD, tỉ giá ngân hàng là 21000 vnđ. Xác định như sau:

Hàng hóa A: 200USD x 21000 VNĐ = 4.200.000 VNĐ

Khi thực hiện thanh toán khách hàng lập phiếu Xuất Kho (kế toán dựa vào đơn giá xuất kho hiện này các doanh nghiệp sử dụng thường là tính theo bình quân gia quyền):

– Có Tk 007: 200 usd x 22.000 (tỉ giá tồn) = 4.400.000

Nợ TK 331/ có 1122= 4.200.000

Có TK 1122 = 4.4 00.000 – 4.200.000 = 200.000

Khi xác định tỉ giá ngân hàng, kế toán cần lưu ý nếu trường hợpxuất quỹ ngân hàng lớn hơn số công nợ thì kết chuyển lỗ

Có 1122 ( tài khoản công Nợ)

Có TK 1122 ( Xuất Quỹ – Công Nợ )

Khi hạch toán lãi tỉ giá ngân hàng trong những phát sinh sau

Ví dụ : Doanh nghiệp X mua hàng của công ty B loại mặt hàng hóa A đơn giá 100 usd, xác định tỉ giá ngân hàng là 24.000 VNĐ/1usd.

Tính chi phí như sau: 100usd x 24.000 = 2.400.000 vnđ

Khi thực hiện thanh toán cho khách hàng để lập phiếu xuất kho, dưa trên đơn giá tính bình quân gia quyền sẽ thực hiện như sau.

– Có Tk 007: 100 usd x 22.000 (tỉ giá tồn) = 2.200.000

Có TK 515= 2.400.000 – 2.200.000 = 200.000

Nếu phát sinh trường hợp xuất quỹ ít hơn số cong nợ tức là ghi nhận lãi thì kế toán hạch toán như sau .

Có TK 515 ( Xác định bằng công nợ – số tièn xuất quỹ )

Sau khi xác định hết các trương hợp xuất quỹ tỉ giá hối đoái kết chuyển lỗ lãi tiếp theo đến bước 03 trong xác định tỉ giá ngân hàng.

Để đối chiếu cuối tháng,tính lượng tồn trong sổ phụ ngân hàng với lượng tồn ở bảng tổng hợp nhập xuất, tồn xem có khớp hay không.

Đặc biệt ghi nhận số tiền ở sổ cái tài có TK 1122= TK 1122 CĐPS = Số tiền tính nhập, xuất, tồn mã : 007USD: Tiền gửi ngân hàng ngoại tệ USD

Nếu bạn quan tâm đến các khóa học kế toán và tại trung tâm Lê Ánh, vui lòng truy cập website: chúng tôi hoặc liên hệ theo số hotline: 0904.84.88.55 để biết thêm thông tin về khóa học này.